Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 24-7 TRÍ VỀ HÀNH

2026-03-18 06:50:22
Nikāya Tinh Hoa

TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 24

7 TRÍ VỀ HÀNH

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bảy Trí Tuệ Về Hành PAGEREF _Toc130031383 \h 1

1. Định Nghĩa Về Hành1

2. Tầm Quan Trọng Của Hành Trong Ngũ Uẩn1

3. Hành Sanh, Hành Diệt, Hành Diệt Đạo4

4. Vị Ngọt, Sự Nguy Hại, Sự Xuất Ly khỏi Hành10

II.Như Lý Tác Ý 14

Bảy Trí Tuệ Về Hành

Chúng ta sẽ tìm hiểu Bảy Trí Tuệ Về Hành. Đầu tiên chúng ta tìm hiểu về Sáu Hành, sau đó sẽ tìm hiểu Bảy Trí Về Hành.

Định nghĩa về Hành:

Những tư duy, suy nghĩ, nói thầm, nghĩ thầm trong tâm là Hành trong ngũ uẩn. Hành này là ý hành. Định nghĩa trong kinh Đáng Được Ăn: “Làm cho hiện hành hữu vi, nên gọi là hành. Làm cho hiện hành hữu vi gì? – Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành hữu vi nên gọi là hành”.

Câu kinh này có nghĩa là: Những tư duy, suy nghĩ đã làm cho sanh khởi, làm cho hiện hành ra sắc, thọ, tưởng, hành, thức với bản tánh là duyên sanh, là vô thường, hoại diệt. Hữu là có, vi là thấy. Hữu vi là những pháp có thể thấy biết và có thể trình bày rõ sự sanh khởi, sự an trú và sự hoại diệt của chúng. Khi nói pháp hữu vi là nói về năm uẩn. Ngũ uẩn là những pháp có thể thấy biết và có thể trình bày rõ sự sanh khởi, sự an trú và sự hoại diệt của nó.

Tầm quan trọng của Hành trong Ngũ uẩn

Những điều này rất quan trọng, nếu chúng ta không nắm vững những điều này thì chúng ta sẽ tu mù, tu trong vô minh, tu trong sự không thấy, không biết. Trong bài kinh Tất Cả Lậu Hoặc dạy 7 cách đoạn trừ phiền não Đức Phật nói rằng: “Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy”. Một người không thấy không biết về Ngũ uẩn không có cách nào mà đoạn tận các lậu hoặc, không làm sao mà đoạn được vô minh.

Ví như một người bị mù thì người đó có thể lau dọn nhà được không? Biết chỗ nào dơ, chỗ nào sạch không?

Khi mình không nhận diện được năm uẩn là mình giống như người mù đó, mù trong chính căn nhà nội tâm của mình thì làm sao mình biết được chỗ nào là chỗ mình cần thấy rác, cần quét, cần lau, cần dọn. Cho nên cần phải nhận diện từng loại trí tuệ ở trong năm uẩn là tuyệt đối quan trọng nếu mình không học trí về ngũ uẩn thì đường tu của mình không thể đi đến nơi đến chốn được, mình không thể chạm tới rác ở trong tâm được, mù làm sao mà chạm tới rác, chỉ có quờ quạng, mò mẫm giỏi thì chụp được vì mù làm sao mà thấy được chính xác rác ở chỗ nào, mình đâu có thể thấy được trạng thái cấu nhiễm, rác bẩn, mức độ dơ ở trong căn nhà nội tâm của mình nếu mình không sáng con mắt. Mình cũng không thể bật đèn sáng vì không nhìn thấy công tắc ở đâu, nếu có bật được đèn lên thì cũng không thấy được gì vì có mắt đâu mà thấy, có đèn cũng như không. Đức Thế Tôn nói: “Như người đem đèn sáng vào trong bóng tối để những người có mắt có thể thấy sắc” tức là Ngài đem ánh sáng vào trong bóng tối là đưa ánh sáng trí tuệ mở ra, đưa ra cho người thấy, nhưng phải là người có mắt mới nhìn thấy được, là người chịu nghe, chịu thực tập, chịu tu theo lời dạy của Ngài thì người đó mới thấy được, nếu Ngài nói mà không chịu nghe thì như người mù dù cho có ánh sáng cũng không thể thấy được, mặt trời thì rực sáng nhưng người mù thì đâu có nhìn thấy. Đây là những trí tuệ mở mắt sáng cho chúng ta, năm uẩn này, 35 loại trí tuệ về năm uẩn này là mở mắt cho chúng ta để chúng ta nhìn thấy bằng Thánh trí, bằng tuệ giác, mình nương dựa vào tri kiến của bậc Thánh để mình nhìn vào thân tâm của mình, nếu tự mình nhìn thì sẽ nhìn bằng cái nhìn phàm tình, bằng vô minh, bằng si mê, bằng sự chấp ngã, bằng dục, tham, ái vậy thì làm sao mình nhìn thấy được sự thật. Chẳng hạn như nhà quê thấy cứt dê nói thuốc tễ, thấy mấy cục cứt dê tưởng thuốc tễ, đứng xa xa nhìn bông hoa tưởng thật lại gần là đồ nhựa, đồ giả. Tại vì kiến thức không rộng, không sâu, không được học hỏi, không được trải nghiệm thì nhìn sai hết, cũng vậy nếu như mình không học, mình không đa văn Thánh Đệ tử, vô văn phàm phu thì mình sẽ nhìn vào thân tâm của mình là một đống bùi nhùi, là một đống tơ vò, là một đống xà bần, nhìn vào sẽ không nhìn thấy gì. Cho nên gọi trình pháp sẽ không biết gì để trình. Không học, không thực tập, không nhận diện, không quán chiếu thì khi gọi trình pháp sẽ không biết đường để trình.

Đức Phật đã trình bày cho chúng ta thấy được Hành Uẩn là những tư duy, suy nghĩ, nói thầm, nghĩ thầm trong tâm. Là những lầm thầm trong tâm mình, mỗi khi mình suy nghĩ nhìn thấy nó lầm thầm trong tâm thì mình có xác định đây là Hành không? Mình có nghĩ là hành không hay là tôi đang nghĩ, suy nghĩ này là tôi, suy nghĩ này là của tôi.

Sư Phụ hỏi:

Một ngày suy nghĩ khởi lên lúc đó bao nhiêu lần mình coi đây là hành uẩn? Bao nhiêu lần mình coi đây là pháp duyên sanh? Mình coi đây chỉ là những lời nói lầm thầm trong tâm không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi nó là pháp duyên sanh, vô thường, bao nhiêu lần mình thấy được vậy? Mình nghĩ được vậy? Hay nó khởi lên thì tôi nghĩ, suy nghĩ này là của tôi. Bao nhiêu lần mình nói nó không phải là của tôi? Nó chỉ là hành uẩn thôi? Bao nhiêu lần? Ví dụ 10 suy nghĩ khởi lên thì bao nhiêu lần mình thấy suy nghĩ đó là hành uẩn?

Tăng sinh trả lời: Dạ Mô Phật! Kính bạch trên Thầy Giáo Thọ, con ở trú xứ chùa Phật Đà cũng hay ngồi thiền, khi ngồi thiền cũng thấy suy nghĩ khởi lên nhiều con không đếm, mà biết nó nghĩ hết cái này đến cái kia, nhớ cái nọ, muốn dừng những dòng suy nghĩ đó mà nó cứ khởi lên hoài.

Sư Phụ hỏi: Câu hỏi ở đây là bao nhiêu lần những suy nghĩ đó là hành uẩn mà mình không đồng hóa với nó? Khoảng chừng bao nhiêu phần trăm?

Tăng sinh trả lời: Con biết suy nghĩ đó là hành uẩn khoảng 30-40%.

Khi mình nhận diện được những lời nói lầm thầm, những suy nghĩ trong tâm đó là trí nhận diện năm uẩn của mình. Nó khởi lên thì nghĩ là tôi nghĩ, suy nghĩ này là của tôi rồi mình tin vào đó một cách chắc chắn rằng đó là mình, mình nghĩ, suy nghĩ của mình ở trong suy nghĩ đó, suy nghĩ đó là mình, mình là suy nghĩ đó, những suy nghĩ đó là vô minh, là không thấy được hành uẩn, cho nên nó nghĩ là mình đi theo nó.

Hành Sanh, Hành Diệt, Hành Diệt Đạo

+ Hành sanh:

Suy nghĩ này có 6 loại, 6 nhóm, 6 khía cạnh.

Từ khác của Hành tức là Tư:

- Suy nghĩ về người, cảnh vật, về tứ đại đó là sắc suy nghĩ về Sắc tư.

- Suy nghĩ về lời nói, âm thanh, tiếng động, tiếng ồn đó được gọi là Thanh tư.

- Suy nghĩ về mùi thơm, mùi hôi đó là Hương tư

- Suy nghĩ về vị mặn, ngọt đó là Vị tư.

- Suy nghĩ, suy tư về sự tiếp xúc, sự đụng chạm, sự xúc chạm giữa thân người, vật, tứ đại bên ngoài đó là Xúc tư.

- Suy nghĩ, suy tư về thọ, tưởng, hành trong tâm đó gọi là Pháp tư.

Đây là 6 sự tư duy, 6 sự suy nghĩ tức là 6 hành. Nhưng thường thì gọi là tư khi chia làm 6 thì ta gọi là: Sắc tư, Thanh tư, Hương tư, Vị tư, Xúc tư, Pháp tư. Cho nên khi mình suy nghĩ, mình đồng hóa nên không biết đâu là Sắc tư, Thanh tư, Hương tư, Vị tư, Xúc tư, Pháp tư, khi mình nghĩ thì cuốn vào những suy nghĩ đó làm một cục chứ không phân ra được làm sáu, khi mình có trí tuệ mình mới phân định được từng nhóm, từng loại giống như mình phân loại rác. Chúng ta có biết phân loại rác không? Trong tâm của mình cũng có từng loại rác, loại suy nghĩ. Suy nghĩ về hình sắc, suy nghĩ về những âm thanh, suy nghĩ về mùi, suy nghĩ về vị, suy nghĩ về sự tiếp xúc, đụng chạm, gặp gỡ, suy nghĩ về những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và những suy nghĩ trong tâm (suy nghĩ những cái mình đã suy nghĩ) đó là Pháp tư. Ngồi thiền 100 hay 1000 năm cũng chưa biết về trí tuệ này chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới chỉ ra được điều này. Chỉ có Đức Phật mới chỉ được trí tuệ này và không có người thứ hai.

- Có người hỏi có bao nhiêu loại suy nghĩ mình đã biết chưa?

- Có 6 loại suy nghĩ: Sắc tư, Thanh tư, Hương tư, Vị tư, Xúc tư, Pháp tư.

Có bao nhiêu loại tưởng mình biết chưa?

- Có 6 loại Tưởng: Sắc tưởng, Thanh tưởng, Hương tưởng, Vị tưởng, Xúc tưởng, Pháp tưởng.

Đây là tâm lý học tối thượng của Phật giáo nguyên chất không có một môn học nào mà chỉ đầy đủ, rành mạch, tận tường, tinh vi, thiện xảo, viên mãn như Thánh trí học tối thượng này.

Ví dụ: Bây giờ chúng ta ngồi ngay giảng đường này và nghĩ về chùa của mình đó là Sắc tư, rồi mình nhớ tiếng chuông chùa là Thanh tư, mình nhớ lại những mùi trong cầu tiêu phải nhớ cái mùi đó gọi là Hương tư, nhớ mùi đó để quán bất tịnh, quên mùi đó là nguy hiểm đến với mình. Phải thường nhớ những thứ nhơ nhớp, tanh hôi ở trong thân này. Chúng ta thấy không, mình toàn kể những mùi ngon lành, hấp dẫn, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn như vậy là mình thường sống trong vị ngọt, nói lên là biết tâm đang nghĩ gì. Học ngũ uẩn đặc biệt vậy đó, còn khi mình quán về mùi phân, nước tiểu những mùi hôi dơ trong đường cống, trong ống cống mưa nó ngập lên thì đó là mình quán sự nguy hại của các hành, sự bất tịnh, sự hôi dơ, để mình đưa đến sự nhàm chán, ly tham đối với các pháp. Còn khi mình chỉ nghĩ đến những mùi mà mình khoái, thích, ham, dục, ái, tham, mình nhớ tới những mùi bất tịnh tức là mình ly tham.

Câu Làm cho hiện hành pháp hữu vi nên gọi là hành này rất quan trọng

Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh

Làm cho hiện hành thọ với thọ tánh

Làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh

Làm cho hiện hành các hành với hành tánh

Làm cho hiện hành thức với thức tánh.

Những điều này nói lên điều gì? Tức là nhờ những suy nghĩ này mà các pháp nó mới được biểu lộ ra cái tự thân của nó và tính chất của nó.

Ví dụ: Bây giờ mình nhìn hoa cúc, hoa cúc sớm tàn hay chậm tàn? Sẽ sớm tàn thôi thì những suy nghĩ này nó làm cho hiện hành sắc với sắc tánh. Bản chất của hoa cúc là mau tàn, tự thân của nó và tính chất của nó. Có phải suy nghĩ làm cho nó hiện hành lên không? Nếu mình không suy nghĩ thì làm sao nó hiện lên hoa cúc? Sao mình biết nó là mau tàn? Suy nghĩ này rất quan trọng: Tất cả các pháp lấy tác ý làm sanh khởi, tức là tất cả đất trời, sum la vạn tượng, địa cầu, thế giới, vũ trụ đều do suy nghĩ (tác ý) làm cho hiện khởi, sanh khởi các pháp, nếu suy nghĩ không có thì các pháp không sanh khởi.

Chính vì vậy, tại sao mình nhìn Thầy này là Thầy A, nhìn cô này biết cô này là cô C? Suy nghĩ của mình có sanh khởi không? Nó có nói không? Khi mình suy nghĩ thì nó có cái tên của người đó, rồi mình nhớ được tính tình của người đó, mình nhìn sâu vào nữa có vô thường không? Có duyên sanh không? Có tan hoại, biến hoại không? Đó là làm hiển lộ sắc với sắc tánh.

Khi mình đang đi bên ngoài hết sức là nóng, mình bước vào phòng có máy điều hòa thì mình sẽ có cảm giác dễ chịu, cảm giác dễ chịu này còn hoài không? Cảm giác này biến đổi, vô thường đây là thọ với thọ tánh. Tất cả là do suy tư của mình, do suy nghĩ của mình cho nên nó hiển lộ ra hết. Cái bàn này mình đang ngồi có phải là duyên sanh vô thường không? Đó là hiển lộ sắc với sắc tánh tính chất của nó là vô thường, biến đổi. Mình nhớ lại hồi nãy tôi đi học và ngồi hồi tưởng lại buổi học, bữa nay buổi học có rất nhiều ý nghĩa sâu sắc đó là hồi tưởng lại hình bóng buổi học hôm nay đó là tưởng và hình bóng này cũng chỉ là pháp duyên sanh không còn mãi, cái tưởng này nó biến đổi, vô thường. Ví như hồi sáng tôi có suy nghĩ về vấn đề này, hồi tối tôi ngồi tư duy, suy nghĩ vấn đề này, mình phải nên làm như vậy, vậy suy nghĩ đó là gì? Khi mình nói ra những điều đó thì hành hiện ra hành uẩn, nhưng tính chất của suy nghĩ đó luôn luôn đổi thay, luôn luôn vô thường, hiển lộ hành với hành tánh. Lúc nãy tôi đi ngang qua tôi nhìn thấy vườn thiền nó đẹp, tôi thấy vậy, tôi thấy ở đây là do nhãn thức nhận biết…(Thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết), mà mình biết được cái thấy đó là do duyên con mắt và các sắc sanh khởi lên nhãn thức, sự hội tụ của ba pháp này là nhãn xúc, do duyên có nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư, vì vậy thức này là duyên sanh nên nó là vô ngã, trống rỗng, nếu mình đi ngang đó mà không để ý thì cũng không thấy, nếu lúc đó có người đứng ở cửa chùa hay là cách cái vách họ nói chuyện họ có khen chê mình thì mình có nghe được không? Hay họ ở đâu ngoài Hà nội họ chửi mình vậy mình có nghe được không? Mình không nghe được thì mình đâu có sanh khởi thức, như vậy thức này sở dĩ mình thấy, mình biết được là do mình suy nghĩ thì thức mới hiển lộ là tôi thấy, tôi nghe, tôi cảm nhận, tôi biết và cái biết này là trống rỗng, là duyên sanh. Như vậy suy nghĩ đó từ trong ý hành pháp nó hiển lộ trong tâm mình, rồi trong ý hành này nó nói ra hiển lộ pháp ra bên ngoài cho người ta biết, trong thân hành này nó hiển lộ thì nó tạo ra nghiệp thiện hoặc là bất thiện ba hành; thân hành, khẩu hành, ý hành. Khi mình suy nghĩ trong tâm thì chỉ có mình biết, mình gặp một người nào đó trong ý hành khởi lên người này dễ thương quá, dễ mến, như vậy pháp này có hiển lộ không? Cái gì dễ thương? Sắc pháp dễ thương, ở trong tâm mình thấy có tham, có ái, có dục không? Mình biết các pháp nó hiển lộ. Thọ có không? Hình bóng của người dễ thương có ám ảnh trong tâm không? Hình bóng đó là tưởng. Suy nghĩ hoặc là mê hoặc là tỉnh, nếu mà mê thì đi theo cái dễ thương đó, đi theo dục, tham, ái đó, nếu mình tỉnh thì những điều này là không được, cái này phải từ bỏ, rời xa, phải thoát ra, tâm mình không được dính mắc với những điều này, như vậy dính hay tháo gỡ ra ở trong tâm của mình, từ trong hành nó hiển lộ ra. Trong tâm ý của mình các pháp nó hiển lộ, là hành làm cho hiện khởi sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh. Như vậy hành này rất quan trọng, cực kỳ quan trọng, mình không biết gì về hành làm sao mình tu hành, làm sao mình tu, mình đọc được ý hành của mình thì sẽ biết được trong ý hành này có dục, có tham, có ái, có sân, có bản ngã, có vô minh hay bên này nó có giới, định, tuệ, có sự từ bỏ, có sự thấy khổ và sự đoạn diệt nguyên nhân của khổ, trong ý hành hiện lộ hết. Cho nên khi mình có pháp từ ở trong ý hành thì khẩu hành nó nói ra, nếu trong ý hành không có pháp thì khẩu hành làm sao nó nói được, thân hành làm sao nó thể hiện pháp đó được.

Làm cho hiện hành pháp hữu vi cho nên gọi là hành, làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, những cảm giác, những hình bóng trong tâm, nó làm cho hiện hành, biểu hiện, biểu lộ ra những suy nghĩ, những nhận thức thì đó là hành. Chữ hành trong kinh Nikāya rộng lớn, thâm sâu là bao trùm hết tất cả. Chữ hành mà Đức Phật nói trong lời di huấn cuối cùng: “Các hành là vô thường, các ông hãy tinh lên để tự giải thoát” chữ hành đó là chỉ cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức, tất cả sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ở đây chữ hành này mình hiểu rộng thì nó cũng như vậy, nó làm cho biểu lộ, biểu hiện ra sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, bản chất, tính chất của sắc, thọ, tưởng, hành, thức từ nơi suy nghĩ của mình. Chúng ta thấy phạm trù vĩ đại, rộng lớn của hành uẩn không? Cho nên mình tu mà không biết gì về hành, không biết về ý hành, không biết về hành uẩn, không biết vận dụng ý hành này để mình tu thì mình tu chừng nào mới tới. Sự tu của mình phần lớn là sử dụng ý hành này để tu.

Sư Phụ hỏi: Tại sao mình có ý hành này sanh khởi? Tại sao mình có suy nghĩ sanh khởi?

Tăng Sinh trả lời:

- Do xúc tập khởi nên hành tập khởi.

Ví dụ: Hiện giờ mắt con thấy hình bóng của Thầy, Thầy đang ngồi trên Pháp tòa và nhãn căn nhận thức của con là Thầy đang dạy cái gì.

Sư Phụ hỏi: Trong Ngũ uẩn cái gì suy nghĩ?

Tăng Sinh trả lời:

Dạ đó là hành. Hành của ngũ uẩn con đang suy nghĩ về Thầy và khi con suy nghĩ về Thầy thì trong tâm của con nó sẽ có những hình bóng Thầy đang dạy môn Pháp Hành Nikāya. Thầy đã đem lời dạy trong kinh điển của Đức Phật cộng thêm sự tu tập và thực hành của Thầy, Thầy đã truyền dạy cho chúng con. Mỗi ngày Thầy lên lớp truyền đạt, tiếp lửa cho chúng con, từ những hình bóng, suy nghĩ về Thầy ngay lúc đó hành của con nghĩ về Thầy, chúng con nương theo tu tập những gì Thầy truyền đạt.

Do mình tiếp xúc cho nên mình mới có suy nghĩ, nếu không tiếp xúc thì không có suy nghĩ. Ví dụ mình nhìn thấy cái chuông mình mới nghĩ về cái chuông, nếu mình không nhìn thấy thì làm sao mình nghĩ về cái chuông. Mình có đến chùa Hòa Khánh rồi thì mình mới nghĩ tới chùa Hòa Khánh. Mình tiếp xúc là có sáu xúc đó là thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, biết. Khi mình tiếp xúc mình mới có sự suy nghĩ. Mình có nghĩ về ai mà mình chưa từng thấy, chưa từng biết trực tiếp hay gián tiếp có được không? Không được. Tại sao có suy nghĩ? Do xúc tập khởi nên Thọ, Tưởng, Hành tập khởi, không có xúc thì không có cảm giác, hình bóng, suy nghĩ. Chỉ có Đức Phật mới trình bày một cách chân thật, chính xác nhất. Do tiếp xúc mà có suy nghĩ, do tiếp xúc mà có hình bóng trong tâm, do tiếp xúc mà có cảm xúc, cảm giác. Cho nên chữ cảm xúc là tiếp xúc sanh ra cảm giác, cảm thọ hay còn được gọi là xúc cảm.

+ Hành diệt:

- Do xúc đoạn diệt nên hành đoạn diệt

Không còn tiếp xúc nữa thì suy nghĩ sẽ không còn suy nghĩ về một điều nào nữa. Làm sao để chấm dứt những sự suy nghĩ chúng ta phải thực hành Tám đúng của bậc Thánh, là phải thấy biết đúng về suy nghĩ, nghĩ đúng về suy nghĩ, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng về suy nghĩ, tất cả những điều này đều dùng Bát Chánh Đạo để tổng phá Ngũ uẩn là phải thấy đúng, tức là mình học 7 trí về Hành, khi mình nhìn về hành thì mình nương theo Thánh trí của Đức Phật để mình nhìn thì cái nhìn đó mới đúng, còn tự mình nói, tự mình nghĩ thì mình toàn nghĩ trong vô minh, tham ái, trong nghiệp, nghĩ theo trong dục, nghĩ theo trong bản ngã. Chính vì vậy khi đã học kinh Nikāya sẽ không học gì khác nữa, tại vì những điều khác ngoài Đức Phật đều là phàm phu. Học Nikāya là chỉ học duy nhất lời Đức Phật dạy ngay cả Luận cũng không học nữa. Luận mà ai là người luận? Có phải là bậc Thánh quả luận không? Nếu mà phàm Tăng luận thì luận trong Ngũ uẩn, luận trong bản ngã, luận ở trong tư kiến, kiến chấp, chỉ có bậc chứng ngộ thì mới là cứu cánh. Cho nên đặc biệt khi học tạng kinh Nikāya là không cần tìm bất kỳ một điều gì khác, cứu cánh cùng cực đó là điều đặc biệt.

4. Vị Ngọt, Sự Nguy Hại, Sự Xuất Ly khỏi Hành.

+ Vị ngọt của Hành:

- Do duyên Hành khởi lên lạc hỷ gì lạc hỷ này là vị ngọt của Hành.

Do mình suy nghĩ nó khởi lên sự khoan khoái, thích thú, vui sướng trong suy nghĩ đó thì sự vui sướng, khoan khoái, thích thú trong suy nghĩ đó là vị ngọt của suy nghĩ.

Chúng ta có bị nhiều vị ngọt này không? Rất nhiều và mình không thoát ra được những suy nghĩ đó vì mình dục trong suy nghĩ, mình ái trong suy nghĩ, mình tham trong suy nghĩ mà mình không biết, mình yêu suy nghĩ của mình, khoái suy nghĩ của mình, thích suy nghĩ của mình mà mình cho suy nghĩ này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, mình nắm giữ trong suy nghĩ đó gọi là hành thủ uẩn. Tâm này nó luôn luôn nắm chặt những suy nghĩ đó nó cho những suy nghĩ đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Tôi ở trong suy nghĩ đó, suy nghĩ đó ở trong tôi như vậy là mình đau khổ hoài trong những suy nghĩ đó, mà không biết suy nghĩ đó là pháp duyên sanh do tiếp xúc nên mới có suy nghĩ. Chẳng hạn mình tiếp xúc với một người tự nhiên mình bực bội, sân si thì mình phải hỏi tâm mê này: “Trước khi mày nhìn thấy người ta, trước khi tiếp xúc mày có sân không? Sao tự nhiên giờ mày sân lên? Tại sao ách giữa đàng mày mang vào cổ vậy? Tâm mê này hãy buông xả đi hãy coi như chưa thấy, chưa gặp bao giờ đi nhé tâm mê, hãy từ bỏ cảm thọ này đi, từ bỏ suy nghĩ này đi, từ bỏ những hình bóng này đi, tiếp xúc làm gì để mà sân si, tiếp xúc làm gì để mà hơn thua, ganh tỵ, tật đố, phiền não, diệt tận suy nghĩ này đi, lấy cái chổi chà quét cái suy nghĩ này ra khỏi căn nhà nội tâm của mình, những suy nghĩ này hãy tan biến thành hư không, thành mây, thành khói, thành cát bụi, hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, đừng có trong này lảng vảng lầm thầm, hãy im hoàn toàn, tan biến hoàn toàn, chấm dứt hoàn toàn”. Mình phải tác ý đánh đuổi những suy nghĩ ác bất thiện pháp sân si ra khỏi nội tâm của mình là suy nghĩ nó biến mất. Mình phải làm cho nó không còn có thể hoàn toàn sanh khởi trong tương lai. Đó là hành diệt đạo, dùng như lý tác ý, dùng suy nghĩ dẹp suy nghĩ, dùng hành diệt hành, dùng suy nghĩ của trí tuệ mà đánh phá những suy nghĩ si mê, vô minh, dùng suy nghĩ ly dục mà đạp đổ suy nghĩ của dục, dùng suy nghĩ của từ bi, ly sân để đả phá những suy nghĩ sân hận, dùng suy nghĩ của vô ngã, của sự khiêm cung, diệt ngã để mình đạp đổ bản ngã, cao ngất, vênh váo, hống hách của mình, dùng suy nghĩ vô ngã diệt suy nghĩ bản ngã đó là pháp tu tối thượng trong Thánh trí ngũ uẩn Nikāya, dùng suy nghĩ diệt suy nghĩ. Tu theo tạng kinh Nikāya rất sâu sắc, rất thực tế, rất cụ thể, rất rõ ràng, chúng ta vận dụng trong tu tập sẽ thấy.

Ví dụ có một buổi lễ nhiều món ăn ngon mà làm rất nhiều nghi lễ rất lâu trong khi mình thì đói bụng thì bên trong có sự thúc dục, nó muốn ăn, bực bội, khó chịu, mà người chủ lễ thì nói dài lúc này mình có pháp thì mình sẽ rầy la cái tâm thúc dục muốn ăn: “Ngươi đã ăn vô lượng, vô số, vô biên kiếp, ăn mấy chục năm nay rồi chưa no hả? Sao đói hoài, khát hoài, tham hoài vậy, thèm gì mà thèm hoài vậy? Cảm thọ này hãy an tịnh, lắng dịu, dễ chịu đi. Ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, ta không cho mi ăn”. Mình la rầy cái tâm thì tự khắc nó sợ, cảm thọ thúc dục, thèm khát nó sợ, nó sẽ như con mèo ngoan ngoãn nằm im. Mình dùng suy nghĩ ly dục nhiếp phục tham để mình diệt suy nghĩ của dục tham. Đó là như lý tác ý, rầy la tâm, quở trách tâm, mắng tâm, chửi tâm, đó là tuệ lực, tinh tấn lực, là chánh tư duy, là Thánh tư duy, mình phải nỗ lực thật nhiều vì tâm nó chống đối, tâm nó sẽ nói là tu gì mà khó vậy khi mình tu mình mới thấy sự chống đối dữ dội trong tâm. Mình phải diệt tâm chống đối trước, sau đó mới tu được, đó là suy nghĩ của bậc Thánh, suy nghĩ của trí tuệ, đó là hùng lực, tuệ lực, hung hãn lực, mãnh hổ lực, tượng vương lực, sư chúa lực, một sức mạnh để mình nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch, đoạn tận, quét hết tất cả những suy nghĩ dục, tham, ái, vô minh và bản ngã ra khỏi căn nhà nội tâm của mình bằng một suy nghĩ mạnh mẽ đó là Chánh tư duy, Thánh tư duy, nghĩ đúng. Dùng hành diệt hành, dùng suy nghĩ diệt suy nghĩ chúng ta phải tu quyết liệt như vậy thì làm sao mà không thành công, đánh phá mọi mặt. Tu phải diệt tận gốc rễ những dục, tham ái, sân si, vô minh, bản ngã không cho sanh khởi trong tương lai. Đức Phật có nêu lên ví dụ chặt cây mé cành, đào bới gốc rễ, chặt nó ra từng mảnh, từng miếng sau đó đốt thành tro bụi đổ xuống sông xuống biển, hoặc cho gió mười phương tám hướng thổi bay vào hư không, cho nó không còn một chút xíu nào nữa, như vậy cái cây làm sao nó sanh trở lại trong tương lai. Cũng vậy, Đức Phật nói mình diệt những Thọ, Tưởng, Hành, Thức những vô minh, dục, ái cũng phải đánh phá tới mức nó không còn một chút gì dư tàn, xót lại, không bao giờ có thể sanh khởi trở lại trong tương lai được nữa như vậy mới đạt được tâm hoàn toàn thanh tịnh diệt hết tất cả lậu hoặc, vô minh, tham ái, chấp thủ, tâm bất động giải thoát của bậc Thánh cứu cánh phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, đó là sự tu nguyên chất của Đức Phật dạy.

+ Sự Nguy Hại của Hành: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Hành, đó là sự nguy hại của Hành.

Tham, sân, si là có thật nó đang xâm chiếm, áp đảo, nó đang hành hạ mình, nó đang đè đầu cưỡi cổ mình, mình phải vùng lên, mình phản công, mình phải lật đổ đánh đổ, diệt tận nó một cách hoàn toàn nó là kẻ thù muôn thuở vô lượng, vô biên kiếp của mình, dấu mặt, ẩn dấu ngàn năm trong tâm của mình, mình phải dùng nhận diện ngũ uẩn để có thể nhìn ra được nó, nhìn ra hang ổ sào huyệt của nó ở trong những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ lời nói lầm thầm mình mới có thể quét sạch đó là cả một công trình tu tập. Phải biết tất cả những suy nghĩ này là vô thường, khổ chịu sự biến hoại.

+ Sự Xuất ly của Hành: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận của dục và tham đối với các Hành. Đây là sự xuất ly khỏi Hành.

Đây là Thánh trí tuệ của Đức Phật, nhiếp phục lòng ham muốn, yêu thích, không cho nó ham, không cho nó khoái những suy nghĩ, từ bỏ những ham, thích, khoái ở trong suy nghĩ đó để mình thoát khỏi những suy nghĩ đó, mình sẽ đi đến chỗ hoàn tất cả các hành an tịnh, lắng dịu không còn suy nghĩ nữa, muốn nghĩ nó mới nghĩ, không cho nó nghĩ là nó không nghĩ, cho nó nghĩ nó mới nghĩ, hoàn toàn làm chủ thân tâm ngũ uẩn của mình đó là sự thành tựu của bậc Thánh. Cho nên các Ngài đã đạt tới cứu cánh, tâm của các Ngài bất động, khi nào có duyên tới thì các Ngài làm mà làm thì không có dục tham, không có dự án này nọ, không có tính độ chúng sanh, chúng sanh nào khổ tới có duyên, lúc đó Ngài thấy thì Ngài độ chứ các Ngài không tính bữa nay đi độ ai. Tâm hoàn toàn bất động theo duyên nếu chúng sanh gặp được là được lợi ích. Giống như ánh sáng mặt trời vô tư chiếu cùng khắp hết ai ở trong đó sẽ được ánh sáng chứ mặt trời không có ý chiếu vào người này mà không chiếu vào người kia điều này là hoàn toàn không có, ai gặp thì có lợi ích là được soi sáng, là được quang minh.

Như Lý Tác Ý

Sự Như lý Tác Ý rất quan trọng, chúng ta ngồi một mình phải tự tác động tâm ý như vậy, phải dạy tâm mình thường xuyên nhất là những lúc nó mê, nó ngoan cố, nó cứng đầu. Có phải lúc nào mình nói cái tâm nó cũng chịu nghe không? Nó không chịu nghe, thì mình phải gõ cái đầu nó, phải ký vào cái đầu nó, phải chẻ cái đầu nó ra: “Tao chẻ cái đầu ngu của mày ra nghe tâm! Mày vô minh vừa vừa thôi nha”. Mình luôn tác ý, dạy dỗ, giáo dục, huấn luyện, tư duy, thiền quán, tác động tâm ý, như lý tác ý, dần dần sẽ phá được cái tâm mê, cái tâm vô minh, tâm chấp thủ, như là một cái tay nắm nó sẽ mở ra từ từ, nó mở ra để nhìn thấy ngũ uẩn cuối cùng nó chuyển hướng và nó buông xả, thoát ra. Còn một người vô minh, vô văn phàm phu trạng thái của tâm lúc nào cũng nắm chắc, nắm cứng, nắm giữ, chấp thủ, đụng vào là biết mặt, chạm tới là nó sừng sộ, phẫn nộ, sân hận, nó phực lên, nó cháy lên, Đức Phật ví dụ tâm của chúng sanh như là vết thương đụng vào là giật bắn người, la lối om sòm đó là tâm vết thương, tâm ung nhọt, chạm vào giật bắn người lên la hét: “Đừng ai đụng tới tôi, đụng tới tôi là không được, đụng tới tôi là có chuyện”, đó là tâm của chúng sanh, tâm của phàm phu, tâm hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn, hung tợn, hung hãn, tâm không có hiền thiện, tâm đầy gai góc, đầy gươm giáo, đầy những sát khí, vũ khí, tâm đó là đau khổ, tâm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chúng ta phải tu tập tâm hiền lành, hiền thiện, hiền hòa, tâm hiền lương, hiền hậu, hiền lành, hiền đức, hiền từ, hiền nhân, hiền trí, tiếp tục tiến lên tương ưng với tâm của các bậc Hiền Thánh đó là tâm của người tu, mình phải huấn luyện những cảm thọ của mình, hình bóng trong tâm của mình lúc nào mà mình nhớ về mình thì một hình bóng chắp tay cúi đầu, khi nào mà mình nhớ về mình thì lập tức trong người mình hình bóng của mình là một cái đầu trọc, cái tay chắp cúi sâu xuống và sau đó mình tiếp tục quán chiếu, mình nói về mình thì lập tức quỳ mọp cái đầu xuống, cúi cái đầu thật là thấp xuống mà làm học trò, làm con của tất cả chúng sanh. Rốt ráo của người tu là tâm bất động giải thoát không còn bất cứ một chút dục, tham, ái nào đối với Ngũ uẩn, không có gì làm cho mình dao động được./.