Tổng quát pháp hành Nikaya 1
TỔNG QUÁT PHÁP HÀNH NIKĀYA
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tâm biết ơn PAGEREF _Toc157159348 \h 1
II.Tâm hiền PAGEREF _Toc157159349 \h 2
III.Tâm hòa kính PAGEREF _Toc157159350 \h 4
IV.Nhiếp phục dục, tham PAGEREF _Toc157159351 \h 7
V.Đánh gục bản ngã PAGEREF _Toc157159352 \h 9
VI.Tứ vô lượng tâm PAGEREF _Toc157159353 \h 11
Hôm nay chúng ta có buổi chia sẻ tổng quát về pháp hành trong kinh tạng Nikāya để tìm hiểu thứ tự trước sau trong tu tập.
Tâm biết ơn
Trong bước đầu tu học, đầu tiên chúng ta cần thực tập tâm biết ơn và nhớ ơn. Thường sanh khởi ý niệm nhớ ơn và biết ơn đối với người có ơn, đặc biệt là ông bà, cha mẹ, con cháu, vợ chồng, anh chị em; những người ân nhân có nghĩa, có tình đã từng giúp đỡ, hỗ trợ về mọi mặt từ vật chất đến tinh thần trong lúc chúng ta gặp khó khăn, nguy cấp, khổ nạn. Những vị ân nhân đó mình phải thường nhớ ơn, biết ơn, cảm ơn. Đây là pháp tu tuyệt đối quan trọng, là căn bản luân lý đạo đức của một con người, cũng là chất liệu của bậc chân nhân theo tinh thần lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.
Nếu suy nghĩ về cha mẹ, ông bà hãy suy nghĩ về ân đức, sự hy sinh, sự khó khăn, gian khổ, nhọc nhằn, vất vả của cha mẹ, ông bà dành cho chúng ta. Với bà con quyến thuộc, dòng họ, cô bác, chú dì, hãy nghĩ về những điều tốt đẹp mà họ đã làm để tạo nhiều duyên lành, giúp đỡ, nâng đỡ, hỗ trợ chúng ta.
Đối với vợ chồng, nếu nghĩ về nhau, hãy nghĩ về những lúc khó khăn, bệnh tật, những lúc yếu đuối, suy sụp nhất, chúng ta đã đồng cam cộng khổ, chia sẻ nghĩa tình, sớt chia ngọt bùi cùng nhau. Những lúc nằm ở bệnh viện, ta được chăm sóc từng ly nước, viên thuốc, bát cháo, với những lời động viên an ủi, khích lệ. Trong những lúc ta cô đơn, lẻ loi, đơn độc trên cuộc đời này, ta còn có một người thân bên cạnh để yêu thương, thật ấm áp, ngọt ngào, nghĩa tình. Khi nhớ về vợ chồng hãy nhớ về những điều đó của nhau. Đây là cách để chúng ta đang thực tập tâm nhớ ơn và biết ơn.
Đối với con cháu, chúng ta đừng lấy quyền làm ông, làm cha, làm mẹ, làm bà ra dạy dỗ; mà hãy nhìn một cách khách quan, bình đẳng vì con cháu cũng là những người ân nhân đã giúp đỡ, hỗ trợ, lo lắng, chăm sóc, cho chúng ta có được những cảm giác ngọt ngào, yêu thương, trìu mến. Chúng ta cảm ơn và biết ơn vì có một người để chúng ta yêu thương, đồng thời có một người luôn thương yêu chúng ta. Khi nhớ về con cháu, ta hãy nhớ như vậy.
Từ trong nhà cho đến ngoài phố, những người hàng xóm láng giềng, tối lửa tắt đèn có nhau, hãy nhớ đến những gì họ đã giúp đỡ, hỗ trợ mình. Trong công ty, xí nghiệp, trong tình đồng đội, đồng chí, đồng học, đồng tu, chúng ta hãy cùng nhìn nhau bằng ánh nhìn của các bậc ân nhân, ân đức, nghĩa tình.
Rộng hơn nữa, khi bước đi trên một con đường, lòng chúng ta hãy khởi lên tâm biết ơn đối với người đã làm nên con đường ấy. Khi ăn một chén cơm, ta cũng nhớ ơn của những người đã cấy cày, trồng trọt, với biết bao mồ hôi nước mắt. Khi được ở trong ngôi nhà vững chãi, được che mưa che nắng, ta cũng thầm cảm ơn những người thợ đã dựng xây lên ngôi nhà này…
Tâm biết ơn, nhớ ơn này cần được tu tập cho thật sâu sắc, thấm thía, lan tỏa, trải rộng để mỗi ngày ta đều sống trong thế giới của sự biết ơn. Từng làn gió mát, từng ánh nắng mặt trời soi chiếu ấm áp, từng chiếc lá xanh, từng bông hoa khoe sắc trên cành, cho đến dòng sông, biển cả, con suối, giọt nước, ngọn đồi… ta đều trải tâm biết ơn. Khi uống một chung trà, hãy nhớ nước này ở đâu có, trà này ai chăm, ai khéo vun trồng. Khi ăn chén cơm, biết ơn người nấu nướng, dọn bưng.
Như vậy pháp tu đầu tiên để bước vào dòng pháp Nikāya là tâm biết ơn và nhớ ơn. Khi sống trong tâm này, ta nhìn mọi người, cảnh vật, đồ vật xung quanh đều bằng tâm biết ơn, nhớ ơn. Nhờ vậy tâm ta được dễ chịu, ngọt ngào, ấm áp, dạt dào; xua tan được những cảm thọ sân hận, bực bội, khó chịu, đẩy lùi tâm phản phúc, phản trắc, vô ơn, vô nghĩa, vô tình, ít nhất cũng làm giảm thiểu, đoạn giảm, giảm bớt rồi dần dần đi đến chỗ diệt tận, tẩy sạch những tâm bất thiện. Tâm bất hiếu, ngỗ nghịch, vô ơn, phản bội bị tâm biết ơn và cảm ơn của bậc chân nhân tẩy xóa, gội rửa để đi đến chỗ trong sạch hoàn toàn. Đây chính là “Pháp hành Nikāya tổng quát”, tiếp sau quyển “ Pháp hành Nikāya căn bản” mà chúng ta đã và đang được học.
Tâm hiền
Pháp thứ hai chính là tâm hiền, tâm hiền là tâm hiền diệu, hiền lành, hiền thiện, hiền đức, hiền lương, hiền hậu. Trong từng cử chỉ, hành vi, lời nói, ánh mắt, suy nghĩ, cảm xúc…chúng ta phải khéo lèo lái đưa vào tâm hiền.
Biểu hiện đầu tiên là qua hành động, chúng ta tập cho hành động luôn an tịnh, lắng dịu, hạn chế phát ra tiếng động một cách tối đa, chẳng hạn khi mở cánh cửa, nhấc cái ghế, lấy cái chén… từng cử chỉ phải nhẹ nhàng, êm ái, lắng dịu.
Khi nhiếp phục được những cái thô ở bên ngoài thì ta mới đi đến điều sâu sắc bên trong. Kiểm tra trong từng lời nói xem khẩu khí, âm giọng, chất giọng, giọng điệu lúc nói chuyện có hiền dịu, dễ chịu, ngọt ngào không? Cho đến những suy nghĩ bên trong tâm, nếu thấy suy nghĩ không hiền thì lập tức nhiếp phục, tác ý đưa chúng quay trở về với những suy nghĩ thiện lành. Tập nhìn thấy những hình bóng, những suy nghĩ nói thầm, những cảm xúc trong tâm; sau đó dẫn dắt, đưa chúng trở về theo chiều hướng hiền thiện.
Hơn nữa, chúng ta hung dữ, cáu gắt, sân giận để được cái gì?! Chẳng những không đem lại lợi ích, mà còn khiến cho bản thân bị thù ghét, chất chứa thêm nhiều sân giận, phiền não và khổ đau, cùng những sự khẩu tranh, cạnh tranh, đấu tranh… Do vậy, ta đừng đả thương nhau bằng vũ khí miệng lưỡi, mà hãy nói bằng tâm từ, tâm thương, nói lời chân thật, chân thành, dùng lời ái ngữ, nói đúng người, đúng lúc, đúng thời điểm, bằng giọng nói nhỏ nhẹ, nhu hòa, hòa nhã, như vậy đó là tâm hiền từ miệng thốt ra.
Trong ánh mắt cũng vậy, hãy tập cho mình ánh nhìn hiền từ, dùng “mắt thương nhìn cuộc đời”. Đừng nhìn nhau bằng ánh mắt tóe lửa, khiến cho người khác lo sợ, bất an, đau khổ hoặc bực bội, khó chịu.
Như vậy, chúng ta cần tu tập trong từng ánh mắt, hành vi, lời nói, cử chỉ… để đưa chúng vào đạo lộ của tâm hiền lành, hiền thiện. Vì đây là pháp hành nên chúng ta phải thực tập, thực hành, không phải nghe bằng tai, nói bằng miệng rồi để đó là xong, mà ta phải thực tập cho đến hết cuộc đời này.
Tập kiểm soát khi ăn, ăn với một cảm giác an tịnh lắng dịu, không húp sồn sột, không vừa ăn vừa nói, phun cơm ra ngoài. Tất cả mọi cử chỉ hành động, đều nằm trong sự an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, không làm hại ai, không nói lời hại người, không suy nghĩ những tư tưởng hại người, không muốn ai làm hại, không muốn làm hại ai. Tự thân chúng ta phải hoàn toàn vô hại, bất hại, không hại đối với tất cả mọi người, cho đến từng con vật nhỏ. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào khi tiếp xúc với xung quanh, chúng ta cũng hoàn toàn vô hại, bất hại, không có não hại. Đây là phương pháp thực tập tâm hiền.
Tâm hòa kính
Pháp hành thứ ba là thực tập tâm hòa kính. Trong đó, “hòa” là lục hòa, “kính” là cung kính. Trong cuộc sống, ta cần phải có sự hài hòa, nếu không, đôi khi chúng ta chỉ có tâm hiền nhưng lại sống không chan hòa với những người xung quanh. Nghĩ rằng, “tôi tu cho mình tôi, tôi làm cho tôi, người muốn làm gì thì tự làm, tôi không đụng chạm đến ai và cũng không muốn ai đụng chạm đến tôi”. Như vậy là không có sự hòa kính với nhau.
Tâm hoà kính là chất liệu quan trọng để xây dựng hạnh phúc trong Tăng đoàn, trong đạo tràng, trong gia đình, trong đoàn thể, trong tập thể, trong công ty, trong xí nghiệp. Vì vậy, chúng cần thường xuyên thực tập thân làm việc từ hòa, miệng nói lời từ hòa, ý nghĩ điều từ hòa.
Khi nhận được thức ăn ngon hay món đồ gì đó cũng chia đều với nhau, gọi là lợi hòa đồng quân. Giới hòa đồng tu là sống trong đại chúng, trong một tập thể thì người sao mình vậy, không làm ngược lại. Chẳng hạn, giờ đại chúng đi tu mình đi ngủ; giờ đại chúng nghỉ ngơi mình đi tu; giờ đại chúng thiền quán mình thiền chỉ; giờ đại chúng thiền chỉ mình đeo tai nghe thiền quán; giờ đại chúng đi làm, mình đi đọc kinh; giờ đại chúng đọc kinh, mình lại đi làm… Thường làm điều không giống mọi người cho thấy người này không có tinh thần hòa hợp.
Để có thể hòa hợp được với tất cả mọi người, ít nhất là trong khóa tu hai tuần hoặc khoá tu một ngày hành trì hiền trí, khoá tu một ngày giữ giới Bát quan trai, đây là thời gian rèn luyện tâm, tập cho tâm không chống đối. Tu tập tâm hòa ái là để diệt tâm chống đối, tâm chúng ta khi nghe một việc gì đó thường thích cãi trước rồi tính sau, phải cãi lại một chút mới chịu, không cần biết là đúng hay sai, thậm chí biết mình không đúng vẫn cứ cãi, tâm này gọi là tâm bất thiện. Vì vậy cố gắng làm sao để tu tập được tâm hài hòa, nhất là hài hòa trong sự tu học, trong đời sống đức hạnh, trong những pháp hành cao quý, trong Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo.
Trong thời Đức Phật, các bậc Thánh Tăng, chư vị Tỳ-kheo khi được Đức Phật hỏi các Ngài cùng sống, cùng tu hành với nhau có an ổn không thì các Ngài nói các Ngài rất an ổn, an lạc, thân tuy khác nhau nhưng tâm giống như đồng một tâm (trích Trung bộ kinh, 31. Tiểu kinh Rừng sừng bò). Đồng một tâm ở đây là vị nào cũng muốn diệt tham, sân, si, bẽ gãy bản ngã, diệt tận vô minh, làm sạch hết khát ái, tu tập tâm hiền, hướng đến trí tuệ.
Cũng vậy, chúng ta thường tự nhắc mình đồng tâm với nhau, cùng hòa vào tâm tu học, tâm hiền kính, hiền trí, hiền thiện, không chống đối, khó chịu, trái nghịch với nhau…. không những ở trong lời nói, hành động, mà cả trong tâm niệm. Thực tập được điều này, những thành viên sống chung trong một gia đình sẽ rất bình an, hạnh phúc, ngọt ngào. Như câu “gia hòa vạn sự hưng”, gia đình nào sống hài hòa, hoà hợp với nhau thì sẽ phát triển, hưng thịnh. Ngược lại, chồng nói một tiếng, vợ cự lại ba tiếng; mẹ dạy một câu, con cãi lại ba câu thì làm sao gọi là hòa hợp; mà không hòa hợp thì không thể hưng thịnh; bất hòa thì chỉ có suy vong, chỉ bại mà không thành.
Vì lẽ ấy, chúng ta cần thực hành tu tập tâm hoà ái cùng với tâm cung kính, kính quý, kính trọng, kính ái, kính mến, kính thương nhau; dù thương yêu nhau nhưng luôn có sự kính trọng lẫn nhau. Chữ “trọng” ở đây là có sức nặng, có trọng lượng, không phải là xem nhẹ, khinh thường. Luôn thấy được ân nghĩa, ân tình với nhau rất là sâu nặng, ân thâm nghĩa trọng nên ta luôn kính trọng nghĩa tình đó trong sự chung sống, đối đãi với nhau. Dù là vợ chồng, cha mẹ hay thầy trò, huynh đệ, tỷ muội…đều có sự tôn trọng, kính quý, kính trọng nhất định. Không phải ở chung một thời gian là hỗn tạp, không còn trên dưới, trước sau. Khi trật tự lễ giáo bị mất đi, sanh ra tâm xem thường nhau, tất cả sẽ trở thành một mớ hỗn độn, một đống xà bần. Nếu xã hội không có pháp kính lễ thì sẽ mất đi trật tự, thiên hạ đại loạn, không có thứ bậc, tôn ti, trật tự, lễ nghi, lễ kính, không biết ai là thầy, ai là trò, ai là cha mẹ, cô chú bác…ăn nói trống không, ngang hàng phải lứa, không biết ai là ai.
Đạo tràng Nikāya có được chất liệu trang nghiêm, tôn trọng, cung kính, biết ơn. Tu học là phải trang nghiêm, chùa không phải là nơi vui chơi giải trí, đến chùa để nghe pháp, không phải đến nghe tấu hài, xem hài kịch, tìm niềm vui. Nếu không khéo hành trì, tu tập, giảng giải thì một thời gian nữa chúng ta sẽ làm biến chất, mất chất giáo pháp.
Vì thế, trong cuộc sống có sự kính ái, kính thương, kính trọng, kính quý thì tâm chúng ta sẽ ngọt ngào, ấm áp, dễ chịu, cao đẹp, trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, biết ơn, trật tự rõ ràng trên dưới, trước sau minh bạch. Bằng không, vợ chồng sống chung với nhau một thời gian thì mất đi sự ngọt ngào, đậm đà, thương kính như lúc ban đầu. Người xưa thường nói: “tương kính như tân” là kính nhau giống như lần đầu mới gặp. Giống như lần đầu khách đến nhà, gia chủ rất giữ kẻ, rất lịch sự, rất cẩn thận, chú ý qua từng cử chỉ, từng hành động, ăn mặc kín đáo, nhà cửa sạch sẽ thơm tho, chén bát gọn gàng, tươm tất, sang trọng. Nhưng khi ở chung với nhau một thời gian thì không còn sự kín kẽ, kính quý như buổi ban đầu mới gặp, thay vào đó là phô bày ra hết những tập khí, thói hư tật xấu, cuối cùng gia đình không còn là mái ấm.
Hơn 30 năm vào chùa tu tập cho đến nay Minh Thành vẫn giữ được cho mình pháp hành này, đó là tâm kính quý lẫn nhau, dù cho đó là học trò hay Phật tử. Lúc nào cũng giữ tâm kính trọng đối với Chư tôn đức, Chư vị hiền trí. Không vì quen thuộc nên buông thùa, xem nhau giống như người trong nhà, một khi đã có suy nghĩ như vậy là bắt đầu cho sự buông lung, thả lỏng tập khí, bung ra những thói quen, bản ngã, tật xấu; tâm kính trọng, kính ái, kính quý thuở ban đầu cũng sẽ bị mất đi. Cho nên, chúng ta hãy thường đọc tụng, chiêm nghiệm bài kinh Người Vợ Trẻ, Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 để nhắc nhở bản thân, luôn giữ tâm mình như một cô dâu mới về nhà chồng, thấy gì cũng rụt rè, e dè, cẩn thận, khép nép, một dạ hai vâng.
Khi Minh Thành được bậc Đạo sư chỉ dạy, từ lúc ban đầu cho đến ba bốn năm về sau này, trong tin nhắn Ngài gửi cho Minh Thành luôn là một dạ hai thưa, trước sau như một không thay đổi, chính vì điều này khiến cho Minh Thành luôn muốn học hỏi. Trong từng tin nhắn, trong từng lời nói, trong từng hành động, Ngài giáo huấn, giáo dục, dạy dỗ một cách tự nhiên và Minh Thành cảm nhận được pháp cung kính phải là như vậy.
Đối với cha mẹ nếu trong tâm còn có sự bất kính thì đối với ai chúng ta có thể cung kính được; đối với ông bà còn tỏ ra vô lễ thì ta có lễ được với ai; đối với thầy, bậc đạo sư, người mà mình bỏ cha, bỏ mẹ, cạo đầu để đi theo, nhưng ở một thời gian lại bất kính vô lễ với thầy thì cuối cùng mình kính trọng được ai; đối với vợ chồng mà sống với nhau không nghĩa tình thì nghĩa tình được với ai; đối với con cái không có sự thương yêu hy sinh bằng tất cả tấm lòng thì chúng ta có thể thương yêu ai được… Qua đây, chúng ta thấy được tầm quan trọng của pháp cung kính và đây cũng là pháp hành trong đạo tràng Nikāya.
Từ sự cung kính Tam bảo, Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới, cung kính bậc đạo sư, thầy tổ như thế nào thì chúng ta cung kính ông bà, cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái trong gia đình cũng như vậy. Đồng thời đem tâm cung kính ấy đối đãi với người ngang hàng, với bạn đồng tu, với người kém may mắn hơn mình… dù người ta có thấp kém hơn, chúng ta vẫn kính quý tấm lòng, nghĩa tình, tâm chân thành của họ. Đây chính là pháp hành cao đẹp trong kinh tạng Nikāya.
Nhiếp phục dục, tham
Pháp hành thứ tư là kiểm soát sự thúc giục từ bên trong. Khi nhận thấy bên trong có sự thúc giục muốn nói cái này cái kia, chuyện này chuyện nọ thì cố gắng nhiếp phục, giữ bình tĩnh, lắng dịu, tĩnh tâm, tĩnh tư, tĩnh mặc, trầm tĩnh lại. Không phải muốn làm là làm, muốn nói là nói; mà cần kiểm tra, kiểm soát những sự thúc giục trong tâm rồi nhiếp phục dục.
Dục ở đây có nghĩa rất rộng, không phải chỉ có dục giữa nam nữ, mà là sự thúc giục trong lời nói, việc làm, hành động, trong suy nghĩ, trong cảm thọ. Ngoài ra còn có dục ăn, dục nói, dục chơi, dục làm... rất nhiều loại dục gây ra khiến chúng ta tan nhà nát cửa, tán gia bại sản, vợ chồng phân ly, con cái khổ đau, cho nên phải nhìn thấy được những thúc giục bất thiện trong tâm để nhiếp phục.
Có những loại thúc giục hướng thượng, hướng thiện cần được phát huy như tâm thúc giục chúng ta đi làm từ thiện, đi chùa nghe pháp, giảng kinh hay có sự thúc giục hy sinh, đóng góp cho cộng đồng, cho số đông… Còn những loại thúc giục đưa đến khổ đau như sát sanh, trộm cắp, tà dâm thì ta cần nhiếp phục, chế ngự, diệt tận, tẩy sạch, dùng chổi quét những loại thúc giục này ra khỏi căn nhà nội tâm.
Nếu có sự thúc giục mình tham gia vào những câu chuyện thị phi, phù phiếm, nói những câu chuyện vô ích, không hướng đến mục đích, “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, nói lời thêu dệt, gây chia rẽ, chia lìa; chúng ta phải nhận thấy được sự thúc giục này và nhiếp phục, chế ngự, diệt tận chúng. Thực tập tịnh khẩu, không cho dục nói hoành hành, lúc đó hãy vào ngồi thiền, nhận diện ngũ uẩn, đánh đuổi những cảm thọ thúc giục đang dâng lên, làm cho tâm yên tịnh, lắng dịu xuống.
Sau đó vào quỳ lạy sám hối, xử phạt, dạy dỗ tâm, vì để cho cảm thọ thúc giục, xúi bậy, làm chủ. Hoặc dùng phương pháp nhẹ nhàng hơn như nói chuyện, năn nỉ, quỳ lạy, van xin những cảm thọ thúc giục đó buông tha mình: “Tao lạy mày, thúc giục ơi, mày làm ơn lắng dịu xuống dùm tao, mày thúc giục tao làm những chuyện tội lỗi, gây ra bao khổ sở, phiền não. Tao lạy mày, thúc giục ơi, làm ơn để cho tao yên, đừng giục tao làm bậy rồi đẩy tao xuống hố than hừng, rơi vào trong biển lửa, rớt xuống vực thẳm, đi vào trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Hãy tan biến hoàn toàn, diệt tận hoàn toàn, đoạn tận hoàn toàn khỏi tâm ta đi”.
Cố gắng dùng nhiều cách để nhiếp phục, chế ngự hoàn toàn sự thúc giục. Chẳng hạn lúc chạy xe cứ muốn tăng ga chạy cho nhanh, chạy hết tốc độ mới thỏa mãn, trong khi giao thông cho lưu thông chỉ có 70km/h, mình chạy 110-120km/h, kết quả có khi không còn toàn thây để mà vào bệnh viện. Cho nên, những lúc tham gia giao thông, ta phải nhận diện sự thúc giục đó và chạy đúng tốc độ.
Sâu xa hơn là phải nhiếp phục được ái dục, tình dục, dâm dục, thứ làm cho mình và người đau khổ triền miên, suốt đời, suốt kiếp vì không thoả mãn nhục dục, dục vọng. Đức Phật bằng tình thương đã dạy cho chúng ta những pháp quán để diệt dục như quán tứ đại, quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi, quán bộ xương, quán giòi ăn cơ thể. Quán sự nhơ nhớp, bẩn thỉu, bất tịnh, tanh hôi, ô uế của tấm thân này, cũng như kết cuộc, chung cuộc của nó. Quán những nguy hiểm và tai hại của lòng dục, của tâm thèm khát, khao khát, đói khát, khát ái. Thường niệm câu “Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái” (Kinh Ratthapala - Trung Bộ Kinh) và quán chiếu sự thật này để làm cho những khao khát, ái dục, khát ái được lắng dịu, dừng lại bằng những phương pháp Đức Phật đã chỉ dạy.
Đánh gục bản ngã
Pháp hành thứ năm là bẻ gãy bản ngã bằng việc tu tập “năm khiêm, hai khéo”. Trong đó, năm khiêm là khiêm cung, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhường, khiêm nhã; hai khéo là khéo xét lỗi mình, khéo phòng hộ căn. Sự thực tập theo năm khiêm hai khéo sẽ giúp bẻ gãy bản ngã, nhiếp phục, chế ngự, diệt tận bản ngã to lớn, ác độc, ngu si, tai hoạ này. Chính nó là con rắn độc làm khổ mình khổ người, hại mình hại người, hành tội mình hành tội người, hành xác mình hành xác người, hành hạ mình hành hạ người, hành hình mình hành hình người.
Pháp hành diệt ngã rất thiết thực. Chúng ta thực tập quỳ lạy, trán chạm xuống đất, hai khuỷu tay, hai đầu gối đều chạm xuống đất, đây gọi là năm vóc sát đất, ngũ thể đầu địa. Đây chính là lúc chúng ta chôn vùi bản ngã này sâu xuống lòng đất: “Ta chôn mi tại chỗ này, ta mai táng mi tại chỗ này, ta cho mi xuống huyệt, xuống hố, xuống mồ tại chỗ này”.
Mỗi cái lạy xuống khi trán chạm vào đất, chúng ta tác ý: “Hỡi bản ngã, hôm nay ngay tại chỗ này, giờ này, nơi này, ta chôn sống mi, ta đưa mi xuống lòng đất, huyệt sâu. Ta sẽ mai táng cái bản ngã ngu si ác độc, vô minh này cho ngươi diệt tận hoàn toàn. Ngươi phải biết sống khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn. Ngươi phải biết hạ thấp hạ sâu xuống, ngươi còn ngẩng đầu lên là ta còn khổ. Người còn vênh váo lên là ta còn tại hoạ, hiểm nạn. Ngươi còn hống hách, cao ngạo, kiêu căng thì ta còn xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh dài dài. Ta còn làm những thân con chó, còn giòi, con heo, những thân súc sinh, thú vật là vì cái bản ngã ngông nghênh. kiêu ngạo, dương dương tự đắc, cống cao, ngạo mạn, kiêu mạn này. Ngày hôm nay là ngày ta chôn sống, mai táng, chôn lấp, chôn vùi mi”.
Mỗi một lạy chúng ta lạy xuống thì lạy cho thật là lâu, nằm đó tác ý cho nó tan rã hết rồi đứng lên lạy xuống tiếp. Chúng ta không nên lạy quá nhanh, khi lạy chung với đại chúng thì khác, còn khi lạy một mình thì lạy cho thật là chậm, nằm xuống, chôn cái bản ngã xong rồi mới ngẩng đầu đứng lên. Đây chính pháp hành giúp ta chôn vùi, mai táng, đưa bản ngã vào lòng đất, đưa xuống huyệt sâu, rồi lấp lại, diệt tận nó. Mỗi một cái lạy như vậy gọi là lạy diệt ngã.
Thường xuyên nhắc nhở bản ngã rằng: “Ngươi đừng ngẩng cao đầu nữa, ta lạy ngươi. Ngươi càng ngẩng lên là ta càng khổ, người đừng làm ta nhục nhã trên cuộc đời này thêm nữa. Ngươi hãy để cho ta được sống thanh cao, cao thượng, cao đẹp trong cuộc đời này, nên người hãy tan biến hoàn toàn thành mây thành khói thành hư không đi”.
Ngươi chẳng là ai ở trên đời
Chỉ là hôn ám và si mê
Chỉ là ám ảnh từ ngũ uẩn
Ngươi kéo ta vào trong khổ đau
Ngươi hãy biến đi, hãy chết đi,
Ngươi đừng sống dậy nữa làm gì,
Ta khổ đủ rồi, ngươi hãy biến
Ngươi hãy diệy đi, hãy chết đi
Trong sự tu tập này, nếu khéo tác ý, ta có thể ứng dụng, thực hành pháp bằng nhiều cách. Chẳng hạn, mỗi khi đốt nhang, ta tác ý rằng: “Ta đốt mi, ta đốt cái bản ngã này, ta đốt cho ngươi thành tro bụi”. Tay ta cầm nhang, nguyện cho thật là lâu, để cho cháy hết rớt tàn rơi xuống cũng như cho cái bản ngã này tan xác, banh xác, tan biến thành bụi nhang, thành khói mây rồi gió thổi bay đi mất, đừng bao giờ xuất hiện trở lại nữa. Mỗi khi đốt nhang cũng là lúc đốt bản ngã. Vận dụng Thánh trí tuệ như vậy để bẻ gãy cái bản ngã, đánh cho tới tấp, tơi bời, tan tành, tan nát cái bản ngã này. Khi nó đã nát tan thì chúng ta cũng được bình an, hạnh phúc tối thượng.
Khi cầm cây chổi quét nhà, ta cũng có thể tác ý: “Ta quét ngươi, quét cái bản ngã đi ra khỏi căn nhà nội tâm”. Khi ngồi xắt ớt thì ta quán chiếu: “Ta xắt ngươi, ta bầm người ra, cãi bản ngã cay độc này. Ta bầm cho tan nát cái tôi, cái bản ngã ngu si, ác độc này. Ta sẽ diệt tận, đánh đuổi hoàn toàn con rắn độc này ra khỏi tâm ta”. Khi rửa tay, ta quán chiếu là mình đang rửa vết nhục của sự vênh váo, hống hách, đi đâu cũng ta đây, cao ngạo. Mình sẽ rửa vết nhục này cho sạch hoàn toàn, không còn ở trong tâm này nữa.
Pháp hành này vô cùng tuyệt vời vi diệu, chỉ cần có sự để tâm thì khi làm việc gì, chúng ta cũng thấy pháp trong đó. Đặc biệt nhất vẫn là cách quỳ lạy diệt ngã. Khi cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em lạy sám hối nhau cũng chính là lạy diệt ngã, lạy cho bản ngã này gục xuống.
Sự tu tập này vô cùng rõ ràng, minh bạch, đây chính là pháp hành tối thượng. Thánh trí này chúng ta đã cầm ở trong tay như “thượng phương bảo kiếm”, “miễn tử kim bài”. Thật không gì sánh bằng, không còn muốn gì hơn nữa. Giờ đây ta chỉ cần “tiền trảm hậu tấu”, chém bay bản ngã trước rồi về thưa với thầy rằng “thưa thầy con đã chém bản ngã xong rồi!”, thật là hạnh phúc vô cùng. Chúng ta giờ đây có trong tay tất cả Thánh lệnh, Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo; nhờ sự cố gắng tu tập chúng ta sẽ được Thánh quả!
Tứ vô lượng tâm
Pháp hành tiếp theo là tu tập Tứ vô lượng tâm – từ, bi, hỷ, xả. Trong đó, từ là thương; bi là xót; hỷ là mừng; xả là buông. Tu tập Tứ vô lượng tâm tức là thực tập trải tâm thương, tâm xót, tâm vui và tâm buông. Đây cũng là sự thực hành tâm thương rộng lớn, thực hành tâm xót rộng lớn, thực hành tâm hoan hỷ, vui sướng, hạnh phúc, vui vẻ trong sự tu tập. Nhờ nhiếp phục được những tâm bất thiện nên ta thấy vui; khi đưa mình vào khuôn phép, cung kính nên ta thấy mừng; khi đưa mình vào khuôn khổ, nề nếp, biết ơn, hiền thiện nên chúng ta hạnh phúc, sung sướng.
Trước tiên là thực tập tâm từ, biết thương mình trước vì mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh này. Chúng ta đều là những ngũ uẩn vô minh và khát ái muôn thuở; sống trong tâm mù loà, bệnh hoạn, đầy thèm khát, khao khát, đói khát, khát ái. Mình rất đáng tội nghiệp, tham, dục, ái bao nhiêu kiếp vậy còn chưa đủ, mà cứ thèm khát hoài, thật là thương và đau xót cho chính mình. Đó là từ bi với chính mình, thương xót cho chính mình.
Tại sao mình cứ sân si, bực bội, khó chịu, hơn thua, ganh tỵ. Đối với cha mẹ, vợ chồng, mình cũng bản ngã, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ; với anh em ruột trong nhà thì ích kỷ nhỏ mọn, tính toán, chi li, keo kiệt; với đồng nghiệp, bạn đồng tu so bì hơn thua ganh tị tật đố… tại sao chúng ta lại đáng thương như vậy? tại sao? tại sao vậy? Thật là đáng thương với tâm bệnh tật, bệnh hoạn này.
Nhìn lại cả quãng đời đã đi qua mà soi xét lại, quán sát lại để thấy thương mình thật nhiều, tình thương tràn ngập khắp châu thân, từ đỉnh đầu cho đến gót chân. Trong mắt tai mũi lưỡi thân ý, trong từng tế bào, làn da, thớ thịt, ngấm vào xương tuỷ…là một tình thương dào dạt sung mãn tràn ngập không thể dung chứa hết nên trào ra từ nước mắt để chảy ra bên ngoài. Thật quá là thương mình, tội nghiệp cho chính mình khi sống trong tâm vô minh, khát ái, ngã mạn, ngu si, không biết xấu hổ này.
Từ lâu con sống trong mê muội,
Không biết tâm mình rất uế nhơ.
Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.
Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.
Thương mình nên thấy hổ thẹn với những tâm tham, sân, si, vô minh, dục, ái. Đó là mình thương xót, từ bi với chính mình. Từ đó cố gắng nhiếp phục, chế ngự những dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, vô minh trong tâm mình.
Sau đó nhìn ra ngoài, thấy ông bà, cha mẹ, cô bác, anh chị em, con cháu, họ cũng giống mình, cũng đáng thương như vậy nên ta trải được tình thương từ bên trong tâm này đến với mọi người. Vì nghiệp quả với tâm đầy sân hận, si mê nên họ mới làm khổ đau cho ta. Khi cảm thông được sự mê lầm, vô minh, sân hận, bản ngã đó giống như việc ta hiểu được sự mê lầm, vô minh, sân hận, bản ngã của chính mình. Nhờ vậy ta có sự đồng cảm và thông cảm, cảm nhận và cảm động trước nỗi khổ chung của tất cả ngũ uẩn, của tất cả hữu tình, vạn loại chúng sinh. Từ đó tâm từ bi, thương xót trong lòng sẽ trải rộng cùng khắp đến cả nhân loại, thế giới muôn loài, cho đến các dị loại là những loài thú vật, cô hồn, ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục, A-tu-la và đến cả Chư thiên vẫn còn đang đau khổ trong tham sân si, bản ngã, họ chỉ hơn chúng ta được một chút phước lành, phước báu, nhưng vẫn còn trong luân hồi sinh tử khổ đau. Cho nên, ta trải rộng tình thương đó đến cũng khắp lục đạo, luân hồi. Tình thương, lòng xót xa của mình là vô lượng, vô biên, vô cùng, vô tận, đó chính là tu tâm từ bi vô lượng.
Ta mong muốn tự thân mình cùng cha mẹ, anh chị em, bà con cô bác dòng họ, con cháu, cũng như tất cả những người thân thương, ngay cả những người hận thù mình, làm cho mình đau khổ... đều nhìn thấy được khổ uẩn, thấy đống khổ ngũ uẩn này. Ta mong tự thân mình và tất cả hữu tình chúng sanh nhận thấy được dục, ái, tham, sân, si, bản ngã là nguyên nhân của khổ, thấy được sự chấm dứt khổ để cùng nhau đi trên đạo lộ diệt khổ thì mới giải thoát khỏi đau khổ. Con đường đó chính là Bát chánh đạo, là con đường tám đúng, là những pháp hành vi diệu, tối thượng, cao đẹp mà mình đã được thực hành.
Ta mong những sự tu học, hành trì, thấy hiểu này sẽ được chia sẻ, lan toả. Mong được in kinh sách, mong những bài pháp được thuyết giảng đến tay người học. Mong muốn được lan toả Chánh pháp này đến khắp cả nhưng chúng sinh đang mù loà, điên loạn, đau khổ trong bóng đêm, đang bị lửa thiêu quằn quại trong những cảm thọ sân, si, đang bị hôn ám, ngu mê trong những cảm xúc vô minh, đang bị lún sâu xuống đầm lầy trong những cảm giác của dục vọng, dục ái, dục tình, dục tham. Đó chính là tâm từ bi vô lượng, rộng lớn, cùng khắp bao la, vô tận, vô biên, vô cùng, vô lượng. Đó là tâm thương và tâm xót không có bờ mé, là Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm.
Chúng ta cố gắng làm những điều này với mong muốn Chánh Pháp được trao truyền, mong muốn Chư tăng ni, các bậc chân tu, chân chánh mở nhiều khóa tu ở khắp mọi nơi để pháp hành này được lan toả rộng rãi đến với mọi người. Chúng ta cúng dường Tam Bảo với tâm rộng lớn như vậy, không phải cúng dường cho thầy, mà cúng cho Pháp, cho ngọn đèn Chánh Pháp. Chúng ta châm thêm dầu vào để ánh sáng Chánh Pháp được trường minh, trường tồn, trường cửu trong cuộc đời đầy hôn ám, si mê, vô minh, tăm tối, đầy khổ đau này. Đây chính là sự cúng dường tối thượng, là cúng dường Pháp.
Tất cả những việc chúng ta cần làm là cố gắng nỗ lực, nghe, học, tu, và lan tỏa đến mọi người và hướng dẫn người thân của chúng ta cùng tu tập. Mẹ đi tu về có sự thay đổi lớn làm cho con cảm động và cảm hóa được tâm con. Con đi tu về cũng thay đổi làm mẹ cảm nhận được, mà cảm động và cuối cùng cũng cảm hóa được tâm mẹ, nhờ vậy mẹ con cùng tu. Vợ chồng với nhau cũng vậy, hãy khích lệ nhau tu tập, nỗ lực, tiến lên trong Chánh Pháp. Đó là Phật pháp thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, không có thời gian, được người trí tự mình giác hiểu. Tuyệt vời là như vậy, tình thương là như vậy, từ bi là như vậy, thương xót cho nhau là như vậy!
---
Tiếp theo là phát khởi lên tâm hỷ, tâm vui mừng. Nhờ biết tu tập mà giờ đây mình từ bỏ được sát sanh, lúc còn ăn mặn đã sát hại thẳng tay biết bao nhiêu loài sinh vật, giờ đã từ bỏ điều này thì vui biết bao nhiêu. Nếu chưa được trọn vẹn thì cứ tập dần dần cho đến ngày ăn chay trường, phát khởi lên lòng thương đối với chúng sinh muôn loài. Hơn thế nữa, mình còn từ bỏ được việc trộm cắp, tà dâm, nói dối, lừa gạt người, nói lời hung dữ, nói lời phù phiếm, nói lời gây chia rẽ, ly gián, vui biết bao nhiêu.
Ta vui vì giờ đây ta biết giữ giới hạnh, nghe pháp, tu hành, thực tập tâm hiền, trở thành người sống biết ơn, nhớ ơn. Ta vui vì ta biết sống hòa đồng, vui vì ta có đức cung kính, vui vì ta biết nhiếp phục, chế ngự lòng dục, lòng tham, vui vì ta biết bẻ gãy bản ngã, cao ngạo vênh váo, vui vì ta biết sống với tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, thật là vui sướng, hạnh phúc, hoan hỷ.
Ngồi nghe Pháp như là được ở trên mây, ngồi thiền giống như đang dạo chơi trên trời, được nghe tác ý để triển khai thiền quán trong những giọt lệ tuôn chảy dâng trào. Đó là những giọt lệ của giác ngộ, của hạnh phúc, của sự thẩm thấu vào Thánh trí tuệ tuyệt diệu, tối diệu, thần diệu, vi diệu, thắng diệu, thù diệu của giáo pháp ly tham tối thượng này. Thật là sung sướng hạnh phúc, hoan hy, như hoa sen nở trong lòng. Tâm rực sáng như ánh mặt trời, lòng phơi phới trong sự hạnh phúc hoan hỷ.
Hơn tám tỷ người trên hành tinh này, có bao nhiêu người được học trong dòng Thánh pháp Nikāya này, bao nhiêu người được nghe, bao nhiêu người được hiểu, bao nhiêu người được hành, bao nhiêu người được trải nghiệm, cảm nhận những quả, thành tích, thành công. Chúng ta đang được, tuy rằng chưa đạt được nhiều nhưng chúng ta đang được hạnh phúc, hân hoan, hoan hỷ với những điều chúng ta đã được học, được nghe, được hiểu, được tu, được hành; những thành quả nho nhỏ cũng đủ làm sung sướng hạnh phúc, phấn khởi, hân hoan, hỷ lạc.
Chúng ta cho hỷ lạc này tràn ngập khắp châu thân, từ đảnh tóc đến gót chân, từng làn da, thớt thịt, từng lỗ chân lông, từ tế bào, ngấm vào trong xương, trong tủy, trong não, sung sướng hân hoan, hạnh phúc, hỷ lạc. Lúc nào cũng vui trong Chánh Pháp, chỉ cần tác ý là sanh khởi tâm hoan hỷ. Giống như chạy xe, chỉ cần bấm nút đề là máy khởi động sẵn sàng chạy. Cũng vậy, ta khởi động, tác ý “vui quá, hạnh phúc quá, mình được tu Nikāya, đến ngày được lên núi tu rồi”, nhờ vậy sanh khởi hỷ lạc, hạnh phúc, hân hoan, tuyệt vời, tuyệt diệu, thù thắng, hy hữu, hiếm có khó gặp, vi diệu, thần diệu, tối diệu, thắng diệu, thù diệu.
Còn ai trên được đời này được hạnh phúc bằng chúng ta khi gặp được Thánh pháp thất truyền hơn 2600 năm. Chúng ta đang được nghe, học, hiểu, tu, hành và đang nếm trải hương vị, thành quả, thành tích, thành công, sung sướng làm sao, hỷ lạc làm sao, hạnh phúc làm sao, hân hoan làm sao, tuyệt diệu làm sao. Mình mong muốn đem niềm hỷ lạc này chia cho con, cho chồng, cho cha mẹ và hướng dẫn họ từ từ tu học. Chúng ta cũng lan tỏa niềm hỷ lạc này đến mọi nơi, mong cho tất cả mọi người, nhân loại, chúng sinh, vạn loài, tất cả đều được niềm hỷ lạc, hân hoan này. Như vậy gọi là hỗ trợ, hộ trì Tam bảo, là đền ơn, đáp nghĩa, vì lợi ích cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho Chư thiên và loài người.
Với việc làm này: học, tu, hỗ trợ, hộ trì Tam bảo, cúng dường Chánh pháp bằng tâm rộng lớn vô lượng vô biên thì công đức ấy cũng tương xứng vô lượng, vô biên như vậy. Chúng ta cúng dường Pháp, cúng dường ánh sáng trí tuệ, cúng dường sự thật, cúng dường Thánh đạo, cúng dường Thánh trí hướng đến Thánh quả, đó là ý nghĩa trong sự tu học, đó là Hỷ vô lượng tâm.
---
Xả vô lượng tâm là buông bỏ, làm được mọi việc nhưng không chấp, ko nắm giữ việc đó. Vì nếu nắm giữ sẽ dừng chân tại chỗ, không tiến lên được nữa. Cũng như việc phải đi qua bậc thang của tầng thứ nhất thì mới bước lên được bậc thang của tầng thứ hai. Lên được bậc thang của tầng thứ hai mà đứng luôn ở đó thì không thể lên được tầng thứ ba. Chỉ khi buông tầng thứ hai thì mình mới lên được tầng thứ ba… Cứ như vậy mà buông cho đến khi nào không còn tầng nào để mà buông nữa thì chúng ta thể nhập được vào tâm thanh tịnh, cứu cánh cùng cực, xả vô lượng tâm.
Khi tu thì tu hết mình nhưng đừng có đi đâu cũng khoe tôi biết tu còn người khác không biết tu, có suy nghĩ như vậy là có nhân ngã, sẽ dẫn đến phiền não. Ví dụ, trong khi đại chúng đang im lặng tu học mà có một người nói chuyện, gây ra tiếng động là lập tức mình hướng ánh mắt khó chịu, không thiện cảm về phía người, như vậy là mình có tu mà không có xả. Ta cần biết thương người, thương cái tập khí mà họ chưa nhiếp phục được, hoặc vì họ mới chùa, chưa hiểu hết về thanh quy đạo tràng, vì vậy bằng tâm thương mình từ từ chia sẻ, hướng dẫn cho các vị mới. Cho nên, không phải mình giữ được giới mà thấy người không giữ giới được thì mình khinh khi; mình tu tâm từ mà thấy người khác sân hận thì mj xem thường họ; như vậy là không nên. Thay vào đó, ta hãy tu học và làm việc trong tâm thái nhẹ nhàng buông xả.
Sâu sắc hơn, xả bỏ thân kiến là cái xả bỏ quan trọng nhất trong sự nghiệp tu tập. Vì khi xả bỏ cái nhìn sai lầm về thân, xả bỏ tham, sân, si, xả bỏ tâm kiêu mạn của chính mình được thì sau đó mới có thể giúp cho người khác xả bỏ giống như mình đã xả bỏ. Tâm buông xả này sẽ giúp tâm ta nhẹ và khỏe vô cùng. Ví dụ, quý vị một mình vác một ba lô nặng 80 ký trên lưng, hai tay xách thêm vài vali rồi leo lên núi, quý vị không thể đi được vì quá nặng nề nhưng nếu quý vị vứt xuống không đeo không mang nữa thì quý vị thì khỏe hơn rất nhiều. Hơn nữa, trong vali, balo đó toàn là những chất độc, gai độc, bất thiện thì nên vứt bỏ, không có gì để tiếc nuối. Những thứ làm cho mình vô minh, say mê, tham đắm, sân, si, thì giữ để làm gì, buông bỏ càng nhẹ thì càng được lên cao, bay xa. Mỗi lần buông là mỗi lần đi lên, khi buông hết rồi thì tự động nó bay lên cao.
Hơn thế nữa, buông bỏ là để đi đến mục tiêu cuối cùng là giải thoát; không phải tu là để ta đây, để hơn thua, vỗ ngực xưng tên với đời rằng “ta tu đúng Chánh pháp, các người không tu đúng Chánh pháp”…Tu mà còn chấp, còn nắm giữ như vậy là còn tai họa, phiền não, sân si; khi còn phiền não, còn sân si là còn khổ đau không có ngày chấm dứt.
Vì vậy, khi đã có được con đường đúng đắn để đi thì ta hãy cố gắng thực hành để đạt được thành quả. Còn chuyện của người khác là tùy duyên, có duyên thì tốt, chưa có duyên thì tạo duyên. Một khi đã không có duyên, dù có cố tình đưa đến, có dúi vào trong tay nhưng họ không nắm lấy thì cũng không thể làm gì được. Cho nên, chúng ta chỉ gieo duyên, tạo duyên còn lại là tùy duyên ở người. Đối với tự thân, chúng ta phải cố gắng nỗ lực để đi đến cuối con đường mà chúng ta đang hướng đến, buông xả tâm để càng ngày càng nhẹ, càng trống, càng khỏe, càng an lạc thảnh thơi.
----
Trên đây là tổng quát pháp hành Nikāya, đầu tiên là tâm biết ơn, thứ hai là tâm hiền, thứ ba là tâm hòa kính, thứ tư là nhiếp phục dục tham, thứ năm là đánh gục cái bản ngã và cuối cùng thứ sáu là tu tứ vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả, nói dễ hiểu là tâm thương, tâm xót, tâm mừng, tâm buông. Các vị hiền trí nương theo đó để thực hành những đức hạnh cao đẹp, cao thượng và hiền thiện này. Phương diện nào chưa được thì ta cố gắng nhiều hơn, cái được rồi thì phát huy hơn nữa, cứ như vậy mà ta tiếp tục tăng thượng mỗi ngày trong giáo pháp./.
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tâm biết ơn PAGEREF _Toc157159348 \h 1
II.Tâm hiền PAGEREF _Toc157159349 \h 2
III.Tâm hòa kính PAGEREF _Toc157159350 \h 4
IV.Nhiếp phục dục, tham PAGEREF _Toc157159351 \h 7
V.Đánh gục bản ngã PAGEREF _Toc157159352 \h 9
VI.Tứ vô lượng tâm PAGEREF _Toc157159353 \h 11
Hôm nay chúng ta có buổi chia sẻ tổng quát về pháp hành trong kinh tạng Nikāya để tìm hiểu thứ tự trước sau trong tu tập.
Tâm biết ơn
Trong bước đầu tu học, đầu tiên chúng ta cần thực tập tâm biết ơn và nhớ ơn. Thường sanh khởi ý niệm nhớ ơn và biết ơn đối với người có ơn, đặc biệt là ông bà, cha mẹ, con cháu, vợ chồng, anh chị em; những người ân nhân có nghĩa, có tình đã từng giúp đỡ, hỗ trợ về mọi mặt từ vật chất đến tinh thần trong lúc chúng ta gặp khó khăn, nguy cấp, khổ nạn. Những vị ân nhân đó mình phải thường nhớ ơn, biết ơn, cảm ơn. Đây là pháp tu tuyệt đối quan trọng, là căn bản luân lý đạo đức của một con người, cũng là chất liệu của bậc chân nhân theo tinh thần lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.
Nếu suy nghĩ về cha mẹ, ông bà hãy suy nghĩ về ân đức, sự hy sinh, sự khó khăn, gian khổ, nhọc nhằn, vất vả của cha mẹ, ông bà dành cho chúng ta. Với bà con quyến thuộc, dòng họ, cô bác, chú dì, hãy nghĩ về những điều tốt đẹp mà họ đã làm để tạo nhiều duyên lành, giúp đỡ, nâng đỡ, hỗ trợ chúng ta.
Đối với vợ chồng, nếu nghĩ về nhau, hãy nghĩ về những lúc khó khăn, bệnh tật, những lúc yếu đuối, suy sụp nhất, chúng ta đã đồng cam cộng khổ, chia sẻ nghĩa tình, sớt chia ngọt bùi cùng nhau. Những lúc nằm ở bệnh viện, ta được chăm sóc từng ly nước, viên thuốc, bát cháo, với những lời động viên an ủi, khích lệ. Trong những lúc ta cô đơn, lẻ loi, đơn độc trên cuộc đời này, ta còn có một người thân bên cạnh để yêu thương, thật ấm áp, ngọt ngào, nghĩa tình. Khi nhớ về vợ chồng hãy nhớ về những điều đó của nhau. Đây là cách để chúng ta đang thực tập tâm nhớ ơn và biết ơn.
Đối với con cháu, chúng ta đừng lấy quyền làm ông, làm cha, làm mẹ, làm bà ra dạy dỗ; mà hãy nhìn một cách khách quan, bình đẳng vì con cháu cũng là những người ân nhân đã giúp đỡ, hỗ trợ, lo lắng, chăm sóc, cho chúng ta có được những cảm giác ngọt ngào, yêu thương, trìu mến. Chúng ta cảm ơn và biết ơn vì có một người để chúng ta yêu thương, đồng thời có một người luôn thương yêu chúng ta. Khi nhớ về con cháu, ta hãy nhớ như vậy.
Từ trong nhà cho đến ngoài phố, những người hàng xóm láng giềng, tối lửa tắt đèn có nhau, hãy nhớ đến những gì họ đã giúp đỡ, hỗ trợ mình. Trong công ty, xí nghiệp, trong tình đồng đội, đồng chí, đồng học, đồng tu, chúng ta hãy cùng nhìn nhau bằng ánh nhìn của các bậc ân nhân, ân đức, nghĩa tình.
Rộng hơn nữa, khi bước đi trên một con đường, lòng chúng ta hãy khởi lên tâm biết ơn đối với người đã làm nên con đường ấy. Khi ăn một chén cơm, ta cũng nhớ ơn của những người đã cấy cày, trồng trọt, với biết bao mồ hôi nước mắt. Khi được ở trong ngôi nhà vững chãi, được che mưa che nắng, ta cũng thầm cảm ơn những người thợ đã dựng xây lên ngôi nhà này…
Tâm biết ơn, nhớ ơn này cần được tu tập cho thật sâu sắc, thấm thía, lan tỏa, trải rộng để mỗi ngày ta đều sống trong thế giới của sự biết ơn. Từng làn gió mát, từng ánh nắng mặt trời soi chiếu ấm áp, từng chiếc lá xanh, từng bông hoa khoe sắc trên cành, cho đến dòng sông, biển cả, con suối, giọt nước, ngọn đồi… ta đều trải tâm biết ơn. Khi uống một chung trà, hãy nhớ nước này ở đâu có, trà này ai chăm, ai khéo vun trồng. Khi ăn chén cơm, biết ơn người nấu nướng, dọn bưng.
Như vậy pháp tu đầu tiên để bước vào dòng pháp Nikāya là tâm biết ơn và nhớ ơn. Khi sống trong tâm này, ta nhìn mọi người, cảnh vật, đồ vật xung quanh đều bằng tâm biết ơn, nhớ ơn. Nhờ vậy tâm ta được dễ chịu, ngọt ngào, ấm áp, dạt dào; xua tan được những cảm thọ sân hận, bực bội, khó chịu, đẩy lùi tâm phản phúc, phản trắc, vô ơn, vô nghĩa, vô tình, ít nhất cũng làm giảm thiểu, đoạn giảm, giảm bớt rồi dần dần đi đến chỗ diệt tận, tẩy sạch những tâm bất thiện. Tâm bất hiếu, ngỗ nghịch, vô ơn, phản bội bị tâm biết ơn và cảm ơn của bậc chân nhân tẩy xóa, gội rửa để đi đến chỗ trong sạch hoàn toàn. Đây chính là “Pháp hành Nikāya tổng quát”, tiếp sau quyển “ Pháp hành Nikāya căn bản” mà chúng ta đã và đang được học.
Tâm hiền
Pháp thứ hai chính là tâm hiền, tâm hiền là tâm hiền diệu, hiền lành, hiền thiện, hiền đức, hiền lương, hiền hậu. Trong từng cử chỉ, hành vi, lời nói, ánh mắt, suy nghĩ, cảm xúc…chúng ta phải khéo lèo lái đưa vào tâm hiền.
Biểu hiện đầu tiên là qua hành động, chúng ta tập cho hành động luôn an tịnh, lắng dịu, hạn chế phát ra tiếng động một cách tối đa, chẳng hạn khi mở cánh cửa, nhấc cái ghế, lấy cái chén… từng cử chỉ phải nhẹ nhàng, êm ái, lắng dịu.
Khi nhiếp phục được những cái thô ở bên ngoài thì ta mới đi đến điều sâu sắc bên trong. Kiểm tra trong từng lời nói xem khẩu khí, âm giọng, chất giọng, giọng điệu lúc nói chuyện có hiền dịu, dễ chịu, ngọt ngào không? Cho đến những suy nghĩ bên trong tâm, nếu thấy suy nghĩ không hiền thì lập tức nhiếp phục, tác ý đưa chúng quay trở về với những suy nghĩ thiện lành. Tập nhìn thấy những hình bóng, những suy nghĩ nói thầm, những cảm xúc trong tâm; sau đó dẫn dắt, đưa chúng trở về theo chiều hướng hiền thiện.
Hơn nữa, chúng ta hung dữ, cáu gắt, sân giận để được cái gì?! Chẳng những không đem lại lợi ích, mà còn khiến cho bản thân bị thù ghét, chất chứa thêm nhiều sân giận, phiền não và khổ đau, cùng những sự khẩu tranh, cạnh tranh, đấu tranh… Do vậy, ta đừng đả thương nhau bằng vũ khí miệng lưỡi, mà hãy nói bằng tâm từ, tâm thương, nói lời chân thật, chân thành, dùng lời ái ngữ, nói đúng người, đúng lúc, đúng thời điểm, bằng giọng nói nhỏ nhẹ, nhu hòa, hòa nhã, như vậy đó là tâm hiền từ miệng thốt ra.
Trong ánh mắt cũng vậy, hãy tập cho mình ánh nhìn hiền từ, dùng “mắt thương nhìn cuộc đời”. Đừng nhìn nhau bằng ánh mắt tóe lửa, khiến cho người khác lo sợ, bất an, đau khổ hoặc bực bội, khó chịu.
Như vậy, chúng ta cần tu tập trong từng ánh mắt, hành vi, lời nói, cử chỉ… để đưa chúng vào đạo lộ của tâm hiền lành, hiền thiện. Vì đây là pháp hành nên chúng ta phải thực tập, thực hành, không phải nghe bằng tai, nói bằng miệng rồi để đó là xong, mà ta phải thực tập cho đến hết cuộc đời này.
Tập kiểm soát khi ăn, ăn với một cảm giác an tịnh lắng dịu, không húp sồn sột, không vừa ăn vừa nói, phun cơm ra ngoài. Tất cả mọi cử chỉ hành động, đều nằm trong sự an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, không làm hại ai, không nói lời hại người, không suy nghĩ những tư tưởng hại người, không muốn ai làm hại, không muốn làm hại ai. Tự thân chúng ta phải hoàn toàn vô hại, bất hại, không hại đối với tất cả mọi người, cho đến từng con vật nhỏ. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào khi tiếp xúc với xung quanh, chúng ta cũng hoàn toàn vô hại, bất hại, không có não hại. Đây là phương pháp thực tập tâm hiền.
Tâm hòa kính
Pháp hành thứ ba là thực tập tâm hòa kính. Trong đó, “hòa” là lục hòa, “kính” là cung kính. Trong cuộc sống, ta cần phải có sự hài hòa, nếu không, đôi khi chúng ta chỉ có tâm hiền nhưng lại sống không chan hòa với những người xung quanh. Nghĩ rằng, “tôi tu cho mình tôi, tôi làm cho tôi, người muốn làm gì thì tự làm, tôi không đụng chạm đến ai và cũng không muốn ai đụng chạm đến tôi”. Như vậy là không có sự hòa kính với nhau.
Tâm hoà kính là chất liệu quan trọng để xây dựng hạnh phúc trong Tăng đoàn, trong đạo tràng, trong gia đình, trong đoàn thể, trong tập thể, trong công ty, trong xí nghiệp. Vì vậy, chúng cần thường xuyên thực tập thân làm việc từ hòa, miệng nói lời từ hòa, ý nghĩ điều từ hòa.
Khi nhận được thức ăn ngon hay món đồ gì đó cũng chia đều với nhau, gọi là lợi hòa đồng quân. Giới hòa đồng tu là sống trong đại chúng, trong một tập thể thì người sao mình vậy, không làm ngược lại. Chẳng hạn, giờ đại chúng đi tu mình đi ngủ; giờ đại chúng nghỉ ngơi mình đi tu; giờ đại chúng thiền quán mình thiền chỉ; giờ đại chúng thiền chỉ mình đeo tai nghe thiền quán; giờ đại chúng đi làm, mình đi đọc kinh; giờ đại chúng đọc kinh, mình lại đi làm… Thường làm điều không giống mọi người cho thấy người này không có tinh thần hòa hợp.
Để có thể hòa hợp được với tất cả mọi người, ít nhất là trong khóa tu hai tuần hoặc khoá tu một ngày hành trì hiền trí, khoá tu một ngày giữ giới Bát quan trai, đây là thời gian rèn luyện tâm, tập cho tâm không chống đối. Tu tập tâm hòa ái là để diệt tâm chống đối, tâm chúng ta khi nghe một việc gì đó thường thích cãi trước rồi tính sau, phải cãi lại một chút mới chịu, không cần biết là đúng hay sai, thậm chí biết mình không đúng vẫn cứ cãi, tâm này gọi là tâm bất thiện. Vì vậy cố gắng làm sao để tu tập được tâm hài hòa, nhất là hài hòa trong sự tu học, trong đời sống đức hạnh, trong những pháp hành cao quý, trong Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo.
Trong thời Đức Phật, các bậc Thánh Tăng, chư vị Tỳ-kheo khi được Đức Phật hỏi các Ngài cùng sống, cùng tu hành với nhau có an ổn không thì các Ngài nói các Ngài rất an ổn, an lạc, thân tuy khác nhau nhưng tâm giống như đồng một tâm (trích Trung bộ kinh, 31. Tiểu kinh Rừng sừng bò). Đồng một tâm ở đây là vị nào cũng muốn diệt tham, sân, si, bẽ gãy bản ngã, diệt tận vô minh, làm sạch hết khát ái, tu tập tâm hiền, hướng đến trí tuệ.
Cũng vậy, chúng ta thường tự nhắc mình đồng tâm với nhau, cùng hòa vào tâm tu học, tâm hiền kính, hiền trí, hiền thiện, không chống đối, khó chịu, trái nghịch với nhau…. không những ở trong lời nói, hành động, mà cả trong tâm niệm. Thực tập được điều này, những thành viên sống chung trong một gia đình sẽ rất bình an, hạnh phúc, ngọt ngào. Như câu “gia hòa vạn sự hưng”, gia đình nào sống hài hòa, hoà hợp với nhau thì sẽ phát triển, hưng thịnh. Ngược lại, chồng nói một tiếng, vợ cự lại ba tiếng; mẹ dạy một câu, con cãi lại ba câu thì làm sao gọi là hòa hợp; mà không hòa hợp thì không thể hưng thịnh; bất hòa thì chỉ có suy vong, chỉ bại mà không thành.
Vì lẽ ấy, chúng ta cần thực hành tu tập tâm hoà ái cùng với tâm cung kính, kính quý, kính trọng, kính ái, kính mến, kính thương nhau; dù thương yêu nhau nhưng luôn có sự kính trọng lẫn nhau. Chữ “trọng” ở đây là có sức nặng, có trọng lượng, không phải là xem nhẹ, khinh thường. Luôn thấy được ân nghĩa, ân tình với nhau rất là sâu nặng, ân thâm nghĩa trọng nên ta luôn kính trọng nghĩa tình đó trong sự chung sống, đối đãi với nhau. Dù là vợ chồng, cha mẹ hay thầy trò, huynh đệ, tỷ muội…đều có sự tôn trọng, kính quý, kính trọng nhất định. Không phải ở chung một thời gian là hỗn tạp, không còn trên dưới, trước sau. Khi trật tự lễ giáo bị mất đi, sanh ra tâm xem thường nhau, tất cả sẽ trở thành một mớ hỗn độn, một đống xà bần. Nếu xã hội không có pháp kính lễ thì sẽ mất đi trật tự, thiên hạ đại loạn, không có thứ bậc, tôn ti, trật tự, lễ nghi, lễ kính, không biết ai là thầy, ai là trò, ai là cha mẹ, cô chú bác…ăn nói trống không, ngang hàng phải lứa, không biết ai là ai.
Đạo tràng Nikāya có được chất liệu trang nghiêm, tôn trọng, cung kính, biết ơn. Tu học là phải trang nghiêm, chùa không phải là nơi vui chơi giải trí, đến chùa để nghe pháp, không phải đến nghe tấu hài, xem hài kịch, tìm niềm vui. Nếu không khéo hành trì, tu tập, giảng giải thì một thời gian nữa chúng ta sẽ làm biến chất, mất chất giáo pháp.
Vì thế, trong cuộc sống có sự kính ái, kính thương, kính trọng, kính quý thì tâm chúng ta sẽ ngọt ngào, ấm áp, dễ chịu, cao đẹp, trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, biết ơn, trật tự rõ ràng trên dưới, trước sau minh bạch. Bằng không, vợ chồng sống chung với nhau một thời gian thì mất đi sự ngọt ngào, đậm đà, thương kính như lúc ban đầu. Người xưa thường nói: “tương kính như tân” là kính nhau giống như lần đầu mới gặp. Giống như lần đầu khách đến nhà, gia chủ rất giữ kẻ, rất lịch sự, rất cẩn thận, chú ý qua từng cử chỉ, từng hành động, ăn mặc kín đáo, nhà cửa sạch sẽ thơm tho, chén bát gọn gàng, tươm tất, sang trọng. Nhưng khi ở chung với nhau một thời gian thì không còn sự kín kẽ, kính quý như buổi ban đầu mới gặp, thay vào đó là phô bày ra hết những tập khí, thói hư tật xấu, cuối cùng gia đình không còn là mái ấm.
Hơn 30 năm vào chùa tu tập cho đến nay Minh Thành vẫn giữ được cho mình pháp hành này, đó là tâm kính quý lẫn nhau, dù cho đó là học trò hay Phật tử. Lúc nào cũng giữ tâm kính trọng đối với Chư tôn đức, Chư vị hiền trí. Không vì quen thuộc nên buông thùa, xem nhau giống như người trong nhà, một khi đã có suy nghĩ như vậy là bắt đầu cho sự buông lung, thả lỏng tập khí, bung ra những thói quen, bản ngã, tật xấu; tâm kính trọng, kính ái, kính quý thuở ban đầu cũng sẽ bị mất đi. Cho nên, chúng ta hãy thường đọc tụng, chiêm nghiệm bài kinh Người Vợ Trẻ, Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 để nhắc nhở bản thân, luôn giữ tâm mình như một cô dâu mới về nhà chồng, thấy gì cũng rụt rè, e dè, cẩn thận, khép nép, một dạ hai vâng.
Khi Minh Thành được bậc Đạo sư chỉ dạy, từ lúc ban đầu cho đến ba bốn năm về sau này, trong tin nhắn Ngài gửi cho Minh Thành luôn là một dạ hai thưa, trước sau như một không thay đổi, chính vì điều này khiến cho Minh Thành luôn muốn học hỏi. Trong từng tin nhắn, trong từng lời nói, trong từng hành động, Ngài giáo huấn, giáo dục, dạy dỗ một cách tự nhiên và Minh Thành cảm nhận được pháp cung kính phải là như vậy.
Đối với cha mẹ nếu trong tâm còn có sự bất kính thì đối với ai chúng ta có thể cung kính được; đối với ông bà còn tỏ ra vô lễ thì ta có lễ được với ai; đối với thầy, bậc đạo sư, người mà mình bỏ cha, bỏ mẹ, cạo đầu để đi theo, nhưng ở một thời gian lại bất kính vô lễ với thầy thì cuối cùng mình kính trọng được ai; đối với vợ chồng mà sống với nhau không nghĩa tình thì nghĩa tình được với ai; đối với con cái không có sự thương yêu hy sinh bằng tất cả tấm lòng thì chúng ta có thể thương yêu ai được… Qua đây, chúng ta thấy được tầm quan trọng của pháp cung kính và đây cũng là pháp hành trong đạo tràng Nikāya.
Từ sự cung kính Tam bảo, Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới, cung kính bậc đạo sư, thầy tổ như thế nào thì chúng ta cung kính ông bà, cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái trong gia đình cũng như vậy. Đồng thời đem tâm cung kính ấy đối đãi với người ngang hàng, với bạn đồng tu, với người kém may mắn hơn mình… dù người ta có thấp kém hơn, chúng ta vẫn kính quý tấm lòng, nghĩa tình, tâm chân thành của họ. Đây chính là pháp hành cao đẹp trong kinh tạng Nikāya.
Nhiếp phục dục, tham
Pháp hành thứ tư là kiểm soát sự thúc giục từ bên trong. Khi nhận thấy bên trong có sự thúc giục muốn nói cái này cái kia, chuyện này chuyện nọ thì cố gắng nhiếp phục, giữ bình tĩnh, lắng dịu, tĩnh tâm, tĩnh tư, tĩnh mặc, trầm tĩnh lại. Không phải muốn làm là làm, muốn nói là nói; mà cần kiểm tra, kiểm soát những sự thúc giục trong tâm rồi nhiếp phục dục.
Dục ở đây có nghĩa rất rộng, không phải chỉ có dục giữa nam nữ, mà là sự thúc giục trong lời nói, việc làm, hành động, trong suy nghĩ, trong cảm thọ. Ngoài ra còn có dục ăn, dục nói, dục chơi, dục làm... rất nhiều loại dục gây ra khiến chúng ta tan nhà nát cửa, tán gia bại sản, vợ chồng phân ly, con cái khổ đau, cho nên phải nhìn thấy được những thúc giục bất thiện trong tâm để nhiếp phục.
Có những loại thúc giục hướng thượng, hướng thiện cần được phát huy như tâm thúc giục chúng ta đi làm từ thiện, đi chùa nghe pháp, giảng kinh hay có sự thúc giục hy sinh, đóng góp cho cộng đồng, cho số đông… Còn những loại thúc giục đưa đến khổ đau như sát sanh, trộm cắp, tà dâm thì ta cần nhiếp phục, chế ngự, diệt tận, tẩy sạch, dùng chổi quét những loại thúc giục này ra khỏi căn nhà nội tâm.
Nếu có sự thúc giục mình tham gia vào những câu chuyện thị phi, phù phiếm, nói những câu chuyện vô ích, không hướng đến mục đích, “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, nói lời thêu dệt, gây chia rẽ, chia lìa; chúng ta phải nhận thấy được sự thúc giục này và nhiếp phục, chế ngự, diệt tận chúng. Thực tập tịnh khẩu, không cho dục nói hoành hành, lúc đó hãy vào ngồi thiền, nhận diện ngũ uẩn, đánh đuổi những cảm thọ thúc giục đang dâng lên, làm cho tâm yên tịnh, lắng dịu xuống.
Sau đó vào quỳ lạy sám hối, xử phạt, dạy dỗ tâm, vì để cho cảm thọ thúc giục, xúi bậy, làm chủ. Hoặc dùng phương pháp nhẹ nhàng hơn như nói chuyện, năn nỉ, quỳ lạy, van xin những cảm thọ thúc giục đó buông tha mình: “Tao lạy mày, thúc giục ơi, mày làm ơn lắng dịu xuống dùm tao, mày thúc giục tao làm những chuyện tội lỗi, gây ra bao khổ sở, phiền não. Tao lạy mày, thúc giục ơi, làm ơn để cho tao yên, đừng giục tao làm bậy rồi đẩy tao xuống hố than hừng, rơi vào trong biển lửa, rớt xuống vực thẳm, đi vào trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Hãy tan biến hoàn toàn, diệt tận hoàn toàn, đoạn tận hoàn toàn khỏi tâm ta đi”.
Cố gắng dùng nhiều cách để nhiếp phục, chế ngự hoàn toàn sự thúc giục. Chẳng hạn lúc chạy xe cứ muốn tăng ga chạy cho nhanh, chạy hết tốc độ mới thỏa mãn, trong khi giao thông cho lưu thông chỉ có 70km/h, mình chạy 110-120km/h, kết quả có khi không còn toàn thây để mà vào bệnh viện. Cho nên, những lúc tham gia giao thông, ta phải nhận diện sự thúc giục đó và chạy đúng tốc độ.
Sâu xa hơn là phải nhiếp phục được ái dục, tình dục, dâm dục, thứ làm cho mình và người đau khổ triền miên, suốt đời, suốt kiếp vì không thoả mãn nhục dục, dục vọng. Đức Phật bằng tình thương đã dạy cho chúng ta những pháp quán để diệt dục như quán tứ đại, quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi, quán bộ xương, quán giòi ăn cơ thể. Quán sự nhơ nhớp, bẩn thỉu, bất tịnh, tanh hôi, ô uế của tấm thân này, cũng như kết cuộc, chung cuộc của nó. Quán những nguy hiểm và tai hại của lòng dục, của tâm thèm khát, khao khát, đói khát, khát ái. Thường niệm câu “Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái” (Kinh Ratthapala - Trung Bộ Kinh) và quán chiếu sự thật này để làm cho những khao khát, ái dục, khát ái được lắng dịu, dừng lại bằng những phương pháp Đức Phật đã chỉ dạy.
Đánh gục bản ngã
Pháp hành thứ năm là bẻ gãy bản ngã bằng việc tu tập “năm khiêm, hai khéo”. Trong đó, năm khiêm là khiêm cung, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhường, khiêm nhã; hai khéo là khéo xét lỗi mình, khéo phòng hộ căn. Sự thực tập theo năm khiêm hai khéo sẽ giúp bẻ gãy bản ngã, nhiếp phục, chế ngự, diệt tận bản ngã to lớn, ác độc, ngu si, tai hoạ này. Chính nó là con rắn độc làm khổ mình khổ người, hại mình hại người, hành tội mình hành tội người, hành xác mình hành xác người, hành hạ mình hành hạ người, hành hình mình hành hình người.
Pháp hành diệt ngã rất thiết thực. Chúng ta thực tập quỳ lạy, trán chạm xuống đất, hai khuỷu tay, hai đầu gối đều chạm xuống đất, đây gọi là năm vóc sát đất, ngũ thể đầu địa. Đây chính là lúc chúng ta chôn vùi bản ngã này sâu xuống lòng đất: “Ta chôn mi tại chỗ này, ta mai táng mi tại chỗ này, ta cho mi xuống huyệt, xuống hố, xuống mồ tại chỗ này”.
Mỗi cái lạy xuống khi trán chạm vào đất, chúng ta tác ý: “Hỡi bản ngã, hôm nay ngay tại chỗ này, giờ này, nơi này, ta chôn sống mi, ta đưa mi xuống lòng đất, huyệt sâu. Ta sẽ mai táng cái bản ngã ngu si ác độc, vô minh này cho ngươi diệt tận hoàn toàn. Ngươi phải biết sống khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn. Ngươi phải biết hạ thấp hạ sâu xuống, ngươi còn ngẩng đầu lên là ta còn khổ. Người còn vênh váo lên là ta còn tại hoạ, hiểm nạn. Ngươi còn hống hách, cao ngạo, kiêu căng thì ta còn xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh dài dài. Ta còn làm những thân con chó, còn giòi, con heo, những thân súc sinh, thú vật là vì cái bản ngã ngông nghênh. kiêu ngạo, dương dương tự đắc, cống cao, ngạo mạn, kiêu mạn này. Ngày hôm nay là ngày ta chôn sống, mai táng, chôn lấp, chôn vùi mi”.
Mỗi một lạy chúng ta lạy xuống thì lạy cho thật là lâu, nằm đó tác ý cho nó tan rã hết rồi đứng lên lạy xuống tiếp. Chúng ta không nên lạy quá nhanh, khi lạy chung với đại chúng thì khác, còn khi lạy một mình thì lạy cho thật là chậm, nằm xuống, chôn cái bản ngã xong rồi mới ngẩng đầu đứng lên. Đây chính pháp hành giúp ta chôn vùi, mai táng, đưa bản ngã vào lòng đất, đưa xuống huyệt sâu, rồi lấp lại, diệt tận nó. Mỗi một cái lạy như vậy gọi là lạy diệt ngã.
Thường xuyên nhắc nhở bản ngã rằng: “Ngươi đừng ngẩng cao đầu nữa, ta lạy ngươi. Ngươi càng ngẩng lên là ta càng khổ, người đừng làm ta nhục nhã trên cuộc đời này thêm nữa. Ngươi hãy để cho ta được sống thanh cao, cao thượng, cao đẹp trong cuộc đời này, nên người hãy tan biến hoàn toàn thành mây thành khói thành hư không đi”.
Ngươi chẳng là ai ở trên đời
Chỉ là hôn ám và si mê
Chỉ là ám ảnh từ ngũ uẩn
Ngươi kéo ta vào trong khổ đau
Ngươi hãy biến đi, hãy chết đi,
Ngươi đừng sống dậy nữa làm gì,
Ta khổ đủ rồi, ngươi hãy biến
Ngươi hãy diệy đi, hãy chết đi
Trong sự tu tập này, nếu khéo tác ý, ta có thể ứng dụng, thực hành pháp bằng nhiều cách. Chẳng hạn, mỗi khi đốt nhang, ta tác ý rằng: “Ta đốt mi, ta đốt cái bản ngã này, ta đốt cho ngươi thành tro bụi”. Tay ta cầm nhang, nguyện cho thật là lâu, để cho cháy hết rớt tàn rơi xuống cũng như cho cái bản ngã này tan xác, banh xác, tan biến thành bụi nhang, thành khói mây rồi gió thổi bay đi mất, đừng bao giờ xuất hiện trở lại nữa. Mỗi khi đốt nhang cũng là lúc đốt bản ngã. Vận dụng Thánh trí tuệ như vậy để bẻ gãy cái bản ngã, đánh cho tới tấp, tơi bời, tan tành, tan nát cái bản ngã này. Khi nó đã nát tan thì chúng ta cũng được bình an, hạnh phúc tối thượng.
Khi cầm cây chổi quét nhà, ta cũng có thể tác ý: “Ta quét ngươi, quét cái bản ngã đi ra khỏi căn nhà nội tâm”. Khi ngồi xắt ớt thì ta quán chiếu: “Ta xắt ngươi, ta bầm người ra, cãi bản ngã cay độc này. Ta bầm cho tan nát cái tôi, cái bản ngã ngu si, ác độc này. Ta sẽ diệt tận, đánh đuổi hoàn toàn con rắn độc này ra khỏi tâm ta”. Khi rửa tay, ta quán chiếu là mình đang rửa vết nhục của sự vênh váo, hống hách, đi đâu cũng ta đây, cao ngạo. Mình sẽ rửa vết nhục này cho sạch hoàn toàn, không còn ở trong tâm này nữa.
Pháp hành này vô cùng tuyệt vời vi diệu, chỉ cần có sự để tâm thì khi làm việc gì, chúng ta cũng thấy pháp trong đó. Đặc biệt nhất vẫn là cách quỳ lạy diệt ngã. Khi cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em lạy sám hối nhau cũng chính là lạy diệt ngã, lạy cho bản ngã này gục xuống.
Sự tu tập này vô cùng rõ ràng, minh bạch, đây chính là pháp hành tối thượng. Thánh trí này chúng ta đã cầm ở trong tay như “thượng phương bảo kiếm”, “miễn tử kim bài”. Thật không gì sánh bằng, không còn muốn gì hơn nữa. Giờ đây ta chỉ cần “tiền trảm hậu tấu”, chém bay bản ngã trước rồi về thưa với thầy rằng “thưa thầy con đã chém bản ngã xong rồi!”, thật là hạnh phúc vô cùng. Chúng ta giờ đây có trong tay tất cả Thánh lệnh, Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo; nhờ sự cố gắng tu tập chúng ta sẽ được Thánh quả!
Tứ vô lượng tâm
Pháp hành tiếp theo là tu tập Tứ vô lượng tâm – từ, bi, hỷ, xả. Trong đó, từ là thương; bi là xót; hỷ là mừng; xả là buông. Tu tập Tứ vô lượng tâm tức là thực tập trải tâm thương, tâm xót, tâm vui và tâm buông. Đây cũng là sự thực hành tâm thương rộng lớn, thực hành tâm xót rộng lớn, thực hành tâm hoan hỷ, vui sướng, hạnh phúc, vui vẻ trong sự tu tập. Nhờ nhiếp phục được những tâm bất thiện nên ta thấy vui; khi đưa mình vào khuôn phép, cung kính nên ta thấy mừng; khi đưa mình vào khuôn khổ, nề nếp, biết ơn, hiền thiện nên chúng ta hạnh phúc, sung sướng.
Trước tiên là thực tập tâm từ, biết thương mình trước vì mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh này. Chúng ta đều là những ngũ uẩn vô minh và khát ái muôn thuở; sống trong tâm mù loà, bệnh hoạn, đầy thèm khát, khao khát, đói khát, khát ái. Mình rất đáng tội nghiệp, tham, dục, ái bao nhiêu kiếp vậy còn chưa đủ, mà cứ thèm khát hoài, thật là thương và đau xót cho chính mình. Đó là từ bi với chính mình, thương xót cho chính mình.
Tại sao mình cứ sân si, bực bội, khó chịu, hơn thua, ganh tỵ. Đối với cha mẹ, vợ chồng, mình cũng bản ngã, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ; với anh em ruột trong nhà thì ích kỷ nhỏ mọn, tính toán, chi li, keo kiệt; với đồng nghiệp, bạn đồng tu so bì hơn thua ganh tị tật đố… tại sao chúng ta lại đáng thương như vậy? tại sao? tại sao vậy? Thật là đáng thương với tâm bệnh tật, bệnh hoạn này.
Nhìn lại cả quãng đời đã đi qua mà soi xét lại, quán sát lại để thấy thương mình thật nhiều, tình thương tràn ngập khắp châu thân, từ đỉnh đầu cho đến gót chân. Trong mắt tai mũi lưỡi thân ý, trong từng tế bào, làn da, thớ thịt, ngấm vào xương tuỷ…là một tình thương dào dạt sung mãn tràn ngập không thể dung chứa hết nên trào ra từ nước mắt để chảy ra bên ngoài. Thật quá là thương mình, tội nghiệp cho chính mình khi sống trong tâm vô minh, khát ái, ngã mạn, ngu si, không biết xấu hổ này.
Từ lâu con sống trong mê muội,
Không biết tâm mình rất uế nhơ.
Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.
Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.
Thương mình nên thấy hổ thẹn với những tâm tham, sân, si, vô minh, dục, ái. Đó là mình thương xót, từ bi với chính mình. Từ đó cố gắng nhiếp phục, chế ngự những dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, vô minh trong tâm mình.
Sau đó nhìn ra ngoài, thấy ông bà, cha mẹ, cô bác, anh chị em, con cháu, họ cũng giống mình, cũng đáng thương như vậy nên ta trải được tình thương từ bên trong tâm này đến với mọi người. Vì nghiệp quả với tâm đầy sân hận, si mê nên họ mới làm khổ đau cho ta. Khi cảm thông được sự mê lầm, vô minh, sân hận, bản ngã đó giống như việc ta hiểu được sự mê lầm, vô minh, sân hận, bản ngã của chính mình. Nhờ vậy ta có sự đồng cảm và thông cảm, cảm nhận và cảm động trước nỗi khổ chung của tất cả ngũ uẩn, của tất cả hữu tình, vạn loại chúng sinh. Từ đó tâm từ bi, thương xót trong lòng sẽ trải rộng cùng khắp đến cả nhân loại, thế giới muôn loài, cho đến các dị loại là những loài thú vật, cô hồn, ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục, A-tu-la và đến cả Chư thiên vẫn còn đang đau khổ trong tham sân si, bản ngã, họ chỉ hơn chúng ta được một chút phước lành, phước báu, nhưng vẫn còn trong luân hồi sinh tử khổ đau. Cho nên, ta trải rộng tình thương đó đến cũng khắp lục đạo, luân hồi. Tình thương, lòng xót xa của mình là vô lượng, vô biên, vô cùng, vô tận, đó chính là tu tâm từ bi vô lượng.
Ta mong muốn tự thân mình cùng cha mẹ, anh chị em, bà con cô bác dòng họ, con cháu, cũng như tất cả những người thân thương, ngay cả những người hận thù mình, làm cho mình đau khổ... đều nhìn thấy được khổ uẩn, thấy đống khổ ngũ uẩn này. Ta mong tự thân mình và tất cả hữu tình chúng sanh nhận thấy được dục, ái, tham, sân, si, bản ngã là nguyên nhân của khổ, thấy được sự chấm dứt khổ để cùng nhau đi trên đạo lộ diệt khổ thì mới giải thoát khỏi đau khổ. Con đường đó chính là Bát chánh đạo, là con đường tám đúng, là những pháp hành vi diệu, tối thượng, cao đẹp mà mình đã được thực hành.
Ta mong những sự tu học, hành trì, thấy hiểu này sẽ được chia sẻ, lan toả. Mong được in kinh sách, mong những bài pháp được thuyết giảng đến tay người học. Mong muốn được lan toả Chánh pháp này đến khắp cả nhưng chúng sinh đang mù loà, điên loạn, đau khổ trong bóng đêm, đang bị lửa thiêu quằn quại trong những cảm thọ sân, si, đang bị hôn ám, ngu mê trong những cảm xúc vô minh, đang bị lún sâu xuống đầm lầy trong những cảm giác của dục vọng, dục ái, dục tình, dục tham. Đó chính là tâm từ bi vô lượng, rộng lớn, cùng khắp bao la, vô tận, vô biên, vô cùng, vô lượng. Đó là tâm thương và tâm xót không có bờ mé, là Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm.
Chúng ta cố gắng làm những điều này với mong muốn Chánh Pháp được trao truyền, mong muốn Chư tăng ni, các bậc chân tu, chân chánh mở nhiều khóa tu ở khắp mọi nơi để pháp hành này được lan toả rộng rãi đến với mọi người. Chúng ta cúng dường Tam Bảo với tâm rộng lớn như vậy, không phải cúng dường cho thầy, mà cúng cho Pháp, cho ngọn đèn Chánh Pháp. Chúng ta châm thêm dầu vào để ánh sáng Chánh Pháp được trường minh, trường tồn, trường cửu trong cuộc đời đầy hôn ám, si mê, vô minh, tăm tối, đầy khổ đau này. Đây chính là sự cúng dường tối thượng, là cúng dường Pháp.
Tất cả những việc chúng ta cần làm là cố gắng nỗ lực, nghe, học, tu, và lan tỏa đến mọi người và hướng dẫn người thân của chúng ta cùng tu tập. Mẹ đi tu về có sự thay đổi lớn làm cho con cảm động và cảm hóa được tâm con. Con đi tu về cũng thay đổi làm mẹ cảm nhận được, mà cảm động và cuối cùng cũng cảm hóa được tâm mẹ, nhờ vậy mẹ con cùng tu. Vợ chồng với nhau cũng vậy, hãy khích lệ nhau tu tập, nỗ lực, tiến lên trong Chánh Pháp. Đó là Phật pháp thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, không có thời gian, được người trí tự mình giác hiểu. Tuyệt vời là như vậy, tình thương là như vậy, từ bi là như vậy, thương xót cho nhau là như vậy!
---
Tiếp theo là phát khởi lên tâm hỷ, tâm vui mừng. Nhờ biết tu tập mà giờ đây mình từ bỏ được sát sanh, lúc còn ăn mặn đã sát hại thẳng tay biết bao nhiêu loài sinh vật, giờ đã từ bỏ điều này thì vui biết bao nhiêu. Nếu chưa được trọn vẹn thì cứ tập dần dần cho đến ngày ăn chay trường, phát khởi lên lòng thương đối với chúng sinh muôn loài. Hơn thế nữa, mình còn từ bỏ được việc trộm cắp, tà dâm, nói dối, lừa gạt người, nói lời hung dữ, nói lời phù phiếm, nói lời gây chia rẽ, ly gián, vui biết bao nhiêu.
Ta vui vì giờ đây ta biết giữ giới hạnh, nghe pháp, tu hành, thực tập tâm hiền, trở thành người sống biết ơn, nhớ ơn. Ta vui vì ta biết sống hòa đồng, vui vì ta có đức cung kính, vui vì ta biết nhiếp phục, chế ngự lòng dục, lòng tham, vui vì ta biết bẻ gãy bản ngã, cao ngạo vênh váo, vui vì ta biết sống với tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, thật là vui sướng, hạnh phúc, hoan hỷ.
Ngồi nghe Pháp như là được ở trên mây, ngồi thiền giống như đang dạo chơi trên trời, được nghe tác ý để triển khai thiền quán trong những giọt lệ tuôn chảy dâng trào. Đó là những giọt lệ của giác ngộ, của hạnh phúc, của sự thẩm thấu vào Thánh trí tuệ tuyệt diệu, tối diệu, thần diệu, vi diệu, thắng diệu, thù diệu của giáo pháp ly tham tối thượng này. Thật là sung sướng hạnh phúc, hoan hy, như hoa sen nở trong lòng. Tâm rực sáng như ánh mặt trời, lòng phơi phới trong sự hạnh phúc hoan hỷ.
Hơn tám tỷ người trên hành tinh này, có bao nhiêu người được học trong dòng Thánh pháp Nikāya này, bao nhiêu người được nghe, bao nhiêu người được hiểu, bao nhiêu người được hành, bao nhiêu người được trải nghiệm, cảm nhận những quả, thành tích, thành công. Chúng ta đang được, tuy rằng chưa đạt được nhiều nhưng chúng ta đang được hạnh phúc, hân hoan, hoan hỷ với những điều chúng ta đã được học, được nghe, được hiểu, được tu, được hành; những thành quả nho nhỏ cũng đủ làm sung sướng hạnh phúc, phấn khởi, hân hoan, hỷ lạc.
Chúng ta cho hỷ lạc này tràn ngập khắp châu thân, từ đảnh tóc đến gót chân, từng làn da, thớt thịt, từng lỗ chân lông, từ tế bào, ngấm vào trong xương, trong tủy, trong não, sung sướng hân hoan, hạnh phúc, hỷ lạc. Lúc nào cũng vui trong Chánh Pháp, chỉ cần tác ý là sanh khởi tâm hoan hỷ. Giống như chạy xe, chỉ cần bấm nút đề là máy khởi động sẵn sàng chạy. Cũng vậy, ta khởi động, tác ý “vui quá, hạnh phúc quá, mình được tu Nikāya, đến ngày được lên núi tu rồi”, nhờ vậy sanh khởi hỷ lạc, hạnh phúc, hân hoan, tuyệt vời, tuyệt diệu, thù thắng, hy hữu, hiếm có khó gặp, vi diệu, thần diệu, tối diệu, thắng diệu, thù diệu.
Còn ai trên được đời này được hạnh phúc bằng chúng ta khi gặp được Thánh pháp thất truyền hơn 2600 năm. Chúng ta đang được nghe, học, hiểu, tu, hành và đang nếm trải hương vị, thành quả, thành tích, thành công, sung sướng làm sao, hỷ lạc làm sao, hạnh phúc làm sao, hân hoan làm sao, tuyệt diệu làm sao. Mình mong muốn đem niềm hỷ lạc này chia cho con, cho chồng, cho cha mẹ và hướng dẫn họ từ từ tu học. Chúng ta cũng lan tỏa niềm hỷ lạc này đến mọi nơi, mong cho tất cả mọi người, nhân loại, chúng sinh, vạn loài, tất cả đều được niềm hỷ lạc, hân hoan này. Như vậy gọi là hỗ trợ, hộ trì Tam bảo, là đền ơn, đáp nghĩa, vì lợi ích cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho Chư thiên và loài người.
Với việc làm này: học, tu, hỗ trợ, hộ trì Tam bảo, cúng dường Chánh pháp bằng tâm rộng lớn vô lượng vô biên thì công đức ấy cũng tương xứng vô lượng, vô biên như vậy. Chúng ta cúng dường Pháp, cúng dường ánh sáng trí tuệ, cúng dường sự thật, cúng dường Thánh đạo, cúng dường Thánh trí hướng đến Thánh quả, đó là ý nghĩa trong sự tu học, đó là Hỷ vô lượng tâm.
---
Xả vô lượng tâm là buông bỏ, làm được mọi việc nhưng không chấp, ko nắm giữ việc đó. Vì nếu nắm giữ sẽ dừng chân tại chỗ, không tiến lên được nữa. Cũng như việc phải đi qua bậc thang của tầng thứ nhất thì mới bước lên được bậc thang của tầng thứ hai. Lên được bậc thang của tầng thứ hai mà đứng luôn ở đó thì không thể lên được tầng thứ ba. Chỉ khi buông tầng thứ hai thì mình mới lên được tầng thứ ba… Cứ như vậy mà buông cho đến khi nào không còn tầng nào để mà buông nữa thì chúng ta thể nhập được vào tâm thanh tịnh, cứu cánh cùng cực, xả vô lượng tâm.
Khi tu thì tu hết mình nhưng đừng có đi đâu cũng khoe tôi biết tu còn người khác không biết tu, có suy nghĩ như vậy là có nhân ngã, sẽ dẫn đến phiền não. Ví dụ, trong khi đại chúng đang im lặng tu học mà có một người nói chuyện, gây ra tiếng động là lập tức mình hướng ánh mắt khó chịu, không thiện cảm về phía người, như vậy là mình có tu mà không có xả. Ta cần biết thương người, thương cái tập khí mà họ chưa nhiếp phục được, hoặc vì họ mới chùa, chưa hiểu hết về thanh quy đạo tràng, vì vậy bằng tâm thương mình từ từ chia sẻ, hướng dẫn cho các vị mới. Cho nên, không phải mình giữ được giới mà thấy người không giữ giới được thì mình khinh khi; mình tu tâm từ mà thấy người khác sân hận thì mj xem thường họ; như vậy là không nên. Thay vào đó, ta hãy tu học và làm việc trong tâm thái nhẹ nhàng buông xả.
Sâu sắc hơn, xả bỏ thân kiến là cái xả bỏ quan trọng nhất trong sự nghiệp tu tập. Vì khi xả bỏ cái nhìn sai lầm về thân, xả bỏ tham, sân, si, xả bỏ tâm kiêu mạn của chính mình được thì sau đó mới có thể giúp cho người khác xả bỏ giống như mình đã xả bỏ. Tâm buông xả này sẽ giúp tâm ta nhẹ và khỏe vô cùng. Ví dụ, quý vị một mình vác một ba lô nặng 80 ký trên lưng, hai tay xách thêm vài vali rồi leo lên núi, quý vị không thể đi được vì quá nặng nề nhưng nếu quý vị vứt xuống không đeo không mang nữa thì quý vị thì khỏe hơn rất nhiều. Hơn nữa, trong vali, balo đó toàn là những chất độc, gai độc, bất thiện thì nên vứt bỏ, không có gì để tiếc nuối. Những thứ làm cho mình vô minh, say mê, tham đắm, sân, si, thì giữ để làm gì, buông bỏ càng nhẹ thì càng được lên cao, bay xa. Mỗi lần buông là mỗi lần đi lên, khi buông hết rồi thì tự động nó bay lên cao.
Hơn thế nữa, buông bỏ là để đi đến mục tiêu cuối cùng là giải thoát; không phải tu là để ta đây, để hơn thua, vỗ ngực xưng tên với đời rằng “ta tu đúng Chánh pháp, các người không tu đúng Chánh pháp”…Tu mà còn chấp, còn nắm giữ như vậy là còn tai họa, phiền não, sân si; khi còn phiền não, còn sân si là còn khổ đau không có ngày chấm dứt.
Vì vậy, khi đã có được con đường đúng đắn để đi thì ta hãy cố gắng thực hành để đạt được thành quả. Còn chuyện của người khác là tùy duyên, có duyên thì tốt, chưa có duyên thì tạo duyên. Một khi đã không có duyên, dù có cố tình đưa đến, có dúi vào trong tay nhưng họ không nắm lấy thì cũng không thể làm gì được. Cho nên, chúng ta chỉ gieo duyên, tạo duyên còn lại là tùy duyên ở người. Đối với tự thân, chúng ta phải cố gắng nỗ lực để đi đến cuối con đường mà chúng ta đang hướng đến, buông xả tâm để càng ngày càng nhẹ, càng trống, càng khỏe, càng an lạc thảnh thơi.
----
Trên đây là tổng quát pháp hành Nikāya, đầu tiên là tâm biết ơn, thứ hai là tâm hiền, thứ ba là tâm hòa kính, thứ tư là nhiếp phục dục tham, thứ năm là đánh gục cái bản ngã và cuối cùng thứ sáu là tu tứ vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả, nói dễ hiểu là tâm thương, tâm xót, tâm mừng, tâm buông. Các vị hiền trí nương theo đó để thực hành những đức hạnh cao đẹp, cao thượng và hiền thiện này. Phương diện nào chưa được thì ta cố gắng nhiều hơn, cái được rồi thì phát huy hơn nữa, cứ như vậy mà ta tiếp tục tăng thượng mỗi ngày trong giáo pháp./.