Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tổng Quát Pháp Hành Kinh Tạng NIKAYA

2026-03-18 06:50:22
TỔNG QUÁT PHÁP HÀNH KINH TẠNG NIKĀYA

–Thích Minh Thành–

Kính thưa tất cả Tăng Ni sinh, theo chương trình thì hôm nay là buổi cuối nên Minh Thành cố gắng chuyền tải những trí tuệ pháp nghĩa trọng yếu của phần tổng quát về pháp hành kinh tạng Nikāya. Trong buổi ngắn ngủi này Minh Thành xin nói tổng quát để chúng ta nắm vững được tinh thần của pháp thực hành trong kinh tạng.

Đầu tiên là nguyên nhân để chúng ta thấy tại sao có mặt thân xác này, tại sao có mặt tâm thức này, có mặt đời sống cứ sanh ra rồi chết, sau đó là tham muốn, nóng giận, si mê, vô minh, bản ngã, sống trong lo lắng, bất an, buồn đau và sầu khổ. Chúng ta nghe Đức Phật nói lên nguyên nhân trong Tương Ưng Vô Thỉ.

"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)

Vô thỉ là không thể nói được điểm bắt đầu, không thể nêu rõ được điểm khởi đầu của vòng sống chết, sầu, bi, ưu, não này.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêm-phù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: 'Ðây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi'. Và không thể cùng tận, này các Tỳ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêm-phù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt.

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.

 Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)

Tại sao lại có sự luẩn quẩn, loanh quanh, lòng vòng, quay đi lộn lại sống chết mãi như vậy? Là do chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, chúng ta có những từ "vô minh, tham ái, chấp thủ" là những từ rất quan trọng. Trước nay chúng ta thường nghe nói đến vô minh nhưng vô minh là như thế nào? Có khi giải thích vô minh là không sáng suốt nhưng vấn đề ở đây phải nắm vững được vô minh nghĩa là không thấy, không biết, không hiểu, nhưng không thấy, không biết, không hiểu đối với cái gì mới được, chỉ có kinh Nikāya giải mã cho chúng ta, nếu nói chung chung sẽ rất trừu tượng.

Vô minh là không sáng, không thấy, không hiểu, không biết, không rõ, từ chỗ không sáng, không thấy, không hiểu, không biết, không rõ đó cho nên mình yêu thích, tức là tham ái, từ chỗ yêu thích mới có nắm giữ. Vấn đề ở đây là không sáng, không thấy, không hiểu, không biết, không rõ đối với cái gì? Phải làm sáng tỏ vấn đề này, không sáng, không thấy, không hiểu, không biết, không rõ đối với thân tâm chúng ta, đối với những cái gì cấu tạo thành thân thể, hình hài này, vô minh đối với nội tâm, nội tâm gồm cái gì, đặc tính như thế nào, vận hành ra sao, hoạt động như thế nào, cấu trúc, bộ máy ra sao, guồng máy sanh khởi và chấm dứt đều không thấy không biết, đó là vô minh đối với thân và tâm và cũng là vô minh đối với ngũ uẩn.

Như vậy là vô minh đối với ngũ uẩn, mình biết rõ phạm vi của vô minh, thấy rõ vô minh đối với cái gì, tại sao vô minh, vô minh như thế nào, vô minh sanh khởi ra sao, vô minh chấm dứt như thế nào và con đường để chấm dứt vô minh đều cần phải thấy, phải biết, phải thông đạt, phải thấu triệt, phải Chánh Đẳng Chánh Giác về nó, còn nói chung chung thì mãi mãi mình không thấy không biết gì về nó thì đến khi nào mới nhiếp phục và đoạn tận phá vỡ được vô minh. Từ chỗ không thấy, không biết, không hiểu, không rõ năm uẩn, tức là thân tâm cho nên không biết tính chất biến đổi và hoại diệt, không biết tính chất đau khổ và bất an, tan rã và bại hoại, không biết tính chất tiêu vong và diệt tận cho nên mình tưởng tượng nó như vậy hoài, là tốt đẹp, là bền chắc, là tôi, là tự ngã của tôi nên mình yêu thích, thế là tham ái sanh khởi.

Đối với tham ái này mình không biết tại sao có tham ái, không biết làm sao để tham ái chấm dứt và mình cũng không biết phương pháp, cách thức, đạo lộ, con đường để chấm dứt tham ái, thế là lại chồng thêm một lớp vô minh nữa, tức là không biết không thấy tham ái, tức là vô minh kia chồng thêm vô minh này. Bất cứ cái gì mà mình đã tham thích, khoan khoái, đam mê thì mình phải nắm giữ (chấp thủ), sau khi chấp thủ sẽ có hiện hữu, cho nên mới có năm thủ uẩn. Thủ là sự nắm giữ trong năm tổ hợp sắc; thọ; tưởng; hành; thức, đây cũng chính là thân và tâm của chúng ta, đây chính là cốt lõi của kinh Nikāya, từ chỗ không hiểu, không thấy, không biết, lầm tưởng nó là thường còn, là bền đẹp, là chắc nên yêu thích, có yêu thích nên có nắm giữ năm tổ hợp gọi là năm thủ uẩn.

Trong kinh ghi sự sanh ra đời là khổ đau, sự già nua là khổ đau, sự bệnh hoạn là khổ đau, sự tử vong chết chóc là sầu bi, sự yêu thương mà chia lìa là nước mắt đau khổ, sự oán ghét mà phải gặp gỡ là tức giận, sân hận, sự mong cầu mà không đạt được là ưu não, là buồn đau, đó là bảy cái đầu nhưng cuối cùng Đức Phật nói tóm lại năm thủ uẩn là khổ đau, đây là con mắt của toàn bộ tạng kinh Nikāya.

"Và này chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, (bệnh là khổ), chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ; cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.

Này chư Hiền, như thế nào là tóm lại, năm thủ uẩn là khổ? Như sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này chư Hiền, như vậy gọi là tóm lại, năm thủ uẩn là khổ". (Trung Bộ Kinh, 141. Kinh Phân biệt về Sự thật)

Tóm lại sự nắm chặt trong năm tổ hợp sắc chất, hình hài, nhận thức, suy tư và nhận thức là đại khổ uẩn, tức là một tổ hợp của khổ đau, nắm chặt vào năm tổ hợp này phải ra một đống khổ to lớn gọi là đại khổ uẩn. Giáo pháp của Đức Thế Tôn là phá vô minh, muốn phá sự không thấy không biết thì làm cho mình thấy biết, như vậy ngược với vô minh là minh, đối trị với tham ái là pháp ly tham, lìa ái. Trong tất cả các pháp, dù là pháp hữu vi hay vô vi thì pháp ly tham là pháp tối thượng trong tất cả các pháp.

"Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)

Đối với chấp thủ thì Thế Tôn dạy xả vô lượng tâm, xả ly, xuất ly, đoạn ly, như vậy minh là sự sáng tỏ đối với năm uẩn. Lìa tham, rời tham, không tham đối với năm uẩn, xuất ly là đi ra, thoát ra, giải thoát đối với năm uẩn, đó là lý do từ đầu đến cuối Minh Thành nhắc rất nhiều đến năm uẩn vì năm uẩn là bao trùm thân tâm và thế giới. Đó là tổng quát để chúng ta thấy được toàn cảnh giáo nghĩa Nikāya, phải hiểu tường tận, thấu đáo, minh đạt đối với năm uẩn, chỉ có minh mới phá vô minh, chỉ có hết dốt nát, mù tối, không thấy đường mới phá được yêu thích, si mê, hết yêu thích mới không nắm giữ.

Đầu tiên phải phá được tổ hợp (uẩn) sắc chất, sắc pháp. Tại sao phải dùng từ "tổ hợp"? Vì tự thân nó không đứng vững được mà nó là cái pháp tập khởi, tập là tụ tập, tích tập, hợp là sanh khởi, tổ hợp sắc chất này giống bụi lau sậy, một cây rất yếu cho nên cần phải bốn cây dựng lên là địa, thủy, hỏa, phong, đó là đất, nước, gió, lửa, cũng như cái ghế bốn chân, gãy mất một chân là ghế hư, ngã xuống. Như vậy sắc là con người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại nhưng chỗ đau đớn, cay đắng là chúng ta vô minh đối với sắc, chúng ta không biết sắc là tứ đại nên chúng ta nắm chặt trở thành sắc thủ uẩn, chúng ta cho rằng mắt là này của tôi, gương mặt này là của tôi, đôi môi, tay chân, hình hài này đều là của tôi, vì không biết sắc là tứ đại nên yêu thích, có yêu thích thì có nắm giữ và kết quả của sự nắm giữ là sắc thủ uẩn, cho rằng nó là tôi, là của tôi cho nên tu là để phá thân kiến. Cay đắng là chúng ta vô minh, nghĩa là không thấy không biết bản chất các pháp, tức là không biết sắc này là đất, nước, gió, lửa mà chúng ta lại cho rằng nó nó tôi, là của tôi, như vậy gọi là nắm chặt vào trong sắc, vì không hiểu bản chất của vấn đề nên vô minh về sắc rồi nhận lầm nó là tôi, là của tôi. Tất cả các pháp trong kinh Nikāya đều dùng bốn trí tuệ soi vào để thấy. Tại sao sắc có mặt? Do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, cái nào cũng phải dùng Tứ Thánh Đế soi sáng. Do thức ăn có mặt nên sắc tồn tại, thức ăn chấm dứt thì sắc chấm dứt. Con đường đưa đến sắc chấm dứt là phải thấy biết đúng về sắc, nói đơn giản là thành tựu trí huệ thấy biết về sắc, nói đầy đủ là Bát Chánh Đạo.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. . Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)

Có bốn loại thức ăn để sắc tập khởi nhưng ở đây chỉ nói một loại thức ăn mình hay ăn, chỉ cần đói khát vài ngày là chết, ngưng thờ vài phút là chết nhưng không phải chúng ta ăn đồ ăn mà chúng ta ăn đất, nước, gió, lửa vì trong đồ ăn có nước trong đó, đồ ăn được trồng từ đất, có nhiệt độ thích hợp và gió, nếu không có những cái này là không duy trì thức ăn được lâu đó là lý do đồ ăn phải để trong tủ lạnh. Hiện tại mình đang ngồi học nhưng cũng đang ăn, từng lỗ chân lông cũng thở, bên trong hệ thống tuần hoàn máu huyết lưu thông đều là sự vận chuyển của nước, của gió, của nhiệt độ, những cái này ngưng lại là mình chết. Thức ăn này gồm đoàn thực, xúc thực, thức thực, tư niệm thực.

"Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?

Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế,

Hai là xúc thực,

Ba là tư niệm thực,

Bốn là thức thực.

Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh". (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)

Đoàn thực là thức ăn mình cầm nắm, nhai nuốt, có thể thấy được, xúc thực là thức ăn của sự tiếp xúc, tư niệm thực là thức ăn của sự nhớ nghĩ, thức thực là thức ăn của sự nhận thức. Thức ăn thứ nhất thuộc về vật chất, ba loại sau thuộc về tinh thần, chúng ta bị cách ly, phong tỏa trong nhà lâu ngày là bí bách, bực bội, muốn đi ra ngoài vì bên trong tâm muốn tiếp xúc, cần tiếp xúc. Có sáu xúc, mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc với âm thanh, mũi tiếp xúc mùi, lưỡi tiếp xúc vị, thân xúc chạm, và ý xúc bên trong, thân này có nhu cầu phải tiếp xúc mới chịu được. Thức ăn này tồn tại là do ái.

"Và này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu". (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)

Vì yêu thích nên mới ăn thành ra tứ thực tập khởi là do ái tập khởi. Ăn vào rồi yêu thích, ham muốn, tìm kiếm, khao khát, làm nô lệ cho thức ăn vì tham ái trong thức ăn nên có tham ái đối với thân tứ đại này, khi tham ái, chấp thủ trong này nên thân này bị suy kiệt sẽ đau khổ, bất an, sợ hãi. Nó đã nhận sắc này là nó, tức là tâm mê này hòa chung với sắc chất này làm một, làm tổ trong đó cho sắc này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, sự chấp thủ vào thân này rất sâu dày và cứng chắc từ vô biên vô lượng kiếp. Để giải phá được sắc uẩn này Đức Phật đưa ra phương pháp Thân Hành Niệm, trong Thân Hành niệm đầu tiên là niệm hơi thở, niệm tứ đại, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn tử thi. Sáu phương pháp này dùng để phá kiến chấp về thân (thân kiến), kiến chấp là thấy sai nên nắm chặt vào đó sanh ra chấp thủ cái tổ hợp sắc chất, tổ hợp hình hài, bao máu mủ này nên gọi là sắc thủ uẩn, mà nắm chặt vào đây cho đây là nó nên gọi là thân kiến.

Niệm hơi thở rất quan trọng vì khi nhớ về hơi thở sẽ thấy đời sống này rất mong manh, hơi thở rất nhỏ, mỏng, nhẹ, nó là một sự thật đang có mặt ngay trong giây phút hiện tại thì gọi là thực tại. Chúng ta không thấy mình đang thở mà chỉ nhìn ra ngoài thấy cái này đẹp, cái kia xấu, người này đen, người kia thấp, chúng ta không hướng nội, không nhìn vào bên trong để thấy hơi thở đang vận hành cho nên bây giờ cần quay vào nội tâm để nhận thức mình đang có hơi thở. Niệm hơi thở để nhận thức, để thấy biết rằng mạng sống này thật mong manh, đời sống này thật nhỏ bé, dễ dàng ngưng thở bất cứ lúc nào, chỉ nhớ được bấy nhiêu đây thôi cũng phá được chút ít vô minh, tham ái, chấp thủ và thân kiến, còn không nhớ, không thấy hơi thở là hoàn toàn bị vô minh, tham ái, chấp thủ và thân kiến bao phủ toàn thân.

Niệm oai nghi, niệm hành động là nhớ nghĩ từng cử chỉ, hành động, đang đi thì biết là đang đi, đang ngồi thì biết là đang ngồi, đang nằm thì biết là đang nằm… Phải tỉnh thức, ý thức, chánh niệm, oai nghi chánh là đi, đứng, ngồi, nằm, còn những cái phụ là co, duỗi, cúi, ngước là hành động. Như vậy đi, đứng, ngồi, nằm, co, duỗi, cúi, ngước, đi tới đi lui, mặc quần áo, ăn uống, chạy xe, lau nhà, tụng kinh… tất cả những cái đó đều cần chánh niệm tỉnh giác, rõ biết việc mình đang làm để đừng sống trong ảo ảnh, đừng vọng tưởng trong tâm mà sống với thực tại, tức là sự thật đang diễn ra trong giây phút hiện tại, thân ở đâu là tâm ở đó.

"Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi, tuệ tri: 'Tôi đi', hay đứng, tuệ tri: 'Tôi đứng', hay ngồi, tuệ tri: 'Tôi ngồi', hay nằm, tuệ tri: 'Tôi nằm'. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Mục đích của chánh niệm tỉnh giác là nhằm kéo lại cái tâm đang lang thang trở về với thực tại để ăn thì biết đang ăn, nói thì biết đang nói, đi thì biết đang đi, cái đó gọi là tuệ tri, biết rõ việc mình đang làm và sống với giây phút hiện tại. Phật dạy "quá khứ đã qua, tương lai chưa đến, hãy sống trong giây phút hiện tại". 

"Quá khứ không truy tìm

Tương lai không ước vọng.

Quá khứ đã đoạn tận,

Tương lai lại chưa đến,

Chỉ có pháp hiện tại

Tuệ quán chính ở đây". (Trung Bộ Kinh, 131. Kinh Nhất dạ hiền giả)

Như vậy là đem tâm trở về thân, thân đâu thì tâm ở đó, mình có sự tỉnh thức, chánh niệm, ý thức thì mình sẽ có sự bảo hộ, phòng hộ, thâu nhiếp thân, miệng, ý, mình không để cho buông lơi, buông lỏng, buông trôi, mình không thả lỏng các căn, không buông lung phóng dật, đó là niệm oai nghi, niệm hành động, bớt tạo nghiệp thì bớt tội lỗi.

Thứ tư là niệm tứ đại, chính là đất, nước, gió, lửa, đây là bốn yếu tố cấu tạo nên thân này. Mình niệm bốn trí tuệ về sắc uẩn, sắc pháp này, niệm tứ đại là nhìn vào thân này trong gương rồi tác ý "đây chỉ là đất, nước, gió, lửa", thấy nước tiểu thì tác ý "đây là thủy đại", đại tiện thì tác ý "đây là địa đại", uống nước thì thấy là thủy đại, thở ra vào là phong đại, thấy cơ thể có hơi ấm là hỏa đại. Mỗi bước chân là gió vận hành, mỗi lời nói phát ra là gió đang vận chuyển, tay co duỗi cũng chỉ là gió chứ không có ai ở đây cả, không có tôi, không có tự ngã của tôi mà chỉ là sự hoạt động của gió đang chuyển động. Những hủ cốt của người mất vì Covid được gửi về tận nhà người thân thì hãy thấy thân này chỉ là cát bụi, là địa đại, có người rải tro cốt xuống biển, xuống đất thì cũng chỉ như cát bụi, người đó bây giờ ở đâu, chỉ là cát bụi thôi chứ làm gì có tôi ở đây.

Tiếp theo là quán ba mươi hai thể trược, ngồi lại phân tích từng hình ảnh tóc, lông, móng, răng, da thịt, gân xương, bao tử, lá lách, ruột non, ruột già, hoành cách mô… thuộc về đất. Nước bọt, máu mủ, đàm giải, nước tiểu, những chất dịch trong cơ thể thuộc về nước. Quán chiếu tới đâu là hình ảnh hiện ra tới đó, ba mươi hai thể trược là ba mươi hai thứ dơ bẩn, không sạch sẽ, thiền quán về những cái này, giải phẫu cơ thể để quán chiếu. Nhổ hết hàng chục cái răng để một bên, máu chảy ra, tóc để một bên, lông một bên, da thịt một bên, đầu lâu để một bên, xương sườn để một bên, xương ống tay ống chân để một bên… toàn là những thứ bất tịnh, tanh hôi chứ làm gì có ai trong đây, "hỡi cái tâm u mê, si ám này ngươi chấp thủ, tham dục, đam mê trong đây rồi đau khổ như vậy là vừa đủ rồi. Ngươi thèm khát như vậy là vừa đủ rồi", "cái tâm u mê hãy nhìn cho kĩ ba mươi hai thứ dơ bẩn, cấu uế này, ai ở trong đây?". Thiền quán như vậy để tâm bừng tỉnh, nước mắt tuôn trào thức tỉnh trước một sự thật phũ phàng, bất tịnh, hôi tanh và xú uế mà vô lượng kiếp vừa qua mình bị che đậy trong màn đêm, hôm nay mình dùng ngọn đuốc của Thánh trí huệ mà Đức Phật truyền trao rọi vào bên trong chỉ là ba mươi hai thứ bất tịnh, dơ bẩn. Khi thấy từng bộ phận là mình chấn động, không ngờ thân thể này hôi như vậy mà tại sao mình lại u mê, si mê.

Hỡi tâm u mê hãy tỉnh ra đi!

Quán chiếu về chín giai đoạn của một tử thi là quán chính mình chứ đừng quán người ta. Quán chiếu hình ảnh nằm trên gường bệnh đang lấy hơi lên, cuối cùng đứt hơi nằm đó, những người xung quanh gào thét, khóc thương thảm thiết, bi ai. Tấm thân nằm dài ra đó lạnh ngắt, xanh rờn, một ngày, hai ngày, ba ngày tím lại, nứt nẻ ra, chảy mủ, nước dịch ra hôi thối không ai chịu nổi, giòi bò lúc nhúc trong hai khóe mắt tràn ra gương mặt, giòi ăn những bộ phận mềm trước. Từ từ lộ ra gân xương, lâu ngày gân xương cũng khô lại, máu cũng cạn kiệt, lộ ra một bộ xương trắng màu vỏ ốc. Nhiều năm sau bộ xương này cũng rời rạc, ở kia là xương sườn, chỗ nọ là xương sọ, chỗ khác là xương ống tay, ống chân, xương bàn tay, bàn chân nằm rải rác. Trải qua quãng thời gian gió táp mưa sa, nắng chiếu lần lần bộ xương này tan rã thành cát bụi, gió thổi bay vào hư không.

"Bản chất cuộc đời là trống rỗng,

Bản chất cuộc đời là trống không,

Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,

Dễ dàng tan biến vào hư không".

(Nghi Thức Tu Học Nikāya)

Đó là sáu Thánh kiếm thần gươm đánh vào sáu phương diện vô minh, tham ái và chấp thủ của sắc uẩn, chỉ riêng phần sắc uẩn mà Đức Phật đã dùng sáu khía cạnh của trí tuệ để đánh phá vì sự nắm chặt và sắc pháp này vô cùng khủng khiếp. Chính vì nắm chặt vào đây cho nên những cảm giác, nghĩ tưởng chạy lòng vòng quanh sắc này, khi nhắm mắt lại nghĩ mình đi ăn, đi chơi là tự động có hình bóng mình hiện ra trong đó, đó là sắc tưởng của tự thân chính là thân kiến nhưng nếu không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc là không biết được. Nếu bây giờ nói mình đi Đà Lạt, đến hồ Xuân Hương là tự động trong tâm có hình bóng của mình hiện ra đi đến những chỗ đó, thì đó là sắc tưởng về tự ngã cũng chính là kiến chấp về thân, còn thấy một cái tôi, một cái của tôi cứng chắc thì còn bị trói buộc trong sắc, còn bị rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn bị trầm luân, đọa lạc dài dài, còn sợ hãi, kinh hoàng mãi mãi.

Vì thế bước đầu tiên trong sự tu là phá thân kiến, tự động hoài nghi, giới cấm thủ theo sau cũng bị phá vỡ, lúc đó mới Dự Lưu, tức là tham dự vào dòng chảy trí tuệ Đức Phật truyền trao, trở thành Dự Lưu Thánh quả, trong nhiều bài kinh Đức Phật nói vị nào thực hành Thân Hành Niệm, nghĩa lực quán chiếu, thực hành, nhớ nghĩ, tư duy về sự thật của thân này thì người đó đang đi vào thế giới bất tử, đang gõ cửa bất tử, thể nhập bất tử và chứng ngộ bất tử cho nên Thân Hành Niệm rất quan trọng, chỉ có nó mới phá vỡ được thân kiến, phá vỡ cái nhìn sai lầm, lệch lạc, mê muội về tự thân này, không đi qua cánh cửa này thì không thể đi vào đạo quả, từ ba ngàn năm trước cho đến ba ngàn năm sau nếu không đi qua con đường này thì vĩnh viễn và mãi mãi không bao giờ thấy đạo chứ đừng nói gì đến đắc đạo. Thấy đạo là thấy được sự thật về thân tâm, kiến đế là thấy được sự thật này, pháp nhãn là con mắt pháp có thể thấy được sự thật này cho nên đây là quan ải quyết định trong sự tu tập của chúng ta, cái này phải được thực tập liên tục nhuần nhuyễn nhiều tháng nhiều năm mới có khả năng phá vỡ được thân kiến, chúng ta phải cố gắng rất nhiều, đó là phần quán chiếu về tổ hợp sắc pháp.

Đức Phật đã nói tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ, quy tụ ở nơi cảm thọ, nó ở bên trong cảm xúc, cảm giác của mình. Cảm thọ có ba đặc tính là vui, khổ, không vui không khổ, gọi là ba loại cảm thọ, còn nói về chỗ trú ẩn thì có sáu nơi trú ẩn, đó là cảm thọ do con mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý tiếp xúc tạo nên. Khi chúng ta sanh khởi lên cảm thọ vui, sướng, thích, khoái thì tham muốn có mặt trong đó nhưng chúng ta không thấy. Trước tiên phải biết thọ là gì, thứ hai tại sao cảm thọ sanh khởi, thứ ba là tại sao cảm thọ chấm dứt, thứ tư là phương pháp, cách thức, con đường để đưa đến sự chấm dứt của cảm thọ, nhưng mình hoàn toàn không biết gì cả nên có cảm giác lạc thọ sanh khởi là mình cho rằng đó là mình "tôi đang vui", "tôi đang có cảm giác sung sướng", khi sanh khởi lên cảm xúc gì cũng đều có tự ngã đi theo và nắm chặt vào cảm giác đó cho nên mình vô minh đối với thọ. Bây giờ mình học để thành tựu bốn trí huệ về cảm thọ, đầu tiên thọ là cảm thọ, là thọ nhận, là cảm xúc, cảm giác do sáu sự tiếp xúc đem lại cho nên xúc tập khởi là thọ tập khởi, sự tiếp xúc này sanh khởi ra cảm giác, hình bóng trong tâm và sanh khởi ra những suy nghĩ trong tâm. Nhân duyên sanh diệt của cảm thọ là từ sự tiếp xúc mới có cảm giác, nếu không tiếp xúc thì không có cảm giác, đầu tiên phải có pháp học, sau đó tới pháp hành rồi cuối cùng là pháp thành, xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi.

"Này các Tỳ-kheo, ba thọ này do xúc sanh, lấy xúc làm căn bản, lấy xúc làm nhân duyên, lấy xúc làm trợ duyên, do duyên xúc tương ứng, các thọ tương ứng, tương ứng, khởi lên". (Tương Ưng Bộ, tập IV. Thiên Sáu Xứ, chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, X. Căn Bản Của Xúc)

Tại sao lại có cảm giác vui thích? Vì được ăn ngon, được khen, thấy cảnh đẹp, hoặc xúc chạm với những sự êm ái. Tại sao trong tâm có hình bóng trái sầu riêng? Do con mắt nhìn thấy trái sầu riêng cho nên khi trở về nghĩ tới trái sầu riêng thì hình bóng của nó mới hiện ra, đó là có sự tiếp xúc rồi mới có tưởng. Tại sao trong tâm mình có hình bóng của một người nào đó? Do mình nhìn thấy người đó, con mắt nhìn thấy tức là con mắt đã tiếp xúc nên hình bóng đó hiện ra trong tâm nên gọi là sắc tưởng, mình đã nghe câu nói đó nhưng trở về câu nói vẫn vang vọng trong đầu nên gọi là thanh tưởng. Tại sao mình có suy nghĩ về ngôi chùa nọ? Là do mình đã đi đến ngôi chùa đó, đã thấy ngôi chùa đó, đã nghe câu chuyện về nó, gặp quý thầy ở đó nên khi về mình mới có suy nghĩ về ngôi chùa đó, đó là do mình đã có sự tiếp xúc nên thọ; tưởng; hành mới có, xúc đoạn diệt là thọ; tưởng; hành đoạn diệt, không tiếp xúc nữa thì không sanh ra cảm giác, nghĩ tưởng.

" Có ba thọ này, này Ananda, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Ananda, đây gọi là các thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Con đường Thánh đạo Tám ngành là con đường đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến... chánh định". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, V. Thuộc Sở Hữu)

Mình không thấy không biết cảm thọ, không biết có bao nhiêu loại cảm thọ, mình cũng không biết nơi cư trú của cảm thọ, không biết đặc tính của cảm thọ thì làm sao mình biết trong cảm thọ có cái gì, vì thế vô minh đối với cảm thọ nên tham ái sanh ra, khi đã đam mê trong cảm thọ vui sướng thì tham, dục, ái ở trong cảm thọ đó mình không biết cho nên mình nắm giữ rồi khổ đau, mình nghĩ có cứ như vậy hoài, cứ kéo dài hoài nhưng nếu không được thì mình khổ đau, bản chất của các cảm thọ là vô thường nên mới khổ, các hành có nghĩa là sự vận hành của năm uẩn là vô thường, vì nó là vô thường, là biến đổi nên khổ đau.

"Tỳ-kheo quán thân ấy như sau: 'Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy'". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Trong cảm thọ vui có sự ham thích, khoan khoái nên có sự nắm giữ, nếu không nắm giữ được thì khổ, gọi là cầu bất đắc khổ. Cảm thọ khổ là sự bức xúc, sân hận, tức giận rồi phát ra những suy nghĩ, lời nói, hành động, gọi là ba ác hành, tạo ra nghiệp rồi chịu quả báo khổ. Cảm thọ không khổ không vui thì si mê, lờ đờ, lững lờ, cứ nghĩ nó như vậy nhưng đến khi nó biến đổi đột ngột thì khổ. Minh Thành giải thích vô thường là tứ đột, đột ngột, đột biến, đột tử, đột quỵ, còn nói vô thường có khi không hiểu hết ý nghĩa của nó, nghe vô thường nhiều quá nên không còn cảm xúc nữa, tự tánh của ngũ uẩn là đổi khác, nó luôn luôn thay đổi còn mình cứ nghĩ nó sẽ như vậy hoài, những từ nào Đức Phật dùng đều là Chánh Đẳng Chánh Giác tối thượng, bằng con mắt trí huệ của Đức Phật nhìn ra sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, căn; trần; thức; và tất cả thọ; tưởng; hành; thức này luôn ở trong trạng thái vận động, chuyển động, cho nên các hành chính là mưu sự vạn vật. Con mắt mình thấy cây cột đang đứng yên nhưng thật sự các pháp đều đang vận hành để đi đến chỗ biến hoại và diệt tận.

Đức Phật dạy khi có cảm thọ sung sướng phải quán nó là khổ vì mình sẽ bị trói cột trong cảm thọ lạc thú, vui sướng đó. Quán chiếu nó là khổ để không bị dính mắc trong đó, còn thấy nó là vui sẽ bị trói bị cột chặt trong đó cho nên càng vui sướng chừng nào càng phải chánh niệm tỉnh giác và đề phòng chừng đó. Đối với cảm giác khổ Đức Phật dạy phải quán nó như mũi tên đâm vào tim làm mình nhức nhối để phát sanh ra sự nhàm chán. Đối với cảm giác không khổ không vui phải quán nó là vô thường, dù cho đang an ổn cũng phải thấy nó là vô thường. Phải quán chiếu tất cả cảm giác này không đáng để tham đắm dù đó là cảm giác vui, dù được khen ngợi, xưng tán cũng không hoan hỉ, vui thích với lời khen đó vì có đưa lên sẽ có hạ xuống, đó là hai mặt của cuộc đời, thân rồi sơ, thương rồi ghét, yêu rồi hận cho nên khi được tâng bốc, đưa lên cao cần cẩn thận chánh niệm vì thế cần nhớ điều quan trọng là không hoan hỉ, ưa thích đối với tất cả các cảm thọ. Cuối cùng chúng ta phải quán chiếu thoát ra, đi ra khỏi các cảm thọ.

"Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)

Bất cứ cảm giác nào cũng nằm trong lãnh vực của bất an, khổ sầu, sợ hãi và tan hoại. Đám cưới rất vui vẻ, hạnh phúc nhưng để bước được vào cổng Vu Quy là biết bao nhiêu nước mắt, lo lắng, biết bao sự đầu tư để vào cổng đó, thế nhưng khi đã được rồi là đau khổ nằm chờ sẵn ở những tháng ngày sau đó. Chỉ có quán như vậy thì tâm mình mới ly tham đối với các cảm thọ, như vậy mới đi đến viễn ly, rời xa, giải thoát, nếu còn tham đắm, ràng buộc, còn cho những cảm thọ này là tôi, là của tôi thì chừng nào mới thoát ra khỏi nó. Đối với những hình bóng ẩn hiện trong tâm, Đức Phật dạy đưa những hình bóng của bộ xương, ba mươi hai thể trược, hình bóng của cửu tưởng, cát bụi, niệm tử, đưa hình bóng phản diện màu hồng trên cuộc đời để phá đi những hình ảnh sạch sẽ, đáng yêu, khả hỷ, khả lạc, khả ái, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn, dùng các sự quán tưởng về mặt trái của thế gian này, về sự nguy hiểm và tác hại của nó để không đam mê trong những ảo ảnh, ảo tưởng. Đối với sự suy nghĩ về sắc, âm thanh, mùi vị, về những sự xúc chạm và những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong thì mình phải tập ly dục tư duy (quán bất tịnh), ly sân tư duy (trải tâm từ), bất hại tư duy (trải tâm bi) để phá suy nghĩ vô minh, tham ái, phá những suy nghĩ nóng giận, ác ý muốn hại người, suy nghĩ làm sao để rời xa những thứ này chính là chánh tư duy, là sự tác ý, thiền quán.

Mình biết tham muốn là sai, là khổ, là không phù hợp với giới luật thì tìm cách để rời khỏi cái suy nghĩ đó thì gọi là chánh tư duy, nghĩ đúng, là sự tác ý chân chánh, tìm mọi cách để rời khỏi suy nghĩ nóng giận, nhiệt não thì đó là chánh tư duy, trải tâm hiểu, tâm thương, quán nghiệp quả của tự thân và chúng sanh, khi sân hận có tâm ác ý muốn hại người ta thì phải dùng suy nghĩ bất hại không hại một ai dù là một con vật nhỏ, trải tâm thương rộng rãi cùng khắp không giận không sân. Đối với cái thức mình cũng yêu thích, nắm giữ trong đó cho nên sự tu của chúng ta Đức Phật dạy quán thức như nhà ảo thuật, cái biết của mình không đúng, cái biết này là duyên sanh, cái biết của mình ở trong mê, cái biết chưa thành tựu minh, chưa xuất ly, mình chỉ biết trong tự ngã, trong thân kiến, trong dục nên cái biết đó không đúng sự thật, nếu nắm giữ vào cái biết đó sẽ đau khổ dài lâu, gây ra khẩu tranh, chiến tranh không dừng nghỉ.

Hôm nay chúng ta giới thiệu tổng quát về pháp hành kinh Nikāya. Thứ nhất chúng ta nhìn được toàn cảnh giới nghĩa kinh tạng Nikāya nằm trong ba chữ vô minh, tham ái và chấp thủ. Vô minh là không thấy, không biết, không thấu suốt, không thông đạt, vô minh đối với thân tâm, đối với năm uẩn nên mình nghĩ là bền chắc, là ưa thích, vừa lòng rồi mình nắm chắc trong đó, từ sự nắm giữ mới có năm thủ uẩn, đó là sự nắm chặt trong năm tổ hợp của hình sắc, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức. Khi đã nắm chắc sẽ có bản ngã, có tham dục, sân si, có sự ích kỷ, ràng buộc trong đó, dính mắc nặng nhất và dễ thấy nhất chính là tổ hợp của hình hài này, chúng ta dùng sáu pháp Thân Hành Niệm để phá thân kiến.

Trong cảm thọ; hành; thức thì chúng ta quán được lạc thọ, khổ khổ, bất khổ bất lạc thọ bằng những pháp quán tâm từ, quán trí tuệ, quán bất tịnh để không tham đắm, hoan hỉ, từ đó mới thoát ra được những cảm giác, những hình bóng quán tưởng trong pháp quán bất tịnh và những suy tư chân chánh lìa tham muốn, lìa sân hận, lìa xa sự ác ý hại người, chúng ta đưa tâm trở về tâm rộng lớn của tứ vô lượng tâm, từ, bi, hỷ, xả để chúng ta phá vỡ được vô minh, tham ái và chấp thủ đối với năm uẩn để đạt được tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đó là tổng cương lĩnh pháp hành kinh tạng Nikāya.

./.