TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 23 -7 TRÍ VỀ TƯỞNG
Tinh Hoa Nikāya
TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 23
7 TRÍ VỀ TƯỞNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bảy Trí Tuệ Về Tưởng PAGEREF _Toc130031383 \h 1
1. Định Nghĩa Về Tưởng1
2. Tưởng Sanh, Tưởng Diệt, Tưởng Diệt Đạo1
3. Vị Ngọt, Sự Nguy Hại, Sự Xuất Ly khỏi Tưởng7
II.Như Lý Tác Ý 14
Bảy Trí Tuệ Về Tưởng
Chúng ta sẽ tìm hiểu Bảy Trí Tuệ Về Tưởng. Đầu tiên chúng ta tìm hiểu về Sáu Tưởng, sau đó sẽ tìm hiểu Bảy Trí Về Tưởng.
Định nghĩa về Tưởng:
Tưởng là những hình bóng, những bóng dáng ẩn ẩn hiện hiện trong tâm, chập chờn trong tâm. Đó chính là bóng dáng của sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
- Hình bóng là Tưởng.
- Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.
2. Tưởng Sanh, Tưởng Diệt, Tưởng Diệt Đạo
Hình bóng của Tưởng có 6 loại, 6 dạng, 6 phương diện gọi là 6 tưởng; sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.
- Sắc Tưởng: Bóng dáng người, cảnh, vật, tứ đại hiện khởi trong tâm.
- Thanh Tưởng: Lời nói, âm thanh, tiếng động, tiếng ồn hiện khởi trong tâm.
- Hương Tưởng: Bóng dáng của mùi hương, mùi thơm, mùi hôi hiện khởi trong tâm.
- Vị Tưởng: Bóng dáng của vị ngọt, chua, cay, đắng, chát hiện khởi trong tâm. Tức là mình hồi tưởng lại cái vị lúc mà mình nếm, mình đã từng tiếp xúc, từng ăn, uống. (Ví dụ như mình từng ăn món bánh xèo, khi ăn xong về nhà mình hồi tưởng lại vị của món bánh xèo đó là Vị tưởng, Vị tư).
Giả sử chúng ta ăn tô phở sau đó về nhà nhớ lại hình ảnh tô phở, khi chúng ta nhớ về hình ảnh tô phở đó là sắc tưởng, mùi của tô phở là hương tưởng, vị của tô phở là vị tưởng. Như mình nhớ lại về một con người hình bóng, gương mặt của người đó là sắc tưởng. Âm thanh, giọng nói của người đó là thanh tưởng. Người đó có mùi đặc biệt, mùi đặc biệt ở đây có nhiều nghĩa; một là nó hôi, hai là nó có xức dầu thơm, mình hồi tưởng lại là hương tưởng. Có lúc mình bắt tay tiếp xúc với ai đó mình hồi tưởng lại cái bắt tay đó gọi là xúc tưởng. Bóng dáng, sự xúc chạm giữa thân của mình và của người, vật, tứ đại bên ngoài hiện khởi trong tâm gọi là xúc tưởng. Bóng dáng của thọ, tưởng, hành hiện khởi trong tâm đó gọi là pháp tưởng. Suốt một thời gian dài Minh Thành đọc kinh, học kinh về 6 tưởng mà không hiểu được, mình phải gặp được Thiện tri thức, bậc thành tựu Pháp hướng dẫn thì mình mới biết rõ được, mình biết rõ những điều này là mình thành tựu một loại trí tuệ. Khi mình nhìn vào trong tâm thấy cái nào nó ra cái đó, nếu mình không nhìn rõ được thì sẽ nói chung chung là vọng tưởng. Nếu mình không học 6 tưởng này thì mình nghĩ đó là vọng tưởng, đó là mình nói chung chung và sẽ lẫn lộn giữa hành và tưởng, thọ mình cũng lẫn lộn, thức mình cũng không biết. Ngày xưa tu thiền hàng chục năm, 15 năm mà không biết rõ những điều này. Chúng ta sẽ cho ví dụ và hiểu về 6 tưởng này sau đó mới đi sâu vào trí tuệ.
Chúng ta đã học về Pháp Tưởng và đào sâu thêm Pháp Tưởng; là bóng dáng của Thọ, Tưởng, Hành hiện rõ trong tâm:
- Sư Phụ hỏi: Pháp Tưởng là gì? Hình bóng Thọ, Tưởng, Hành khởi lên trong tâm? Cho ví dụ?
- Tăng Sinh trả lời: Dạ kính thưa Thầy Giáo Thọ! Khi con chạy xe quá tốc độ trực giác như có Công An Dao Thông đang đứng đợi mình, con có cảm giác không dễ chịu, có hình bóng của anh cảnh sát dao thông và có suy nghĩ nếu mình chạy quá tốc độ sẽ bị phạt. Rõ biết Thọ, Tưởng, Hành là Thức.
- Ni Sinh trả lời: Dạ kính thưa Thầy Giáo Thọ! Khi vào mùa An Cư Kiết Hạ con cũng tưởng lại, nhớ lại thời gian trước khi vào hạ mình học và nhớ lại lời Thầy Giáo Thọ dạy, hồi tưởng lại những môn học của mình, hồi tưởng lại những hình bóng những hình ảnh trong lớp học là Sắc Tưởng, cảm giác dễ chịu khi hồi tưởng lại những buổi học trong lớp là Thọ, những suy nghĩ về buổi học là hành, sự rõ biết hình bóng trong lớp học, suy nghĩ trong lớp học, cảm giác dễ chịu trong lớp học, sự rõ biết Thọ, Tưởng, Hành là Thức. Tất cả những điều trên là Pháp Tưởng.
Chúng ta phải nắm thật vững về Thọ, Tưởng, Hành, Thức thì mình mới nhận diện được tâm của mình. Nếu mình không nắm vững lý thuyết, không thuộc lòng định nghĩa Thánh Trí Tuệ của Đức Phật, định lý chứng ngộ của Đức Phật, nếu không nắm vững, không thuộc khi mình nhận diện sẽ nhận diện lẫn lộn, các pháp bị lẫn lộn thì mình không Trạch pháp giác chi, không thành tựu được, không có cái nhìn rạch ròi; cái chuông là cái chuông, cái ly là cái ly, cái bàn là cái bàn, cái phòng là cái phòng, cái quạt là cái quạt không thể nói lẫn lộn được, không thể nói cái chuông thành cái quạt đó là ở bên ngoài. Trong tâm mình cũng vậy, mình phải thấy rõ cái nào là sắc tưởng? Cái nào là Thanh tưởng, Hương tưởng, Vị tưởng, Xúc tưởng, Pháp tưởng? Khi mình thấy rõ được như vậy thì mình sẽ thành tựu trí tuệ về Tưởng uẩn.
Giờ này mình ngồi đây hồi tưởng lại những khóa cộng tu trong mùa An Cư Kiết Hạ thì sự hồi tưởng lại hình bóng của mình và đại chúng cùng ngồi thiền hay tụng kinh, nghe pháp đó là Sắc tưởng. Mình nhớ lại âm thanh khi tụng kinh hoặc là hô thiền hồi tưởng lại âm thanh tụng kinh, hô thiền trong mùa hạ đó là Thanh tưởng. Mình nhớ lại lúc tụng kinh có đốt trầm mùi hương bay lên đó được gọi là Hương tưởng. Những buổi ăn cơm trong mùa An Cư Kiết Hạ hoặc trong buổi lễ Vu Lan, buổi lễ dâng y, bây giờ mình hồi tưởng lại những vị đồ ăn đó gọi là Vị tưởng. Sự tiếp xúc của mình ở trong buổi lễ có người đặt bông hoa màu vàng cài lên áo cho quý Thầy, quý Cô, mình nhớ lại lúc họ cài hoa lên áo lúc đó thì gọi là Xúc tưởng. Rồi mình ngồi nhớ lại những cảm giác, những suy nghĩ, những hình bóng mình biết rõ trong tâm mình có những hình bóng, suy nghĩ , cảm xúc đó gọi là Pháp tưởng.
Trong Lễ Vu Lan người ta đọc những lời về cha mẹ trong tâm mình lúc đó là hình bóng mẹ cha hiện lên đó là Sắc tưởng. Lúc đó mình có biết là Sắc tưởng không? Hay mình nhập cuộc vào là tôi, là của mình, là tự ngã của tôi? Khi mình thành tựu về trí tuệ thì mình sẽ biết đây là Sắc tưởng đang có ở trong tâm, không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Lúc đó mình sẽ nhớ lại những âm thanh, những lời nói của cha mẹ ngọt ngào, trìu mến, hiền hòa, ấm áp với mình đó là Thanh tưởng. Nhớ lại những món ăn mà mẹ mình đã tận tụy thâu đêm nấu cho mình ăn những muỗng cháo, những chén cơm, những lần sờ trán, nắm tay dẫn dắt mình đi trong đó có Sắc Tưởng, Hương tưởng, Vị tưởng. Tất cả những cảm giác đó, những hình ảnh đó, những suy nghĩ đó là Pháp tưởng. Đó là chúng ta đã đi qua 6 Tưởng, vừa lý thuyết, vừa giải thích, vừa làm bài tập trong thực tế đời sống, thiết thực hiện tại, rõ ràng, cụ thể không có gì là mơ hồ.
- Sư Phụ hỏi: Tại sao mình có Tưởng? Tại sao trong tâm mình có hình bóng?
- Tăng Sinh trả lời: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phât!
Kính bạch Thầy! Trong tâm chúng ta có tưởng là do Xúc tập khởi nên Tưởng Tập khởi.
Ví dụ chúng ta chưa từng đi Đà Lạt, chưa từng thấy Đà Lạt, chưa từng xem trên mạng những cảnh sắc ở Đà Lạt mình có thể tưởng Đà Lạt ra sao không?
- Không tưởng tượng được. Phải không?
+ Tưởng Sanh: Do mình tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp qua âm thanh người ta kể, qua hình ảnh, qua những thước phim người ta quay hay chính mình đi tới chỗ đó khi mình trở về và hồi tưởng lại được là do mình đã từng tiếp xúc trực tiếp hoặc là gián tiếp cho nên: Xúc tập khởi là Tưởng Tập khởi. Do tiếp xúc nên mới có hình bóng trong tâm. Như có một người mình chưa từng nghe, chưa từng thấy, chưa từng biết, chưa từng gặp, mình có thể tưởng ra người đó được không? Cho nên do tiếp xúc mới có hình bóng ở trong tâm. Đây là những Thánh trí tuệ của Đức Phật chứng ngộ không phải đơn giản, không phải mình học sơ sơ và bỏ qua là mình sẽ mất lợi ích rất lớn cho hiện tại và cho dài lâu trong tương lai. Mình thấy được nhân duyên sanh diệt của Tưởng mình mới có thể tách mình ra khỏi tưởng, còn vô văn phàm phu không biết, họ không biết tách cái tưởng ra, họ cứ nghĩ tưởng này là họ, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, vì họ không biết tại sao nó sanh khởi, làm sao cho nó đoạn diệt, nó vận hành như thế nào? Nên người ta không thể thoát ra khỏi cái tưởng được. Cho nên tại sao mình ngồi thiền mình vọng tưởng hoài, mình không thể nào làm cho vọng tưởng lắng dịu, bởi vì mình không biết tưởng nó sanh khởi ra sao? Nó an trú làm sao? Nó vận hành làm sao? Nó quậy phá mình làm sao? Vị ngọt của nó như thế nào? Sự nguy hiểm và tác hại của nó như thế nào? Làm thế nào để thoát ra khỏi nó? Mình không biết gì về điều đó thì làm sao có thể nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch và xuất ly thoát ra khỏi Tưởng.
Chúng ta thấy không? Khi mình ngồi thiền mong cho nó được yên, hết hình bóng này tới hình bóng khác, rồi những hình ảnh đó ám ảnh trong tâm của mình, có những hình bóng của đồ vật, những con người, những sự việc nó cứ ám ảnh trong tâm mình không thoát ra được, mình muốn thoát ra nhưng không thoát ra được, vì mình không biết nhân duyên sanh diệt, sự vận hành, vị ngọt, sự nguy hiểm, tại sao nó có mặt? Làm sao cho nó chấm dứt? Mình không biết gì hết. Mình chấp thủ, mình nắm chặt cho nó là mình, mình là nó, nó ở trong mình, mình ở trong nó, đó gọi là Tưởng thủ uẩn. Tâm nắm giữ những hình bóng mãi mãi không thoát ra được. Những hình bóng đó, những ám ảnh đó nó làm cho mình đau buồn, khổ sở, tiếc thương, oán hận, hoặc là thù hằn, là những hình bóng trong tâm. Thương, ghét, yêu, hận, buồn, vui, sầu, bi, khổ, ưu, não là những hình bóng ở trong tâm. Như mình lỡ làm một điều gì đó, cho một người nào đó người ta đau khổ, mỗi lần mình nhớ về những hình bóng đó tâm mình sẽ trạo hối, hối hận, day dứt, khó chịu. Hay mình làm một điều gì đó tội lỗi, tự nhiên mình thấy ân hận, ngoài đời gọi là tòa án lương tâm, nó phán xét, làm cho tâm mình bất an, làm cho tâm mình hối tiếc, hối hận, hối lỗi, đó là trạo hối (chữ hối là hối hận, chữ trạo là day dứt). Chính tâm hối hận, day dứt đó làm mình không đi vào thiền định được. Chính vì vậy, trạo hối là một trong năm thứ trói cột tâm, che mờ tâm, làm cho tâm yếu ớt không có trí tuệ: “Tác thành mù mắt, tác thành vô trí” chính là tâm trạo hối, day dứt, hối hận. Mình làm một việc gì đó thiện lành, việc tốt giúp cho người ta khi mình nhớ lại hình ảnh đó mình sẽ vui, hoan hỉ:
Nay vui, đời sau vui,
Làm phước, hai đời vui,
Nó vui, nó an vui,
Thấy nghiệp tịnh mình làm.
Nay sướng, đời sau sướng,
Làm phước, hai đời sướng.
Nó sướng: “Ta làm thiện”,
Sanh cõi lành, sướng hơn.
Nay than, đời sau than,
Kẻ ác, hai đời than,
Nó than: “Ta làm ác”
Ðọa cõi dữ, than hơn.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Song Yếu)
Qua đoạn kinh Pháp cú về kẻ làm ác nhưng không biết đó là nghiệp ác mình đã làm mà lại quay qua than trách với cái nghiệp ác mình đã làm đó là Tưởng của chúng ta. Chính vì vậy, mà tại sao chúng ta phải hành thiện, phải nói thiện, nghĩ thiện, tại vì mình nghĩ điều gì cũng thiện, nói điều nào cũng thiện, hiền hòa, làm điều gì cũng thiện lành thì mình sẽ thấy vui, cho nên người nào làm thiện lúc nào cũng hoan hỉ, tâm họ nhẹ nhàng, ngọt ngào từ ái, sắc mặt rạng rỡ, tâm hồn thảnh thơi, lòng họ nhẹ nhõm không day dứt, không hối hận. Người làm ác lúc nào họ cũng hối tiếc, hối hận, trạo hối vì những cái thọ, tưởng, hành trong tâm ám ảnh. Chẳng hạn mình ngồi nhớ lại hồi tháng 7 phát quà cho người nghèo, mình thấy thật dễ chịu, thật là ngọt ngào, thật là an vui, ngồi một mình có thể mỉm cười nhẹ, lòng thấy hoan hỉ. Hoặc ngồi nhớ lại rằm tháng 7 trong lúc phát quà tự nhiên có người làm cho mình nổi nóng, nổi sân lên với một người nhận quà, la mắng người ta mình nổi sân lên rồi người đó họ rưng rưng nước mắt, họ tủi thân, tủi phận, khi ngồi nhớ lại câu chuyện đó thì tâm mình thấy day dứt, hối tiếc, hối hận, trạo hối; tại sao lúc đó mình lại có những lời nói, hành động không đẹp như vậy. Chúng ta tu là tu ngay trong ý nghĩ phải thiện, phải lành, lúc đó tưởng của mình mới an lạc. Nếu lời nói, hành động, việc làm của mình bất thiện, ác thì lúc mình ngồi thiền sẽ không yên, cho nên chúng ta học các trí tuệ của Phật rất quan trọng, vì chúng ta không học thì sẽ không biết gì để mà tu, khi nó sanh khởi sẽ xâm chiếm, áp đảo, lật đổ, ám ảnh mình thì làm sao tu được, mình muốn thoát ra nhưng không biết đường để thoát ra. Cho nên Tưởng sanh khởi là do Xúc tập khởi nên Tưởng tập khởi. Đây là Thánh trí tuệ, định lý chứng ngộ của Đức Phật mình không học Thánh trí thì học cái gì? Học mấy bài thơ của thi sĩ, nhạc của ca sĩ, nhạc sĩ gì đó mà không chịu học lời dạy của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
+ Tưởng diệt là do Xúc đoạn diệt nên Tưởng đoạn diệt.
+ Tưởng diệt Đạo là con đường đưa đến Tưởng đoạn diệt, đạo lộ, phương pháp, cách thức làm sao cho những hình bóng trong tâm của mình hoàn toàn vắng lặng đó là phương pháp tu tập Tám đúng là đưa đến Tưởng đoạn diệt. Phải thấy đúng về Tưởng, mình muốn thấy đúng về Tưởng thì phải có trí tuệ hiểu biết về Tưởng thì mới thấy đúng được. Nghĩ đúng về Tưởng, nói đúng về Tưởng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng về Tưởng thì mình mới có thể làm cho các Tưởng chấm dứt.
3. Vị Ngọt, Sự Nguy Hại, Sự Xuất Ly khỏi Tưởng
Đầu tiên, chúng ta phải thấy đúng về Tưởng, mà muốn thấy đúng về Tưởng. Tự mình không thể thấy đúng về Tưởng mà mình phải nương theo thấy đúng của Đức Phật, sự thấy đúng của Đức Phật chính là 7 trí về Tưởng, nếu mình không nghe, không học, không thuộc, không dựa vào đó để nhận diện các Tưởng, quán sát, quán chiếu các Tưởng trong tâm thì mình không bao giờ thoát ra khỏi các Tưởng. Cho nên chúng ta phải học, phải biết vị ngọt của Tưởng, sự nguy hại của Tưởng, sự xuất ly khỏi Tưởng.
+ Vị ngọt của Tưởng: Do duyên Tưởng khởi lên lạc hỷ gì lạc hỷ này là vị ngọt của Tưởng.
Chính vì vậy, khi mình ngồi tự nhiên hồi tưởng lại những hình bóng mà những hình bóng đó rất dễ chịu, rất khoái, rất thích thú, mình muốn, hoan hỉ, dính mắc, tham đắm ở trong đó, đó là vị ngọt của Tưởng. Những điều này là mật ngọt chết ruồi, mình sẽ chết trong ảo tưởng, huyễn tưởng, hư tưởng, mộng tưởng, hoang tưởng, điên đảo tưởng, thì mình sẽ không sống được với thực tại, mình sống toàn với những điều đã qua rồi, mình hồi ức, mình hồi tưởng, mình tưởng tượng hoặc mình tưởng quá khứ, hoặc mình tưởng tương lai, như vậy là mình mỉm cười hoặc là mình xụ mặt xuống, mình bực bội, sân si, nhớ lại cái cô kia ngày hôm qua cô ấy đối xử với mình không hay. Tự nhiên đang ngồi nhớ lại hình bóng hiện lên trong tâm làm cho mình khó chịu, bực bội. Mình đừng có tưởng đâu cái tham, dục, ái mình mới thích mà cái sân hận, bực bội, tức tối mà mình không thích, những cái đó mình cũng thích luôn, chỗ này mới là chỗ ngu, chỗ này mới là chỗ vô minh, tức là cảm giác bực bội, tức giận, sân hận mình thích cảm giác đó, nó làm cho mình khổ nhưng mà mình thích, mình không muốn bỏ cảm giác đó, thậm chí mình biết cái sân này là sai. Mình tu mà mình giận, mình bực bội, sân si với huynh đệ như vậy thì đâu có đúng nhưng bên trong tâm nó không chịu xả cái đó, nó biết là sai nhưng nó không chịu bỏ, nó nói không thể bỏ được.
- Sư Phụ hỏi: Có phải là mình không muốn bỏ sự sân hận, bực bội không?
- Các Tăng Ni Sinh trả lời: Dạ có!
Đó là sự chấp thủ của vô minh và tham ái ngay cả những điều làm cho mình đau khổ mà mình vẫn tham ái. Mình vẫn ưa, mình vẫn thích, vẫn khoái những điều làm cho mình đau khổ. Trời đất ơi! Khôn quá, thông minh quá. Đó là vô minh, đó là si mê, đó là dại khờ, đó là điên đảo. Tức là mình giận thì giận ai đó, nói lời xin lỗi cũng không chịu hết giận, không chịu tha thứ. Tức là Thọ thủ uẩn, Tưởng thủ uẩn, Hành thủ uẩn chấp chặt, nắm chặt nó không chịu mở ra. Chúng ta hãy hình dung khi mở bàn tay ra là năm uẩn, khi nắm chặt bàn tay vào là một bản ngã, cái tâm nó cứ nắm chặt gọi là năm thủ uẩn (Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn nó nắm chặt vào gọi là Năm thủ uẩn).
Mình phải biết được vị ngọt của Tưởng nó ghê lắm, bản ngã cũng vậy. Nó tưởng về hình ảnh của nó rồi nó thích, sáng dậy đánh răng, rửa mặt, nhìn vào gương thấy gương mặt hồng hồng, xinh xinh đó là vị ngọt của Sắc, vị ngọt của Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Mình ngồi nhớ lại hồi nãy tạo dáng chụp tấm hình chỗ đó đẹp mình thích, tự mình ngồi cười một mình. Hồi tưởng lại hình bóng về tự ngã mình yêu, mình thích, mình khoan khoái, hoan hỉ, đó là vị ngọt của Tưởng.
+ Sự Nguy Hại của Tưởng: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Tưởng, đó là sự nguy hại của Tưởng.
Khi chúng ta thường nhận diện Sắc là tứ đại, vô thường, biến hoại thì sự chấp thủ trong sắc uẩn nó sẽ mở ra. Mình thường nhận diện các Cảm Thọ, không sống với Thọ thủ uẩn nữa, không sống với một cái tâm nắm giữ vào các cảm giác nữa, mình biết các cảm giác nó là duyên sanh, vô thường, chỉ do tiếp xúc là nó khởi lên. Ví dụ như mình thương một người nào đó, trước khi gặp mình có thương người đó không? Đâu có thương vì không tiếp xúc nên không biết về người đó. Tự nhiên gặp người đó, nếu không gặp thì nhớ thương, mệt mỏi, nếu không cho gặp là chết, đó là Thọ thủ uẩn. Tưởng thủ uẩn, Hành thủ uẩn, Thức thủ uẩn cũng tương tự. Đó là tâm mê, tâm khờ dại, tâm nắm chặt, nắm chắc, nắm giữ, tâm chấp giữ, tâm chấp chặt, tâm ghì chặt, tâm siết chặt, bám chắc, là cái tâm khổ đau. Cho nên trong Thánh trí Ngũ uẩn của Đức Phật chỉ dạy:
Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.
Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.
Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với Ngũ uẩn.
Không chỉ mình yêu thích những cái mình thích, mà mình còn yêu thích những cái nó làm cho mình đau khổ vì cái bản ngã của mình, về cái tôi của mình. Như có ai đó đụng đến mình, đụng đến bản ngã thì cơn sân giận nổi lên: “Dám nói tôi hả? Từ nay trở đi tôi sẽ không nhìn mặt nữa, ở chung chùa cũng không nhìn mặt nữa”. Càng giữ cái giận đó thì trong tâm càng khó chịu, vào ra mà gặp nhau thì nó càng đồ đậm sự giận dữ trong tâm nhiều hơn, thấy người đó là thấy ghét, nhìn thấy tướng đi cũng thấy ghét, nghe giọng nói chuyện thì thấy càng ghét, càng nhìn chừng nào là thấy ghét chừng đó, nó càng tăng trưởng thêm sự ghét và đó là chướng ngại tướng, chướng tai gai mắt, đó là khổ đau mà không chịu bỏ, đây là thức ăn cho sân. Đức Phật nói rất rõ thức ăn cho sân, làm sao để đoạn diệt sân.
Có tấm hình đẹp mình đăng lên facebook có người vào bình luận: “Hình xấu hoắc, cô tạo dáng gì kỳ vậy?” như vậy thôi nhưng cũng sân si lên, bực bội lên. Tối về hay là ngày mai nó ám ảnh hàng chữ mà mình đã đọc bình luận, từ cái hình cho tới âm thanh rồi cảm thọ sanh khởi lên, những Thọ, Tưởng, Hành, những Pháp Tưởng, Pháp Tư nó sanh khởi lên, đó là sự vận hành của các Tưởng, rồi mình bị chết trong đó. Nếu người ta khen: “Dáng đẹp ha!” thì thấy thích, khoái, tối nằm quay qua, quay lại cười một mình, khổ chưa? Ghê ghớm vậy đó. Mình chỉ cần một câu nói, vài chữ là mặt mày của mình đổi sắc, cảm thọ của mình biến động, không có sự tu tập, không có sự an trú cảm giác toàn thân, không có sự nhiếp phục, chế ngự trong năm uẩn, gió thổi chiều nào mình bay theo chiều đó, cho nên Đức Thế Tôn ví dụ có người cầm nắm bông gòn đứng ra ngã bảy gió bão thổi bay tứ tung, Đức Phật ví dụ hình ảnh thứ hai là giống như trụ đá tám chín thước chôn xuống ba bốn thước gió thổi không lay động. Nếu mình không có công phu tu tập, không có lòng tin bất động đối với Tam Bảo thì mình giống như bông gòn gió chiều nào bay chiều đó, bay tứ tung, chỉ cần nghe người ta nói một câu là khuôn mặt mình rạng rỡ, phơi phới, chỉ cần người ta làm một hành động mặt mình xụ xuống như cái bánh bao chiều. Tu tập làm sao để tâm mình như núi đá kiên cố không gió nào lay động, cũng vậy giữa khen chê người trí không dao động, muốn vậy là phải an trú trong cảm giác toàn thân, định tâm trên thân, có một trí tuệ sâu sắc về Ngũ uẩn thì mình mới có thể định tâm trên thân, an trú trên cảm cảm giác toàn thân và có một trí tuệ vững chắc giống như trụ đá kiên cố, vững trú ở trong trí tuệ nếu không chỉ một cơn gió thổi qua là mình bay mất, gió thổi chiều nào bay chiều đó. Chúng ta phải nhận diện ra vị ngọt của Tưởng để mình không bị chấp thủ, dính mắc, chấp chặt. Thậm chí mình ngồi thiền yên lặng như vậy nhưng mình vẫn sống trong vị ngọt, vẫn sống trong bản ngã nếu mình không có trí tuệ nhìn sâu sắc, tôi ngồi thiền mấy người kia không ngồi đó là bản ngã, tôi ngồi yên tịnh mấy người kia ngồi dao động, tôi ngồi trang nghiêm, mấy người ngồi bên không có trang nghiêm, tôi nhìn khó chịu, mình không có tâm thương, thay vì mình lấy cái tâm khó chịu, bực bội, so sánh đó mình đổi lại thành tâm thương, trừ khi chưa có được sự hướng dẫn tu tập, tâm chưa hiền hòa, mình phải thương họ, mình mong muốn họ sẽ được tốt hơn, mình thấy vậy mình thương nhưng không khó chịu, bực bội. Mình phải tập tâm hiền hòa, tâm từ ái, dễ chịu thì cảm giác của mình dễ chịu. Khi mình nhìn thấy một người có lỗi mình không bực bội, sân hận, mình phải tập tâm thương, cảm thông, tại vì mình cũng đã từng, có khi mình cũng có cái lỗi đó, phản chiếu lại có khi mình còn có lỗi nhiều hơn nữa. Chúng ta phải nhìn thấy nhiều trong trí tuệ của Đức Như Lai.
Sự Nguy Hại của Tưởng là chịu sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Tưởng, đó là sự nguy hại của Tưởng. Chính vì nó biến hoại, biến động, nó vô thường đó là sự nguy hiểm và tác hại của Tưởng. Không có hình bóng nào mà còn như vậy hoài, khi mình thấy người đó rất là dễ thương, khả ái, thì hình ảnh đó trong lòng của mình, lần sau mình gặp lại mình tưởng nó giống như vậy nhưng nó không còn như lúc trước nữa mình thấy mình đau lòng, mình đau khổ, mọi thứ đổi thay rồi. Có những người quen biết tưởng đâu một năm sau gặp lại, hay ba tháng sau gặp lại, một tháng sau gặp lại, tưởng đâu còn như vậy nhưng khi gặp lại thì họ đổi khác, những cái tưởng của mình không đúng. Bởi vậy tất cả nó đều biến hoại, biến động, vô thường, nó luôn luôn sanh diệt mà mình cứ tưởng nó cứ như vậy hoài, nên mình đau khổ khi nó biến hoại, biến đổi, khi nó vô thường.
Ví dụ huynh đệ ngồi kế bên nhau cùng học chung, bỗng nhiên một ngày nghe tin ung thư giai đoạn cuối, mình đi tới thăm thì thấy người bạn mình nằm trên giường bệnh còn có 20 kg, chỉ còn bộ da với xương, Sắc biến đổi, Thọ biến đổi, Tưởng, Hành, Thức biến đổi, khi mình trở về nhà cứ bị ám ảnh bởi sự biến đổi đó. Đó là sự nguy hại, sự nguy hiểm và tác hại của các Tưởng. Mình cứ tưởng nó đẹp, nó màu hồng, nó là tốt lắm, nhưng sự thật nó không giống như mình tưởng, khi mình tiếp xúc với họ thì mình bàng hoàng, mình đau khổ, mình tan nát, cho nên mình phải biết được nó là thứ vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Chính vì vậy mình sẽ không nắm giữ, nắm chặt, nắm chắc, nắm bắt, nắm chấp vào trong các Tưởng.
Trong cuộc đời có những sự thật phũ phàng làm cho con người ta đau nhói, có trường hợp người ta gửi con để chữa bệnh, một thời gian sau báo với người nhà đi vào để nhận con thì đưa ra một hũ cốt, làm sao người ta chấp nhận nổi. Khi gửi là một đứa con, một đứa trẻ, một đứa bé, khi nhận lại là một hũ tro cốt, tro tàn. Đó là một hiện thực, một sự thật, một lẽ thật, chân thật, làm sao mà mình có thể chấp nhận sự thật, khi mình không học, không quán chiếu, không sống trong sự thật đó như vậy là mình sẽ bị sốc, có thể bị hụt hẫng, có thể không chấp nhận và thậm chí là điên loạn, không sống nổi đó là sự vô thường. Cho nên mình phải tập nhìn tất cả từ sắc tướng này đến Sắc tưởng, hay là Thanh tưởng, Hương tưởng, Vị tưởng, Xúc tưởng, Pháp tưởng tất cả những cái tưởng này đều là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thấy được tính chất nguy hiểm và tác hại của nó thì tâm mình mới buông xả ra, nếu không thấy được thì nó chấp thủ, nắm giữ, nắm chặt. Cái tưởng nào mình cũng cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, nó mãi là như vậy không đổi khác. Cho nên mình có được trí tuệ này mình sống nhẹ nhàng. Như người thân của mình tự nhiên quay qua oán ghét mình thì mình không bất ngờ vì biết đây là vô thường, các tưởng là biến đổi mình chấp nhận. Người thương của mình tự nhiên giận mình, người mình giúp đỡ tự nhiên bỏ mình, đi nói xấu mình, mình biết như vậy và chấp nhận đó là lẽ đương nhiên, tại vì mình được học, mình đã được quán chiếu, mình đã được chiêm nghiệm hàng ngày, hàng giờ, từng hình bóng trong tâm của mình là mình đã nhìn thấy được nó là như vậy.
+ Sự Xuất ly của Tưởng: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận của dục và tham đối với các Tưởng. Đây là sự xuất ly khỏi Tưởng.
Đây là Thánh trí tuệ của Đức Phật, nhiếp phục lòng ham muốn, yêu thích. Đoạn dứt lòng ham muốn và yêu thích đối với hình bóng ở trong tâm, dù cho hình bóng gì; khả hỷ, khả lạc, khả ái liên quan đến dục hấp dẫn, những hình bóng đáng yêu, đáng vui, đáng mừng, vừa lòng, thích ý, khoan khoái, đương nhiên mình có lòng ham thích nhưng mình phải nhiếp phục sự ham thích đó lại. Tác ý nhắc tâm: “Tâm ơi! Là tâm, đừng có thích những hình bóng này nha tâm, mày thích là mày khổ đau nha tâm.Tâm ơi! Là tâm, hãy rời xa đi tâm, hãy thoát ra đi tâm, hãy từ bỏ đi tâm, đau khổ nha tâm, nước mắt nha tâm! Sầu, bi, ưu, não nha tâm. Từ bỏ đi tâm, mê làm cái gì tâm. Cái đồ bong bóng thôi mà tâm, vài bữa nó vỡ vụn, tan nát là mày khổ lắm mày có biết không? Phù dung sớm nở tối tàn, mày đi kiếm hoa bất tử đi đừng có chơi hoa phù dung. Tâm ơi! Tâm có biết không tâm? Ta thương tâm nhiều lắm, ta thương sự ngu mê của tâm, ta thương sự vô mình của tâm, ta thương sự sân hận của tâm, ta thương sự cống cao ngã mạn của tâm, ta thương sự dại khờ của tâm, ta thương sự đố kỵ, ghen tỵ, hơn thua của tâm, ngươi đã sống vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp rồi mà sao ngươi không trưởng thành trong trí tuệ của Đức Phật vậy tâm, ngươi đừng có ấu trĩ, ngươi đừng có trẻ thơ, đừng có dại khờ, ngươi phải lớn lên, ngươi phải mở con mắt ra, phải sáng con mắt ra, để ngươi nhìn ra cái bản chất tráo trở, lật lọng, phản trắc, vô thường, tan biến, biến đổi, hủy hoại, hoại diệt, tiêu vong và tan nát của những ngũ uẩn sầu, bi, khổ, ưu, não này nha tâm. Ngươi khổ như vậy chưa đủ hay sao tâm? Ngươi khao khát, ngươi thèm khát, ngươi đói khát, ngươi khát ái như vậy chưa đủ hay sao tâm? Mà sao ngươi cứ thèm thuồng, thèm khát, đói khát, khát ái hoài với những hình bóng hư ảo, tạm bợ, vô thường, giả dối, trá ngụy này sao tâm? Mày mê như vậy là đủ rồi nha tâm! Tỉnh đi! Tỉnh đi! Đừng có mê nữa”. Hãy nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với những hình bóng ở bên trong tâm, là sự xuất ly khỏi các Tưởng và thoát ra khỏi các Tưởng, là sự rời xa khỏi các Tưởng, là sự đoạn diệt tất cả các Tưởng để cho tâm mình hoàn toàn được an tịnh, lắng dịu, trầm lặng, bất động.
Như Lý Tác Ý
Sự Như lý Tác Ý rất quan trọng, chúng ta ngồi một mình phải tự tác động tâm ý như vậy, phải dạy tâm mình thường xuyên nhất là những lúc nó mê, nó ngoan cố, nó cứng đầu. Có phải lúc nào mình nói cái tâm nó cũng chịu nghe không? Nó không chịu nghe, thì mình phải gõ cái đầu nó, phải ký vào cái đầu nó, phải chẻ cái đầu nó ra: “Tao chẻ cái đầu ngu của mày ra nghe tâm! Mày vô minh vừa vừa thôi nha”. Mình luôn tác ý, dạy dỗ, giáo dục, huấn luyện, tư duy, thiền quán, tác động tâm ý, như lý tác ý, dần dần sẽ phá được cái tâm mê, cái tâm vô minh, tâm chấp thủ, như là một cái tay nắm nó sẽ mở ra từ từ, nó mở ra để nhìn thấy ngũ uẩn cuối cùng nó chuyển hướng và nó buông xả, thoát ra. Còn một người vô minh, vô văn phàm phu trạng thái của tâm lúc nào cũng nắm chắc, nắm cứng, nắm giữ, chấp thủ, đụng vào là biết mặt, chạm tới là nó sừng sộ, phẫn nộ, sân hận, nó phực lên, nó cháy lên, Đức Phật ví dụ tâm của chúng sanh như là vết thương đụng vào là giật bắn người, la lối om sòm đó là tâm vết thương, tâm ung nhọt, chạm vào giật bắn người lên la hét: “Đừng ai đụng tới tôi, đụng tới tôi là không được, đụng tới tôi là có chuyện”, đó là tâm của chúng sanh, tâm của phàm phu, tâm hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn, hung tợn, hung hãn, tâm không có hiền thiện, tâm đầy gai góc, đầy gươm giáo, đầy những sát khí, vũ khí, tâm đó là đau khổ, tâm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chúng ta phải tu tập tâm hiền lành, hiền thiện, hiền hòa, tâm hiền lương, hiền hậu, hiền lành, hiền đức, hiền từ, hiền nhân, hiền trí, tiếp tục tiến lên tương ưng với tâm của các bậc Hiền Thánh đó là tâm của người tu, mình phải huấn luyện những cảm thọ của mình, hình bóng trong tâm của mình lúc nào mà mình nhớ về mình thì một hình bóng chắp tay cúi đầu, khi nào mà mình nhớ về mình thì lập tức trong người mình hình bóng của mình là một cái đầu trọc, cái tay chắp cúi sâu xuống và sau đó mình tiếp tục quán chiếu, mình nói về mình thì lập tức quỳ mọp cái đầu xuống, cúi cái đầu thật là thấp xuống mà làm học trò, làm con của tất cả chúng sanh. Mình an trú một cái tưởng là quỳ mọp và đặt cái đầu của mình xuống chân của thiên hạ đó là dùng tưởng để phá ngã, dùng tưởng để tu đức khiêm cung, khiêm hạ, diệt cái ngã ngạo mạn, kiêu mạn, ngã mạn, hóa mạn, tăng thượng mạn là phải an trú một cái tưởng cúi đầu, chắp tay, quỳ mọp và đặt cái trán, cái đầu của mình xuống dưới chân của người ta, dùng cái tưởng để mà tu, dùng tưởng mà quán, dùng tưởng mà an trú. Ngài Xá-lợi-phất dạy mình an trú chín pháp trong bài kinh Sau Khi An Cư, bài kinh này đạo tràng Nikāya lấy làm xương sống, làm linh hồn, làm nòng cốt, làm cái lõi trong tu tập. Bài kinh này Minh Thành có chia sẻ trên kênh youtube có tên Linh Quy Pháp Ấn. Tầm quan trọng của tâm hiền trí, có tám đến chín buổi giảng và Thiền quán, vừa lý thuyết vừa thực hành:
Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong
Rộng rãi bao dung chẳng buộc ràng
Nguyện tâm an trú như nùi giẻ rách
Có gì để ngã mạn hơn thua.
Nguyện tâm như bò đực bị cưa sừng
Hiền lành lắng dịu chẳng phiền ai
Dễ chịu, dễ thương và dễ mến
Dễ bảo, dễ nghe pháp Thánh hiền.
Nguyện tâm như người nghèo đói nhất
Có gì để lên mặt dạy đời
Nguyện tâm như bò sừng bị chặt
Còn gì để hăng hái tranh đua.
(Trích đoạn: Đảnh Lễ Đức Hạnh Ngài Xá-Lợi-Phất)
Đây là chín pháp an trú tâm của bậc Tướng Quân Chánh Pháp, bậc chí thượng Thanh Văn trong hàng Thánh chúng là pháp tu của Ngài Xá-Lợi-Phất. Tâm an trú như: đất, nước, gió, lửa, kẻ ăn xin nghèo cùng nhất, nùi giẻ rách, con bò đực bị cưa sừng, thân lủng lỗ, chín cái lỗ nó chảy ra.
Hạnh Ngài “khốn khổ, thân lủng lỗ”,
Rỉ nước tanh hôi suốt cả ngày,
Buồn vui, được mất, chi thêm khổ
Ngã mạn, ta đây, thêm đắng cay
(Trích đoạn: Đảnh Lễ Đức Hạnh Ngài Xá-Lợi-Phất)
Đó là những pháp rất quan trọng nếu mình không an trú vào những pháp này thì tâm mình kiêu mạn lắm mà mình không biết, tưởng đâu là bình thường nhưng mà nó kiêu mạn, nó ta đây, nó chấp ngã, nó hơn thua, cho nên chạm tới là nó có chuyện. Đừng nói chuyện người ngoài, huynh đệ sống chung với nhau chỉ cần nói thôi là bực bội, sân si, khó chịu, tức là tâm không có hiền hòa, tâm không có khiêm cung, khiêm hạ, khiêm hòa, khiêm tốn, khiêm nhã, khiêm nhường. Chúng ta bấy lâu nay không biết tại sao Ngài trở thành bậc Trí Tuệ Đệ Nhất, nhờ pháp tu trên mà Ngài trở thành Thánh Trí Đệ Nhất trong hàng Thánh chúng. Cho nên mình chưa tu những pháp này nên cặp sừng của mình còn sắc bén, hở ra là mình húc, hất lủng ruột, đừng có tưởng đâu cạo cái đầu mà nó hết cái sừng, nó còn cặp sừng rất bén. Không phải đối với những người ngang hàng mà đối với Sư Phụ, đối với những bậc Trưởng thượng nó vẫn có những cái tâm phản trắc, vẫn có thể sân, si, ngã mạn như thường. Phải nhìn nhận cho sâu sắc. Tu là phải chân thật, trực tâm, thành thật, chân thật để nhìn nhận, nếu không thì mình tu không có tới nơi, mình cứ bào chữa, ngụy biện, bao biện: “Ngụy biện quanh co dấu lỗi lầm”, mình sẽ không tu tới được một cái tâm trong sạch. Mình phải tập nhận diện ngũ uẩn và phải nhìn ra được các cấu uế, rác bẩn trong tâm một cách chân thật, chân thành, chân chánh, khai ra hết. Khi nói nhận diện ngũ uẩn là phải khai hết ra; Bạch Thầy trong ba tháng con còn đủ thứ dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã, con còn rất nhiều, trình bày hết những gì có trong tâm, viết nhật ký tu học, khởi bản ngã lên như thế nào thì phải viết ra, khởi tham như thế nào cũng phải viết ra, rồi mình xử lý nó như thế nào thì viết phương pháp xử lý trình lên gửi về cho Minh Thành, Minh Thành sẽ cho thuốc kịp thời, đúng bệnh. Tu mà im ru không nói gì, như vậy là không nhiệt tình, không có ước muốn sắc bén, phải tăng thượng trong giới đức thiền định, trí tuệ, thì cơ hội ngàn năm mình bị mất, không phải dễ khi giờ phút này được học Chánh Pháp, quý báu vô cùng, hi hữu, hiếm có khó gặp ở trên đời. Đây là những lời dạy nguyên chất của Đức Phật hơn 2500 năm không phải dễ được học. Mỗi một buổi dạy của Minh Thành là đầy tâm huyết, nhiệt huyết vì Minh Thành luôn cho rằng mỗi một lần gặp nhau sau đó không biết có còn được gặp nhau nữa hay không, mỗi một buổi dạy như thế này là bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả trái tim để cúng dường Pháp cho các Thầy, các Cô, chúng ta phải trân trọng, phải thực hành, phải để tâm, nếu không sau này mình sẽ hối hận, không ai chỉ cho mình vậy đâu. Thời đại bây giờ không ai chỉ cho mình như vậy.
Cho nên những vấn đề sâu sắc chúng ta phải tha thiết học hỏi, phải tha thiết trong ước muốn tăng thượng lớn mạnh, phải tha thiết ước muốn sắc bén, thì chúng ta mới tu tiến được, còn mình tu với cái tâm trơ trơ, như lục bình trôi lững lờ thì mình không có tiến được, bất cứ ngoài đời hay trong đạo, chúng ta phải có sự năng nổ, nhiệt huyết, nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, hướng thượng. Nếu với tâm thế một chiều thì không được vì Minh Thành muốn các vị tu học đến nơi đến chốn mà các vị không muốn thì làm sao có thể được. Hãy cố gắng lên, đời sống này vô thường lắm, tất cả chúng ta phải quán chiếu sâu sắc vì trong chúng ta ai cũng có thể bất thình lình ra đi bất cứ lúc nào đó là trí tuệ, nếu chúng ta cứ nghĩ rằng ngày nào cũng như ngày đó, tuần nào cũng như tuần đó, tháng nào cũng như tháng đó, năm nào cũng như năm đó thì chúng ta sống trong vô minh, trong si mê không thấy pháp sanh diệt, không thấy pháp vô thường, không thấy pháp biến hoại. Khi bất thình lình, đột ngột, đột biến, đột ngột, đột tử, tứ đột xuất hiện thì lúc đó chúng ta bàng hoàng, hụt hẫng, hoảng loạn, kinh hãi, thì chúng ta sầu, bi, khổ, ưu, não, con đường phía trước là rất thê thảm, tam đồ ác đạo. Chính vì vậy, chúng ta phải hết sức tha thiết, cẩn trọng, nỗ lực trong sự tu học./.
TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 23
7 TRÍ VỀ TƯỞNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bảy Trí Tuệ Về Tưởng PAGEREF _Toc130031383 \h 1
1. Định Nghĩa Về Tưởng1
2. Tưởng Sanh, Tưởng Diệt, Tưởng Diệt Đạo1
3. Vị Ngọt, Sự Nguy Hại, Sự Xuất Ly khỏi Tưởng7
II.Như Lý Tác Ý 14
Bảy Trí Tuệ Về Tưởng
Chúng ta sẽ tìm hiểu Bảy Trí Tuệ Về Tưởng. Đầu tiên chúng ta tìm hiểu về Sáu Tưởng, sau đó sẽ tìm hiểu Bảy Trí Về Tưởng.
Định nghĩa về Tưởng:
Tưởng là những hình bóng, những bóng dáng ẩn ẩn hiện hiện trong tâm, chập chờn trong tâm. Đó chính là bóng dáng của sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
- Hình bóng là Tưởng.
- Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.
2. Tưởng Sanh, Tưởng Diệt, Tưởng Diệt Đạo
Hình bóng của Tưởng có 6 loại, 6 dạng, 6 phương diện gọi là 6 tưởng; sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.
- Sắc Tưởng: Bóng dáng người, cảnh, vật, tứ đại hiện khởi trong tâm.
- Thanh Tưởng: Lời nói, âm thanh, tiếng động, tiếng ồn hiện khởi trong tâm.
- Hương Tưởng: Bóng dáng của mùi hương, mùi thơm, mùi hôi hiện khởi trong tâm.
- Vị Tưởng: Bóng dáng của vị ngọt, chua, cay, đắng, chát hiện khởi trong tâm. Tức là mình hồi tưởng lại cái vị lúc mà mình nếm, mình đã từng tiếp xúc, từng ăn, uống. (Ví dụ như mình từng ăn món bánh xèo, khi ăn xong về nhà mình hồi tưởng lại vị của món bánh xèo đó là Vị tưởng, Vị tư).
Giả sử chúng ta ăn tô phở sau đó về nhà nhớ lại hình ảnh tô phở, khi chúng ta nhớ về hình ảnh tô phở đó là sắc tưởng, mùi của tô phở là hương tưởng, vị của tô phở là vị tưởng. Như mình nhớ lại về một con người hình bóng, gương mặt của người đó là sắc tưởng. Âm thanh, giọng nói của người đó là thanh tưởng. Người đó có mùi đặc biệt, mùi đặc biệt ở đây có nhiều nghĩa; một là nó hôi, hai là nó có xức dầu thơm, mình hồi tưởng lại là hương tưởng. Có lúc mình bắt tay tiếp xúc với ai đó mình hồi tưởng lại cái bắt tay đó gọi là xúc tưởng. Bóng dáng, sự xúc chạm giữa thân của mình và của người, vật, tứ đại bên ngoài hiện khởi trong tâm gọi là xúc tưởng. Bóng dáng của thọ, tưởng, hành hiện khởi trong tâm đó gọi là pháp tưởng. Suốt một thời gian dài Minh Thành đọc kinh, học kinh về 6 tưởng mà không hiểu được, mình phải gặp được Thiện tri thức, bậc thành tựu Pháp hướng dẫn thì mình mới biết rõ được, mình biết rõ những điều này là mình thành tựu một loại trí tuệ. Khi mình nhìn vào trong tâm thấy cái nào nó ra cái đó, nếu mình không nhìn rõ được thì sẽ nói chung chung là vọng tưởng. Nếu mình không học 6 tưởng này thì mình nghĩ đó là vọng tưởng, đó là mình nói chung chung và sẽ lẫn lộn giữa hành và tưởng, thọ mình cũng lẫn lộn, thức mình cũng không biết. Ngày xưa tu thiền hàng chục năm, 15 năm mà không biết rõ những điều này. Chúng ta sẽ cho ví dụ và hiểu về 6 tưởng này sau đó mới đi sâu vào trí tuệ.
Chúng ta đã học về Pháp Tưởng và đào sâu thêm Pháp Tưởng; là bóng dáng của Thọ, Tưởng, Hành hiện rõ trong tâm:
- Sư Phụ hỏi: Pháp Tưởng là gì? Hình bóng Thọ, Tưởng, Hành khởi lên trong tâm? Cho ví dụ?
- Tăng Sinh trả lời: Dạ kính thưa Thầy Giáo Thọ! Khi con chạy xe quá tốc độ trực giác như có Công An Dao Thông đang đứng đợi mình, con có cảm giác không dễ chịu, có hình bóng của anh cảnh sát dao thông và có suy nghĩ nếu mình chạy quá tốc độ sẽ bị phạt. Rõ biết Thọ, Tưởng, Hành là Thức.
- Ni Sinh trả lời: Dạ kính thưa Thầy Giáo Thọ! Khi vào mùa An Cư Kiết Hạ con cũng tưởng lại, nhớ lại thời gian trước khi vào hạ mình học và nhớ lại lời Thầy Giáo Thọ dạy, hồi tưởng lại những môn học của mình, hồi tưởng lại những hình bóng những hình ảnh trong lớp học là Sắc Tưởng, cảm giác dễ chịu khi hồi tưởng lại những buổi học trong lớp là Thọ, những suy nghĩ về buổi học là hành, sự rõ biết hình bóng trong lớp học, suy nghĩ trong lớp học, cảm giác dễ chịu trong lớp học, sự rõ biết Thọ, Tưởng, Hành là Thức. Tất cả những điều trên là Pháp Tưởng.
Chúng ta phải nắm thật vững về Thọ, Tưởng, Hành, Thức thì mình mới nhận diện được tâm của mình. Nếu mình không nắm vững lý thuyết, không thuộc lòng định nghĩa Thánh Trí Tuệ của Đức Phật, định lý chứng ngộ của Đức Phật, nếu không nắm vững, không thuộc khi mình nhận diện sẽ nhận diện lẫn lộn, các pháp bị lẫn lộn thì mình không Trạch pháp giác chi, không thành tựu được, không có cái nhìn rạch ròi; cái chuông là cái chuông, cái ly là cái ly, cái bàn là cái bàn, cái phòng là cái phòng, cái quạt là cái quạt không thể nói lẫn lộn được, không thể nói cái chuông thành cái quạt đó là ở bên ngoài. Trong tâm mình cũng vậy, mình phải thấy rõ cái nào là sắc tưởng? Cái nào là Thanh tưởng, Hương tưởng, Vị tưởng, Xúc tưởng, Pháp tưởng? Khi mình thấy rõ được như vậy thì mình sẽ thành tựu trí tuệ về Tưởng uẩn.
Giờ này mình ngồi đây hồi tưởng lại những khóa cộng tu trong mùa An Cư Kiết Hạ thì sự hồi tưởng lại hình bóng của mình và đại chúng cùng ngồi thiền hay tụng kinh, nghe pháp đó là Sắc tưởng. Mình nhớ lại âm thanh khi tụng kinh hoặc là hô thiền hồi tưởng lại âm thanh tụng kinh, hô thiền trong mùa hạ đó là Thanh tưởng. Mình nhớ lại lúc tụng kinh có đốt trầm mùi hương bay lên đó được gọi là Hương tưởng. Những buổi ăn cơm trong mùa An Cư Kiết Hạ hoặc trong buổi lễ Vu Lan, buổi lễ dâng y, bây giờ mình hồi tưởng lại những vị đồ ăn đó gọi là Vị tưởng. Sự tiếp xúc của mình ở trong buổi lễ có người đặt bông hoa màu vàng cài lên áo cho quý Thầy, quý Cô, mình nhớ lại lúc họ cài hoa lên áo lúc đó thì gọi là Xúc tưởng. Rồi mình ngồi nhớ lại những cảm giác, những suy nghĩ, những hình bóng mình biết rõ trong tâm mình có những hình bóng, suy nghĩ , cảm xúc đó gọi là Pháp tưởng.
Trong Lễ Vu Lan người ta đọc những lời về cha mẹ trong tâm mình lúc đó là hình bóng mẹ cha hiện lên đó là Sắc tưởng. Lúc đó mình có biết là Sắc tưởng không? Hay mình nhập cuộc vào là tôi, là của mình, là tự ngã của tôi? Khi mình thành tựu về trí tuệ thì mình sẽ biết đây là Sắc tưởng đang có ở trong tâm, không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Lúc đó mình sẽ nhớ lại những âm thanh, những lời nói của cha mẹ ngọt ngào, trìu mến, hiền hòa, ấm áp với mình đó là Thanh tưởng. Nhớ lại những món ăn mà mẹ mình đã tận tụy thâu đêm nấu cho mình ăn những muỗng cháo, những chén cơm, những lần sờ trán, nắm tay dẫn dắt mình đi trong đó có Sắc Tưởng, Hương tưởng, Vị tưởng. Tất cả những cảm giác đó, những hình ảnh đó, những suy nghĩ đó là Pháp tưởng. Đó là chúng ta đã đi qua 6 Tưởng, vừa lý thuyết, vừa giải thích, vừa làm bài tập trong thực tế đời sống, thiết thực hiện tại, rõ ràng, cụ thể không có gì là mơ hồ.
- Sư Phụ hỏi: Tại sao mình có Tưởng? Tại sao trong tâm mình có hình bóng?
- Tăng Sinh trả lời: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phât!
Kính bạch Thầy! Trong tâm chúng ta có tưởng là do Xúc tập khởi nên Tưởng Tập khởi.
Ví dụ chúng ta chưa từng đi Đà Lạt, chưa từng thấy Đà Lạt, chưa từng xem trên mạng những cảnh sắc ở Đà Lạt mình có thể tưởng Đà Lạt ra sao không?
- Không tưởng tượng được. Phải không?
+ Tưởng Sanh: Do mình tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp qua âm thanh người ta kể, qua hình ảnh, qua những thước phim người ta quay hay chính mình đi tới chỗ đó khi mình trở về và hồi tưởng lại được là do mình đã từng tiếp xúc trực tiếp hoặc là gián tiếp cho nên: Xúc tập khởi là Tưởng Tập khởi. Do tiếp xúc nên mới có hình bóng trong tâm. Như có một người mình chưa từng nghe, chưa từng thấy, chưa từng biết, chưa từng gặp, mình có thể tưởng ra người đó được không? Cho nên do tiếp xúc mới có hình bóng ở trong tâm. Đây là những Thánh trí tuệ của Đức Phật chứng ngộ không phải đơn giản, không phải mình học sơ sơ và bỏ qua là mình sẽ mất lợi ích rất lớn cho hiện tại và cho dài lâu trong tương lai. Mình thấy được nhân duyên sanh diệt của Tưởng mình mới có thể tách mình ra khỏi tưởng, còn vô văn phàm phu không biết, họ không biết tách cái tưởng ra, họ cứ nghĩ tưởng này là họ, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, vì họ không biết tại sao nó sanh khởi, làm sao cho nó đoạn diệt, nó vận hành như thế nào? Nên người ta không thể thoát ra khỏi cái tưởng được. Cho nên tại sao mình ngồi thiền mình vọng tưởng hoài, mình không thể nào làm cho vọng tưởng lắng dịu, bởi vì mình không biết tưởng nó sanh khởi ra sao? Nó an trú làm sao? Nó vận hành làm sao? Nó quậy phá mình làm sao? Vị ngọt của nó như thế nào? Sự nguy hiểm và tác hại của nó như thế nào? Làm thế nào để thoát ra khỏi nó? Mình không biết gì về điều đó thì làm sao có thể nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch và xuất ly thoát ra khỏi Tưởng.
Chúng ta thấy không? Khi mình ngồi thiền mong cho nó được yên, hết hình bóng này tới hình bóng khác, rồi những hình ảnh đó ám ảnh trong tâm của mình, có những hình bóng của đồ vật, những con người, những sự việc nó cứ ám ảnh trong tâm mình không thoát ra được, mình muốn thoát ra nhưng không thoát ra được, vì mình không biết nhân duyên sanh diệt, sự vận hành, vị ngọt, sự nguy hiểm, tại sao nó có mặt? Làm sao cho nó chấm dứt? Mình không biết gì hết. Mình chấp thủ, mình nắm chặt cho nó là mình, mình là nó, nó ở trong mình, mình ở trong nó, đó gọi là Tưởng thủ uẩn. Tâm nắm giữ những hình bóng mãi mãi không thoát ra được. Những hình bóng đó, những ám ảnh đó nó làm cho mình đau buồn, khổ sở, tiếc thương, oán hận, hoặc là thù hằn, là những hình bóng trong tâm. Thương, ghét, yêu, hận, buồn, vui, sầu, bi, khổ, ưu, não là những hình bóng ở trong tâm. Như mình lỡ làm một điều gì đó, cho một người nào đó người ta đau khổ, mỗi lần mình nhớ về những hình bóng đó tâm mình sẽ trạo hối, hối hận, day dứt, khó chịu. Hay mình làm một điều gì đó tội lỗi, tự nhiên mình thấy ân hận, ngoài đời gọi là tòa án lương tâm, nó phán xét, làm cho tâm mình bất an, làm cho tâm mình hối tiếc, hối hận, hối lỗi, đó là trạo hối (chữ hối là hối hận, chữ trạo là day dứt). Chính tâm hối hận, day dứt đó làm mình không đi vào thiền định được. Chính vì vậy, trạo hối là một trong năm thứ trói cột tâm, che mờ tâm, làm cho tâm yếu ớt không có trí tuệ: “Tác thành mù mắt, tác thành vô trí” chính là tâm trạo hối, day dứt, hối hận. Mình làm một việc gì đó thiện lành, việc tốt giúp cho người ta khi mình nhớ lại hình ảnh đó mình sẽ vui, hoan hỉ:
Nay vui, đời sau vui,
Làm phước, hai đời vui,
Nó vui, nó an vui,
Thấy nghiệp tịnh mình làm.
Nay sướng, đời sau sướng,
Làm phước, hai đời sướng.
Nó sướng: “Ta làm thiện”,
Sanh cõi lành, sướng hơn.
Nay than, đời sau than,
Kẻ ác, hai đời than,
Nó than: “Ta làm ác”
Ðọa cõi dữ, than hơn.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Song Yếu)
Qua đoạn kinh Pháp cú về kẻ làm ác nhưng không biết đó là nghiệp ác mình đã làm mà lại quay qua than trách với cái nghiệp ác mình đã làm đó là Tưởng của chúng ta. Chính vì vậy, mà tại sao chúng ta phải hành thiện, phải nói thiện, nghĩ thiện, tại vì mình nghĩ điều gì cũng thiện, nói điều nào cũng thiện, hiền hòa, làm điều gì cũng thiện lành thì mình sẽ thấy vui, cho nên người nào làm thiện lúc nào cũng hoan hỉ, tâm họ nhẹ nhàng, ngọt ngào từ ái, sắc mặt rạng rỡ, tâm hồn thảnh thơi, lòng họ nhẹ nhõm không day dứt, không hối hận. Người làm ác lúc nào họ cũng hối tiếc, hối hận, trạo hối vì những cái thọ, tưởng, hành trong tâm ám ảnh. Chẳng hạn mình ngồi nhớ lại hồi tháng 7 phát quà cho người nghèo, mình thấy thật dễ chịu, thật là ngọt ngào, thật là an vui, ngồi một mình có thể mỉm cười nhẹ, lòng thấy hoan hỉ. Hoặc ngồi nhớ lại rằm tháng 7 trong lúc phát quà tự nhiên có người làm cho mình nổi nóng, nổi sân lên với một người nhận quà, la mắng người ta mình nổi sân lên rồi người đó họ rưng rưng nước mắt, họ tủi thân, tủi phận, khi ngồi nhớ lại câu chuyện đó thì tâm mình thấy day dứt, hối tiếc, hối hận, trạo hối; tại sao lúc đó mình lại có những lời nói, hành động không đẹp như vậy. Chúng ta tu là tu ngay trong ý nghĩ phải thiện, phải lành, lúc đó tưởng của mình mới an lạc. Nếu lời nói, hành động, việc làm của mình bất thiện, ác thì lúc mình ngồi thiền sẽ không yên, cho nên chúng ta học các trí tuệ của Phật rất quan trọng, vì chúng ta không học thì sẽ không biết gì để mà tu, khi nó sanh khởi sẽ xâm chiếm, áp đảo, lật đổ, ám ảnh mình thì làm sao tu được, mình muốn thoát ra nhưng không biết đường để thoát ra. Cho nên Tưởng sanh khởi là do Xúc tập khởi nên Tưởng tập khởi. Đây là Thánh trí tuệ, định lý chứng ngộ của Đức Phật mình không học Thánh trí thì học cái gì? Học mấy bài thơ của thi sĩ, nhạc của ca sĩ, nhạc sĩ gì đó mà không chịu học lời dạy của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
+ Tưởng diệt là do Xúc đoạn diệt nên Tưởng đoạn diệt.
+ Tưởng diệt Đạo là con đường đưa đến Tưởng đoạn diệt, đạo lộ, phương pháp, cách thức làm sao cho những hình bóng trong tâm của mình hoàn toàn vắng lặng đó là phương pháp tu tập Tám đúng là đưa đến Tưởng đoạn diệt. Phải thấy đúng về Tưởng, mình muốn thấy đúng về Tưởng thì phải có trí tuệ hiểu biết về Tưởng thì mới thấy đúng được. Nghĩ đúng về Tưởng, nói đúng về Tưởng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng về Tưởng thì mình mới có thể làm cho các Tưởng chấm dứt.
3. Vị Ngọt, Sự Nguy Hại, Sự Xuất Ly khỏi Tưởng
Đầu tiên, chúng ta phải thấy đúng về Tưởng, mà muốn thấy đúng về Tưởng. Tự mình không thể thấy đúng về Tưởng mà mình phải nương theo thấy đúng của Đức Phật, sự thấy đúng của Đức Phật chính là 7 trí về Tưởng, nếu mình không nghe, không học, không thuộc, không dựa vào đó để nhận diện các Tưởng, quán sát, quán chiếu các Tưởng trong tâm thì mình không bao giờ thoát ra khỏi các Tưởng. Cho nên chúng ta phải học, phải biết vị ngọt của Tưởng, sự nguy hại của Tưởng, sự xuất ly khỏi Tưởng.
+ Vị ngọt của Tưởng: Do duyên Tưởng khởi lên lạc hỷ gì lạc hỷ này là vị ngọt của Tưởng.
Chính vì vậy, khi mình ngồi tự nhiên hồi tưởng lại những hình bóng mà những hình bóng đó rất dễ chịu, rất khoái, rất thích thú, mình muốn, hoan hỉ, dính mắc, tham đắm ở trong đó, đó là vị ngọt của Tưởng. Những điều này là mật ngọt chết ruồi, mình sẽ chết trong ảo tưởng, huyễn tưởng, hư tưởng, mộng tưởng, hoang tưởng, điên đảo tưởng, thì mình sẽ không sống được với thực tại, mình sống toàn với những điều đã qua rồi, mình hồi ức, mình hồi tưởng, mình tưởng tượng hoặc mình tưởng quá khứ, hoặc mình tưởng tương lai, như vậy là mình mỉm cười hoặc là mình xụ mặt xuống, mình bực bội, sân si, nhớ lại cái cô kia ngày hôm qua cô ấy đối xử với mình không hay. Tự nhiên đang ngồi nhớ lại hình bóng hiện lên trong tâm làm cho mình khó chịu, bực bội. Mình đừng có tưởng đâu cái tham, dục, ái mình mới thích mà cái sân hận, bực bội, tức tối mà mình không thích, những cái đó mình cũng thích luôn, chỗ này mới là chỗ ngu, chỗ này mới là chỗ vô minh, tức là cảm giác bực bội, tức giận, sân hận mình thích cảm giác đó, nó làm cho mình khổ nhưng mà mình thích, mình không muốn bỏ cảm giác đó, thậm chí mình biết cái sân này là sai. Mình tu mà mình giận, mình bực bội, sân si với huynh đệ như vậy thì đâu có đúng nhưng bên trong tâm nó không chịu xả cái đó, nó biết là sai nhưng nó không chịu bỏ, nó nói không thể bỏ được.
- Sư Phụ hỏi: Có phải là mình không muốn bỏ sự sân hận, bực bội không?
- Các Tăng Ni Sinh trả lời: Dạ có!
Đó là sự chấp thủ của vô minh và tham ái ngay cả những điều làm cho mình đau khổ mà mình vẫn tham ái. Mình vẫn ưa, mình vẫn thích, vẫn khoái những điều làm cho mình đau khổ. Trời đất ơi! Khôn quá, thông minh quá. Đó là vô minh, đó là si mê, đó là dại khờ, đó là điên đảo. Tức là mình giận thì giận ai đó, nói lời xin lỗi cũng không chịu hết giận, không chịu tha thứ. Tức là Thọ thủ uẩn, Tưởng thủ uẩn, Hành thủ uẩn chấp chặt, nắm chặt nó không chịu mở ra. Chúng ta hãy hình dung khi mở bàn tay ra là năm uẩn, khi nắm chặt bàn tay vào là một bản ngã, cái tâm nó cứ nắm chặt gọi là năm thủ uẩn (Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn nó nắm chặt vào gọi là Năm thủ uẩn).
Mình phải biết được vị ngọt của Tưởng nó ghê lắm, bản ngã cũng vậy. Nó tưởng về hình ảnh của nó rồi nó thích, sáng dậy đánh răng, rửa mặt, nhìn vào gương thấy gương mặt hồng hồng, xinh xinh đó là vị ngọt của Sắc, vị ngọt của Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Mình ngồi nhớ lại hồi nãy tạo dáng chụp tấm hình chỗ đó đẹp mình thích, tự mình ngồi cười một mình. Hồi tưởng lại hình bóng về tự ngã mình yêu, mình thích, mình khoan khoái, hoan hỉ, đó là vị ngọt của Tưởng.
+ Sự Nguy Hại của Tưởng: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Tưởng, đó là sự nguy hại của Tưởng.
Khi chúng ta thường nhận diện Sắc là tứ đại, vô thường, biến hoại thì sự chấp thủ trong sắc uẩn nó sẽ mở ra. Mình thường nhận diện các Cảm Thọ, không sống với Thọ thủ uẩn nữa, không sống với một cái tâm nắm giữ vào các cảm giác nữa, mình biết các cảm giác nó là duyên sanh, vô thường, chỉ do tiếp xúc là nó khởi lên. Ví dụ như mình thương một người nào đó, trước khi gặp mình có thương người đó không? Đâu có thương vì không tiếp xúc nên không biết về người đó. Tự nhiên gặp người đó, nếu không gặp thì nhớ thương, mệt mỏi, nếu không cho gặp là chết, đó là Thọ thủ uẩn. Tưởng thủ uẩn, Hành thủ uẩn, Thức thủ uẩn cũng tương tự. Đó là tâm mê, tâm khờ dại, tâm nắm chặt, nắm chắc, nắm giữ, tâm chấp giữ, tâm chấp chặt, tâm ghì chặt, tâm siết chặt, bám chắc, là cái tâm khổ đau. Cho nên trong Thánh trí Ngũ uẩn của Đức Phật chỉ dạy:
Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.
Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.
Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với Ngũ uẩn.
Không chỉ mình yêu thích những cái mình thích, mà mình còn yêu thích những cái nó làm cho mình đau khổ vì cái bản ngã của mình, về cái tôi của mình. Như có ai đó đụng đến mình, đụng đến bản ngã thì cơn sân giận nổi lên: “Dám nói tôi hả? Từ nay trở đi tôi sẽ không nhìn mặt nữa, ở chung chùa cũng không nhìn mặt nữa”. Càng giữ cái giận đó thì trong tâm càng khó chịu, vào ra mà gặp nhau thì nó càng đồ đậm sự giận dữ trong tâm nhiều hơn, thấy người đó là thấy ghét, nhìn thấy tướng đi cũng thấy ghét, nghe giọng nói chuyện thì thấy càng ghét, càng nhìn chừng nào là thấy ghét chừng đó, nó càng tăng trưởng thêm sự ghét và đó là chướng ngại tướng, chướng tai gai mắt, đó là khổ đau mà không chịu bỏ, đây là thức ăn cho sân. Đức Phật nói rất rõ thức ăn cho sân, làm sao để đoạn diệt sân.
Có tấm hình đẹp mình đăng lên facebook có người vào bình luận: “Hình xấu hoắc, cô tạo dáng gì kỳ vậy?” như vậy thôi nhưng cũng sân si lên, bực bội lên. Tối về hay là ngày mai nó ám ảnh hàng chữ mà mình đã đọc bình luận, từ cái hình cho tới âm thanh rồi cảm thọ sanh khởi lên, những Thọ, Tưởng, Hành, những Pháp Tưởng, Pháp Tư nó sanh khởi lên, đó là sự vận hành của các Tưởng, rồi mình bị chết trong đó. Nếu người ta khen: “Dáng đẹp ha!” thì thấy thích, khoái, tối nằm quay qua, quay lại cười một mình, khổ chưa? Ghê ghớm vậy đó. Mình chỉ cần một câu nói, vài chữ là mặt mày của mình đổi sắc, cảm thọ của mình biến động, không có sự tu tập, không có sự an trú cảm giác toàn thân, không có sự nhiếp phục, chế ngự trong năm uẩn, gió thổi chiều nào mình bay theo chiều đó, cho nên Đức Thế Tôn ví dụ có người cầm nắm bông gòn đứng ra ngã bảy gió bão thổi bay tứ tung, Đức Phật ví dụ hình ảnh thứ hai là giống như trụ đá tám chín thước chôn xuống ba bốn thước gió thổi không lay động. Nếu mình không có công phu tu tập, không có lòng tin bất động đối với Tam Bảo thì mình giống như bông gòn gió chiều nào bay chiều đó, bay tứ tung, chỉ cần nghe người ta nói một câu là khuôn mặt mình rạng rỡ, phơi phới, chỉ cần người ta làm một hành động mặt mình xụ xuống như cái bánh bao chiều. Tu tập làm sao để tâm mình như núi đá kiên cố không gió nào lay động, cũng vậy giữa khen chê người trí không dao động, muốn vậy là phải an trú trong cảm giác toàn thân, định tâm trên thân, có một trí tuệ sâu sắc về Ngũ uẩn thì mình mới có thể định tâm trên thân, an trú trên cảm cảm giác toàn thân và có một trí tuệ vững chắc giống như trụ đá kiên cố, vững trú ở trong trí tuệ nếu không chỉ một cơn gió thổi qua là mình bay mất, gió thổi chiều nào bay chiều đó. Chúng ta phải nhận diện ra vị ngọt của Tưởng để mình không bị chấp thủ, dính mắc, chấp chặt. Thậm chí mình ngồi thiền yên lặng như vậy nhưng mình vẫn sống trong vị ngọt, vẫn sống trong bản ngã nếu mình không có trí tuệ nhìn sâu sắc, tôi ngồi thiền mấy người kia không ngồi đó là bản ngã, tôi ngồi yên tịnh mấy người kia ngồi dao động, tôi ngồi trang nghiêm, mấy người ngồi bên không có trang nghiêm, tôi nhìn khó chịu, mình không có tâm thương, thay vì mình lấy cái tâm khó chịu, bực bội, so sánh đó mình đổi lại thành tâm thương, trừ khi chưa có được sự hướng dẫn tu tập, tâm chưa hiền hòa, mình phải thương họ, mình mong muốn họ sẽ được tốt hơn, mình thấy vậy mình thương nhưng không khó chịu, bực bội. Mình phải tập tâm hiền hòa, tâm từ ái, dễ chịu thì cảm giác của mình dễ chịu. Khi mình nhìn thấy một người có lỗi mình không bực bội, sân hận, mình phải tập tâm thương, cảm thông, tại vì mình cũng đã từng, có khi mình cũng có cái lỗi đó, phản chiếu lại có khi mình còn có lỗi nhiều hơn nữa. Chúng ta phải nhìn thấy nhiều trong trí tuệ của Đức Như Lai.
Sự Nguy Hại của Tưởng là chịu sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Tưởng, đó là sự nguy hại của Tưởng. Chính vì nó biến hoại, biến động, nó vô thường đó là sự nguy hiểm và tác hại của Tưởng. Không có hình bóng nào mà còn như vậy hoài, khi mình thấy người đó rất là dễ thương, khả ái, thì hình ảnh đó trong lòng của mình, lần sau mình gặp lại mình tưởng nó giống như vậy nhưng nó không còn như lúc trước nữa mình thấy mình đau lòng, mình đau khổ, mọi thứ đổi thay rồi. Có những người quen biết tưởng đâu một năm sau gặp lại, hay ba tháng sau gặp lại, một tháng sau gặp lại, tưởng đâu còn như vậy nhưng khi gặp lại thì họ đổi khác, những cái tưởng của mình không đúng. Bởi vậy tất cả nó đều biến hoại, biến động, vô thường, nó luôn luôn sanh diệt mà mình cứ tưởng nó cứ như vậy hoài, nên mình đau khổ khi nó biến hoại, biến đổi, khi nó vô thường.
Ví dụ huynh đệ ngồi kế bên nhau cùng học chung, bỗng nhiên một ngày nghe tin ung thư giai đoạn cuối, mình đi tới thăm thì thấy người bạn mình nằm trên giường bệnh còn có 20 kg, chỉ còn bộ da với xương, Sắc biến đổi, Thọ biến đổi, Tưởng, Hành, Thức biến đổi, khi mình trở về nhà cứ bị ám ảnh bởi sự biến đổi đó. Đó là sự nguy hại, sự nguy hiểm và tác hại của các Tưởng. Mình cứ tưởng nó đẹp, nó màu hồng, nó là tốt lắm, nhưng sự thật nó không giống như mình tưởng, khi mình tiếp xúc với họ thì mình bàng hoàng, mình đau khổ, mình tan nát, cho nên mình phải biết được nó là thứ vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Chính vì vậy mình sẽ không nắm giữ, nắm chặt, nắm chắc, nắm bắt, nắm chấp vào trong các Tưởng.
Trong cuộc đời có những sự thật phũ phàng làm cho con người ta đau nhói, có trường hợp người ta gửi con để chữa bệnh, một thời gian sau báo với người nhà đi vào để nhận con thì đưa ra một hũ cốt, làm sao người ta chấp nhận nổi. Khi gửi là một đứa con, một đứa trẻ, một đứa bé, khi nhận lại là một hũ tro cốt, tro tàn. Đó là một hiện thực, một sự thật, một lẽ thật, chân thật, làm sao mà mình có thể chấp nhận sự thật, khi mình không học, không quán chiếu, không sống trong sự thật đó như vậy là mình sẽ bị sốc, có thể bị hụt hẫng, có thể không chấp nhận và thậm chí là điên loạn, không sống nổi đó là sự vô thường. Cho nên mình phải tập nhìn tất cả từ sắc tướng này đến Sắc tưởng, hay là Thanh tưởng, Hương tưởng, Vị tưởng, Xúc tưởng, Pháp tưởng tất cả những cái tưởng này đều là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thấy được tính chất nguy hiểm và tác hại của nó thì tâm mình mới buông xả ra, nếu không thấy được thì nó chấp thủ, nắm giữ, nắm chặt. Cái tưởng nào mình cũng cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, nó mãi là như vậy không đổi khác. Cho nên mình có được trí tuệ này mình sống nhẹ nhàng. Như người thân của mình tự nhiên quay qua oán ghét mình thì mình không bất ngờ vì biết đây là vô thường, các tưởng là biến đổi mình chấp nhận. Người thương của mình tự nhiên giận mình, người mình giúp đỡ tự nhiên bỏ mình, đi nói xấu mình, mình biết như vậy và chấp nhận đó là lẽ đương nhiên, tại vì mình được học, mình đã được quán chiếu, mình đã được chiêm nghiệm hàng ngày, hàng giờ, từng hình bóng trong tâm của mình là mình đã nhìn thấy được nó là như vậy.
+ Sự Xuất ly của Tưởng: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận của dục và tham đối với các Tưởng. Đây là sự xuất ly khỏi Tưởng.
Đây là Thánh trí tuệ của Đức Phật, nhiếp phục lòng ham muốn, yêu thích. Đoạn dứt lòng ham muốn và yêu thích đối với hình bóng ở trong tâm, dù cho hình bóng gì; khả hỷ, khả lạc, khả ái liên quan đến dục hấp dẫn, những hình bóng đáng yêu, đáng vui, đáng mừng, vừa lòng, thích ý, khoan khoái, đương nhiên mình có lòng ham thích nhưng mình phải nhiếp phục sự ham thích đó lại. Tác ý nhắc tâm: “Tâm ơi! Là tâm, đừng có thích những hình bóng này nha tâm, mày thích là mày khổ đau nha tâm.Tâm ơi! Là tâm, hãy rời xa đi tâm, hãy thoát ra đi tâm, hãy từ bỏ đi tâm, đau khổ nha tâm, nước mắt nha tâm! Sầu, bi, ưu, não nha tâm. Từ bỏ đi tâm, mê làm cái gì tâm. Cái đồ bong bóng thôi mà tâm, vài bữa nó vỡ vụn, tan nát là mày khổ lắm mày có biết không? Phù dung sớm nở tối tàn, mày đi kiếm hoa bất tử đi đừng có chơi hoa phù dung. Tâm ơi! Tâm có biết không tâm? Ta thương tâm nhiều lắm, ta thương sự ngu mê của tâm, ta thương sự vô mình của tâm, ta thương sự sân hận của tâm, ta thương sự cống cao ngã mạn của tâm, ta thương sự dại khờ của tâm, ta thương sự đố kỵ, ghen tỵ, hơn thua của tâm, ngươi đã sống vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp rồi mà sao ngươi không trưởng thành trong trí tuệ của Đức Phật vậy tâm, ngươi đừng có ấu trĩ, ngươi đừng có trẻ thơ, đừng có dại khờ, ngươi phải lớn lên, ngươi phải mở con mắt ra, phải sáng con mắt ra, để ngươi nhìn ra cái bản chất tráo trở, lật lọng, phản trắc, vô thường, tan biến, biến đổi, hủy hoại, hoại diệt, tiêu vong và tan nát của những ngũ uẩn sầu, bi, khổ, ưu, não này nha tâm. Ngươi khổ như vậy chưa đủ hay sao tâm? Ngươi khao khát, ngươi thèm khát, ngươi đói khát, ngươi khát ái như vậy chưa đủ hay sao tâm? Mà sao ngươi cứ thèm thuồng, thèm khát, đói khát, khát ái hoài với những hình bóng hư ảo, tạm bợ, vô thường, giả dối, trá ngụy này sao tâm? Mày mê như vậy là đủ rồi nha tâm! Tỉnh đi! Tỉnh đi! Đừng có mê nữa”. Hãy nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với những hình bóng ở bên trong tâm, là sự xuất ly khỏi các Tưởng và thoát ra khỏi các Tưởng, là sự rời xa khỏi các Tưởng, là sự đoạn diệt tất cả các Tưởng để cho tâm mình hoàn toàn được an tịnh, lắng dịu, trầm lặng, bất động.
Như Lý Tác Ý
Sự Như lý Tác Ý rất quan trọng, chúng ta ngồi một mình phải tự tác động tâm ý như vậy, phải dạy tâm mình thường xuyên nhất là những lúc nó mê, nó ngoan cố, nó cứng đầu. Có phải lúc nào mình nói cái tâm nó cũng chịu nghe không? Nó không chịu nghe, thì mình phải gõ cái đầu nó, phải ký vào cái đầu nó, phải chẻ cái đầu nó ra: “Tao chẻ cái đầu ngu của mày ra nghe tâm! Mày vô minh vừa vừa thôi nha”. Mình luôn tác ý, dạy dỗ, giáo dục, huấn luyện, tư duy, thiền quán, tác động tâm ý, như lý tác ý, dần dần sẽ phá được cái tâm mê, cái tâm vô minh, tâm chấp thủ, như là một cái tay nắm nó sẽ mở ra từ từ, nó mở ra để nhìn thấy ngũ uẩn cuối cùng nó chuyển hướng và nó buông xả, thoát ra. Còn một người vô minh, vô văn phàm phu trạng thái của tâm lúc nào cũng nắm chắc, nắm cứng, nắm giữ, chấp thủ, đụng vào là biết mặt, chạm tới là nó sừng sộ, phẫn nộ, sân hận, nó phực lên, nó cháy lên, Đức Phật ví dụ tâm của chúng sanh như là vết thương đụng vào là giật bắn người, la lối om sòm đó là tâm vết thương, tâm ung nhọt, chạm vào giật bắn người lên la hét: “Đừng ai đụng tới tôi, đụng tới tôi là không được, đụng tới tôi là có chuyện”, đó là tâm của chúng sanh, tâm của phàm phu, tâm hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn, hung tợn, hung hãn, tâm không có hiền thiện, tâm đầy gai góc, đầy gươm giáo, đầy những sát khí, vũ khí, tâm đó là đau khổ, tâm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chúng ta phải tu tập tâm hiền lành, hiền thiện, hiền hòa, tâm hiền lương, hiền hậu, hiền lành, hiền đức, hiền từ, hiền nhân, hiền trí, tiếp tục tiến lên tương ưng với tâm của các bậc Hiền Thánh đó là tâm của người tu, mình phải huấn luyện những cảm thọ của mình, hình bóng trong tâm của mình lúc nào mà mình nhớ về mình thì một hình bóng chắp tay cúi đầu, khi nào mà mình nhớ về mình thì lập tức trong người mình hình bóng của mình là một cái đầu trọc, cái tay chắp cúi sâu xuống và sau đó mình tiếp tục quán chiếu, mình nói về mình thì lập tức quỳ mọp cái đầu xuống, cúi cái đầu thật là thấp xuống mà làm học trò, làm con của tất cả chúng sanh. Mình an trú một cái tưởng là quỳ mọp và đặt cái đầu của mình xuống chân của thiên hạ đó là dùng tưởng để phá ngã, dùng tưởng để tu đức khiêm cung, khiêm hạ, diệt cái ngã ngạo mạn, kiêu mạn, ngã mạn, hóa mạn, tăng thượng mạn là phải an trú một cái tưởng cúi đầu, chắp tay, quỳ mọp và đặt cái trán, cái đầu của mình xuống dưới chân của người ta, dùng cái tưởng để mà tu, dùng tưởng mà quán, dùng tưởng mà an trú. Ngài Xá-lợi-phất dạy mình an trú chín pháp trong bài kinh Sau Khi An Cư, bài kinh này đạo tràng Nikāya lấy làm xương sống, làm linh hồn, làm nòng cốt, làm cái lõi trong tu tập. Bài kinh này Minh Thành có chia sẻ trên kênh youtube có tên Linh Quy Pháp Ấn. Tầm quan trọng của tâm hiền trí, có tám đến chín buổi giảng và Thiền quán, vừa lý thuyết vừa thực hành:
Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong
Rộng rãi bao dung chẳng buộc ràng
Nguyện tâm an trú như nùi giẻ rách
Có gì để ngã mạn hơn thua.
Nguyện tâm như bò đực bị cưa sừng
Hiền lành lắng dịu chẳng phiền ai
Dễ chịu, dễ thương và dễ mến
Dễ bảo, dễ nghe pháp Thánh hiền.
Nguyện tâm như người nghèo đói nhất
Có gì để lên mặt dạy đời
Nguyện tâm như bò sừng bị chặt
Còn gì để hăng hái tranh đua.
(Trích đoạn: Đảnh Lễ Đức Hạnh Ngài Xá-Lợi-Phất)
Đây là chín pháp an trú tâm của bậc Tướng Quân Chánh Pháp, bậc chí thượng Thanh Văn trong hàng Thánh chúng là pháp tu của Ngài Xá-Lợi-Phất. Tâm an trú như: đất, nước, gió, lửa, kẻ ăn xin nghèo cùng nhất, nùi giẻ rách, con bò đực bị cưa sừng, thân lủng lỗ, chín cái lỗ nó chảy ra.
Hạnh Ngài “khốn khổ, thân lủng lỗ”,
Rỉ nước tanh hôi suốt cả ngày,
Buồn vui, được mất, chi thêm khổ
Ngã mạn, ta đây, thêm đắng cay
(Trích đoạn: Đảnh Lễ Đức Hạnh Ngài Xá-Lợi-Phất)
Đó là những pháp rất quan trọng nếu mình không an trú vào những pháp này thì tâm mình kiêu mạn lắm mà mình không biết, tưởng đâu là bình thường nhưng mà nó kiêu mạn, nó ta đây, nó chấp ngã, nó hơn thua, cho nên chạm tới là nó có chuyện. Đừng nói chuyện người ngoài, huynh đệ sống chung với nhau chỉ cần nói thôi là bực bội, sân si, khó chịu, tức là tâm không có hiền hòa, tâm không có khiêm cung, khiêm hạ, khiêm hòa, khiêm tốn, khiêm nhã, khiêm nhường. Chúng ta bấy lâu nay không biết tại sao Ngài trở thành bậc Trí Tuệ Đệ Nhất, nhờ pháp tu trên mà Ngài trở thành Thánh Trí Đệ Nhất trong hàng Thánh chúng. Cho nên mình chưa tu những pháp này nên cặp sừng của mình còn sắc bén, hở ra là mình húc, hất lủng ruột, đừng có tưởng đâu cạo cái đầu mà nó hết cái sừng, nó còn cặp sừng rất bén. Không phải đối với những người ngang hàng mà đối với Sư Phụ, đối với những bậc Trưởng thượng nó vẫn có những cái tâm phản trắc, vẫn có thể sân, si, ngã mạn như thường. Phải nhìn nhận cho sâu sắc. Tu là phải chân thật, trực tâm, thành thật, chân thật để nhìn nhận, nếu không thì mình tu không có tới nơi, mình cứ bào chữa, ngụy biện, bao biện: “Ngụy biện quanh co dấu lỗi lầm”, mình sẽ không tu tới được một cái tâm trong sạch. Mình phải tập nhận diện ngũ uẩn và phải nhìn ra được các cấu uế, rác bẩn trong tâm một cách chân thật, chân thành, chân chánh, khai ra hết. Khi nói nhận diện ngũ uẩn là phải khai hết ra; Bạch Thầy trong ba tháng con còn đủ thứ dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã, con còn rất nhiều, trình bày hết những gì có trong tâm, viết nhật ký tu học, khởi bản ngã lên như thế nào thì phải viết ra, khởi tham như thế nào cũng phải viết ra, rồi mình xử lý nó như thế nào thì viết phương pháp xử lý trình lên gửi về cho Minh Thành, Minh Thành sẽ cho thuốc kịp thời, đúng bệnh. Tu mà im ru không nói gì, như vậy là không nhiệt tình, không có ước muốn sắc bén, phải tăng thượng trong giới đức thiền định, trí tuệ, thì cơ hội ngàn năm mình bị mất, không phải dễ khi giờ phút này được học Chánh Pháp, quý báu vô cùng, hi hữu, hiếm có khó gặp ở trên đời. Đây là những lời dạy nguyên chất của Đức Phật hơn 2500 năm không phải dễ được học. Mỗi một buổi dạy của Minh Thành là đầy tâm huyết, nhiệt huyết vì Minh Thành luôn cho rằng mỗi một lần gặp nhau sau đó không biết có còn được gặp nhau nữa hay không, mỗi một buổi dạy như thế này là bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả trái tim để cúng dường Pháp cho các Thầy, các Cô, chúng ta phải trân trọng, phải thực hành, phải để tâm, nếu không sau này mình sẽ hối hận, không ai chỉ cho mình vậy đâu. Thời đại bây giờ không ai chỉ cho mình như vậy.
Cho nên những vấn đề sâu sắc chúng ta phải tha thiết học hỏi, phải tha thiết trong ước muốn tăng thượng lớn mạnh, phải tha thiết ước muốn sắc bén, thì chúng ta mới tu tiến được, còn mình tu với cái tâm trơ trơ, như lục bình trôi lững lờ thì mình không có tiến được, bất cứ ngoài đời hay trong đạo, chúng ta phải có sự năng nổ, nhiệt huyết, nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, hướng thượng. Nếu với tâm thế một chiều thì không được vì Minh Thành muốn các vị tu học đến nơi đến chốn mà các vị không muốn thì làm sao có thể được. Hãy cố gắng lên, đời sống này vô thường lắm, tất cả chúng ta phải quán chiếu sâu sắc vì trong chúng ta ai cũng có thể bất thình lình ra đi bất cứ lúc nào đó là trí tuệ, nếu chúng ta cứ nghĩ rằng ngày nào cũng như ngày đó, tuần nào cũng như tuần đó, tháng nào cũng như tháng đó, năm nào cũng như năm đó thì chúng ta sống trong vô minh, trong si mê không thấy pháp sanh diệt, không thấy pháp vô thường, không thấy pháp biến hoại. Khi bất thình lình, đột ngột, đột biến, đột ngột, đột tử, tứ đột xuất hiện thì lúc đó chúng ta bàng hoàng, hụt hẫng, hoảng loạn, kinh hãi, thì chúng ta sầu, bi, khổ, ưu, não, con đường phía trước là rất thê thảm, tam đồ ác đạo. Chính vì vậy, chúng ta phải hết sức tha thiết, cẩn trọng, nỗ lực trong sự tu học./.