Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Vì Sao Tu Ngũ Uẩn-Chơn Tín Toàn

2026-03-18 06:50:22
VÌ SAO TU NGŨ UẨN

CHƠN TÍN TOÀN

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch thầy trụ trì chùa Bửu Liên, kính bạch quý thầy cô và toàn thể quý Phật tử. Đầu buổi chia sẻ hôm nay con kính chúc thầy trụ trì, quý thầy cô và toàn thể quý Phật tử cư sĩ thân tâm được an lạc, có được một ngày tu học theo tinh thần kinh Nikāya trong hỷ lạc và thanh tịnh.

Chiều nay con sẽ chia sẻ với chúng ta vì sao chúng ta cần tu học và tìm hiểu về ngũ uẩn. Chúng ta cần tu học về ngũ uẩn vì chúng ta đang sống với một sắc thân gồm sắc; thọ; tưởng; hành và thức, chúng ta đang sống với cái thân này gọi là sắc uẩn. Ở trong cái thân này là những cảm giác gọi là thọ, và trong đầu là những hình ảnh chập chờn gọi là tưởng, đi kèm theo đó là những lời nói âm thầm trong nội tâm mình, đó gọi là hành, và chúng ta có những sự rõ biết thọ; tưởng; hành đó, có sự rõ biết sắc thân này, rõ biết về các âm thanh ở bên ngoài, rõ biết những mùi hương bay ngang mũi, rõ biết các vị khi lưỡi xúc chạm và rõ biết khi có những sự va chạm. Như vậy chúng ta đang sống với một cái thân tứ đại và chúng ta đang sống với những cảm xúc, cảm giác trong thân tâm này, chúng ta đang sống với những cái tưởng trong nội tâm, chúng ta đang sống với những lời nói âm thầm và chúng ta đang sống với sự hay biết, rõ biết. Tất cả những cái này được gọi là thân tâm của chúng ta.

Điều đầu tiên trong sự tu học là chúng ta phải biết mình, phải biết được cái gọi là mình là cái gì, cái mà chúng ta thường vỗ ngực xưng tên là tôi, là ta, ai động đến là chúng ta sân si lên, còn không thì mặt đỏ bừng lên, chúng ta phải biết rõ. Mình đang nhận cái gì là mình và nó đang hoạt động như thế nào thì mình phải biết rõ, khi mình không biết rõ mình thì ví như một người chuyện trong nhà không biết, đi biết chuyện ngoài đường. Trong ngôi nhà nội tâm, thân tâm này mà chúng ta đang trú nó vận hành, hoạt động như thế nào chúng ta không thấy không biết mà cái tâm cứ phóng ra ngoài, lao theo những cái bên ngoài, một cái tâm mà bản thân nó không biết nó là ai mà cứ chạy ra ngoài chơi long nhong thì mình thấy rõ ràng đó không phải là tâm khôn. Thành ra một tâm như vậy Đức Phật gọi là không có trí tuệ, một cái tâm mà nó không biết nó là ai, nó vận hành như thế nào, nó mải mê đối với những cái bên ngoài thì đó là tâm không khôn dù cho mình nói chuyện nghe có hiểu biết, có học thức, có bằng cấp nhưng bản thân cái gì đang nói? Cái dục đang nói hay cái ngã đang nói, hay là cái ái đang nói? Nó không biết cho nên cái khôn đó gọi là cái khôn không có lõi cây, không có gốc rễ. Thành ra lý do chúng ta học ngũ uẩn để chúng ta biết được mình là ai, mình là cái gì, cái gì gọi là mình, cái gì đang nghe, cái gì đang nói, cái gì đang thèm khát. Học ngũ uẩn là để chúng ta biết được những cái đang hoạt động và những cái đang vận hành trong cái thân này. Biết rồi thì đi đến chỗ làm chủ nó, mình không để cho những cái đó hoạt động một cách vô chủ, trí tuệ xuất hiện trong mình để làm chủ nó. Trước đây khi mình không biết thì nó làm chủ, nó chiếm hết căn nhà nội tâm, nó điều khiển mình, cái dục nào khởi là mình làm theo, sân khởi cũng làm theo nhưng giờ mình học mình biết được cái gì là dục, cái gì là ái, cái gì là sân si để mình quay về đúng vị trí của mình là mình phải làm chủ căn nhà nội tâm của mình để mình có khả năng nhiếp phục được những sắc; thọ; tưởng; hành; thức hoạt động trong dục, hoạt động trong sân si, hoạt động trong ngã mạn, hoạt động trong ta đây, ganh tị, ích kỷ, hẹp hòi. Chúng ta học ngũ uẩn để đưa chúng ta đến chỗ biết rõ về tự thân của mình, làm chủ tự thân của mình, nhiếp phục và đào thải, đuổi ra khỏi nội tâm mình những nhân vật bất thiện, trộm cướp, gọi là xấu xa ở trong căn nhà nội tâm. Học ngũ uẩn với mục đích như vậy chúng ta có thấy lý thú không? Chúng ta còn thắc mắc gì trong việc mình học hiểu ngũ uẩn nữa không thì xin mời đặt câu hỏi.

Kính thưa đại chúng, con có giai đoạn đi qua Campuchia thì thấy bên đó có rất nhiều chùa chiềng, đền tháp, có nhiều tượng Phật trên đường phố, bên đó có những con rắn trên đầu Đức Phật. Trong kinh sám hối có ghi ngũ uẩn là rắn độc, vậy thì hình tượng rắn đó và ngũ uẩn có liên quan gì với nhau không?

Trong sám hối diệt ngã có câu "bản ngã chính là con rắn độc", giết ta trong vô lượng kiếp vừa qua, vậy thì ngũ uẩn và rắn độc có liên hệ như thế nào? Rắn độc phun nộc độc cắn chúng ta thì làm cho chúng ta đau đớn, nhức nhối, thống khổ và đi đến mạng chung, thì đó là sự tai hại của một người khi gặp rắn độc và bị nó cắn. Khi một cái tâm tham đắm, trói buộc vào trong ngũ uẩn thì cũng sẽ bị ngũ uẩn cắn, và ngũ uẩn làm cho khổ đau. Cái tâm đang tham đắm vào trong sắc uẩn nhưng khi sắc uẩn này nhả trong cái nộc phía bên trong thì chúng ta sẽ chết, mà cái nộc này chính là sự vô thường, duyên sanh tạm bợ và dễ vỡ, một khi bản tánh đó của sắc uẩn đó lồi ra thì chúng ta sẽ thống khổ và sẽ bị mạng chung cùng với sắc uẩn đó. Vậy con rắn độc làm chúng ta đau khổ chính là sự nhức nhối của những vết cắn và đi đến cái chết. Khi chúng ta tham đắm vào trong sắc uẩn thì sau này sắc uẩn làm cho chúng ta đau khổ khi sắc uẩn bị bệnh hoạn, bị cùi lở, bị nghiệp chướng và tan rã thì chúng ta sẽ đau khổ như bị rắn độc cắn, mà bây giờ không bị cắn thì sắc uẩn cũng tự động đến ngày, đến giờ hết duyên thì mạng chung. Như vậy một cái tâm chấp trước vào ngũ uẩn sẽ đi đến đau khổ, thống khổ và đi đến cái chết không khác gì bị rắn độ cắn, nhưng rắn độc cắn một lần là chết một lần còn sự tham ái, dính mắc trói buộc vào trong ngũ uẩn thì chúng ta đã bị chết hàng vô lượng lần rồi, ngày giờ này chúng ta vẫn đang tiến dần đến sự chết. Chiều nay, tối nay, ngày mai, năm này, tháng sau… tất cả đang dần đi đến cái chết và lại tiếp tục chết. Chúng ta đã bị nộc độc của lòng tham ái đối với ngũ uẩn giết chết, chúng ta đang bị và sẽ bị dài dài cho đến khi nào chúng ta dừng lại được lòng tham ái, chấp thủ đối với sắc thân ngũ uẩn này. Đó là ý nghĩa của câu "bản ngã là rắn độc", mà bản ngã mà sự chấp vào cái tôi, cái ta, chấp vào cái thân này là mình, là của mình, chấp vào cái sắc uẩn này là mình, là của mình mà ai đụng đến là mình sẽ phản kháng và là những nghiệp bất thiện, và mình sẽ phải lãnh những nghiệp đó, lãnh nghiệp thì mình sẽ phải khổ đau, bản ngã đó có là sự chấp thủ đối với ngũ uẩn, mà sự chấp thủ đối với ngũ uẩn là phiền não và khổ đau. Đối với những cảm giác hằng ngày chúng ta sống, chúng ta hành xử vào trong những cảm giác, cảm xúc có mặt trong thân tâm. Cảm giác trong người khỏe khoắn, dễ chịu thì chúng ta năng nổ, cảm giác trong người bực bội thì gương mặt chúng ta không thể nào tươi vui được. Chúng ta hành xử và sống theo cảm giác, cảm xúc của mình, ngày hôm nay thương là thương hết lòng, đến ngày mai gặp chuyện sân hận sanh khởi thì trở mặt với nhau vì cảm giác thương bị diệt, không còn nữa chỉ còn cảm giác tức giận, sân hận sanh khởi thì trở mặt với nhau. Như vậy khi thấy người ta thương mình thì mình vui rồi mình dính mắc vào trong đó, còn khi người ta trở mặt thì mình sẽ đau khổ, mình sẽ quằn quại. Thành ra cảm thọ cũng sẽ giết mình, trước thì mình thấy người ta thương mình, cảm thọ sẽ vui sướng, thích thú và mình sống trong cảm giác đó, còn bây giờ cảm đó mất rồi thay thế bằng cảm giác đau khổ, mình nhớ lại cảm giác ngày xưa rồi mình lại khổ mình đau. Cho nên cái sự bám víu vào cảm giác, cảm xúc và khi những cảm giác, cảm xúc đó thay đổi thì mình sẽ khổ đau. Đối với những cái tưởng cũng như vậy, chúng ta cho những hình bóng trong nội tâm là mình, là của mình, hình ảnh thương người này người kia hiện lên trong nội tâm, chúng ta nói đó là mình là của mình, nhưng những cái tưởng này là vô thường, là duyên sanh. Khi chúng ta mất thì những hình bóng trong nội tâm, những cái tưởng trong nội tâm nó hiện ra, nó hoạt động và nó ám ảnh, một người trong giờ phút thân hoại mạng chung thì bao nhiêu những kỉ niệm, kí ức quá khứ buồn vui, sân hận, thương ghét sẽ hiện lên hết trong nội tâm và làm cho người này đau khổ, làm cho người này quyến luyến, tham ái, trói buộc vào trong những ảo ảnh đó, với một cái tâm ảo tưởng như vậy thì khi chết cái tâm đó đâu có yên như tâm của Đức Phật và các bậc A-la-hán, cái tâm đó làm một cái tivi đang chiếu liên tục nên khi mất cái tâm đó được gọi là tâm động chứ không phải là tâm yên, thì với một tâm động, ám ảnh vào những cái tưởng ám ảnh thì tâm đó sẽ tiếp tục bị nghiệp lực dẫn đi trong tái sanh. Thì có phải là cái tưởng cũng là một con rắn độc, nó lại tiếp tục đưa mình đi tái sanh, mà hễ tái sanh là tái tử tức là mình sẽ bị chết nữa, rồi tái tử sẽ có tái tử, cứ tiếp tục như vậy. Khi mình tham ái, chấp thủ vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì những cái đó chính là rắn độc, mình phải nhìn ra được điều đó, nếu không nhìn ra được thì mình sẽ sanh sanh tử tử trùng trùng điệp điệp, không dứt ra được. Đó là nguyên nhân của sanh tử, là lòng tham ái trói buộc vào trong năm uẩn, không biết bản chất của năm uẩn là duyên sanh, là vô thường, là tạm bở. Dính mắc vào thì khi năm uẩn tan rã thì chúng ta sẽ khổ đau và tìm kiếm năm uẩn mới, không tìm thì tự tử muốn chết. Đối với những người chán đời đi tự tử vẫn không chết được, chỉ chết được một đời này thôi nhưng vẫn không ngừng sự sanh tử ở đời sau, thành ra cái chết đó chỉ làm tăng thêm sự đau khổ trong đời sống kế tiếp, tại vì một cái tâm phiền não như vậy, đau khổ như vậy trong sự chết có thể đưa người này xuống địa ngục. Cái sự đau khổ đó tương ưng với cảnh giới địa ngục thì sẽ đi vào địa ngục, thành ra mình tìm đến sự chết bằng cái tâm đau khổ thì cái nơi đi đến địa ngục. "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ", cũng vậy với một cái tâm đau khổ như vậy thì không thể nào tương ứng với một cái nơi đang vui vẻ, hạnh phúc để đi vào, mà nó sẽ tìm đến những nơi khổ đau. Cho nên cảnh giới mà cái tâm đó tương ứng là cảnh giới của khổ đau, mà khổ đau là địa ngục. Chúng ta nhìn thấy được như thế nào là sự chấp thủ đối với ngũ uẩn, chúng ta có sự chấp thủ như vậy thì chúng ta sẽ có sự đau khổ mà chúng ta phải chịu đựng. Đó là sự đau khổ triền miên trong sanh tử, con hay nói câu là rắn độc cắn chúng ta chết một lần nhưng cái vô minh, vô trí, tham ái chấp thủ đối với ngũ uẩn thì nó giết ta hằng vô lượng lần. Nếu chúng ta muốn dừng lại những cái sanh tử phiền não, đau khổ này thì chúng ta cần phải có trí tuệ về ngũ uẩn.

Con mời cô Liên Thuận, trưa nay trong giờ ăn ngũ uẩn của cô vận hành như thế nào ạ?

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kích bạch trên sư phụ, kính thưa quý sư cô, kính thưa cô Chơn Tín Toàn cùng toàn thể đại chúng. Trưa nay là buổi đầu của sư phụ hướng dẫn về chánh quán khi thọ thực. Khi ngồi thì con thực hành ba pháp: Chánh niệm trước mặt; trở về hơi thở, cảm giác toàn thân; nội tâm tỉnh giác. Sư phụ giảng dạy tới đâu, con quán chiếu nhìn lại ngũ uẩn tới đó. Cảm thọ trong con vô cùng hoan hỷ và hạnh phúc khi thực hành lại những đức hạnh của Phật dạy cũng như gương hạnh của chư thánh Tăng, thánh Ni năm xưa, nhất là cái hạnh chánh quán khi thọ thực. Buổi ăn có đầy đủ những cái dục tham ái, mỗi buổi như vậy mình phải kiểm soát nó thật kĩ càng, không có nó hoạt động như trước khi được học. Con có cảm giác lạc thọ, cái tưởng của con là trang nghiêm, thanh tịnh trong đạo tràng, hình bóng oai nghiêm của sư phụ và toàn thể đại chúng. Ý hành của con nói thật là hạnh phúc, nói phải luôn kiểm soát ngũ uẩn của mình. Ý thức của con rõ biết sáu thức, mắt con rõ biết trước mặt, tai con rõ biết âm thanh của sư phụ giảng, thân thức con rõ biết con đang ngồi trang nghiêm trước bữa ăn.

Con cám ơn cô, vừa rồi tại sao cô lại trả lời được thưa cô?

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Khi cô vừa hỏi thì cái tưởng của con nhớ lại hình bóng của con hồi trưa, ý hành của con vận hành suy nghĩ lại từng chi tiết về bữa ăn, cái thức cũng rõ biết.

Cái hoạt động chính để có thể trả lời một câu dài như vừa rồi thì hoạt động chính là gì?

Là ý hành của con.

Cái làm cho ý hành có thể phát biểu ra được là gì?

Đó là thức của con.

Do duyên có gì mà ý hành phát biểu ra điều đó?

Do duyên có ý sanh ra thọ; tưởng; hành

Nhưng nếu cái tưởng về bữa ăn trưa nay không hiện khởi thì ý hành có phát biểu được không thưa cô?

Dạ không

Thì như vậy ý hành phát biểu được là như thế nào?

Ý hành phát biểu được là do mắt tiếp xúc với sắc, cảnh bên ngoài sanh khởi ra cảm thọ, và tưởng; hành.

Bây giờ mình nói về cái duyên gần nhất, chưa nói về cái duyên sanh pháp trước đó mà nói về trong nội tâm. Khi nào chúng ta trả lời là "con không nhớ, tôi không nhớ", và khi nào chúng ta trả lời là "tôi nhớ" ?

Là khi ý hành khởi lên.

Cái câu "Tôi nhớ hồi xưa này tôi ăn vầy" hoặc "tôi không nhớ trưa này tôi ăn như vầy", vì sao mình nói được câu đó?

Là do tưởng hiện khởi nên ý thức hoạt động.

Đúng rồi, nó phải có tưởng và mỗi một ý hành của mình nói "trưa này tôi ngồi ăn trong sự hỷ lạc, thanh tịnh", chúng ta phát biểu được như vậy là do hình ảnh buổi ăn hiện khởi trong tâm, hình ảnh thứ hai là cảm giác thanh tịnh, hỷ lạc trưa này hiện khởi trong tâm của mình. Cho nên chúng ta mới phát biểu "trưa nay tôi đã ăn bữa ăn rất là thanh tịnh, rất là dễ chịu và hỷ lạc", thì lời nói như vậy là ý hành. Nhưng ý hành ra được là vì hình ảnh của thọ; tưởng; hành hồi trưa ngồi ăn bây giờ hiện khởi trở lại trong nội tâm, nó hiện khởi xong rồi ý hành mới phát biểu xung quanh những hình ảnh đó và ý hành đó sẽ phát ra khẩu hành của chúng ta. Thành ra một sự phát biểu thì chúng ta vẫn phải nhìn, vẫn phải nhận diện ngũ uẩn để mình biết khi mình phát biểu duyên gì mới có những lời phát biểu đó. Đó chính là sự tinh tế trong việc học ngũ uẩn của chúng ta.

Còn nếu chúng ta phân tích theo duyên sanh pháp thì như thế nào? Những câu hỏi mà con hỏi sâu như vậy gọi là truy sát vô minh, có nghĩa là chúng ta truy sát vào trong trạng thái vô minh của vị đó, mỗi một câu hỏi đặt ra thật sự là một trí tuệ trong tự thân. Mình chỉ biết tới đây thôi, phần còn lại là vô minh nhưng mà nó chạm vào chỗ không biết, chỗ vô minh là dừng lại, nhưng những câu hỏi như vậy cũng là sự kiểm tra sự tu học của chúng ta. Khi con mời cô con hỏi, chúng ta trả lời một nhưng con sẽ xem xét khả năng tu học của vị này, vị này có thể trả lời câu thứ hai nữa hay không thì con sẽ hỏi tiếp câu thứ hai, trả lời câu thứ hai thì con sẽ xem tiếp có thể trả lời câu thứ ba nữa không thì con sẽ hỏi đào sâu vào nữa. Mỗi một câu hỏi sẽ đi sâu vào trong trạng thái tâm, hễ nó chạm tới cái vô minh thì sẽ dừng lại. Nhờ những câu hỏi như vậy mình mới sáng ra "điểm này mình chưa rõ, điểm này mình chưa tỏ, và điểm này mình cần phải học thêm nữa", thành ra trong sự tu học đừng sự sự truy sát vô minh.

Duyên sanh pháp trong câu trả lời của cô Liên Thuận là như thế nào thưa cô?

Mô Phật. Thưa cô và đại chúng. Về câu trả lời của cô Liên Thuận thì thứ nhất thì những hình bóng của buổi ăn trưa hôm nay là những cảm thọ do mắt có sắc, có duyên theo các sắc mới có sự nhận biết của các sắc. Khi sự rõ biết sinh ra nhãn xúc, khi có nhãn xúc sinh ra thọ, khi có thọ thì thọ này thuộc về thọ do nhãn xúc sanh, trong đó là sắc tưởng, sắc tư. Khi lưỡi tiếp xúc các vị thì sanh ra thiệt thức, khi có sự rõ biết các vị do duyên có xúc nên sanh ra thiệt xúc, khi có thiệt xúc sanh ra thọ do thiệt xúc sanh, trong đó có vị tưởng, vị tư. Một bữa ăn có rất nhiều cảm thọ trong đó, một là lạc thọ, hai là hỷ thọ hoặc nếu không có hoan hỷ thì có cảm giác khó chịu, đó lại là khổ thọ. Cái tưởng khởi lên thì những hình ảnh khởi lên trong đó, một khi khởi lên thì khởi lên cả thọ; tưởng; hành hoạt động cùng lúc và rất nhanh. Nếu mình không kịp quan sát thì nó qua mặt mình cũng rất nhanh. Mô Phật,.

Có vị nào có thể trình bày chính xác? Một câu hỏi khi con đặt ra duyên sanh như thế nào?

Tức là do mình có nhĩ xúc, tức là nghe được câu hỏi của cô thì bắt đầu tưởng và ý hành hoạt động.

Tạm được như chưa rõ ràng. Ví dụ chúng ta nghe một câu nói rồi chúng ta phản ứng. Cái phản ứng ra nó như thế nào? Chúng ta không thấy, không biết, chúng ta chỉ biết có phản ứng nhưng vì sao có phản ứng? Do chúng ta không nhìn thấy biết, mà không nhìn thấy biết thì làm sao đi đến chỗ kiểm soát con người mình. Tu là đi đến trong sự thấy được thân tâm của mình, và đi đến chỗ làm chủ thân tâm và kiểm soát được thân tâm mình, cái gì đang vận hành, vì sao nó vận hành, vì sao nó hoạt động. Mà chúng ta không thấy không biết thì tu cái gì? Tu là tu tập, mà tập là tập nhận diện bản thân mình, tập làm chủ bản thân mình. Một lời nói người ta nói ra rồi mình trả lời nhưng vì sao mình trả lời? Và mình đang trả lời bằng cái gì? Mình không thấy, không biết thì làm sao mình tu? Người ta nói một câu mà mình nghe rồi mình sân hận, mình nghe rồi mình tức giận, mình nghe rồi mình ra thân nghiệp; ý nhiệp; khẩu nghiệp mà mình cũng không thấy những cái nghiệp lực đó, không thấy không biết gì hết thì tu cái gì? Sự tu như vậy là chúng ta tu không có cội rễ, không có nền tảng, sự tu như vậy là sự tu hời hợi, như xây nhà trên cát, mà xây nhà trên cát thì chỉ cần một cơn gió thổi qua là ngôi nhà sụp đổ. Khi chúng ta tu không có căn bản, không có nền tảng thì chỉ cần một cơn gió của dục, của tham, của sân si, của ái thổi qua thì chúng ta sẽ bay đi mất.

Đây là một câu hỏi khó nên việc trả lời gặp khó khăn, nhưng con yêu cầu chúng ta phải học thuộc căn bản trí. Căn bản trí là những trí tuệ căn bản, trí tuệ nền tảng của một người tu, nhờ cái này mà một người tu mới có khả năng đi sâu vào trong nội tâm của mình, mới có khả năng nhìn thấy biết được những gì đang hoạt động trong nội tâm mình. Nếu không có trí tuệ căn bản này thì không thể nào chúng ta đi sâu vào trong tự thân mình và thấy biết được tự thân mình, thành ra đây được gọi là căn bản trí, nhưng nó không có nghĩa là cái căn bản thôi, rồi chúng ta tu cao thì cái này thì cái này không còn liên quan nữa. Con xin thưa đây được gọi là căn bản trí nhưng đây là căn bản trí của một người đi từ sự bắt đầu tu học cho đến sự chứng quả A-la-hán, căn bản trí cũng có nghĩa là trí tuệ đầu đuôi của sự tu học. Vì con không tìm được câu nào thích hợp để nói về trí tuệ đầu đuôi của sự tu học nên phải để danh từ là "Căn bản trí", chứ nó không phải chỉ là trí tuệ căn bản sơ khởi, bước đầu thô sơ mà đây là trí tuệ xuyên suốt trong quá trình tu tập để đến sự giải thoát sanh tử của chúng ta.

Nếu chúng ta xét theo duyên sanh thì tại sao cô Liên Thuận trả lời được câu hỏi này. Vì sao có câu trả lời đó và duyên sanh của câu trả lời đó là gì? Là duyên có lỗ tai và do duyên có âm thanh của con sanh khởi ra cái pháp thứ ba là sự rõ biết âm thanh. Con xin mọi người hãy bỏ danh từ "con mắt nhìn thấy lỗ tai nó nghe", nếu chúng nói như vậy là chúng ta đã đồng hóa các pháp mắt; tai là căn và sắc; thanh; hương; vị; xúc là trần, sự thấy các pháp hay còn gọi là sự rõ biết, là sự rõ biết các âm thanh là thức. Khi chúng ta nói "Con mắt tôi thấy lỗ tai, tôi nghe", chúng ta phát biểu như vậy thì sẽ không rõ ràng trong việc căn; trần; thức là như thế nào, ba pháp phải rạch ròi. Con mắt chỉ là con mắt nhưng sự rõ biết, thấy các sắc được gọi là thức. Chúng ta còn cái thân tứ đại, chúng ta có hai con mắt thịt, có những cảnh giới chư thiên như Phạm thiên thì chư thiên trong cảnh giới này, khi Ngài xuất hiện là sự hiện hữu của ánh sáng màu xanh và có những chư thiên có thân bằng một cái tâm thức, chứ cũng không phải là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Đầu tiên trong sự tu học chúng ta phải xác định cho rõ cái nào là căn, cái nào là trần, cái nào là thức. Chúng ta phải nói cho rõ là duyên có con mắt sanh ra sự rõ biết các sắc pháp, hay còn gọi là sự thấy. Do duyên có lỗ tai sanh ra sự rõ biết các âm thanh, gọi là nhĩ thức, chứ không phải là lỗ tai. Lỗ tai là căn mà sự rõ biết các âm thanh là nhĩ thức. Như vậy là do duyên có lỗ tai và có âm thanh sanh ra sự rõ biết các âm thanh. Thứ nhất là chúng ta có lỗ tai, thứ hai là có âm thanh con đang nói và thứ ba là chúng ta đang rõ biết có âm thanh này. Như vậy ba pháp đang hình thành, và hội tụ với nhau tạo nên xúc- là sự giao thoa, sự xúc chạm giữa lỗ tai, âm thanh và sự nghe, là sự giao thoa, xúc chạm giữa căn; trần; thức. Trong cái giao thoa, xúc chạm này sanh ra những cảm giác gọi là thọ sanh tưởng, suy nghĩ và hành. Sanh ra thọ; tưởng; hành mà thọ là thọ nhận âm thanh con vừa mới nói, được gọi là thọ do nhĩ xúc sanh. Tưởng này gọi là thanh tưởng, là hình bóng âm thanh con nói đang đi vào trong nội tâm, và nằm trong đó. Trong chúng ta sanh ra âm thanh thì gọi là hành. Hãy nhớ thức chỉ là sự rõ biết, khi đó sanh ra thọ; tưởng; hành. Nhưng để cô Liên Thuận có thể trả lời được thì lại đi qua lớp thứ hai là thọ; tưởng; hành tiếp nhận như vậy thì lập tức ý căn xúc chạm với thọ; tưởng; hành này. Ý căn là sự để ý trong tâm chúng ta, xúc chạm với thọ; tưởng; hành này sanh ra sự rõ biết những thọ; tưởng; hành này, tức là biết âm thanh của lời con nói, ý nghĩa lời con nói, thì sanh ra ý căn xuất hiện và có thọ; tưởng; hành thì sanh ra ý thức là sự rõ biết những cái thọ; tưởng; hành này.

Bây giờ chúng ta đang hình thành ba pháp tiếp theo. Thứ nhất là thọ; tưởng; hành, thứ hai là ý căn, thứ ba là ý thức. Ba pháp này giao thoa với nhau, chính là chỗ cô chừng chừ, từ từ trả lời các câu hỏi. Tức là nó đang giao thoa tiếp, gọi là ý xúc, trong ý xúc lại một dòng thọ; tưởng; hành thứ hai sanh khởi. Dòng thọ; tưởng; hành thứ hai sanh khởi, phân tích rõ những cái gì con đang nói thì bắt đầu cô phát biểu ra. Trong lúc đang nói cô ngưng lại thì những dòng thọ; tưởng; hành tiếp tục sanh khởi và cái ý xúc thứ ba, thứ tư, thứ năm sanh khởi. Như vậy trong một câu trả lời không phải chỉ có một tâm ý mà những cái thọ; tưởng; hành này sanh khởi rồi đến những cái thọ; tưởng; hành khác sanh khởi. Nó sanh liên tục nên cô mới trả lời được, còn không sanh được là quên luôn, không nhớ. Chúng ta gợi nhớ trưa nay như thế nào nhưng gợi không được, mà gợi không được là do chúng ta có tưởng nhưng đó là cái tưởng rỗng không, một hình bóng rỗng không hiện ra trong tâm. Các cụ lớn tuổi nhiều khi muốn mà không nhớ được, chúng ta ráng gợi nhớ trong lòng "người này tên gì ta" nhưng nó không hiện lên được chữ thành ra không nhớ được, thì lời phát biểu "tôi không nhớ người đó tên gì" chính là hành.

Đây là điều hết sức tinh tế khi chúng ta học về ngũ uẩn, chúng ta sẽ hết sức lý thú, khoan khoái vì chúng ta đọc được sự sanh diệt liên tục trong nội tâm mình một cách rất khủng khiếp. Một cái thành ý hình thành là vụt ra tới khẩu hành, khi đó phát biểu "tôi không nhớ", nhưng cái phát biểu này bên trong là một hình bóng rỗng không, chứ nó không hiện ra tên cho nên mới nói không nhớ, chứ hiện ra tên là sẽ nhớ liền. Thành ra mỗi một lời chúng ta nói, mỗi một việc chúng ta làm là sự biểu hiện thọ; tưởng; hành bên trong chúng ta là như thế nào. Chúng ta học về căn bản trí, chúng ta học về duyên sanh pháp là để chúng ta đọc được hết tất cả sự vận hành, hoạt động bên trong chúng ta, và khi phát biểu như vậy là những dòng thọ; tưởng; hành trong cô Liên Thuận được sanh khởi một cách liên tục, nó sanh khởi tới khi nó không sanh khởi được nữa thì cô dừng lại, ngắt câu trả lời. Con ngồi nghe cô phát biểu là con nghe và hiểu được cái trạng thái tâm cô đang vận hành như thế nào, thọ; tưởng; hành gì đang khởi để cô phát biểu. Thì người tu về ngũ uẩn thì có thể nghe và hầu như chúng ta có thể thông tỏa được đôi phần, không nói mình hiểu hết nhưng có thể thông tỏa đôi phần về ngũ uẩn bên trong vị này đang hoạt động như thế nào mà vị này lại đang trả lời như vậy.

Nhưng có những điểm mình không hiểu hết được. Vẫn có những cái tời giờ này con học được chữ "không ngờ", chứ không phải mình học là mình hiểu được hết. Còn có những chỗ không ngờ, không ngờ ở đây là có những nội tâm, có những ngũ uẩn nó nhằng nhện, nó rằng ri, phức tạp, nó gian trá lừa đảo, che giấu, có những ngũ uẩn hoạt động tinh ranh xảo quyệt, quỷ quái. Thành ra có những thân hành mình có thể đọc được nhưng sau đó năm, mười phút lại tiếp tục lại có những sự vận hành của thọ; tưởng; hành mà trong đó bản ngã, cái ta, cái tôi, cái ngụy biện hơn thua xuất đầu lộ diện bên trong, vì vậy sau đó người đó lại hành xử theo kiểu khác. Cho nên cái sự vận hành nội tâm của chúng ta hết sức là tinh ranh, là quỷ quái ở phía bên trong này, không có đơn thuần. Bây giờ nghe nói vui cười như vậy nhưng khi đi ra suy nghĩ lại là chống đối, suy nghĩ lại là công kích, những cái thọ; tưởng; hành vô minh, si ám bên trong nó vận hành, nó sanh khởi. Nếu một người có trạng thái tâm bị lệch lạc, nghiêng về những cái tà kiến si ám quá nhiều thì ngồi nghe như vậy nhưng khi buông ra thì bao nhiêu những tà kiến sai lầm, những trạng thái tâm siêu vẹo sanh khởi xô những chánh kiến vừa được học trôi đi mất. Thành ra ngồi học như vầy chưa chắc vào được chánh kiến, chưa chắc tiếp nhận được trí tuệ mà mình đang tu học, đứng dậy là vô minh, tà kiến đẩy đi, chấp thủ và tham ái nhào vô đẩy sạch hết những cái tốt đẹp mình được học. Con thưa thật là trong sự tu học này rất là thiên nan, vạn nan giải, đây là một cuộc chiến đấu vĩ đại và to lớn là vì chúng ta đang chiến đấu chống lại để diệt khối vô minh uẩn to lớn trong nội tâm này. Đức Phật gọi vô minh là vô minh uẩn, là một khối si ám, u mê tăm tối to lớn, chằng chịt và vô cùng khó khăn để có thể đào thải ra khỏi nội tâm chúng ta.

Có một bài kinh nói về ngài A-nan khen các vị thiếu vị bắn cung rất hay, có thể bắn cung chẻ qua sợi tóc thành ra ngài nói với Đức Phật thật là hy hữu thay, thật là khó khăn thay, có thể bắn cung chẻ qua như vậy, Đức Phật hỏi việc nào là khó khăn, bắn một cây cung chẻ một sợi tóc với việc bắn một cây cung vào sợi tóc đã được chẻ ra một trăm lần? Cái nào khó hơn? Dĩ nhiên đây là việc hết sức khó, cũng vậy Đức Phật nói này A-nan-da, thật là khó khăn thay việc có thể đâm thủng, có thể thể nhập bốn trí về ngũ uẩn, thật là khó khăn thay để có thể thấy biết được thế nào là khổ, nguyên nhân khổ sanh khởi, nguyên nhân khổ diệt tận và phương pháp tu tập để thoát khỏi phiền não và khổ đau, tức là bốn thánh trí về ngũ uẩn. Đức Phật nói thật là khó khăn biết bao nhiêu cái việc chúng ta tu học và thể nhập vào thánh trí về tự thân này, ngũ uẩn là tự thân chúng ta, thì cái việc tu học để thể nhập vào thánh trí để thấy được tự thân này thì xin thưa rằng nó chẳng khác gì với sự khó khăn trong việc bắn cung chẻ được sợi tóc đã được chẻ ra một trăm lần. Thành ra cái việc tu học về thánh trí về tự thân này, thánh trí về ngũ uẩn là một điều hết sức khó khăn, vì vậy con mong chúng ta phải hết sức cố gắng, không xem thường. Khi chúng ta tu học cái này rồi thì chúng ta sẽ thấy cái tâm chúng ta, và sẽ thấy những cái tâm xung quanh thật sự là vô minh, xấu xa tồi tệ đầy trong chúng ta. Chúng ta làm cái gì, thương cái gì thì trước tiên cũng nghĩ cho mình. Sở dĩ chúng ta thương một người vì do người đó thương mình, người đó làm điều gì đó cho mình, người đó làm cái gì đó của mình thì chúng ta mới làm lại cho người đó. Khi nội tâm chúng ta làm mới đầy đủ hết sự che giấu, dối trá, lừa phỉnh bao nhiêu, tu học đi rồi chúng ta thấy thích lắm. Giống như khi xem phim có nhiều tình tiết gây cấn, ghê gớm thì tâm mình y như vậy.

Trong một câu trả lời như vậy thì bao nhiêu thọ; tưởng; hành trong cô Liên Thuận sanh diệt liên tục. Một sự sanh diệt của sắc; thọ; tưởng; hành; thức như vậy thì được gọi là sanh sanh diệt diệt liên tục, tất nhiên khi cô trả lời khi ngồi ăn với cảm giác rất thanh tịnh rồi cô im lặng chừng một, hai giây rồi cô lại trả lời tiếp rồi lại im. Thì trong khi cô im cái thọ; tưởng; hành hiện khởi đã được cô trình bày. Sau khi trình bày cô dừng lại một chút thì trong cô lại sanh khởi các ý, các pháp, ý thức, ý xúc sanh ra thọ; tưởng; hành tiếp theo thì cô lại trả lời. Tất cả những cái đó gọi là chúng sanh, chúng ta được gọi là chúng sanh, mà chúng sanh ở đây là ngũ uẩn sanh. Chúng là được dùng để nói về ngũ uẩn, mà ngũ uẩn sanh khởi liên tục trong nội tâm là một sự sanh diệt liên tục âm thầm phía bên trong, còn kết hợp thêm sắc uẩn thì là sự sanh tử bên ngoài. Cái sanh tử mà chúng ta nhìn thấy là sự sanh tử của ngũ uẩn ở phía bên ngoài nhưng thật sự cái sự sanh tử trong nội tâm này là liên tục, không phải chờ đến khi cái thân này chết mới gọi là tử, những cái thọ; tưởng; hành trong chúng ta sanh chết một cách liên tục, không dừng nghỉ. Chúng ta có thấy điều đó không? Chúng ta đang suy nghĩ như vầy, sau đó lại suy nghĩ khác, tiếp tục lại suy nghĩ khác nữa, cứ tiếp diễn như vậy thì đó gọi là chúng sanh. Danh từ chúng sanh dùng để nói về ngũ uẩn. Con chia sẻ để chúng ta nhìn thấy được cái trí tuệ tu học về ngũ uẩn trong cuộc sống này, nó không phải là một mớ lý thuyết nằm trong kinh sách, nó không phải là một mớ lý thuyết nằm trên bàn thờ mà đây chính là sự tu học về thực tế trong thân tâm chúng ta. Chúng ta đang tu học thực tế là chúng ta đang như thế nào. Bây giờ chúng ta đang có cảm giác gì? Ai có cảm giác dễ chịu giơ tay lên giùm con. Ai đang có cảm giác khó chịu giơ tay lên. Ai đang có cảm giác bực với những lời con nói giơ tay lên. Hay là giờ vị nào có cảm giác trơ trơ trước những lời con nói thì cũng giơ tay lên. Thì chúng ta đang ngồi đây chúng ta có cảm giác như thế nào, chúng ta nhìn lại và chúng ta thấy, chúng ta biết. Cho nên đây là một thực tại, một lát về nhà gặp cái gì chúng ta sân lên thì chúng ta có cảm giác khó chịu, tức tối, bất an trong người. Chúng ta nhìn lại "nãy học ngũ uẩn giờ nhìn lại thấy nó". Thành ra nhờ mình học ngũ uẩn mà mình thấy là mình dễ chịu hay khó chịu, rồi hình ảnh người đó ám ảnh trong đầu mình, rồi những suy nghĩ chạy quanh đầu mình thì chúng ta sẽ nhận diện ra. Nhận diện ra rồi chúng ta tác ý, đào thải nó "mình có cảm giác bực với người này nhưng bực để làm gì? Mình bực với người ta mình không được gì hết, được chăng là sự nuôi dưỡng lòng sân si, nóng nảy, không được gì hết". Mình bực với người ta mình không được cái gì hết, chỉ nuôi dưỡng những dòng cảm giác tham sân si, mà khi tham sân si nhiều quá thì đi vào địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.

Khi chúng ta quán như vậy thì không nên nuôi dưỡng cái xấu, khi chúng ta thấy trong nhà toàn đồ dơ, đồ xấu thì thôi bây giờ chúng ta đem bỏ nó đi chứ để làm gì, chúng ta đảo thải, tẩy rửa nó ra và chúng ta sẽ có nhiều phương pháp như lý tác ý để đào sâu và tẩy rửa những cái tham sân si ở trong tự thân của mình. Con hi vọng những lần sắp tới sẽ có những vị có thể chia sẻ, trả lời được câu hỏi này, và quan trọng trong sự tu học này là chúng ta phải ráng học thuộc lòng thì sẽ không bị lan man vào câu trả lời của mình, phát biểu không rõ ràng thì chúng ta không hiểu gì hết. Thành ra chúng ta phải cố gắng học thuộc những cái căn bản và khi trả lời là phải chính xác, không có nói "con mắt thấy", mà phải là "do duyên mắt và sắc sanh ra sự rõ biết các sắc pháp". Phải trả lời như vậy.

Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.