Tỳ Kheo Ni Thời Đức Phật 2 - Người Ăn Xin Chứng A La Hán
Kinh Nikāya Thiền Quán
Tỳ-Kheo Ni Thời Đức Phật 2
Người Ăn Xin Chứng A-La-Hán
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trưởng lão Ni Patàcàrà PAGEREF _Toc156663131 \h 1
II. Người ăn xin chứng Thánh Quả PAGEREF _Toc156663132 \h 8
III. Tùy thuộc của Patàcàrà PAGEREF _Toc156663133 \h 13
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc156663134 \h 17
I. Trưởng lão Ni Patàcàrà
Sư Phụ: Kính bạch chư tôn hiền đức và các chư vị hiền trí, tối nay chúng ta tiếp tục nghe những tấm gương của các bậc Thánh Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật. Có rất nhiều hoàn cảnh, có rất nhiều mảnh đời, có rất nhiều sự vấp ngã, sự nghiệt ngã trong cuộc sống nhưng các vị trưởng lão Tăng hoặc là trưởng lão Ni khi gặp được Đức Thế Tôn đều thành tựu thánh trí, thành tựu thánh đạo, thành tựu thánh giải thoát.
Có những cô gái là kĩ nữ đi theo ngài Mục-kiền-liên về đến Tinh Xá để quyến rũ nhưng ngài Mục-kiền-liên thuyết pháp độ cho vị này xuất gia, cuối cùng vị này trở thành Thánh Ni A-la-hán, có những vị già lớn tuổi, đi không nổi chống gậy leo lên núi Linh Thứu, một tay thì cầm đại y quàng trên cổ, một tay ôm cái bình bát, cầm không có nổi nữa nên cầm bình bát ngược xuống luôn. Vừa chống gậy, vừa thở hổn hển, vừa quàng đại y trên vai.
Chắc chắn là các ngài vừa đi vừa triển khai thiền quán, lúc nào các ngài cũng sống ở trong thân, thọ, tâm, pháp, cũng an trú trong Tứ niệm xứ cho nên khi ngài mệt quá thì đi tìm chỗ nghỉ, ngã cái lưng xuống tảng đá để cái đại y trên cây gậy trúc. Ngay lúc đó ngài đoạn tận dục lậu, hữu lậu, chứng đắc Thánh quả tối cao, đó là những Ni trưởng rất là già, rất là lớn tuổi, bệnh hoạn, có nhiều vị bệnh rất nặng, nhiều bệnh chúng ta nghe chúng ta sẽ rất xúc động, rất là cảm động, chúng ta về nên đọc và sắp tới đây là chúng ta sẽ được tụng những cái bài đó. Tụng và chiêm nghiệm, thiền quán và chia sẻ những cảm xúc của mình trước những tấm gương vĩ đại của các nữ lưu, có nhiều hoàn cảnh đặc biệt lắm.
Lúc sáng chúng ta đã nghe về ngài Thánh Ni Patàcàrà, sau này ngài độ cho rất nhiều vị Thánh Tỳ-kheo Ni, các đệ tử của ngài trở thành Thánh Ni, ba chục vị nữ sau khi được nghe pháp của ngài thì đắc Thánh quả hết. Mình nói nôm na theo thế gian là một kẻ điên khùng, một bà điên, một con điên nhưng khi gặp Đức Phật là trở thành một vị Thánh. Từ một kẻ khùng trở thành vị Thánh sau khi gặp bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, qua đây chúng ta được thấy lợi ích, công đức, phước báo vĩ đại của việc mong cầu sanh ra được gặp Đức Phật. Đương nhiên sự tu tập của các ngài cũng đã chín muồi, những công đức, những trí tuệ hay là các Ba-la-mật nhưng nếu không gặp Đức Phật cũng không thể đoạn tận các lậu hoặc.
Giờ này Ni sư cũng chưa hết xúc động, con nói tới đó con cũng xúc động, chúng ta phải mở bài lúc sáng tiếp tục thiền quán trong mùa an cư này ở bên Ni chúng. Mở cái bài đó tiếp tục thiền quán ít nhất là 3 buổi, tận cùng cái đau khổ cho nên học kinh đừng có học xong rồi hết, học như vậy là không phải học kinh, học như là học bài ở ngoài đời, học kinh là học cho tới chừng nào mình thể nhập, mình chứng đắc cái trí tuệ đó, phải biết cách học kinh.
Mình làm gì cũng nhớ câu chuyện đó, mình gặp mấy cái chuyện khổ nhỏ thì mình nói "cái này đồ bỏ, mấy cái này không đáng là gì với các bậc Thánh. Các bậc Thánh đã từ bỏ chúng", mình có một cái động lực lớn mạnh như vậy trong tâm mình, mình xem những cái được mất, hơn thua của thế gian này là những cái nùi giẻ, là những cái đóng rác, là những cái cục phân, là những cái đồ quăng đi.
Nếu mình không có tác ý, không có định tướng, không có pháp quán, không có đề mục thì mình sẽ sống trong buông lung, bản ngã, dục ái. Đụng tới là bên trong phùng mang trợn mắt lên, đụng tới là tôi ta, khi mình có đề mục, có thiền quán, có định tướng, có sự an trú tâm vào trong Bốn Niệm Xứ, có sự an trú tâm vào bốn thánh trí của khổ thì các pháp bên ngoài rất là khó xâm nhập. Chúng ta có được một chân đứng, có được một cái trụ đá vững chắc ở trong tim của mình, trong tâm của mình đối với thánh pháp, thánh trí huệ, còn không buông ra là mất liền, đụng chuyện là thấy được liền.
"Trong thời đức Phật hiện tại, chúng sanh trong nhiều gia đình sai khác, được nghe Patàcàrà thuyết pháp, trở thành tín nữ và cuối cùng xuất gia. Trong khi họ làm trọn những phận sự của mình, và sống đầy đủ giới hạnh, nàng thuyết cho họ lời giáo huấn như sau:
Loài Người trong tuổi trẻ,
Cầm chày giã lúa gạo,
Loài Người được tài sản,
Nuôi dưỡng vợ và con.
Hãy hành lời Phật dạy,
Không làm gì nhiệt não,
Rửa chân thật mau lẹ,
Hãy ngồi xuống một bên,
Chú tâm tu tâm chỉ,
Làm theo lời Phật dạy" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVIII). 30 Tỳ-kheo Ni Tuyên Bố Về Chánh Trí Dưới Sự Lãnh Đạo Của Patàcàrà)
Chánh Trí tức là bậc A-la-hán. Khi ngài trứng đắc thánh quả xong rồi, ngài đoạn tận tham, sân, si xong rồi thì ngài mới là trở thành một bậc thông luật đệ nhất ở trong hàng Thánh Ni, Thánh đệ tử Ni thời đó, gọi là bậc thông luật đệ nhất. Ngài thường xuyên giảng pháp, thuyết pháp, các cô thiếu nữ hay là những người phụ nữ nghe pháp của ngài rồi phát tâm quy y tam bảo, làm cư sĩ tại gia, giữ đầy đủ giới hạnh. Ngài thường nhắc nhở các vị tín nữ, cư sĩ phải cố gắng thực hành lời Phật dạy, đừng có nói, nghĩ và làm theo chiều hướng nóng bức, nhiệt não, thiêu đốt, cần để cho cảm thọ của mình bức xúc, bực bội, thiêu đốt, đốt cháy, nhiệt não.
Hãy rửa chân thật là mau, lẹ hãy ngồi xuống một bên, rửa chân cho mau và ngồi xuống để chú tâm, tu tâm chỉ, tịnh chỉ các hành, dừng lại những cái thúc giục, những cảm giác thèm khát, đòi hỏi, tìm kiếm, chạy đuổi, truy tầm, dừng lại, đình chỉ lại, làm theo lời Phật dạy tức là triển khai thiền quán đoạn tận những cái tham, sân, si, dục ái, vô minh.
"Rồi các Tỳ-kheo-ni ấy, nghe theo lời dạy của Patàcàrà, an trú trên thiền quán, tu tập trí tuệ cho đến khi căn cơ thuần thục, chứng được quả A-la-hán, với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVIII). 30 Tỳ-kheo Ni Tuyên Bố Về Chánh Trí Dưới Sự Lãnh Đạo Của Patàcàrà)
Chúng ta đọc ở trong Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ để chúng ta mới thấy được cái gốc, tất cả là tu thiền quán. Lúc đầu ngài dặn là chú tâm tu tâm chỉ, đó là cái giai đoạn đầu, cố gắng dừng cái thân, dừng cái tâm này cho nó an tịnh, lắng dịu để cho nó những cái thô lắng xuống, dịu xuống. Các vị này an trú ở trên thiền quán tu tập trí tuệ cho đến khi căn cơ thuần thục chứng quả A-la-hán, pháp tín thọ, nghĩa tín thọ.
Thọ chính là sự thọ nhận lòng tin về chánh pháp gọi là pháp tín thọ, thọ nhận lòng tin về nghĩa lý ở trong chánh pháp là nghĩa tín thọ thành ra cái chữ thọ đây là quan trọng. Chúng ta nghe pháp mà chúng ta có sự cảm xúc, có sự cảm động, có sự chấn động mạnh, có sự rung cảm, thậm chí là nổi da gà hay là mình rợn người, hoặc là trào dâng nước mắt, cái đó là thọ. Trong Tương Ưng Bộ, nhất là trong Trưởng Lão Ni Kệ này sẽ dùng từ "xúc động mạnh", từ đó là chỉ cho chấn động, cảm động, mà phải có thọ thì mới có cảm, không có thọ thì sao có cảm.
Thọ tức là mình nhận được cái nghĩa lý ở trong pháp, nhận được cái ý ở trong pháp, chân lý, sự thật trong pháp chạm tới trái tim của mình, chạm vào nỗi đau của mình, chạm vào những cái vô minh sâu lắng ở bên trong, những cái khói đen được bùng vỡ ra, bùng nổ ra, được bẻ ra, được vỡ ra, nó được nổ ra, bị phá nát, phá tan cái khói vô minh, si ám bên trong. Nó làm cho mình rung chấn, chấn động, chấn cảm, kinh chấn, đó là pháp tín thọ, nghĩa tín thọ.
Từ khi chúng ta hiểu pháp chúng ta mới có cái niềm tin, chúng ta hiểu cái nghĩa của pháp thì chúng ta càng có niềm tin, chúng ta niềm tin như vậy rồi mới tới tùy pháp, hành pháp. Hành pháp, tuỳ pháp là sống chân chính trong chánh pháp thì mới trở thành vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Như Lai. Như vậy là 30 vị này chứng đắc chánh trí, chánh giải thoát hết, bây giờ mình tìm được vị A-la-hán thôi chánh pháp rực sáng trên địa cầu.
"Rồi suy nghĩ trên quả chứng, họ phấn khởi sung sướng và họ thêm vào các bài kệ của Patàcàrà với những bài kệ của mình:
Sau khi nghe lời dạy,
Lời Patàcàrà,
Sau khi rửa chân xong,
Họ vào ngồi một bên,
Chú tâm tu tâm chỉ,
Làm theo lời Phật dạy.
Trong đêm canh thứ nhất,
Họ nhớ đời quá khứ
Trong đêm canh chặng giữa,
Thiên nhãn được thanh tịnh,
Trong đêm canh cuối cùng,
Khối si ám phá tan.
Đứng dậy họ lễ chân,
Vị giáo giới cho họ,
Như Chư Thiên ba mươi
Ðảnh lễ vị Sakka,
Vị không bị đánh bại,
Ở lại chỗ chiến trường,
Đặt Patàcàrà,
Vào hàng bậc lãnh đạo,
Chúng tôi sẽ được sống,
Ba minh, không lậu hoặc" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVIII). 30 Tỳ-kheo Ni Tuyên Bố Về Chánh Trí Dưới Sự Lãnh Đạo Của Patàcàrà)
Các vị này lấy bài kệ của sư phụ họ là Patàcàrà rồi gắn thêm những bài kệ của mình ở phía sau, lấy đó làm chứng đạo kệ, chứng ngộ kệ, ba mươi vị Thánh Ni này đều chứng tam minh hết. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Canh thứ nhất các vị đó nhớ được đời quá khứ là túc mạng minh, trong đêm canh chặn giữa thiên nhãn được thanh tịnh thấy được tất cả những đời sống của vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh từ vô thỉ kiếp, gọi là thiên nhãn minh trong, đêm canh cuối cùng khối si ám phá tan là lậu tận minh. Khối si ám là cái tâm ngu si, cái tâm vô minh, cái tâm si ám, cái tâm ám độn, cái tâm ngu muội, cái tâm dại khờ, cái tâm nắm vào trong hình hài này, trong những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này, cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình.
Mình đã yêu thích nó, khao khát, thèm khát nó, đói khát nó, nó bám níu ở trong này, nó không buông ra, nó ưa, nó thích, nó khoan, nó khoái, nó tưởng, nó nhớ, nó thèm, nó khát thì lúc bấy giờ khối si ám phá tan. Cái tâm mê đó bị phá một cách hoàn toàn, không còn một chút nào nữa hết gọi là lậu tận mình, một chút mê lầm bằng hạt cát cũng không còn nữa.
Cho đến khi nào mà chúng ta nhìn tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không còn một chút nào mình ưa thích trong đó, mình thèm khát trong đó nữa, không còn dục ái trong đó nữa thì lúc đó chúng ta nhổ sạch mũi tên khát ái. Bình thường hằng ngày, hàng giờ, nhận diện thọ; tưởng; hành là mình biết được mình còn nhiều hay ít, không có khó, cái tâm mình còn yêu thích mình có biết không, cái tâm mình bớt yêu thích mình có biết không? cái tâm mình hết yêu thích với món nào mình có biết không. Cho nên tu cái này theo Đức Phật là biết hết chứ không phải không biết, tu những pháp khác thì không biết, tu tới đâu cũng không biết, phải đợi người khác ấn chứng, còn tu cái này không cần đợi người khác ấn chứng, tự mình biết.
Khi mình nhìn một cái sắc, một con người, một cảnh vật hay là một món đồ thì yêu thích trong đó hay không, nội tham có hay không mình biết là ở bên trong mình có tham hay không. Mình phải biết và mình biết như vậy không phải là đủ, có nhiều cấp độ lắm, một là có tham mà mình không biết, lúc đó mình không nhận diện ngũ uẩn nên không biết đây, là cấp độ của vô văn phàm phu. Thứ hai là mình biết ở bên trong mình có tham, nội tham có mặt nhưng mà mình phớt lờ, mình bỏ qua, tức là mình biết có tham nhưng mình không trừ diệt. Cấp độ tiếp theo là mình có trừ nhưng trừ yếu ớt chứ không có quyết liệt, không có thẳng tay, không có trừ 100%, không có trừ diệt tuyệt đối.
Chính cái tâm đó mới không đi đến chỗ lậu tận, không có đoạn tận tham, thậm chí bên trong mình là tự thể ái và cảnh giới ái, tức là trong đó có một sự yêu thích ngấm ngầm, không có muốn bỏ. Nó biết rằng cái này là khổ, cái này là nguyên nhân của khổ nhưng bên trong nó vẫn còn một sự tiếc nuối, tức là nửa muốn bỏ nửa muốn không, chỗ này là chỗ mình cần tu, tức là có khi nó tỉnh táo, nó sáng thì nhất định là phải bỏ nhưng mà có lúc mờ mờ thì nó không muốn bỏ, phân vân giữa bỏ và không bỏ, do cái tâm chưa xác quyết nên chưa Nhập Lưu. Khi nào tâm mình xác quyết 100% bỏ và cái bỏ này không bao giờ dao động nữa thì lúc đó là Nhập Lưu, mình còn tiếc nó tức là mình vẫn còn muốn khổ.
Tại sao chúng ta cứ nghe pháp, tại sao chúng ta cứ thiền quán, tại sao chúng ta cứ tác ý, thậm chí là mình tác ý không nổi phải nhờ bài tác ý nhắc phụ mình, là mình cứ nhắc hoài như vậy thì lần lần trí tuệ đó sẽ thể nhập vào. Cũng như mình học bài vậy đó, lúc đầu bài thơ đó là bài thơ của nhà thơ, khi người ta đọc lên thì nghe hay quá, khi mình học thuộc bài thơ đó rồi mình đọc ra đó thì người ta thấy mình đọc thơ hay quá chứ đâu có nói là nhà thơ đọc đâu, nó giống như là bài thơ của mình. Khi mình học thuộc mà mình trình bày, hay là bài nhạc cũng vậy, nhạc sĩ tại sáng tác nhưng mà người hát được vỗ tay nhiều hơn, cũng vậy, cái pháp là của Đức Phật chứng ngộ, nó giống như là một bài sáng tác là của tác giả đó nhưng mà người nào thể nhập cái pháp đó thì người đó thành tựu.
Khi mà mình đã nhớ trí tuệ đó luôn rồi, không có quên nữa, thì lúc đó là mình thành tựu cái thánh trí tuệ đó. Bây giờ khi mình đối diện với sắc, hình hài này, cảnh vật này, những con người này, mình phải luôn luôn để ý diệt trừ cái tâm yêu thích, ham muốn tại vì cái yêu thích, ham muốn đó chính là cái mầm mống tái sanh và của chiếm hữu, sở hữu, tư hữu và đó cũng chính là con đường dẫn đến khổ đau. Bởi vì những cái đó là thứ vô thường, nó tan nát, hủy hoại, hoại diệt và lúc đó mình sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não đó là nói ngoài, bây giờ sâu vô là tự thân mình còn yêu thích nhiều ít, tự mình biết hơn ai hết không cần hỏi "thầy nói giùm con coi bây giờ con còn yêu thân con nhiều không?", làm sao bằng chính mình thấy?
Sâu vô nữa là thọ; tưởng; hành; thức ở bên trong, mình có yêu thích cảm thọ đó không, những hình bóng trong tâm mình có yêu thích không, những lời nói lầm thầm trong suy nghĩ mình có yêu thích không, mình có cho đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi không, những cái nhận thức này là chỗ thâm sâu, đó cũng là chỗ để phân định thánh phàm, tâm mê và tâm giác, cũng chính là chỗ có sự khác biệt giữa Đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu là ở chỗ đó.
Ba mươi vị Tỳ-kheo Ni đứng dậy lạy dưới chân tôn giả Patàcàrà, ở đây người ta nói chung vậy nhưng mà có thể là vị này lạy rồi tới vị kia chứ chưa hẳn là một lượt 30 vị lạy, 30 vị lạy dưới chân tôn giả Patàcàrà giống như chư thiên ở trời 33 đảnh lễ hằng ngày vua trời Đế-thích, tôn giả Patàcàrà được tôn giống như một bậc thượng thủ, là bậc đại Thánh. Các vị này đồng là Thánh Ni, đồng là A-la-hán hết nhưng ngài Patàcàrà là bậc đại Thánh, là bậc thầy để hướng dẫn cho các vị này trở thành Thánh cho nên mới tôn là hàng lãnh đạo. Vậy là sáng giờ chúng ta xuyên không về thăm các bậc Thánh đệ tử tối thượng trong hàng Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật.
II. Người ăn xin chứng Thánh Quả
Có một cô nhà rất nghèo, đói không có đồ ăn nên phải đi tìm thức ăn, xúc động lắm.
"Trong thời đức Phật hiện tại, nàng làm con một vị Bà-la-môn, ít được người biết đến, tại một làng Bà-la-môn. Từ lúc nhỏ, gia đình bị mất hết tài sản, và nàng lớn lên trong điều kiện rất thiếu thốn" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLIX). Candà)
Nàng là con của một vị Bà-la-môn ít được người biết đến tại một cái ngôi làng nhỏ trong vùng quê hẻo lánh, từ lúc nhỏ gia đình bị mất hết tài sản, phá sản, khánh kiệt tài sản, gia đình vỡ nợ, bị người ta lấy hết tài sản trong gia đình và nàng lớn lên ở trong điều kiện rất là thiếu thốn, nhà rất nghèo thiếu. Các vị nào ngồi trong đây đúng tình trạng này thì triển khai thiền quán. Lúc đó có một cái bệnh nổi lên.
"Trong gia đình, một bệnh thời khí phát ra giết hại cả nhà, và nàng phải đi xin nhà này qua nhà khác với một cái bát vỡ. Một ngày kia, nàng đến chỗ Tỳ-kheo-ni Patàcàrà khi vị này vừa ăn xong. Các Tỳ-kheo-ni thấy nàng trong tình cảnh đáng thương hại, tiếp nàng với lòng từ mẫn và cho nàng ăn. Sung sướng được thấy hạnh phúc tốt đẹp của các Tỳ-kheo-ni, nàng đến gần Patàcàrà, đảnh lễ, nàng ngồi xuống một bên để nghe pháp. Nàng nghe với tâm hồn phấn khởi, và lo lắng vì kiếp sống luân hồi, nàng xuất gia. Nàng theo lời giáo giới của vị Tỳ-kheo-ni, nàng an trú thiền quán, nhiệt tâm tinh cần. Rồi với nghị lực và lời phát nguyện và sự chín muồi của trí tuệ, không bao lâu nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLIX) Candà)
Giống như dịch bệnh, nổi lên một cái thứ bệnh thì lúc đó cả nhà nàng chết hết, cô này đi xin ăn. Đầu tiên là gia đình bị người ta giật hết tài sản, phá sản, đổ nợ, kế đó là nổi lên dịch bệnh cả nhà chết hết, cô nàng này trở thành một kẻ đi ăn xin từ nhà này qua nhà khác với một cái bát bể, cái bát vỡ, cái bát cũng được nguyên vẹn, cầm cái bát bể đi xin ăn giống như Việt Nam mình là cầm cái gáo dừa đi ăn xin. Một ngày kia cô đi đến đúng chỗ của Tỳ-kheo-ni Patàcàrà.
Thật là may mắn vô cùng cho cô!
Thật là phúc báo cho cô!
Thật là lợi ích cho cô!
Vô tình cô này đi đến chỗ của Tỳ-kheo-ni Patàcàrà, các Tỳ-kheo Ni thấy cô trong tình cảnh đáng thương hại, đương nhiên là quần áo lam lũ, dơ bẩn, nghèo đói cơ hàn, đi lang thang cầm cái bát bể chìa ra đi xin, chúng ta có thể dùng thọ; tưởng; hành của mình quán tưởng cái cảnh đó, đặt mình vào trong tình cảnh khốn khổ đó, cả nhà bị bệnh chết hết, chúng ta cứ hiểu nôm na như dịch bệnh vừa rồi. Trước đó gia đình bị phá sản, đổ nợ, bị giật hết tiền bạc, kế đó cả nhà rơi vào tình trạng dịch bệnh chết hết, chỉ còn một mình cô đi lang thang từ nhà này đến nhà khác cầm cái bát bể đi xin ăn. Nhưng cũng thật là may mắn, phước báo, lợi ích cho cô khi cô đến ngay chỗ của tôn giả Patàcàrà vừa dùng cơm xong, mọi người cho cô ăn.
Đương nhiên là vừa đói vừa khát mà được các sư cô cho ăn, thật là ấm áp, thật là ngọt ngào, các sư cô với tâm từ mẫn, hiền lành giống như Ni chúng tại Linh Quy chúng ta, các bậc Thánh Ni một cái tâm từ mẫn, một tình thương vô hạn, bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng tất cả tấm lòng lân mẫn đối chúng sanh đang cơ hàn, đói lạnh, nghèo khổ, ăn xin như vậy thì cô nàng này sung sướng vô cùng và hạnh phúc tốt đẹp của các Tỳ-kheo Ni.
Nàng đến gần tôn giả Patàcàrà và lạy dưới chân của tôn giả, ngồi xuống một bên và nghe tôn giả Patàcàrà thuyết pháp, nàng nghe với một tâm hồn phấn khởi và lo lắng vì kiếp luân hồi. Thật là hạnh phúc! Thật là vui sướng! Thật là an lạc! Thật là ngọt ngào! Thật là ấm áp với tình thương của bậc Thánh giống như là giữa đêm đông giá lạnh mà được một cái chăn, một cái áo ấm.
Đối với tình thương của các bậc Thánh Ni, Thánh Tỳ-kheo Ni trong Tinh Xá càng ngọt ngào hơn nữa là tình thương của tôn giả Patàcàrà thì quá hạnh phúc, quá sung sướng, quá ấm áp, quá dạt dào, quá ngọt ngào cho nên trong lòng phấn khởi, vui quá, hạnh phúc quá, nhưng mà lo lắng, ưu tư về kiếp sống luân hồi đau khổ, oan nghiệt này.
Cha chết, mẹ chết, anh chết, em chết, toàn bộ gia đình bị dịch bệnh chết hết, bây giờ làm một kẻ ăn xin lê lết ngoài đầu đường xó chợ, chìa cái bình bát bể đi qua từng nhà này đến nhà khác để ăn xin. Giờ phút này được gặp tôn giả Patàcàrà bậc Thánh Ni tối thượng, chúng ta niệm ân đức của bậc Thánh, niệm từ tâm của bậc Thánh, niệm trí tuệ của bậc Thánh, niệm lòng đại bi của bậc Thánh khi tiếp nhận một cô gái nghèo ăn xin ngoài đầu đường xó chợ bước vào trong chùa, được cho ăn cơm, được cho uống nước và được nghe pháp.
Chúng ta cảm niệm ân đức của bậc Thánh, chúng ta quán niệm hình ảnh cô gái nghèo đói rất lang thang cầm bình bát bể đi từ nhà này đến nhà khác, chìa tay ra cầu xin thương xót bố thí của mọi người. Thật là khổ cho kiếp người! Thật là xót xa cho đời sống này! Thật là cay đắng cho dòng luân hồi oan nghiệt này! May mắn thay, phúc báo thay và công đức thay cho cô gái tên là Candà này đã dừng lại trước Tinh Xá, trước ngôi chùa có bậc Thánh. Ngay lúc đó tôn giả mới vừa dùng cơm xong, bằng tình thương, bằng từ tâm và tất cả tấm lòng bi mẫn, chư tôn đức Ni Thánh chúng đã đón cô gái ăn xin này vào trong chùa, mời cô ăn cơm uống nước, cảm giác thật là ngọt ngào, thật là ấm áp, thật là dạt dào, cô sung sướng và hạnh phúc.
Sau đó cô được đảnh lễ tôn giả Patàcàrà, được nghe ngài thuyết pháp. Nàng vừa mừng cũng vừa lo, mừng vì gặp chư Thánh Ni, lo vì dòng luân hồi đầy nước mắt, máu, đầy sự đau khổ và nàng sinh xuất gia, cạo bỏ mái tóc xanh này trở thành Tỳ-kheo Ni. Nàng nghe lời giáo giới của các vị Tỳ-kheo Ni an trú thiền quán, nhiệt tâm, tinh cần rồi mới nghị lực và lời phát nguyện, với sức mạnh, với lời phát nguyện và sự chín muồi của trí tuệ không bao lâu cô nàng ăn xin ấy, người hành khất lam lũ ấy, kẻ cầm bát bể ăn xin ấy, đoạn tận tất cả các lậu hoặc, thành tựu cứu cánh phạm hạnh của bậc A-la-hán.
Sau khi cạo tóc xuất gia, theo giáo giới nàng an trú thiền quán, nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực, tinh tấn, với nghị lực, với lời phát nguyện mạnh mẽ, sự chín muồi của trí tuệ, không bao lâu vô minh được phá tan, khát ái được diệt tận, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu hoàn toàn chấm dứt, thành tựu cứu cánh phạm hạnh tối thượng, bậc Thánh nữ, bậc Thánh Ni, bậc Thánh đệ tử tối cao của Đức Như Lai. Người con gái ăn xin năm nào, cơ hàn đói lạnh, cầm bình bát bể đi từ nhà này đến nhà khác, hôm nay đã trở thành một bậc Thánh A-la-hán, thật là bất khả tư nghị với một sự nỗ lực, quyết tâm, một nghị lực, một sự phát nguyện mạnh mẽ, nàng an trú thiền quán, nhiệt tâm, tinh cần, nghị lực. Cánh đàn ông chúng ta có thấy nhục nhã không? Cánh phụ nữ chúng ta có thấy xấu hổ không? Có thấy mình yếu hèn, thấp kém, bạc nhược, mình biếng nhác, lười nhác không? Mình chưa có đem hết tất cả tâm lực, trí lực, sức lực của mình để dốc lòng. Mình phải làm xong lời Phật dạy, tất cả các bậc Thánh trong này thường nói câu "lời Phật dạy làm xong".
"Suy tư đến quả chứng của mình, nàng phấn khởi nói lên bài kệ:
Trước ta sống bất hạnh,
Không chồng và không con,
Không bè bạn, bà con,
Không có cơm, có áo.
Ta cầm gậy bình bát
Ði ăn xin từng nhà,
Bị lạnh nóng đày đọa,
Bảy năm ta sống vậy.
Thấy được Tỳ-kheo-ni,
Ta nhận đồ ăn uống,
Sau khi đến, ta xin,
Ðược xuất gia không nhà.
Nàng Patàcàarà,
Thương ta, cho xuất gia,
Rồi giảng dạy cho ta,
Hướng dẫn đến chân đế.
Nghe xong lời nàng giảng.
Ta làm theo lời dạy,
Lời giảng bậc tôn Ni,
Không phải lời trống không,
Ta chứng được Ba minh,
Ta không còn lậu hoặc" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLIX). Candà)
Đây là kệ chứng đạo của Tỳ-kheo Ni Candà, một kẻ ăn xin trở thành bậc Thánh. Chúng ta nhớ thật kĩ, mình ngồi đây có phải ăn xin không? Mỗi ngày mình ôm bát đi khất thực có phải ăn xin không? Đừng có quên, đừng bao giờ quên, chúng ta hãy để cho cảm thọ này ngấm một chút, hãy để cho nó vào sâu ở trong cảm thọ của mình, cất giữ những quả báo này, những cảm xúc thiêng liêng thần thánh này, cao thượng, thánh thiện này.
Đừng có quên câu chuyện này, đừng quên cảm xúc này, đừng quên cảm giác này. Đúng ra là kể mỗi câu chuyện là ngồi một thời thiền cho tới sáng luôn, đúng ra là tu đầu đà vậy đó, ngồi đó chiêm nghiệm, ngồi đó thưởng thức, ngồi đó gặm nhấm, ngồi đó suy tư, suy ngẫm. Ni sư khóc sưng hai mắt vì thiền quán, cứ để cho khóc, không sao hết, khóc mau đến con đường của mình.
III. Tùy thuộc của Patàcàrà
"Trong thời đức Phật hiện tại, chúng sanh trong những gia đình khá giả, tại nhiều chỗ khác nhau, lấy chồng, có con, sống lo việc bếp nước trong gia đình. Họ đều chịu sự đau khổ khi con của họ bị chết. Rồi họ đi tìm đến Patàcàrà, đảnh lễ nàng, ngồi xuống một bên nàng và nói cho nàng biết nỗi đau khổ của họ. Patàcàrà, làm cho họ vơi bớt sự đau khổ, nói lên những bài kệ như sau:
Ông không biết con đường
Nó đến hay nó đi,
Từ đâu con trai đến,
Ông lại khóc: 'Con tôi'.
Ông đâu biết con đường,
Nó đến hay nó đi,
Ông khóc nó làm gì?
Pháp hữu tình là vậy.
Không có ai yêu cầu,
Từ chỗ kia, nó đến,
Không có ai cho phép,
Từ chỗ này, nó đi,
Từ đâu, nó đến đây!
Ðược sống bấy nhiêu ngày.
Từ chỗ này nó đến,
Từ chỗ kia, nó đi,
Nó đến một con đường!
Nó đi một con đường,
Mệnh chung, hình sắc người,
Luân hồi, nó sẽ đi!
Ðến vậy, đi như kia,
Ở đây, khóc than gì?
Sau khi nghe nàng giảng, họ đều cảm thấy dao động và xin xuất gia, dưới sự hướng dẫn của Patàcàrà. Sau khi tinh cần triển khai thiền quán, chứng đạt được quả A-la-hán, với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư trên quả chứng của mình, các vị ấy lập lại bài kệ giáo hóa của Patàcàrà và cộng thêm những bài kệ của chính mình như sau:
Cây tên, khó thấy được,
Từ tim ta, nhổ lên:
Nàng diệt sầu vì con,
Sầu ấy ám ảnh ta.
Nay cây tên được nhổ
Không dục cầu, tịch tịnh
Ta quy y ẩn sĩ,
Phật, Pháp và chúng Tăng.
Về sau Tỳ-kheo-ni này rất giỏi về lời dạy của Patàcàrà, nên chúng được gọi là: tùy thuộc của Patàcàrà.
(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (L). Năm Trăm Patàcàrà)
Như vậy là 500 vị đều chứng đắc trăm đại cộng với ở trên 30 vị nữa, các đệ tử của ngài được ngài độ thành A-la-hán hết, 500 vị này được gọi là tùy thuộc của Patàcàrà giống như bây giờ mình gọi là tông môn, pháp phái. Những vị này rất giỏi về pháp của sư phụ của mình tức là tôn giả Patàcàrà cho nên gọi là tùy thuộc của Patàcàrà, là đệ tử, là pháp tử, là những đứa con ở trong pháp.
Bài kệ này nghĩa rất sâu sắc, "Cây tên, khó thấy được, Từ tim ta, nhổ lên", tất cả chúng sanh đều bị những cái mũi tên ghim vào trong trái tim, người ta ví dụ thần tình yêu bắn mũi tên thì cái này là đúng, đó là tham ái nhưng không phải chỉ có một mũi tên, ngoài ra còn có sân cũng là mũi tên, si, vô minh cũng là mũi tên. Ít nhất chúng ta có 3 mũi tên ghim vào tim mình từ vô lượng vô biên kiếp.
Những mũi tên này cực kỳ khó thấy, chỉ có bậc Thánh chỉ dẫn mình mới biết được mình bị trúng tên, nếu không gặp được bậc Thánh, không gặp bậc chân nhân, không gặp bậc Thánh nhân, không nghe pháp, không thần thục pháp, không tu tập Thánh pháp thì mình không biết được mình đang bị trúng những mũi tên, nó ghim sâu vào trong tim mình. Đó là những mũi tên của tham dục, của sân hận, của si mê, vô minh, bản ngã, ngài diệt cái buồn đau cho con, cái buồn đau này nó ám ảnh cả một cuộc đời của con. Bây giờ con gặp được ngài, ngài tiêu diệt cái sầu đau cho con, ngài xóa tan những buồn khổ trong lòng của con, ngài đem ánh sáng trí tuệ soi rọi vào cái tâm hôn ám, đen tối, vô minh của con.
Nay mũi tên được nhổ ra, "không dục cầu, tịch tịnh", không còn muốn cái gì nữa, không còn tìm cái gì nữa, gọi là không dục cầu, không có muốn, không có tìm cái gì nữa, không còn muốn cái gì nữa, không còn tìm cái gì nữa và tâm con bây giờ hoàn toàn vắng lặng, không tìm cầu, không dục cầu tịch tịnh. Con quy y ẩn sĩ Phật, Pháp và chúng Tăng, con về nương ẩn sĩ Phật, Pháp và chúng Tăng, Đức Phật là bậc đại ẩn sĩ, các vị Thánh Tăng là bậc đại ẩn sĩ và con về nương với các ngài, con sống đời sống quy ẩn, đời sống ẩn cư, ẩn dật, đời sống viễn ly, xả ly, thoát ly.
Đó là 500 trăm vị thành tựu Thánh trí tuệ, chúng ta có thấm chưa? Chúng ta có nhìn thấy mũi tên trong tim mình không? Nó có làm cho mình đau nhức không? Nó có làm cho mình ray rứt không? Nó có làm cho mình thổn thức không? Nò có làm cho mình khổ không? Mình có nhìn thấy nó chưa và mình có quyết tâm nhỏ cái mũi tên đó ra chưa?
Cố gắng lên để nhìn thấy được những mũi tên và nỗ lực nhổ cái mũi tên đó ra, những mũi tên của dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, nhổ được mũi tên đó ra rồi mình sẽ được an lạc, hạnh phúc dài lâu, bất tử.
Cảm giác toàn toàn thân, thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng, rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, biết rõ thọ; tưởng; hành bên trong. Chiêm nghiệm về đời sống các bậc Thánh Ni vừa được học, triển khai thiền quán.
IV. Trình pháp
Sư cô 1: Con cúi đầu kính lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con kính đảnh lễ trên sư phụ tôn kính, con kính bạch quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể chư vị hiền trí, Sáng nay cũng như buổi chiều nay con thật là nhân duyên lớn được nghe sư phụ giảng dạy, chia sẻ về cuộc đời của chư vị Thánh Ni. Cuộc đời của vị Tỳ-kheo Ni Patàcàrà thật là bất hạnh, đau khổ trước khi được gặp Đức Thế Tôn, trước khi biết đến chánh pháp, con đặt mình vào trong những nỗi khổ mà nàng phải trải qua thì con thấy hình bóng mình, thấy đó là mình trong vô lượng vô số kiếp trong vòng luân hồi cay nghiệt, tàn nhẫn này. Tưởng con có hình bóng chính mình, là một người bất hạnh, đổ ập lên mình mất cha chứng kiến cảnh cha mẹ chết, chồng chết, con chết, chứng kiến những người thân thương nhất của mình trở thành một người khùng điên đi lang thang ngoài đường vừa khóc vừa la, vừa hát vừa ca, đầu bù tóc rối, điên loạn.
Con từng là một người nghèo khổ giống như Tỳ-kheo Ni Candà, tất cả những người thân đều mất, không họ hàng thân thích, bạn bè, bà con, nghèo khổ, đói rách, đi xin ăn, xin từng cắc mà người ta bố thí. Con thấy mình từng ở trong thân những người què quặt, tật nguyền, dị dạng, bò lết lang thang ngoài đường, đi xin ăn, con từng là một người bệnh tật, bệnh hoạn, nằm trên giường bệnh một chỗ trong một thân hình hốc hác, tiều tụy, đau đớn, khổ sở, lên la trong một cái thân hôi thối, tàn tạ và tất cả người thân đều lánh xa, con từng là một người trộm cắp, trộm cướp, bị người ta cột tay cột chân, chặt tay chặt chân, bị ném đá hay là phanh thay ngoài đường ngoài chợ.
Con cảm thấy thật là kinh hãi, thật đáng sợ là dòng trầm luân sinh tử ác nghiệt này, nước mắt và máu của con đổ xuống nhiều hơn nước trong bốn biển, xương thịt con đổ xuống đặt cao hơn núi. Thực sự là đáng sợ dòng luân hồi này và thật là may mắn, thật sự là hạnh phúc vô cùng cũng giống như nàng Patàcàrà hay là vị Thánh Ni Candà đã được gặp chánh pháp, đã thấy được con đường sáng và nỗ lực, nỗ lực thật nhiều để cuối cùng chứng đạt được quả vị A-la-hán. Đó là những tấm gương sáng để cho con có động lực và thật sự nỗ lực. Hiện giờ con cũng đã rất là may mắn, con cảm thấy mình hạnh phúc vô cùng, Ân Phước vô tận khi mà con đã được gặp chánh pháp, được gặp minh sư, thiện hữu giống như một người lang thang cô độc lạnh lẽo, lạc hướng trong đêm đông gặp được một ngọn đèn để sưởi ấm, để dẫn đường soi lối cho con đi.
Con thật sự cảm thấy hạnh phúc vô cùng, vô tận, con biết rằng tất cả những gì cha mẹ, bà con hay thân quyến không có ai và cũng không có tài sản hay cái gì mình có thể nương tựa được trên cuộc đời này, chỉ có chánh pháp, chỉ có nương tựa chính mình, đó là điểm tựa vững chắc, là bến đỗ bình an của cuộc đời mình. Phải biết thương mình mà ráng tu, con sẽ nỗ lực và nỗ lực thật nhiều, con thương mình thật nhiều, con biết rằng con rất thương chính mình và xót thương cho chính mình nên con sẽ nỗ lực, sẽ sống chết tu hành cho đến ngày thành tựu. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô 2: Con dập đầu cúi lạy Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni, con kính đảnh lễ trên sư phụ tôn kính, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng đại chúng hiền trí. Con kính bạch trên sư phụ, sáng hôm nay và chiều tối hôm nay con được sư phụ cho thiền quán về cuộc đời và sự nghiệp tu hành của Thánh Ni Patàcàrà và 530 vị đệ tử Thánh Ni của ngài. Tưởng trong con nhớ lại hình ảnh của ngài trước khi được gặp Đức Thế Tôn, ngài là một người tuổi thiếu thời, thiếu nữ đi theo tiếng gọi của con tim mà rời xa gia đình, bỏ lại sự sắp đặt của cha mẹ về một mối lương duyên xứng đôi vừa lứa. Lúc này con đã nghĩ rằng vị ấy là một người sống theo khuynh hướng tình cảm và không phải là người sống thiên về vật chất, người sống thiên về tình cảm họ sẽ lấy tình cảm và những người họ yêu thương làm nơi nương tựa, mà cái nương tựa này là cái nương tựa dễ bị tổn thương nhất, dễ bị suy sụp nhất.
Lúc này tưởng con nhớ về quá khứ của con cũng không biết nương tựa chính mình, cũng không được gặp chánh pháp, sống nương tựa vào tình cảm, nương tựa vào những người xung quanh. Chính vì vậy mà con đã gây ra những sai lầm, tội lỗi và đúng như thật con đường cuộc sống của ngài trải qua rất là nhiều đau khổ, khi mà chồng chết, con chết, cha mẹ, em trai đều chết thì ngài trở nên điên loạn, con có thể phần nào hiểu được nỗi đau khổ vì đâu đó có hình ảnh của con. Khi những chỗ nương tựa của con mất đi, con cũng đã từng trầm cảm và không muốn giao thiệp với ai, có những lúc sống bất cần. Rồi hình ảnh của Tỳ-kheo Ni đệ tử của ngài là ngài Candà nghèo khổ, đi ăn xin, cha mẹ thì bị người ta giật hết tài sản rồi chết trong dịch bệnh, ngài chỉ có cái bát để đi xin ăn, con cũng tưởng lại về cuộc sống mà con đã từng trải qua.
Khi ba con mất đi cuộc sống rất là vất vả, có lúc một lần về quê chơi con bị đứt đôi dép mà có người cho con hai chiếc ráp lại được một đôi, nhìn cũng tương tự như nhau, chỉ hành động đó mà con đã mang ơn người đó rất nhiều, khi đi tu con còn hứa trong lòng khi nào con thành tựu nhất định con sẽ đem chánh pháp giúp đỡ người ấy, nhưng không ngờ người đó vì một lần mâu thuẫn với vợ mà đã thắt cổ tự tử, con đã rất buồn. Hình ảnh những vị Thánh Ni chuyên tâm tu tập để thành tựu được sự nghiệp giải thoát, mà nhân duyên lớn là từ việc được gặp Đức Thế Tôn cũng như được gặp bậc chân nhân, gặp được minh sư trong những lúc mà hoàn cảnh các vị này khốn khó, đau khổ tột cùng, con cũng thấy hình ảnh của con khi con đi sai đường lạc lối, đau khổ, trầm cảm, không có một chút ánh sáng nào để có thể đưa con ra.
Ngoài chánh pháp, ngoài minh sư thì có lẽ không ai có thể khiến cho con có được một tương lai tươi sáng, còn nó rất lo sợ bị đọa vào địa ngục hoặc xa đọa, trầm luân trong ba đường khổ. May nhờ sư phụ nâng đỡ con khi con bị vấp ngã trên đường tu, bằng tình thương của Phật pháp, bằng từ tâm sư phụ đã hướng dẫn con, dù sư phụ chưa bao giờ nói ra nhưng con cảm nhận được từ trường mà sư phụ dành cho con. Mỗi ngày con được thấm nhuần những lời dạy của sư phụ, cho con được sống trong những lời dạy nguyên chất của Đức Thế Tôn để con gột rửa cái tâm mê mờ của con. Con rất là biết ơn Đức Thế Tôn, con rất biết ơn sư phụ, khi học về các vị Thánh Ni trong con vừa có sự tôn kính, vui mừng vì người nữ cũng chứng được các bậc quả Thánh chứ không phải người nữ tu chỉ để gieo duyên, chừng nào người thành người nam mới thành thánh nhân được.
Trong con cũng có một sự xấu hổ vì con chưa có được sự thành tựu như các ngài đã đạt được. Con hứa với lòng con sẽ cố gắng, con sẽ dùng quá khứ làm bàn đạp để con tiến lên, con không để những gì trong quá khứ làm chướng ngại cho mình. Con cũng sẽ cố gắng nhiều hơn, nhiều hơn nữa để trước nhất là tự cứu mình, cũng phần nào báo đáp được công ơn to lớn của Đức Thế Tôn, công đức ấy con không biết nói sao cho hết. Con chỉ nguyện mỗi ngày con nhìn lại thân tâm của mình có chỗ nào chưa được tốt con sẽ cố gắng sửa đổi, nghe lời sư phụ, nghe lời quý sư dạy dỗ, nhìn lại tự thân của mình.
Lúc sư phụ hỏi chúng con có thấy chỗ nào mà đoạn trừ, hay chưa đoạn trừ, hay không chịu đoạn trừ thì con rất là hổ thẹn vì có những đức tính xấu xa trong con mà con vẫn chưa gột rửa được nó. Nhưng hôm nay học về những vị Thánh Ni là tấm gương sáng, con nhất định từ hôm nay bằng mọi giá con sẽ gột sạch những đức tính xấu xa này, tâm ganh tị, tật đố, bản ngã, con sẽ nhiếp phục và đoạn tận nó, không cho nó hành hạ con nữa. Con xin tri ân sư phụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy, con kính thưa chư tôn đức cùng toàn thể đại chúng. Sáng nay khi con nghe thầy nói về cuộc đời của ngài Tỳ-kheo Ni Patàcàrà thì con liền nhớ tới bài niệm chúng sanh "tất cả đều là chúng sanh, không ai là người thân của mình", con thấy rằng trước khi gặp Đức Phật thì bà sống trong vô minh cho nên bị dục ái dẫn dắt khiến cho bà phải là đau khổ, cũng chính vì vô minh cho nên bà chấp có một cái mình thật, con mình là thật, là chồng mình là thật, cha mẹ mình, anh chị em mình, do đó bà rất là khổ sở.
Bà cứ sống luẩn quẩn trong cái vòng vô minh ấy cho nên bà không có cái lối thoát. Vì thế khiến cho bà phải điên loạn và nhờ phúc duyên bà gặp được Đức Phật, nhờ ánh sáng trí tuệ của Phật, nhờ những lời giảng dạy của Đức Phật khiến cho bà tỉnh ra, bà hiểu ra và bà quyết tâm tu tập. Từ ngọn đèn trí tuệ của Phật bà mồi lấy và sau thời gian tu tập thì nó đã là ngọn đèn trí tuệ của tự thân bà, nói ra đây không phải là để là nói riêng về cuộc đời của bà mà bà chính là hiện thân của con, cũng như hiện thân của tất cả chúng sanh. Cũng như đại chúng Linh Quy ở đây, tất cả mọi người khi đến đây thì con nghĩ rằng ai cũng có một nỗi khổ, một niềm đau, khi đến đây thì giống như là bà gặp Đức Phật, vậy thì chúng con đến đây gặp thầy thì thầy đã mồi từ ngọn đèn trí tuệ của Phật soi sáng cho chúng con.
Điều cần thiết ở đây là đã được thầy soi sáng thì chúng con phải cố gắng tinh tấn, nỗ lực tu tập làm sao để từ ngọn đèn trí tuệ của thầy trở thành ngọn đèn trí tuệ cho tự thân, để soi sáng chính mình và tiếp tục mồi ngọn đèn này cho tất cả mọi người, đó là suy nghĩ của con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Pháp Nghĩa: Con cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng. Từ lúc sáng đến giờ được sư phụ chia sẻ về những tấm gương của các bậc Thánh Ni đệ tử, khi mình được nghe những lời chia sẻ từ sư phụ về những tấm gương của những vị Thánh Ni con nhận ra quay lại nhìn mình, cảm thấy thật là xấu hổ và hổ thẹn vì những gì mà mình hướng tới mục đích của người xuất mình chưa làm được. Lúc thì cố gắng một chút, lúc thì lui sụt, không có nỗ lực hết mình, luôn luôn chạy theo những cảm thọ bất thiện pháp.
Những tấm gương của vị Thánh Ni đệ tử con thấy thật là khâm phục và đáng kính nể, đã làm thân nữ nhi phải chịu cảnh tang thương, mất chồng, mất con rồi cha mẹ phải lâm vào hoàn cảnh không chịu đựng nổi, đi đến thần kinh có vấn đề, nhưng nhờ nhân duyên từ nhiều đời nhiều kiếp gặp được Thế Tôn, gặp được chánh pháp mà ngài đã thay đổi diện mạo, không còn là một người phàm phu tầm thường nữa là một vị thánh ni đệ tử. Tự đến chứng ngộ cho chính mình và giúp các vị khác cũng chứng ngộ, giải thoát khỏi dòng trầm luân sinh tử này.
Con cũng đã từng nghe sư phụ chia sẻ nhưng mà trong buổi sáng và buổi tối nay cũng cảm thọ được rất là nhiều, và cũng do được nhân duyên có sự dẫn dắt từ sư phụ và có những tiếng niệm Phật, niệm ân của Đức Phật, sự quy y bằng tiếng Pali. Con cảm thấy nó rất là gần gũi, dường như con được trở về thời của Đức Phật, con được lắng nghe chính từ kim khẩu của ngài và được trực tiếp cảm nhận những gì mà những vị Thánh Ni đệ tử đã trải qua, đưa đến chứng ngộ, chứng đạt và an trú tam minh, thấy được rõ đời sống của chính mình, thấy được rõ đời sống của mọi loài chúng sanh đưa đến giác ngộ và giải thoát.
Nãy giờ con ngồi cũng thiền quán chỉ trích chính mình, tại sao mình cho đến bây giờ không chịu nỗ lực, không chịu tinh cần, tinh tấn, lúc thì cố gắng được một chút, lúc thì buông lung phóng dật. Có xứng đáng là một vị đệ tử, người con ngoan của Đức Phật hay không? Con suy tư rất là nhiều, mình phải làm sao, phải làm thế nào để không bị những cái cảm thọ bất thiện, sự dẫn dắt của ngũ uẩn điều khiển mình. Hãy bước ra khỏi vòng luẩn quẩn của năm uẩn này, không để cho nó dẫn dắt, không để cho nó tự chủ mà mình phải là người cầm cương. Mình dẫn đường chúng chứ không phải là mình đi sau, đi sau những ý hành, những cảm thọ, những hình bóng bất thiện đó để rồi phải luyến tiếc, phải khổ đau.
Mình phải cố gắng từng giờ, từng phút, từng giây, luôn luôn an trú trong pháp, luôn luôn nhận diện ngũ uẩn, nhìn ra những cái pháp bất thiện. Trong con từ nãy giờ con chiêm nghiệm được một câu mà con cảm thấy thật là hoan hỉ, con chiêm nghiệm một câu kinh trong bài kinh Thuận Dòng.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bên bờ kia, đứng trên đất liền?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người do hoại diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bờ bên kia, đứng trên đất liền" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (V). Thuận Dòng)
Khi con nhẩm lại những lời kinh như vậy con cảm thấy trong tâm mình sự hỷ lạc dâng trào vì dù sao con đã nắm được sợi dây cương, có được chánh pháp, thấy được một đạo lộ thật là rõ ràng. Chỉ cần mình cố gắng duy trì, mình luôn luôn an trú trong pháp, luôn luôn nhận diện ngũ uẩn thì mình cũng sẽ đạt được mục đích tối thượng, sẽ là một người con chân chánh của Đức Phật, đem lại lợi ích cho chính mình, không còn phải chịu sự chi phối của năm uẩn này, không còn phải trầm luân trong vòng sanh tử đầy khổ đau, oan nghiệt và đó là những cảm nhận của con trong một ngày tu tập vừa qua. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Tỳ-Kheo Ni Thời Đức Phật 2
Người Ăn Xin Chứng A-La-Hán
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trưởng lão Ni Patàcàrà PAGEREF _Toc156663131 \h 1
II. Người ăn xin chứng Thánh Quả PAGEREF _Toc156663132 \h 8
III. Tùy thuộc của Patàcàrà PAGEREF _Toc156663133 \h 13
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc156663134 \h 17
I. Trưởng lão Ni Patàcàrà
Sư Phụ: Kính bạch chư tôn hiền đức và các chư vị hiền trí, tối nay chúng ta tiếp tục nghe những tấm gương của các bậc Thánh Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật. Có rất nhiều hoàn cảnh, có rất nhiều mảnh đời, có rất nhiều sự vấp ngã, sự nghiệt ngã trong cuộc sống nhưng các vị trưởng lão Tăng hoặc là trưởng lão Ni khi gặp được Đức Thế Tôn đều thành tựu thánh trí, thành tựu thánh đạo, thành tựu thánh giải thoát.
Có những cô gái là kĩ nữ đi theo ngài Mục-kiền-liên về đến Tinh Xá để quyến rũ nhưng ngài Mục-kiền-liên thuyết pháp độ cho vị này xuất gia, cuối cùng vị này trở thành Thánh Ni A-la-hán, có những vị già lớn tuổi, đi không nổi chống gậy leo lên núi Linh Thứu, một tay thì cầm đại y quàng trên cổ, một tay ôm cái bình bát, cầm không có nổi nữa nên cầm bình bát ngược xuống luôn. Vừa chống gậy, vừa thở hổn hển, vừa quàng đại y trên vai.
Chắc chắn là các ngài vừa đi vừa triển khai thiền quán, lúc nào các ngài cũng sống ở trong thân, thọ, tâm, pháp, cũng an trú trong Tứ niệm xứ cho nên khi ngài mệt quá thì đi tìm chỗ nghỉ, ngã cái lưng xuống tảng đá để cái đại y trên cây gậy trúc. Ngay lúc đó ngài đoạn tận dục lậu, hữu lậu, chứng đắc Thánh quả tối cao, đó là những Ni trưởng rất là già, rất là lớn tuổi, bệnh hoạn, có nhiều vị bệnh rất nặng, nhiều bệnh chúng ta nghe chúng ta sẽ rất xúc động, rất là cảm động, chúng ta về nên đọc và sắp tới đây là chúng ta sẽ được tụng những cái bài đó. Tụng và chiêm nghiệm, thiền quán và chia sẻ những cảm xúc của mình trước những tấm gương vĩ đại của các nữ lưu, có nhiều hoàn cảnh đặc biệt lắm.
Lúc sáng chúng ta đã nghe về ngài Thánh Ni Patàcàrà, sau này ngài độ cho rất nhiều vị Thánh Tỳ-kheo Ni, các đệ tử của ngài trở thành Thánh Ni, ba chục vị nữ sau khi được nghe pháp của ngài thì đắc Thánh quả hết. Mình nói nôm na theo thế gian là một kẻ điên khùng, một bà điên, một con điên nhưng khi gặp Đức Phật là trở thành một vị Thánh. Từ một kẻ khùng trở thành vị Thánh sau khi gặp bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, qua đây chúng ta được thấy lợi ích, công đức, phước báo vĩ đại của việc mong cầu sanh ra được gặp Đức Phật. Đương nhiên sự tu tập của các ngài cũng đã chín muồi, những công đức, những trí tuệ hay là các Ba-la-mật nhưng nếu không gặp Đức Phật cũng không thể đoạn tận các lậu hoặc.
Giờ này Ni sư cũng chưa hết xúc động, con nói tới đó con cũng xúc động, chúng ta phải mở bài lúc sáng tiếp tục thiền quán trong mùa an cư này ở bên Ni chúng. Mở cái bài đó tiếp tục thiền quán ít nhất là 3 buổi, tận cùng cái đau khổ cho nên học kinh đừng có học xong rồi hết, học như vậy là không phải học kinh, học như là học bài ở ngoài đời, học kinh là học cho tới chừng nào mình thể nhập, mình chứng đắc cái trí tuệ đó, phải biết cách học kinh.
Mình làm gì cũng nhớ câu chuyện đó, mình gặp mấy cái chuyện khổ nhỏ thì mình nói "cái này đồ bỏ, mấy cái này không đáng là gì với các bậc Thánh. Các bậc Thánh đã từ bỏ chúng", mình có một cái động lực lớn mạnh như vậy trong tâm mình, mình xem những cái được mất, hơn thua của thế gian này là những cái nùi giẻ, là những cái đóng rác, là những cái cục phân, là những cái đồ quăng đi.
Nếu mình không có tác ý, không có định tướng, không có pháp quán, không có đề mục thì mình sẽ sống trong buông lung, bản ngã, dục ái. Đụng tới là bên trong phùng mang trợn mắt lên, đụng tới là tôi ta, khi mình có đề mục, có thiền quán, có định tướng, có sự an trú tâm vào trong Bốn Niệm Xứ, có sự an trú tâm vào bốn thánh trí của khổ thì các pháp bên ngoài rất là khó xâm nhập. Chúng ta có được một chân đứng, có được một cái trụ đá vững chắc ở trong tim của mình, trong tâm của mình đối với thánh pháp, thánh trí huệ, còn không buông ra là mất liền, đụng chuyện là thấy được liền.
"Trong thời đức Phật hiện tại, chúng sanh trong nhiều gia đình sai khác, được nghe Patàcàrà thuyết pháp, trở thành tín nữ và cuối cùng xuất gia. Trong khi họ làm trọn những phận sự của mình, và sống đầy đủ giới hạnh, nàng thuyết cho họ lời giáo huấn như sau:
Loài Người trong tuổi trẻ,
Cầm chày giã lúa gạo,
Loài Người được tài sản,
Nuôi dưỡng vợ và con.
Hãy hành lời Phật dạy,
Không làm gì nhiệt não,
Rửa chân thật mau lẹ,
Hãy ngồi xuống một bên,
Chú tâm tu tâm chỉ,
Làm theo lời Phật dạy" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVIII). 30 Tỳ-kheo Ni Tuyên Bố Về Chánh Trí Dưới Sự Lãnh Đạo Của Patàcàrà)
Chánh Trí tức là bậc A-la-hán. Khi ngài trứng đắc thánh quả xong rồi, ngài đoạn tận tham, sân, si xong rồi thì ngài mới là trở thành một bậc thông luật đệ nhất ở trong hàng Thánh Ni, Thánh đệ tử Ni thời đó, gọi là bậc thông luật đệ nhất. Ngài thường xuyên giảng pháp, thuyết pháp, các cô thiếu nữ hay là những người phụ nữ nghe pháp của ngài rồi phát tâm quy y tam bảo, làm cư sĩ tại gia, giữ đầy đủ giới hạnh. Ngài thường nhắc nhở các vị tín nữ, cư sĩ phải cố gắng thực hành lời Phật dạy, đừng có nói, nghĩ và làm theo chiều hướng nóng bức, nhiệt não, thiêu đốt, cần để cho cảm thọ của mình bức xúc, bực bội, thiêu đốt, đốt cháy, nhiệt não.
Hãy rửa chân thật là mau, lẹ hãy ngồi xuống một bên, rửa chân cho mau và ngồi xuống để chú tâm, tu tâm chỉ, tịnh chỉ các hành, dừng lại những cái thúc giục, những cảm giác thèm khát, đòi hỏi, tìm kiếm, chạy đuổi, truy tầm, dừng lại, đình chỉ lại, làm theo lời Phật dạy tức là triển khai thiền quán đoạn tận những cái tham, sân, si, dục ái, vô minh.
"Rồi các Tỳ-kheo-ni ấy, nghe theo lời dạy của Patàcàrà, an trú trên thiền quán, tu tập trí tuệ cho đến khi căn cơ thuần thục, chứng được quả A-la-hán, với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVIII). 30 Tỳ-kheo Ni Tuyên Bố Về Chánh Trí Dưới Sự Lãnh Đạo Của Patàcàrà)
Chúng ta đọc ở trong Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ để chúng ta mới thấy được cái gốc, tất cả là tu thiền quán. Lúc đầu ngài dặn là chú tâm tu tâm chỉ, đó là cái giai đoạn đầu, cố gắng dừng cái thân, dừng cái tâm này cho nó an tịnh, lắng dịu để cho nó những cái thô lắng xuống, dịu xuống. Các vị này an trú ở trên thiền quán tu tập trí tuệ cho đến khi căn cơ thuần thục chứng quả A-la-hán, pháp tín thọ, nghĩa tín thọ.
Thọ chính là sự thọ nhận lòng tin về chánh pháp gọi là pháp tín thọ, thọ nhận lòng tin về nghĩa lý ở trong chánh pháp là nghĩa tín thọ thành ra cái chữ thọ đây là quan trọng. Chúng ta nghe pháp mà chúng ta có sự cảm xúc, có sự cảm động, có sự chấn động mạnh, có sự rung cảm, thậm chí là nổi da gà hay là mình rợn người, hoặc là trào dâng nước mắt, cái đó là thọ. Trong Tương Ưng Bộ, nhất là trong Trưởng Lão Ni Kệ này sẽ dùng từ "xúc động mạnh", từ đó là chỉ cho chấn động, cảm động, mà phải có thọ thì mới có cảm, không có thọ thì sao có cảm.
Thọ tức là mình nhận được cái nghĩa lý ở trong pháp, nhận được cái ý ở trong pháp, chân lý, sự thật trong pháp chạm tới trái tim của mình, chạm vào nỗi đau của mình, chạm vào những cái vô minh sâu lắng ở bên trong, những cái khói đen được bùng vỡ ra, bùng nổ ra, được bẻ ra, được vỡ ra, nó được nổ ra, bị phá nát, phá tan cái khói vô minh, si ám bên trong. Nó làm cho mình rung chấn, chấn động, chấn cảm, kinh chấn, đó là pháp tín thọ, nghĩa tín thọ.
Từ khi chúng ta hiểu pháp chúng ta mới có cái niềm tin, chúng ta hiểu cái nghĩa của pháp thì chúng ta càng có niềm tin, chúng ta niềm tin như vậy rồi mới tới tùy pháp, hành pháp. Hành pháp, tuỳ pháp là sống chân chính trong chánh pháp thì mới trở thành vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Như Lai. Như vậy là 30 vị này chứng đắc chánh trí, chánh giải thoát hết, bây giờ mình tìm được vị A-la-hán thôi chánh pháp rực sáng trên địa cầu.
"Rồi suy nghĩ trên quả chứng, họ phấn khởi sung sướng và họ thêm vào các bài kệ của Patàcàrà với những bài kệ của mình:
Sau khi nghe lời dạy,
Lời Patàcàrà,
Sau khi rửa chân xong,
Họ vào ngồi một bên,
Chú tâm tu tâm chỉ,
Làm theo lời Phật dạy.
Trong đêm canh thứ nhất,
Họ nhớ đời quá khứ
Trong đêm canh chặng giữa,
Thiên nhãn được thanh tịnh,
Trong đêm canh cuối cùng,
Khối si ám phá tan.
Đứng dậy họ lễ chân,
Vị giáo giới cho họ,
Như Chư Thiên ba mươi
Ðảnh lễ vị Sakka,
Vị không bị đánh bại,
Ở lại chỗ chiến trường,
Đặt Patàcàrà,
Vào hàng bậc lãnh đạo,
Chúng tôi sẽ được sống,
Ba minh, không lậu hoặc" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLVIII). 30 Tỳ-kheo Ni Tuyên Bố Về Chánh Trí Dưới Sự Lãnh Đạo Của Patàcàrà)
Các vị này lấy bài kệ của sư phụ họ là Patàcàrà rồi gắn thêm những bài kệ của mình ở phía sau, lấy đó làm chứng đạo kệ, chứng ngộ kệ, ba mươi vị Thánh Ni này đều chứng tam minh hết. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Canh thứ nhất các vị đó nhớ được đời quá khứ là túc mạng minh, trong đêm canh chặn giữa thiên nhãn được thanh tịnh thấy được tất cả những đời sống của vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh từ vô thỉ kiếp, gọi là thiên nhãn minh trong, đêm canh cuối cùng khối si ám phá tan là lậu tận minh. Khối si ám là cái tâm ngu si, cái tâm vô minh, cái tâm si ám, cái tâm ám độn, cái tâm ngu muội, cái tâm dại khờ, cái tâm nắm vào trong hình hài này, trong những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này, cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình.
Mình đã yêu thích nó, khao khát, thèm khát nó, đói khát nó, nó bám níu ở trong này, nó không buông ra, nó ưa, nó thích, nó khoan, nó khoái, nó tưởng, nó nhớ, nó thèm, nó khát thì lúc bấy giờ khối si ám phá tan. Cái tâm mê đó bị phá một cách hoàn toàn, không còn một chút nào nữa hết gọi là lậu tận mình, một chút mê lầm bằng hạt cát cũng không còn nữa.
Cho đến khi nào mà chúng ta nhìn tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không còn một chút nào mình ưa thích trong đó, mình thèm khát trong đó nữa, không còn dục ái trong đó nữa thì lúc đó chúng ta nhổ sạch mũi tên khát ái. Bình thường hằng ngày, hàng giờ, nhận diện thọ; tưởng; hành là mình biết được mình còn nhiều hay ít, không có khó, cái tâm mình còn yêu thích mình có biết không, cái tâm mình bớt yêu thích mình có biết không? cái tâm mình hết yêu thích với món nào mình có biết không. Cho nên tu cái này theo Đức Phật là biết hết chứ không phải không biết, tu những pháp khác thì không biết, tu tới đâu cũng không biết, phải đợi người khác ấn chứng, còn tu cái này không cần đợi người khác ấn chứng, tự mình biết.
Khi mình nhìn một cái sắc, một con người, một cảnh vật hay là một món đồ thì yêu thích trong đó hay không, nội tham có hay không mình biết là ở bên trong mình có tham hay không. Mình phải biết và mình biết như vậy không phải là đủ, có nhiều cấp độ lắm, một là có tham mà mình không biết, lúc đó mình không nhận diện ngũ uẩn nên không biết đây, là cấp độ của vô văn phàm phu. Thứ hai là mình biết ở bên trong mình có tham, nội tham có mặt nhưng mà mình phớt lờ, mình bỏ qua, tức là mình biết có tham nhưng mình không trừ diệt. Cấp độ tiếp theo là mình có trừ nhưng trừ yếu ớt chứ không có quyết liệt, không có thẳng tay, không có trừ 100%, không có trừ diệt tuyệt đối.
Chính cái tâm đó mới không đi đến chỗ lậu tận, không có đoạn tận tham, thậm chí bên trong mình là tự thể ái và cảnh giới ái, tức là trong đó có một sự yêu thích ngấm ngầm, không có muốn bỏ. Nó biết rằng cái này là khổ, cái này là nguyên nhân của khổ nhưng bên trong nó vẫn còn một sự tiếc nuối, tức là nửa muốn bỏ nửa muốn không, chỗ này là chỗ mình cần tu, tức là có khi nó tỉnh táo, nó sáng thì nhất định là phải bỏ nhưng mà có lúc mờ mờ thì nó không muốn bỏ, phân vân giữa bỏ và không bỏ, do cái tâm chưa xác quyết nên chưa Nhập Lưu. Khi nào tâm mình xác quyết 100% bỏ và cái bỏ này không bao giờ dao động nữa thì lúc đó là Nhập Lưu, mình còn tiếc nó tức là mình vẫn còn muốn khổ.
Tại sao chúng ta cứ nghe pháp, tại sao chúng ta cứ thiền quán, tại sao chúng ta cứ tác ý, thậm chí là mình tác ý không nổi phải nhờ bài tác ý nhắc phụ mình, là mình cứ nhắc hoài như vậy thì lần lần trí tuệ đó sẽ thể nhập vào. Cũng như mình học bài vậy đó, lúc đầu bài thơ đó là bài thơ của nhà thơ, khi người ta đọc lên thì nghe hay quá, khi mình học thuộc bài thơ đó rồi mình đọc ra đó thì người ta thấy mình đọc thơ hay quá chứ đâu có nói là nhà thơ đọc đâu, nó giống như là bài thơ của mình. Khi mình học thuộc mà mình trình bày, hay là bài nhạc cũng vậy, nhạc sĩ tại sáng tác nhưng mà người hát được vỗ tay nhiều hơn, cũng vậy, cái pháp là của Đức Phật chứng ngộ, nó giống như là một bài sáng tác là của tác giả đó nhưng mà người nào thể nhập cái pháp đó thì người đó thành tựu.
Khi mà mình đã nhớ trí tuệ đó luôn rồi, không có quên nữa, thì lúc đó là mình thành tựu cái thánh trí tuệ đó. Bây giờ khi mình đối diện với sắc, hình hài này, cảnh vật này, những con người này, mình phải luôn luôn để ý diệt trừ cái tâm yêu thích, ham muốn tại vì cái yêu thích, ham muốn đó chính là cái mầm mống tái sanh và của chiếm hữu, sở hữu, tư hữu và đó cũng chính là con đường dẫn đến khổ đau. Bởi vì những cái đó là thứ vô thường, nó tan nát, hủy hoại, hoại diệt và lúc đó mình sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não đó là nói ngoài, bây giờ sâu vô là tự thân mình còn yêu thích nhiều ít, tự mình biết hơn ai hết không cần hỏi "thầy nói giùm con coi bây giờ con còn yêu thân con nhiều không?", làm sao bằng chính mình thấy?
Sâu vô nữa là thọ; tưởng; hành; thức ở bên trong, mình có yêu thích cảm thọ đó không, những hình bóng trong tâm mình có yêu thích không, những lời nói lầm thầm trong suy nghĩ mình có yêu thích không, mình có cho đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi không, những cái nhận thức này là chỗ thâm sâu, đó cũng là chỗ để phân định thánh phàm, tâm mê và tâm giác, cũng chính là chỗ có sự khác biệt giữa Đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu là ở chỗ đó.
Ba mươi vị Tỳ-kheo Ni đứng dậy lạy dưới chân tôn giả Patàcàrà, ở đây người ta nói chung vậy nhưng mà có thể là vị này lạy rồi tới vị kia chứ chưa hẳn là một lượt 30 vị lạy, 30 vị lạy dưới chân tôn giả Patàcàrà giống như chư thiên ở trời 33 đảnh lễ hằng ngày vua trời Đế-thích, tôn giả Patàcàrà được tôn giống như một bậc thượng thủ, là bậc đại Thánh. Các vị này đồng là Thánh Ni, đồng là A-la-hán hết nhưng ngài Patàcàrà là bậc đại Thánh, là bậc thầy để hướng dẫn cho các vị này trở thành Thánh cho nên mới tôn là hàng lãnh đạo. Vậy là sáng giờ chúng ta xuyên không về thăm các bậc Thánh đệ tử tối thượng trong hàng Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật.
II. Người ăn xin chứng Thánh Quả
Có một cô nhà rất nghèo, đói không có đồ ăn nên phải đi tìm thức ăn, xúc động lắm.
"Trong thời đức Phật hiện tại, nàng làm con một vị Bà-la-môn, ít được người biết đến, tại một làng Bà-la-môn. Từ lúc nhỏ, gia đình bị mất hết tài sản, và nàng lớn lên trong điều kiện rất thiếu thốn" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLIX). Candà)
Nàng là con của một vị Bà-la-môn ít được người biết đến tại một cái ngôi làng nhỏ trong vùng quê hẻo lánh, từ lúc nhỏ gia đình bị mất hết tài sản, phá sản, khánh kiệt tài sản, gia đình vỡ nợ, bị người ta lấy hết tài sản trong gia đình và nàng lớn lên ở trong điều kiện rất là thiếu thốn, nhà rất nghèo thiếu. Các vị nào ngồi trong đây đúng tình trạng này thì triển khai thiền quán. Lúc đó có một cái bệnh nổi lên.
"Trong gia đình, một bệnh thời khí phát ra giết hại cả nhà, và nàng phải đi xin nhà này qua nhà khác với một cái bát vỡ. Một ngày kia, nàng đến chỗ Tỳ-kheo-ni Patàcàrà khi vị này vừa ăn xong. Các Tỳ-kheo-ni thấy nàng trong tình cảnh đáng thương hại, tiếp nàng với lòng từ mẫn và cho nàng ăn. Sung sướng được thấy hạnh phúc tốt đẹp của các Tỳ-kheo-ni, nàng đến gần Patàcàrà, đảnh lễ, nàng ngồi xuống một bên để nghe pháp. Nàng nghe với tâm hồn phấn khởi, và lo lắng vì kiếp sống luân hồi, nàng xuất gia. Nàng theo lời giáo giới của vị Tỳ-kheo-ni, nàng an trú thiền quán, nhiệt tâm tinh cần. Rồi với nghị lực và lời phát nguyện và sự chín muồi của trí tuệ, không bao lâu nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLIX) Candà)
Giống như dịch bệnh, nổi lên một cái thứ bệnh thì lúc đó cả nhà nàng chết hết, cô này đi xin ăn. Đầu tiên là gia đình bị người ta giật hết tài sản, phá sản, đổ nợ, kế đó là nổi lên dịch bệnh cả nhà chết hết, cô nàng này trở thành một kẻ đi ăn xin từ nhà này qua nhà khác với một cái bát bể, cái bát vỡ, cái bát cũng được nguyên vẹn, cầm cái bát bể đi xin ăn giống như Việt Nam mình là cầm cái gáo dừa đi ăn xin. Một ngày kia cô đi đến đúng chỗ của Tỳ-kheo-ni Patàcàrà.
Thật là may mắn vô cùng cho cô!
Thật là phúc báo cho cô!
Thật là lợi ích cho cô!
Vô tình cô này đi đến chỗ của Tỳ-kheo-ni Patàcàrà, các Tỳ-kheo Ni thấy cô trong tình cảnh đáng thương hại, đương nhiên là quần áo lam lũ, dơ bẩn, nghèo đói cơ hàn, đi lang thang cầm cái bát bể chìa ra đi xin, chúng ta có thể dùng thọ; tưởng; hành của mình quán tưởng cái cảnh đó, đặt mình vào trong tình cảnh khốn khổ đó, cả nhà bị bệnh chết hết, chúng ta cứ hiểu nôm na như dịch bệnh vừa rồi. Trước đó gia đình bị phá sản, đổ nợ, bị giật hết tiền bạc, kế đó cả nhà rơi vào tình trạng dịch bệnh chết hết, chỉ còn một mình cô đi lang thang từ nhà này đến nhà khác cầm cái bát bể đi xin ăn. Nhưng cũng thật là may mắn, phước báo, lợi ích cho cô khi cô đến ngay chỗ của tôn giả Patàcàrà vừa dùng cơm xong, mọi người cho cô ăn.
Đương nhiên là vừa đói vừa khát mà được các sư cô cho ăn, thật là ấm áp, thật là ngọt ngào, các sư cô với tâm từ mẫn, hiền lành giống như Ni chúng tại Linh Quy chúng ta, các bậc Thánh Ni một cái tâm từ mẫn, một tình thương vô hạn, bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng tất cả tấm lòng lân mẫn đối chúng sanh đang cơ hàn, đói lạnh, nghèo khổ, ăn xin như vậy thì cô nàng này sung sướng vô cùng và hạnh phúc tốt đẹp của các Tỳ-kheo Ni.
Nàng đến gần tôn giả Patàcàrà và lạy dưới chân của tôn giả, ngồi xuống một bên và nghe tôn giả Patàcàrà thuyết pháp, nàng nghe với một tâm hồn phấn khởi và lo lắng vì kiếp luân hồi. Thật là hạnh phúc! Thật là vui sướng! Thật là an lạc! Thật là ngọt ngào! Thật là ấm áp với tình thương của bậc Thánh giống như là giữa đêm đông giá lạnh mà được một cái chăn, một cái áo ấm.
Đối với tình thương của các bậc Thánh Ni, Thánh Tỳ-kheo Ni trong Tinh Xá càng ngọt ngào hơn nữa là tình thương của tôn giả Patàcàrà thì quá hạnh phúc, quá sung sướng, quá ấm áp, quá dạt dào, quá ngọt ngào cho nên trong lòng phấn khởi, vui quá, hạnh phúc quá, nhưng mà lo lắng, ưu tư về kiếp sống luân hồi đau khổ, oan nghiệt này.
Cha chết, mẹ chết, anh chết, em chết, toàn bộ gia đình bị dịch bệnh chết hết, bây giờ làm một kẻ ăn xin lê lết ngoài đầu đường xó chợ, chìa cái bình bát bể đi qua từng nhà này đến nhà khác để ăn xin. Giờ phút này được gặp tôn giả Patàcàrà bậc Thánh Ni tối thượng, chúng ta niệm ân đức của bậc Thánh, niệm từ tâm của bậc Thánh, niệm trí tuệ của bậc Thánh, niệm lòng đại bi của bậc Thánh khi tiếp nhận một cô gái nghèo ăn xin ngoài đầu đường xó chợ bước vào trong chùa, được cho ăn cơm, được cho uống nước và được nghe pháp.
Chúng ta cảm niệm ân đức của bậc Thánh, chúng ta quán niệm hình ảnh cô gái nghèo đói rất lang thang cầm bình bát bể đi từ nhà này đến nhà khác, chìa tay ra cầu xin thương xót bố thí của mọi người. Thật là khổ cho kiếp người! Thật là xót xa cho đời sống này! Thật là cay đắng cho dòng luân hồi oan nghiệt này! May mắn thay, phúc báo thay và công đức thay cho cô gái tên là Candà này đã dừng lại trước Tinh Xá, trước ngôi chùa có bậc Thánh. Ngay lúc đó tôn giả mới vừa dùng cơm xong, bằng tình thương, bằng từ tâm và tất cả tấm lòng bi mẫn, chư tôn đức Ni Thánh chúng đã đón cô gái ăn xin này vào trong chùa, mời cô ăn cơm uống nước, cảm giác thật là ngọt ngào, thật là ấm áp, thật là dạt dào, cô sung sướng và hạnh phúc.
Sau đó cô được đảnh lễ tôn giả Patàcàrà, được nghe ngài thuyết pháp. Nàng vừa mừng cũng vừa lo, mừng vì gặp chư Thánh Ni, lo vì dòng luân hồi đầy nước mắt, máu, đầy sự đau khổ và nàng sinh xuất gia, cạo bỏ mái tóc xanh này trở thành Tỳ-kheo Ni. Nàng nghe lời giáo giới của các vị Tỳ-kheo Ni an trú thiền quán, nhiệt tâm, tinh cần rồi mới nghị lực và lời phát nguyện, với sức mạnh, với lời phát nguyện và sự chín muồi của trí tuệ không bao lâu cô nàng ăn xin ấy, người hành khất lam lũ ấy, kẻ cầm bát bể ăn xin ấy, đoạn tận tất cả các lậu hoặc, thành tựu cứu cánh phạm hạnh của bậc A-la-hán.
Sau khi cạo tóc xuất gia, theo giáo giới nàng an trú thiền quán, nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực, tinh tấn, với nghị lực, với lời phát nguyện mạnh mẽ, sự chín muồi của trí tuệ, không bao lâu vô minh được phá tan, khát ái được diệt tận, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu hoàn toàn chấm dứt, thành tựu cứu cánh phạm hạnh tối thượng, bậc Thánh nữ, bậc Thánh Ni, bậc Thánh đệ tử tối cao của Đức Như Lai. Người con gái ăn xin năm nào, cơ hàn đói lạnh, cầm bình bát bể đi từ nhà này đến nhà khác, hôm nay đã trở thành một bậc Thánh A-la-hán, thật là bất khả tư nghị với một sự nỗ lực, quyết tâm, một nghị lực, một sự phát nguyện mạnh mẽ, nàng an trú thiền quán, nhiệt tâm, tinh cần, nghị lực. Cánh đàn ông chúng ta có thấy nhục nhã không? Cánh phụ nữ chúng ta có thấy xấu hổ không? Có thấy mình yếu hèn, thấp kém, bạc nhược, mình biếng nhác, lười nhác không? Mình chưa có đem hết tất cả tâm lực, trí lực, sức lực của mình để dốc lòng. Mình phải làm xong lời Phật dạy, tất cả các bậc Thánh trong này thường nói câu "lời Phật dạy làm xong".
"Suy tư đến quả chứng của mình, nàng phấn khởi nói lên bài kệ:
Trước ta sống bất hạnh,
Không chồng và không con,
Không bè bạn, bà con,
Không có cơm, có áo.
Ta cầm gậy bình bát
Ði ăn xin từng nhà,
Bị lạnh nóng đày đọa,
Bảy năm ta sống vậy.
Thấy được Tỳ-kheo-ni,
Ta nhận đồ ăn uống,
Sau khi đến, ta xin,
Ðược xuất gia không nhà.
Nàng Patàcàarà,
Thương ta, cho xuất gia,
Rồi giảng dạy cho ta,
Hướng dẫn đến chân đế.
Nghe xong lời nàng giảng.
Ta làm theo lời dạy,
Lời giảng bậc tôn Ni,
Không phải lời trống không,
Ta chứng được Ba minh,
Ta không còn lậu hoặc" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLIX). Candà)
Đây là kệ chứng đạo của Tỳ-kheo Ni Candà, một kẻ ăn xin trở thành bậc Thánh. Chúng ta nhớ thật kĩ, mình ngồi đây có phải ăn xin không? Mỗi ngày mình ôm bát đi khất thực có phải ăn xin không? Đừng có quên, đừng bao giờ quên, chúng ta hãy để cho cảm thọ này ngấm một chút, hãy để cho nó vào sâu ở trong cảm thọ của mình, cất giữ những quả báo này, những cảm xúc thiêng liêng thần thánh này, cao thượng, thánh thiện này.
Đừng có quên câu chuyện này, đừng quên cảm xúc này, đừng quên cảm giác này. Đúng ra là kể mỗi câu chuyện là ngồi một thời thiền cho tới sáng luôn, đúng ra là tu đầu đà vậy đó, ngồi đó chiêm nghiệm, ngồi đó thưởng thức, ngồi đó gặm nhấm, ngồi đó suy tư, suy ngẫm. Ni sư khóc sưng hai mắt vì thiền quán, cứ để cho khóc, không sao hết, khóc mau đến con đường của mình.
III. Tùy thuộc của Patàcàrà
"Trong thời đức Phật hiện tại, chúng sanh trong những gia đình khá giả, tại nhiều chỗ khác nhau, lấy chồng, có con, sống lo việc bếp nước trong gia đình. Họ đều chịu sự đau khổ khi con của họ bị chết. Rồi họ đi tìm đến Patàcàrà, đảnh lễ nàng, ngồi xuống một bên nàng và nói cho nàng biết nỗi đau khổ của họ. Patàcàrà, làm cho họ vơi bớt sự đau khổ, nói lên những bài kệ như sau:
Ông không biết con đường
Nó đến hay nó đi,
Từ đâu con trai đến,
Ông lại khóc: 'Con tôi'.
Ông đâu biết con đường,
Nó đến hay nó đi,
Ông khóc nó làm gì?
Pháp hữu tình là vậy.
Không có ai yêu cầu,
Từ chỗ kia, nó đến,
Không có ai cho phép,
Từ chỗ này, nó đi,
Từ đâu, nó đến đây!
Ðược sống bấy nhiêu ngày.
Từ chỗ này nó đến,
Từ chỗ kia, nó đi,
Nó đến một con đường!
Nó đi một con đường,
Mệnh chung, hình sắc người,
Luân hồi, nó sẽ đi!
Ðến vậy, đi như kia,
Ở đây, khóc than gì?
Sau khi nghe nàng giảng, họ đều cảm thấy dao động và xin xuất gia, dưới sự hướng dẫn của Patàcàrà. Sau khi tinh cần triển khai thiền quán, chứng đạt được quả A-la-hán, với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư trên quả chứng của mình, các vị ấy lập lại bài kệ giáo hóa của Patàcàrà và cộng thêm những bài kệ của chính mình như sau:
Cây tên, khó thấy được,
Từ tim ta, nhổ lên:
Nàng diệt sầu vì con,
Sầu ấy ám ảnh ta.
Nay cây tên được nhổ
Không dục cầu, tịch tịnh
Ta quy y ẩn sĩ,
Phật, Pháp và chúng Tăng.
Về sau Tỳ-kheo-ni này rất giỏi về lời dạy của Patàcàrà, nên chúng được gọi là: tùy thuộc của Patàcàrà.
(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (L). Năm Trăm Patàcàrà)
Như vậy là 500 vị đều chứng đắc trăm đại cộng với ở trên 30 vị nữa, các đệ tử của ngài được ngài độ thành A-la-hán hết, 500 vị này được gọi là tùy thuộc của Patàcàrà giống như bây giờ mình gọi là tông môn, pháp phái. Những vị này rất giỏi về pháp của sư phụ của mình tức là tôn giả Patàcàrà cho nên gọi là tùy thuộc của Patàcàrà, là đệ tử, là pháp tử, là những đứa con ở trong pháp.
Bài kệ này nghĩa rất sâu sắc, "Cây tên, khó thấy được, Từ tim ta, nhổ lên", tất cả chúng sanh đều bị những cái mũi tên ghim vào trong trái tim, người ta ví dụ thần tình yêu bắn mũi tên thì cái này là đúng, đó là tham ái nhưng không phải chỉ có một mũi tên, ngoài ra còn có sân cũng là mũi tên, si, vô minh cũng là mũi tên. Ít nhất chúng ta có 3 mũi tên ghim vào tim mình từ vô lượng vô biên kiếp.
Những mũi tên này cực kỳ khó thấy, chỉ có bậc Thánh chỉ dẫn mình mới biết được mình bị trúng tên, nếu không gặp được bậc Thánh, không gặp bậc chân nhân, không gặp bậc Thánh nhân, không nghe pháp, không thần thục pháp, không tu tập Thánh pháp thì mình không biết được mình đang bị trúng những mũi tên, nó ghim sâu vào trong tim mình. Đó là những mũi tên của tham dục, của sân hận, của si mê, vô minh, bản ngã, ngài diệt cái buồn đau cho con, cái buồn đau này nó ám ảnh cả một cuộc đời của con. Bây giờ con gặp được ngài, ngài tiêu diệt cái sầu đau cho con, ngài xóa tan những buồn khổ trong lòng của con, ngài đem ánh sáng trí tuệ soi rọi vào cái tâm hôn ám, đen tối, vô minh của con.
Nay mũi tên được nhổ ra, "không dục cầu, tịch tịnh", không còn muốn cái gì nữa, không còn tìm cái gì nữa, gọi là không dục cầu, không có muốn, không có tìm cái gì nữa, không còn muốn cái gì nữa, không còn tìm cái gì nữa và tâm con bây giờ hoàn toàn vắng lặng, không tìm cầu, không dục cầu tịch tịnh. Con quy y ẩn sĩ Phật, Pháp và chúng Tăng, con về nương ẩn sĩ Phật, Pháp và chúng Tăng, Đức Phật là bậc đại ẩn sĩ, các vị Thánh Tăng là bậc đại ẩn sĩ và con về nương với các ngài, con sống đời sống quy ẩn, đời sống ẩn cư, ẩn dật, đời sống viễn ly, xả ly, thoát ly.
Đó là 500 trăm vị thành tựu Thánh trí tuệ, chúng ta có thấm chưa? Chúng ta có nhìn thấy mũi tên trong tim mình không? Nó có làm cho mình đau nhức không? Nó có làm cho mình ray rứt không? Nó có làm cho mình thổn thức không? Nò có làm cho mình khổ không? Mình có nhìn thấy nó chưa và mình có quyết tâm nhỏ cái mũi tên đó ra chưa?
Cố gắng lên để nhìn thấy được những mũi tên và nỗ lực nhổ cái mũi tên đó ra, những mũi tên của dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, nhổ được mũi tên đó ra rồi mình sẽ được an lạc, hạnh phúc dài lâu, bất tử.
Cảm giác toàn toàn thân, thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng, rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, biết rõ thọ; tưởng; hành bên trong. Chiêm nghiệm về đời sống các bậc Thánh Ni vừa được học, triển khai thiền quán.
IV. Trình pháp
Sư cô 1: Con cúi đầu kính lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con kính đảnh lễ trên sư phụ tôn kính, con kính bạch quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể chư vị hiền trí, Sáng nay cũng như buổi chiều nay con thật là nhân duyên lớn được nghe sư phụ giảng dạy, chia sẻ về cuộc đời của chư vị Thánh Ni. Cuộc đời của vị Tỳ-kheo Ni Patàcàrà thật là bất hạnh, đau khổ trước khi được gặp Đức Thế Tôn, trước khi biết đến chánh pháp, con đặt mình vào trong những nỗi khổ mà nàng phải trải qua thì con thấy hình bóng mình, thấy đó là mình trong vô lượng vô số kiếp trong vòng luân hồi cay nghiệt, tàn nhẫn này. Tưởng con có hình bóng chính mình, là một người bất hạnh, đổ ập lên mình mất cha chứng kiến cảnh cha mẹ chết, chồng chết, con chết, chứng kiến những người thân thương nhất của mình trở thành một người khùng điên đi lang thang ngoài đường vừa khóc vừa la, vừa hát vừa ca, đầu bù tóc rối, điên loạn.
Con từng là một người nghèo khổ giống như Tỳ-kheo Ni Candà, tất cả những người thân đều mất, không họ hàng thân thích, bạn bè, bà con, nghèo khổ, đói rách, đi xin ăn, xin từng cắc mà người ta bố thí. Con thấy mình từng ở trong thân những người què quặt, tật nguyền, dị dạng, bò lết lang thang ngoài đường, đi xin ăn, con từng là một người bệnh tật, bệnh hoạn, nằm trên giường bệnh một chỗ trong một thân hình hốc hác, tiều tụy, đau đớn, khổ sở, lên la trong một cái thân hôi thối, tàn tạ và tất cả người thân đều lánh xa, con từng là một người trộm cắp, trộm cướp, bị người ta cột tay cột chân, chặt tay chặt chân, bị ném đá hay là phanh thay ngoài đường ngoài chợ.
Con cảm thấy thật là kinh hãi, thật đáng sợ là dòng trầm luân sinh tử ác nghiệt này, nước mắt và máu của con đổ xuống nhiều hơn nước trong bốn biển, xương thịt con đổ xuống đặt cao hơn núi. Thực sự là đáng sợ dòng luân hồi này và thật là may mắn, thật sự là hạnh phúc vô cùng cũng giống như nàng Patàcàrà hay là vị Thánh Ni Candà đã được gặp chánh pháp, đã thấy được con đường sáng và nỗ lực, nỗ lực thật nhiều để cuối cùng chứng đạt được quả vị A-la-hán. Đó là những tấm gương sáng để cho con có động lực và thật sự nỗ lực. Hiện giờ con cũng đã rất là may mắn, con cảm thấy mình hạnh phúc vô cùng, Ân Phước vô tận khi mà con đã được gặp chánh pháp, được gặp minh sư, thiện hữu giống như một người lang thang cô độc lạnh lẽo, lạc hướng trong đêm đông gặp được một ngọn đèn để sưởi ấm, để dẫn đường soi lối cho con đi.
Con thật sự cảm thấy hạnh phúc vô cùng, vô tận, con biết rằng tất cả những gì cha mẹ, bà con hay thân quyến không có ai và cũng không có tài sản hay cái gì mình có thể nương tựa được trên cuộc đời này, chỉ có chánh pháp, chỉ có nương tựa chính mình, đó là điểm tựa vững chắc, là bến đỗ bình an của cuộc đời mình. Phải biết thương mình mà ráng tu, con sẽ nỗ lực và nỗ lực thật nhiều, con thương mình thật nhiều, con biết rằng con rất thương chính mình và xót thương cho chính mình nên con sẽ nỗ lực, sẽ sống chết tu hành cho đến ngày thành tựu. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô 2: Con dập đầu cúi lạy Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni, con kính đảnh lễ trên sư phụ tôn kính, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng đại chúng hiền trí. Con kính bạch trên sư phụ, sáng hôm nay và chiều tối hôm nay con được sư phụ cho thiền quán về cuộc đời và sự nghiệp tu hành của Thánh Ni Patàcàrà và 530 vị đệ tử Thánh Ni của ngài. Tưởng trong con nhớ lại hình ảnh của ngài trước khi được gặp Đức Thế Tôn, ngài là một người tuổi thiếu thời, thiếu nữ đi theo tiếng gọi của con tim mà rời xa gia đình, bỏ lại sự sắp đặt của cha mẹ về một mối lương duyên xứng đôi vừa lứa. Lúc này con đã nghĩ rằng vị ấy là một người sống theo khuynh hướng tình cảm và không phải là người sống thiên về vật chất, người sống thiên về tình cảm họ sẽ lấy tình cảm và những người họ yêu thương làm nơi nương tựa, mà cái nương tựa này là cái nương tựa dễ bị tổn thương nhất, dễ bị suy sụp nhất.
Lúc này tưởng con nhớ về quá khứ của con cũng không biết nương tựa chính mình, cũng không được gặp chánh pháp, sống nương tựa vào tình cảm, nương tựa vào những người xung quanh. Chính vì vậy mà con đã gây ra những sai lầm, tội lỗi và đúng như thật con đường cuộc sống của ngài trải qua rất là nhiều đau khổ, khi mà chồng chết, con chết, cha mẹ, em trai đều chết thì ngài trở nên điên loạn, con có thể phần nào hiểu được nỗi đau khổ vì đâu đó có hình ảnh của con. Khi những chỗ nương tựa của con mất đi, con cũng đã từng trầm cảm và không muốn giao thiệp với ai, có những lúc sống bất cần. Rồi hình ảnh của Tỳ-kheo Ni đệ tử của ngài là ngài Candà nghèo khổ, đi ăn xin, cha mẹ thì bị người ta giật hết tài sản rồi chết trong dịch bệnh, ngài chỉ có cái bát để đi xin ăn, con cũng tưởng lại về cuộc sống mà con đã từng trải qua.
Khi ba con mất đi cuộc sống rất là vất vả, có lúc một lần về quê chơi con bị đứt đôi dép mà có người cho con hai chiếc ráp lại được một đôi, nhìn cũng tương tự như nhau, chỉ hành động đó mà con đã mang ơn người đó rất nhiều, khi đi tu con còn hứa trong lòng khi nào con thành tựu nhất định con sẽ đem chánh pháp giúp đỡ người ấy, nhưng không ngờ người đó vì một lần mâu thuẫn với vợ mà đã thắt cổ tự tử, con đã rất buồn. Hình ảnh những vị Thánh Ni chuyên tâm tu tập để thành tựu được sự nghiệp giải thoát, mà nhân duyên lớn là từ việc được gặp Đức Thế Tôn cũng như được gặp bậc chân nhân, gặp được minh sư trong những lúc mà hoàn cảnh các vị này khốn khó, đau khổ tột cùng, con cũng thấy hình ảnh của con khi con đi sai đường lạc lối, đau khổ, trầm cảm, không có một chút ánh sáng nào để có thể đưa con ra.
Ngoài chánh pháp, ngoài minh sư thì có lẽ không ai có thể khiến cho con có được một tương lai tươi sáng, còn nó rất lo sợ bị đọa vào địa ngục hoặc xa đọa, trầm luân trong ba đường khổ. May nhờ sư phụ nâng đỡ con khi con bị vấp ngã trên đường tu, bằng tình thương của Phật pháp, bằng từ tâm sư phụ đã hướng dẫn con, dù sư phụ chưa bao giờ nói ra nhưng con cảm nhận được từ trường mà sư phụ dành cho con. Mỗi ngày con được thấm nhuần những lời dạy của sư phụ, cho con được sống trong những lời dạy nguyên chất của Đức Thế Tôn để con gột rửa cái tâm mê mờ của con. Con rất là biết ơn Đức Thế Tôn, con rất biết ơn sư phụ, khi học về các vị Thánh Ni trong con vừa có sự tôn kính, vui mừng vì người nữ cũng chứng được các bậc quả Thánh chứ không phải người nữ tu chỉ để gieo duyên, chừng nào người thành người nam mới thành thánh nhân được.
Trong con cũng có một sự xấu hổ vì con chưa có được sự thành tựu như các ngài đã đạt được. Con hứa với lòng con sẽ cố gắng, con sẽ dùng quá khứ làm bàn đạp để con tiến lên, con không để những gì trong quá khứ làm chướng ngại cho mình. Con cũng sẽ cố gắng nhiều hơn, nhiều hơn nữa để trước nhất là tự cứu mình, cũng phần nào báo đáp được công ơn to lớn của Đức Thế Tôn, công đức ấy con không biết nói sao cho hết. Con chỉ nguyện mỗi ngày con nhìn lại thân tâm của mình có chỗ nào chưa được tốt con sẽ cố gắng sửa đổi, nghe lời sư phụ, nghe lời quý sư dạy dỗ, nhìn lại tự thân của mình.
Lúc sư phụ hỏi chúng con có thấy chỗ nào mà đoạn trừ, hay chưa đoạn trừ, hay không chịu đoạn trừ thì con rất là hổ thẹn vì có những đức tính xấu xa trong con mà con vẫn chưa gột rửa được nó. Nhưng hôm nay học về những vị Thánh Ni là tấm gương sáng, con nhất định từ hôm nay bằng mọi giá con sẽ gột sạch những đức tính xấu xa này, tâm ganh tị, tật đố, bản ngã, con sẽ nhiếp phục và đoạn tận nó, không cho nó hành hạ con nữa. Con xin tri ân sư phụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy, con kính thưa chư tôn đức cùng toàn thể đại chúng. Sáng nay khi con nghe thầy nói về cuộc đời của ngài Tỳ-kheo Ni Patàcàrà thì con liền nhớ tới bài niệm chúng sanh "tất cả đều là chúng sanh, không ai là người thân của mình", con thấy rằng trước khi gặp Đức Phật thì bà sống trong vô minh cho nên bị dục ái dẫn dắt khiến cho bà phải là đau khổ, cũng chính vì vô minh cho nên bà chấp có một cái mình thật, con mình là thật, là chồng mình là thật, cha mẹ mình, anh chị em mình, do đó bà rất là khổ sở.
Bà cứ sống luẩn quẩn trong cái vòng vô minh ấy cho nên bà không có cái lối thoát. Vì thế khiến cho bà phải điên loạn và nhờ phúc duyên bà gặp được Đức Phật, nhờ ánh sáng trí tuệ của Phật, nhờ những lời giảng dạy của Đức Phật khiến cho bà tỉnh ra, bà hiểu ra và bà quyết tâm tu tập. Từ ngọn đèn trí tuệ của Phật bà mồi lấy và sau thời gian tu tập thì nó đã là ngọn đèn trí tuệ của tự thân bà, nói ra đây không phải là để là nói riêng về cuộc đời của bà mà bà chính là hiện thân của con, cũng như hiện thân của tất cả chúng sanh. Cũng như đại chúng Linh Quy ở đây, tất cả mọi người khi đến đây thì con nghĩ rằng ai cũng có một nỗi khổ, một niềm đau, khi đến đây thì giống như là bà gặp Đức Phật, vậy thì chúng con đến đây gặp thầy thì thầy đã mồi từ ngọn đèn trí tuệ của Phật soi sáng cho chúng con.
Điều cần thiết ở đây là đã được thầy soi sáng thì chúng con phải cố gắng tinh tấn, nỗ lực tu tập làm sao để từ ngọn đèn trí tuệ của thầy trở thành ngọn đèn trí tuệ cho tự thân, để soi sáng chính mình và tiếp tục mồi ngọn đèn này cho tất cả mọi người, đó là suy nghĩ của con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Pháp Nghĩa: Con cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng. Từ lúc sáng đến giờ được sư phụ chia sẻ về những tấm gương của các bậc Thánh Ni đệ tử, khi mình được nghe những lời chia sẻ từ sư phụ về những tấm gương của những vị Thánh Ni con nhận ra quay lại nhìn mình, cảm thấy thật là xấu hổ và hổ thẹn vì những gì mà mình hướng tới mục đích của người xuất mình chưa làm được. Lúc thì cố gắng một chút, lúc thì lui sụt, không có nỗ lực hết mình, luôn luôn chạy theo những cảm thọ bất thiện pháp.
Những tấm gương của vị Thánh Ni đệ tử con thấy thật là khâm phục và đáng kính nể, đã làm thân nữ nhi phải chịu cảnh tang thương, mất chồng, mất con rồi cha mẹ phải lâm vào hoàn cảnh không chịu đựng nổi, đi đến thần kinh có vấn đề, nhưng nhờ nhân duyên từ nhiều đời nhiều kiếp gặp được Thế Tôn, gặp được chánh pháp mà ngài đã thay đổi diện mạo, không còn là một người phàm phu tầm thường nữa là một vị thánh ni đệ tử. Tự đến chứng ngộ cho chính mình và giúp các vị khác cũng chứng ngộ, giải thoát khỏi dòng trầm luân sinh tử này.
Con cũng đã từng nghe sư phụ chia sẻ nhưng mà trong buổi sáng và buổi tối nay cũng cảm thọ được rất là nhiều, và cũng do được nhân duyên có sự dẫn dắt từ sư phụ và có những tiếng niệm Phật, niệm ân của Đức Phật, sự quy y bằng tiếng Pali. Con cảm thấy nó rất là gần gũi, dường như con được trở về thời của Đức Phật, con được lắng nghe chính từ kim khẩu của ngài và được trực tiếp cảm nhận những gì mà những vị Thánh Ni đệ tử đã trải qua, đưa đến chứng ngộ, chứng đạt và an trú tam minh, thấy được rõ đời sống của chính mình, thấy được rõ đời sống của mọi loài chúng sanh đưa đến giác ngộ và giải thoát.
Nãy giờ con ngồi cũng thiền quán chỉ trích chính mình, tại sao mình cho đến bây giờ không chịu nỗ lực, không chịu tinh cần, tinh tấn, lúc thì cố gắng được một chút, lúc thì buông lung phóng dật. Có xứng đáng là một vị đệ tử, người con ngoan của Đức Phật hay không? Con suy tư rất là nhiều, mình phải làm sao, phải làm thế nào để không bị những cái cảm thọ bất thiện, sự dẫn dắt của ngũ uẩn điều khiển mình. Hãy bước ra khỏi vòng luẩn quẩn của năm uẩn này, không để cho nó dẫn dắt, không để cho nó tự chủ mà mình phải là người cầm cương. Mình dẫn đường chúng chứ không phải là mình đi sau, đi sau những ý hành, những cảm thọ, những hình bóng bất thiện đó để rồi phải luyến tiếc, phải khổ đau.
Mình phải cố gắng từng giờ, từng phút, từng giây, luôn luôn an trú trong pháp, luôn luôn nhận diện ngũ uẩn, nhìn ra những cái pháp bất thiện. Trong con từ nãy giờ con chiêm nghiệm được một câu mà con cảm thấy thật là hoan hỉ, con chiêm nghiệm một câu kinh trong bài kinh Thuận Dòng.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bên bờ kia, đứng trên đất liền?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người do hoại diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bờ bên kia, đứng trên đất liền" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (V). Thuận Dòng)
Khi con nhẩm lại những lời kinh như vậy con cảm thấy trong tâm mình sự hỷ lạc dâng trào vì dù sao con đã nắm được sợi dây cương, có được chánh pháp, thấy được một đạo lộ thật là rõ ràng. Chỉ cần mình cố gắng duy trì, mình luôn luôn an trú trong pháp, luôn luôn nhận diện ngũ uẩn thì mình cũng sẽ đạt được mục đích tối thượng, sẽ là một người con chân chánh của Đức Phật, đem lại lợi ích cho chính mình, không còn phải chịu sự chi phối của năm uẩn này, không còn phải trầm luân trong vòng sanh tử đầy khổ đau, oan nghiệt và đó là những cảm nhận của con trong một ngày tu tập vừa qua. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.