NHÂN QUẢ Đáng Sợ 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
NHÂN QUẢ ĐÁNG SỢ 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tương Ưng Lakkhana PAGEREF _Toc76453549 \h 1
1. Quả báo sát sanh PAGEREF _Toc76453550 \h 1
2. Quả báo trộm cắp, gian dối PAGEREF _Toc76453551 \h 6
3. Quả báo tà dâm PAGEREF _Toc76453552 \h 9
II. Sợ hãi ác nghiệp PAGEREF _Toc76453553 \h 11
Tương Ưng Lakkhana
Lúc bấy giờ Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna trú ở núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến Tôn giả Lakkhana.
Sau khi đến, nói với Tôn giả Lakkhana:
-- Chúng ta hãy cùng đi, này Hiền giả Lakkhana. Chúng ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Lakkhana vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallàna.
Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khi đi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi qua một chỗ, liền mỉm cười.
Rồi Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
-- Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
-- Này Hiền giả Lakkhana, không phải thời là câu hỏi ấy. Trước mặt Thế Tôn, hãy hỏi tôi câu hỏi ấy.
Quả báo sát sanh
Rồi Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna sau khi đi khất thực ở Ràjagaha xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
-- Ở đây, Tôn giả Mahàa Moggallàna khi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười. Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
-- Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
-- Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: "Thật vi diệu thay! Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một Dạ-xoa như vậy! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy!"
Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
-- Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử! Sống với nhau như thực trí, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
Xưa kia, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Ðống Xương)
Như thực nhãn là con mắt đúng sự thật, sống với nhau bằng con mắt thấy được sự thật, sống với nhau bằng trí huệ thấy được sự thật. Thế Tôn nói rằng xưa kia ngài đã thấy người đó bị như vậy nhưng ngài không nói vì không ai tin, mà không tin ngài thì sẽ đau khổ lâu dài vì đó là sự thật của bậc Chánh Đẳng Giác thấy và nói ra.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò (goghatako) ở Ràjagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Ðống Xương)
Người có bộ xương đau đớn quằn quại đó là một đồ tể, do nghiệp đó nên sau khi chết người này xuống địa ngục và bị nung nấu trong nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm. Có những cánh cửa địa ngục một ngày đêm bằng năm mươi năm trên mình, một ngày đêm bằng cả trăm năm hoặc hàng ngàn năm, như vậy nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm thì đến bao lâu trên dương thế? Sau khi hết nghiệp đó thì quả dị thục còn lại là gánh lấy thân thể khốn khổ của ngạ quỷ, con mắt thịt của mình làm sao thấy được điều này? Những điều này được con mắt của Đức Phật và Thánh Tăng Mục-kiền-liên nhìn thấy, trong không gian này đầy rẫy những chúng sanh, có nhiều dạng thức của chúng sanh đang thống khổ dù mình không nhìn thấy. Học để biết sợ nhân quả nghiệp báo, đừng nghĩ rằng mình giấu giếm là không ai thấy, không ai biết, những nghiệp chướng mình gây tạo ra là không thể trốn được, dù cho trốn được luật Pháp nhưng đối với nhân quả không thể trốn được, những đời sống sau của mình phải gánh lấy những hậu quả mà mình đã tạo ra trong hiện tại.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một đống thịt đang đi giữa hư không. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Ðồ Tể Giết Trâu Bò)
Đây cũng là một đồ tể, khi nãy là hình dáng bộ xương còn giờ là hình dáng một đống thịt. Vì xẻ thịt, cắt thịt, bán thịt thì hình dáng kiếp sau là một đống thịt, rơi vào cõi ngạ quỷ do không thể đầu thai làm người được. Đống thịt đó vẫn có cảm giác, vẫn có thọ; tưởng; hành như chúng sanh, đống thịt này bị những loài ăn thịt bay theo sau cắn xé, mổ thịt làm đau đớn khủng khiếp. Và họ phải chịu đựng kiếp sống đó cho đến khi nào hết nghiệp thì thôi.
Vì thế, trong gia đình gặp được sư bà và những lời dạy dỗ, nhắc nhở là nhằm cứu giúp cho mình. Nếu mình không từ bỏ nghề sát sanh mà làm đến giờ thì chắc chắn đời sau sẽ lãnh hậu quả như lời kinh nói. Những gì mình phải gánh chịu như bệnh hoạn, đau nhức là từ nghiệp thật nặng của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đó là giảm nhẹ những nghiệp nhẹ trong hiện tại đang gánh chịu. Vì thế phải vui mừng chứ không phải khổ rồi than thở sao tu mà bệnh hoài, đó là từ cái nặng giảm lại nhẹ thành ra như thế, đã vậy còn không cố gắng tinh tấn, nỗ lực tu tập, lại ở trong vô minh, làm biếng thì cơ hội rơi vào ba đường ác vẫn hiển hiện trước mắt. Nhân quả, nghiệp báo do con mắt của Phật, con mắt của các vị Thánh Tăng A-la-hán mới nhìn thấy được, còn mình là con mắt thịt tầm nhìn hạn hẹp làm sao thấy được, cho nên đừng nói không có nhân quả.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một miếng thịt đang đi giữa hư không... đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một kẻ săn chim ở Ràjagaha. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Một Miếng Thịt và Kẻ Bắt Chim)
Săn bắn thú vật cũng đầu thai thành miếng thịt, bị đau đớn do bị mổ xẻ. Khi nãy là cục thịt còn giờ là một bị da, bị các con thú ăn thịt đuổi theo cấu xé.
Ở đây, này Hiền giả... tôi thấy một bị da... cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn...
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người đồ tể giết dê ở tại Ràjagaha này... (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Người Giết Dê Bị Lột Da)
Lời kinh này nói vắn tắt nhưng phải hiểu người này phải chịu đọa đầy trong địa ngục nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm rồi mới lên kiếp ngạ quỷ, sau khi chịu hết kiếp ngạ quỷ mới lên kiếp súc sanh cầm thú. Mỗi lần chuyển kiếp như vậy cực kì lâu trong ngàn tỷ năm chứ không phải ngắn ngủi như kiếp sống con người.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng đao kiếm đang đi giữa hư không. Các đao kiếm ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người giết heo ở tại Ràjagaha này... (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Người Giết Heo Với Ðao Kiếm)
Người này lông bằng dao kiếm dựng đứng lên và dao kiếm rơi xuống trên thân người này để chặt chém vì lúc còn sống người này chặt, chém, mổ xẻ heo (đồ tể) nên giờ chết đi phải chịu cảm thọ đau đớn như vậy. Mình cắt cổ, ăn uống vui say trên những miếng thịt đó trong khi đó miếng thịt đó là mạng sống của một chúng sanh, ngoài ra mình còn chê khen thịt tươi, thịt dở, thịt dai và quả báo phải bị đao gươm chặt chém cơ thể trong đau đớn quằn quại qua nhiều kiếp. Không phải tự nhiên mình giết hại chúng sanh là xong, những chúng sanh đó đau đớn, thống khổ và sau khi chết mình cũng sẽ chịu sự đau đớn như vậy. Chỉ vì miếng ăn một chút thôi mà quả báo vô cùng khủng khiếp, Minh Thành đang có cảm thọ khủng hoảng, khiếp sợ, ớn lạnh. Đây là lời nói của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nên phải tin tưởng tuyệt đối, tạng kinh này đã được truyền thừa ba ngàn năm. Chúng ta giờ cứ mê ăn, mê chơi, lo ngủ, không chịu tu, nói thị phi tạo nghiệp, nghiệp cũ trả chưa hết lại tạo thành nghiệp mới, nghiệp mới lại đẻ ra lời lãi rồi khi nhắm mắt sẽ đi tới đâu? Minh Thành đọc những lời kinh này và đi kinh hành chiêm nghiệm nên thấy xót xa cho mình và cho tất cả chúng sanh, cho những người không hiểu biết, không thấy biết. Kinh hãi, hoảng sợ thật sự đối với nghiệp quả, tất cả những hình dáng, dạng thức của chúng sanh phải chịu sự cảnh khổ của nghiệp quả, nếu mình thấy được sẽ điên loạn
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi kim đang đi giữa hư không...
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người điều phục các loài thú. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Người Ðánh Xe Với Các Cây Kim)
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các cây lao đang đi trên hư không. Những cây lao ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người thợ săn thú ở tại Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Người Săn Thú Với Cây Lao)
Cây lao là cây có mũi nhọn để phóng vào những con thú, những cây đó rớt xuống đâm vào thân người vì lúc còn sống người đó phóng lao vào những con vật.
Quả báo trộm cắp, gian dối
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các mũi tên, đang đi giữa hư không. Những mũi tên ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người tra tấn ở tại Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VII. Người Tra Tấn Với Mũi Tên)
Người này bị đâm khắp người, bây giờ mình chỉ bị một cây kim đâm vào đã đau đớn chịu không nổi, ở đây toàn thân đều bị đâm như thế.
Ở đây, thưa Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi tên đang đi giữa hư không.
Các mũi tên ấy đâm vào đầu và ra khỏi miệng người ấy. Chúng đâm vào miệng và ra khỏi ngực người ấy, chúng đâm vào ngực và ra khỏi bụng người ấy, chúng đâm vào bụng và ra khỏi bắp vế của người ấy, chúng đâm vào bắp vế và ra khỏi cổ chân của người ấy, chúng đâm vào cổ chân và ra khỏi bàn chân của người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một gián điệp ở tại Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, IX. Người Do Thám)
Phải học những điều này để thấy sợ mới tu tập được, chứ không mình quên, nghĩ rằng an ổn rồi chết đi cũng vậy, đó là cái nghĩ theo mê lầm, vô minh cho nên tối khuya cũng phải tu chứ không được nằm trong phòng, đây là cơ hội quý báu để nương vào lực của đại chúng (đức chúng như hải) nhằm phá giải nghiệp chướng để ra đi được nhẹ nhàng. Còn không giải quyết nghiệp báo thì ra đi trong mờ tối và thống khổ. Tình thương được hiểu hiện ở chỗ giảng dạy nhân quả nghiệp báo để mình sợ rồi tu tập chứ không phải thương là cho ăn ngon, mặc đẹp, đó là thương nhưng hại, thương để làm biếng, giải đãi, còn đây là thương bằng trí huệ.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi kim đang đi giữa hư không...
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người điều phục các loài thú. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Người Ðánh Xe Với Các Cây Kim)
Có những nghiệp quả không thể tưởng tượng được.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một cái thân không đầu đi giữa hư không. Con mắt và miệng thời ở trên ngực.
Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người ăn cướp tên là Hàrika ở tại Ràjagaha. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, VI. Kẻ Trộm Cướp Ðứt Ðầu)
Lúc sống làm cướp rồi chặt đầu người ta đến khi chết đi làm ngạ quỷ không có đầu cho nên có những trường hợp thấy ma không đầu là có thật chứ không phải không có và nguyên nhân là từ đây, lúc sống làm cướp giết người. Đức Phật đã nói rõ tên người đó và nơi sinh sống, mắt và miệng trên ngực chứ không có đầu.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với hòn dái đang đi giữa hư không.
Khi đang đi, người ấy mang hòn dái trên vai mà đi. Khi ngồi, người ấy ngồi trên những hòn dái ấy.
Và các con chim kên kên, chim quạ, chim ưng đuổi theo người ấy để cắn mổ, cắn xé, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một phán quan ở Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, X. Người Phán Quan Tham Nhũng Với Hòn Dái Lớn)
Phán quan là thẩm pháp tòa án nhưng không làm đúng trách nhiệm, nhận hối lộ xử án oan sai. Có nhiều người hiện tại có đầu to gấp nhiều lần người bình thường, đây là cõi người còn trong kinh là cõi ngạ quỷ, cõi này còn khổ hơn ngàn lần cõi người, đây là cô hồn vất vơ vất vưởng, lúc nào cũng phải chịu khổ, không lúc nào được no cho nên điều căn bản của loài ngạ quỷ là keo kiệt, bủn xỉn, không bố thí, chia sẻ, giúp đỡ bất kì ai, chẳng thà:
Tiền mục lúa hư, không cứu giá rét.
Lụa là chất đống, nào có giúp ai,
Được người mấy trăm, chưa cho là nhiều
Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.
Đó là loài ngạ quỷ, gom góp, tích lũy nhưng không bố thí, cúng dường, chẳng thà để tiền mục, đồ hư hỏng chứ không san sẻ, giúp đỡ người khác. Đó là cái nhân khi chết sẽ đi vào loài ngạ quỷ, lúc nào cũng chịu cảnh đói khát, không bao giờ no đủ. Vì thế Đức Phật mới dạy Pháp bố thí, nếu không thực hành bố thí thì sanh vào những loài ngạ quỷ rất khủng khiếp, còn được làm người thì không có nhà ở, không có cơm ăn áo mặc, lang thang khắp nơi. Mình đừng nghĩ mình cứ như vậy hoài, đó là tầm tưởng to lớn, một khi nhắm mắt ra đi thì bao nhiêu nghiệp quả, ác nghiệp, tất cả những gì cả đời gây tạo sẽ lôi đầu mình đi trong hoảng sợ, kinh khủng, tiếc nuối. Cho nên từ giờ không tu tập bố thí, không tu tập xả ly vô thường thì đến khi chết làm sao có thể chịu nổi? Những người chết bất thình lình không thể siêu thoát được, phải làm ngạ quỷ vì họ không có tâm lý chuẩn bị, chưa trăn trối về tiền bạc, tài sản, nhà cửa, họ không chấp nhận sự thật. Sự thật diễn ra trước mắt nhưng có những người không chấp nhận sự thật "Tôi không tin" rồi người ta điên loạn, khi mình chết đi cũng giống vậy, mình sống như thế nào thì khi chết đi thọ; tưởng; hành; thức cũng giống vậy, nhiều khi còn tệ hơn vì tất cả những cái tưởng, cảm thọ, suy nghĩ, hành động trong cả kiếp sống đều nhất tề ồ ạt diễn ra mà không có chánh niệm tỉnh giác, không có trí huệ thì nó sẽ cuốn mình đi đến đâu thì đi vì mình không có sức làm chủ. Tuyệt đối không bao giờ được suy nghĩ rằng mình sẽ được như vầy hoài, lúc nào Minh Thành cũng nhắc nhở điều này.
Mùa mưa ta ở đây
Ðông, hạ cũng ở đây,
Người ngu tâm tưởng vậy,
Không tự giác hiểm nguy.
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 286)
Nguy hiểm đang rình rập khắp mọi nơi nên cần phải biết sợ.
Quả báo tà dâm
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm). ...,...
-- Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với đầu chìm trong hố phân.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người thông dâm ở tại Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, I. Kẻ Thông Dâm Bị Chìm Trong Hố)
Thông dâm là ngoại tình, nếu có quan hệ bất chánh thì đầu sẽ ngập trong hố phân. Con mắt của Phật và ngài Mục-kiền-liên mới thấy được những điều này.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người chìm trong hố phân, ăn phân bằng hai tay.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một Bà-la-môn tại Ràjgaha này. Khi bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa đang giảng dạy, người ấy mời chúng Tỳ-kheo dùng cơm. Rồi người ấy lấy một cái gáo đựng đầy phân và nói: "Ôi mong các Tôn giả ăn cho tận kỳ thỏa thích và mang về!" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, II. Tà Ác Là Bà La Môn Ăn Phân)
Quả báo của người này phải ăn phân trong nhiều kiếp, lúc đó bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa, tức là Đức Phật Ca-diếp ở trước thời Đức Phật Thích-ca, khi Phật Ca-diếp và các vị Thánh Tăng được mời dùng cơm thì vị Tỳ-kheo này lấy gáo đầy phân rồi mời mọi người. Quả báo của ông là trở thành ngạ quỷ trong ngàn tỉ năm từ thời Phật Ca-diếp đến thời Phật Thích-ca vẫn còn phải ăn phân, tội phỉ báng Thánh Nhân, ác khẩu phải chịu quả báo như vậy, nhân quả của việc xúc phạm bậc hiền Thánh rất khủng khiếp vì tâm của các ngài vô tận như hư không cho nên nghiệp quả rất lớn, còn tâm nhỏ hẹp thì nghiệp quả tương xứng với sự nhỏ hẹp đó. Qua bài kinh này chúng ta thấy thiện ác lẫn lộn vào nhau, nếu không quý kính Phật Ca-diếp và chúng Tăng thì tại sao vị Tỳ-kheo này lại mời dùng cơm, mời cơm là thể hiện sự quý kính nhưng sau đó lại sanh khởi một ác tâm như vậy, có khi từ hành động ác để vị Tỳ-kheo đó có ý hủy nhục, phỉ báng chúng Tăng.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một phụ nữ bị lột da đang đi giữa hư không. Những con chim kên, những con quạ, những con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người phụ nữ ấy, này các Tỳ-kheo, là một người gian phụ ở Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, III. Gian Phụ bị Lột Da)
Gian phụ là ngoại tình, sẽ bị lột da giữa hư không.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người phụ nữ hôi hám, xấu xí đang đi trên hư không. Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người phụ nữ ấy, này các Tỳ-kheo, là một người bói toán ở chính Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, IV. Người Phụ Nữ Xấu Xí Bói Toán)
Hành nghề bói toán để lừa gạt người ta nhằm trục lợi cho bản thân, hậu quả kiếp sau là người hôi hám, xấu xí lại còn bị những con thú ăn thịt đuổi theo cắn xé.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người đàn bà ấy, này các Tỳ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, V. Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than Ðỏ trên Một Người Ðàn Bà)
Hoàng hậu của kiếp trước mà kiếp này lại trở thành một loài ngạ quỷ cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, kêu rên quằn quại trong hư không.
Sợ hãi ác nghiệp
Càng nói càng thấy sợ hãi với nghiệp quả, nhìn bằng con mắt thịt của mình vào những người có quyền thế, chức tước rồi lại lợi dụng chức vị quyền hạn tham ô, nhận hối lội, hiếp đáp người yếu thế, đổ oan ức cho người khác… đến khi nhắm mắt trở thành ngạ quỷ. Từ giờ cần cẩn thận trong suy nghĩ, hành động và lời nói của mình vì nghiệp quả là không thể nghĩ bàn được, rất đáng sợ, mới tức thì là người quyền uy, chức tước cao to mà đến khi nhắm mắt rồi không biết đi đâu, không bao giờ suy nghĩ sau khi chết mình đi trên con đường nào. Cho nên Đức Phật đã nói trong kinh Pháp Cú:
Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu?
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn?
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 146)
Suốt ngày cứ hơn thua, ganh tị, đấu đá, tính toán mưu mô đủ chuyện, lời lỗ, được mất, cao thấp, đến khi nhắm mắt chỉ có đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ác thú, khổ xứ, đọa xứ. Như vậy thì làm sao Chư Phật và các vị Thánh Tăng không thương xót? Bóng tối vô minh tràn ngập trên thế giới này, chỉ biết chạy theo bản ngã, sân hận, vô minh đến khi nhắm mắt chỉ có đi vào những cảnh rùng rợn, đến lúc đó ai cứu, ai giúp đỡ mình trong khi Bậc Chánh Đẳng Giác đã nhập Niết-bàn từ lâu, các bậc Thánh Tăng không còn ai. Không một ai có thể giúp mình, không có cha mẹ, anh chị em, cô chú bác nào có thể giúp mình mà tự mình phải gánh lấy chính nghiệp ác do mình gây ra.
Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII) (57) Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
"Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia, chúng sẽ làm cho ngươi, đúng theo sự phóng dật của ngươi. Ác nghiệp ấy của ngươi, không phải mẹ làm, không phải cha làm, không phải anh làm, không phải chị làm, không phải bạn bè thân hữu làm, không phải bà con huyết thống làm, không phải chư Thiên làm, không phải Sa-môn làm, Bà-la-môn làm. Ác nghiệp ấy chính do ngươi làm và Ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của ác nghiệp ấy.
Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 35.- Diêm Vương)
Cho nên hai chi phần để thành tựu Thánh quả rất quan trọng là hổ thẹn và sợ hãi. Hổ thẹn, nhục nhã khi mình có những ý nghĩ, lời nói, hành động xấu và sợ hãi với những ác nghiệp bất thiện, xấu xa để mình tự điều chỉnh bản thân, còn không thì nằm trên gường bệnh mà tiếc nuối, đau khổ quằn quại, khóc than hoảng loạn vì chắc chắn tất cả mọi người đều phải chết, chỉ là không biết chết như thế nào, chết khi nào và ở đâu thôi. Nhưng điều này lại không có ai lo mà chỉ lo ăn uống, cười giỡn, chơi bời, soi mói, phê phán, gây thị phi rồi tạo nghiệp, cả một đời lo gom góp, tích lũy, chất chứa rồi luyến ái với những cái đó, bị những thứ đó trói buộc rồi chấp thủ vào nó, chết đi lại không thể siêu thoát trở thành cô hồn để giữ những thứ đó, nhưng có phước mới giữ được còn không có phước cũng mất hết. Có rất nhiều cảnh khổ cho nên Đức Phật đã nói đây là khổ, khổ là đây.
Thời gian gần đây lại xảy ra trọng án giết người làm ba người chết, kẻ thủ ác hiện tại phải chịu án tử hình, sau khi chết còn phải chịu nghiệp quả đau đớn quằn quại gấp trăm ngàn lần. Sống trong vô minh và tham ái sẽ tạo ra biết bao ác nghiệp khủng khiếp, không có ánh sáng trí huệ của Phật Pháp thì làm sao thoát ra được?
Đó cũng là lý do tại sao Minh Thành có ước nguyện dù chỉ còn một hơi thở cũng cố gắng giảng dạy, truyền đạt rộng rãi dòng Pháp này ra khắp thế giới, để sau này những ai muốn đọc, muốn hiểu sẽ có tư liệu để tu tập, còn giờ không nói, không giảng thì không ai biết. Các huynh đệ và đại chúng cố gắng lắng nghe để làm lợi ích cho hiện tại và tương lai. Nhiều khi Minh Thành giảng mười thời, hai mươi thời pháp là thở không ra hơi, nhưng vẫn cố gắng vì mình biết đây là thiện pháp, là những lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, nếu đứt hơi trên pháp tòa thì đó là niềm vinh dự vì mình đã đem hết sức lực hoằng dương Chánh Pháp.
Vì vậy, mong đại chúng thấu hiểu, có mệt mỏi cũng phải cố gắng vì đây là sự nghiệp chung, nếu không làm thì bây giờ cũng khó có người làm, dòng pháp này cũng có nhiều người giảng nhưng giảng theo kiểu nghiên cứu kiến thức còn giảng theo đạo lộ tu hành rất hiếm người giảng. Vì biết rằng đây là thiện pháp, là chánh pháp, là vi diệu pháp nên cần phải nói để những người chưa nghe, chưa hiểu, chưa biết có thể biết, hiểu và thấy sợ nghiệp quả, nhất là để đền đáp ân đức cha mẹ, ông bà, cô bác, nếu không có tiếng chuông mạnh mẽ vang lên để thức tỉnh họ thì uổng một kiếp sống. Dù mình chưa chứng quả, chứng ngộ nhưng mình vẫn cố gắng làm những điều có thể làm trong khả năng thấy biết chính xác về Phật Pháp để lưu bố rộng rãi Chánh Pháp vì hiện tại bây giờ khó được nghe Chánh Pháp.
./.
NHÂN QUẢ ĐÁNG SỢ 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tương Ưng Lakkhana PAGEREF _Toc76453549 \h 1
1. Quả báo sát sanh PAGEREF _Toc76453550 \h 1
2. Quả báo trộm cắp, gian dối PAGEREF _Toc76453551 \h 6
3. Quả báo tà dâm PAGEREF _Toc76453552 \h 9
II. Sợ hãi ác nghiệp PAGEREF _Toc76453553 \h 11
Tương Ưng Lakkhana
Lúc bấy giờ Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna trú ở núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến Tôn giả Lakkhana.
Sau khi đến, nói với Tôn giả Lakkhana:
-- Chúng ta hãy cùng đi, này Hiền giả Lakkhana. Chúng ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Lakkhana vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallàna.
Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khi đi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi qua một chỗ, liền mỉm cười.
Rồi Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
-- Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
-- Này Hiền giả Lakkhana, không phải thời là câu hỏi ấy. Trước mặt Thế Tôn, hãy hỏi tôi câu hỏi ấy.
Quả báo sát sanh
Rồi Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna sau khi đi khất thực ở Ràjagaha xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
-- Ở đây, Tôn giả Mahàa Moggallàna khi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười. Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
-- Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
-- Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: "Thật vi diệu thay! Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một Dạ-xoa như vậy! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy!"
Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
-- Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử! Sống với nhau như thực trí, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
Xưa kia, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Ðống Xương)
Như thực nhãn là con mắt đúng sự thật, sống với nhau bằng con mắt thấy được sự thật, sống với nhau bằng trí huệ thấy được sự thật. Thế Tôn nói rằng xưa kia ngài đã thấy người đó bị như vậy nhưng ngài không nói vì không ai tin, mà không tin ngài thì sẽ đau khổ lâu dài vì đó là sự thật của bậc Chánh Đẳng Giác thấy và nói ra.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò (goghatako) ở Ràjagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Ðống Xương)
Người có bộ xương đau đớn quằn quại đó là một đồ tể, do nghiệp đó nên sau khi chết người này xuống địa ngục và bị nung nấu trong nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm. Có những cánh cửa địa ngục một ngày đêm bằng năm mươi năm trên mình, một ngày đêm bằng cả trăm năm hoặc hàng ngàn năm, như vậy nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm thì đến bao lâu trên dương thế? Sau khi hết nghiệp đó thì quả dị thục còn lại là gánh lấy thân thể khốn khổ của ngạ quỷ, con mắt thịt của mình làm sao thấy được điều này? Những điều này được con mắt của Đức Phật và Thánh Tăng Mục-kiền-liên nhìn thấy, trong không gian này đầy rẫy những chúng sanh, có nhiều dạng thức của chúng sanh đang thống khổ dù mình không nhìn thấy. Học để biết sợ nhân quả nghiệp báo, đừng nghĩ rằng mình giấu giếm là không ai thấy, không ai biết, những nghiệp chướng mình gây tạo ra là không thể trốn được, dù cho trốn được luật Pháp nhưng đối với nhân quả không thể trốn được, những đời sống sau của mình phải gánh lấy những hậu quả mà mình đã tạo ra trong hiện tại.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một đống thịt đang đi giữa hư không. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Ðồ Tể Giết Trâu Bò)
Đây cũng là một đồ tể, khi nãy là hình dáng bộ xương còn giờ là hình dáng một đống thịt. Vì xẻ thịt, cắt thịt, bán thịt thì hình dáng kiếp sau là một đống thịt, rơi vào cõi ngạ quỷ do không thể đầu thai làm người được. Đống thịt đó vẫn có cảm giác, vẫn có thọ; tưởng; hành như chúng sanh, đống thịt này bị những loài ăn thịt bay theo sau cắn xé, mổ thịt làm đau đớn khủng khiếp. Và họ phải chịu đựng kiếp sống đó cho đến khi nào hết nghiệp thì thôi.
Vì thế, trong gia đình gặp được sư bà và những lời dạy dỗ, nhắc nhở là nhằm cứu giúp cho mình. Nếu mình không từ bỏ nghề sát sanh mà làm đến giờ thì chắc chắn đời sau sẽ lãnh hậu quả như lời kinh nói. Những gì mình phải gánh chịu như bệnh hoạn, đau nhức là từ nghiệp thật nặng của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đó là giảm nhẹ những nghiệp nhẹ trong hiện tại đang gánh chịu. Vì thế phải vui mừng chứ không phải khổ rồi than thở sao tu mà bệnh hoài, đó là từ cái nặng giảm lại nhẹ thành ra như thế, đã vậy còn không cố gắng tinh tấn, nỗ lực tu tập, lại ở trong vô minh, làm biếng thì cơ hội rơi vào ba đường ác vẫn hiển hiện trước mắt. Nhân quả, nghiệp báo do con mắt của Phật, con mắt của các vị Thánh Tăng A-la-hán mới nhìn thấy được, còn mình là con mắt thịt tầm nhìn hạn hẹp làm sao thấy được, cho nên đừng nói không có nhân quả.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một miếng thịt đang đi giữa hư không... đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một kẻ săn chim ở Ràjagaha. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Một Miếng Thịt và Kẻ Bắt Chim)
Săn bắn thú vật cũng đầu thai thành miếng thịt, bị đau đớn do bị mổ xẻ. Khi nãy là cục thịt còn giờ là một bị da, bị các con thú ăn thịt đuổi theo cấu xé.
Ở đây, này Hiền giả... tôi thấy một bị da... cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn...
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người đồ tể giết dê ở tại Ràjagaha này... (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Người Giết Dê Bị Lột Da)
Lời kinh này nói vắn tắt nhưng phải hiểu người này phải chịu đọa đầy trong địa ngục nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm rồi mới lên kiếp ngạ quỷ, sau khi chịu hết kiếp ngạ quỷ mới lên kiếp súc sanh cầm thú. Mỗi lần chuyển kiếp như vậy cực kì lâu trong ngàn tỷ năm chứ không phải ngắn ngủi như kiếp sống con người.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng đao kiếm đang đi giữa hư không. Các đao kiếm ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người giết heo ở tại Ràjagaha này... (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Người Giết Heo Với Ðao Kiếm)
Người này lông bằng dao kiếm dựng đứng lên và dao kiếm rơi xuống trên thân người này để chặt chém vì lúc còn sống người này chặt, chém, mổ xẻ heo (đồ tể) nên giờ chết đi phải chịu cảm thọ đau đớn như vậy. Mình cắt cổ, ăn uống vui say trên những miếng thịt đó trong khi đó miếng thịt đó là mạng sống của một chúng sanh, ngoài ra mình còn chê khen thịt tươi, thịt dở, thịt dai và quả báo phải bị đao gươm chặt chém cơ thể trong đau đớn quằn quại qua nhiều kiếp. Không phải tự nhiên mình giết hại chúng sanh là xong, những chúng sanh đó đau đớn, thống khổ và sau khi chết mình cũng sẽ chịu sự đau đớn như vậy. Chỉ vì miếng ăn một chút thôi mà quả báo vô cùng khủng khiếp, Minh Thành đang có cảm thọ khủng hoảng, khiếp sợ, ớn lạnh. Đây là lời nói của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nên phải tin tưởng tuyệt đối, tạng kinh này đã được truyền thừa ba ngàn năm. Chúng ta giờ cứ mê ăn, mê chơi, lo ngủ, không chịu tu, nói thị phi tạo nghiệp, nghiệp cũ trả chưa hết lại tạo thành nghiệp mới, nghiệp mới lại đẻ ra lời lãi rồi khi nhắm mắt sẽ đi tới đâu? Minh Thành đọc những lời kinh này và đi kinh hành chiêm nghiệm nên thấy xót xa cho mình và cho tất cả chúng sanh, cho những người không hiểu biết, không thấy biết. Kinh hãi, hoảng sợ thật sự đối với nghiệp quả, tất cả những hình dáng, dạng thức của chúng sanh phải chịu sự cảnh khổ của nghiệp quả, nếu mình thấy được sẽ điên loạn
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi kim đang đi giữa hư không...
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người điều phục các loài thú. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Người Ðánh Xe Với Các Cây Kim)
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các cây lao đang đi trên hư không. Những cây lao ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người thợ săn thú ở tại Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Người Săn Thú Với Cây Lao)
Cây lao là cây có mũi nhọn để phóng vào những con thú, những cây đó rớt xuống đâm vào thân người vì lúc còn sống người đó phóng lao vào những con vật.
Quả báo trộm cắp, gian dối
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các mũi tên, đang đi giữa hư không. Những mũi tên ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người tra tấn ở tại Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VII. Người Tra Tấn Với Mũi Tên)
Người này bị đâm khắp người, bây giờ mình chỉ bị một cây kim đâm vào đã đau đớn chịu không nổi, ở đây toàn thân đều bị đâm như thế.
Ở đây, thưa Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi tên đang đi giữa hư không.
Các mũi tên ấy đâm vào đầu và ra khỏi miệng người ấy. Chúng đâm vào miệng và ra khỏi ngực người ấy, chúng đâm vào ngực và ra khỏi bụng người ấy, chúng đâm vào bụng và ra khỏi bắp vế của người ấy, chúng đâm vào bắp vế và ra khỏi cổ chân của người ấy, chúng đâm vào cổ chân và ra khỏi bàn chân của người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một gián điệp ở tại Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, IX. Người Do Thám)
Phải học những điều này để thấy sợ mới tu tập được, chứ không mình quên, nghĩ rằng an ổn rồi chết đi cũng vậy, đó là cái nghĩ theo mê lầm, vô minh cho nên tối khuya cũng phải tu chứ không được nằm trong phòng, đây là cơ hội quý báu để nương vào lực của đại chúng (đức chúng như hải) nhằm phá giải nghiệp chướng để ra đi được nhẹ nhàng. Còn không giải quyết nghiệp báo thì ra đi trong mờ tối và thống khổ. Tình thương được hiểu hiện ở chỗ giảng dạy nhân quả nghiệp báo để mình sợ rồi tu tập chứ không phải thương là cho ăn ngon, mặc đẹp, đó là thương nhưng hại, thương để làm biếng, giải đãi, còn đây là thương bằng trí huệ.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi kim đang đi giữa hư không...
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người điều phục các loài thú. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Người Ðánh Xe Với Các Cây Kim)
Có những nghiệp quả không thể tưởng tượng được.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một cái thân không đầu đi giữa hư không. Con mắt và miệng thời ở trên ngực.
Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người ăn cướp tên là Hàrika ở tại Ràjagaha. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, VI. Kẻ Trộm Cướp Ðứt Ðầu)
Lúc sống làm cướp rồi chặt đầu người ta đến khi chết đi làm ngạ quỷ không có đầu cho nên có những trường hợp thấy ma không đầu là có thật chứ không phải không có và nguyên nhân là từ đây, lúc sống làm cướp giết người. Đức Phật đã nói rõ tên người đó và nơi sinh sống, mắt và miệng trên ngực chứ không có đầu.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với hòn dái đang đi giữa hư không.
Khi đang đi, người ấy mang hòn dái trên vai mà đi. Khi ngồi, người ấy ngồi trên những hòn dái ấy.
Và các con chim kên kên, chim quạ, chim ưng đuổi theo người ấy để cắn mổ, cắn xé, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một phán quan ở Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất, X. Người Phán Quan Tham Nhũng Với Hòn Dái Lớn)
Phán quan là thẩm pháp tòa án nhưng không làm đúng trách nhiệm, nhận hối lộ xử án oan sai. Có nhiều người hiện tại có đầu to gấp nhiều lần người bình thường, đây là cõi người còn trong kinh là cõi ngạ quỷ, cõi này còn khổ hơn ngàn lần cõi người, đây là cô hồn vất vơ vất vưởng, lúc nào cũng phải chịu khổ, không lúc nào được no cho nên điều căn bản của loài ngạ quỷ là keo kiệt, bủn xỉn, không bố thí, chia sẻ, giúp đỡ bất kì ai, chẳng thà:
Tiền mục lúa hư, không cứu giá rét.
Lụa là chất đống, nào có giúp ai,
Được người mấy trăm, chưa cho là nhiều
Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.
Đó là loài ngạ quỷ, gom góp, tích lũy nhưng không bố thí, cúng dường, chẳng thà để tiền mục, đồ hư hỏng chứ không san sẻ, giúp đỡ người khác. Đó là cái nhân khi chết sẽ đi vào loài ngạ quỷ, lúc nào cũng chịu cảnh đói khát, không bao giờ no đủ. Vì thế Đức Phật mới dạy Pháp bố thí, nếu không thực hành bố thí thì sanh vào những loài ngạ quỷ rất khủng khiếp, còn được làm người thì không có nhà ở, không có cơm ăn áo mặc, lang thang khắp nơi. Mình đừng nghĩ mình cứ như vậy hoài, đó là tầm tưởng to lớn, một khi nhắm mắt ra đi thì bao nhiêu nghiệp quả, ác nghiệp, tất cả những gì cả đời gây tạo sẽ lôi đầu mình đi trong hoảng sợ, kinh khủng, tiếc nuối. Cho nên từ giờ không tu tập bố thí, không tu tập xả ly vô thường thì đến khi chết làm sao có thể chịu nổi? Những người chết bất thình lình không thể siêu thoát được, phải làm ngạ quỷ vì họ không có tâm lý chuẩn bị, chưa trăn trối về tiền bạc, tài sản, nhà cửa, họ không chấp nhận sự thật. Sự thật diễn ra trước mắt nhưng có những người không chấp nhận sự thật "Tôi không tin" rồi người ta điên loạn, khi mình chết đi cũng giống vậy, mình sống như thế nào thì khi chết đi thọ; tưởng; hành; thức cũng giống vậy, nhiều khi còn tệ hơn vì tất cả những cái tưởng, cảm thọ, suy nghĩ, hành động trong cả kiếp sống đều nhất tề ồ ạt diễn ra mà không có chánh niệm tỉnh giác, không có trí huệ thì nó sẽ cuốn mình đi đến đâu thì đi vì mình không có sức làm chủ. Tuyệt đối không bao giờ được suy nghĩ rằng mình sẽ được như vầy hoài, lúc nào Minh Thành cũng nhắc nhở điều này.
Mùa mưa ta ở đây
Ðông, hạ cũng ở đây,
Người ngu tâm tưởng vậy,
Không tự giác hiểm nguy.
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 286)
Nguy hiểm đang rình rập khắp mọi nơi nên cần phải biết sợ.
Quả báo tà dâm
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm). ...,...
-- Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với đầu chìm trong hố phân.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một người thông dâm ở tại Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, I. Kẻ Thông Dâm Bị Chìm Trong Hố)
Thông dâm là ngoại tình, nếu có quan hệ bất chánh thì đầu sẽ ngập trong hố phân. Con mắt của Phật và ngài Mục-kiền-liên mới thấy được những điều này.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người chìm trong hố phân, ăn phân bằng hai tay.
Chúng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, là một Bà-la-môn tại Ràjgaha này. Khi bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa đang giảng dạy, người ấy mời chúng Tỳ-kheo dùng cơm. Rồi người ấy lấy một cái gáo đựng đầy phân và nói: "Ôi mong các Tôn giả ăn cho tận kỳ thỏa thích và mang về!" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, II. Tà Ác Là Bà La Môn Ăn Phân)
Quả báo của người này phải ăn phân trong nhiều kiếp, lúc đó bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa, tức là Đức Phật Ca-diếp ở trước thời Đức Phật Thích-ca, khi Phật Ca-diếp và các vị Thánh Tăng được mời dùng cơm thì vị Tỳ-kheo này lấy gáo đầy phân rồi mời mọi người. Quả báo của ông là trở thành ngạ quỷ trong ngàn tỉ năm từ thời Phật Ca-diếp đến thời Phật Thích-ca vẫn còn phải ăn phân, tội phỉ báng Thánh Nhân, ác khẩu phải chịu quả báo như vậy, nhân quả của việc xúc phạm bậc hiền Thánh rất khủng khiếp vì tâm của các ngài vô tận như hư không cho nên nghiệp quả rất lớn, còn tâm nhỏ hẹp thì nghiệp quả tương xứng với sự nhỏ hẹp đó. Qua bài kinh này chúng ta thấy thiện ác lẫn lộn vào nhau, nếu không quý kính Phật Ca-diếp và chúng Tăng thì tại sao vị Tỳ-kheo này lại mời dùng cơm, mời cơm là thể hiện sự quý kính nhưng sau đó lại sanh khởi một ác tâm như vậy, có khi từ hành động ác để vị Tỳ-kheo đó có ý hủy nhục, phỉ báng chúng Tăng.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một phụ nữ bị lột da đang đi giữa hư không. Những con chim kên, những con quạ, những con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người phụ nữ ấy, này các Tỳ-kheo, là một người gian phụ ở Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, III. Gian Phụ bị Lột Da)
Gian phụ là ngoại tình, sẽ bị lột da giữa hư không.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người phụ nữ hôi hám, xấu xí đang đi trên hư không. Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người phụ nữ ấy, này các Tỳ-kheo, là một người bói toán ở chính Ràjagaha này. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, IV. Người Phụ Nữ Xấu Xí Bói Toán)
Hành nghề bói toán để lừa gạt người ta nhằm trục lợi cho bản thân, hậu quả kiếp sau là người hôi hám, xấu xí lại còn bị những con thú ăn thịt đuổi theo cắn xé.
Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Người đàn bà ấy, này các Tỳ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, V. Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than Ðỏ trên Một Người Ðàn Bà)
Hoàng hậu của kiếp trước mà kiếp này lại trở thành một loài ngạ quỷ cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, kêu rên quằn quại trong hư không.
Sợ hãi ác nghiệp
Càng nói càng thấy sợ hãi với nghiệp quả, nhìn bằng con mắt thịt của mình vào những người có quyền thế, chức tước rồi lại lợi dụng chức vị quyền hạn tham ô, nhận hối lội, hiếp đáp người yếu thế, đổ oan ức cho người khác… đến khi nhắm mắt trở thành ngạ quỷ. Từ giờ cần cẩn thận trong suy nghĩ, hành động và lời nói của mình vì nghiệp quả là không thể nghĩ bàn được, rất đáng sợ, mới tức thì là người quyền uy, chức tước cao to mà đến khi nhắm mắt rồi không biết đi đâu, không bao giờ suy nghĩ sau khi chết mình đi trên con đường nào. Cho nên Đức Phật đã nói trong kinh Pháp Cú:
Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu?
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn?
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 146)
Suốt ngày cứ hơn thua, ganh tị, đấu đá, tính toán mưu mô đủ chuyện, lời lỗ, được mất, cao thấp, đến khi nhắm mắt chỉ có đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ác thú, khổ xứ, đọa xứ. Như vậy thì làm sao Chư Phật và các vị Thánh Tăng không thương xót? Bóng tối vô minh tràn ngập trên thế giới này, chỉ biết chạy theo bản ngã, sân hận, vô minh đến khi nhắm mắt chỉ có đi vào những cảnh rùng rợn, đến lúc đó ai cứu, ai giúp đỡ mình trong khi Bậc Chánh Đẳng Giác đã nhập Niết-bàn từ lâu, các bậc Thánh Tăng không còn ai. Không một ai có thể giúp mình, không có cha mẹ, anh chị em, cô chú bác nào có thể giúp mình mà tự mình phải gánh lấy chính nghiệp ác do mình gây ra.
Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII) (57) Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy:
"Này người kia, chính vì do phóng dật, ngươi đã không làm các điều lành về thân, về lời nói, về ý. Thật vậy, này người kia, chúng sẽ làm cho ngươi, đúng theo sự phóng dật của ngươi. Ác nghiệp ấy của ngươi, không phải mẹ làm, không phải cha làm, không phải anh làm, không phải chị làm, không phải bạn bè thân hữu làm, không phải bà con huyết thống làm, không phải chư Thiên làm, không phải Sa-môn làm, Bà-la-môn làm. Ác nghiệp ấy chính do ngươi làm và Ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của ác nghiệp ấy.
Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 35.- Diêm Vương)
Cho nên hai chi phần để thành tựu Thánh quả rất quan trọng là hổ thẹn và sợ hãi. Hổ thẹn, nhục nhã khi mình có những ý nghĩ, lời nói, hành động xấu và sợ hãi với những ác nghiệp bất thiện, xấu xa để mình tự điều chỉnh bản thân, còn không thì nằm trên gường bệnh mà tiếc nuối, đau khổ quằn quại, khóc than hoảng loạn vì chắc chắn tất cả mọi người đều phải chết, chỉ là không biết chết như thế nào, chết khi nào và ở đâu thôi. Nhưng điều này lại không có ai lo mà chỉ lo ăn uống, cười giỡn, chơi bời, soi mói, phê phán, gây thị phi rồi tạo nghiệp, cả một đời lo gom góp, tích lũy, chất chứa rồi luyến ái với những cái đó, bị những thứ đó trói buộc rồi chấp thủ vào nó, chết đi lại không thể siêu thoát trở thành cô hồn để giữ những thứ đó, nhưng có phước mới giữ được còn không có phước cũng mất hết. Có rất nhiều cảnh khổ cho nên Đức Phật đã nói đây là khổ, khổ là đây.
Thời gian gần đây lại xảy ra trọng án giết người làm ba người chết, kẻ thủ ác hiện tại phải chịu án tử hình, sau khi chết còn phải chịu nghiệp quả đau đớn quằn quại gấp trăm ngàn lần. Sống trong vô minh và tham ái sẽ tạo ra biết bao ác nghiệp khủng khiếp, không có ánh sáng trí huệ của Phật Pháp thì làm sao thoát ra được?
Đó cũng là lý do tại sao Minh Thành có ước nguyện dù chỉ còn một hơi thở cũng cố gắng giảng dạy, truyền đạt rộng rãi dòng Pháp này ra khắp thế giới, để sau này những ai muốn đọc, muốn hiểu sẽ có tư liệu để tu tập, còn giờ không nói, không giảng thì không ai biết. Các huynh đệ và đại chúng cố gắng lắng nghe để làm lợi ích cho hiện tại và tương lai. Nhiều khi Minh Thành giảng mười thời, hai mươi thời pháp là thở không ra hơi, nhưng vẫn cố gắng vì mình biết đây là thiện pháp, là những lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, nếu đứt hơi trên pháp tòa thì đó là niềm vinh dự vì mình đã đem hết sức lực hoằng dương Chánh Pháp.
Vì vậy, mong đại chúng thấu hiểu, có mệt mỏi cũng phải cố gắng vì đây là sự nghiệp chung, nếu không làm thì bây giờ cũng khó có người làm, dòng pháp này cũng có nhiều người giảng nhưng giảng theo kiểu nghiên cứu kiến thức còn giảng theo đạo lộ tu hành rất hiếm người giảng. Vì biết rằng đây là thiện pháp, là chánh pháp, là vi diệu pháp nên cần phải nói để những người chưa nghe, chưa hiểu, chưa biết có thể biết, hiểu và thấy sợ nghiệp quả, nhất là để đền đáp ân đức cha mẹ, ông bà, cô bác, nếu không có tiếng chuông mạnh mẽ vang lên để thức tỉnh họ thì uổng một kiếp sống. Dù mình chưa chứng quả, chứng ngộ nhưng mình vẫn cố gắng làm những điều có thể làm trong khả năng thấy biết chính xác về Phật Pháp để lưu bố rộng rãi Chánh Pháp vì hiện tại bây giờ khó được nghe Chánh Pháp.
./.