Từ Thấp Lên Cao - Pháp Là Gì Tại Sao-Phải Thiền Quán
25-12-2020 Soi Sáng NIKĀYA - Từ Thấp Lên Cao
Pháp Là Gì -Tại Sao Phải Thiền Quán
Thích Minh Thành
Sư Phụ: Mời Sư cô mới đến nhận diện ngũ uẩn trong giờ phút này.
Sư cô: Mô Phật, kính bạch trên thầy, trên quý thầy, các sư cô và toàn thể thiền đường đại chúng. Sắc thân tứ đại con đang ở đây, cảm thọ của con đang cảm thấy hỷ lạc, tưởng uẩn lúc này đang hiện ra hình bóng của thầy đang ngồi giảng Pháp cho chúng con, hành uẩn là con đang nghĩ bài giảng sắp tới của thầy sẽ nói về điều gì, thức uẩn là rõ biết những cảm thọ, hình bóng xuất hiện trong tâm, những suy nghĩ đang lăng xăng. Mô Phật, con xin hết.
Sư Phụ: Mời hai chú Phật tử mới đến nhận diện năm uẩn.
Phật tử A: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin nhận diện năm uẩn, thân tứ đại con đang đứng ở Vân Thủy Đường, cảm xúc vừa dễ chịu vừa khó chịu, hình bóng của con là những cơn mưa, hành là những suy nghĩ về thể rắn, thể lỏng, hơi nước tùy theo nhiệt độ, con thấy nước trong cơ thể mình và trong mọi người, thức là con rõ biết được thọ; tưởng; hành.
Sư Phụ: Cảm thọ vừa dễ chịu vừa khó chịu là như thế nào?
Phật tử A: Cảm thọ dễ chịu là con thích nghe tiếng mưa, khó chịu là con hơi run.
Phật tử B: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, kính thưa quý cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin nhận diện ngũ uẩn của con bây giờ, thân tứ đại của con là sắc, cảm giác của con bây giờ hơi khó chịu vì lạnh, hình bóng của con hiện đang thấy sư phụ đang ngồi thuyết Pháp, suy nghĩ của con là không biết hôm nay sư phụ nói về đề tài gì, thức của con rõ biết hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng.
Sư Phụ: Từ lúc vào đây chú có muốn hỏi gì trong sự tu học không?
Phật tử B: Dạ, hiện tại con chưa có câu hỏi gì.
Phật tử A: Xin phép sư phụ cho con được hỏi. Con mới học ngũ uẩn thì Pháp là thọ; tưởng; hành nhưng hôm qua thầy giảng về Pháp, tức là không gì là ta, không gì của ta mà chúng ta chỉ nương vào Pháp và nói Pháp, thế cái Pháp hôm qua sư phụ nói và Pháp thọ; tưởng; hành khác nhau như thế nào, hoặc là Pháp Ấn, vạn Pháp duy tâm là như thế nào ạ, chữ Pháp trong mỗi câu như vậy khác nhau ra sao. Con cám ơn thầy.
Sư Phụ: Mời sư cô có câu hỏi gì không?
Sư cô: Mô Phật, con kính bạch trên thầy cùng toàn thể thiền đường đại chúng. Con có câu hỏi mà con đã thắc mắc lâu nay, thưa thầy sự quán tưởng khác với mắt thấy thật sự là như thế nào ạ? Con thấy quán thì trên bề mặt bên ngoài, còn thấy là thấy thật sự bản chất, xin thầy chỉ cho con quán và thấy thật sự ngay trong hiện tại khác nhau như thế nào ạ. Con xin hết.
Sư Phụ: Sự tu học của chúng ta phải có tuần tự, không thể mới vừa vào mẫu giáo đã muốn viết văn, phải học từng chữ cái, ráp vần, ghép vần, ghép câu, nhiều câu thành đoạn, nhiều đoạn thành bài văn, nhiều bài mới thành quyển sách. Chính vì vậy mà các vị mới đến như Minh Thành đã nói đầu tiên phải thực tập ba pháp, nhận diện năm uẩn và Như lý tác ý vì trước hết phải nhận rõ được thân tâm chính mình một cách đúng đắn, sau khi nhận rõ trọn vẹn triệt để, thấy được bản chất thật sự thì lúc đó mới có thể buông bỏ, buông xuống được. Mình phải học những cái cho đầy đủ, rộng rãi nhưng khi thực hành phải biết vị trí mình đang ở đâu, điều này rất quan trọng. Nếu mình đang đứng ở tầng trệt mà cứ nghĩ mình ở sân thượng thì không đúng, vì thế cái Pháp của người mới thực tập khác với Pháp của người đã thực tập lâu, trong cái Pháp của người đã thực tập có nhiều cấp độ hành trì sâu cạn khác nhau, thành ra chữ "Pháp" trong đạo Phật rất rộng lớn, phạm vi là quảng đại vô biên, Pháp của người mới chỉ ở trong chỗ mình đang học, đang thực tập, đang hành trì. Tuy nhiên nói Pháp mới, Pháp cũ, Pháp sâu, Pháp cạn nhưng vẫn đặt trên nền tảng năm uẩn vì ngoài năm uẩn ra không có gì để nói, như vậy Pháp chúng ta đang thực tập ở đây như chú nói là thọ; tưởng; hành. Phải biết những cảm thọ, mọi người hướng dẫn cho những người mới những bài như Lợi Ích Của Cảm Giác Toàn Thân, chọ những bài có chữ "cảm giác" hướng dẫn cho họ để biết rằng cảm giác chỉ là cảm giác, cái chuông là cái chuông chứ không thể gọi cái chuông là cái bàn, thành ra học không được vượt thứ tự, tuy là nghe để hiểu nhưng khi thực hành thì cái nào phải ra cái đó, Pháp nào ra Pháp đó, như vậy cảm thọ là cảm thọ, tưởng là tưởng, hành là hành, thức là thức, sắc là sắc, không được lẫn lộn. Vào bếp nấu ăn mà lẫn lộn muối, đường, mì chính thì ra món gì? Cho nên để khai triển được cái lý thâm sâu của vô thường, không, vô ngã thì những cái căn bản mình phải nắm rõ, phải biết được sự tập khởi, vận hành và đoạn diệt của nó chứ không phải nói tất cả là giả nên không cần phân biệt nên muối, đường, mì chính hốt cho vào hết không cần biết cái nào là cái nào. Không thể như thế được, muối là muối, đường là đường, mì chính là mì chính, vì thế đầu tiên phải thực tập những bài quán sát sâu sắc về cảm thọ, phải biết cảm thọ là cảm thọ, chỉ riêng bước này đã bắt đầu tách mình ra khỏi cảm thọ, còn lúc trước không biết thì mình nhập cuộc chung với nó, khi giận lên thì tất cả ngũ uẩn đều chìm trong ngọn lửa bực tức, sân giận, còn khi đã biết cảm thọ là cảm thọ, là khổ có sự sân hận thì mình đã đứng tách riêng để nhìn trở lại thì đó là đã một bước rồi. Chú có thấy lúc trước chưa học Pháp này thì mình và cảm giác là một, khi thương thì toàn bộ mình đang thương hoặc toàn bộ là tâm đang giận, nghĩa là mình đang giận hoặc mình đang thương, đang có cảm giác dễ chịu, lúc nào cũng có "mình" trong đó thì đó là vẫn chưa biết Pháp cho nên người mới tu phải để ý học hỏi. Còn giờ mình bắt đầu chỉ mặt cảm giác là bắt đầu thành tựu trí tuệ về cảm giác, chú có thấy được điều này chưa?
Phật tử A: Khi con học xong ngũ uẩn cũng như thầy vừa bảo là phải tách cảm thọ ra, không được nhập chung với nó. Tối hôm qua bị mất điện khi con lên vọng chuông thì con rất sợ nên mới nghĩ phải tách cảm thọ ra "Theo ma thì ma độ còn mình theo Phật thì Phật độ, mình sợ gì nó", thế là từ từ con đỡ sợ, còn nếu lúc đấy không tách được cảm thọ thì cũng hơi căng.
Sư Phụ: Lúc chú sợ ma do cúp điện thì đó là khổ thọ, chú cứ tập trung tâm ý lắng nghe sâu sắc để tiếp nhận Pháp một cách trọn vẹn, đừng vội phản ứng.
Khi cúp điện buổi tối có cảm giác sợ hãi xâm chiếm thân tâm thì đó là cảm thọ khổ, lo lắng, sợ hãi, không biết có rắn rết hay ma gì không. Ngay thời điểm đó đang có cảm giác sợ hãi, khó chịu và cảm giác này chỉ là cảm thọ, do duyên bị cúp điện nên mới sanh ra cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng này. Cảm giác này do duyên sanh, do xúc với duyên bóng tối sanh ra tưởng, hành, thọ bất an, lo lắng, tưởng tượng. Mình quay lại an trú cảm giác toàn thân, khi nãy chú có sự tác ý theo Phật thì Phật độ thì chú mới vọng chuông, tiếng chuông này đem lại sự bình an, tỉnh thức, từ tâm cho tất cả chúng sanh, nhân và phi nhân. Mỗi tiếng chuông chú vọng ra thì chú quán chiếu cảm giác từ tâm lan theo âm ba của tiếng chuông đó, tiếng ngân tới đâu thì từ tâm trải rộng theo tới đó. Trong cảm thọ thương yêu, từ bi lan tỏa như vậy thì ai có thể hại mình? Mình đem tình thương đến cho mọi người thì người ta thương mình không hết chứ ai lại hại mình mà phải lo lắng, sợ hãi?
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, III. Gia Ðình)
Tác ý theo từng tiếng chuông, âm thanh vang tới đâu thì cảm giác thương yêu, bi mẫn, từ tâm lan theo cùng khắp tất cả núi đồi, không gian, từ đỉnh đầu đến gót chân đều thấm đượm cảm giác ngọt ngào của thương yêu, bi mẫn, từ tâm, ngay lập tức cảm giác lo lắng, sợ hãi sẽ lắng dịu, tan biến và cảm giác từ tâm sẽ sanh khởi bao la, rộng lớn. Đây cũng là cách để đại chúng đi lên vọng chuông, mỗi tiếng chuông là quán chiếu "đem lại sự tỉnh thức, đem lại tình thương cho tự thân và tha nhân", đồng thời làm cho sanh khởi cảm giác thương yêu, bi mẫn trong cuộc đời này thì mỗi tiếng chuông vọng ra mới có sức mạnh, mới có giá trị, mới có sức lan tỏa làm cho trời đất này được thanh lương, bình an, tốt tươi, an lạc. Mỗi người khi ngồi thiền trải tâm từ hoặc lúc đi kinh hành trải tâm từ thì cảm thọ cũng phải như vậy, từ lồng ngực lan xuống gót chân, lan lên đỉnh đầu, toàn thân mình trong mỗi lỗ chân lông, mỗi tế bào lan khắp không gian đều trải từ tâm vô lượng bao la. Phải thực tập thường xuyên như vậy trong mỗi sinh hoạt hằng ngày, thường trú trong từ tâm và nếu có sân thì diệt sân, nếu có dục tham ái thì diệt dục tham ái, có bản ngã thì diệt bản ngã rồi lại trú trong tâm từ. Làm như vậy sẽ thấy điều kì diệu xuất hiện, mình đi đến đâu là tươi thắm, an lạc đến đó, tật bệnh trong người sẽ giảm nhẹ, phiền não sẽ vơi bớt, bản ngã được lắng dịu. Nhưng phải nhớ trong sự tu tập này phải sanh cảm thọ, còn thực tập trong sự suy tưởng mà không có cảm thọ thì vẫn chưa có sức mạnh. Cho nên đạo tràng Nikāya mỗi lần thiền quán đều tuôn nước mắt là do đánh thẳng vào cảm thọ, nếu ngồi trơ ra thì sự tu không đánh động đến trái tim, không chạm vào những dòng cảm thọ cho nên hôm qua khi con chia sẻ có nhiều vị rớt nước mắt. Không phải mình khuyến khích khóc nhưng vì cái Pháp này đánh thẳng vào thọ, trong khi thọ là hang ổ của ngũ uẩn.
Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Tất cả Pháp đều hội tụ ở cảm thọ mà cứ ngồi trơ ra không cảm xúc thì tu không tiến bộ. Hôm qua chúng ta học tôi là…
… là một động chuyển của tâm.
… là một chấn động của tâm.
… là một hý luận không bao giờ đến hồi kết.
… là một ngã mạn.
Khi nói như vậy thì làm rung chuyển, xúc động trong cảm thọ chấp ngã, làm lung lay cái gốc của thân kiến, của sự chấp thủ đó thì mới có ra những sự xúc cảm. Cho nên phải để ý và canh chừng cảm thọ, chúng ta tu tâm từ thì cảm thọ phải được lan tỏa ra, còn đọc trên miệng và trong tâm không có lấy một chút tâm từ thì đó là tu máy móc, không có kết quả bao nhiêu. Khi vào bếp nấu cơm cũng phải nấu bằng tâm từ, quét sân cũng quét bằng tâm từ, tất cả những sợ hãi sẽ tan biến vào hư không nếu siêng năng thực tập trải tâm từ và làm phát sanh các cảm thọ. Khi thực tập tâm từ thì dung sắc sẽ tươi nhuận, cảm thọ mát dịu, hiền hòa, lời nói ngọt ngào dễ đi vào lòng người. Người ta không ưa thích mình vì lòng từ của mình không đủ, tâm sân của mình còn nặng nề, những đóa hoa vừa có sắc vừa có hương thì ong bướm khắp nơi đều tụ về, lòng từ cũng giống như sắc hương từ đóa hoa đó cho nên phải siêng năng thực tập tâm từ. Trong tâm từ đó sẽ có tâm hiền, làm bản ngã lắng dịu để nhiếp phục được lòng sân, lòng phiền não và khó chịu được giải phóng, tự động nó có sức dung hóa làm cho tiêu dung, tan chảy những cảm thọ cứng chắc, ương ngạnh, bực dọc, gắt gỏng, cau có. Mình tu tâm từ thì tự động mình hiền hòa, lắng dịu lại hồi nào bản thân cũng không hay biết, cho nên ở đây được mọi người quy tụ về thăm viếng hoặc tu học đều do lòng từ của đại chúng, mỗi ngày chúng ta tu tâm từ thì cảm giác tâm từ lan trong hư không, đó là sự thật, cảm thọ đó có chứ không phải chỉ là tưởng, chư Thiên, phi nhân, loài người, súc sanh, thú vật có thể cảm nhận được lòng từ này. Đó đã là việc làm công đức chứ không phải chỉ là những việc làm bên ngoài mới gọi là công đức, đây là việc làm trong vô hình, cái làm đó khó và chính cái làm đó mới biểu hiện ra những cái hữu hình. Các vị cao Tăng tu trong núi rừng, hang động mà cả ngàn người đến tu học là do sức chiêu cảm từ trong cảm thọ, từ trong tâm của các ngài, cũng như Sư bà Hải Triều Âm có 500 sư cô về cùng nhau tu học, khi con đến thăm thì Sư bà đang ngồi xe lăn nhưng sụp xuống lạy con làm con hốt hoảng đỡ người đứng dậy, năm đó Sư bà 90 tuổi nhưng ngày ngày thực hành bát kỉnh Pháp, vì thế sự tu tập của chúng ta là chuyển hóa cảm thọ, tu một thời gian thì cảm thọ sẽ chuyển biến, mình tu và thực tập nhiều sẽ khiêm cung, hiền lành, dễ thương. Tại sao mình lại có hình tướng như vậy là vì cái thọ bên trong đã được nhiếp phục, lắng dịu còn làm bên ngoài chỉ đỡ một chút thôi nhưng cái gốc bên trong chính là thọ; tưởng; hành vẫn chưa được nhiếp phục, vì thế lúc vầy lúc khác, làm màu, làm dáng, gặp hoàn cảnh như vầy thì làm vậy nhưng gặp duyên thì bùng nổ, còn thọ đã đi vào được tâm hiền từ, tâm khiêm hạ sẽ luôn như vậy, không thay đổi, đây là sự khác nhau giữa tu bề ngoài, tu trên dáng vẻ hình thức và tu sâu bên trong cảm thọ. Cảm thọ của đại chúng bắt đầu hiền lành, lắng dịu, dễ thương cho nên chúng ta tu có khi tám tiếng hoặc bốn năm tiếng nhưng nhiếp phục được cảm thọ là giỏi rồi, còn cái thọ vẫn cứng cỏi, kiên cường thì không thể ngồi an tịnh, lắng dịu được vì chúng ta đi vào cảm thọ để thực tập, còn nếu dụng công bên ngoài ngôn ngữ, hình thức thì cũng có những cái hay nhưng gặp nhân duyên khác thì nó sẽ mất đi. Những hình thức bề ngoài chỉ là những chiếc áo, hôm nay mặc màu này, mai mặc màu kia còn cảm thọ là con người mặc chiếc áo đó. Cũng như các sư cô mới học Trung cấp về núi tu học, ngày đầu tiên với bây giờ cảm thọ khác nhau như thế nào?
Sư cô Thông Tuệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, trên quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể thiền đường đại chúng. Con xin phép được trình bày về cảm thọ. Ba năm trước khi lên đây con có chút khó chịu vì tu nhiều quá nên chưa thích ứng được và cũng có một chút nể phục quý thầy ở đây. Khi thực tập tâm hiền lúc nào con cũng bị tê cả người nhưng khi được học Pháp, thực hành Pháp thì rất hân hoan, hỷ lạc và khi thực hành tâm hiền không bị nóng người như lúc trước, lúc nào cũng thấy Thế Tôn ở bên cạnh mình và mình đang đi trên con đường Thế Tôn nên rất hạnh phúc. Những lúc nghe Pháp rất thích và muốn nghe thêm, lúc trước thì hết đau vai lại đau lưng nên dù có nghe cũng không lãnh thọ được nhiều còn giờ thì đã khác.
Sư Phụ: Mới đây đã ba năm rồi?
Sư cô Thông Tuệ: Dạ. Lúc trước con với Luận lên đầu tiên.
Sư Phụ: Đã ba năm mà tưởng mới chỉ ba ngày. Chúng ta thấy thời gian trôi qua rất mau, có khi ba trăm năm sau, ba ngàn năm sau cũng không thay đổi được nếu không gặp Chánh Pháp, ba tỉ năm sau thì thọ; tưởng; hành của mình cũng vậy nếu không gặp Chánh Pháp, thậm chí còn ghê sợ hơn bây giờ cho nên chữ "Pháp" là sự thật tối thượng rối ráo, tức là các cảm thọ này là biến đổi, là vô thường, các cảm thọ này là trống rỗng và không chấp vào cảm thọ này. Dù tu tập được tâm hiền, tâm từ nhưng không khen mình chê người, không chê người khác sân si còn mình là từ bi, mình phải biết rằng đó cũng chỉ là cảm thọ của họ thôi, họ giống như mình lúc trước chưa hiểu Pháp, chưa hiểu cảm thông, tha thứ. Vì thế mình không được lấy sự tu tập huấn luyện cảm thọ được tốt và cư trú vào đó để phát huy bản ngã, tuy rằng tu tập các thiện pháp nhưng vẫn hướng đến sự tịch tịnh, sự an tịnh của vô ngã, không cống cao ngã mạn, ta đây, vẫn hướng đến tâm tịch tịnh, tâm hướng cầu tịch tịnh là Pháp tối thượng của Niết-bàn. Nếu mình không thấy được điều này thì khi tu được là bắt đầu có bản ngã, xem thường người không biết tu "mấy người không biết ngũ uẩn gì hết, tôi biết ngũ uẩn", "mấy người không biết cảm thọ còn tôi biết nhiếp phục cảm thọ", vậy là sanh ra bản ngã cho nên khi làm các thiện pháp thì không chấp vào thiện pháp vì cảm thọ đó cũng vô thường nhưng phải tu tập các cảm thọ. Đây là chỗ đặc biệt, cảm thọ đen đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cảm thọ trắng đưa đến phước lành nhân gian thiên thượng nhưng cũng ở trong luân hồi, người muốn chứng nhập Pháp xuất ly giải thoát thì phải vượt lên trên tất cả cảm thọ, nhưng trước hết người này phải có cảm thọ trắng, còn giờ chỉ toàn là cảm thọ đen mà muốn giải thoát là không được, còn đầy rẫy ác và bất thiện pháp thì phải tu tập cái ác này thành cái thiện trước rồi từ cái thiện đó mới có thể thể nhập vào trí huệ để vượt lên, đó là đạo lộ tuần tự của Thánh Pháp chứ không thể tự vượt cấp được. Cho nên sự tu tập của chúng ta là huấn luyện những cảm thọ, nghĩ tưởng trong tâm, thay vì được học Pháp, nghe Pháp nhiều thì phải vui lên nhưng lại suy nghĩ phi Như lý tác ý "sao học hoài vậy", suy nghĩ này sẽ đưa mình đến thối đọa, đưa mình dừng lại trong thiện pháp. Không cho phép suy nghĩ đó khởi lên, quay ngược vào tâm cắt đứt suy nghĩ đó và diệt tận nó, trừ khi nào nằm trên gường đi không nổi mới không lên tu học chung với đại chúng, phải huấn luyện bản thân như thế, sự huấn luyện trong quân đội vô cùng khắt khe và gian khổ, những chú tiểu bốn tuổi ở Thiếu Lâm Tự đứng một chân, chân còn lại đưa lên cao, nước mắt chảy ròng ròng mà không bỏ cuộc, bậc thanh từ trên núi dốc đứng mà các chú trồng chuối đi ngược xuống, đó là Pháp của phàm phu hạ liệt trong sanh tử luân hồi, người ta vì danh lợi, vì bản ngã mà có thể làm được như vậy còn mình tu vô ngã, vượt qua cả danh lợi mà biếng nhác? Không chịu tinh cần, tinh tấn mà lấy cớ để làm biếng, mình không nhìn ra hết được thì tu không tiến mà phải đọc được hết những suy nghĩ thầm ý bên trong cảm thọ này, nó thích buông thả dù cho có cạo đầu cũng vậy, không muốn tu nhiều, tìm chỗ tu cho khỏe, học cho dễ. Thọ; tưởng; hành rất khủng khiếp, nó bắt chúng ta mãi mãi ở trong sanh tử, trong sự yêu mến thể xác cho nên tất cả thế gian đều gục ngã trước tham ái, đều ngã qụy trước dục tham ái cho nên Chánh Pháp sẽ biến mất. Chỉ muốn tu cho nhàn hạ, dễ dàng cho nên đời tu giống như người nghệ sĩ, ôm đàn hát, ngồi uống trà, trong kinh Nikāya không có chỗ nào Phật dạy như vậy mà Phật dạy quán bộ xương.
Tu tập cốt tưởng, này các Tỳ-kheo, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.
Này các Tỳ-kheo, cốt tưởng tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, đưa đến quả lớn, đưa đến lợi ích lớn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Này các Tỳ-kheo, cốt tưởng được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (b), VII. Phẩm Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra, I. Bộ Xương, I. Quả Lớn, Lợi Ích Lớn)
Phật dạy tu tập tướng trương sình, giòi ăn nhưng những điều này rất hiếm để được nghe, được thực tập vì đi ngược lại tham ái. Chư Thiên và loài người ái luyến, say mê và tham đắm trong tham ái cho nên sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp này thay đổi thì chư Thiên và loài người đau khổ, sầu bi, ưu não. Như Lai, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác đã bứng tận gốc rễ của các sắc, của các dục cho nên khi sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp này biến đổi Như Lai không đau buồn, không bị điên đảo. Con còn sống một ngày thì tạng Nikāya này phải được giảng dạy rộng rãi đến khi nào con không còn nữa thì thôi, những lời thật sự của Đức Phật rất khó được nghe ở thời điểm này. Pháp là hướng đến ly tham, hướng đến nhàm chán, hướng đến rời xa, sự chấm dứt, sự từ bỏ thì gọi là Pháp, là cứu cánh tối thượng. Mình cảm thấy trong tâm mình hướng đến nhàm chán đối với ngũ uẩn, các sắc dục, tham ái của cuộc đời này, hướng đến sự rời xa không ưa thích nữa, không tiếp tục tham sân si, sầu bi ưu não nữa thì đó đúng là Chánh Pháp. Miệng thì nói giải thoát nhưng trong tâm lại ưa thích, dính mắc, không buông xả, không tập trung tất cả tâm ý nỗ lực cắt bỏ thì làm sao thành tựu? Vậy thì giải thoát cái gì? Phải xem lại trong cảm giác của mình đã buông bỏ chưa, phải xem lại trong cảm giác đã thực sự buông xả chưa. Đức Phật nói có những Tỳ-kheo quán bất tịnh như một lúc lại đi đến tịnh, chính ở thời Đức Phật đã như vậy chứ không phải bây giờ mới có, cái biết ngay hiện thực của mình là vô minh và tham ái, sự thật phũ phàng như vậy. Mình không quán được ba mươi hai thể trược, không quán chín giai đoạn của một tử thi vì ái dục không cho quán, sự vô minh không cho quán, Đức Phật không đưa ra phương pháp dư thừa hoặc không có mà Đức Phật nói, nếu vậy là mình không thành tựu lòng tin đối với Đức Phật, không thành tựu lòng tin đối với Pháp, những pháp quán mà Đức Phật đưa ra là sự thật của sự thật. Ví dụ nhìn một thân hình nào đó mà cho nó là đẹp thì đó là vô minh, tham ái, đó không phải là cái nhìn sự thật mà đang bị lớp da lừa gạt, sự thật của nó phải là phèo phổi, ruột gan, bao tử, lá lách, tim, phân, mật, đàm, mủ máu, xương… Nhưng do mình bị vô minh, tham ái che mờ nên mình không nhìn thấy, Đức Phật dạy pháp quán là đưa vô minh trở về minh, đương nhiên vô minh sẽ chống đối, vào quán bất tịnh thì "Đẹp, hấp dẫn mà sao quán thấy ghê quá", vì do bóng tối không chịu ánh sáng, vô minh không chấp nhận minh, tham ái không chấp nhận pháp ly tham. Bây giờ phải có ý chí, nghị lực, tha thiết chân thành cầu thể nhập chân lý cho nên mình phải chống chọi với sự đối kháng "không có thích hay không thích mà đây là Thánh trí huệ chỉ có tuân lệnh". Phải có tinh tấn lực, mãnh hổ lực, trí tuệ lực "Mày đã đè đầu ta trong sanh tử vô lượng vô biên kiếp rồi bây giờ còn muốn đè đầu nữa hay sao. Ta phải quật ngã ngươi, hạ gục ngươi". Chúng ta phải áp đặt chứ không được dễ dàng cho qua, chịu mới tu còn không chịu thì thôi, chịu buông lung phóng dật, tu lơ lửng chờ ngày qua đời hay sao? Chịu tu để nuôi dục, nuôi ái, nuôi tham để phát triển danh lợi, để chạy theo sắc tướng hay sao? Cho nên phải áp đặt vào trong Thánh đạo, Thánh trí, Thánh tuệ. Vì vậy những người đến đây tu ai tu được thì tu, tu không được cứ xuống núi.
Người muốn lên đỉnh núi phải cố gắng, nỗ lực đi lên. Đỉnh núi không vì ai mà hạ thấp xuống.
Đỉnh núi đó là sự thật, không có bất cứ đỉnh núi nào hạ thấp để con người bước lên, muốn lên đến đỉnh phải tự nỗ lực trèo lên, như vậy mới là đỉnh núi, chân lý là chân lý, ba ngàn năm hay mười ngàn năm sau vẫn là đỉnh núi, không thể vì một người nào đó mà chân lý thay đổi. Mình muốn thì phải nỗ lực, tinh tấn, ép mình đi vào Thánh trí huệ của Đức Phật thì mới thuận dòng của Thánh trí, còn không thì thuận dòng theo thế gian.
Ngược dòng của đời mới thuận dòng theo đạo, nghịch lưu với thế gian mới thể nhập Thánh trí huệ.
Mình muốn chiều theo cái thoải mái, dục ái thì cứ đi theo thế gian dù cho hình thức có là gì. Mình không hiểu thì cứ nghĩ thực tế, hiện thực là vậy, nhìn thì biết như vậy thôi nhưng không phải vậy mà phải thấy được sự nguy hiểm của nó, chỉ cần một ngọn lửa nhỏ cháy lên thôi là ngôi nhà thành đống tro, chỉ cần tham gia giao thông không cẩn thận có thể thành đống bầy nhầy, trương sình, nứt nẻ, thành mâm tro tàn. Đống sắc nguy hiểm này phải nhìn thấy sự tai hại, tai họa của nó, đó là dục ái, tham sân si, bản ngã, ác nghiệp, sầu bi khổ ưu não trong vô lượng vô biên kiếp, đó gọi là quán, là tâm sâu sắc rộng lớn soi xét tất cả góc độ, khía cạnh, phương diện của đời sống này, của sự thật thế gian này. Chúng ta ngồi đây bình an nhưng ngoài kia gần tám mươi triệu người nhiễm bệnh, gần hai triệu người chết vì nhiễm dịch bệnh. Không phải hai ngàn người, không phải hai chục ngàn người, không phải hai trăm ngàn người mà là hai triệu người, bao nhiêu thiền đường này để chứa đầy xác người như thế? Mình đặt bản thân vào tình trạng cha mẹ, anh em mình nhiễm bệnh hoặc thậm chí bản thân bị nhiễm bệnh rồi mình thấy thế nào mà nói thế này là bình an, hoặc cha mẹ mất, anh em mất, người thân trong gia đình nhiễm dịch bệnh chết, lũ lụt cuốn trôi mất xác, bị tai nạn giao thông chết thì mình sẽ như thế nào? Hiện tại virus đã có rất nhiều biến thể, khả năng lây lan mạnh hơn đến 70%, một mùa Noel ảm đạm chưa từng có trên thế giới, một ngày mấy trăm ngàn người nhiễm bệnh ở Mỹ, chết hơn ba ngàn người trong vòng 24 tiếng chỉ riêng nước Mỹ. Chỉ có người vô minh, vô cảm, không biết suy nghĩ, không biết lo lắng, sợ hãi nên mới thấy bình an ảo tưởng trong giờ phút này. Bậc trí chỉ lo một điều là diệt tận tham sân si, vô minh, bản ngã còn người ngu có ngàn mối sầu, lo mãi vẫn không hết, lo tranh giành, hại người, đố kị… lo ngàn mối mà không mối nào xong trong khi bậc Thánh nhân chỉ lo một điều mà lo xong là vĩnh viễn vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Người cha ngồi tựa vào dải phân cách bên cạnh thân xác người con bị tai nạn giao thông, người này băng qua đường ray xe lửa phơi quần áo nhưng không may đúng lúc xe chạy đến đã bấm còi liên tục mà cô không nghe thấy thế là tông cô chết tại chỗ, không ai nghĩ rằng đi phơi quần áo lại mất mạng nhưng nó đã diễn ra, không ai nghĩ rằng những đứa trẻ đang chơi đùa ở chung cư cao tầng làm rớt trái táo xuống ngay đầu đứa nhỏ ở dưới sân, làm đứa trẻ thành người thực vật. Có vô số những chuyện không tin được lại xảy ra trên thế giới trong hằng giờ, hằng ngày. Thật là hiểm họa, tai nạn tiềm ẩn khắp mọi chốn, mọi nơi trên cuộc đời này. Con từ Sài Gòn về núi thì thấy thây người đắp chiếu trên đường, trước đó năm phút người đó có nghĩ mình sẽ chết không? Có bao giờ người đó bước ra đường mà suy nghĩ có thể lát nữa mình sẽ chết không? Một ngày chúng ta niệm tử được mấy lần? Bệnh nan y gần chết mà cũng không nghĩ rằng mình chết, đó là sự mê lầm sống trong quên lãng, Đức Phật đã dạy niệm tử được lợi ích lớn, được an lạc lớn, đưa đến an tịnh thắng trí chứng ngộ Niết-bàn, đó là Pháp môn niệm tử.
Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm cho viên mãn. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi tu tập, làm cho sung mãn một pháp này, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm và tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm chi viên mãn.
Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu, đưa đến sự chứng ngộ quả Nhất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả Bất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả A-la-hán. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi một pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu.... quả A-la-hán.
Những vị này không hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị không thực hiện thân hành niệm. Những vị này hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị thực hành thân hành niệm.
Bất tử bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai đoạn tận thân hành niệm. Bất tử không bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không đoạn tận thân hành niệm.
Bất tử không được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không chứng ngộ thân hành niệm. Bất tử được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai chứng ngộ thân hành niệm. (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XXI. Phẩm Thiền Ðịnh (2))
Ngồi nói bảy ngày bảy đêm cũng chưa hết những chuyện đau lòng trên cuộc đời này, con chó hoang được người ta cho đồ ăn mà nó mừng chảy nước mắt, miền Trung bị lũ lụt có ông già nhịn đói năm ngày vì nước lũ dâng cao cuốn trôi mọi thứ, ông được mạnh thường quân cho hộp cơm đã khóc vì mừng. Ngày nào mình ăn cơm cũng nghĩ bữa cơm rất đơn giản, bình thường trong tất cả mọi thứ mình đang sử dụng, đang dùng cho việc tu học đều là sự hy hữu thù thắng, sự quý báu vô lượng trong dòng sanh tử này nên phải biết trân trọng, nâng niu bằng tất cả tấm lòng trong mỗi phút mỗi giây, đặt toàn tâm toàn ý là việc thực tập Pháp để sau này khi thời đã đến, chuẩn bị ra đi thì sẽ không hối hận.
Này các Tỳ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy tu tập Thiền định. Chớ có phóng dật. Chớ để hối hận về sau. Đây là lời giáo giới của Ta cho các Ông. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương IX. Tương Ưng Vô Vi, Phần Một - Phẩm Một, I. Thân)
Hãy gắng sức nỗ lực tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm đào xới gốc rễ, bứng lên khổ căn, cội rễ căn nguyên của đau khổ phải được diệt tận, chớ có để cuối đời ăn năn hối hận thì cũng đã muộn màng. Hãy hướng tâm về sự rời xa những thứ dục ái, sân si, bản ngã này. Hướng tâm đến sự ly tham, chấm dứt, đoạn tận, tác ý tư duy, nhắc nhở, tự nhủ quyết đạt đến chỗ từ bỏ cái tổ hợp tham sân si, sầu bi, ưu não này. Xin mời sư cô Tuệ Tâm chia sẻ cảm thọ.
Sư cô Tuệ Tâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính ngưỡng bái bạch trên sư phụ, con kính thưa trên quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Thưa sư phụ cảm thọ của con ngày hôm nay vô cùng hoan hỉ khi được nghe sư phụ chỉ dạy cho đại chúng tu tập, và càng hoan hỉ hơn vì những lời chia sẻ hướng dẫn và dạy dỗ của sư phụ để con được khai mở trí tuệ trong Pháp tu và Pháp hành để tiến bộ trong tu tập, rất sát với thực tế. Hôm nay là ngày Noel, mọi người ở bên ngoài đang vui vẻ đón ngày lễ nhưng đại chúng ở Linh Quy Pháp Ấn thì tề tựu nghe sư phụ chỉ dạy Phật Pháp, đi ngược dòng với đời để chúng con đi vào đạo, từng lời hướng dẫn của sư phụ làm con quán tưởng đến thế gian, nếu là người tu có tình thương, từ tâm và biết lo nỗi lo duy nhất nếu chưa đoạn diệt được tham sân si chính mình sẽ bị những dục, ái, tham sân si, bản ngã lôi vào dòng sanh tử luân hồi, không biết khi nào mới thoát ra được. Thật là khổ nạn! Để có sự tu tập an ổn nơi Linh Quy Pháp Ấn này thì đó là sự hy sinh của sư phụ, của quý thầy, quý sư cô và các vị thí chủ đã đổ mồ hôi công sức giúp cho chúng con được an ổn tu tập, được nghe Pháp và thực hành Pháp, được khai mở trí tuệ và biết được đường hướng tu tập. Con cảm thấy vô cùng hoan hỉ, hạnh phúc, song song đó con nhìn lại để quán xét tự thân thì thấy bản thân còn nhiều non kém trong tu tập, đầy rẫy những pháp bất thiện, chưa hết lòng hết tâm tinh tấn tu học từng thời từng khắc. Sư phụ đã hỏi một ngày niệm tử được bao nhiêu lần thì quả thật nếu tu tập sâu sắc thì từng thời, từng khắc, từng sát na phải quán đến vô thường, cái chết, đến những hy sinh của sư phụ, của đại chúng, từ đó tinh tấn, nỗ lực tu tập, vậy mà bản thân con đôi lúc bệnh nên chưa thật sự nỗ lực tu tập, khi quán thì con chỉ quán trên tưởng và thức mà chưa đi sâu vào cảm thọ. Hôm nay con được sư phụ khai mở trí tuệ, chỉ cách thực hành để làm sanh khởi cảm thọ vì nó chính là cốt tủy, là lõi cây để làm nên sức sống lan tỏa cho chính bản thân mình, cho phi nhân và tất cả mọi người đều lợi lạc. Nhìn lại con thấy mình tu tập còn kém cỏi, còn đầy rẫy tham sân si, bản ngã, hình thức, con vô cùng xấu hổ và nhục nhã vì chỉ có màu áo, đến khi đối duyên xúc cảnh thì màu áo ấy thay đổi, không xứng đáng là người tu. Vì vậy hôm nay con chân thành tri ân sư phụ đã chỉ dạy cho con phương pháp tu tập đúng đắn, chân thật, đi đúng đạo lộ và biết nhìn nhận vị trí tu tập của mình đang ở đâu để cố gắng nỗ lực từng bước đi trên đạo lộ với mục đích hướng đến đỉnh núi, cũng như bông lúa khi chín thì tự nhiên trĩu xuống chứ không phải là người non nớt mới tu tập như bông lúa mới lớn vươn cao trong tự ngã, kiêu căng. Thật sự nghe đến đâu con cảm thấy xúc động và vô cùng xấu hổ vì bản thân tu tập quá kém cỏi. Con xin tri ân sư phụ và tri ân những lời dạy của sư phụ đã giúp bản thân con có được sự nỗ lực, tinh tấn tu tập và tiến lên trên đạo lộ tu tập giải thoát không phải trên môi miệng, không phải bằng lớp áo màu sắc bên ngoài mà chính là lõi cây bên trong, có được năng lượng, sức sống, tâm từ lan tỏa mang lợi ích chân thật cho bản thân, cho tất cả mọi người hữu tình, trời đất và phi nhân. Một lần nữa con xin tri ân đến sư phụ và sự chỉ dạy của sư phụ đã giúp con và đại chúng được khai mở trí tuệ, được thức tỉnh và thực hành đúng trong tiến trình tu tập.
./.
Pháp Là Gì -Tại Sao Phải Thiền Quán
Thích Minh Thành
Sư Phụ: Mời Sư cô mới đến nhận diện ngũ uẩn trong giờ phút này.
Sư cô: Mô Phật, kính bạch trên thầy, trên quý thầy, các sư cô và toàn thể thiền đường đại chúng. Sắc thân tứ đại con đang ở đây, cảm thọ của con đang cảm thấy hỷ lạc, tưởng uẩn lúc này đang hiện ra hình bóng của thầy đang ngồi giảng Pháp cho chúng con, hành uẩn là con đang nghĩ bài giảng sắp tới của thầy sẽ nói về điều gì, thức uẩn là rõ biết những cảm thọ, hình bóng xuất hiện trong tâm, những suy nghĩ đang lăng xăng. Mô Phật, con xin hết.
Sư Phụ: Mời hai chú Phật tử mới đến nhận diện năm uẩn.
Phật tử A: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin nhận diện năm uẩn, thân tứ đại con đang đứng ở Vân Thủy Đường, cảm xúc vừa dễ chịu vừa khó chịu, hình bóng của con là những cơn mưa, hành là những suy nghĩ về thể rắn, thể lỏng, hơi nước tùy theo nhiệt độ, con thấy nước trong cơ thể mình và trong mọi người, thức là con rõ biết được thọ; tưởng; hành.
Sư Phụ: Cảm thọ vừa dễ chịu vừa khó chịu là như thế nào?
Phật tử A: Cảm thọ dễ chịu là con thích nghe tiếng mưa, khó chịu là con hơi run.
Phật tử B: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, kính thưa quý cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin nhận diện ngũ uẩn của con bây giờ, thân tứ đại của con là sắc, cảm giác của con bây giờ hơi khó chịu vì lạnh, hình bóng của con hiện đang thấy sư phụ đang ngồi thuyết Pháp, suy nghĩ của con là không biết hôm nay sư phụ nói về đề tài gì, thức của con rõ biết hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng.
Sư Phụ: Từ lúc vào đây chú có muốn hỏi gì trong sự tu học không?
Phật tử B: Dạ, hiện tại con chưa có câu hỏi gì.
Phật tử A: Xin phép sư phụ cho con được hỏi. Con mới học ngũ uẩn thì Pháp là thọ; tưởng; hành nhưng hôm qua thầy giảng về Pháp, tức là không gì là ta, không gì của ta mà chúng ta chỉ nương vào Pháp và nói Pháp, thế cái Pháp hôm qua sư phụ nói và Pháp thọ; tưởng; hành khác nhau như thế nào, hoặc là Pháp Ấn, vạn Pháp duy tâm là như thế nào ạ, chữ Pháp trong mỗi câu như vậy khác nhau ra sao. Con cám ơn thầy.
Sư Phụ: Mời sư cô có câu hỏi gì không?
Sư cô: Mô Phật, con kính bạch trên thầy cùng toàn thể thiền đường đại chúng. Con có câu hỏi mà con đã thắc mắc lâu nay, thưa thầy sự quán tưởng khác với mắt thấy thật sự là như thế nào ạ? Con thấy quán thì trên bề mặt bên ngoài, còn thấy là thấy thật sự bản chất, xin thầy chỉ cho con quán và thấy thật sự ngay trong hiện tại khác nhau như thế nào ạ. Con xin hết.
Sư Phụ: Sự tu học của chúng ta phải có tuần tự, không thể mới vừa vào mẫu giáo đã muốn viết văn, phải học từng chữ cái, ráp vần, ghép vần, ghép câu, nhiều câu thành đoạn, nhiều đoạn thành bài văn, nhiều bài mới thành quyển sách. Chính vì vậy mà các vị mới đến như Minh Thành đã nói đầu tiên phải thực tập ba pháp, nhận diện năm uẩn và Như lý tác ý vì trước hết phải nhận rõ được thân tâm chính mình một cách đúng đắn, sau khi nhận rõ trọn vẹn triệt để, thấy được bản chất thật sự thì lúc đó mới có thể buông bỏ, buông xuống được. Mình phải học những cái cho đầy đủ, rộng rãi nhưng khi thực hành phải biết vị trí mình đang ở đâu, điều này rất quan trọng. Nếu mình đang đứng ở tầng trệt mà cứ nghĩ mình ở sân thượng thì không đúng, vì thế cái Pháp của người mới thực tập khác với Pháp của người đã thực tập lâu, trong cái Pháp của người đã thực tập có nhiều cấp độ hành trì sâu cạn khác nhau, thành ra chữ "Pháp" trong đạo Phật rất rộng lớn, phạm vi là quảng đại vô biên, Pháp của người mới chỉ ở trong chỗ mình đang học, đang thực tập, đang hành trì. Tuy nhiên nói Pháp mới, Pháp cũ, Pháp sâu, Pháp cạn nhưng vẫn đặt trên nền tảng năm uẩn vì ngoài năm uẩn ra không có gì để nói, như vậy Pháp chúng ta đang thực tập ở đây như chú nói là thọ; tưởng; hành. Phải biết những cảm thọ, mọi người hướng dẫn cho những người mới những bài như Lợi Ích Của Cảm Giác Toàn Thân, chọ những bài có chữ "cảm giác" hướng dẫn cho họ để biết rằng cảm giác chỉ là cảm giác, cái chuông là cái chuông chứ không thể gọi cái chuông là cái bàn, thành ra học không được vượt thứ tự, tuy là nghe để hiểu nhưng khi thực hành thì cái nào phải ra cái đó, Pháp nào ra Pháp đó, như vậy cảm thọ là cảm thọ, tưởng là tưởng, hành là hành, thức là thức, sắc là sắc, không được lẫn lộn. Vào bếp nấu ăn mà lẫn lộn muối, đường, mì chính thì ra món gì? Cho nên để khai triển được cái lý thâm sâu của vô thường, không, vô ngã thì những cái căn bản mình phải nắm rõ, phải biết được sự tập khởi, vận hành và đoạn diệt của nó chứ không phải nói tất cả là giả nên không cần phân biệt nên muối, đường, mì chính hốt cho vào hết không cần biết cái nào là cái nào. Không thể như thế được, muối là muối, đường là đường, mì chính là mì chính, vì thế đầu tiên phải thực tập những bài quán sát sâu sắc về cảm thọ, phải biết cảm thọ là cảm thọ, chỉ riêng bước này đã bắt đầu tách mình ra khỏi cảm thọ, còn lúc trước không biết thì mình nhập cuộc chung với nó, khi giận lên thì tất cả ngũ uẩn đều chìm trong ngọn lửa bực tức, sân giận, còn khi đã biết cảm thọ là cảm thọ, là khổ có sự sân hận thì mình đã đứng tách riêng để nhìn trở lại thì đó là đã một bước rồi. Chú có thấy lúc trước chưa học Pháp này thì mình và cảm giác là một, khi thương thì toàn bộ mình đang thương hoặc toàn bộ là tâm đang giận, nghĩa là mình đang giận hoặc mình đang thương, đang có cảm giác dễ chịu, lúc nào cũng có "mình" trong đó thì đó là vẫn chưa biết Pháp cho nên người mới tu phải để ý học hỏi. Còn giờ mình bắt đầu chỉ mặt cảm giác là bắt đầu thành tựu trí tuệ về cảm giác, chú có thấy được điều này chưa?
Phật tử A: Khi con học xong ngũ uẩn cũng như thầy vừa bảo là phải tách cảm thọ ra, không được nhập chung với nó. Tối hôm qua bị mất điện khi con lên vọng chuông thì con rất sợ nên mới nghĩ phải tách cảm thọ ra "Theo ma thì ma độ còn mình theo Phật thì Phật độ, mình sợ gì nó", thế là từ từ con đỡ sợ, còn nếu lúc đấy không tách được cảm thọ thì cũng hơi căng.
Sư Phụ: Lúc chú sợ ma do cúp điện thì đó là khổ thọ, chú cứ tập trung tâm ý lắng nghe sâu sắc để tiếp nhận Pháp một cách trọn vẹn, đừng vội phản ứng.
Khi cúp điện buổi tối có cảm giác sợ hãi xâm chiếm thân tâm thì đó là cảm thọ khổ, lo lắng, sợ hãi, không biết có rắn rết hay ma gì không. Ngay thời điểm đó đang có cảm giác sợ hãi, khó chịu và cảm giác này chỉ là cảm thọ, do duyên bị cúp điện nên mới sanh ra cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng này. Cảm giác này do duyên sanh, do xúc với duyên bóng tối sanh ra tưởng, hành, thọ bất an, lo lắng, tưởng tượng. Mình quay lại an trú cảm giác toàn thân, khi nãy chú có sự tác ý theo Phật thì Phật độ thì chú mới vọng chuông, tiếng chuông này đem lại sự bình an, tỉnh thức, từ tâm cho tất cả chúng sanh, nhân và phi nhân. Mỗi tiếng chuông chú vọng ra thì chú quán chiếu cảm giác từ tâm lan theo âm ba của tiếng chuông đó, tiếng ngân tới đâu thì từ tâm trải rộng theo tới đó. Trong cảm thọ thương yêu, từ bi lan tỏa như vậy thì ai có thể hại mình? Mình đem tình thương đến cho mọi người thì người ta thương mình không hết chứ ai lại hại mình mà phải lo lắng, sợ hãi?
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, III. Gia Ðình)
Tác ý theo từng tiếng chuông, âm thanh vang tới đâu thì cảm giác thương yêu, bi mẫn, từ tâm lan theo cùng khắp tất cả núi đồi, không gian, từ đỉnh đầu đến gót chân đều thấm đượm cảm giác ngọt ngào của thương yêu, bi mẫn, từ tâm, ngay lập tức cảm giác lo lắng, sợ hãi sẽ lắng dịu, tan biến và cảm giác từ tâm sẽ sanh khởi bao la, rộng lớn. Đây cũng là cách để đại chúng đi lên vọng chuông, mỗi tiếng chuông là quán chiếu "đem lại sự tỉnh thức, đem lại tình thương cho tự thân và tha nhân", đồng thời làm cho sanh khởi cảm giác thương yêu, bi mẫn trong cuộc đời này thì mỗi tiếng chuông vọng ra mới có sức mạnh, mới có giá trị, mới có sức lan tỏa làm cho trời đất này được thanh lương, bình an, tốt tươi, an lạc. Mỗi người khi ngồi thiền trải tâm từ hoặc lúc đi kinh hành trải tâm từ thì cảm thọ cũng phải như vậy, từ lồng ngực lan xuống gót chân, lan lên đỉnh đầu, toàn thân mình trong mỗi lỗ chân lông, mỗi tế bào lan khắp không gian đều trải từ tâm vô lượng bao la. Phải thực tập thường xuyên như vậy trong mỗi sinh hoạt hằng ngày, thường trú trong từ tâm và nếu có sân thì diệt sân, nếu có dục tham ái thì diệt dục tham ái, có bản ngã thì diệt bản ngã rồi lại trú trong tâm từ. Làm như vậy sẽ thấy điều kì diệu xuất hiện, mình đi đến đâu là tươi thắm, an lạc đến đó, tật bệnh trong người sẽ giảm nhẹ, phiền não sẽ vơi bớt, bản ngã được lắng dịu. Nhưng phải nhớ trong sự tu tập này phải sanh cảm thọ, còn thực tập trong sự suy tưởng mà không có cảm thọ thì vẫn chưa có sức mạnh. Cho nên đạo tràng Nikāya mỗi lần thiền quán đều tuôn nước mắt là do đánh thẳng vào cảm thọ, nếu ngồi trơ ra thì sự tu không đánh động đến trái tim, không chạm vào những dòng cảm thọ cho nên hôm qua khi con chia sẻ có nhiều vị rớt nước mắt. Không phải mình khuyến khích khóc nhưng vì cái Pháp này đánh thẳng vào thọ, trong khi thọ là hang ổ của ngũ uẩn.
Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Tất cả Pháp đều hội tụ ở cảm thọ mà cứ ngồi trơ ra không cảm xúc thì tu không tiến bộ. Hôm qua chúng ta học tôi là…
… là một động chuyển của tâm.
… là một chấn động của tâm.
… là một hý luận không bao giờ đến hồi kết.
… là một ngã mạn.
Khi nói như vậy thì làm rung chuyển, xúc động trong cảm thọ chấp ngã, làm lung lay cái gốc của thân kiến, của sự chấp thủ đó thì mới có ra những sự xúc cảm. Cho nên phải để ý và canh chừng cảm thọ, chúng ta tu tâm từ thì cảm thọ phải được lan tỏa ra, còn đọc trên miệng và trong tâm không có lấy một chút tâm từ thì đó là tu máy móc, không có kết quả bao nhiêu. Khi vào bếp nấu cơm cũng phải nấu bằng tâm từ, quét sân cũng quét bằng tâm từ, tất cả những sợ hãi sẽ tan biến vào hư không nếu siêng năng thực tập trải tâm từ và làm phát sanh các cảm thọ. Khi thực tập tâm từ thì dung sắc sẽ tươi nhuận, cảm thọ mát dịu, hiền hòa, lời nói ngọt ngào dễ đi vào lòng người. Người ta không ưa thích mình vì lòng từ của mình không đủ, tâm sân của mình còn nặng nề, những đóa hoa vừa có sắc vừa có hương thì ong bướm khắp nơi đều tụ về, lòng từ cũng giống như sắc hương từ đóa hoa đó cho nên phải siêng năng thực tập tâm từ. Trong tâm từ đó sẽ có tâm hiền, làm bản ngã lắng dịu để nhiếp phục được lòng sân, lòng phiền não và khó chịu được giải phóng, tự động nó có sức dung hóa làm cho tiêu dung, tan chảy những cảm thọ cứng chắc, ương ngạnh, bực dọc, gắt gỏng, cau có. Mình tu tâm từ thì tự động mình hiền hòa, lắng dịu lại hồi nào bản thân cũng không hay biết, cho nên ở đây được mọi người quy tụ về thăm viếng hoặc tu học đều do lòng từ của đại chúng, mỗi ngày chúng ta tu tâm từ thì cảm giác tâm từ lan trong hư không, đó là sự thật, cảm thọ đó có chứ không phải chỉ là tưởng, chư Thiên, phi nhân, loài người, súc sanh, thú vật có thể cảm nhận được lòng từ này. Đó đã là việc làm công đức chứ không phải chỉ là những việc làm bên ngoài mới gọi là công đức, đây là việc làm trong vô hình, cái làm đó khó và chính cái làm đó mới biểu hiện ra những cái hữu hình. Các vị cao Tăng tu trong núi rừng, hang động mà cả ngàn người đến tu học là do sức chiêu cảm từ trong cảm thọ, từ trong tâm của các ngài, cũng như Sư bà Hải Triều Âm có 500 sư cô về cùng nhau tu học, khi con đến thăm thì Sư bà đang ngồi xe lăn nhưng sụp xuống lạy con làm con hốt hoảng đỡ người đứng dậy, năm đó Sư bà 90 tuổi nhưng ngày ngày thực hành bát kỉnh Pháp, vì thế sự tu tập của chúng ta là chuyển hóa cảm thọ, tu một thời gian thì cảm thọ sẽ chuyển biến, mình tu và thực tập nhiều sẽ khiêm cung, hiền lành, dễ thương. Tại sao mình lại có hình tướng như vậy là vì cái thọ bên trong đã được nhiếp phục, lắng dịu còn làm bên ngoài chỉ đỡ một chút thôi nhưng cái gốc bên trong chính là thọ; tưởng; hành vẫn chưa được nhiếp phục, vì thế lúc vầy lúc khác, làm màu, làm dáng, gặp hoàn cảnh như vầy thì làm vậy nhưng gặp duyên thì bùng nổ, còn thọ đã đi vào được tâm hiền từ, tâm khiêm hạ sẽ luôn như vậy, không thay đổi, đây là sự khác nhau giữa tu bề ngoài, tu trên dáng vẻ hình thức và tu sâu bên trong cảm thọ. Cảm thọ của đại chúng bắt đầu hiền lành, lắng dịu, dễ thương cho nên chúng ta tu có khi tám tiếng hoặc bốn năm tiếng nhưng nhiếp phục được cảm thọ là giỏi rồi, còn cái thọ vẫn cứng cỏi, kiên cường thì không thể ngồi an tịnh, lắng dịu được vì chúng ta đi vào cảm thọ để thực tập, còn nếu dụng công bên ngoài ngôn ngữ, hình thức thì cũng có những cái hay nhưng gặp nhân duyên khác thì nó sẽ mất đi. Những hình thức bề ngoài chỉ là những chiếc áo, hôm nay mặc màu này, mai mặc màu kia còn cảm thọ là con người mặc chiếc áo đó. Cũng như các sư cô mới học Trung cấp về núi tu học, ngày đầu tiên với bây giờ cảm thọ khác nhau như thế nào?
Sư cô Thông Tuệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, trên quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể thiền đường đại chúng. Con xin phép được trình bày về cảm thọ. Ba năm trước khi lên đây con có chút khó chịu vì tu nhiều quá nên chưa thích ứng được và cũng có một chút nể phục quý thầy ở đây. Khi thực tập tâm hiền lúc nào con cũng bị tê cả người nhưng khi được học Pháp, thực hành Pháp thì rất hân hoan, hỷ lạc và khi thực hành tâm hiền không bị nóng người như lúc trước, lúc nào cũng thấy Thế Tôn ở bên cạnh mình và mình đang đi trên con đường Thế Tôn nên rất hạnh phúc. Những lúc nghe Pháp rất thích và muốn nghe thêm, lúc trước thì hết đau vai lại đau lưng nên dù có nghe cũng không lãnh thọ được nhiều còn giờ thì đã khác.
Sư Phụ: Mới đây đã ba năm rồi?
Sư cô Thông Tuệ: Dạ. Lúc trước con với Luận lên đầu tiên.
Sư Phụ: Đã ba năm mà tưởng mới chỉ ba ngày. Chúng ta thấy thời gian trôi qua rất mau, có khi ba trăm năm sau, ba ngàn năm sau cũng không thay đổi được nếu không gặp Chánh Pháp, ba tỉ năm sau thì thọ; tưởng; hành của mình cũng vậy nếu không gặp Chánh Pháp, thậm chí còn ghê sợ hơn bây giờ cho nên chữ "Pháp" là sự thật tối thượng rối ráo, tức là các cảm thọ này là biến đổi, là vô thường, các cảm thọ này là trống rỗng và không chấp vào cảm thọ này. Dù tu tập được tâm hiền, tâm từ nhưng không khen mình chê người, không chê người khác sân si còn mình là từ bi, mình phải biết rằng đó cũng chỉ là cảm thọ của họ thôi, họ giống như mình lúc trước chưa hiểu Pháp, chưa hiểu cảm thông, tha thứ. Vì thế mình không được lấy sự tu tập huấn luyện cảm thọ được tốt và cư trú vào đó để phát huy bản ngã, tuy rằng tu tập các thiện pháp nhưng vẫn hướng đến sự tịch tịnh, sự an tịnh của vô ngã, không cống cao ngã mạn, ta đây, vẫn hướng đến tâm tịch tịnh, tâm hướng cầu tịch tịnh là Pháp tối thượng của Niết-bàn. Nếu mình không thấy được điều này thì khi tu được là bắt đầu có bản ngã, xem thường người không biết tu "mấy người không biết ngũ uẩn gì hết, tôi biết ngũ uẩn", "mấy người không biết cảm thọ còn tôi biết nhiếp phục cảm thọ", vậy là sanh ra bản ngã cho nên khi làm các thiện pháp thì không chấp vào thiện pháp vì cảm thọ đó cũng vô thường nhưng phải tu tập các cảm thọ. Đây là chỗ đặc biệt, cảm thọ đen đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cảm thọ trắng đưa đến phước lành nhân gian thiên thượng nhưng cũng ở trong luân hồi, người muốn chứng nhập Pháp xuất ly giải thoát thì phải vượt lên trên tất cả cảm thọ, nhưng trước hết người này phải có cảm thọ trắng, còn giờ chỉ toàn là cảm thọ đen mà muốn giải thoát là không được, còn đầy rẫy ác và bất thiện pháp thì phải tu tập cái ác này thành cái thiện trước rồi từ cái thiện đó mới có thể thể nhập vào trí huệ để vượt lên, đó là đạo lộ tuần tự của Thánh Pháp chứ không thể tự vượt cấp được. Cho nên sự tu tập của chúng ta là huấn luyện những cảm thọ, nghĩ tưởng trong tâm, thay vì được học Pháp, nghe Pháp nhiều thì phải vui lên nhưng lại suy nghĩ phi Như lý tác ý "sao học hoài vậy", suy nghĩ này sẽ đưa mình đến thối đọa, đưa mình dừng lại trong thiện pháp. Không cho phép suy nghĩ đó khởi lên, quay ngược vào tâm cắt đứt suy nghĩ đó và diệt tận nó, trừ khi nào nằm trên gường đi không nổi mới không lên tu học chung với đại chúng, phải huấn luyện bản thân như thế, sự huấn luyện trong quân đội vô cùng khắt khe và gian khổ, những chú tiểu bốn tuổi ở Thiếu Lâm Tự đứng một chân, chân còn lại đưa lên cao, nước mắt chảy ròng ròng mà không bỏ cuộc, bậc thanh từ trên núi dốc đứng mà các chú trồng chuối đi ngược xuống, đó là Pháp của phàm phu hạ liệt trong sanh tử luân hồi, người ta vì danh lợi, vì bản ngã mà có thể làm được như vậy còn mình tu vô ngã, vượt qua cả danh lợi mà biếng nhác? Không chịu tinh cần, tinh tấn mà lấy cớ để làm biếng, mình không nhìn ra hết được thì tu không tiến mà phải đọc được hết những suy nghĩ thầm ý bên trong cảm thọ này, nó thích buông thả dù cho có cạo đầu cũng vậy, không muốn tu nhiều, tìm chỗ tu cho khỏe, học cho dễ. Thọ; tưởng; hành rất khủng khiếp, nó bắt chúng ta mãi mãi ở trong sanh tử, trong sự yêu mến thể xác cho nên tất cả thế gian đều gục ngã trước tham ái, đều ngã qụy trước dục tham ái cho nên Chánh Pháp sẽ biến mất. Chỉ muốn tu cho nhàn hạ, dễ dàng cho nên đời tu giống như người nghệ sĩ, ôm đàn hát, ngồi uống trà, trong kinh Nikāya không có chỗ nào Phật dạy như vậy mà Phật dạy quán bộ xương.
Tu tập cốt tưởng, này các Tỳ-kheo, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.
Này các Tỳ-kheo, cốt tưởng tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, đưa đến quả lớn, đưa đến lợi ích lớn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Này các Tỳ-kheo, cốt tưởng được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (b), VII. Phẩm Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra, I. Bộ Xương, I. Quả Lớn, Lợi Ích Lớn)
Phật dạy tu tập tướng trương sình, giòi ăn nhưng những điều này rất hiếm để được nghe, được thực tập vì đi ngược lại tham ái. Chư Thiên và loài người ái luyến, say mê và tham đắm trong tham ái cho nên sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp này thay đổi thì chư Thiên và loài người đau khổ, sầu bi, ưu não. Như Lai, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác đã bứng tận gốc rễ của các sắc, của các dục cho nên khi sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp này biến đổi Như Lai không đau buồn, không bị điên đảo. Con còn sống một ngày thì tạng Nikāya này phải được giảng dạy rộng rãi đến khi nào con không còn nữa thì thôi, những lời thật sự của Đức Phật rất khó được nghe ở thời điểm này. Pháp là hướng đến ly tham, hướng đến nhàm chán, hướng đến rời xa, sự chấm dứt, sự từ bỏ thì gọi là Pháp, là cứu cánh tối thượng. Mình cảm thấy trong tâm mình hướng đến nhàm chán đối với ngũ uẩn, các sắc dục, tham ái của cuộc đời này, hướng đến sự rời xa không ưa thích nữa, không tiếp tục tham sân si, sầu bi ưu não nữa thì đó đúng là Chánh Pháp. Miệng thì nói giải thoát nhưng trong tâm lại ưa thích, dính mắc, không buông xả, không tập trung tất cả tâm ý nỗ lực cắt bỏ thì làm sao thành tựu? Vậy thì giải thoát cái gì? Phải xem lại trong cảm giác của mình đã buông bỏ chưa, phải xem lại trong cảm giác đã thực sự buông xả chưa. Đức Phật nói có những Tỳ-kheo quán bất tịnh như một lúc lại đi đến tịnh, chính ở thời Đức Phật đã như vậy chứ không phải bây giờ mới có, cái biết ngay hiện thực của mình là vô minh và tham ái, sự thật phũ phàng như vậy. Mình không quán được ba mươi hai thể trược, không quán chín giai đoạn của một tử thi vì ái dục không cho quán, sự vô minh không cho quán, Đức Phật không đưa ra phương pháp dư thừa hoặc không có mà Đức Phật nói, nếu vậy là mình không thành tựu lòng tin đối với Đức Phật, không thành tựu lòng tin đối với Pháp, những pháp quán mà Đức Phật đưa ra là sự thật của sự thật. Ví dụ nhìn một thân hình nào đó mà cho nó là đẹp thì đó là vô minh, tham ái, đó không phải là cái nhìn sự thật mà đang bị lớp da lừa gạt, sự thật của nó phải là phèo phổi, ruột gan, bao tử, lá lách, tim, phân, mật, đàm, mủ máu, xương… Nhưng do mình bị vô minh, tham ái che mờ nên mình không nhìn thấy, Đức Phật dạy pháp quán là đưa vô minh trở về minh, đương nhiên vô minh sẽ chống đối, vào quán bất tịnh thì "Đẹp, hấp dẫn mà sao quán thấy ghê quá", vì do bóng tối không chịu ánh sáng, vô minh không chấp nhận minh, tham ái không chấp nhận pháp ly tham. Bây giờ phải có ý chí, nghị lực, tha thiết chân thành cầu thể nhập chân lý cho nên mình phải chống chọi với sự đối kháng "không có thích hay không thích mà đây là Thánh trí huệ chỉ có tuân lệnh". Phải có tinh tấn lực, mãnh hổ lực, trí tuệ lực "Mày đã đè đầu ta trong sanh tử vô lượng vô biên kiếp rồi bây giờ còn muốn đè đầu nữa hay sao. Ta phải quật ngã ngươi, hạ gục ngươi". Chúng ta phải áp đặt chứ không được dễ dàng cho qua, chịu mới tu còn không chịu thì thôi, chịu buông lung phóng dật, tu lơ lửng chờ ngày qua đời hay sao? Chịu tu để nuôi dục, nuôi ái, nuôi tham để phát triển danh lợi, để chạy theo sắc tướng hay sao? Cho nên phải áp đặt vào trong Thánh đạo, Thánh trí, Thánh tuệ. Vì vậy những người đến đây tu ai tu được thì tu, tu không được cứ xuống núi.
Người muốn lên đỉnh núi phải cố gắng, nỗ lực đi lên. Đỉnh núi không vì ai mà hạ thấp xuống.
Đỉnh núi đó là sự thật, không có bất cứ đỉnh núi nào hạ thấp để con người bước lên, muốn lên đến đỉnh phải tự nỗ lực trèo lên, như vậy mới là đỉnh núi, chân lý là chân lý, ba ngàn năm hay mười ngàn năm sau vẫn là đỉnh núi, không thể vì một người nào đó mà chân lý thay đổi. Mình muốn thì phải nỗ lực, tinh tấn, ép mình đi vào Thánh trí huệ của Đức Phật thì mới thuận dòng của Thánh trí, còn không thì thuận dòng theo thế gian.
Ngược dòng của đời mới thuận dòng theo đạo, nghịch lưu với thế gian mới thể nhập Thánh trí huệ.
Mình muốn chiều theo cái thoải mái, dục ái thì cứ đi theo thế gian dù cho hình thức có là gì. Mình không hiểu thì cứ nghĩ thực tế, hiện thực là vậy, nhìn thì biết như vậy thôi nhưng không phải vậy mà phải thấy được sự nguy hiểm của nó, chỉ cần một ngọn lửa nhỏ cháy lên thôi là ngôi nhà thành đống tro, chỉ cần tham gia giao thông không cẩn thận có thể thành đống bầy nhầy, trương sình, nứt nẻ, thành mâm tro tàn. Đống sắc nguy hiểm này phải nhìn thấy sự tai hại, tai họa của nó, đó là dục ái, tham sân si, bản ngã, ác nghiệp, sầu bi khổ ưu não trong vô lượng vô biên kiếp, đó gọi là quán, là tâm sâu sắc rộng lớn soi xét tất cả góc độ, khía cạnh, phương diện của đời sống này, của sự thật thế gian này. Chúng ta ngồi đây bình an nhưng ngoài kia gần tám mươi triệu người nhiễm bệnh, gần hai triệu người chết vì nhiễm dịch bệnh. Không phải hai ngàn người, không phải hai chục ngàn người, không phải hai trăm ngàn người mà là hai triệu người, bao nhiêu thiền đường này để chứa đầy xác người như thế? Mình đặt bản thân vào tình trạng cha mẹ, anh em mình nhiễm bệnh hoặc thậm chí bản thân bị nhiễm bệnh rồi mình thấy thế nào mà nói thế này là bình an, hoặc cha mẹ mất, anh em mất, người thân trong gia đình nhiễm dịch bệnh chết, lũ lụt cuốn trôi mất xác, bị tai nạn giao thông chết thì mình sẽ như thế nào? Hiện tại virus đã có rất nhiều biến thể, khả năng lây lan mạnh hơn đến 70%, một mùa Noel ảm đạm chưa từng có trên thế giới, một ngày mấy trăm ngàn người nhiễm bệnh ở Mỹ, chết hơn ba ngàn người trong vòng 24 tiếng chỉ riêng nước Mỹ. Chỉ có người vô minh, vô cảm, không biết suy nghĩ, không biết lo lắng, sợ hãi nên mới thấy bình an ảo tưởng trong giờ phút này. Bậc trí chỉ lo một điều là diệt tận tham sân si, vô minh, bản ngã còn người ngu có ngàn mối sầu, lo mãi vẫn không hết, lo tranh giành, hại người, đố kị… lo ngàn mối mà không mối nào xong trong khi bậc Thánh nhân chỉ lo một điều mà lo xong là vĩnh viễn vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Người cha ngồi tựa vào dải phân cách bên cạnh thân xác người con bị tai nạn giao thông, người này băng qua đường ray xe lửa phơi quần áo nhưng không may đúng lúc xe chạy đến đã bấm còi liên tục mà cô không nghe thấy thế là tông cô chết tại chỗ, không ai nghĩ rằng đi phơi quần áo lại mất mạng nhưng nó đã diễn ra, không ai nghĩ rằng những đứa trẻ đang chơi đùa ở chung cư cao tầng làm rớt trái táo xuống ngay đầu đứa nhỏ ở dưới sân, làm đứa trẻ thành người thực vật. Có vô số những chuyện không tin được lại xảy ra trên thế giới trong hằng giờ, hằng ngày. Thật là hiểm họa, tai nạn tiềm ẩn khắp mọi chốn, mọi nơi trên cuộc đời này. Con từ Sài Gòn về núi thì thấy thây người đắp chiếu trên đường, trước đó năm phút người đó có nghĩ mình sẽ chết không? Có bao giờ người đó bước ra đường mà suy nghĩ có thể lát nữa mình sẽ chết không? Một ngày chúng ta niệm tử được mấy lần? Bệnh nan y gần chết mà cũng không nghĩ rằng mình chết, đó là sự mê lầm sống trong quên lãng, Đức Phật đã dạy niệm tử được lợi ích lớn, được an lạc lớn, đưa đến an tịnh thắng trí chứng ngộ Niết-bàn, đó là Pháp môn niệm tử.
Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm cho viên mãn. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi tu tập, làm cho sung mãn một pháp này, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm và tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm chi viên mãn.
Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu, đưa đến sự chứng ngộ quả Nhất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả Bất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả A-la-hán. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi một pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu.... quả A-la-hán.
Những vị này không hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị không thực hiện thân hành niệm. Những vị này hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị thực hành thân hành niệm.
Bất tử bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai đoạn tận thân hành niệm. Bất tử không bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không đoạn tận thân hành niệm.
Bất tử không được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không chứng ngộ thân hành niệm. Bất tử được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai chứng ngộ thân hành niệm. (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XXI. Phẩm Thiền Ðịnh (2))
Ngồi nói bảy ngày bảy đêm cũng chưa hết những chuyện đau lòng trên cuộc đời này, con chó hoang được người ta cho đồ ăn mà nó mừng chảy nước mắt, miền Trung bị lũ lụt có ông già nhịn đói năm ngày vì nước lũ dâng cao cuốn trôi mọi thứ, ông được mạnh thường quân cho hộp cơm đã khóc vì mừng. Ngày nào mình ăn cơm cũng nghĩ bữa cơm rất đơn giản, bình thường trong tất cả mọi thứ mình đang sử dụng, đang dùng cho việc tu học đều là sự hy hữu thù thắng, sự quý báu vô lượng trong dòng sanh tử này nên phải biết trân trọng, nâng niu bằng tất cả tấm lòng trong mỗi phút mỗi giây, đặt toàn tâm toàn ý là việc thực tập Pháp để sau này khi thời đã đến, chuẩn bị ra đi thì sẽ không hối hận.
Này các Tỳ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy tu tập Thiền định. Chớ có phóng dật. Chớ để hối hận về sau. Đây là lời giáo giới của Ta cho các Ông. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương IX. Tương Ưng Vô Vi, Phần Một - Phẩm Một, I. Thân)
Hãy gắng sức nỗ lực tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm đào xới gốc rễ, bứng lên khổ căn, cội rễ căn nguyên của đau khổ phải được diệt tận, chớ có để cuối đời ăn năn hối hận thì cũng đã muộn màng. Hãy hướng tâm về sự rời xa những thứ dục ái, sân si, bản ngã này. Hướng tâm đến sự ly tham, chấm dứt, đoạn tận, tác ý tư duy, nhắc nhở, tự nhủ quyết đạt đến chỗ từ bỏ cái tổ hợp tham sân si, sầu bi, ưu não này. Xin mời sư cô Tuệ Tâm chia sẻ cảm thọ.
Sư cô Tuệ Tâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính ngưỡng bái bạch trên sư phụ, con kính thưa trên quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Thưa sư phụ cảm thọ của con ngày hôm nay vô cùng hoan hỉ khi được nghe sư phụ chỉ dạy cho đại chúng tu tập, và càng hoan hỉ hơn vì những lời chia sẻ hướng dẫn và dạy dỗ của sư phụ để con được khai mở trí tuệ trong Pháp tu và Pháp hành để tiến bộ trong tu tập, rất sát với thực tế. Hôm nay là ngày Noel, mọi người ở bên ngoài đang vui vẻ đón ngày lễ nhưng đại chúng ở Linh Quy Pháp Ấn thì tề tựu nghe sư phụ chỉ dạy Phật Pháp, đi ngược dòng với đời để chúng con đi vào đạo, từng lời hướng dẫn của sư phụ làm con quán tưởng đến thế gian, nếu là người tu có tình thương, từ tâm và biết lo nỗi lo duy nhất nếu chưa đoạn diệt được tham sân si chính mình sẽ bị những dục, ái, tham sân si, bản ngã lôi vào dòng sanh tử luân hồi, không biết khi nào mới thoát ra được. Thật là khổ nạn! Để có sự tu tập an ổn nơi Linh Quy Pháp Ấn này thì đó là sự hy sinh của sư phụ, của quý thầy, quý sư cô và các vị thí chủ đã đổ mồ hôi công sức giúp cho chúng con được an ổn tu tập, được nghe Pháp và thực hành Pháp, được khai mở trí tuệ và biết được đường hướng tu tập. Con cảm thấy vô cùng hoan hỉ, hạnh phúc, song song đó con nhìn lại để quán xét tự thân thì thấy bản thân còn nhiều non kém trong tu tập, đầy rẫy những pháp bất thiện, chưa hết lòng hết tâm tinh tấn tu học từng thời từng khắc. Sư phụ đã hỏi một ngày niệm tử được bao nhiêu lần thì quả thật nếu tu tập sâu sắc thì từng thời, từng khắc, từng sát na phải quán đến vô thường, cái chết, đến những hy sinh của sư phụ, của đại chúng, từ đó tinh tấn, nỗ lực tu tập, vậy mà bản thân con đôi lúc bệnh nên chưa thật sự nỗ lực tu tập, khi quán thì con chỉ quán trên tưởng và thức mà chưa đi sâu vào cảm thọ. Hôm nay con được sư phụ khai mở trí tuệ, chỉ cách thực hành để làm sanh khởi cảm thọ vì nó chính là cốt tủy, là lõi cây để làm nên sức sống lan tỏa cho chính bản thân mình, cho phi nhân và tất cả mọi người đều lợi lạc. Nhìn lại con thấy mình tu tập còn kém cỏi, còn đầy rẫy tham sân si, bản ngã, hình thức, con vô cùng xấu hổ và nhục nhã vì chỉ có màu áo, đến khi đối duyên xúc cảnh thì màu áo ấy thay đổi, không xứng đáng là người tu. Vì vậy hôm nay con chân thành tri ân sư phụ đã chỉ dạy cho con phương pháp tu tập đúng đắn, chân thật, đi đúng đạo lộ và biết nhìn nhận vị trí tu tập của mình đang ở đâu để cố gắng nỗ lực từng bước đi trên đạo lộ với mục đích hướng đến đỉnh núi, cũng như bông lúa khi chín thì tự nhiên trĩu xuống chứ không phải là người non nớt mới tu tập như bông lúa mới lớn vươn cao trong tự ngã, kiêu căng. Thật sự nghe đến đâu con cảm thấy xúc động và vô cùng xấu hổ vì bản thân tu tập quá kém cỏi. Con xin tri ân sư phụ và tri ân những lời dạy của sư phụ đã giúp bản thân con có được sự nỗ lực, tinh tấn tu tập và tiến lên trên đạo lộ tu tập giải thoát không phải trên môi miệng, không phải bằng lớp áo màu sắc bên ngoài mà chính là lõi cây bên trong, có được năng lượng, sức sống, tâm từ lan tỏa mang lợi ích chân thật cho bản thân, cho tất cả mọi người hữu tình, trời đất và phi nhân. Một lần nữa con xin tri ân đến sư phụ và sự chỉ dạy của sư phụ đã giúp con và đại chúng được khai mở trí tuệ, được thức tỉnh và thực hành đúng trong tiến trình tu tập.
./.