Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 19 - Trí Tuệ Cảm Xúc 3 (7 Trí Về Thọ Uẩn)

2026-03-18 06:50:22
Tinh Hoa Nikāya

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 19

Trí Tuệ Cảm Xúc 3

7 Trí Về Thọ Uẩn

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trình pháp – vấn đáp PAGEREF _Toc149146094 \h 1

II. Cẩn thận nghiệp quả PAGEREF _Toc149146095 \h 4

III. Hướng dẫn tác ý PAGEREF _Toc149146096 \h 7

IV. Thế nào là Chánh Pháp PAGEREF _Toc149146097 \h 11

I. Trình pháp – vấn đáp

Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ cùng đại chúng, con xin trình bày 7 trí về thọ. Thọ là sự cảm thọ, thế nào là cảm thọ, cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, cảm thọ không khổ không lạc thì gọi là thọ. Thọ sanh là khi xúc tập khởi thì thọ sẽ tập khởi, thọ diệt là khi xúc đoạn diệt thì thọ đoạn diệt. Thọ diệt đạo là phương pháp tu tập đưa đến thọ đoạn diệt là phương pháp tám đúng, vị ngọt của thọ là do duyên khởi lên hỷ lạc gì thì hỷ lạc đó gọi là vị ngọt của thọ, sự nguy hiểm của thọ là khổ, vô thường, biến hoại, sự xuất ly thọ là sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thọ. Dạ, con xin hết.

Sư Phụ: Đó là phần lý thuyết, bây giờ là phần thực tập. Mình chia sẻ trong suốt nửa tháng vừa qua khi được học về cảm thọ này thì nhận diện nó ra sao, những sự diễn biến của nó như thế nào?

Sư cô 1: Con kính bạch thầy giáo thọ, trong nửa tháng vừa qua con xin chia sẻ về cảm thọ của con. Nửa tháng có một số vị ở trong liêu không vừa ý với mình một vấn đề gì đó thì họ sẽ nói với con nhưng nói bằng những lời khó nghe, khi con nghe được và thọ nhận lời nói đó, nếu con khởi tâm lên mình không có vậy mà mấy vị đó nói vậy thì mình sẽ nổi tâm sân lên. Tuy nhiên con biết đó chỉ là lời nói ngoài tai thôi, mình sai thì mình sửa, con thọ nhận lời nói vị đó là sẽ sửa, lần sau con không làm sai để những vị trong liêu nói nữa. Đó là thọ sanh, nghĩa là tai con nghe là đã tiếp xúc, khi đó thọ của con đã sanh.

Vài tiếng sau những âm thanh đó trong con quên đi vì những công việc chấp tác của con hoặc học hành thì cảm thọ đó con không nhớ, cái xúc không còn nữa thì cảm thọ con bị đoạn diệt. Vị ngọt của thọ là trong nửa tháng qua chùa con có đám, sau đám một ngày chúng con phụ bếp thì tối đến sư bà cho mỗi vị một phong bì lì xì, khi tụi con nhận phong bì đó thấy vui, giống như mình có thêm tiền để đổ xăng đi học hoặc tiêu vào những việc cần thiết, đó là hỷ lạc trong con khởi lên thì đó là vị ngọt của thọ. Sự nguy hiểm của thọ là trong đám của chùa có những món ngon, sư bà lo đám cho xong thì nấu bún hoặc bánh chia cho chúng, nếu chúng con bị tham đắm vào món ăn đó lấy cho mình thật nhiều, mình thọ những cái đó và khởi tâm tham lên thì con nghĩ đó là sự nguy hiểm.

Sư Phụ: Đọc lại thế nào là sự nguy hiểm của thọ.

Sư cô 1: Sự nguy hại của thọ: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Thọ, đó là nguy hại của Thọ.

Sư Phụ: Bây giờ liên hệ đến đời sống như thế nào? Khi nãy là lạc thọ, khi mình được thức ăn ngon, vừa miệng, thích ý, hài lòng thì đó là lạc thọ, mình ham, mình thích, mình khoái là vị ngọt của thọ.

Sư cô 1: Thức ăn mình ăn vào nó sẽ phân hủy ra, thọ nhận nhiều thì sanh ra bệnh tật nhiều hơn, đó là do sự biến đổi của vô thường. Nếu thọ nhận nhiều thì thân thể mình sẽ nặng nề, con nghĩ đó là sự nguy hiểm của thọ.

Sư cô 2: Mô Phật, kính bạch giáo thọ, con xin trả lời trong câu hỏi của giáo thọ là khi mình nhận thọ rồi thì tâm mình thấy hoan hỉ, nhẹ nhàng, cảm giác của mình an lạc và rộng lượng vui vẻ.

Sư Phụ: Nhận thọ cái gì?

Sư cô 2: Chẳng hạn như ai đến cúng dường cho mình tịnh tài hoặc đồ vật, mình nhận được thì trong lòng hoan hỉ, vui vẻ.

Sư Phụ: Trong ba thọ thì nó thuộc về thọ gì?

Sư cô 2: Dạ, thọ hoan hỉ.

Sư Phụ: Trong ba thọ gồm có thọ gì?

Sư cô 2: Dạ con quên rồi thưa thầy. Dạ là thọ khổ, thọ lạc, bất lạc và bất khổ.

Sư Phụ: Người ta đến cúng dường mà mình nhận được thì đó là thọ gì?

Sư cô 2: Dạ, đó là thọ lạc.

Sư Phụ: Trong thọ lạc có gì trong đó?

Sư cô 3: Kính bạch thầy, trong cảm thọ lạc có tham trong đó.

Sư Phụ: Cái tham này giải quyết ra sao, xử lý ra sao?

Sư cô 3: Mình chế phục tham, đối trị tham, đối với con là xả tham đi.

Sư Phụ: Xả ra sao?

Sư cô 3: Mình nghĩ cái tham này là khổ.

Sư Phụ: Tại sao khổ? Được nhận tiền, nhận bánh, nhận quà thì tại sao khổ?

Sư cô 3: Nhận là nghiệp, không có hoan hỉ khi người ta cho mình nhiều quá, mình thấy không xứng đáng nhận, phải cố gắng đoạn trừ cái tham bằng cách nghĩ đến sau lạc thọ sẽ có khổ thọ.

Sư Phụ: Đó là tốt đó, mình phải nghĩ như thế nào?

Sư cô 3: Nghĩ đến sự nguy hiểm của thọ.

Sư Phụ: Nguy hiểm ra sao?

Sư cô 3: Mình tu chưa được gì hết mà thọ nhận nhiều quá làm cản trở đường tu của mình.

Sư Phụ: Rồi sao nữa?

Sư cô 3: Bị thiếu nợ Đàn-na tín thí, tai họa, thiếu nợ, nguy hiểm.

Sư Phụ: Mình phải suy nghĩ món đồ đó là nước mắt và máu. Bao thư đó là máu và nước mắt, người ta đi chùi toilet, người ta đi ở đợ, người ta đi buôn gánh bán bưng, người ta đi giữ trẻ, người ta đi làm thuê làm mướn, bưng từng tô hủ tiếu, người ta không dám cho con người ta ăn, người ta phải nhịn tiền thuốc của chồng người ta để đem vào cúng cho mình. Khi suy nghĩ như vậy, mình tác ý như vậy, tư duy như vậy thì lòng tham này sẽ giảm xuống, vị ngọt trong cái thọ sẽ tan biến, lắng dịu xuống và một sự lo lắng, sợ hãi sanh khởi, đồng thời có sự phản chiếu lại mình, soi rọi lại mình xem có đủ đức hạnh, có xứng đáng không. Bậc A-la-hán là bậc Ứng Cúng, mình có ứng cúng không, có xứng đáng để người ta quỳ lạy cúng dường không.

Lúc đó lạc thọ sẽ bị đánh tan, vị ngọt sẽ lắng dịu xuống, đó là những pháp để chúng ta thực hành. Lúc sư cô kế bên đưa micro cho cô mà cô giật mình lùi lại thì cô nhận diện ngay lúc đó.

Sư cô 3: Dạ mô Phật, bạch thầy lúc đó con đang rất sợ vì cảm thấy mình không đủ kiến thức để trả lời câu này.

Sư Phụ: Trong ba thọ thì nó thuộc về thọ gì?

Sư cô 3: Dạ, là khổ thọ thưa thầy.

Sư Phụ: Cảm giác khổ thọ đó ra sao?

Sư cô 3: Trong đó có sự sợ hãi, con nghĩ có một chút gì đó đau.

Sư Phụ: Đau? Đau gì?

Sư cô 3: Đau tim thưa thầy.

Sư Phụ: Đau tim là thuộc về phần sợ rồi. Phần này rất hay, Phật pháp thiết thực, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, không có trải qua thời gian, được người trí tự mình giác hiểu. Bây giờ lắng tâm nhắm mắt lại hồi tưởng lại lúc đó để xem cảm thọ lúc đó ngoài cái sợ còn gì nữa? Soi xét lại xem lúc đó ngoài cái sợ ra còn cái gì nữa không?

Sư cô 3: Dạ, là sự lo lắng, con chỉ có sợ với lo thôi thưa thầy.

Sư Phụ: Đừng vội trả lời liền, nhắm mắt lại an tịnh, lắng dịu, hồi tưởng lại lúc đó. Có khó chịu không?

Sư cô 3: Dạ mô Phật có ạ.

II. Cẩn thận nghiệp quả

Sư Phụ: Đây là sân, cái sân vi tế như vậy đó, không phải đợi đến khi khó chịu nói ra miệng, phản kháng mới là sân mà một hành động khó chịu "tại sao đưa cho tôi? Mấy người kia không đưa mà đưa cho tôi?", trong này vừa có sân vừa có bản ngã vì lo sợ nói không hay, nếu tự tin là nói liền, còn giờ nói không hay người ta chê rồi sao, đây là bản ngã và sân.

Do chúng ta mới thực tập nên chỉ nói ngắn gọn thôi, có hai pháp ngay lúc đó là sân và bản ngã, những cái này phải có tuệ nhãn mới nhìn thấy, phải có trí tuệ về năm uẩn mới thấy được. Chúng sanh không thấy được, kẻ vô văn phàm phu đến chết trong vô lượng vô biên kiếp cũng không thấy, nếu không thấy thì không thể nào xử lý được, hóa giải được, không dọn dẹp, vệ sinh, tẩy rửa nó được. Đó là diễn biến tâm trong lúc đó, có lo lắng, sợ hãi, có bực bội, khó chịu, làm sao xử lý những điều này?

Đó là dùng tâm hiền, đó là lý do đạo tràng Nikāya thường xuyên thực tập tâm hiền, tức là một cảm thọ an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào thường xuyên có trong con người mình nên khó có ai làm cho mình sân si lên được. Nếu mình không có cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, ngọt ngào thì mình rất dễ bực bội, dễ bức xúc, khó chịu. Trong sự tu học này phải nhận diện ngũ uẩn trước rồi mới tu những cái kia sau vì không biết nhận diện ngũ uẩn là không tu được, không biết ngũ uẩn thì làm sao biết cảm thọ, không biết cảm thọ thì làm sao biết lúc đó cảm thọ mình đang dữ, đang sân cho nên phải biết ngũ uẩn trước. Vì thế thực tập tâm lắng dịu, hiền thiện, ngọt ngào rất quan trọng.

Mình tu không được là vì mình không có tâm hiền nên khó tu, nắng một chút cũng khó chịu, lạnh một chút cũng khó chịu, ngồi thiền lâu một chút cũng khó chịu, muốn xả thiền cho nhanh lẹ, bên trong mình là tâm hoang vu, nói cụ thể là rừng rú, rất dễ bực bội, bức xúc, khó chịu, còn tâm có sự tu tập rất dễ chịu, nhiều khi bị la rầy, có khi bị chửi nhưng vẫn nhiếp phục, chế ngự, thậm chí vẫn là ngọt ngào thì cái này trình độ phải sâu sắc. Chúng ta phải thực tập cảm thọ hiền vì nó rất quan trọng, nhiều khi mình không nhìn nhận được cảm thọ thì không biết tu, có tu thì chỉ ngoài hình thức, số lượng, vẻ ngoài chứ không tu vào được trong cảm thọ. Trong ngũ uẩn thì cảm thọ là cái kho chứ trong đó, nếu không biết cái kho này thì nó để gì trong đó cũng không biết cho nên phần thọ uẩn này rất quan trọng.

Có những người nhìn gương mặt rất phúc hậu, hiền thiện, ngay trong chúng hiện giờ nhìn người có gương mặt phúc hậu rất hiền thiện, cảm thọ trong con người đó đã có sự tu tập, có những người nhìn vào gương mặt có nét dữ, nó biểu hiện ra gương mặt, đó là nó huân tập cảm thọ của những đời trước cho nên Đức Thế Tôn nói có hai loại nghiệp là nghiệp cũ và nghiệp mới.

"Này các Tỳ-kheo, thế nào là nghiệp cũ?

Mắt, này các Tỳ-kheo, cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Ý cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ.

Các Tỳ-kheo, đây được gọi là nghiệp cũ.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là nghiệp mới? Này các Tỳ-kheo, hiện tại phàm làm việc gì với thân, với lời nói, hay với ý. Này các Tỳ-kheo, đây được gọi là nghiệp mới" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e), V. Mới Và Cũ, I. Nghiệp)

Con mắt là nghiệp cũ, lỗ tai này là nghiệp cũ, lỗ mũi là nghiệp cũ, cái miệng, cái lưỡi là nghiệp cũ, cái thân và ý là nghiệp cũ, nói đơn giản là tấm thân và tâm thức này là nghiệp cũ. Nghiệp mới là những gì mình đang suy nghĩ, nói năng và hành động. Nghiệp cũ hay nghiệp mới đều bắt nguồn từ cảm thọ, do sự huân tập cảm thọ, nếu người này thường huân tập cảm thọ sân hận thì họ biểu lộ ra gương mặt, tính cách hết sức thô tháo, thô bạo, hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn, còn nếu huân tập cảm thọ hiền thiện, hiền lành, hiền hòa, hiền trí, hiền lương thì họ có thân thể, gương mặt và tính cách rất nhẹ nhàng, mềm mỏng, hiền dịu. Như vậy từ cảm thọ lặp đi lặp lại nhiều lần thì nó thành cái nghiệp, từ cái nghiệp đó nó sẽ trở thành sức mạnh nên biểu hiện ra thân tướng, từ thân tướng đó mới tác thành một đời sống thành ra Thế Tôn nói nghiệp là chủ nhân, nghiệp là thai tạng, nghiệp là bà con quyến thuộc, là chỗ nương tựa, là nơi mình thừa kế vì thế làm việc thiện hay ác thì mình sẽ thừa kế nghiệp đó.

"Có năm sự kiện này, này các Tỳ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?

Ta phải bị già, không thoát khỏi già

Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh

Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết

Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt

Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy" (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII). Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)

Nghiệp là từ thân mà ra, thân là từ cảm thọ có ra cho nên phần cảm thọ này là phần lõi rất quan trọng trong sự tu chúng ta. Minh Thành đang đề xuất trong 1 tuần lễ phải có một ngày pháp hành, phải có sự thực hành, chúng ta chỉ toàn học lý thuyết, tri thức, học chữ nghĩa chứ không có sự thay đổi lớn trong thân tâm của mình, sự thay đổi đó nằm trong cảm thọ của mình. Muốn thay đổi thì phải có sự như lý tác ý thường xuyên và liên tục để nhắc nhở bản thân, cứ mỗi lần nhận đồ là nhắc nhở nó là "sự nguy hiểm, là tai họa, là nước mắt và máu, mình có xứng đáng nhận không", những cái này phải thuộc, phải nhớ.

Những khi mình được lễ lạy, được cung kính, đảnh lễ, được tôn trọng, cúng dường, được xưng tán thì phải nhớ những cái này, có như vậy lòng tham, lòng muốn, lòng dục, lòng ái mới được nhiếp phục, chế ngự lần lần. Ai mà không khoái ăn đồ ngon? Ai mà không thích được tiền? Ai không thích đi chơi? Những cái này rất bình thường tuy nhiên mình là người tu chứ không phải người bình thường, nếu mình cũng giống như người bình thường thì còn gì nữa mà tu?

Mình phải khác người bình thường, cái đầu mình có giống người ta không? Cái áo mình mặc có giống người ta không? Sinh hoạt của mình có giống người ta không? Tại sao mình lại đòi giống người ta? Tâm hình dị tục, thân tâm khác tục cho nên phải nhắc nhở và tác ý thường xuyên để nhớ, mình quên cái này là đời tu mình xong rồi. Nếu thầy mời mình mà mình đứng lên liền thì đó là tâm mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, còn mời mà đẩy sang người khác, người khác lại đẩy sang người nọ thì đó là tâm không chấp nhận học pháp, tâm không cung kính pháp, không có sự nhiệt tâm, nhiệt tình trong sự tu học, những cái pháp nó vi tế, nhỏ nhiệm đến như vậy.

III. Hướng dẫn tác ý

Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin trình bày cảm thọ của con hiện tại, kính bạch thầy do buổi trưa nay con đi từ Long An lên đây để học, đi đường hơi xa nên tới lớp cảm thấy buồn ngủ và cảm giác không tập trung vào bài học.

Sư Phụ: Đó là thọ gì vậy thưa thầy?

Sư thầy 1: Thưa thầy đó là khổ thọ.

Sư Phụ: Trong khổ thọ có gì trong đó? Thầy nhìn kĩ thử xem.

Sư thầy 1: Có si tùy miên.

Sư Phụ: Có gì nữa không? Thầy để luôn như vậy hay có tác ý gì không?

Sư thầy 1: Không nên ngủ gật trong lớp, đánh đuổi cảm giác buồn ngủ, tập trung vào lời chỉ dạy của thầy và lời các huynh đệ phát biểu trong giờ học thì cái buồn ngủ bớt đi, không còn như lúc đầu.

Sư Phụ: Cảm giác buồn ngủ đầu tiên xuất hiện ở đâu?

Sư thầy 1: Đầu tiên là hai mắt lờ đờ, tâm trí trống rỗng, không tập trung.

Sư Phụ: Lúc đó thầy làm cái gì? Khi nó xuất hiện cảm thọ đó rồi thì thầy làm cái gì? Thầy tác chiến như thế nào?

Sư thầy 1: Lúc đầu con có chống tay lên trán tựa vào giống như mình nuông chiều theo cảm giác buồn ngủ để chợp mắt một tí, sau đó thì con tác ý "mình không nên bị sự buồn ngủ này khống chế, phải cố gắng không để cái buồn ngủ chi phối, phải tập trung". Cảm giác đó từ từ xua tan dần.

Sư Phụ: Sau đó tiếp tục như thế nào? Nhận diện ngũ uẩn, tưởng; hành; thức như thế nào? Khi cảm giác buồn ngủ đi rồi thì cảm giác gì xuất hiện?

Sư thầy 1: Khi cảm giác buồn ngủ đi rồi thì con cảm thấy trong tâm mình phấn khởi hơn, tập trung hơn, không bị lơ mơ, lờ đờ, bây giờ tập trung hơn.

Sư Phụ: Thầy tác ý yếu quá, phải tác ý mạnh lên.

Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thượng tọa giáo thọ sư cùng chư huynh đệ Tăng Ni, con xin nhận diện cảm thọ trong nửa tháng vừa qua. Ở chùa con hay trồng cây kiểng, khi trồng cây kiểng như vậy thì sáng ra thấy mấy con chuột đào đất lên hết thì từ trong tâm khảm con thấy rất khó chịu, không phải nó đào một ngày mà ngày nào nó cũng đào, mặc dù con lấy cây rào hàng rào hết mà nó cũng xé rào vô được cho nên con rất khó chịu, bực bội. Con cố gắng tác ý thương nó chứ đừng tìm cách mua bẫy chuột về đặt mà nó đạp vào thì đau đớn, khổ đau, mặc dù khó chịu nhưng con cũng cố gắng vì nhờ nó mà mình thấy được tâm mình, thấy được mình tu còn dở, mình còn khó chịu, bực bội, sầu não trong khi thấy cảnh như vậy.

Ngoài ra, cảm giác về lạc thọ thì khi mình trồng hoa làm kiểng thấy nó ra bông thì mình thấy vui vẻ, hoan hỉ, từ đó mình tham luyến nó, tâm trí mình bị cột vào đó, quên đi kinh luật, con cũng thường quán chiếu thấy được như vậy. Sự nguy hại của thọ thì con quán chiếu rằng chính những thọ vui buồn, thuận nghịch, người ta có khen ngợi hay phỉ báng, vu oan cho mình thì con cũng biết chính những thuận cảnh, nghịch cảnh làm tâm mình dao động, con như lý tác ý cố gắng giữ tâm mình bất động, an lạc trước những cảnh đó để mình định tĩnh lại vì con biết tâm con còn dao động trước cảnh nhiều lắm.

Chính giữ như vậy nên con còn thích tu, thích học chứ đừng tu con gặp rất nhiều chướng duyên từ thân tâm cho đến hoàn cảnh, thầy tổ, huynh đệ đều mắc bệnh duyên nên con cũng cố gắng tự thúc liễm mình như ngài Quy Sơn đã nói "Nội cần khắc niệm chi công, ngoại hoằng bất tránh chi đức, thúc liễm sơ tâm" cho nên con cũng cố gắng học tập những lời của chư tổ, chư Phật để tự thúc liễm, sách tấn trên con đường tu của mình để đời này con được tu, hết đời trong tam bảo và mãi mãi về sau con cũng được tu tập như vậy.

Sư Phụ: Thầy có thể chia sẻ khó khăn của thầy không? Khó khăn, trở ngại, chướng ngại như thế nào?

Sư thầy 2: Trước khi đi tu thì con cũng có một số bệnh duyên về bao tử của mình cũng như gan yếu nên về việc ăn uống, ngủ nghỉ cũng hơi khó khăn, nói chung là khó khăn về thân bệnh. Do thân bệnh nên làm cho cảm thọ của con đau nhức rất khó chịu và rất khó ngủ về ban đêm, ngứa ngáy cái thân về ban đêm vì thế buổi tối con cố gắng đắp y lên sám hối, biết nghiệp chướng của mình rất nặng nề nên cố gắng sám hối.

Trên con đường tu thì con cũng không có duyên ở với thầy tổ, hết duyên ở với thầy tổ sớm nên cũng đi lưu lạc nhiều nơi, cũng từng lên núi muốn chuyên tu nhưng thấy mình còn nhỏ quá nên cũng về nương kiếm nơi học tập giới luật để hỗ trợ thêm cho mình phần giới luật để bù đắp nền tảng cho vững. Mấy huynh đệ khi xuất gia thì nghịch duyên lớn nên không thuận được nhiều, đạo tràng lộn xộn hoài nên khó tu nên con cũng buồn bã nhiều thứ. Đó là khó khăn lớn trong đường tu của con, nhất là cái thân chướng ngại rất nhiều. Con xin chia sẻ như vậy.

Sư Phụ: Bây giờ con chỉ cho thầy cách tác ý, nhờ cái thân như vậy mình mới tu, đó là thuận duyên cho mình tu, nếu cái thân mình khỏe như người ta thì chưa chắc bây giờ mình ngồi ở đây. Nhiều khi thường thường là đa số theo chiều suy nghĩ là không chấp nhận hiện thực, nhớ kĩ điều này, khi chưa thành tựu chánh kiến thì đa số và tâm thường thường của hữu tình chúng sanh ngũ uẩn là không chấp nhận thực tại, nghĩa là những sự thật ngay trong giây phút hiện tại.

Ví dụ mình sanh ra trong cái thân bệnh rồi nhìn người không bệnh thì ước gì mình được như vậy là hạnh phúc nhưng không phải vậy vì những người không bệnh thì có cái khổ khác, nhiều khi cái thân họ không bệnh nhưng họ lại không được minh mẫn, đầu óc không minh mẫn, hoặc có người được gia đình êm ái tương đối nhưng về vấn đề tình cảm lại khổ đau hoặc cha mẹ li thân, li dị, anh em chia lìa, kẻ còn người mất, sanh ly tử biệt cho nên mỗi người một nỗi khổ, mỗi loài một niềm đau.

Mình đừng nghĩ rằng chỉ có tôi mới đau khổ nhất, những người khác không đau khổ bằng tôi, tại sao tôi lại sanh ra trong một cái thân như vậy, trong một gia đình như vậy, trong hoàn cảnh như vậy, tại sao tôi phải chịu đựng những cái như vầy. Khi mình hiểu được nghiệp quả thì mình sẽ không hỏi tại sao nữa, ngay chỗ này phải quán chiếu về nghiệp, Đức Thế Tôn nói nghiệp là chủ nhân, nghiệp là bào thai, là thai tạng, nghiệp là bà con, nghiệp là chỗ nương tựa, nghiệp là quyến thuộc, tất cả những gì mình làm dù thiện hay ác mình đều phải thừa kế nghiệp ấy cho nên những gì mình đang mang đây là sự thừa kế của những ý nghĩ, lời nói, hành động trước kia của mình, bây giờ mình không chấp nhận thì nó cũng vậy và có chấp nhập thì cũng vậy.

Như vậy với tâm thái nào làm cho mình an ổn trong tâm mình? Có nên chấp nhận không hay là không chấp nhận? Phải chấp nhận sự thật trong hiện tại, đó là cái thứ nhất, mình phải hiểu tất cả những cái mình đang có, một giọt nước, một chén cơm, một chiếc xe hay một đôi dép, hình hài này đều do nghiệp của quá khứ biểu hiện và nghiệp đó chính là những ngôn ngữ, lời nói, hành động trước kia của mình. Nhiều khi học thì hiểu nhưng hiểu trên lý thuyết, hiểu trong kinh còn trong tâm mình không chấp nhận, hoặc là chỉ chấp nhận phần nào thôi chứ không chấp nhận trọn vẹn. Khi nào chấp nhận trọn vẹn thì mới thành tựu chánh kiến về nghiệp. Con có chia sẻ 40 bài về nghiệp của tạng kinh Nikāya, chúng ta về nghe thêm.

Thứ hai là vì có khổ nên mình mới tu, cái khổ đó là thầy của mình, trong kinh Nikāya nói do cái khổ mà mình khởi phát được lòng tin, nếu mình không gặp khổ thì mình khó tin tam bảo lắm, khó tin giáo pháp lắm.

"Và này các Tỳ-kheo, duyên của lòng tin là gì? Khổ là câu trả lời. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng khổ có duyên, không phải không có duyên" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, III. Duyên)

Xưa và nay Như Lai chỉ nói về khổ và dự diệt khổ cho nên bây giờ nói không có khổ là ngược với sự thật.

"Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ" (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)

Chính vì có khổ nên mình mới tu, chính vì bệnh nên mới tu, chính vì già nua nên mới tu, chính vì chết chóc, tan hoại nên mới tu. Nếu không có những cái này thì tu làm gì? Không có khổ thì đâu cần tu cho nên cảm ơn cái khổ, mình phải tác ý cảm ơn bệnh tật, nhờ bệnh tật mới thấy rõ được thân này đáng nhàm chán, thân này là vô thường, là bất tịnh, thân này mang tai họa, mang khổ đau, mang mầm móng của những lo âu, tai họa, bất an, khổ ách vì có thân này nên nó làm mình sanh khởi niềm tin đối với Đức Phật, niềm tin đối với giáo pháp, niềm tin đối với đạo lộ giải thoát. Nó làm mình sanh khởi lòng tin mạnh mẽ để mình vượt thoát ra khỏi cái thân đau khổ, bất an, tai họa, lo lắng và đầy sợ hãi này. Đó là cách tác ý chứ không phải mình đợi cái thân khỏe mới tu, còn giờ bệnh hoạn không tu được, nếu không bệnh sẽ đi kiếm chuyện khác, nếu nghĩ chừng nào giàu mới tu còn giờ nghèo không tu thì chưa chắc vì giàu chưa chắc tu, giàu thì bận hưởng thụ nên làm sao tu, còn nếu nói để vừa vừa tu thì cũng chưa chắc thì cứ an ổn thì có gì đâu mà tu cho nên chấp nhận thực tại để tiến tu.

Mình phải cảm ơn nghịch cảnh, cảm ơn chướng ngại nên mình mới có ý chí mạnh mẽ, mãnh liệt, tự lập, nương tựa vào pháp, không nương tựa vào bất cứ cái gì trên đời, Đức Thế Tôn còn nói phải tự thắp đuốc lên với chánh pháp để đi, lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, lấy chánh pháp làm ngọn đèn, khi Đức Thế Tôn còn tại thế ngài đã căn dặn như vậy.

"Vậy này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

IV. Thế nào là Chánh Pháp

Thế nào là chánh pháp?

Sư cô 4: Dạ, mô Phật, kính bạch thầy giáo thọ cùng đại chúng, con xin trả lời chánh pháp tức là pháp chân chánh.

Sư Phụ: Đây là lớp gì vậy? Có phải đang học mẫu giáo không? Có phải đang học sơ cấp Phật học không? Cái gì là chánh pháp? Mình hiểu sao nói vậy không cầu cứu ai, phải nương tựa chính mình, nương tựa vào trí tuệ mà mình đã học pháp từ trước đến nay.

Sư cô 4: Dạ, mô Phật, bạch thầy theo con hiểu chánh pháp là những lời dạy, những phương pháp được Đức Phật truyền trao lại, con đường, phương hướng tu tập đúng đắn để giúp cho mỗi cá nhân chúng ta vượt khổ, thoát khổ, thực hiện được hạnh nguyện tự lợi lợi tha, cứu mình rồi cứu người.

Sư Phụ: Chung chung.

Sư cô 5: Bạch thầy giáo thọ cùng đại chúng, theo con hiểu chánh pháp là những lời dạy đúng với chân lý của cuộc sống, nó có thể giúp ta vượt khổ, được an vui.

Sư Phụ: Còn gì nữa không?

Sư cô 5: Có thể hiểu được chính bản thân mình.

Sư Phụ: Chung chung, phải chỉ đích danh chánh pháp là cái gì.

Sư thầy 3: Mô Phật, kính bạch giáo thọ sư cùng toàn thể đại chúng, theo con nghĩ chánh pháp thứ nhất là những lời Đức Phật dạy, qua lời nói đó mình thấy được bản chất của thế gian, Đức Phật nói tóm gọn là tam pháp ấn là khổ, vô thường, vô ngã.

Sư Phụ: Mời các vị khác tiếp tục chia sẻ, chánh pháp là gì?

Sư thầy 4: Dạ mô Phật, bạch thầy cùng đại chúng, theo con nghĩ chánh pháp là những lời dạy của Đức Phật giúp cho chúng sanh có thể chuyển hóa được đau khổ, an vui và giải thoát rốt ráo. Chẳng hạn như bài kinh Tứ Diệu Đế, Đức Phật đã thuyết đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như gồm Khổ Đế, Tập Đế, Đạo Đế và Diệt Đế.

Sư thầy 5: Kính bạch thầy cùng chư huynh đệ, theo con hiểu thì chánh pháp là những lời nói chân chánh, ví dụ như cuộc đời mình có những nhân tố gì trong đó mình đều thấy sự thật, con nghĩ như vậy.

Sư thầy 6: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư cùng toàn thể đại chúng, theo con chánh pháp thì chánh là đúng đắn, là sự thật, pháp là giáo pháp của Đức Phật, chánh pháp là cái thấy đúng đắn, cái thấy như thật, thấy về ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức, thấy được khổ, thấy được con đường đi đến sự diệt khổ đau qua Khổ-Tập Diệt Đạo, cách để diệt khổ và con đường Bát Chánh Đạo, từ chánh pháp này chúng ta đi đến Thánh trí, sau đó chúng ta mới đi đến được Thánh quả và chúng ta nhận diện được chánh pháp là con đường đúng đắn, chúng ta phải thấy rõ ràng được ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Nam mô A-di-đà Phật.

Sư Phụ:

"Và này Ananda, thế nào là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?

Này Ananda, ở đây, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.

Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

Chúng ta phải học thuộc đoạn kinh này, nhiều khi mình đến chết ở trong chùa người ta hỏi chánh pháp là gì cũng không biết, mình nói chung chung vì mình không biết chính xác, khi nói là phải rõ ràng y cứ theo Thánh điển chứ không phải theo suy nghĩ "theo con nghĩ là …" là không được, phải nói y cứ bài kinh nào, bộ kinh nào, gọi là Thánh điển y cứ, giống như nói có sách mách có chứng. Như vậy Đức Phật nói cho chúng ta biết Tứ Niệm Xứ là chánh pháp, chúng ta đang học quán cảm thọ là Tứ Niệm Xứ, có phải là chánh pháp không? Cho nên chúng ta phải để ý thật kĩ, sau này có rất nhiều môn, mạnh ai người nấy nói, không biết mình học đi tới đâu, mình không học cái gốc của Đức Phật nên không đủ sức nhìn ra tham, sân, si chứ đừng nói chi nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch nó.

Nếu không biết cảm thọ thì làm sao biết được có 3 loại cảm thọ? Không biết ba cảm thọ thì làm sao biết tham, sân, si? Không nhận diện tham, sân, si thì làm sao có những phương pháp nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch, đoạn tận nó? Nếu không đoạn tận, tẩy sạch tham, sân, si thì làm sao thành tựu mục đích cứu cánh phạm hạnh của người tu? Sự tu của mình có bấy nhiêu đó thôi, mình nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch được tham, sân, si thì mình mới giúp cho người ta nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch được tham, sân, si của họ, cái đó mới là cứu khổ độ sanh, cái đó mới là tự lợi lợi tha, tự độ độ tha, tự giác giác tha, cái đó mới gọi là diệt khổ chi đạo, đạo lộ diệt khổ, diệt khổ chính là diệt tham, sân, si. Tuy nhiên bây giờ mình lại không biết tham, sân, si ở đâu, không biết hang ổ, căn cứ địa ở đâu, không biết nó trú trên thân ở đâu, trú trong tâm chỗ nào, nó sanh khởi thế nào, nó áp đảo mình ra sao, nó xâm chiếm mình thế nào, tất cả mình đều không biết thì làm sao mình nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch nó được cho nên Tứ Niệm Xứ là chánh pháp.

Muốn tu tập Tứ Niệm Xứ thì phải biết được ngũ uẩn, nếu không biết ngũ uẩn thì làm sao biết thọ; tưởng; hành; thức cho nên có sự liên hệ, chúng ta phải học thuộc để tu, thứ hai là có người hỏi chánh pháp là gì thì mình phải đọc được đoạn kinh ở trên thì mới gọi là kinh luận y cứ Thánh điển chứ không được nói rằng "con suy nghĩ là…" hoặc là "theo con nghĩ…", suy nghĩ của mình là phàm phu, nhận định của mình ở trong vô minh, trong bản ngã, trong phiền não, chấp thủ thì làm sao chỉ ra được Thánh đạo của Đức Phật. Đây là điều rất quan trọng, không thấy được điều này thì tu cái gì? Bình thường mình không biết được tâm mình, chỉ khi nào học cái này, nhận diện ngũ uẩn sẽ thấy bất ngờ, mình tưởng mình tu tốt lắm, mình nghĩ bản ngã mình hiền lắm, mình tưởng mình như vậy cũng được lắm nhưng khi nhận diện ngũ uẩn sẽ thấy không phải như vậy mà trong tâm mình nhiều rác bẩn, cấu nhiễm nhưng mình hoàn toàn không biết, nếu biết đã không để cho cấu nhiễm nhiều như vậy.

Trong khi mình còn tỉnh táo rõ ràng, được hướng dẫn nhận diện mà còn không thấy thì huống chi tâm bị mê muội, tâm bị si ám hay tâm đang sân hận. Tâm đang hơn thua, bản ngã thì làm sao thấy? Chính vì vậy mới đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đưa vào lục đạo luân hồi, đưa vào vòng quay trăm đời ngàn kiếp vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp không dừng lại được vì không thấy không biết cho nên cái vô minh này rất khủng khiếp, mình đừng nghĩ ngồi buồn ngủ mới vô minh, ngồi mở mắt ra tính toán đủ thứ nhưng toàn tính trong vô minh, tính trong ngu si, trong hơn thua, tính để làm khổ cho mình làm khổ cho người không thôi. Những suy nghĩ, những tính toán làm khổ mình làm khổ người, hành hạ mình hành hạ người, hủy diệt người, hủy diệt hữu tình, hủy diệt nhân loại, hủy diệt chúng sanh, hủy diệt thế giới, hủy diệt hành tinh, hủy diệt địa cầu. Tất cả là từ vô minh dẫn dắt trong suy nghĩ, trong cảm thọ, "thuận ta thì sống, nghịch ta thì chết", cho nên mình nghĩ mình khôn nhưng vô cùng ngu, tưởng đâu trí tuệ nhưng thật sự là đại si mê, si ám, ngu muội vì thế nhận diện ngũ uẩn để thấy được vô minh, thấy được sự chấp thủ trong nội tâm mê, thấy những tham ái, khát ái, sân hận, thấy những nguyên nhân làm cho mình và hữu tình đau khổ trong trí tuệ tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, trong đạo lộ thần diệu này.

./.