TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 21-SỰ VẬN HÀNH CỦA NĂM UẨN
TÓM TẮT NGŨ UẨN 21
SỰ VẬN HÀNH CỦA NĂM UẨN
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Sự vận hành của năm uẩn PAGEREF _Toc170056776 \h 1
II.Thực tập an tịnh và lắng dịu PAGEREF _Toc170056777 \h 6
III.Như lý giác sát – Như lý tác ý PAGEREF _Toc170056778 \h 9
Sự vận hành của năm uẩn
Trong buổi thọ trai, Minh Thành vào bàn ăn với nhiều món ăn bày ra, tâm khởi lên thích thú, ý hành khởi lên sẽ lựa chọn món ăn mình thích. Khi nghe lời tác bạch cúng dường và “Tam đề ngũ quán”, nghe những lời quán, tâm không còn sự ham thích như lúc đầu. Với ý của câu quán thứ tư “thức ăn là liều thuốc hay để trị bệnh khô gầy”, nhìn lại thân mình không đến nỗi khô gầy mà con dư dả, mập mạp, nếu thọ dụng quá mức sẽ thành bệnh và trong câu quán tưởng thứ năm: “Con nuôi dưỡng chánh niệm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp giải thoát giác ngộ mà con xin thọ dụng những thức ăn này”. Lúc này tâm thích thú trong con hoàn toàn không còn, chỉ có sự hổ thẹn sinh khởi nhờ con kịp thời quán chiếu như vậy.
Tại sao chúng ta có sự thích thú khi thấy đồ ăn ngon, nếu chúng ta không học thuộc Duyên sanh pháp thì sẽ không biết quán:
Do duyên có mắt và các sắc sanh khởi Nhãn thức (rõ biết các sắc). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhãn xúc. Do duyên có Nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư.
(Niệm Duyên Sanh Pháp - Linh Quy Nhật Tụng)
Nhờ biết niệm Duyên sanh Pháp thì chúng ta mới gỡ ra từng phần được, đó là một chuỗi duyên sanh và sự vận hành của cảm thọ, cái này có nên cái kia có. Với sáu cảm thọ: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh, năm cảm thọ đầu thì dễ hiểu nhưng thọ thứ sáu: thọ do ý xúc sanh là rất khó, vậy nên chúng ta phải học thuộc Duyên sanh pháp để hiểu ý xúc là gì? từ đâu mà có thọ do ý xúc sanh? Đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật.
Tại sao khi ngồi một mình chúng ta vẫn có cảm thọ thương nhớ và buồn đau? Điều này vừa là pháp học vừa là pháp hành rất quan trọng, chúng ta phải học theo Kinh tạng Nikāya đi theo định lý chứng ngộ của Đức Phật, nếu không sẽ đi vào con đường của phàm phu, không đúng với Thánh đạo, không đi vào Thánh trí, sẽ không đi đến Thánh quả
Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi Ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
(Niệm Duyên Sanh Pháp - Linh Quy Nhật Tụng)
Chúng ta nhớ lại buổi thọ thực trong khóa tu có nhiều đồ ăn ngon, trong tâm có hình bóng của những món đồ ăn, có cảm giác dễ chịu, có suy nghĩ về những món ăn đó. Pháp trần là những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ còn lưu lại trong tâm sau khi đã tiếp xúc. Khi chúng ta có sự để ý lại trong tâm thấy được hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về buổi thọ dụng, về những món đồ ăn đó là ý căn (thọ tưởng hành này là đã từng tiếp xúc, bây giờ nhớ lại, hồi tưởng lại) và ngay trong lúc đó chúng ta có sự rõ biết tâm đang có thọ tưởng hành như vậy là ý thức. Sự hội tụ của ba pháp này là ý xúc, là sự tiếp xúc của tâm ý bên trong, sanh khởi thọ tưởng hành mới bên trong tâm.
Đang ngồi yên, tâm nhớ lại về hình ảnh người đã mắng chửi mình, vì chúng ta có sự để ý lại trong tâm (ý căn) thì mới có hình ảnh đó hiện lên, nếu chúng ta chỉ để ý cảnh vật bên ngoài thì sẽ không thấy, cùng với hình ảnh đó là cảm thọ khó chịu và có suy nghĩ không vừa lòng, sân giận về người đó (pháp trần), lúc đó mình có sự rõ biết thọ tưởng hành này (ý thức), sự hội tụ của ba pháp này (ý căn, pháp trần, ý thức) sanh khởi một cảm thọ bực bội, bức xúc, tức giận mới được nhân lên. Tức là hôm qua đã có cảm thọ bực bội, khó chịu về con người đó, bây giờ nhớ lại mình khó chịu thêm lần thứ hai, nếu chúng ta cứ tiếp tục nhớ nghĩ như vậy thì sẽ có lần thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ n…thọ tưởng hành mới sẽ tiếp tục sinh trưởng, tăng trưởng sự khó chịu bực bội theo cấp số nhân, cho nên hận thù cứ chồng chất ở bên trong tâm theo năm tháng, vì cái giận đó không hết được, chúng ta không tiêu diệt còn để cho nó sanh. Sự vận hành của pháp tưởng, pháp tư hồi tưởng lại những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm thọ, cho nên nhiều năm trôi qua vẫn còn giận 10 năm, 20 năm có khi hết cả đời. Sự hận thù sinh ra chính là do sự vận hành của ba pháp này, trong tâm nhớ lại, cứ chập chờn ám ảnh, giận hờn. Yêu thương cũng giống như vậy, đối tượng mà mình yêu thương hiện lên, có cảm giác ngọt ngào êm ái, suy nghĩ hiện lên, thức rõ biết thọ tưởng hành đó những giây phút ngọt ngào bên cạnh người thương. Có sự tiếp xúc bên trong của tâm ý, sinh khởi thọ do ý xúc sanh, một cảm giác ngọt ngào yêu thương êm ái dễ chịu sinh ra số một, số hai, số ba…liên tục liên tục sinh ra rồi thúc dục mình phải đi gặp đi tìm. Pháp tưởng, pháp tư là hồi tưởng lại hình bóng, suy nghĩ về đối tượng đó, tăng trưởng liên tục rồi dẫn mình đi.
Chúng ta mông lung nhớ lại những việc đã làm, những việc đã qua mà không thấy rõ ý căn, pháp trần, ý thức, ý xúc, thọ do ý xúc sanh, đó một bóng đêm bao phủ trong tâm, thấy mình có một cái tự ngã, tôi, của tôi đó là si mê, không thấy pháp. Yêu thương dính mắc là tham, là ái, là dục, dù ngồi một mình không có sự tiếp xúc vẫn sinh khởi liên tục nỗi nhớ về đối tượng mình yêu thương, thích, mong muốn, lưu luyến.
---
Trên đây cũng là lý do tại sao một mình nhập thất, ngồi thiền không được là vì thọ tưởng hành này sinh khởi liên lục và quậy phá ở trong tâm. Ở đây vị nào từng nhập thất, mời chia sẻ.
Sư cô: Kính bạch trên thầy giáo thọ và toàn thể đại chúng, khi con nhập thất được bảy ngày, lúc đó con chưa rõ ngũ uẩn, nhưng con thấy suy nghĩ khởi lên rất nhiều ở trong tâm, những hình bóng trong quá khứ cứ hiện về.
Lợi ích khi nhận diện được ngũ uẩn là chúng ta sẽ biết được trong suy nghĩ khởi lên đó có tham hay sân hay si, có ái ở bên trong. Còn nếu chưa học ngũ uẩn thì chúng ta toàn toàn không biết, nhìn tâm chỉ thấy một sự chung chung không rõ ràng, một cục một khối, một đống xà bần giống như nồi canh tập tàn, một nồi chè thập cẩm; không biết cái nào là thọ, là hành, là thức; càng không biết thế nào là duyên sanh pháp, càng không biết được dục, tham, ái, tâm lậu hoặc.
Cho nên chỉ thấy tâm một cách lơ mơ, tờ mờ, có một lớp mây mù không có cái nào rõ cái nào. Còn khi nhận diện được ngũ uẩn thì sẽ thấy rõ cái nào ra cái nấy, thọ, tưởng, hành, thức, dục, tham, ái, bản ngã, sân hận, yêu, thương… Còn không nhận diện được ngũ uẩn, suy nghĩ hiện lên ở quá khứ hiện tại vị lai mình không biết gì hết thì làm sao đối trị? Có vị sẽ nương vào câu niệm Phật hoặc cố gắng không suy nghĩ nữa nhưng vẫn không nhiếp phục được? Lúc đó ta sẽ tu như thế nào để nhiếp phục?
Sư cô: Con có được học trong cảm giác khó chịu có sân, trong cảm giác dễ chịu có tham, trong cảm giác không khó chịu, không dễ chịu có si. Khi suy nghĩ về những thứ ưa thích, con biết mình có khởi tâm tham, con nhận diện tâm tham rồi quay về lại với hơi thở để nhiếp phục tâm. Khi thực hành cảm giác toàn thân, những lúc con khởi lên sự khó chịu thì con cảm nhân được luồng nóng trong người, con cũng nhận diện cảm giác đó rồi quay về lại hơi thở. Cho nên, sau khi học nhận diện ngũ uẩn thì con thấy rõ được thọ, tưởng, hành hơn.
Sư thầy: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch trên thượng tọa giảng sư và đại chúng, con được học Bộ Thanh Tịnh Đạo Luận, về thực tập hơi thở, và con có thực tập hàng ngày. Khi đi vào môi trường độc cư con chỉ thực tập hơi thở và pháp hành của pháp môn. Khi cơ thể đau, khó chịu con trở về với hơi thở để làm cho an tịnh lắng dịu trở lại, không để cho những sự tưởng tượng lôi kéo mình đi, khi quay về với hơi thở con thấy dễ chịu thân tâm được mát mẻ và ham thích sự tu tập hơn.
Khi tu tập Thánh trí ngũ uẩn, chúng ta sẽ thấy rõ ràng các pháp, cái nào ra cái đó, cái chuông là cái chuông, cái bàn là cái bàn, bình bông là bình bông, viên phấn là viên phấn…không có chung chung, lẫn lộn. Khi chưa nhận diện ngũ uẩn mình sẽ không biết rõ được tâm cho nên mình tu một cách chung chung pháp không hiện rõ.
Như vậy, bất cứ khi nào không thấy được ngũ uẩn là lúc đó chúng ta sống với một cái tự ngã. Khi không thấy ngũ uẩn thì thsẽ có cái tôi. Còn thấy được ngũ uẩn sẽ thấy có năm nhóm riêng lẻ, không còn một khối. Ví dụ hình ảnh bàn tay xòe ra năm ngón là ngũ uẩn, còn nắm chặt lại như một nắm đấm là tự ngã. Lúc nào mình không thấy sắc thọ tưởng hành thức là lúc đó có cái tôi cứng chắc luôn ở trong hơn thua, cao thấp, so sánh, phân biệt, ganh tị, đố kỵ. Nếu không thấy ngũ uẩn, khi huynh đệ được mọi người quý mến nếu không khéo tu tập tâm mình sẽ không hoan hỷ, không tùy hỷ, mà thấy khó chịu, tức là có cái tôi hơn thua ở trong cái tự ngã, cho dù nói rằng tôi ngu, tôi dỡ, tôi nghiệp nặng nên tôi không bằng người ta…đây vẫn là bản ngã của sự lười nhác, làm biếng, không phấn đấu nỗ lực tu hành hay mượn cớ. Tu gieo duyên, không mong cầu gì cao siêu, những lời nói như vậy nghe rất quen tưởng là hay nhưng là đang chấp ngã. Cho nên không thấy sắc thọ tưởng hành thức là lúc đó mình sống với một cái tôi, một cái tâm vô minh, si mê chấp thủ, bản ngã.
Chúng ta không học ngũ uẩn, không nhận diện ngũ uẩn, không học duyên sanh pháp, không nhận diện duyên sanh pháp thì sống với phàm tình, với tâm mê, vô minh, chấp thủ mà thôi. Đi học mà không học bài thì lấy cái gì mà quán. Thánh trí ngũ uẩn, Duyên sanh pháp là định lý mà Đức Phật đã chứng ngộ, đã truyền trao bây giờ chúng ta chỉ y như vậy và làm đúng như vậy thì sẽ ra kết quả như vậy. Cho nên cơ bản, tối thiểu nhất là phải học thuộc lòng Định nghĩa ngũ uẩn và Duyên sanh pháp.
Hàng ngày tâm của chúng ta vận hành trong pháp duyên sanh như vậy nhưng chúng ta không thấy không biết các pháp căn, trần, thức, xúc, thọ, tưởng, tư nên trong sự vận hành đó, tâm vận hành trong vô minh, không được thấy, không được biết, trong đó là một ảo tưởng về tự ngã, nên sự chấp thủ, vô minh, tham ái, càng ngày càng tăng trưởng, lớn mạnh không đi ra được. Sinh khởi hình ảnh đối tượng của thương, càng nghĩ càng thương, đối tượng của ghét, càng nghĩ càng ghét, không thương, không ghét thì cứ đều đều ở trong khối vô minh cứng chắc, chấp ngã và như vậy thì tu cho đến khi nào thành tựu.
Thành tựu giác ngộ là cả một công trình tu học quán chiếu đánh phá vô minh tham ái và chấp thủ trong nhận thức, tư tưởng, suy nghĩ, cảm giác, là cả một công trình tu tập kiên trì, kham nhẫn thiền định quán chiếu, thiền chỉ, thiền quán, thiền định, thiền tuệ. Đức Phật gọi là tịnh chỉ và tuệ quán thâm sâu. Mà định, chỉ, tuệ, quán này phải đặt trên nền tảng của Thánh trí tuệ Đức Phật cho nên phải là bậc đa văn Thánh đệ tử, nếu không nghe gì về tạng kinh Nikāya thì biết gì mà quán, chỉ có tưởng tượng, suy nghĩ trong vô minh, ngay cả khi Đức Phật giác ngộ mình cũng không biết Đức Phật giác ngộ như thế nào? Mình muốn biết nhưng lại không chịu học trong những tạng kinh gốc về Đức Phật lại đi suy tưởng, thì làm sao biết đúng. Trong tạng kinh Nikāya, Đức Phật trình bày rõ ràng, chi tiết cụ thể đêm đó Ngài chứng ngộ cái gì? trạng thái tâm Ngài lúc đó như thế nào? đều được giải thích rõ.
---
Hàng ngày chúng ta nhìn thấy năm uẩn được mấy lần, cái tôi chiếm bao nhiêu phần trăm? Trừ những lúc ngủ, còn lại 15, 16 tiếng đồng hồ, mình nhìn thấy được ngũ uẩn bao lâu; mình không thấy cái tôi, không thấy cái của tôi được mấy tiếng? Một ngày được bao nhiêu thời gian mình nhớ tới ngũ uẩn?
Sư cô: Con thường nhìn về ngũ uẩn khi ngồi thiền, trong cuộc sống hàng ngày khi tiếp xúc cũng có nhìn lại ngũ uẩn. Trong khi ngồi thiền con có cảm thọ bức xúc, khó chịu vì chân bị đau và tê cứng, cảm thọ thân khi trời nóng bức bị đổ mồ hôi, gây ngứa ngáy khó chịu, hành uẩn tâm phóng ra bên ngoài nghĩ ngợi liên tục, con cũng bị ngủ gục, con mở mắt và tác ý hít vào tâm an tịnh, thở ra tâm lắng dịu, cũng có những tưởng uẩn khởi lên nhớ về những chuyện đã xảy ra, thức rõ biết thọ tưởng hành.
Thực tập an tịnh và lắng dịu
Câu hỏi: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch trên thầy giáo tho, chúng con thường được dạy tác ý hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, từ tâm thanh thản, an lạc và thầy cũng dạy chúng con tâm an tịnh lắng dịu, những tâm này thuộc thọ vui, vậy đây có phải là pháp thiền quán về cảm thọ không ạ?
Nhận diện cảm thọ chỉ là bước ban đầu, chúng ta về nghe loạt bài quán chiếu thâm sâu về cảm thọ, bước ban đầu là tác ý tâm an tịnh lắng dịu dễ chịu. Linh Quy vừa kết thúc khóa tu xuất gia gieo duyên và chính thức cho gần 100 vị, khi ngồi thiền nghe Pháp hay lúc thọ thực, không có một tiếng động, Minh Thành rất chú trọng sự an tịnh lắng dịu và dễ chịu, những từ tác ý này phải thường thực tập, thực hành, không phải chỉ là lý thuyết. Đây là gia phong, nề nếp của đạo tràng Nikāya, Minh Thành vào lớp nào ồn nào là Minh Thành không hoan hỷ, không muốn chia sẻ thâm sâu vì các vị không để tâm thì có nói nhiều cũng vô ích, đây là Minh Thành học theo Đức Phật. Trong chúng hội của Đức Phật khi Ngài giảng Pháp cho cả ngàn vị Tỳ-kheo, vị Tỷ-kheo ngồi bên ho lên liền được bạn đạo nhắc nhở “Bậc Chánh đẳng chánh giác đang thuyết Pháp, thầy hãy giữ yên lặng, chớ có làm ồn” .
An tịnh lắng dịu là bước đầu tiên sơ khởi cho pháp thô nhất, cảm thọ trong chúng ta là luôn luôn dao động liên tục, ngồi thiền có 30 phút thôi mà khó chịu lắm ngứa chỗ này, mỏi chỗ kia, đau nhức chỗ nọ, rồi còn dòm ngó người này người nọ, đó là đang lúc ngồi thiền mà còn như vậy, huống chi lúc không ngồi thiền. Chúng sanh đều ở trong trạng thái dao động, nếu theo chiều hướng bất thiện pháp thì đi vào địa ngục ngạ quỷ súc sanh. Hàng ngày trên báo chí đầy rẫy những tin tức về những sự giao động bất thiện, rất khủng khiếp. Có có một người thanh niên bị chết oan khi đi đón bạn, thì bị một toán thanh niên khác chém chết, điều tra ra thì người này bị giết nhầm hay một nhóm thanh niên khác gây bạo động trong siêu thị, làm náo động và gây kinh hoàng sợ hãi cho nhiều người.
Chúng sanh luôn luôn trong thân tâm dao động, động loạn cuồng loạn, đi theo chiều ác, bất thiện pháp nên đi vào ba đường ác. Nhưng một thân tâm dao động đi theo chiều thiện pháp thì đi vào trong loài người và loài trời. Các bậc Thánh là tâm bất động giải thoát, gặp các duyên xúc, tâm các Ngài đều bất động, nên các Ngài không đi trong luân hồi nữa. Không có bất cứ một ai từ Thiên giới, Phạm thiên giới, Ma giới, Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người, không có bất cứ một ai có thể làm cho Như Lai và các bậc A-la-hán dao động “ Như Lai là bậc an tịnh, thuyết pháp đưa chúng sanh đến cảnh giới an tịnh” đây là điều rất quan trọng cần phải để ý. Minh Thành dù rất tha thiết trong giáo dục nhưng lớp tăng ni nào ồn ào, dao động không an tịnh, Minh Thành không muốn giảng, người tu mà lăng xăng ồn ào là không được chấp nhận.
Thời Đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài đã đuổi những vị tân Tỳ-kheo gồm 500 vị đệ tử của Ngài Mục Kiền Liên và Xá-lợi-phất mới xin theo xuất gia, do các vị chia tọa cụ, y bát mà ồn ào, náo động (trích Trung Bộ Kinh II, kinh Càtumà). Không chỉ chư Tỳ-kheo mà 500 vị đại gia đến cúng dường đứng trước cửa tịnh xá làm ồn ào, náo nhiệt Ngài cũng đuổi đi.
Qua đó, ta thấy rằng, sự an tịnh lắng dịu là tuyệt đối quan trọng đối với người xuất gia, Minh Thành rất hoan hỷ với những khóa tu ở trên núi gần một 100 vị đang tu tập nhưng khách đến thăm tưởng không có ai. Chúng ta thường thấy hình ảnh an tịnh, lắng dịu này ở trong kinh. Một lần, vua A-xà-thế đến thăm Đức Phật với 1250 vị Thánh tăng ngồi trong im lặng, vua đến Tịnh xá thấy không gian lặng như tờ không bóng người, tưởng rằng mình bị mai phục, khi ông vào chánh điện sửng sốt khi thấy Đức Thế Tôn ngồi trên cao như núi chúa bất động, xung quanh là 1250 vị Thánh Tăng đang thiền định, có thể nghe được tiếng thở của nhau, vua A-xà-thế sụp xuống quỳ lạy.
Đạo tràng Nikāya Linh Quy đang học để làm theo điều này và chúng ta hãy tập theo điều này, bất cứ có chuyện gì cũng đừng có lăng xăng ồn ào hớt ha hớt hải, trời có sập xuống cũng bình tĩnh yên lặng, hàng ngày niệm tử để nhớ mình sẽ chết. Đức Phật có dạy bữa ăn cũng có thể làm cho mình chết, ngọn gió cũng có thể làm cho mình chết, con rắn cũng có thể làm cho minh chết, vấp té cũng có thể làm cho mình chết…chết còn không sợ thì có gì phải sợ. Phải tập trầm tĩnh an tịnh, lắng dịu, nếu nghiệp quả đến phải chấp nhận, không ai hại mình, chỉ có nghiệp của mình hại mình. Nghiệp ở đây chính là thân hành, khẩu hành, ý hành của mình.
An tịnh lắng dịu là bước đầu sơ khởi tu tập tiền phương tiện của thiền định, muốn thực tập thiền thì trước hết phải thực tập an tịnh lắng dịu trong bốn oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm phải thanh thoát nhẹ nhàng ung dung thanh thản thư thới. Người tu đâu có bị lôi kéo, vướng bận bởi cơm áo gạo tiền vợ chồng con cái thì tại sao phải lăng xăng. Cảm thọ an tịnh lắng dịu ung dung thơi thới là chất liệu của người xuất gia, là đặc sản của người khất sĩ, là bản sắc của người tu hành, là linh hồn của bậc Thánh đệ tử, không có những điều này coi như tu uổng công. Cái vỏ ngoài của Phạm hạnh còn không có thì làm sao có được lõi cây. Tu mà la lối um sùm, động loạn lăng xăng nhìn rất kỳ cục, dị hợm, điều này rất quan trọng nên chúng ta phải tu luyện cho được sau đó mới đi vào thiền định được.
Tập trong từng bước đi gọi là thiền hành, tập ngồi cho yên tĩnh gọi là thiền tọa, tập nằm cho trang nghiêm thanh tịnh gọi là ngọa thiền, thiền nằm, tập đứng cho ngay thẳng chánh niệm gọi là trụ thiền. Nói cũng phải trong thiền, trong tâm bình an, tỉnh giác, không phải muốn nói gì nói, nói nhiều không chánh niệm tỉnh giác, nói một hồi thành ra nói tầm bậy tầm bạ, nói lộn ra ngoài đời, để cho người thế gian chê cười người xuất gia, tại sao ông sư thầy, sư cô lên pháp tòa lại nói những điều về thế tục mà có khi người trí thức ngoài đời họ còn không nói. Đức Phật dạy ngài La-hầu-la trong Đại kinh giáo giới La-hầu-la, trước khi trong khi sau khi nói là phải suy xét, lời nói có hại hay lợi nên làm hay không nên làm
Này Rahula nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: "Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả
hai; thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ". Này Rahula, Ông hãy từ bỏ một khẩu nghiệp như vậy.
Nhưng nếu này Rahula, khi phản tỉnh, Ông biết như sau: "Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại
người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc". Khẩu nghiệp như vậy này Rahula, Ông cần phải tiếp tục làm.
(Trung bộ kinh II, 61. Kinh giáo giới La Hầu La ở rừngAmbāla)
Tất cả đều phải đưa vào thiền quán, với quán định tuệ, thêm thành tựu giới thì tăng thượng được Thánh giới uẩn, Thánh định uẩn, Thánh tuệ uẩn, đi đến Thánh giải thoát, cho nên oai nghi của người tu là cần phải tu tập đầu tiên từ chỗ đi đứng, ngồi nằm, thọ thực…phải an tịnh lắng dịu mà an tịnh lắng dịu là nằm trong cảm thọ, cho nên phải thực tập quán chiếu cảm thọ, đây là bước đầu của thiền định, sau đó thiền quán, chiếu phá những lậu hoặc dục ái tham sân si vô minh bản ngã ở bên trong, cần có như lý giác sát và như lý tác ý.
Như lý giác sát – Như lý tác ý
Sau khi có được sự an tịnh lắng dịu của thân tâm rồi mới thực tập như lý giác sát, tiếp tục như lý tác ý.
Như lý giác sát là tỉnh giác quán sát đúng với sự thật thân tâm. Khi nhận diện ngũ uẩn là chúng ta như lý giác sát, nếu không có học về năm uẩn thì chúng ta có giác sát nhưng không có như lý, vì chúng ta không biết đúng sự thật về sắc thọ tưởng hành thức, nên có giác sát thì cũng chỉ ở trong một lớp sương mù, trong đêm tối. Do đó, khi trình bày về tâm chúng ta trình bày một cách chung chung ở ngoài cổng nhìn vô mà nên không thấy tâm mình một cách trung thực, xác thực, chân sát, chân chính, chân thật. Tức là tỉnh giác quán sát năm thủ uẩn
Đi lê đôi dép gây ra tiếng động trong mỗi bước chân, nếu chúng ta có sự tỉnh giác quán sát thân hành thì sẽ tự động đi nhẹ lại, nhấc cao chân để không tạo tiếng động như vậy nữa. Do không như lý giác sát nên thân hành thô tháo dao động, tâm như hồ nước bị dao động, không tĩnh lặng, khi tâm động, thân loạn như vậy thì có gì sinh khởi trong tâm mình không phát giác, phát hiện ra được. Nếu như lý giác sát mình sẽ thấy được lời mình nói ra như vậy là không được, xúc phạm, chạm tự ái huynh đệ. Đức Phật dạy khi nói, góp ý hay khuyên bảo ai thì trước khi nói cần phải an trú nội tâm năm pháp: “Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói từ tốn, nói lời có lợi ích, nói với từ tâm”. Đặc biệt là phải trú trong tâm từ để nói, nếu không mình nói có tâm sân ở bên trong mà mình không biết, tâm sân này không thể hiện thô ở bên ngoài mà tế ở bên trong, một sự sân, khó chịu nhẹ nên người nghe không chấp nhận được. Còn khi nói bằng tâm từ dù cho người nghe không chấp nhận thì ít nhất họ cũng không có giận. Nếu không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc, ta nghĩ mình không có lỗi gì, mình nói một cách rất bình thường nhưng nếu tu tập sâu sắc mình sẽ thấy trong lời nói của mình có một sự khó chịu nhẹ hoặc có bản ngã tế không thô, nên người nghe sẽ bực bội. Trong trường hợp mình gặp oan gia trái chủ, mình chưa nói gì họ đã ghét mình rồi, cho nên phải hết sức cẩn thận, họ gặp mình để “chờ thời để ra tay”, tức là mình thiếu nợ họ lâu đời kiếp nào rồi họ canh me mình và chờ đúng thời là ra tay. Nếu mình tu tập tâm từ, có tâm từ là mình có chiếc áo giáp bằng đồng, che kín từ đầu đến chân bảo vệ mình không mọi trường hợp nguy hiểm khẩn cấp.
./.
SỰ VẬN HÀNH CỦA NĂM UẨN
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Sự vận hành của năm uẩn PAGEREF _Toc170056776 \h 1
II.Thực tập an tịnh và lắng dịu PAGEREF _Toc170056777 \h 6
III.Như lý giác sát – Như lý tác ý PAGEREF _Toc170056778 \h 9
Sự vận hành của năm uẩn
Trong buổi thọ trai, Minh Thành vào bàn ăn với nhiều món ăn bày ra, tâm khởi lên thích thú, ý hành khởi lên sẽ lựa chọn món ăn mình thích. Khi nghe lời tác bạch cúng dường và “Tam đề ngũ quán”, nghe những lời quán, tâm không còn sự ham thích như lúc đầu. Với ý của câu quán thứ tư “thức ăn là liều thuốc hay để trị bệnh khô gầy”, nhìn lại thân mình không đến nỗi khô gầy mà con dư dả, mập mạp, nếu thọ dụng quá mức sẽ thành bệnh và trong câu quán tưởng thứ năm: “Con nuôi dưỡng chánh niệm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp giải thoát giác ngộ mà con xin thọ dụng những thức ăn này”. Lúc này tâm thích thú trong con hoàn toàn không còn, chỉ có sự hổ thẹn sinh khởi nhờ con kịp thời quán chiếu như vậy.
Tại sao chúng ta có sự thích thú khi thấy đồ ăn ngon, nếu chúng ta không học thuộc Duyên sanh pháp thì sẽ không biết quán:
Do duyên có mắt và các sắc sanh khởi Nhãn thức (rõ biết các sắc). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhãn xúc. Do duyên có Nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư.
(Niệm Duyên Sanh Pháp - Linh Quy Nhật Tụng)
Nhờ biết niệm Duyên sanh Pháp thì chúng ta mới gỡ ra từng phần được, đó là một chuỗi duyên sanh và sự vận hành của cảm thọ, cái này có nên cái kia có. Với sáu cảm thọ: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh, năm cảm thọ đầu thì dễ hiểu nhưng thọ thứ sáu: thọ do ý xúc sanh là rất khó, vậy nên chúng ta phải học thuộc Duyên sanh pháp để hiểu ý xúc là gì? từ đâu mà có thọ do ý xúc sanh? Đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật.
Tại sao khi ngồi một mình chúng ta vẫn có cảm thọ thương nhớ và buồn đau? Điều này vừa là pháp học vừa là pháp hành rất quan trọng, chúng ta phải học theo Kinh tạng Nikāya đi theo định lý chứng ngộ của Đức Phật, nếu không sẽ đi vào con đường của phàm phu, không đúng với Thánh đạo, không đi vào Thánh trí, sẽ không đi đến Thánh quả
Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi Ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
(Niệm Duyên Sanh Pháp - Linh Quy Nhật Tụng)
Chúng ta nhớ lại buổi thọ thực trong khóa tu có nhiều đồ ăn ngon, trong tâm có hình bóng của những món đồ ăn, có cảm giác dễ chịu, có suy nghĩ về những món ăn đó. Pháp trần là những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ còn lưu lại trong tâm sau khi đã tiếp xúc. Khi chúng ta có sự để ý lại trong tâm thấy được hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về buổi thọ dụng, về những món đồ ăn đó là ý căn (thọ tưởng hành này là đã từng tiếp xúc, bây giờ nhớ lại, hồi tưởng lại) và ngay trong lúc đó chúng ta có sự rõ biết tâm đang có thọ tưởng hành như vậy là ý thức. Sự hội tụ của ba pháp này là ý xúc, là sự tiếp xúc của tâm ý bên trong, sanh khởi thọ tưởng hành mới bên trong tâm.
Đang ngồi yên, tâm nhớ lại về hình ảnh người đã mắng chửi mình, vì chúng ta có sự để ý lại trong tâm (ý căn) thì mới có hình ảnh đó hiện lên, nếu chúng ta chỉ để ý cảnh vật bên ngoài thì sẽ không thấy, cùng với hình ảnh đó là cảm thọ khó chịu và có suy nghĩ không vừa lòng, sân giận về người đó (pháp trần), lúc đó mình có sự rõ biết thọ tưởng hành này (ý thức), sự hội tụ của ba pháp này (ý căn, pháp trần, ý thức) sanh khởi một cảm thọ bực bội, bức xúc, tức giận mới được nhân lên. Tức là hôm qua đã có cảm thọ bực bội, khó chịu về con người đó, bây giờ nhớ lại mình khó chịu thêm lần thứ hai, nếu chúng ta cứ tiếp tục nhớ nghĩ như vậy thì sẽ có lần thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ n…thọ tưởng hành mới sẽ tiếp tục sinh trưởng, tăng trưởng sự khó chịu bực bội theo cấp số nhân, cho nên hận thù cứ chồng chất ở bên trong tâm theo năm tháng, vì cái giận đó không hết được, chúng ta không tiêu diệt còn để cho nó sanh. Sự vận hành của pháp tưởng, pháp tư hồi tưởng lại những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm thọ, cho nên nhiều năm trôi qua vẫn còn giận 10 năm, 20 năm có khi hết cả đời. Sự hận thù sinh ra chính là do sự vận hành của ba pháp này, trong tâm nhớ lại, cứ chập chờn ám ảnh, giận hờn. Yêu thương cũng giống như vậy, đối tượng mà mình yêu thương hiện lên, có cảm giác ngọt ngào êm ái, suy nghĩ hiện lên, thức rõ biết thọ tưởng hành đó những giây phút ngọt ngào bên cạnh người thương. Có sự tiếp xúc bên trong của tâm ý, sinh khởi thọ do ý xúc sanh, một cảm giác ngọt ngào yêu thương êm ái dễ chịu sinh ra số một, số hai, số ba…liên tục liên tục sinh ra rồi thúc dục mình phải đi gặp đi tìm. Pháp tưởng, pháp tư là hồi tưởng lại hình bóng, suy nghĩ về đối tượng đó, tăng trưởng liên tục rồi dẫn mình đi.
Chúng ta mông lung nhớ lại những việc đã làm, những việc đã qua mà không thấy rõ ý căn, pháp trần, ý thức, ý xúc, thọ do ý xúc sanh, đó một bóng đêm bao phủ trong tâm, thấy mình có một cái tự ngã, tôi, của tôi đó là si mê, không thấy pháp. Yêu thương dính mắc là tham, là ái, là dục, dù ngồi một mình không có sự tiếp xúc vẫn sinh khởi liên tục nỗi nhớ về đối tượng mình yêu thương, thích, mong muốn, lưu luyến.
---
Trên đây cũng là lý do tại sao một mình nhập thất, ngồi thiền không được là vì thọ tưởng hành này sinh khởi liên lục và quậy phá ở trong tâm. Ở đây vị nào từng nhập thất, mời chia sẻ.
Sư cô: Kính bạch trên thầy giáo thọ và toàn thể đại chúng, khi con nhập thất được bảy ngày, lúc đó con chưa rõ ngũ uẩn, nhưng con thấy suy nghĩ khởi lên rất nhiều ở trong tâm, những hình bóng trong quá khứ cứ hiện về.
Lợi ích khi nhận diện được ngũ uẩn là chúng ta sẽ biết được trong suy nghĩ khởi lên đó có tham hay sân hay si, có ái ở bên trong. Còn nếu chưa học ngũ uẩn thì chúng ta toàn toàn không biết, nhìn tâm chỉ thấy một sự chung chung không rõ ràng, một cục một khối, một đống xà bần giống như nồi canh tập tàn, một nồi chè thập cẩm; không biết cái nào là thọ, là hành, là thức; càng không biết thế nào là duyên sanh pháp, càng không biết được dục, tham, ái, tâm lậu hoặc.
Cho nên chỉ thấy tâm một cách lơ mơ, tờ mờ, có một lớp mây mù không có cái nào rõ cái nào. Còn khi nhận diện được ngũ uẩn thì sẽ thấy rõ cái nào ra cái nấy, thọ, tưởng, hành, thức, dục, tham, ái, bản ngã, sân hận, yêu, thương… Còn không nhận diện được ngũ uẩn, suy nghĩ hiện lên ở quá khứ hiện tại vị lai mình không biết gì hết thì làm sao đối trị? Có vị sẽ nương vào câu niệm Phật hoặc cố gắng không suy nghĩ nữa nhưng vẫn không nhiếp phục được? Lúc đó ta sẽ tu như thế nào để nhiếp phục?
Sư cô: Con có được học trong cảm giác khó chịu có sân, trong cảm giác dễ chịu có tham, trong cảm giác không khó chịu, không dễ chịu có si. Khi suy nghĩ về những thứ ưa thích, con biết mình có khởi tâm tham, con nhận diện tâm tham rồi quay về lại với hơi thở để nhiếp phục tâm. Khi thực hành cảm giác toàn thân, những lúc con khởi lên sự khó chịu thì con cảm nhân được luồng nóng trong người, con cũng nhận diện cảm giác đó rồi quay về lại hơi thở. Cho nên, sau khi học nhận diện ngũ uẩn thì con thấy rõ được thọ, tưởng, hành hơn.
Sư thầy: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch trên thượng tọa giảng sư và đại chúng, con được học Bộ Thanh Tịnh Đạo Luận, về thực tập hơi thở, và con có thực tập hàng ngày. Khi đi vào môi trường độc cư con chỉ thực tập hơi thở và pháp hành của pháp môn. Khi cơ thể đau, khó chịu con trở về với hơi thở để làm cho an tịnh lắng dịu trở lại, không để cho những sự tưởng tượng lôi kéo mình đi, khi quay về với hơi thở con thấy dễ chịu thân tâm được mát mẻ và ham thích sự tu tập hơn.
Khi tu tập Thánh trí ngũ uẩn, chúng ta sẽ thấy rõ ràng các pháp, cái nào ra cái đó, cái chuông là cái chuông, cái bàn là cái bàn, bình bông là bình bông, viên phấn là viên phấn…không có chung chung, lẫn lộn. Khi chưa nhận diện ngũ uẩn mình sẽ không biết rõ được tâm cho nên mình tu một cách chung chung pháp không hiện rõ.
Như vậy, bất cứ khi nào không thấy được ngũ uẩn là lúc đó chúng ta sống với một cái tự ngã. Khi không thấy ngũ uẩn thì thsẽ có cái tôi. Còn thấy được ngũ uẩn sẽ thấy có năm nhóm riêng lẻ, không còn một khối. Ví dụ hình ảnh bàn tay xòe ra năm ngón là ngũ uẩn, còn nắm chặt lại như một nắm đấm là tự ngã. Lúc nào mình không thấy sắc thọ tưởng hành thức là lúc đó có cái tôi cứng chắc luôn ở trong hơn thua, cao thấp, so sánh, phân biệt, ganh tị, đố kỵ. Nếu không thấy ngũ uẩn, khi huynh đệ được mọi người quý mến nếu không khéo tu tập tâm mình sẽ không hoan hỷ, không tùy hỷ, mà thấy khó chịu, tức là có cái tôi hơn thua ở trong cái tự ngã, cho dù nói rằng tôi ngu, tôi dỡ, tôi nghiệp nặng nên tôi không bằng người ta…đây vẫn là bản ngã của sự lười nhác, làm biếng, không phấn đấu nỗ lực tu hành hay mượn cớ. Tu gieo duyên, không mong cầu gì cao siêu, những lời nói như vậy nghe rất quen tưởng là hay nhưng là đang chấp ngã. Cho nên không thấy sắc thọ tưởng hành thức là lúc đó mình sống với một cái tôi, một cái tâm vô minh, si mê chấp thủ, bản ngã.
Chúng ta không học ngũ uẩn, không nhận diện ngũ uẩn, không học duyên sanh pháp, không nhận diện duyên sanh pháp thì sống với phàm tình, với tâm mê, vô minh, chấp thủ mà thôi. Đi học mà không học bài thì lấy cái gì mà quán. Thánh trí ngũ uẩn, Duyên sanh pháp là định lý mà Đức Phật đã chứng ngộ, đã truyền trao bây giờ chúng ta chỉ y như vậy và làm đúng như vậy thì sẽ ra kết quả như vậy. Cho nên cơ bản, tối thiểu nhất là phải học thuộc lòng Định nghĩa ngũ uẩn và Duyên sanh pháp.
Hàng ngày tâm của chúng ta vận hành trong pháp duyên sanh như vậy nhưng chúng ta không thấy không biết các pháp căn, trần, thức, xúc, thọ, tưởng, tư nên trong sự vận hành đó, tâm vận hành trong vô minh, không được thấy, không được biết, trong đó là một ảo tưởng về tự ngã, nên sự chấp thủ, vô minh, tham ái, càng ngày càng tăng trưởng, lớn mạnh không đi ra được. Sinh khởi hình ảnh đối tượng của thương, càng nghĩ càng thương, đối tượng của ghét, càng nghĩ càng ghét, không thương, không ghét thì cứ đều đều ở trong khối vô minh cứng chắc, chấp ngã và như vậy thì tu cho đến khi nào thành tựu.
Thành tựu giác ngộ là cả một công trình tu học quán chiếu đánh phá vô minh tham ái và chấp thủ trong nhận thức, tư tưởng, suy nghĩ, cảm giác, là cả một công trình tu tập kiên trì, kham nhẫn thiền định quán chiếu, thiền chỉ, thiền quán, thiền định, thiền tuệ. Đức Phật gọi là tịnh chỉ và tuệ quán thâm sâu. Mà định, chỉ, tuệ, quán này phải đặt trên nền tảng của Thánh trí tuệ Đức Phật cho nên phải là bậc đa văn Thánh đệ tử, nếu không nghe gì về tạng kinh Nikāya thì biết gì mà quán, chỉ có tưởng tượng, suy nghĩ trong vô minh, ngay cả khi Đức Phật giác ngộ mình cũng không biết Đức Phật giác ngộ như thế nào? Mình muốn biết nhưng lại không chịu học trong những tạng kinh gốc về Đức Phật lại đi suy tưởng, thì làm sao biết đúng. Trong tạng kinh Nikāya, Đức Phật trình bày rõ ràng, chi tiết cụ thể đêm đó Ngài chứng ngộ cái gì? trạng thái tâm Ngài lúc đó như thế nào? đều được giải thích rõ.
---
Hàng ngày chúng ta nhìn thấy năm uẩn được mấy lần, cái tôi chiếm bao nhiêu phần trăm? Trừ những lúc ngủ, còn lại 15, 16 tiếng đồng hồ, mình nhìn thấy được ngũ uẩn bao lâu; mình không thấy cái tôi, không thấy cái của tôi được mấy tiếng? Một ngày được bao nhiêu thời gian mình nhớ tới ngũ uẩn?
Sư cô: Con thường nhìn về ngũ uẩn khi ngồi thiền, trong cuộc sống hàng ngày khi tiếp xúc cũng có nhìn lại ngũ uẩn. Trong khi ngồi thiền con có cảm thọ bức xúc, khó chịu vì chân bị đau và tê cứng, cảm thọ thân khi trời nóng bức bị đổ mồ hôi, gây ngứa ngáy khó chịu, hành uẩn tâm phóng ra bên ngoài nghĩ ngợi liên tục, con cũng bị ngủ gục, con mở mắt và tác ý hít vào tâm an tịnh, thở ra tâm lắng dịu, cũng có những tưởng uẩn khởi lên nhớ về những chuyện đã xảy ra, thức rõ biết thọ tưởng hành.
Thực tập an tịnh và lắng dịu
Câu hỏi: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch trên thầy giáo tho, chúng con thường được dạy tác ý hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, từ tâm thanh thản, an lạc và thầy cũng dạy chúng con tâm an tịnh lắng dịu, những tâm này thuộc thọ vui, vậy đây có phải là pháp thiền quán về cảm thọ không ạ?
Nhận diện cảm thọ chỉ là bước ban đầu, chúng ta về nghe loạt bài quán chiếu thâm sâu về cảm thọ, bước ban đầu là tác ý tâm an tịnh lắng dịu dễ chịu. Linh Quy vừa kết thúc khóa tu xuất gia gieo duyên và chính thức cho gần 100 vị, khi ngồi thiền nghe Pháp hay lúc thọ thực, không có một tiếng động, Minh Thành rất chú trọng sự an tịnh lắng dịu và dễ chịu, những từ tác ý này phải thường thực tập, thực hành, không phải chỉ là lý thuyết. Đây là gia phong, nề nếp của đạo tràng Nikāya, Minh Thành vào lớp nào ồn nào là Minh Thành không hoan hỷ, không muốn chia sẻ thâm sâu vì các vị không để tâm thì có nói nhiều cũng vô ích, đây là Minh Thành học theo Đức Phật. Trong chúng hội của Đức Phật khi Ngài giảng Pháp cho cả ngàn vị Tỳ-kheo, vị Tỷ-kheo ngồi bên ho lên liền được bạn đạo nhắc nhở “Bậc Chánh đẳng chánh giác đang thuyết Pháp, thầy hãy giữ yên lặng, chớ có làm ồn” .
An tịnh lắng dịu là bước đầu tiên sơ khởi cho pháp thô nhất, cảm thọ trong chúng ta là luôn luôn dao động liên tục, ngồi thiền có 30 phút thôi mà khó chịu lắm ngứa chỗ này, mỏi chỗ kia, đau nhức chỗ nọ, rồi còn dòm ngó người này người nọ, đó là đang lúc ngồi thiền mà còn như vậy, huống chi lúc không ngồi thiền. Chúng sanh đều ở trong trạng thái dao động, nếu theo chiều hướng bất thiện pháp thì đi vào địa ngục ngạ quỷ súc sanh. Hàng ngày trên báo chí đầy rẫy những tin tức về những sự giao động bất thiện, rất khủng khiếp. Có có một người thanh niên bị chết oan khi đi đón bạn, thì bị một toán thanh niên khác chém chết, điều tra ra thì người này bị giết nhầm hay một nhóm thanh niên khác gây bạo động trong siêu thị, làm náo động và gây kinh hoàng sợ hãi cho nhiều người.
Chúng sanh luôn luôn trong thân tâm dao động, động loạn cuồng loạn, đi theo chiều ác, bất thiện pháp nên đi vào ba đường ác. Nhưng một thân tâm dao động đi theo chiều thiện pháp thì đi vào trong loài người và loài trời. Các bậc Thánh là tâm bất động giải thoát, gặp các duyên xúc, tâm các Ngài đều bất động, nên các Ngài không đi trong luân hồi nữa. Không có bất cứ một ai từ Thiên giới, Phạm thiên giới, Ma giới, Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người, không có bất cứ một ai có thể làm cho Như Lai và các bậc A-la-hán dao động “ Như Lai là bậc an tịnh, thuyết pháp đưa chúng sanh đến cảnh giới an tịnh” đây là điều rất quan trọng cần phải để ý. Minh Thành dù rất tha thiết trong giáo dục nhưng lớp tăng ni nào ồn ào, dao động không an tịnh, Minh Thành không muốn giảng, người tu mà lăng xăng ồn ào là không được chấp nhận.
Thời Đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài đã đuổi những vị tân Tỳ-kheo gồm 500 vị đệ tử của Ngài Mục Kiền Liên và Xá-lợi-phất mới xin theo xuất gia, do các vị chia tọa cụ, y bát mà ồn ào, náo động (trích Trung Bộ Kinh II, kinh Càtumà). Không chỉ chư Tỳ-kheo mà 500 vị đại gia đến cúng dường đứng trước cửa tịnh xá làm ồn ào, náo nhiệt Ngài cũng đuổi đi.
Qua đó, ta thấy rằng, sự an tịnh lắng dịu là tuyệt đối quan trọng đối với người xuất gia, Minh Thành rất hoan hỷ với những khóa tu ở trên núi gần một 100 vị đang tu tập nhưng khách đến thăm tưởng không có ai. Chúng ta thường thấy hình ảnh an tịnh, lắng dịu này ở trong kinh. Một lần, vua A-xà-thế đến thăm Đức Phật với 1250 vị Thánh tăng ngồi trong im lặng, vua đến Tịnh xá thấy không gian lặng như tờ không bóng người, tưởng rằng mình bị mai phục, khi ông vào chánh điện sửng sốt khi thấy Đức Thế Tôn ngồi trên cao như núi chúa bất động, xung quanh là 1250 vị Thánh Tăng đang thiền định, có thể nghe được tiếng thở của nhau, vua A-xà-thế sụp xuống quỳ lạy.
Đạo tràng Nikāya Linh Quy đang học để làm theo điều này và chúng ta hãy tập theo điều này, bất cứ có chuyện gì cũng đừng có lăng xăng ồn ào hớt ha hớt hải, trời có sập xuống cũng bình tĩnh yên lặng, hàng ngày niệm tử để nhớ mình sẽ chết. Đức Phật có dạy bữa ăn cũng có thể làm cho mình chết, ngọn gió cũng có thể làm cho mình chết, con rắn cũng có thể làm cho minh chết, vấp té cũng có thể làm cho mình chết…chết còn không sợ thì có gì phải sợ. Phải tập trầm tĩnh an tịnh, lắng dịu, nếu nghiệp quả đến phải chấp nhận, không ai hại mình, chỉ có nghiệp của mình hại mình. Nghiệp ở đây chính là thân hành, khẩu hành, ý hành của mình.
An tịnh lắng dịu là bước đầu sơ khởi tu tập tiền phương tiện của thiền định, muốn thực tập thiền thì trước hết phải thực tập an tịnh lắng dịu trong bốn oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm phải thanh thoát nhẹ nhàng ung dung thanh thản thư thới. Người tu đâu có bị lôi kéo, vướng bận bởi cơm áo gạo tiền vợ chồng con cái thì tại sao phải lăng xăng. Cảm thọ an tịnh lắng dịu ung dung thơi thới là chất liệu của người xuất gia, là đặc sản của người khất sĩ, là bản sắc của người tu hành, là linh hồn của bậc Thánh đệ tử, không có những điều này coi như tu uổng công. Cái vỏ ngoài của Phạm hạnh còn không có thì làm sao có được lõi cây. Tu mà la lối um sùm, động loạn lăng xăng nhìn rất kỳ cục, dị hợm, điều này rất quan trọng nên chúng ta phải tu luyện cho được sau đó mới đi vào thiền định được.
Tập trong từng bước đi gọi là thiền hành, tập ngồi cho yên tĩnh gọi là thiền tọa, tập nằm cho trang nghiêm thanh tịnh gọi là ngọa thiền, thiền nằm, tập đứng cho ngay thẳng chánh niệm gọi là trụ thiền. Nói cũng phải trong thiền, trong tâm bình an, tỉnh giác, không phải muốn nói gì nói, nói nhiều không chánh niệm tỉnh giác, nói một hồi thành ra nói tầm bậy tầm bạ, nói lộn ra ngoài đời, để cho người thế gian chê cười người xuất gia, tại sao ông sư thầy, sư cô lên pháp tòa lại nói những điều về thế tục mà có khi người trí thức ngoài đời họ còn không nói. Đức Phật dạy ngài La-hầu-la trong Đại kinh giáo giới La-hầu-la, trước khi trong khi sau khi nói là phải suy xét, lời nói có hại hay lợi nên làm hay không nên làm
Này Rahula nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: "Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả
hai; thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ". Này Rahula, Ông hãy từ bỏ một khẩu nghiệp như vậy.
Nhưng nếu này Rahula, khi phản tỉnh, Ông biết như sau: "Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại
người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc". Khẩu nghiệp như vậy này Rahula, Ông cần phải tiếp tục làm.
(Trung bộ kinh II, 61. Kinh giáo giới La Hầu La ở rừngAmbāla)
Tất cả đều phải đưa vào thiền quán, với quán định tuệ, thêm thành tựu giới thì tăng thượng được Thánh giới uẩn, Thánh định uẩn, Thánh tuệ uẩn, đi đến Thánh giải thoát, cho nên oai nghi của người tu là cần phải tu tập đầu tiên từ chỗ đi đứng, ngồi nằm, thọ thực…phải an tịnh lắng dịu mà an tịnh lắng dịu là nằm trong cảm thọ, cho nên phải thực tập quán chiếu cảm thọ, đây là bước đầu của thiền định, sau đó thiền quán, chiếu phá những lậu hoặc dục ái tham sân si vô minh bản ngã ở bên trong, cần có như lý giác sát và như lý tác ý.
Như lý giác sát – Như lý tác ý
Sau khi có được sự an tịnh lắng dịu của thân tâm rồi mới thực tập như lý giác sát, tiếp tục như lý tác ý.
Như lý giác sát là tỉnh giác quán sát đúng với sự thật thân tâm. Khi nhận diện ngũ uẩn là chúng ta như lý giác sát, nếu không có học về năm uẩn thì chúng ta có giác sát nhưng không có như lý, vì chúng ta không biết đúng sự thật về sắc thọ tưởng hành thức, nên có giác sát thì cũng chỉ ở trong một lớp sương mù, trong đêm tối. Do đó, khi trình bày về tâm chúng ta trình bày một cách chung chung ở ngoài cổng nhìn vô mà nên không thấy tâm mình một cách trung thực, xác thực, chân sát, chân chính, chân thật. Tức là tỉnh giác quán sát năm thủ uẩn
Đi lê đôi dép gây ra tiếng động trong mỗi bước chân, nếu chúng ta có sự tỉnh giác quán sát thân hành thì sẽ tự động đi nhẹ lại, nhấc cao chân để không tạo tiếng động như vậy nữa. Do không như lý giác sát nên thân hành thô tháo dao động, tâm như hồ nước bị dao động, không tĩnh lặng, khi tâm động, thân loạn như vậy thì có gì sinh khởi trong tâm mình không phát giác, phát hiện ra được. Nếu như lý giác sát mình sẽ thấy được lời mình nói ra như vậy là không được, xúc phạm, chạm tự ái huynh đệ. Đức Phật dạy khi nói, góp ý hay khuyên bảo ai thì trước khi nói cần phải an trú nội tâm năm pháp: “Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói từ tốn, nói lời có lợi ích, nói với từ tâm”. Đặc biệt là phải trú trong tâm từ để nói, nếu không mình nói có tâm sân ở bên trong mà mình không biết, tâm sân này không thể hiện thô ở bên ngoài mà tế ở bên trong, một sự sân, khó chịu nhẹ nên người nghe không chấp nhận được. Còn khi nói bằng tâm từ dù cho người nghe không chấp nhận thì ít nhất họ cũng không có giận. Nếu không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc, ta nghĩ mình không có lỗi gì, mình nói một cách rất bình thường nhưng nếu tu tập sâu sắc mình sẽ thấy trong lời nói của mình có một sự khó chịu nhẹ hoặc có bản ngã tế không thô, nên người nghe sẽ bực bội. Trong trường hợp mình gặp oan gia trái chủ, mình chưa nói gì họ đã ghét mình rồi, cho nên phải hết sức cẩn thận, họ gặp mình để “chờ thời để ra tay”, tức là mình thiếu nợ họ lâu đời kiếp nào rồi họ canh me mình và chờ đúng thời là ra tay. Nếu mình tu tập tâm từ, có tâm từ là mình có chiếc áo giáp bằng đồng, che kín từ đầu đến chân bảo vệ mình không mọi trường hợp nguy hiểm khẩn cấp.
./.