Tỳ Kheo Ni Thời Đức Phật 1 - Kẻ Khùng Thành Bậc Thánh
Kinh Nikāya Thiền Quán
Tỳ-Kheo Ni Thời Đức Phật 1
Kẻ Khùng Thành Bậc Thánh
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trình bày duyên sự PAGEREF _Toc156662538 \h 1
II. Câu chuyện bi thương PAGEREF _Toc156662539 \h 2
III. Đức Phật thuyết pháp PAGEREF _Toc156662540 \h 5
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc156662541 \h 10
V. Bài kệ chứng đạo PAGEREF _Toc156662542 \h 15
VI. Tìm hiểu đời sống Chư Tăng thời xưa PAGEREF _Toc156662543 \h 18
I. Trình bày duyên sự
Phật tử Hoa Đức: Con xin cung kính kính bạch sư phụ cùng các chư Tăng, chư Ni và toàn bộ Phật tử có mặt tại nơi đây. Kính bạch sư phụ, con tên là Nguyễn Thị Mỹ, pháp danh Hoa Đức, con xin giới thiệu 4 thành viên còn lại.
Phật tử Diệu Hà: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch toàn thể Tăng Ni và toàn thể đại chúng có mặt tại nơi đây. Con tên là Đỗ Thị Nhung, pháp danh Diệu Hà. con xin bái bạch sư phụ.
Phật tử Hóa Minh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin bái bạch thầy, con tên là Đường Thị Định, pháp danh Hóa Minh.
Sư Phụ: Quý vị một người đại diện chia sẻ tâm nguyện của mình được rồi.
Phật tử Hoa Đức: Con xin kính bạch thưa sư phụ, chúng con có 5 người thì ba thành viên tuổi cao nhất là 81, hai thành viên còn lại trong đó có con là 77 tuổi, còn hai cô năm nay ngoài 60. Kính bạch sư phụ, con được đến nơi đây là một điều rất may mắn và vô cùng hạnh phúc, con cảm ơn tất cả trời Phật đã đưa chúng con đến một nơi không tưởng mà lại sự thật, chúng con được nhìn thấy sư phụ bằng xương bằng thịt.
Con vô cùng xúc động, khi con đến trước hai ngày chưa nhìn thấy sư phụ thì con đã nhìn thấy tất cả Tăng chúng ở đây, bao trùm tất cả những tình thương từ trái tim. Con cảm giác tất cả chúng con đã gặp những các bậc Bồ-tát, con cứ nghĩ là trên một rừng núi rất là xa mà nói đến nhiều người không biết, một nơi mà thầy đã gắng sức xây dựng được một cơ ngơi như thế này để cho con của thầy được học, được tu.
Tất cả những trang thiết bị tuy rất là đơn sơ nhưng rất là khoa học, chỗ ăn, chỗ nghỉ, chỗ tu, chỗ nào là riêng vào chỗ đấy. Con nghĩ là chúng con đã được đến một nơi không tưởng, đây là những lời của con cũng thay mặt cho đoàn vô cùng cảm động với sự cố gắng của thầy trong nhiều năm qua.
Sư Phụ: Các cô nghe pháp thì đã học được pháp gì rồi?
Phật tử Hoa Đức: Con bạch thầy, chúng con ở Hà Nội tu theo môn Tịnh Độ, niệm Phật, tụng kinh và có những thời gian con đã ngồi thiền tu theo của các sư cô, sư thầy của bên hòa thượng Thích Thanh Từ. Nhưng vì bất chợt tự nhiên con bật lên Youtube, con được nhìn thấy thầy, con nghe câu đầu tiên là của thầy nói là khi ngồi thiền là phải mở mắt và nhìn rộng sang hai bên.
Điều này làm cho con tỉnh ngay lập tức bởi vì chúng con ngồi thiền là mắt ở cái dạng nhìn xuống một điểm cho nên rất là dễ bị hôn trầm, một câu đấy bắt đầu cho con cảm thấy rằng đây là một chỗ để mình thấy, chỉ một lời nói thôi nhưng nó đã giác ngộ cho mình rất là nhiều và nó làm cho mình ngồi thiền có lợi ích, nó không cho gây cho mình cái buồn chán.
Vì thế cho nên có những đêm con đã thức đến 1 giờ sáng để con nghe kinh của thầy, các bạn của con là bốn người, có già có trẻ thì chưa biết, nhưng khi đi trước bàn Phật con chỉ mong có một người đồng hành. Khi con mời mấy bạn này cũng xuất phát từ lòng lấy pháp làm thầy cho nên các bạn đồng tu rất là hoan hỉ cho nên con mới có chuyến đi này, được gặp thầy ngày hôm nay, được gặp các chúng Tăng ngày hôm nay và chúng con được tu tại đây, được thụ hưởng tất cả những thành quả mà thầy đã cố gắng gây dựng như một cha lành để thương tất cả các chúng. Con xin vô cùng xúc động và con thay mặt cho đoàn kính chúc thầy luôn luôn bình an, mọi việc được viên mãn thành công và may mắn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
II. Câu chuyện bi thương
Sư Phụ: Trong những ngày quý Phật tử ở đây cố gắng tinh tấn tu học, các quý Ni sư với các sư cô sẽ hướng dẫn căn bản trí cho quý vị. Kính bạch chư tôn thiền đức, chư vị hiền trí, hôm nay chúng ta có buổi nghe pháp rất là đặc biệt, một câu chuyện cực kỳ cảm động của Thánh Ni thời Đức Phật trong Trưởng Lão Ni Kệ về Thánh Tỳ-kheo Ni Patàcàrà.
"Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh trong gia đình vị thủ ngân khố nhà vua ở Sàvatthi. Khi đến tuổi trưởng thành nàng giao du với một người đầy tớ trong nhà. Khi cha mẹ nàng định ngày gả nàng cho một chàng trai xứng đôi, nàng trốn đi với người tình nhân và sống tại một ngôi làng nhỏ. Khi nàng sắp sanh, nàng bảo chồng đưa nàng về nhà cha mẹ, vì ở đây không có ai săn sóc nàng, nhưng chồng nàng cứ hẹn lần hẹn hồi cho đến khi nàng biết chồng nàng không muốn đi về. Nàng liền chờ chồng đi vắng, sắp đặt công việc, tin cho người láng giềng biết rồi nàng bỏ về nhà cha mẹ. Khi người chồng về, người chồng liền đuổi theo, sợ nàng không có người săn sóc. Chồng nàng bắt gặp nàng và giữa đường nàng sinh được người con, rồi hai vợ chồng lại đi trở về làng. Ðến kỳ sinh nở thứ hai, sự việc xảy ra như lần trước, nhưng có điểm khác biệt như sau: giữa đường mưa to gió lớn nổi lên, người chồng tìm lá và cây làm cái chòi cho nàng tránh mưa, nhưng bị con rắn từ gò mối bò ra cắn chồng nàng chết tại chỗ. Trong cơn đau khổ chờ đợi chồng nàng, nàng bồng đứa con trên ngực và giữa mưa to gió lớn nàng nằm phục xuống đất để che chở cho hai đứa con trải qua một đêm như vậy cho đến sáng. Ðến sáng, nàng đi tìm chồng và thấy chồng bị rắn cắn chết rồi. Nàng khóc than suốt đêm"(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Người chồng không muốn về vì mặc cảm là người ở, người làm công và trong khi gia đình cô không chấp nhận, hai người này trốn đi sống với nhau trong một miền quê của làng nhỏ. Bây giờ sắp sanh con nên muốn được về gia đình, cũng nhớ cha nhớ mẹ, cái tục lệ hồi xưa Ấn Độ là sinh phải về nhà cha mẹ cũng như là được chăm sóc, nhưng mà người chồng này hẹn hoài, không muốn đi. Bây giờ mình đi qua cái cánh rừng còn thấy khủng khiếp chứ đừng nói chi ngày xưa, khi mưa bão lên thì đâu có cái chỗ nào ẩn nấp thì cô phải lấy cái thân của mình ôm và che hai đứa con, đứa con mới vừa sanh và một đứa con lớn. Đến sáng cô đi tìm chồng thì phát hiện ra chồng bị rắn cắn chết nằm một đống, cô than khóc suốt đêm.
"Vì mưa to, nước sông dâng lên đến đầu gối, nàng lại quá yếu nên không thể bồng hai đứa con lội qua sông. Nàng để đứa lớn ở bờ bên này và bồng đứa nhỏ lội qua sông. Rồi nàng đặt đứa nhỏ nằm trên khăn trùm đầu, dùng cành cây che lại để nó trên bờ, còn nàng lội qua sông lại để đem đứa lớn qua. Nhưng đến giữa dòng, quay mình trở lại thời thấy một con diều hâu, tưởng đứa con nít là một miếng thịt, nên bay xuống tha đứa nhỏ đi. Dầu cho người mẹ có xua đuổi và la lên nhưng vì quá xa nên không làm gì được. Còn đứa lớn bên bờ bên này, nghe tiếng mẹ la tưởng là mẹ kêu liền lội xuống nước đi qua và bị nước cuốn trôi. Thế là hai đứa con và cả người chồng bị chết. Nàng vừa khóc vừa đi về thành Sàvatthi, lại được tin hồi hôm mưa to gió lớn làm sụp đổ căn nhà của cha mẹ nàng, giết chết cả cha mẹ và em nàng vừa làm lễ hỏa táng xong" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Như vậy là chồng chết, đứa con mới sanh bị diều hâu tha đi, đứa con lớn thì bị dòng nước chảy xiết cuốn trôi, chỉ trong một ngày đêm ba sinh mạng ra đi mà đó là những người yêu thương nhất. Sau đó cô còn nhận tin cha mẹ chết vì nhà sập, như vậy là năm mạng người, cô phải chứng kiến những cảnh đau đớn tột độ, tột cùng, kinh hãi, khủng khiếp nên cô trở thành người điên dại.
"Trong cơn đau khổ khủng khiếp chồng chất, nàng hóa điên dại, ăn mặc hở hang, nàng vừa khóc vừa than:
Hai con ta đã chết,
Chồng ta cũng chết luôn,
Rồi trên giàn hỏa táng,
Cha ta và mẹ ta,
Cùng đứa em trai ta,
Vừa làm lễ thiêu đốt" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Như vậy là chết 6 mạng người, em trai chết luôn, bây giờ cô đi lang thang đây đó, khóc than nỗi đau khổ, quần áo tả tơi hết cho nên người ta mới gọi cô giống như một người điên. Cô không có mặc quần áo, cô bị kích động khủng khiếp, cha chết, mẹ chết, em chết, chồng chết, con mới sinh chết và đứa con lớn cũng chết, cô như điên như dại, cơ thể trần trụi, vắt quần áo trên người đi lang thang đầu bù tóc rối, quần áo tả tơi. Người trên đường gặp cô thì người ta gọi cô là con điên, bà điên, người thì ném đá, người thì quăng đồ dơ, bụi bặm vô người cô.
"Rồi nàng đi lang thang đây đó, khóc than nỗi đau khổ của nàng, và vì nàng mang xiêm áo tả tơi, nàng được gọi là Patacàra (kẻ mang xiêm áo). Người đi đường thấy nàng gọi nàng là người điên, có kẻ ném đá, có người thì quăng đồ nhớp bụi bặm trên nàng" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Chúng ta có thể dùng thọ; tưởng; hành tưởng tượng ra được, đã đau khổ tột cùng như vậy rồi giờ còn bị anh ta ném đá luyện đồ với người ta kêu con điên, con khùng, bà khùng, bà điên như vậy là tột độ, tột cùng không thể tưởng tượng nổi.
III. Đức Phật thuyết pháp
"Bậc Ðạo Sư ở Jetavana đang thuyết pháp, thấy nàng đi lang thang như vậy và biết căn cơ trí tuệ của nàng đã chín muồi, ngăn cản không cho người ta xua đuổi nàng và cho phép lại gần, khiến nàng hồi tỉnh lại, và cảm thấy xấu hổ với cách ăn mặc của mình, nàng nằm phục xuống đất. Một người quăng cho nàng một tấm y, nàng quấn y vào mình và thỉnh Phật cứu độ cho nàng và nàng kể lại thân phận của nàng: 'Thế Tôn hãy cứu độ cho con. Một đứa con bị chim diều hâu mang đi; một đứa con bị nước cuốn trôi; còn chồng con bị rắn cắn chết; cha mẹ và em con bị căn nhà sụp đổ giết chết và bị hỏa táng. Ðức Phật nói: 'Này Patacàra, đừng nghĩ rằng nàng đến với một người có thể cứu độ cho nàng. Như nay nàng than khóc vì con chết, vì chồng chết, cha mẹ chết. Cũng vậy, nàng đã khóc than kiếp luân hồi của nàng vì rằng con, chồng và cha mẹ bị chết của nàng còn nhiều hơn nước sông bốn biển'. (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Khi Đức Thế Tôn thuyết pháp thì chúng ta biết có rất nhiều người, những người này muốn đuổi cô đi, Thế Tôn ngăn cản đừng có đuổi cứ để cho cô lại gần Đức Phật. Lúc đó cô từ từ tỉnh lại và cô cảm thấy xấu hổ vì trần trụi quần áo, vậy nên cô nằm thụt xuống đất, nằm dài xuống đất có một người quăng một tấm y cho cô quấn lại che sự xấu hổ, cô cầu xin Phật cứu độ.
Cô thuật lại câu chuyện của mình, kể đầu đuôi câu chuyện thì Đức Phật nói không phải mới một đời này chứng kiến cảnh này đâu, không phải mới một lần này mới chịu cái khổ này đâu, không phải bây giờ con mới gặp cảnh oan nghiệt tận cùng của khổ đau này đâu. Con đã chịu đựng chồng chết, cha chết, mẹ chết, em chết, con chết từ đời này tới kiếp khác, trăm ngàn vạn kiếp con đã chịu đựng những cái thống khổ này, những đau khổ này, những cùng khổ này, những cực khổ này, những cái khổ ách này, con đã chịu đựng trăm kiếp ngàn đời, trăm ngàn kiếp, triệu kiếp, tỷ kiếp, vô số kiếp là dòng nước mắt của con đã tuôn chảy nhiều còn hơn đại dương.
"Nước bốn biển ít hơn,
Nước mắt của loài Người,
Khóc than vì đau khổ,
Vậy sao nàng hủy hoại,
Sanh mạng của chính mình,
Trong khóc than sầu khổ!" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Này con ơi, nước của 4 biển còn ít hơn là nước mắt của chúng sanh đã tuôn rơi tuôn chảy, đã đổ xuống trong trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, hàng triệu đời, hàng tỷ đời, hàng nhiều triệu, nhiều tỷ, nhiều ức, nhiều vạn nước mắt của loài người khóc than vì đau khổ, than khóc vì khổ đau. Sao con lại hủy hoại sinh mạng của mình hỡi con? Chúng ta có thể tưởng tượng được cái cảnh lúc đó với cái tâm đại bi của Đức Phật với tình thương bao la của ngài, cô này dập đầu cúi lạy, trào dâng bao nhiêu những niềm tức tưởi, nghẹn ngào, thống khổ, đau khổ tới cùng cột.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng thương tưởng của Đức Phật, trong một cái cảm thọ dạt dào đại từ, đại bi này giống như được sưởi ấm trong tình thương vô tận, giống như được vào trong bóng cây của cha lành, giống như được tắm mình trong dòng sương ngọt cam lộ, được mát mẻ, được ấm áp, được ngọt ngào trong từ tâm vô lượng của Đức Như Lai, bao nhiêu những sự tức tưởi, bao nhiêu sự nghẹn ngào, bao nhiêu những sự khổ đau lúc này, vừa tức tưởi, vừa nghẹn ngào, vừa hạnh phúc, vừa sung sướng giống như đã tìm được một bến đỗ bình an, tối thượng của cuộc đời mình. Chúng ta có thể tưởng tượng ra được cảnh tượng lúc đó, có thể thiền quán ra được tình trạng lúc đó, tình cảnh lúc đó, sự việc lúc đó xảy ra ở kỳ viên tinh xá.
Thật là ngọt ngào làm sao!
Thật là ấm áp làm sao!
Thật làm mát mẻ làm sao!
Thật là sáng tỏ làm sao khi cái nỗi khổ tột độ, tột cùng này được quay về và tìm gặp bậc tứ sanh chi từ phụ, bậc cha lành Tối Thượng. Lúc đó Thế Tôn dạy về con đường tiêu diệt khổ đau, Thế Tôn thuyết về bốn sự thật đau khổ của bậc Thánh chứng ngộ và ngay trong cái tâm trạng đó, ngay trong cái cảm xúc đó, ngay trong cái hoàn cảnh đó cộng với những lời Thánh pháp của Đức Phật ngấm vào tim, vào xương, vào thịt, vào tủy, vào não thì cái khổ của cô được nhẹ dần vơi đi.
"Nghe Thế Tôn dạy về con đường không thể diệt khổ, nỗi đau khổ của nàng được nhẹ dần. Rồi đức Phật khuyên thêm: 'Ôi Patàcàrà, một người mệnh chung, thì con cháu, bà con không có thể làm chỗ nương tựa. Cho đến hiện tại, họ cũng không giúp đỡ được gì. Do vậy, người có trí sống đời sống giới đức thanh tịnh, thành tựu con đường hướng đến Niết-bàn. Rồi đức Phật dạy:
Các con, cha, bà con,
Không phải chỗ nương tựa,
Khi thân hoại mạng chung,
Bà con huyết thống nàng,
Không thể che chở nàng!
Thấy được sự thật này.
Kẻ trí sống giới đức,
Và mau chóng thành tựu,
Con đường hướng Niết-bàn" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Sau đó Đức Thế Tôn khuyên nàng khi một người đã chết rồi, con cháu, bà con không có thể làm chỗ nương tựa cho người chết. Mẹ đã chết, cha đã chết, chồng con đã chết, người em cũng đã chết, những người đó làm sao làm chỗ nương dựa cho mình? Bà con cũng không thể làm chỗ nương tựa cho con, bây giờ họ cũng không thể giúp đỡ được gì cho con, thấy được sự thật này kẻ trí sống giới đức và mau chóng thành tựu con đường hướng Niết-bàn.
"Khi bậc Ðạo Sư nói xong, nàng chứng được quả Dự Lưu và xin được xuất gia. Ðức Phật đưa nàng đến chúng Tỳ-kheo-ni và cho phép nàng được xuất gia" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Nàng dự vào dòng dõi của hiền Thánh, chuyển tộc, thay đổi dòng họ của phàm phu, bước vào dòng Thánh tuệ, Thánh trí, Thánh quả. Nàng nhập Dự Lưu Thánh quả trong nỗi khổ tột cùng, niềm đau tột độ và sự hạnh phúc không thể nào có thể diễn tả được, nàng trở thành hiền nữ chính thống của bậc đại giác Thế Tôn. Chúng ta niệm danh hiệu Phật Pali để tưởng nhớ ân đức vĩ đại của tứ sanh từ phụ, tất cả những chúng sinh đau khổ tột cùng nhất quay trở về với ngài đều được cứu độ. Sau khi cô chứng được Dự Lưu thánh quả thì xin Đức Phật xuất gia, Đức Phật đưa cô vào chúng Tỳ-kheo Ni và cho phép xuất gia. Cô tinh cần, tinh tấn, nỗ lực tu hành.
"Rồi nàng tinh tấn tu hành, cố gắng thành đạt những quả vị cao hơn. Một hôm lấy nước trong bát rửa chân, khi nàng đổ nước, thời nước chảy đến một khoảng đường ngắn rồi biến mất. Nàng đổ thêm nước, và con đường nước chảy dài hơn, và lần thứ ba, nàng lại đổ nước và con đường nước chảy còn dài hơn trước khi biến mất. Dựa trên sự kiện này làm nền tảng suy tư, nàng nghĩ: 'Cũng vậy là loài Người, chết trẻ, chết nửa chừng và chết già'" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Lần đổ nước thứ nhất nước cái đường chảy nó ngắn giống như là một con người chết trẻ, lần đổ nước thứ hai cái đường chảy nước nó dài hơn được một chút giống như người chết trong giai đoạn trung niên, thiếu niên chết và lần đổ nước thứ ba nước chảy được dài hơn một chút giống như người già nhưng cuối cùng cũng chết. Thế Tôn nói rằng tất cả đều phải chết kết thúc trong sự chết và không thể vượt qua khỏi cái chết.
"Và đức Phật ở tại hương phòng của Ngài phóng hào quang, hiện lên trước mặt nàng và dạy rằng: 'Hỡi nàng Patàcàrà, như vậy là cuộc sống của loài Người, cuối cùng cũng phải mạng chung. Vậy tốt hơn là sống như thế nào để thấy sự sanh diệt của năm uẩn, dầu cho chỉ thấy được một ngày, hay chỉ một sát-na, còn hơn sống một trăm năm mà không thấy được sự thật ấy:
Người sống một trăm năm,
Không thấy pháp sanh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sanh diệt" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Cô suy nghĩ như vậy là đúng như vậy đó, cuộc sống của loài người là như vậy đó, chết trẻ, chết nửa chừng hay là chết già, tất cả rồi đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết và không thể vượt qua khỏi cái chết. Cuối cùng rồi cũng phải mạng chung, vậy tốt hơn là sống như thế nào để thấy được sự sanh sanh diệt diệt, sự tập khởi và sự đoạn diệt của năm thủ vẫn này. Con hãy nhìn thật sâu sắc vào tấm thân này, vào những cảm giác này, những suy tư này, những hình bóng trong tâm này, những nhận thức này, nhìn thật kỹ, lắng nghe sắc; thọ; tưởng; hành; thức thật kỹ để thấy được sự sanh diệt, sự tàn hoại, sự hủy hoại, sự tan nát, sự tan hoại của năm thủ uẩn.
"Khi Thế Tôn nói xong, Patàcàrà chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Nàng đoạn tận hoàn toàn lậu hoặc, phá tan vô minh, đoạn tận khát ái, sanh đã tận, phạm hạnh đã được viên thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái sầu, bi, khổ, ưu, não, tham, sân, si, vô minh và khát ái này nữa, nàng trở thành Thánh đệ tử tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Từ một con người đau khổ cùng cực, điên loạn, bây giờ người con gái ấy trở thành bậc Thánh nữ tối thượng trong chánh pháp.
Có ai muốn chia sẻ nỗi niềm về bậc thánh Tỳ-kheo Ni này chăng?
IV. Trình pháp
Sư Cô Ấn Đức: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ sư phụ tôn kính của chúng con, con chân thành đảnh lễ quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Conn được nghe thiền quán theo lời chỉ dạy, dẫn dắt của sư phụ, con có một cảm thọ rất là đau khổ khi nàng ấy chịu những sự đau khổ trên cuộc đời này, đau khổ nhất là khi nàng ở giữa dòng nước nhìn thấy đứa con mới sinh của mình bị con vật nó quắp đi, nó ăn, rồi đứa con ở bờ bên kia nghe mẹ thét lên thì tưởng là mẹ bảo mình xuống dòng nước nên đứa bé đã lao xuống dòng nước và bị cuốn trôi, rồi mẹ chết, cha chết, em chết, người chồng cũng bị rắn cắn chết.
Con rất đau khổ, cái tưởng của chồng con rất nhanh nó hiện về, con cũng hai lần sinh con nhưng mà con được người nhà lo lắng đưa con. Rất nhiều đau khổ trong đó, khi con mang thai đứa thứ hai thì con có bị ốm và bác sĩ cũng bảo là không nên để, con nói với chồng con lúc đó là để hay không để đấy là tùy, chồng con cho ý kiến thì chồng con bảo để. Chính vì vậy mà khi sinh con thì con rất lo lắng, trong cái tâm con lúc nào cũng hướng về đứa con, khi sinh ra thì con sẽ nhìn nó, khi nghe tiếng khóc thì con ngước đầu lên nhìn. Con rất là lo, không biết sinh ra bác sĩ bảo có thể nó sẽ không bình thường nhưng mà con rất vui vì khi mà nó vừa mới lọt lòng thì bác sĩ nói là một bé gái rất là xinh đẹp. Con cũng tưởng nhanh về đứa con trai của con, cháu sinh ra đối với con để được hưởng những cái niềm vui, chỉ khoảng 5 tuổi thôi mà cháu chỉ nhìn mặt mẹ lại cháu đã biết là "mẹ ơi có chuyện gì mà giờ con trâu mẹ ăn em buồn như vậy?".
Làng con rất là nhỏ, nghèo lắm, cái làng Vũ Đại lúc bây giờ có một đặc sản nổi tiếng đó là quả hồng không hạt, nó rất to, to gần như đã một cái ly uống nước của sư phụ vậy, bằng hai phần ba đấy và chỉ có cháu mới có thôi. Nhưng mà khi nó mang về thì nó bảo "mẹ ơi, con ăn rồi, đây là của mẹ, mẹ ăn đi", con cũng thấy rất là lạ, sao mọi người lại thương mình vậy, một cái đám giỗ chỉ có mấy quả hồng như vậy mà rất nhiều người nhưng sau đó thì chị con về mới bảo sao thằng bé không ăn đi mà lại để quả hồng ở đây. Con rất là xúc động, con có suy nghĩ rằng con rất là may mắn khi con sinh ra hai đứa con được lành lặn, thật là phước báu cho con khi mà con có những đứa con như vậy.
Còn nhiều cái tưởng, còn rất là hạnh phúc khi nàng đã được gặp Đức Phật, trong một cái sự đau khổ tột cùng, trở thành một con điên mà mọi người khinh rẻ. Con xúc động khi con nghĩ về Phật, sự hy sinh của ngài thật là vĩ đại, trí tuệ của ngài thật là vĩ đại, ngài là bậc giác ngộ nhất, không có ai so bì được với ngài, tâm thương của ngài bao la rộng lớn và thật may là nàng đã được gặp Đức Thế Tôn, được Thế Tôn thương xót và giảng pháp cho nàng.
Khi con nghe đến phần nàng được chứng quả Dự Lưu cũng như là chứng A-la-hán trong con khởi lên một cái niềm khao khát vô tận, con cũng đã chịu rất là nhiều đau khổ trong cuộc đời này, con bị tham lam, bị sân hận, bị cái sự ngu si, vô minh và bản ngã đè đầu cưỡi cổ, nó bao vây, nó vây hãm, con cũng đã làm nhiều ác nghiệp và con rất là may mắn khi con được biết được chánh pháp của Đức Thế Tôn. Con được tu tập theo những lời dạy của ngài, nhờ sự chỉ dạy của bậc đạo sư và sư phụ con rất hạnh phúc, con đã thấy được cuộc đời con đã thay đổi vận mệnh hoàn toàn.
Con rất hạnh phúc, từng ngày từng giờ con ở đây con tu tập với sự chỉ dạy của sư phụ, của quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng nơi này. Con rất là tin tưởng và con rất là quyết tâm, con rất là khao khát còn trở thành một người con ngoan của Đức Thế Tôn. Con rất là tin tưởng, con nhìn vào thân tâm của mình con thấy con đang thực hành theo lời dạy của Đức Thế Tôn, thân tâm con càng ngày càng an trú hơn trong Tứ niệm xứ, phải nói là con biết ơn sư phụ rất là nhiều.
Cho con nói thêm về sự vô minh của con, sư phụ thương xót chúng con, sao sự vô minh, ngu si của chúng con nó dày đặc đến đi như vậy, sư phụ bảo chúng con trình pháp viết bài mà chúng con không viết, vậy mà con thưa với sư phụ là sau mấy ngày quý thầy có dẫn chúng con vào thất của sư phụ để chúng con sám hối, lúc đó ý hành mới thấy rất là con vẫn vô minh, nói là nó ăn năn, hối cải như vậy nhưng mà đến lúc đó nó đã viết bài đâu.
Con nói thật con rất là đau khổ, trong buổi hôm đấy thì sư phụ nói là nếu sư phụ có chết đi thì ai dạy cho nên con đau khổ vô cùng, nhờ tình thương, tâm thương của sư phụ rộng lớn bao la như vậy mà cái tâm ngu, tâm mê của con đã được đánh thức và con đã viết bài trình pháp.
Con nói thật là chính nhờ bài trình pháp đó, bài viết nhật ký như vậy mà từ đó cho đến giờ phút này, con nghĩ từ giờ cho đến lúc chết con vẫn sẽ tu tập theo một con đường, đó là truyền thống của chánh pháp, truyền thống của các Đức Phật, đó là nhiếp phục và đoạn tận năm triền cái. Thưa sư phụ con rất là hạnh phúc, trong những ngày gần đây con thấy trí tuệ của con và sự an trú trong pháp của con được tăng trưởng lên rất nhiều. Mỗi khi con nghĩ về Đức Thế Tôn là con không thể cầm được nước mắt, ngài thật vĩ đại và những lời chỉ dạy của ngài rất thâm sâu, rất thần diệu.
Con xin tri ân công đức của Đức Thế Tôn, của tam bảo và thánh giới, con xin tri ân công đức của các quý thầy, quý cô ở đây đã chỉ dạy cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Rất là tốt. Lành thay! Lành thay!
Ni sư: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ sư phụ, quý thầy, quý Ni sư cùng các bậc hiền trí. Sáng nay con được sư phụ cho thiền quán về một vị Thánh Ni, cảm thọ của con thật là xúc động, hình ảnh của vị Tỳ-kheo Ni hiện ra trong con một người đã đi đến cái nỗi khổ cùng cực thì con nhớ đến Đức Phật nói về khổ thánh trí làm cho con rõ ràng ra. Nhưng vì lòng thương tưởng của Đức Thế Tôn ngài đã cứu độ cho vị Tỳ-kheo Ni ấy và con thiền quán từ vô thủy con cũng như vị ấy, con cũng đã điên đảo, cũng đã lặn hụp cho đến ngày hôm nay. Nhờ con nghe được thánh pháp của Đức Thế Tôn qua sự chỉ dạy của sư phụ con mới được tu tập.
Tỳ-kheo Ni sau khi nghe Đức Phật giảng thuyết, ngài ân cần tinh tấn tu tập và chứng quả thì hình ảnh của bậc Thánh Ni đã hiện ra trong con, đứng trước mặt con, con xúc động vô cùng. Còn con tu tập cũng chưa được tinh tấn nên kể từ giờ phút này con phải học theo đức hạnh của ngài, ngài là tấm gương sáng để soi sáng cho con tiếp tục trên bước đường tu học. Con xin thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, con xin thành kính đảnh lễ vị Thánh Ni, con xin thành kính sư phụ đã vì lòng thương tưởng mà sách tấn cho Ni chúng chúng con qua hình ảnh của một vị thánh ni sáng hôm nay. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Đảnh lễ tôn giả Patàcàrà.
Đảnh lễ Thánh Tỳ-kheo Ni Patàcàrà.
Đảnh lễ bậc Thánh đệ tử tối thượng Patàcàrà.
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính bạch sư phụ, con xin kính bạch toàn thể quý chư Tăng, chư Ni và các bậc hiền trí. Con xin được trình bày cảm thọ của con khi nghe sư phụ giảng Tỳ-kheo Ni con rất xúc động, con cũng nhận thấy được mình đang sống trong vô minh, dục ái, tham, sân, si, bản ngã và con thấy thân này giống như cái bao. Đức Phật có nói cái bao hai đầu trống chứa đựng đậu, mè, lúa, các loại hạt và con thấy khi ăn cũng giống như đang làm việc. Đưa thức ăn vô rồi nó ra cái đường dưới y như là một cái bao đậu, một cái bao trống mà Đức Phật thí dụ cho cái thân này. Dạ, con xin hết. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô Hiền Hạnh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin được cung kính đảnh lễ trên bậc ân sư tôn kính, con xin được cung kính đảnh lễ quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và toàn thể các bậc hiền trí. Trong suốt bài giảng sáng nay con có một cảm thọ cực kỳ đau khổ, con như cảm nhận nỗi đau cùng với vị Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật bởi nỗi đau phải xa lìa người thân của mình. Chỉ trong một ngày mà vị Thánh trải qua niềm đau mất đi rất nhiều người thân, những người mà vị Thánh yêu thương, có lẽ dùng ngôn ngữ của thế gian cũng không thể nào diễn đạt được nỗi đau tột cùng này, bởi chỉ những ai có được sự thâm tình thì mới có thể hiểu hết được niềm đau nỗi khổ khi phải chứng kiến cảnh mình phải xa lìa người thân.
Trong bài kinh cũng có nói là ngài điên loạn thì quả đúng trạng thái tâm của một người khi thật sự trong tình thương mà phải đột ngột mất đi người thân cùng một lúc thì hoàn toàn có thể xảy ra. Con nhớ lại khi mà con mất đi mẹ con mà con còn bị trầm cảm, con không thoát ra được nỗi khổ niềm đau ấy huống chi là ngài cùng một lúc chứng kiến bao nhiêu người thân của mình rời xa ngài thì làm sao ngài có thể chịu đựng nổi, cũng rất may mắn là ngài được gặp Đức Thế Tôn để ngài thoát ra được cái nỗi khổ niềm đau.
Con cũng được phút duyên lành như ngài, ngay giây phút mà con tận cùng trong đau khổ thì cũng chính những lời dạy của Đức Thế Tôn đã cứu cuộc đời con. Con thoát ra được trạng thái tận cùng của đau khổ, niệm tri ân sâu sắc mà con cảm nhận được trong giá trị tối thượng, trong những lời dạy của Đức Thế Tôn là thật sự đáng trân quý, đáng trân này và là niềm tri ân thật là sâu sắc đối với chúng con khi đã cách ngài đến gần 2.600 năm mà chúng con được lắng nghe những lời dạy từ kim khẩu của Đức Thế Tôn, được sự truyền trao trên mặt bậc ân sư tôn kính thì niềm diễm phúc này thật là lớn lao đối với chúng con.
Trong giây phút mà con mất đi người thân của mình thì giống như là một người không biết bơi mà rơi xuống chìm trong cái biển mênh mông, giáo pháp của Đức Thế Tôn như chiếc phao đã cứu vớt sinh mạng cho con. Chẳng những thế mà còn được chiếc thuyền từ tâm của ngài cứu giúp để con được lên chiếc thuyền từ tâm ấy, con được bình an và con đường an ổn thì quả là phúc báo lớn cho cuộc đời của chính con.
Trong bài thiền quán thì con chỉ có một tâm niệm, ước nguyện duy nhất trong giây phút đó là con mong cho giáo pháp của Đức Thế Tôn sẽ mãi mãi cửu trụ vững chắc trên thế gian này để có thể giúp cho tất cả những con người đau khổ gặp được giáo pháp của Đức Thế Tôn, lắng nghe và thực hành được theo lời dạy của Đức Thế Tôn để có thể chấm dứt khổ đau trong dòng sanh tử luân hồi trầm luân khổ ải này.
Trong giây phút đó con chỉ có một ước nguyện là mong cho giáo pháp của ngài được trụ vững trong tâm của tất cả chúng sanh, bởi có như thế thì mới có thể cứu giúp được tất cả chúng sanh trong biển khổ trầm luân. Đó là cảm thọ xuyên suốt trong bài giảng của sư phụ, con xin được kính trình lên sư phụ cùng với quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
V. Bài kệ chứng đạo
Sư Phụ: Khi nàng chứng được quả A-la-hán thì nàng suy tư đến quả chứng của mình rồi nàng nói lên bài kệ. Đây là chứng đạo kệ của Thánh Ni.
"Suy tư đến quả chứng của mình, khi còn là một học nữ, nàng tán thán sự kiện đã giúp nàng chứng được quả vị cao hơn, và nàng nói lên bài kệ:
Với cây, cày ruộng đất,
Gieo hột giống trên đất,
Loài Người được tài sản,
Nuôi dưỡng vợ và con.
Sao ta, giới đầy đủ
Làm theo Ðạo Sư dạy,
Lại không chứng Niết-bàn,
Không nhác, không dao động.
Khi ta đang rửa chân,
Làm cho dòng nước chảy,
Thấy được nước rửa chân
Từ cao chảy xuống thấp,
Nhờ vậy, tâm được định,
Như ngựa hiền khéo luyện.
Rồi ta cầm cây đèn,
Bước vào ngôi tinh xá,
Nằm trên chiếc giường nhỏ,
Ta nhìn quán ngọn đèn.
Rồi lấy cây kim nhỏ,
Dìm tim đèn xuống dần,
Thấy cây đèn Niết-bàn,
Tâm ta được giải thoát" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Trên đây là bài kệ chứng đạo của Thánh Ni Patàcàrà, ngài nói rằng người ta cài ruộng, gieo hạt giống thì người ta sẽ thu hoạch được nông sản để nuôi dưỡng vợ con. Những người nông dân làm vườn, làm rẫy, làm ruộng, sau khi làm xong thì ta sẽ được thu hoạch nhưng mà tại sao ta đầy đủ giới, được học pháp với Đức Thế Tôn mà sao ta không chứng Niết-bàn dù ta vẫn siêng năng, tâm không có dao động. Ngài suy nghĩ như vậy, tại sao người nông dân, nông phu cày ruộng, làm vườn, làm rẫy, người ta thu hoạch mà tại sao ta tu cũng giữ giới, ta cũng siêng năng, tinh tấn, tâm ta cũng an định nhưng mà tại sao ta lại không chứng được Niết-bàn, không đoạn tận được tham, sân, si.
Một hôm ngài đang rửa chân thì ngài thấy dòng nước chảy như vậy, ngài quán chiếu cuộc đời con người chết trẻ, thiếu niên chết, trung niên chết hay là lão niên chết, tất cả đều kết thúc trong sự chết, đều phải chết và không thể vượt qua cái chết, như vậy tâm ngài được định ở trong định tướng của niệm tử. Sự quán chiếu đó được tâm tập trung tâm ý vào hình ảnh đó được giữ lại, cất lại, được quán chiếu thường xuyên. Mình đọc trong Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ thấy họ đắc đạo nhanh lắm nhưng không phải vậy, đó chỉ là kể tóm tắt thôi, còn sự tu của ngài đâu có kể gian khổ như thế nào. Mình nghĩ thời Đức Phật sao mà nhanh lên chứng đắc đạo quả quá, sao giờ mình tu hoài không được, đó là do người ta kể vắn tắt, người ta không có kể đầy đủ.
Ngài cầm cây đèn bước vào nơi tịnh xá, đây là một cái thời gian khác, một khoảnh khắc khác nữa, ngài nằm ở trên cái giường nhỏ nhìn quán ngọn đèn tức là ngài thấy cái gì ngài cũng thiền quán, từ cái rửa chân, từ cái thấy cái ngọn đèn dầu, tim đèn cháy dần thì ngài lấy cái cây kim nhỏ dìm cái tim đèn xuống. Bởi vì chúng ta đốt đèn dầu thì chúng ta đốt bằng dầu với lại tim đèn, đốt một thời gian cái tim này nó bị cháy, bây giờ ngài mới lấy cây kim dìm tim đèn xuống thì ngọn lửa tắt. Ngài thấy cái đèn Niết-bàn thì Niết-bàn ở đây chính là ngọn lửa tắt, Niết-bàn có nghĩa là dập tắt, ngay lúc đó tâm ta được giải thoát.
VI. Tìm hiểu đời sống Chư Tăng thời xưa
Như vậy không phải chỉ dừng lại ở chỗ quán nước chảy rửa chân mà còn tiếp tục quán về cây đèn, thành ra mình nghe cái này để mình hiểu rằng các bậc Thánh xưa rất là gian khổ, rất là tinh cần, tinh tấn, khổ hạnh, khổ luyện, khổ tu, kiên trì, bền chí, biết bao nhiêu chướng ngại, chông gai cho nên mình đừng nghĩ rằng đọc vào mấy chữ đã thấy chứng Thánh, đó là kể vắn tắt thôi.
Các ngài thường sống ở trong tâm định tuệ chỉ quán, một là các ngày an trú cái tâm an định, tịnh chỉ ở trong hơi thở, hay là cảm giác toàn thân, hay là những cái định tướng và triển khai thiền quán mọi lúc mọi nơi. Cho nên sau này chúng ta sẽ học nhiều lắm, đặc biệt lắm, có vị Tỳ-kheo Ni buồn chán, ngài treo cổ tính tự vẫn vì tu mãi không tiến, khi ngài đưa cái đầu vô cái thòng lọng lúc đó chuẩn bị siết là lúc đó ngài đoạn tận chứng quả ngay tại chỗ đó. Có những vị tu 25 năm mà cái ái dục nó hành hạ suốt, 25 năm xuất gia mà không đoạn được cho đến năm thứ 25, tận cùng luôn thì lúc đó ngài diệt được dục ái, khát ái và chứng được đạo quả cao thượng của người xuất gia.
Chúng ta thấy rằng không đơn giản như mình nghĩ mà các ngài cũng gian khổ, cũng khó khăn, trầy trật, cũng phải chiến đấu, không có một cái kết quả nào mà dễ dàng. Gọi là trò chơi cũng lắm công phu, bây giờ muốn tạo ra một buổi lễ cũng phải chuẩn bị rất nhiều chứ đừng nói chi bậc Thánh cho nên sự tu hành chúng ta, những cái tấm gương này chính là những bài học rất là lớn, rất là sâu, rất là sáng, rất là vững chắc để đưa vào cái cảm thọ chúng ta, đánh động suy nghĩ, nhận thức, cảm thọ, nhất là trong mùa an cư kiết hạ này, làm sao phải cố gắng Nhập Lưu, tối thiểu phải đoạn tận các lậu hoặc A-la-hán. Phải đặt cho mình cái đề mục như vậy, quyết tâm như vậy để mình dồn tất cả tâm lực, nghị lực, sức lực, hạnh lực, nguyện lực, đạo lực. Khi mình tu xong đi lúc đó mình khỏe rồi, không còn khổ hoài như vậy nữa, khổ một lần thôi thì nó sẽ đi đến chỗ đại an lạc, đại giải thoát.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Tỳ-Kheo Ni Thời Đức Phật 1
Kẻ Khùng Thành Bậc Thánh
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trình bày duyên sự PAGEREF _Toc156662538 \h 1
II. Câu chuyện bi thương PAGEREF _Toc156662539 \h 2
III. Đức Phật thuyết pháp PAGEREF _Toc156662540 \h 5
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc156662541 \h 10
V. Bài kệ chứng đạo PAGEREF _Toc156662542 \h 15
VI. Tìm hiểu đời sống Chư Tăng thời xưa PAGEREF _Toc156662543 \h 18
I. Trình bày duyên sự
Phật tử Hoa Đức: Con xin cung kính kính bạch sư phụ cùng các chư Tăng, chư Ni và toàn bộ Phật tử có mặt tại nơi đây. Kính bạch sư phụ, con tên là Nguyễn Thị Mỹ, pháp danh Hoa Đức, con xin giới thiệu 4 thành viên còn lại.
Phật tử Diệu Hà: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch toàn thể Tăng Ni và toàn thể đại chúng có mặt tại nơi đây. Con tên là Đỗ Thị Nhung, pháp danh Diệu Hà. con xin bái bạch sư phụ.
Phật tử Hóa Minh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin bái bạch thầy, con tên là Đường Thị Định, pháp danh Hóa Minh.
Sư Phụ: Quý vị một người đại diện chia sẻ tâm nguyện của mình được rồi.
Phật tử Hoa Đức: Con xin kính bạch thưa sư phụ, chúng con có 5 người thì ba thành viên tuổi cao nhất là 81, hai thành viên còn lại trong đó có con là 77 tuổi, còn hai cô năm nay ngoài 60. Kính bạch sư phụ, con được đến nơi đây là một điều rất may mắn và vô cùng hạnh phúc, con cảm ơn tất cả trời Phật đã đưa chúng con đến một nơi không tưởng mà lại sự thật, chúng con được nhìn thấy sư phụ bằng xương bằng thịt.
Con vô cùng xúc động, khi con đến trước hai ngày chưa nhìn thấy sư phụ thì con đã nhìn thấy tất cả Tăng chúng ở đây, bao trùm tất cả những tình thương từ trái tim. Con cảm giác tất cả chúng con đã gặp những các bậc Bồ-tát, con cứ nghĩ là trên một rừng núi rất là xa mà nói đến nhiều người không biết, một nơi mà thầy đã gắng sức xây dựng được một cơ ngơi như thế này để cho con của thầy được học, được tu.
Tất cả những trang thiết bị tuy rất là đơn sơ nhưng rất là khoa học, chỗ ăn, chỗ nghỉ, chỗ tu, chỗ nào là riêng vào chỗ đấy. Con nghĩ là chúng con đã được đến một nơi không tưởng, đây là những lời của con cũng thay mặt cho đoàn vô cùng cảm động với sự cố gắng của thầy trong nhiều năm qua.
Sư Phụ: Các cô nghe pháp thì đã học được pháp gì rồi?
Phật tử Hoa Đức: Con bạch thầy, chúng con ở Hà Nội tu theo môn Tịnh Độ, niệm Phật, tụng kinh và có những thời gian con đã ngồi thiền tu theo của các sư cô, sư thầy của bên hòa thượng Thích Thanh Từ. Nhưng vì bất chợt tự nhiên con bật lên Youtube, con được nhìn thấy thầy, con nghe câu đầu tiên là của thầy nói là khi ngồi thiền là phải mở mắt và nhìn rộng sang hai bên.
Điều này làm cho con tỉnh ngay lập tức bởi vì chúng con ngồi thiền là mắt ở cái dạng nhìn xuống một điểm cho nên rất là dễ bị hôn trầm, một câu đấy bắt đầu cho con cảm thấy rằng đây là một chỗ để mình thấy, chỉ một lời nói thôi nhưng nó đã giác ngộ cho mình rất là nhiều và nó làm cho mình ngồi thiền có lợi ích, nó không cho gây cho mình cái buồn chán.
Vì thế cho nên có những đêm con đã thức đến 1 giờ sáng để con nghe kinh của thầy, các bạn của con là bốn người, có già có trẻ thì chưa biết, nhưng khi đi trước bàn Phật con chỉ mong có một người đồng hành. Khi con mời mấy bạn này cũng xuất phát từ lòng lấy pháp làm thầy cho nên các bạn đồng tu rất là hoan hỉ cho nên con mới có chuyến đi này, được gặp thầy ngày hôm nay, được gặp các chúng Tăng ngày hôm nay và chúng con được tu tại đây, được thụ hưởng tất cả những thành quả mà thầy đã cố gắng gây dựng như một cha lành để thương tất cả các chúng. Con xin vô cùng xúc động và con thay mặt cho đoàn kính chúc thầy luôn luôn bình an, mọi việc được viên mãn thành công và may mắn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
II. Câu chuyện bi thương
Sư Phụ: Trong những ngày quý Phật tử ở đây cố gắng tinh tấn tu học, các quý Ni sư với các sư cô sẽ hướng dẫn căn bản trí cho quý vị. Kính bạch chư tôn thiền đức, chư vị hiền trí, hôm nay chúng ta có buổi nghe pháp rất là đặc biệt, một câu chuyện cực kỳ cảm động của Thánh Ni thời Đức Phật trong Trưởng Lão Ni Kệ về Thánh Tỳ-kheo Ni Patàcàrà.
"Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh trong gia đình vị thủ ngân khố nhà vua ở Sàvatthi. Khi đến tuổi trưởng thành nàng giao du với một người đầy tớ trong nhà. Khi cha mẹ nàng định ngày gả nàng cho một chàng trai xứng đôi, nàng trốn đi với người tình nhân và sống tại một ngôi làng nhỏ. Khi nàng sắp sanh, nàng bảo chồng đưa nàng về nhà cha mẹ, vì ở đây không có ai săn sóc nàng, nhưng chồng nàng cứ hẹn lần hẹn hồi cho đến khi nàng biết chồng nàng không muốn đi về. Nàng liền chờ chồng đi vắng, sắp đặt công việc, tin cho người láng giềng biết rồi nàng bỏ về nhà cha mẹ. Khi người chồng về, người chồng liền đuổi theo, sợ nàng không có người săn sóc. Chồng nàng bắt gặp nàng và giữa đường nàng sinh được người con, rồi hai vợ chồng lại đi trở về làng. Ðến kỳ sinh nở thứ hai, sự việc xảy ra như lần trước, nhưng có điểm khác biệt như sau: giữa đường mưa to gió lớn nổi lên, người chồng tìm lá và cây làm cái chòi cho nàng tránh mưa, nhưng bị con rắn từ gò mối bò ra cắn chồng nàng chết tại chỗ. Trong cơn đau khổ chờ đợi chồng nàng, nàng bồng đứa con trên ngực và giữa mưa to gió lớn nàng nằm phục xuống đất để che chở cho hai đứa con trải qua một đêm như vậy cho đến sáng. Ðến sáng, nàng đi tìm chồng và thấy chồng bị rắn cắn chết rồi. Nàng khóc than suốt đêm"(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Người chồng không muốn về vì mặc cảm là người ở, người làm công và trong khi gia đình cô không chấp nhận, hai người này trốn đi sống với nhau trong một miền quê của làng nhỏ. Bây giờ sắp sanh con nên muốn được về gia đình, cũng nhớ cha nhớ mẹ, cái tục lệ hồi xưa Ấn Độ là sinh phải về nhà cha mẹ cũng như là được chăm sóc, nhưng mà người chồng này hẹn hoài, không muốn đi. Bây giờ mình đi qua cái cánh rừng còn thấy khủng khiếp chứ đừng nói chi ngày xưa, khi mưa bão lên thì đâu có cái chỗ nào ẩn nấp thì cô phải lấy cái thân của mình ôm và che hai đứa con, đứa con mới vừa sanh và một đứa con lớn. Đến sáng cô đi tìm chồng thì phát hiện ra chồng bị rắn cắn chết nằm một đống, cô than khóc suốt đêm.
"Vì mưa to, nước sông dâng lên đến đầu gối, nàng lại quá yếu nên không thể bồng hai đứa con lội qua sông. Nàng để đứa lớn ở bờ bên này và bồng đứa nhỏ lội qua sông. Rồi nàng đặt đứa nhỏ nằm trên khăn trùm đầu, dùng cành cây che lại để nó trên bờ, còn nàng lội qua sông lại để đem đứa lớn qua. Nhưng đến giữa dòng, quay mình trở lại thời thấy một con diều hâu, tưởng đứa con nít là một miếng thịt, nên bay xuống tha đứa nhỏ đi. Dầu cho người mẹ có xua đuổi và la lên nhưng vì quá xa nên không làm gì được. Còn đứa lớn bên bờ bên này, nghe tiếng mẹ la tưởng là mẹ kêu liền lội xuống nước đi qua và bị nước cuốn trôi. Thế là hai đứa con và cả người chồng bị chết. Nàng vừa khóc vừa đi về thành Sàvatthi, lại được tin hồi hôm mưa to gió lớn làm sụp đổ căn nhà của cha mẹ nàng, giết chết cả cha mẹ và em nàng vừa làm lễ hỏa táng xong" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Như vậy là chồng chết, đứa con mới sanh bị diều hâu tha đi, đứa con lớn thì bị dòng nước chảy xiết cuốn trôi, chỉ trong một ngày đêm ba sinh mạng ra đi mà đó là những người yêu thương nhất. Sau đó cô còn nhận tin cha mẹ chết vì nhà sập, như vậy là năm mạng người, cô phải chứng kiến những cảnh đau đớn tột độ, tột cùng, kinh hãi, khủng khiếp nên cô trở thành người điên dại.
"Trong cơn đau khổ khủng khiếp chồng chất, nàng hóa điên dại, ăn mặc hở hang, nàng vừa khóc vừa than:
Hai con ta đã chết,
Chồng ta cũng chết luôn,
Rồi trên giàn hỏa táng,
Cha ta và mẹ ta,
Cùng đứa em trai ta,
Vừa làm lễ thiêu đốt" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Như vậy là chết 6 mạng người, em trai chết luôn, bây giờ cô đi lang thang đây đó, khóc than nỗi đau khổ, quần áo tả tơi hết cho nên người ta mới gọi cô giống như một người điên. Cô không có mặc quần áo, cô bị kích động khủng khiếp, cha chết, mẹ chết, em chết, chồng chết, con mới sinh chết và đứa con lớn cũng chết, cô như điên như dại, cơ thể trần trụi, vắt quần áo trên người đi lang thang đầu bù tóc rối, quần áo tả tơi. Người trên đường gặp cô thì người ta gọi cô là con điên, bà điên, người thì ném đá, người thì quăng đồ dơ, bụi bặm vô người cô.
"Rồi nàng đi lang thang đây đó, khóc than nỗi đau khổ của nàng, và vì nàng mang xiêm áo tả tơi, nàng được gọi là Patacàra (kẻ mang xiêm áo). Người đi đường thấy nàng gọi nàng là người điên, có kẻ ném đá, có người thì quăng đồ nhớp bụi bặm trên nàng" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Chúng ta có thể dùng thọ; tưởng; hành tưởng tượng ra được, đã đau khổ tột cùng như vậy rồi giờ còn bị anh ta ném đá luyện đồ với người ta kêu con điên, con khùng, bà khùng, bà điên như vậy là tột độ, tột cùng không thể tưởng tượng nổi.
III. Đức Phật thuyết pháp
"Bậc Ðạo Sư ở Jetavana đang thuyết pháp, thấy nàng đi lang thang như vậy và biết căn cơ trí tuệ của nàng đã chín muồi, ngăn cản không cho người ta xua đuổi nàng và cho phép lại gần, khiến nàng hồi tỉnh lại, và cảm thấy xấu hổ với cách ăn mặc của mình, nàng nằm phục xuống đất. Một người quăng cho nàng một tấm y, nàng quấn y vào mình và thỉnh Phật cứu độ cho nàng và nàng kể lại thân phận của nàng: 'Thế Tôn hãy cứu độ cho con. Một đứa con bị chim diều hâu mang đi; một đứa con bị nước cuốn trôi; còn chồng con bị rắn cắn chết; cha mẹ và em con bị căn nhà sụp đổ giết chết và bị hỏa táng. Ðức Phật nói: 'Này Patacàra, đừng nghĩ rằng nàng đến với một người có thể cứu độ cho nàng. Như nay nàng than khóc vì con chết, vì chồng chết, cha mẹ chết. Cũng vậy, nàng đã khóc than kiếp luân hồi của nàng vì rằng con, chồng và cha mẹ bị chết của nàng còn nhiều hơn nước sông bốn biển'. (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Khi Đức Thế Tôn thuyết pháp thì chúng ta biết có rất nhiều người, những người này muốn đuổi cô đi, Thế Tôn ngăn cản đừng có đuổi cứ để cho cô lại gần Đức Phật. Lúc đó cô từ từ tỉnh lại và cô cảm thấy xấu hổ vì trần trụi quần áo, vậy nên cô nằm thụt xuống đất, nằm dài xuống đất có một người quăng một tấm y cho cô quấn lại che sự xấu hổ, cô cầu xin Phật cứu độ.
Cô thuật lại câu chuyện của mình, kể đầu đuôi câu chuyện thì Đức Phật nói không phải mới một đời này chứng kiến cảnh này đâu, không phải mới một lần này mới chịu cái khổ này đâu, không phải bây giờ con mới gặp cảnh oan nghiệt tận cùng của khổ đau này đâu. Con đã chịu đựng chồng chết, cha chết, mẹ chết, em chết, con chết từ đời này tới kiếp khác, trăm ngàn vạn kiếp con đã chịu đựng những cái thống khổ này, những đau khổ này, những cùng khổ này, những cực khổ này, những cái khổ ách này, con đã chịu đựng trăm kiếp ngàn đời, trăm ngàn kiếp, triệu kiếp, tỷ kiếp, vô số kiếp là dòng nước mắt của con đã tuôn chảy nhiều còn hơn đại dương.
"Nước bốn biển ít hơn,
Nước mắt của loài Người,
Khóc than vì đau khổ,
Vậy sao nàng hủy hoại,
Sanh mạng của chính mình,
Trong khóc than sầu khổ!" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Này con ơi, nước của 4 biển còn ít hơn là nước mắt của chúng sanh đã tuôn rơi tuôn chảy, đã đổ xuống trong trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, hàng triệu đời, hàng tỷ đời, hàng nhiều triệu, nhiều tỷ, nhiều ức, nhiều vạn nước mắt của loài người khóc than vì đau khổ, than khóc vì khổ đau. Sao con lại hủy hoại sinh mạng của mình hỡi con? Chúng ta có thể tưởng tượng được cái cảnh lúc đó với cái tâm đại bi của Đức Phật với tình thương bao la của ngài, cô này dập đầu cúi lạy, trào dâng bao nhiêu những niềm tức tưởi, nghẹn ngào, thống khổ, đau khổ tới cùng cột.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng thương tưởng của Đức Phật, trong một cái cảm thọ dạt dào đại từ, đại bi này giống như được sưởi ấm trong tình thương vô tận, giống như được vào trong bóng cây của cha lành, giống như được tắm mình trong dòng sương ngọt cam lộ, được mát mẻ, được ấm áp, được ngọt ngào trong từ tâm vô lượng của Đức Như Lai, bao nhiêu những sự tức tưởi, bao nhiêu sự nghẹn ngào, bao nhiêu những sự khổ đau lúc này, vừa tức tưởi, vừa nghẹn ngào, vừa hạnh phúc, vừa sung sướng giống như đã tìm được một bến đỗ bình an, tối thượng của cuộc đời mình. Chúng ta có thể tưởng tượng ra được cảnh tượng lúc đó, có thể thiền quán ra được tình trạng lúc đó, tình cảnh lúc đó, sự việc lúc đó xảy ra ở kỳ viên tinh xá.
Thật là ngọt ngào làm sao!
Thật là ấm áp làm sao!
Thật làm mát mẻ làm sao!
Thật là sáng tỏ làm sao khi cái nỗi khổ tột độ, tột cùng này được quay về và tìm gặp bậc tứ sanh chi từ phụ, bậc cha lành Tối Thượng. Lúc đó Thế Tôn dạy về con đường tiêu diệt khổ đau, Thế Tôn thuyết về bốn sự thật đau khổ của bậc Thánh chứng ngộ và ngay trong cái tâm trạng đó, ngay trong cái cảm xúc đó, ngay trong cái hoàn cảnh đó cộng với những lời Thánh pháp của Đức Phật ngấm vào tim, vào xương, vào thịt, vào tủy, vào não thì cái khổ của cô được nhẹ dần vơi đi.
"Nghe Thế Tôn dạy về con đường không thể diệt khổ, nỗi đau khổ của nàng được nhẹ dần. Rồi đức Phật khuyên thêm: 'Ôi Patàcàrà, một người mệnh chung, thì con cháu, bà con không có thể làm chỗ nương tựa. Cho đến hiện tại, họ cũng không giúp đỡ được gì. Do vậy, người có trí sống đời sống giới đức thanh tịnh, thành tựu con đường hướng đến Niết-bàn. Rồi đức Phật dạy:
Các con, cha, bà con,
Không phải chỗ nương tựa,
Khi thân hoại mạng chung,
Bà con huyết thống nàng,
Không thể che chở nàng!
Thấy được sự thật này.
Kẻ trí sống giới đức,
Và mau chóng thành tựu,
Con đường hướng Niết-bàn" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Sau đó Đức Thế Tôn khuyên nàng khi một người đã chết rồi, con cháu, bà con không có thể làm chỗ nương tựa cho người chết. Mẹ đã chết, cha đã chết, chồng con đã chết, người em cũng đã chết, những người đó làm sao làm chỗ nương dựa cho mình? Bà con cũng không thể làm chỗ nương tựa cho con, bây giờ họ cũng không thể giúp đỡ được gì cho con, thấy được sự thật này kẻ trí sống giới đức và mau chóng thành tựu con đường hướng Niết-bàn.
"Khi bậc Ðạo Sư nói xong, nàng chứng được quả Dự Lưu và xin được xuất gia. Ðức Phật đưa nàng đến chúng Tỳ-kheo-ni và cho phép nàng được xuất gia" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Nàng dự vào dòng dõi của hiền Thánh, chuyển tộc, thay đổi dòng họ của phàm phu, bước vào dòng Thánh tuệ, Thánh trí, Thánh quả. Nàng nhập Dự Lưu Thánh quả trong nỗi khổ tột cùng, niềm đau tột độ và sự hạnh phúc không thể nào có thể diễn tả được, nàng trở thành hiền nữ chính thống của bậc đại giác Thế Tôn. Chúng ta niệm danh hiệu Phật Pali để tưởng nhớ ân đức vĩ đại của tứ sanh từ phụ, tất cả những chúng sinh đau khổ tột cùng nhất quay trở về với ngài đều được cứu độ. Sau khi cô chứng được Dự Lưu thánh quả thì xin Đức Phật xuất gia, Đức Phật đưa cô vào chúng Tỳ-kheo Ni và cho phép xuất gia. Cô tinh cần, tinh tấn, nỗ lực tu hành.
"Rồi nàng tinh tấn tu hành, cố gắng thành đạt những quả vị cao hơn. Một hôm lấy nước trong bát rửa chân, khi nàng đổ nước, thời nước chảy đến một khoảng đường ngắn rồi biến mất. Nàng đổ thêm nước, và con đường nước chảy dài hơn, và lần thứ ba, nàng lại đổ nước và con đường nước chảy còn dài hơn trước khi biến mất. Dựa trên sự kiện này làm nền tảng suy tư, nàng nghĩ: 'Cũng vậy là loài Người, chết trẻ, chết nửa chừng và chết già'" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Lần đổ nước thứ nhất nước cái đường chảy nó ngắn giống như là một con người chết trẻ, lần đổ nước thứ hai cái đường chảy nước nó dài hơn được một chút giống như người chết trong giai đoạn trung niên, thiếu niên chết và lần đổ nước thứ ba nước chảy được dài hơn một chút giống như người già nhưng cuối cùng cũng chết. Thế Tôn nói rằng tất cả đều phải chết kết thúc trong sự chết và không thể vượt qua khỏi cái chết.
"Và đức Phật ở tại hương phòng của Ngài phóng hào quang, hiện lên trước mặt nàng và dạy rằng: 'Hỡi nàng Patàcàrà, như vậy là cuộc sống của loài Người, cuối cùng cũng phải mạng chung. Vậy tốt hơn là sống như thế nào để thấy sự sanh diệt của năm uẩn, dầu cho chỉ thấy được một ngày, hay chỉ một sát-na, còn hơn sống một trăm năm mà không thấy được sự thật ấy:
Người sống một trăm năm,
Không thấy pháp sanh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sanh diệt" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Cô suy nghĩ như vậy là đúng như vậy đó, cuộc sống của loài người là như vậy đó, chết trẻ, chết nửa chừng hay là chết già, tất cả rồi đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết và không thể vượt qua khỏi cái chết. Cuối cùng rồi cũng phải mạng chung, vậy tốt hơn là sống như thế nào để thấy được sự sanh sanh diệt diệt, sự tập khởi và sự đoạn diệt của năm thủ vẫn này. Con hãy nhìn thật sâu sắc vào tấm thân này, vào những cảm giác này, những suy tư này, những hình bóng trong tâm này, những nhận thức này, nhìn thật kỹ, lắng nghe sắc; thọ; tưởng; hành; thức thật kỹ để thấy được sự sanh diệt, sự tàn hoại, sự hủy hoại, sự tan nát, sự tan hoại của năm thủ uẩn.
"Khi Thế Tôn nói xong, Patàcàrà chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Nàng đoạn tận hoàn toàn lậu hoặc, phá tan vô minh, đoạn tận khát ái, sanh đã tận, phạm hạnh đã được viên thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái sầu, bi, khổ, ưu, não, tham, sân, si, vô minh và khát ái này nữa, nàng trở thành Thánh đệ tử tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Từ một con người đau khổ cùng cực, điên loạn, bây giờ người con gái ấy trở thành bậc Thánh nữ tối thượng trong chánh pháp.
Có ai muốn chia sẻ nỗi niềm về bậc thánh Tỳ-kheo Ni này chăng?
IV. Trình pháp
Sư Cô Ấn Đức: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ sư phụ tôn kính của chúng con, con chân thành đảnh lễ quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Conn được nghe thiền quán theo lời chỉ dạy, dẫn dắt của sư phụ, con có một cảm thọ rất là đau khổ khi nàng ấy chịu những sự đau khổ trên cuộc đời này, đau khổ nhất là khi nàng ở giữa dòng nước nhìn thấy đứa con mới sinh của mình bị con vật nó quắp đi, nó ăn, rồi đứa con ở bờ bên kia nghe mẹ thét lên thì tưởng là mẹ bảo mình xuống dòng nước nên đứa bé đã lao xuống dòng nước và bị cuốn trôi, rồi mẹ chết, cha chết, em chết, người chồng cũng bị rắn cắn chết.
Con rất đau khổ, cái tưởng của chồng con rất nhanh nó hiện về, con cũng hai lần sinh con nhưng mà con được người nhà lo lắng đưa con. Rất nhiều đau khổ trong đó, khi con mang thai đứa thứ hai thì con có bị ốm và bác sĩ cũng bảo là không nên để, con nói với chồng con lúc đó là để hay không để đấy là tùy, chồng con cho ý kiến thì chồng con bảo để. Chính vì vậy mà khi sinh con thì con rất lo lắng, trong cái tâm con lúc nào cũng hướng về đứa con, khi sinh ra thì con sẽ nhìn nó, khi nghe tiếng khóc thì con ngước đầu lên nhìn. Con rất là lo, không biết sinh ra bác sĩ bảo có thể nó sẽ không bình thường nhưng mà con rất vui vì khi mà nó vừa mới lọt lòng thì bác sĩ nói là một bé gái rất là xinh đẹp. Con cũng tưởng nhanh về đứa con trai của con, cháu sinh ra đối với con để được hưởng những cái niềm vui, chỉ khoảng 5 tuổi thôi mà cháu chỉ nhìn mặt mẹ lại cháu đã biết là "mẹ ơi có chuyện gì mà giờ con trâu mẹ ăn em buồn như vậy?".
Làng con rất là nhỏ, nghèo lắm, cái làng Vũ Đại lúc bây giờ có một đặc sản nổi tiếng đó là quả hồng không hạt, nó rất to, to gần như đã một cái ly uống nước của sư phụ vậy, bằng hai phần ba đấy và chỉ có cháu mới có thôi. Nhưng mà khi nó mang về thì nó bảo "mẹ ơi, con ăn rồi, đây là của mẹ, mẹ ăn đi", con cũng thấy rất là lạ, sao mọi người lại thương mình vậy, một cái đám giỗ chỉ có mấy quả hồng như vậy mà rất nhiều người nhưng sau đó thì chị con về mới bảo sao thằng bé không ăn đi mà lại để quả hồng ở đây. Con rất là xúc động, con có suy nghĩ rằng con rất là may mắn khi con sinh ra hai đứa con được lành lặn, thật là phước báu cho con khi mà con có những đứa con như vậy.
Còn nhiều cái tưởng, còn rất là hạnh phúc khi nàng đã được gặp Đức Phật, trong một cái sự đau khổ tột cùng, trở thành một con điên mà mọi người khinh rẻ. Con xúc động khi con nghĩ về Phật, sự hy sinh của ngài thật là vĩ đại, trí tuệ của ngài thật là vĩ đại, ngài là bậc giác ngộ nhất, không có ai so bì được với ngài, tâm thương của ngài bao la rộng lớn và thật may là nàng đã được gặp Đức Thế Tôn, được Thế Tôn thương xót và giảng pháp cho nàng.
Khi con nghe đến phần nàng được chứng quả Dự Lưu cũng như là chứng A-la-hán trong con khởi lên một cái niềm khao khát vô tận, con cũng đã chịu rất là nhiều đau khổ trong cuộc đời này, con bị tham lam, bị sân hận, bị cái sự ngu si, vô minh và bản ngã đè đầu cưỡi cổ, nó bao vây, nó vây hãm, con cũng đã làm nhiều ác nghiệp và con rất là may mắn khi con được biết được chánh pháp của Đức Thế Tôn. Con được tu tập theo những lời dạy của ngài, nhờ sự chỉ dạy của bậc đạo sư và sư phụ con rất hạnh phúc, con đã thấy được cuộc đời con đã thay đổi vận mệnh hoàn toàn.
Con rất hạnh phúc, từng ngày từng giờ con ở đây con tu tập với sự chỉ dạy của sư phụ, của quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng nơi này. Con rất là tin tưởng và con rất là quyết tâm, con rất là khao khát còn trở thành một người con ngoan của Đức Thế Tôn. Con rất là tin tưởng, con nhìn vào thân tâm của mình con thấy con đang thực hành theo lời dạy của Đức Thế Tôn, thân tâm con càng ngày càng an trú hơn trong Tứ niệm xứ, phải nói là con biết ơn sư phụ rất là nhiều.
Cho con nói thêm về sự vô minh của con, sư phụ thương xót chúng con, sao sự vô minh, ngu si của chúng con nó dày đặc đến đi như vậy, sư phụ bảo chúng con trình pháp viết bài mà chúng con không viết, vậy mà con thưa với sư phụ là sau mấy ngày quý thầy có dẫn chúng con vào thất của sư phụ để chúng con sám hối, lúc đó ý hành mới thấy rất là con vẫn vô minh, nói là nó ăn năn, hối cải như vậy nhưng mà đến lúc đó nó đã viết bài đâu.
Con nói thật con rất là đau khổ, trong buổi hôm đấy thì sư phụ nói là nếu sư phụ có chết đi thì ai dạy cho nên con đau khổ vô cùng, nhờ tình thương, tâm thương của sư phụ rộng lớn bao la như vậy mà cái tâm ngu, tâm mê của con đã được đánh thức và con đã viết bài trình pháp.
Con nói thật là chính nhờ bài trình pháp đó, bài viết nhật ký như vậy mà từ đó cho đến giờ phút này, con nghĩ từ giờ cho đến lúc chết con vẫn sẽ tu tập theo một con đường, đó là truyền thống của chánh pháp, truyền thống của các Đức Phật, đó là nhiếp phục và đoạn tận năm triền cái. Thưa sư phụ con rất là hạnh phúc, trong những ngày gần đây con thấy trí tuệ của con và sự an trú trong pháp của con được tăng trưởng lên rất nhiều. Mỗi khi con nghĩ về Đức Thế Tôn là con không thể cầm được nước mắt, ngài thật vĩ đại và những lời chỉ dạy của ngài rất thâm sâu, rất thần diệu.
Con xin tri ân công đức của Đức Thế Tôn, của tam bảo và thánh giới, con xin tri ân công đức của các quý thầy, quý cô ở đây đã chỉ dạy cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Rất là tốt. Lành thay! Lành thay!
Ni sư: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ sư phụ, quý thầy, quý Ni sư cùng các bậc hiền trí. Sáng nay con được sư phụ cho thiền quán về một vị Thánh Ni, cảm thọ của con thật là xúc động, hình ảnh của vị Tỳ-kheo Ni hiện ra trong con một người đã đi đến cái nỗi khổ cùng cực thì con nhớ đến Đức Phật nói về khổ thánh trí làm cho con rõ ràng ra. Nhưng vì lòng thương tưởng của Đức Thế Tôn ngài đã cứu độ cho vị Tỳ-kheo Ni ấy và con thiền quán từ vô thủy con cũng như vị ấy, con cũng đã điên đảo, cũng đã lặn hụp cho đến ngày hôm nay. Nhờ con nghe được thánh pháp của Đức Thế Tôn qua sự chỉ dạy của sư phụ con mới được tu tập.
Tỳ-kheo Ni sau khi nghe Đức Phật giảng thuyết, ngài ân cần tinh tấn tu tập và chứng quả thì hình ảnh của bậc Thánh Ni đã hiện ra trong con, đứng trước mặt con, con xúc động vô cùng. Còn con tu tập cũng chưa được tinh tấn nên kể từ giờ phút này con phải học theo đức hạnh của ngài, ngài là tấm gương sáng để soi sáng cho con tiếp tục trên bước đường tu học. Con xin thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, con xin thành kính đảnh lễ vị Thánh Ni, con xin thành kính sư phụ đã vì lòng thương tưởng mà sách tấn cho Ni chúng chúng con qua hình ảnh của một vị thánh ni sáng hôm nay. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Đảnh lễ tôn giả Patàcàrà.
Đảnh lễ Thánh Tỳ-kheo Ni Patàcàrà.
Đảnh lễ bậc Thánh đệ tử tối thượng Patàcàrà.
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính bạch sư phụ, con xin kính bạch toàn thể quý chư Tăng, chư Ni và các bậc hiền trí. Con xin được trình bày cảm thọ của con khi nghe sư phụ giảng Tỳ-kheo Ni con rất xúc động, con cũng nhận thấy được mình đang sống trong vô minh, dục ái, tham, sân, si, bản ngã và con thấy thân này giống như cái bao. Đức Phật có nói cái bao hai đầu trống chứa đựng đậu, mè, lúa, các loại hạt và con thấy khi ăn cũng giống như đang làm việc. Đưa thức ăn vô rồi nó ra cái đường dưới y như là một cái bao đậu, một cái bao trống mà Đức Phật thí dụ cho cái thân này. Dạ, con xin hết. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô Hiền Hạnh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin được cung kính đảnh lễ trên bậc ân sư tôn kính, con xin được cung kính đảnh lễ quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và toàn thể các bậc hiền trí. Trong suốt bài giảng sáng nay con có một cảm thọ cực kỳ đau khổ, con như cảm nhận nỗi đau cùng với vị Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật bởi nỗi đau phải xa lìa người thân của mình. Chỉ trong một ngày mà vị Thánh trải qua niềm đau mất đi rất nhiều người thân, những người mà vị Thánh yêu thương, có lẽ dùng ngôn ngữ của thế gian cũng không thể nào diễn đạt được nỗi đau tột cùng này, bởi chỉ những ai có được sự thâm tình thì mới có thể hiểu hết được niềm đau nỗi khổ khi phải chứng kiến cảnh mình phải xa lìa người thân.
Trong bài kinh cũng có nói là ngài điên loạn thì quả đúng trạng thái tâm của một người khi thật sự trong tình thương mà phải đột ngột mất đi người thân cùng một lúc thì hoàn toàn có thể xảy ra. Con nhớ lại khi mà con mất đi mẹ con mà con còn bị trầm cảm, con không thoát ra được nỗi khổ niềm đau ấy huống chi là ngài cùng một lúc chứng kiến bao nhiêu người thân của mình rời xa ngài thì làm sao ngài có thể chịu đựng nổi, cũng rất may mắn là ngài được gặp Đức Thế Tôn để ngài thoát ra được cái nỗi khổ niềm đau.
Con cũng được phút duyên lành như ngài, ngay giây phút mà con tận cùng trong đau khổ thì cũng chính những lời dạy của Đức Thế Tôn đã cứu cuộc đời con. Con thoát ra được trạng thái tận cùng của đau khổ, niệm tri ân sâu sắc mà con cảm nhận được trong giá trị tối thượng, trong những lời dạy của Đức Thế Tôn là thật sự đáng trân quý, đáng trân này và là niềm tri ân thật là sâu sắc đối với chúng con khi đã cách ngài đến gần 2.600 năm mà chúng con được lắng nghe những lời dạy từ kim khẩu của Đức Thế Tôn, được sự truyền trao trên mặt bậc ân sư tôn kính thì niềm diễm phúc này thật là lớn lao đối với chúng con.
Trong giây phút mà con mất đi người thân của mình thì giống như là một người không biết bơi mà rơi xuống chìm trong cái biển mênh mông, giáo pháp của Đức Thế Tôn như chiếc phao đã cứu vớt sinh mạng cho con. Chẳng những thế mà còn được chiếc thuyền từ tâm của ngài cứu giúp để con được lên chiếc thuyền từ tâm ấy, con được bình an và con đường an ổn thì quả là phúc báo lớn cho cuộc đời của chính con.
Trong bài thiền quán thì con chỉ có một tâm niệm, ước nguyện duy nhất trong giây phút đó là con mong cho giáo pháp của Đức Thế Tôn sẽ mãi mãi cửu trụ vững chắc trên thế gian này để có thể giúp cho tất cả những con người đau khổ gặp được giáo pháp của Đức Thế Tôn, lắng nghe và thực hành được theo lời dạy của Đức Thế Tôn để có thể chấm dứt khổ đau trong dòng sanh tử luân hồi trầm luân khổ ải này.
Trong giây phút đó con chỉ có một ước nguyện là mong cho giáo pháp của ngài được trụ vững trong tâm của tất cả chúng sanh, bởi có như thế thì mới có thể cứu giúp được tất cả chúng sanh trong biển khổ trầm luân. Đó là cảm thọ xuyên suốt trong bài giảng của sư phụ, con xin được kính trình lên sư phụ cùng với quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
V. Bài kệ chứng đạo
Sư Phụ: Khi nàng chứng được quả A-la-hán thì nàng suy tư đến quả chứng của mình rồi nàng nói lên bài kệ. Đây là chứng đạo kệ của Thánh Ni.
"Suy tư đến quả chứng của mình, khi còn là một học nữ, nàng tán thán sự kiện đã giúp nàng chứng được quả vị cao hơn, và nàng nói lên bài kệ:
Với cây, cày ruộng đất,
Gieo hột giống trên đất,
Loài Người được tài sản,
Nuôi dưỡng vợ và con.
Sao ta, giới đầy đủ
Làm theo Ðạo Sư dạy,
Lại không chứng Niết-bàn,
Không nhác, không dao động.
Khi ta đang rửa chân,
Làm cho dòng nước chảy,
Thấy được nước rửa chân
Từ cao chảy xuống thấp,
Nhờ vậy, tâm được định,
Như ngựa hiền khéo luyện.
Rồi ta cầm cây đèn,
Bước vào ngôi tinh xá,
Nằm trên chiếc giường nhỏ,
Ta nhìn quán ngọn đèn.
Rồi lấy cây kim nhỏ,
Dìm tim đèn xuống dần,
Thấy cây đèn Niết-bàn,
Tâm ta được giải thoát" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVII.) Patàcàrà)
Trên đây là bài kệ chứng đạo của Thánh Ni Patàcàrà, ngài nói rằng người ta cài ruộng, gieo hạt giống thì người ta sẽ thu hoạch được nông sản để nuôi dưỡng vợ con. Những người nông dân làm vườn, làm rẫy, làm ruộng, sau khi làm xong thì ta sẽ được thu hoạch nhưng mà tại sao ta đầy đủ giới, được học pháp với Đức Thế Tôn mà sao ta không chứng Niết-bàn dù ta vẫn siêng năng, tâm không có dao động. Ngài suy nghĩ như vậy, tại sao người nông dân, nông phu cày ruộng, làm vườn, làm rẫy, người ta thu hoạch mà tại sao ta tu cũng giữ giới, ta cũng siêng năng, tinh tấn, tâm ta cũng an định nhưng mà tại sao ta lại không chứng được Niết-bàn, không đoạn tận được tham, sân, si.
Một hôm ngài đang rửa chân thì ngài thấy dòng nước chảy như vậy, ngài quán chiếu cuộc đời con người chết trẻ, thiếu niên chết, trung niên chết hay là lão niên chết, tất cả đều kết thúc trong sự chết, đều phải chết và không thể vượt qua cái chết, như vậy tâm ngài được định ở trong định tướng của niệm tử. Sự quán chiếu đó được tâm tập trung tâm ý vào hình ảnh đó được giữ lại, cất lại, được quán chiếu thường xuyên. Mình đọc trong Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ thấy họ đắc đạo nhanh lắm nhưng không phải vậy, đó chỉ là kể tóm tắt thôi, còn sự tu của ngài đâu có kể gian khổ như thế nào. Mình nghĩ thời Đức Phật sao mà nhanh lên chứng đắc đạo quả quá, sao giờ mình tu hoài không được, đó là do người ta kể vắn tắt, người ta không có kể đầy đủ.
Ngài cầm cây đèn bước vào nơi tịnh xá, đây là một cái thời gian khác, một khoảnh khắc khác nữa, ngài nằm ở trên cái giường nhỏ nhìn quán ngọn đèn tức là ngài thấy cái gì ngài cũng thiền quán, từ cái rửa chân, từ cái thấy cái ngọn đèn dầu, tim đèn cháy dần thì ngài lấy cái cây kim nhỏ dìm cái tim đèn xuống. Bởi vì chúng ta đốt đèn dầu thì chúng ta đốt bằng dầu với lại tim đèn, đốt một thời gian cái tim này nó bị cháy, bây giờ ngài mới lấy cây kim dìm tim đèn xuống thì ngọn lửa tắt. Ngài thấy cái đèn Niết-bàn thì Niết-bàn ở đây chính là ngọn lửa tắt, Niết-bàn có nghĩa là dập tắt, ngay lúc đó tâm ta được giải thoát.
VI. Tìm hiểu đời sống Chư Tăng thời xưa
Như vậy không phải chỉ dừng lại ở chỗ quán nước chảy rửa chân mà còn tiếp tục quán về cây đèn, thành ra mình nghe cái này để mình hiểu rằng các bậc Thánh xưa rất là gian khổ, rất là tinh cần, tinh tấn, khổ hạnh, khổ luyện, khổ tu, kiên trì, bền chí, biết bao nhiêu chướng ngại, chông gai cho nên mình đừng nghĩ rằng đọc vào mấy chữ đã thấy chứng Thánh, đó là kể vắn tắt thôi.
Các ngài thường sống ở trong tâm định tuệ chỉ quán, một là các ngày an trú cái tâm an định, tịnh chỉ ở trong hơi thở, hay là cảm giác toàn thân, hay là những cái định tướng và triển khai thiền quán mọi lúc mọi nơi. Cho nên sau này chúng ta sẽ học nhiều lắm, đặc biệt lắm, có vị Tỳ-kheo Ni buồn chán, ngài treo cổ tính tự vẫn vì tu mãi không tiến, khi ngài đưa cái đầu vô cái thòng lọng lúc đó chuẩn bị siết là lúc đó ngài đoạn tận chứng quả ngay tại chỗ đó. Có những vị tu 25 năm mà cái ái dục nó hành hạ suốt, 25 năm xuất gia mà không đoạn được cho đến năm thứ 25, tận cùng luôn thì lúc đó ngài diệt được dục ái, khát ái và chứng được đạo quả cao thượng của người xuất gia.
Chúng ta thấy rằng không đơn giản như mình nghĩ mà các ngài cũng gian khổ, cũng khó khăn, trầy trật, cũng phải chiến đấu, không có một cái kết quả nào mà dễ dàng. Gọi là trò chơi cũng lắm công phu, bây giờ muốn tạo ra một buổi lễ cũng phải chuẩn bị rất nhiều chứ đừng nói chi bậc Thánh cho nên sự tu hành chúng ta, những cái tấm gương này chính là những bài học rất là lớn, rất là sâu, rất là sáng, rất là vững chắc để đưa vào cái cảm thọ chúng ta, đánh động suy nghĩ, nhận thức, cảm thọ, nhất là trong mùa an cư kiết hạ này, làm sao phải cố gắng Nhập Lưu, tối thiểu phải đoạn tận các lậu hoặc A-la-hán. Phải đặt cho mình cái đề mục như vậy, quyết tâm như vậy để mình dồn tất cả tâm lực, nghị lực, sức lực, hạnh lực, nguyện lực, đạo lực. Khi mình tu xong đi lúc đó mình khỏe rồi, không còn khổ hoài như vậy nữa, khổ một lần thôi thì nó sẽ đi đến chỗ đại an lạc, đại giải thoát.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.