Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tứ Vô Lượng Tâm

2026-03-18 06:50:22
BỐN TÂM VÔ LƯỢNG

Người đánh văn bản : Diệu Quang

Trên bước đường tu tập, mỗi hành giả đều tạo cho mình dòng năng lượng nhằm chuyển hóa từ những trạng thái tiêu cực dần thành tích cực và sâu rộng hơn thế nữa. Trong nhiều pháp môn đưa đến bến bờ giải thoát cội rễ phiền não, không thể không có bài thực hành bốn tâm vô lượng của người tu. Bốn tâm ấy là: Từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm.

Ngay giây phút này, chúng ta cùng thực hành nhận diện cảm giác toàn thân. Mỗi người cùng lắng lòng trước không gian bao la của núi rừng, rõ biết những gì đang hiện hữu trong giây phút hiện tại.

Bốn tâm này là nguồn gốc cho tất cả chư Thiên và vua Trời tu tập được trở thành Thiên, chúng Thiên. Bây giờ, chúng ta đang ngồi ngồi tại Quán Chiếu Đường (cổng trời) lắng lòng thanh tịnh đón chào buổi mai đầy năng lượng yêu thương, cùng nhau thực tập phương pháp của vua Trời, đức Phật đã truyền trao.

Luôn phát khởi TỪ và BI

Hãy làm cho mình phát ra cảm giác tình thương, sanh trưởng lòng từ, nghĩ đến sự xót xa của tự thân. Từ là thương, bi là xót xa, ngay đây dũng mãnh phát khởi tình thương thật nhiều đối với tâm của mình, nhìn lại để thấy rằng bao nhiêu năm qua chúng ta đã lăng xăng, tất bật, sầu bi khổ ưu não, biết bao phiền muộn, sợ hãi và mình đã gây ra nhiều sự sai quấy lỗi lầm trong vô minh, điên đảo. Nay chính là lúc phải mở cửa lòng từ, nghĩ đến nỗi thương xót chính mình, thương bản thân thật nhiều những người xung quanh mình. Bởi, họ cũng giống như mình, những người ấy cũng rất cần một tình thương, trông chờ sự đồng cảm, mong mỏi được tha thứ, hoan hỷ trong sự mến yêu.

Như vậy, mỗi người chúng ta mở rộng biên độ tình cảm, cảm xúc toàn thân và tâm, tiếp đó đến những người đang ngồi bên cạnh mình, rồi lan ra đối với những người thân yêu nhất của mình là cha mẹ, ông bà, vợ chồng, con cái, cô bác cho đến bạn bè, những người đồng nghiệp,… Sự thương yêu này được lan tỏa rộng khắp, không phân biệt, mình thương cả những người không thương mình. Vì họ cũng là nạn nhân của phiền não, họ cũng là bệnh nhân của sân, si, của tham muốn dục vọng trong sự vô minh, mê lầm. Giờ đây chúng ta cùng trải tấm lòng vô biên cho tha thứ vì những chúng sanh không biết giáo pháp.

Kế đến, chúng ta thực tập tình thương mở rộng biên độ về không gian, trải lòng thương tưởng đến khắp không gian núi đồi Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng này lan rộng tình thương này khắp tình Lâm Đồng, trải dài ra miền Trung, miền Bắc, hướng đến Thành phố Hồ chí Minh, đi xuống các tỉnh miền Tây - đồng bằng sông Cửu Long cho tới các tỉnh miền Đông Nam bộ, duyên hải miền Trung đến địa đầu Tổ quốc, các vùng lãnh hải, mở rộng tình thương khắp bản đồ chữ S đất nước Việt Nam.

Tình thương này không chỉ dừng lại trong một quốc độ mà nó phải hướng rộng khắp không gian vô tận, thời gian vô tận, trải lòng thương yêu khắp loài người (thương, yêu, thân, sơ, bạn, thù, ganh, ghét…) cho đến tất cả muôn loài. Những loài vật đã hy sinh thân mạng để nuôi sống mình, chỉ vì vị giác, miếng ngon của lưỡi mà mình đã sát hại bao nhiêu loài vật. Nghĩ tới đó, hành giả khởi tâm từ đến những loài thực vật, động vật mà mình đã từng ăn nuốt, giết hại dù cố ý hay vô tình, dù vui nghe hay chẳng nghe. Đem tâm cảm ơn, biết ơn đến các loài vật từ bé nhỏ như con kiến, con trùn cho tới con vật to lớn, đến khắp cỏ cây hoa lá vạn vật đã mang lại dưỡng chất dưỡng khí cho mình.

Hơi thở của chúng ta ngay đây lan tỏa tình thương tràn ngập không gian sự tốt lành, nhẹ nhàng, ấm áp, ngọt ngào. Mỗi người chúng ta thật tâm hành trì tình thương yêu sâu sắc của mình đến người thù hận, kẻ đã từng ghét mình, đã oán hận mình, làm cho mình khổ sở,… thì giờ đây, mình hãy thương họ, hãy tha thứ cho họ vì chúng ta cùng ở trong sự mê lầm, chưa có trí huệ. Hôm nay, chúng ta đã có sự tỉnh thức của Phật pháp nên tha thứ cho họ, bi mẫn đối với họ, xót thương họ, mỉm cười với những người đã làm cho mình khổ đau, bởi họ đã giúp cho ta thêm trưởng thành để hiểu thấu hơn cuộc đời này, nhờ vậy mà hành giả đã có dịp nếm đủ hương vị của thế gian.

Luôn mở cửa tâm hồn cho HỶvà XẢ trú ngự

Chúng ta lắng lòng, cảm nhận niềm hạnh phúc, ngay bây giờ đang rất an lạc, đã trút bỏ gánh nặng của tục lụy ở dưới phố thị, bỏ xuống những sự lo toan, phiền muộn trong đời thường để lên núi tu tập làm người ‘vô sự’. Giờ phút này giữa non thiêng, chúng ta đang ngồi ở thế ngồi hoa sen, ngồi trong thế ngồi của hàng ma. Vừa ngân lên tiếng đại hồng chung, tâm ta tịnh lại, buông xuống chấp trước khổ đau. Quý vị đang có Phật, có Pháp, có Tăng, đó là phúc lành, là kho báu mà mình nên mở ra, hãy học và thực hành cho sáng dần trí huệ, từ bi trong mỗi chúng sanh hiện hữu.

Hãy luôn nghĩ rằng, chúng ta có những người bạn đạo, đồng nghiệp thật dễ thương rất hiền hòa. Mình hít sâu vào rồi thở ra sạch cảm giác toàn thân, mỉm miệng cười, hạnh phúc thay khi đã buông hết những phiền lụy của thế gian, cùng sống trong hạnh phúc thực tại mà rất nhiều người mong muốn nhưng không có được. Vì sao? Chúng ta đang sở hữu một hạnh phúc tuyệt vời, mầu nhiệm nên làm cho nó phát sanh hạnh phúc đó tràn ngập từ đỉnh đầu xuống đến vai, rồi đến toàn thân cho đến gót chân được sung mãn dạt dào. Cảm giác của hạnh phúc, an vui, sung sướng là niềm hoan hỷ mà có khi suốt cuộc đời, người khác không thể có được. Do đó, mỗi người cần phát huy từ bi hỷ xả ngay bây giờ cho mình, cho người, cho khắp tất cả, làm cho cảm giác này dào dạt lên mạnh mẽ lên! Cùng nhau mở rộng cảm giác hoan hỷ này lan tỏa ra những người còn rất khổ đau trong gia đình của mình, lan tỏa ra những người bạn thân thương nhất họ còn đang phiền hận, hãy chia tâm vui sướng này đến cho họ, trao gởi tình thương này đến những người cùi hủi, mắc phải tật bệnh nan y, những ông cụ bà lão đang lượm ve chai phế liệu, những cô nhi, những ai vô gia cư,… cùng nhau mở lòng đến tất cả chúng sanh đang khổ bị đày đọa trong địa ngục, phải bị uống nước nước dầu sôi, ôm cột đồng cháy đỏ, nằm trên bàn chông… Mong tất cả chúng sanh đều được sự hoan hỷ, giải thoát khỏi khổ đau về thân và tâm. Lại nữa, hành giả chí thành hướng tâm tốt lành đến khắp mười phương trên, dưới, Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, lan tỏa sự hoan hỷ này đến tất cả các nước châu Lục châu Phi, châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Úc. Chúng ta cùng mỉm cười lên, lan tỏa tỉnh thương đó là hỷ vô lượng tâm.

Quý vị hãy quán chiếu những tâm bám chặt vào giận hờn, buồn phiền và sự cố chấp đã và đang làm cho mình khổ đau. Hãy nhận thức sâu sắc những điều đó, vì chúng chỉ có hại, không có lợi nên buông bỏ những tâm chấp đó xuống, buông xuống cho nhẹ, buông xuống thật là khỏe, quăng nó xuống để được thoải mái, chuyên chú vào hơi thở điều hòa thân và tâm. Khi chúng ta buông được những tham sân si, buồn lo sẽ sanh ra sự thoải mái, an lạc. Cùng nhau xả tâm bởi không có gì thật sự để mình nắm níu, mở rộng tâm buông xả này ra mong muốn cho tất cả mọi người cũng có tâm hỷ xả như vậy, tất cả những người thân thương mình rụng rơi dần những phiền muộn, sầu bi, mọi người được chuyển hóa từ khổ đau đến an lạc, từ vô minh đến ánh sáng trí huệ. Chúng ta thực tập tứ vô lượng tâm để có được phút giây thật sự thảnh thơi, tự tại, hoan hỷ cho mình, cho người, cho muôn loài chúng sanh. Cùng nhau nuôi dưỡng dòng năng lượng này cho nó phát sanh mãi, sáng mãi.

Thường xuyên thực tập trải bốn vô lượng tâm

Mỗi khi gia đình chúng ta có những việc không được như ý, quý vị có thể cùng nhau ngồi lại năm mười phút quán từ bi hỷ xả vô lượng tâm hoặc thấy người nào đó khó chịu, gây sự với mình. Sau khi trở về nhà, mình tìm một nơi yên tĩnh để thực hành trải tâm từ, bi, hỷ, xả vô lượng tâm chắc chắn trong mười phút sau quý vị sẽ thấy bình an một cách kỳ diệu. Đây là phương pháp chánh truyền của đức Phật, nó là liều thuốc bổ tâm linh, diệu dược thánh dược của Phật chứ không phải thuốc bình thường. Bởi, thánh dược của Phật trị được hết tất cả tâm bệnh.

Lúc nào hành giả thấy xuất hiện buồn bã, bực bội, khó chịu, bức ngặt cho mình và người thì nên xoay trở lại thực tập phát khởi lòng từ bi vô lượng. Nếu được, mỗi sáng thức dậy hoặc tối trước khi đi ngủ, mình trải tâm từ đến tất cả chúng sanh. Đức Phật nói phước đức của tâm này, người đem bố thí thức ăn xuyên suốt cả hàng tháng liên tục không phước bằng người quán từ bi vô lượng tâm trong khoảnh khắc khảy móng tay. Vì từ bi tâm là vua của tất cả công đức.

Khi đức Thế Tôn khi còn là một người tu chưa thành Phật, chưa giác ngộ trọn vẹn, Ngài đã thực hành thành thục pháp tu tâm từ bi trong bảy năm. Rồi sau đó đức Phật hưởng phước cho tới trăm triệu ngàn lần, cho tới trái đất này thành hoại. Ngài sanh ra chỗ nào là làm vua chỗ đó, sanh trên trời làm vua Trời, sanh ở dân gian làm vua ở dân gian, bất cứ sanh ở loài nào là thống lãnh loài đó. Công đức của từ bi tâm không gì sánh nổi, nên vị Bồ-tát được tất cả mọi người cung kính lễ bái còn được gọi là mẹ hiền Quán Thế Âm. Bởi Ngài tu đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn khắp chúng sanh.

Người nào tu tâm từ thì khi thức khỏe mạnh, ngủ an lành; tất cả tai nạn không xâm nhập vào cơ thể của mình; súng đạn, lửa, nước những thứ nguy hiểm không thâm nhập được; đi đến đâu ai cũng thương cũng mến. Vì trong tâm mình có đức từ lan tỏa, nên thấy được chữ từ. Người không tu tâm từ, nhìn mặt thấy chữ dữ (không hẳn!). Do vậy, tu tâm từ rất tuyệt vời! Đây là pháp tu tình thương yêu khắp mười phương và thậm chí con chim, con cá cho đến cỏ cây muôn loài cảm nhận được từ trường của tâm từ.

Người tu tâm từ thì được sự quý mến của chư Thiên và các vị phi nhân là những vị không phải người, thiên thần và các vị hộ pháp ủng hộ. Ngày xưa, có một vị Tôn giả chuyên tu về hạnh tâm từ. Mỗi chỗ, Ngài thường lưu trú một thời gian ngắn, một hai tháng rồi đi. Lần nọ, Ngài chuẩn bị rời khu rừng đã an trú ít tháng qua thì nghe tiếng khóc của phi nhân, thiên thần. Họ đã tới năn nỉ vị Tôn giả ấy đừng đi khỏi khu rừng đã tu tập hành thiền tâm từ kia. Vì nếu Ngài đi thì chúng sanh nơi đây tiếp tục gây cãi nhau, đánh nhau, sân hận sanh khởi, trú xứ này sẽ không còn bình yên nữa. Phi nhân và chư Thiên nơi đó năn nỉ mãi, cuối cùng vị Tôn giả kia ở lại khu rừng ấy tu tập hành thiền tâm từ mỗi ngày cho tới lúc Ngài nhập Niết-bàn ngay nơi đó.

Người có từ tâm, có bi tâm thì đi đến nơi nào, nơi đó có an lành, phát khởi tình thương. Cũng như chỗ nào có nước thì nơi đó cây cối mọc được, đâm hoa kết trái. Thế giới này không có nước thì trái đất không được tồn tại. Nếu như đời sống của chúng ta không có tình thương thì mình chẳng thể sống tốt hơn. Do vậy, ‘từ’ quan trọng, thực tập sẽ chuyển biến thân, thay đổi tâm, xây dựng lại cách nói chuyện, ứng xử, suy nghĩ của mỗi bản thân. Những chuyển biến ấy sẽ được những người thân của mình cảm nhận, thậm chí cây trước nhà sẽ mọc tốt hơn lúc trước. Vì xưa kia mình tạo dòng năng lượng từ trường căng thẳng, mệt nhọc của sân hận, phiền não. Nay thì chuyển hóa thân tâm bằng từ bi hỷ xả.

Ví dụ, hồi trước, cây trổ có bốn năm trái thì nay mình tu tâm từ, nó đã trổ tám trái. Thuở xưa, những vị A-la-hán Thánh tăng thấy khi các con chim bay lại gần bên Phật nó có một cảm giác rất bình an vây quanh, thậm chí chúng đậu trên người Phật thản nhiên. Nhưng các vị A-la-hán lại gần đưa tay để chúng đậu lên thì nó bay hết, vì phàm phu chưa chứng thánh nên chim bay hết. Thế Tôn nói rằng ‘các ông tuy tu thành tựu rồi nhưng mà hơi hám, mùi của sự sát sanh còn chưa hết, cho nên chim chóc nghe mùi đó nó hoảng, không dám lại gần. Như Lai không còn mùi của nghiệp sát, toàn bộ từ tâm, bi tâm nên nó bay lại gần, vì ở đó có dòng từ trường ấm áp, nên chúng nó có cảm giác rất an toàn’.

Chúng ta cùng thực tập mỉm cười, cười an nhiên, cười với nhau bằng chân thật, cả tấm lòng. Hỷ vô lượng tâm trải ra rộng khắp muôn loài chúng sanh! Mình tập hỷ xả, có chuyện gì giải quyết xong rồi thì thôi, đừng có đổ lỗi, la rầy xong, sang bữa sau gặp nói nữa. Phải tập cho được, lần sau mình gặp lại người đó, việc đó, lỗi đó đã qua thì xem là bình thường, không còn gì phải bực tức, nhắc lại. Xả, không phải bỏ hết lời lỗ mà xả đúng chuyện, mình xả xong rồi thì thôi!

Người học Phật là luôn quay về với chính mình, tự bản thân thực tập trước bốn vô lượng tâm này cho thân và tâm (năm uẩn này). Bởi có từ bi hỷ xã với chính mình thì mới có thể mang tâm ấy ra với người, với vật được! Đối trị tham sân si cũng vậy, mình phải thực tập trước, khi mình có được sự thực tập tương đối lúc đó mình sẽ có sức lan tỏa và ảnh hưởng đến người khác. Có khi mình chưa nói, họ cũng cảm nhận được, khi họ đang sân si thì mình đang thở cảm giác toàn thân, họ thấy không có chỗ bắt mồi, lửa củi họ bắt không được. Ngược lại, nếu mình có chất cháy, điều đó dễ bắt được lửa sân từ họ phát ra. Điều quan trọng là mình không có chất gây cháy, khi mình thực tập được trải rộng tình thương yêu này tương đối thì người sân hận đến thấy mình sẽ giảm bớt sự sân hận kia.

Thường xuyên trưởng dưỡng Thiện pháp

Một điều Minh Thành muốn chia sẻ trong bài kinh Song tầm, tầm tức là suy tầm, suy tư, nghĩ ngợi hướng cái tâm là tầm. Đức Phật khi chưa chứng Vô Đẳng Chánh Giác, Ngài đã từng chia tư tưởng làm hai loại, một loại về tham muốn, nóng giận si mê, suy nghĩ không tốt với người khác, còn một loại tư tưởng không có tham muốn, chẳng có nóng giận, dừng bặt có si mê, đây là loại tư tưởng thiện lành. Ngài chia làm hai nhóm, loại nào có hại tương ưng với tham sân si thì đức Phật tìm cách hóa giải, dập tắt nó, không cho nó tiếp tục tồn tại, phát triển.

Những tư tưởng tiêu cực, ví như, tư tưởng buồn giận người khác, phiền trách người khác rồi héo khô tiều tụy. Chỗ này phải nhận ra liền, mình có cảm nhận cảm giác toàn thân, thường xuyên thực tập nên khi nó có xuất hiện lập tức mình thấy nó liền và dập tắt. Đức Phật gọi là từ bỏ chúng, diệt tận chúng, làm cho chúng không còn sanh khởi trở lại, giống như chặt cây cau, cây dừa không cho mọc lại được. Đối với bất thiện pháp hoặc tư tưởng tiêu cực thì phải thẳng tay đoạn diệt.

Những tư tưởng tích cực, là thiện pháp phát khởi thì nên duy trì, phát huy, làm cho nó tăng trưởng. Cần nhận rõ thiện pháp và bất thiện pháp, suy tư rạch ròi đễ chế ngự và duy trì, trưởng dưỡng, chớ nhầm lẫn đi lạc vào nẻo vô minh, tà kiến. Ở bài kinh Song tầm là hai sự suy tư, hai hướng suy nghĩ, cái ý nghĩ nào tương ưng với từ bi, tình thương thì mình phát huy lên.

Ví dụ, thấy đứa nhỏ ăn xin tội nghiệp, mình cho nó năm chục ngàn, khi đưa tiền ra lại nghĩ là uổng nên rút lại cho còn ba chục ngàn. Lúc đầu là thiện pháp, lúc sau là phân biệt sanh khởi. Ý thiện sanh khởi tạo ra phước rất quan trọng. Vì chúng ta còn trong cõi sanh tử luân hồi nên phước đi theo mình.

Hoặc như, sanh ra trong một gia đình cùi hủi, sanh ra không cha mẹ, sanh ra được vài tuổi đã mắc bệnh nan y, sanh ra vùng không phát triển,… đó là không có phước. Kinh Phân biệt công đức có nói, cúng dường đức Phật, người phàm phu ác phước được trăm phần cho một người phàm phu thiện phước được nhiều hơn ngàn phần, cho được người lìa tham dục nhưng vẫn còn phàm phu phước được mười ngàn, cho cúng dường hay cho một người đệ tử Phật giúp ích hay được vô lượng phần, mới bắt đầu tu tập phước lên tới hàng ngàn hàng vạn mà cúng dường hay giúp cho người hướng quả Dự lưu hướng vào trí huệ của Phật, phước đó hư không trong mười phương này cũng không so sánh nổi công đức đó.

Trong kinh bộ A-hàm và kinh Pàli tạng nói phước tăng trưởng mà mình không biết. Ví dụ người cúng cái chuông này, biết cúng chuông này có phước nhưng không biết cái phước đó như thế nào, mỗi lần mình nghe tiếng chuông này mà tâm mình lắng lặng thanh tịnh người cúng được thêm chút phước, một trăm người nghe người đó được trăm phần phước, một ngàn người nghe thì người đó được tăng ngàn phần phước, cứ mỗi lần bất cứ ai thỉnh một tiếng chuông này tâm thật lắng dịu thanh tịnh người đó tăng phước, phước đó không tính được. Cũng như con đường không biết bao nhiêu người đi mà bất cứ người nào đi trên con đường đó thì người cúng được tăng phước lên. Như vậy họ chết đời này, sanh đời sau nếu làm con đường đó tốt họ hưởng không biết chừng nào mới hết phước. Họ cúng một tượng Phật, bất cứ người nào vô lạy tượng Phật đó thì họ đều được chút phước.

Ví như, người nào đó cúng một giếng nước, bất cứ người nào uống nước từ giếng ấy thì người cúng giếng nước đó được tăng trưởng phước báu, còn cúng cho phàm phu hưởng phước thiện, cúng dường bậc Dự lưu Thánh quả hay vào Thánh quả thì trí huệ phước đó không thể tưởng tượng được.

Hoặc như có một vị cư sĩ cúng dường bữa ăn cho một vị Thầy, người đó rất nghèo nhưng dám nhín phần ăn của mình đem cúng vị Tỳ-kheo đó là một vị Thánh tăng Bích Chi Phật. Vị cúng dường này hưởng phước lành tới năm trăm kiếp, cho tới khi vị này chứng thánh quả A-la-hán thì luôn hưởng phước tràn ngập đồ ăn, đi tới đâu cũng tràn ngập đồ ăn, thậm chí ở trong Tịnh xá rừng sâu núi thẳm mấy ngàn vị Tăng cũng có người đem đến cúng dường. Cho nên, phước người cư sĩ rất quan trọng!

Đức Phật thường dạy người cư sĩ mình hai điều, muốn chắc chắn làm người, muốn chắc chắn vui sướng, giàu sang, đầy đủ thậm chí sanh lên cõi Trời là giữ giới và làm phước đó là hai phương pháp của người cư sĩ tại gia. Chắc chắn được làm người hoặc cõi Trời hưởng phước được giàu có sung sướng, sức khỏe, trường thọ, trí huệ thông minh thì phải giữ giới (ngũ giới, thập thiện). Do vậy, hãy phát huy tư tưởng thiện, trưởng dưỡng lòng từ. Mình nhớ phát huy thiện pháp, những suy nghĩ nào tương ưng với thiện, phù hợp với trí huệ, thương người nghèo, giúp người, làm những việc nghĩa lợi, những việc công đức, học đạo, tu tập thiền định,… thì cố gắng phát huy cho bằng được tức là giữ đừng cho mất, hộ trì làm cho nó phát triển, làm cho nó lớn mạnh lên them, đó mới là người siêu thông minh.

Thật vậy, bi trí song tu, từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm. Bốn vô lượng tâm này nên luôn thường trực, phát khởi trong mỗi hành giả trên bước đường tu hành, chuyển hóa thân tâm chính mình rồi sẽ chuyển hóa được người khác. Vượt qua bản ngã, cố chấp sẽ thấy lời dạy Như Lai luôn chắc thật, không hư dối. Rõ biết khổ, vô thường, vô ngã, không sẽ đạt tới tịch tịnh Niết-bàn.

./.