Yếu Chỉ Kinh Tạng NIKAYA
YẾU CHỈ KINH TẠNG NIKĀYA
–Thích Minh Thành–
Kính bạch trên chư tôn đức, kính thưa toàn thể chư Tăng Ni và đại chúng. Được sự chỉ dạy của chư tôn đức, Minh Thành cùng quý thầy cô chia sẻ về yếu chỉ kinh tạng Nikāya, chủ đề này rất sâu rộng nhưng thời gian có hạn nên chúng ta sẽ giới thiệu tổng quát hơn là đi chuyên sâu. Kính thưa quý thầy, quý cô, sau đây là bài kệ của Bồ-tát Tất-đạt-đa lúc mới thành đạo gọi là bài kệ chứng ngộ:
"Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng không gặp
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh".
(Kinh Pháp Cú 11 Phẩm Già, kệ 153)
"Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Ðòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong".
(Kinh Pháp Cú 11 Phẩm Già, kệ 154)
Ngài nói rằng bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp ở trong sanh tử ngài đã đi lang thang tìm kiếm nhưng không gặp được người đã làm ra căn nhà của sống chết, căn nhà của sanh tử, căn nhà của dòng tái sanh liên tục không chấm dứt, cho đến giờ phút này ngài đã thấy được người đó, người đó không còn làm nhà nữa, kèo cột đã gãy hết, tham ái tiêu vong hết tất cả. Vậy người xây dựng lên căn nhà luân hồi sanh tử, tạo ra dòng tái sanh chính là vô minh và tham ái, vô minh là sự không thấy không biết, tham ái là sự yêu thích, ham muốn, trói buộc, dính mắc, chấp thủ. Nhưng vấn đề là đối với cái gì mà mình vô minh? Đối với cái gì mà mình tham ái, yêu thích? Nếu chúng ta không thấy rõ được từ đâu sanh khởi ra vô minh, vô minh đối với cái gì, từ đâu có ra tham ái và tham ái đối với cái gì thì mình sẽ không giải quyết được gốc rễ của vấn đề, chỗ trọng tâm hôm nay chúng ta tìm hiểu chính là năm thủ uẩn, toàn bộ kinh tạng Nikāya là trình bày về trí tuệ năm uẩn. Năm uẩn này chính là thân tâm, đời sống của chúng sanh, đầu tiên là sắc uẩn chính là thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại, như vậy phần sắc uẩn này bao trùm con người, sự vật, hoàn cảnh bên ngoài, từ hạt bụi cho đến quả đại cầu đều không ra ngoài chữ sắc uẩn, chúng ta không thấy, không biết, không rành, không rõ về sắc này nên nắm giữ sắc này và cho sắc tứ đại này là tôi và của tôi, đây là cái vô minh thứ nhất cũng là cái nhìn sai lầm thứ nhất, chính cái này đưa đến khổ đau. Trí tuệ thứ nhất trong bốn Thánh trí về năm uẩn chính là sự chấp thủ vào năm uẩn là phiền não và khổ đau, chấp thủ là nắm giữ vào sắc, chúng ta chấp thủ vào sắc vì không biết sắc chỉ là tứ đại, vì không biết sắc là tan hoại, tan nát, là hoại diệt, sắc chỉ như bọt nước, như món đồ gốm thì dù cho còn là đất sét hay đã nung rồi thì tánh chất tan vỡ, bể nát đã nằm sẵn trong món đồ gốm nhưng chỗ không hiểu, không biết, không thấy, vô minh chính là đi nhận món đồ gốm này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Chúng ta dùng Thánh trí năm uẩn này soi từng góc độ, góc độ thứ nhất là soi về tổ hợp sắc chất này gọi là sắc uẩn, uẩn là sự tập hợp, tích tụ để sanh khởi, như vậy chữ sắc uẩn này có nghĩa là tổ hợp của sắc chất, tổ hợp này gồm bốn thành phần kết hợp là đất, nước, gió, lửa và chúng ta bị ngộ nhận, nhìn sai lầm về sắc này. Đầu tiên chúng ta nhìn từ thô vào tế, căn nhà, ngôi chùa, tịnh thất nơi mình ở thì mình đều nghĩ nó là của mình, chiếc xe trong nhà mình thì mình nghĩ nó là của mình, khi gắn chữ "của mình", "của tôi" vào thì lúc đó có vấn đề, có người thích hoa, cây kiểng, bonsai nhưng bỗng nhiên cây kiểng quý chết thì người này đau buồn, bực bội, khổ sầu vì người này nghĩ "cây đó là cây của tôi", khi mình gắn chữ "của tôi" vào bất cứ món đồ nào thì cái đó là sự chấp thủ sắc uẩn, tức là sự nắm giữ, nắm chặt vào món đồ đó và cho rằng cái đó của mình, đây cũng là nguyên nhân của phiền não, khổ đau, sầu bi, lo lắng, sợ hãi, bất an, đi đâu cũng nhớ đến cây kiểng quý sợ bị ăn cắp, cảnh vật ở bên ngoài cũng cho rằng nó là tôi, là của tôi, đi xa là nhớ, tiến sâu vào tấm thân này cũng vậy, mình cho rằng tấm thân này là mình, là của mình. Tóc, răng, móng, lông, tim, gan, phèo, phổi, tùy phế thận là đất, nước tiểu, máu mủ, hồ hôi, nước mắt, nước mũi, những chất ướt trong cơ thể là nước, những hô hấp tuần hoàn động chuyển trong cơ thể thuộc về gió, hơi ấm trong cơ thể thuộc về lửa.
"Một bao máu mủ, bao năm khổ luyến ân tình
Bảy thước xương khô, mặc sức tham xan tiền của.
Thở ra không hẹn thở vào
Ngày nay không tin ngày kế
Trôi nổi sông yêu giờ nào nghỉ
Nấu ung nhà cháy biết bao thôi?".
(Phổ Khuyến Phát Bồ-đề Tâm – Trần Thái Tông)
"Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tim gan, máu, thịt xương
Phủ ngoài mỗi lớp da trơn láng
Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ".
(Thiền quán thân trống rỗng)
Nếu muốn phá trừ sự chấp thủ, sự vô minh, sự vô trí không thấy không biết, sự say đắm, ham mê, yêu thích trong tổ hợp sắc chất này thì Đức Phật dạy phải quán chiếu tứ đại, ba mươi hay thể trược, chín giai đoạn của một tử thi hay còn gọi là niệm thân, nói đầy đủ phải có sáu pháp là niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược và niệm chín giai đoạn của một tử thi, Đức Phật gọi sáu pháp này là niệm thân hoặc là Thân Hành Niệm, đó là sự quán chiếu về tự thân, là cái nhìn đúng đắn về thể xác, hình hài, sắc chất, sắc pháp này, nhìn thấu đáo, nhìn chân chánh vào đó, cái nhìn này phải thường xuyên và liên tục bằng tác ý, tư duy, thiền quán để thể nhập, thâm nhập thật sự vào sự thật tấm thân mấy chục kí này là tứ đại, nó chỉ là tóc, lông, móng răng, da thịt, gân xương, nó là nơi bài tiết ra những sự rỉ chảy của bất tịnh, của nhơ nhớp, bất tịnh, nó là nơi bài tiết những chất xấu hổ, hôi thối, Đức Phật nói đó là tấm thân ung nhọt chín lỗ. Với trí tuệ này, với sự thực tập, thiền quán này một cách thâm sâu, sâu sắc thì chúng ta mới nhiếp phục được dục ái, nếu không có phương pháp này thì không có cách nào khác có thể nhiếp phục và đoạn tận tham dục, tham ái đối với thân xác này, đối với thân xác người khác, đối với tất cả đồ vật thuộc về sắc pháp. Nếu chúng ta không nhìn bằng con mắt Thánh trí huệ, không có cái nhìn thấu đáo, triệt để trong Thánh trí về ngũ uẩn thì chúng ta mãi mãi cảm thấy thiếu thốn, khát khao, mãi mãi làm nô lệ cho tham ái.
"'Thế giới (thân này) là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Tự thân mình và những hữu tình chúng sanh đau khổ, sầu lo, cay đắng, chảy biết bao nước mắt, giọt máu hồng là từ sự yêu thích, say đắm thể xác, hình hài này, chỉ vì nhìn lầm, vì không thấy chính xác, chân chánh, triệt để, thấu đáo, tận cùng trí tuệ, không đủ khả năng để giải phẫu thân xác này để phơi bày bên trong là một sự bất tịnh cho nên chúng ta bị lớp da trơn láng che phủ bên ngoài, che hết những thứ hôi dơ, bất tịnh bên trong rồi chúng ta bị dính mắc, bị trói buộc vào trong hình hài này, vào trong tài sản này. Bằng trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác chúng ta soi vào bên trong tâm thức này có bốn phần, đó là cảm giác (thọ), suy nghĩ (hành), hình bóng (tưởng), sự rõ biết (thức), bốn cái này thuộc về phần tâm. Trong cảm giác có ba loại cảm giác, dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu cũng không khó chịu, trong cảm giác dễ chịu chúng ta bị tham ái, yêu thích, dính mắc trong đó, trong cảm giác khó chịu có sự bực tức, sân hận, trong cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu có si ám, lờ đờ. Khi nhìn sâu vào cảm thọ sẽ thấy một sự thiếu thốn, đòi hỏi, tìm kiếm, đây là sự thật rất phũ phàng, chính những cảm giác bên trong này làm chúng ta bức xúc, nó thúc giục mình phải đi nhanh, nói lẹ, nó làm mình phải tất bật, bận rộn, nói đòi cái này muốn cái kia, lúc nào cũng thấy bất an, buồn bã, bực bội không thì yêu thích, lưu luyến, thương nhớ, nắm chặt, chấp thủ. Hễ cảm giác nào sanh khởi mình cũng cho nó là tôi, là của tôi, khi có cảm giác vui sướng thì cho rằng "tôi đang vui, tôi đang sướng", đó là thọ thủ uẩn, là một sự chấp thủ vào trong cảm thọ, nếu đang bực bội thì nói rằng "đừng lại gần, tôi đang khó chịu, bực mình", thế là mình cũng nắm vào trong cảm thọ khó chịu đó và cho nó là mình, đó chính là vô minh và tham ái, nghĩa là không thấy không biết cái đó chỉ là cảm thọ, là cảm giác, cảm xúc nên nắm giữ, yêu thích, nhận nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Chúng ta muốn đánh đuổi những cảm giác khó chịu nhưng lại mời gọi, tìm kiếm, khao khát những cảm thọ vui sướng, dễ chịu, trong khi cái thọ là thứ sanh diệt, là thứ vô thường, nó cứ khởi lên rồi diệt liên tục mà mình lại đeo bám, đuổi hình bắt bóng với nó, cho cảm giác đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình thì làm sao không đau khổ, làm sao lại không ràng rụa nước mắt, làm sao không khổ sầu, rồi có biết bao thương ghét, hơn thua, tranh giành, như vậy đời sống của mình là cả một chuỗi dài những cảm xúc sanh diệt này, nó cứ thúc giục, dẫn dắt, xâm chiếm và áp đảo mình. Mình sẽ lấy ví dụ để biết được hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si, có khi trước nay tu học mà được hỏi tham, sân, si chỉ biết chung chung trong tâm nhưng ở chỗ nào trong tâm lại không biết, hôm nay chúng ta sẽ phân tích để thấy rõ.
Đức Phật nói rằng tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ, muốn thấy được trong tâm có gì chỉ cần nhìn vào cảm thọ. Mình vừa gặp một người sân si với mình, sau đó họ có lời lẽ hủy nhục, mắng chửi thì khi đó ngay lồng ngực bốc lên sân khí như nồi nước đang sôi ùng ục, từ ngực bốc lên luồn khí nóng bức, nhiệt não làm gương mặt đổi màu, cái miệng giật giật, mắt đỏ lên, tai lùng bùng, sau đó phát ra những lời nói thô ác, sân hận, có những hành động quơ tay múa chân, cho nên sân nằm trong cảm thọ khó chịu (khổ thọ). Sau khi đã nói qua nói lại, có những cử chỉ hành vi sân hận thì khi trở về một mình hình bóng người mình tức giận hiện ra trong tâm, hình bóng đó là tưởng, suy nghĩ về những câu nói, hành vi của người đó và suy nghĩ bực bội cứ quanh quẩn trong đó, khi đó mình nhận thức trong tâm đang có cảm giác bực bội, đang có những suy nghĩ, hình bóng về người mình đang tức giận, mình có nhận thức biết được thọ; tưởng; hành đó thì đó là thức. Đây là phần nhận diện ngũ uẩn khi đang có cơn giận trong tâm, thân này bị bức xúc, có cảm thọ khó chịu, hình bóng của đối tượng đang giận là tưởng, suy nghĩ về những hành vi, lời nói mà mình tức giận, lúc đó mình nhận thức được trong tâm đang có cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng đó, như vậy thức là cái biết được thọ; tưởng; hành trong tâm. Sau đây là nhận diện về tham dục, tham ái, nhận diện năm uẩn khi tham ái sanh khởi, cái này rất thực tế, thiết thực, hiện tại, rõ ràng, còn tu mà không nhận diện năm uẩn sẽ bị mù mờ, không có cơ sở y cứ để mình tiến tu sâu sắc, ví dụ lỡ nhìn thấy một người nào đó dễ thương, dễ mến, nói chuyện dịu dàng, tánh tình hiền hậu thì mình có cảm giác thương mến, yêu thích, khi mình trở về phòng thì hình bóng người đó hiện ra trong tâm là tưởng uẩn, suy nghĩ về người đó là hành uẩn, hình bóng người đó hiện ra là tưởng uẩn, có cảm giác dễ chịu là thọ, trong tâm mình rõ biết đang có cảm giác, suy nghĩ, hình bóng về người đó, đây là nhận diện năm uẩn đối với tâm tham ái. Khi thực tập nhận diện năm uẩn thường xuyên và liên tục sẽ thấy thú vị, giống như mình có được chìa khóa mở ra cánh cửa của căn nhà tâm linh mà trong bao đời bao kiếp qua mình không thấy không biết, Minh Thành thường ví dụ có một người sanh ra đã mù gọi là mù bẩm sinh, người này trải qua năm mươi năm sống trong tối tăm, u ám của bệnh mù bẩm sinh. Một hôm người này gặp được thần y, thần y dùng thần dược trị bệnh mù bẩm sinh nên người này được sáng mắt, trong thời gian mấy chục năm không nhìn thấy thì căn nhà tràn ngập rác bẩn, cấu uế bây giờ đã sáng mắt thì điều đầu tiên người này thấy chính là rác. Sau khi thấy rác thì phải quét rác, hốt rác, dọn rác, rồi dùng thuốc tẩy, bàn chải làm tổng vệ sinh thì căn nhà đó mới sạch được. Ví dụ trên để thấy rằng khi chưa thấy năm uẩn một cách chân chánh, đúng đắn thì người đó giống như người mù không thấy được tự thân mình, còm khi đã thấy năm uẩn thì mới bắt đầu thấy đúng như thật, thấy sự thật về thân tâm mình, khi thấy được rồi sẽ cảm thấy bất ngờ, bị sốc, mình không ngờ trong tâm lại đầy rẫy dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã. Sự tu trong đạo Phật của chúng ta có ba giai đoạn, thứ nhất là nhìn thấy được tham, sân, si, thứ hai là nhiếp phục được tham, sân, si, thứ ba là đoạn tận được tham, sân, si, đây là ba giai đoạn của người thật sự thấy pháp. Ở đây phải thấy chứ không chỉ là học, nghe giảng trên chữ nghĩa mà phải thấy trong cảm giác, nghĩ tưởng chính mình, phải thấy tham, sân, si sanh khởi, vận hành, hoạt động, an trú, xâm chiếm tâm ra sao, thấy nó làm cho mình bức xúc, khó chịu, khốn khổ thế nào, đó là thấy được Khổ-Tập Thánh Đế, thấy được nguyên nhân thật sự gây ra đau khổ cho mình và chúng sanh, đó là thấy bằng con mắt tâm, thấy bằng con mắt pháp, thấy bằng sự nhận diện ngũ uẩn chứ không phải thấy bằng việc nghe nói, không phải thấy trên chữ nghĩa, văn chương, phải thấy bằng sự quay lại để ý thân xác này, hình hài này, để ý những cảm giác đang như thế nào, nhìn lại trong tâm đang có hình bóng thiện hay bất thiện, để ý trong tâm đang suy nghĩ lành hay dữ, tốt hay xấu, suy nghĩ ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, suy nghĩ lìa xa dục, rời khỏi nóng giận hay suy nghĩ về dục, về tham, nghĩ về hơn thua, ích kỷ, vênh váo, ta đây. Như vậy luôn quay trở lại nhìn những cảm giác, nghĩ tưởng của mình để thấy thì cái thấy, cái phát giác, phát hiện một cách đầy đủ trong kinh gọi là "đắc pháp nhãn tịnh", tức là mở được con mắt pháp trong sáng. Trước đây không biết nhận diện năm uẩn thì mình sống hướng ngoại, nhìn người kia đẹp hay xấu, đúng hay sai rồi thị phị, hơn thua, nhân ngã, đó là kẻ vô văn phàm phu không biết tu, không biết nhìn lại thân tâm, bây giờ sau khi học được nhận diện năm uẩn, nhìn lại hình hài này, nhìn lại cử chỉ, ngôn ngữ, hành vi, nhìn lại những cảm thọ bên trong xem có tham, sân, si không sẽ thấy chỗ trú ẩn của tham, sân, si trong cảm thọ và cả trên thân, cái dục thì cư trú ở bộ phận sinh dục, sân cư trú trong lồng ngực, cái si cư trú trong hai con mắt, mắt lờ đờ, đầu nặng rồi gục xuống, vì thế tham, sân, si có chỗ cư trú trong thân thể của mình. Tham, sân, si cư trú trong cảm thọ là trong tâm và nó cũng có chỗ cư trú trên thân thể, dục ái nằm ở bộ phận sinh dục, sân ở ngay lồng ngực, si ở con mắt và đầu, cho nên từ thân đến tâm đều phải thấy được hang ổ, sào huyệt, chỗ cư trú của tham, sân, si vì chỉ có thấy rõ, đi thẳng vào hang ổ, căn cứ địa của nó thì mình mới có thể nhiếp phục và đoạn tận được nó. Đức Phật nói rất rõ thức ăn của tham, sân, si trong kinh Nikāya nên Minh Thành mong mỏi mọi người hãy để tâm thật nhiều vào tạng kinh Nikāya này. Đức Phật nói trong Tăng Chi Bộ kinh rằng thức ăn của dục tham là tịnh tướng, nghĩa là mình cho đối tượng đó là đẹp, dễ thương, dễ nhìn, danh từ trong kinh là khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, nghĩa là vừa lòng, đáng yêu, hấp dẫn nên mình ưa thích và ham muốn, đó là thức ăn của tham dục.
"Ta không thấy một phép nào khác, này các Tỳ-kheo, dẫn đến dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỳ-kheo, như tịnh tướng. Tịnh tướng, này các Tỳ-kheo, nếu không như lý tác ý, đưa đến dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Vì mình nghĩ theo chiều hướng đẹp đẽ, sạch sẽ, dễ thương đó là mình đang cho những cảm giác dục, tham, ái ăn, chính vì vậy những cảm thọ dục, ái, tham, yêu thích này sẽ tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh trong thân tâm mình, đó là đang nuôi lớn lòng dục, lòng tham, lòng yêu thích, lòng say đắm, lòng khao khát, thèm thường. Đây là đại chướng ngại, lúc nào tâm cũng ở trong trạng thái dao động, đòi hỏi, tìm kiếm, bất an, không an tịnh, lắng dịu được vì bị dục quấy phá, không ngồi thiền được, không ở yên được, trong tâm là một cảm giác thúc giục, đòi hỏi nên cứ sai khiến, dẫn dắt mình liên tục. Vì thế để nhiếp phục dục tham phải dùng bất tịnh tướng, đi ngược lại tịnh tướng.
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, đưa đến dục tham chưa sanh không sanh khởi, hay dục tham đã sanh được đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như tướng bất tịnh. Tướng bất tịnh, này các Tỳ-kheo, nếu như lý tác ý, thời dục tham chưa sanh không sanh khởi, hay dục tham đã sanh được đoạn tận". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Phải thường tác ý, tư duy, quán chiếu về những hình ảnh bất tịnh, về tính chất bệnh hoạn, khổ sở, dơ bẩn không sạch sẽ, quán chiếu về chín giai đoạn của một tử thi, về nắm tro tàn, thường quán chiếu như vậy để nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham.
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, đưa đến sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỳ-kheo, như đối ngại tướng. Ðối ngại tướng, này các Tỳ-kheo, nếu không như lý tác ý, đưa đến sân, chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng quảng đại". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Thức ăn của sân giận là chướng ngại tướng, tức là mình cho đối tượng đó là chướng tai gai mắt (đối ngại tướng), thấy tướng đi cũng ghét, giọng nói cũng không ưa, nghe đến tên đã bực bội, cho nên dân gian có câu "thương nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười" hoặc là "thương nhau thương cả lối đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng".
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, đưa đến sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như từ tâm giải thoát. Từ tâm giải thoát, này các Tỳ-kheo, nếu như lý tác ý, thời sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Đức Phật dạy để đối trị tâm sân phải dùng từ tâm giải thoát. Từ tâm này không phải chỉ thương người ta mà còn thương cả chính mình vì mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh. Thương mình không phải chỉ là cho ăn ngon, mặc đẹp, ở sang mà thương cho sự ngu si, vô minh của chính mình, thương cho lòng sân hận, nhiệt não đang đốt cháy mình, thương cho sự mê muội, khờ dại, si ám của mình, thương cho lòng dục, tham, ái, bản ngã đáng tội nghiệp của mình. Đầu tiên là phải thương mình, từ chỗ thương được mình, xót xa với chính mình rồi mới nhìn ra chúng sanh, như vậy mới gọi là từ tâm. Tâm từ này không giận người làm cho mình giận, ngược lại còn thương người làm mình giận vì mình và họ đều là nạn nhân của cơn giận, những điều này phải thực tập, quán chiếu lâu dài mới có thể làm được chứ không phải nói sơ sài là được, mình là người tu thì phải tu thật nhiều.
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, đưa đến hôn trầm thụy miên chưa sanh đưọc sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỳ-kheo, như không hân hoan, biếng nhác, chán nản, ăn quá no, tâm thụ động. Với người có tâm thụ động, này các Tỳ-kheo, hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng quảng đại". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Thức ăn của si là sự lờ đờ, mệt mỏi, dã dượi, uể oải, gần tới giờ ngồi thiền mà đi ăn no rồi làm sao ngồi được.
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, đưa đến hôn trầm thụy miên chưa sanh không sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ kheo, như tinh cần giới, tinh tấn giới, dõng mãnh giới. Người tinh cần tinh tấn, này các Tỷ kheo, hôn trầm thụy miên chưa sanh không sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được đoạn tận". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Muốn nhiếp phục cái si thì Đức Phật dạy phải tác ý mạnh mẽ, tu trí tuệ, quán ánh sáng, tinh cần, tinh tấn dõng mãnh để thoát ra cảm giác si đang áp đảo nơi hai con mắt, nơi cái đầu đang nặng nề. Đó chính là sự tu tập để nhiếp phục để đoạn tận tham, sân, si, còn nói chung chung thì tu suốt đời cũng không thấy được hang ổ, sao huyệt, căn cứ địa của tham, sân, si nên cứ khổ đau liên tục. Tham, sân, si là giặc ở trong con người mình mà mình không thấy không biết nên nhận giặc làm bạn thì làm sao mình nhiếp phục và đoạn tận được hết tham, sân, si? Mình nương theo trí tuệ ngũ uẩn của Đức Phật dạy trong kinh Nikāya và học thuộc lòng năm định nghĩa về ngũ uẩn:
Thân người là sắc.
Cảm giác là thọ.
Hình bóng là tưởng.
Suy nghĩ là hành.
Rõ biết là thức.
Định nghĩa thứ hai:
Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.
Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.
Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.
Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.
Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.
Khi nương vào trí tuệ tối thượng của Đức Phật và học thuộc lòng nó rồi quay trở lại nhìn thân tâm thì lúc đó mới bắt đầu mở được con mắt pháp, con mắt trí, con mắt tuệ. Khi đã mở được mắt sẽ bất ngờ vì không ngờ trong thân tâm dục, tham, ái, vô minh, bản ngã rất nhiều, đầy rác bẩn, cấu uế, thấy được là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất. Thánh quả là sự phát giác, phát hiện một thân tâm đầy cấu uế, rác bẩn tham, sân, si, lậu hoặc. Thánh quả thứ hai, thứ ba là làm cho tham, sân, si giảm thiểu, có khả năng nhiếp phục, dùng bất tịnh để trị tham dục, dùng từ tâm giải thoát trị sân hận và dùng sự dõng mãnh, tinh cần, tinh tấn quán chiếu về thiền quán, tuệ giác để giải phá si mê và sự tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh này không dừng lại mà phải dùng cả sinh mạng để nhiếp phục tham, sân, si, đó là giai đoạn của Thánh quả thứ hai, thứ ba, những cái thô, hung bạo, hung tàn được nhiếp phục, chế ngự, từ xưa đến giờ nó dẫn dắt, hành hạ mình, đay nghiến mình, còn giờ mình quay ngược lại nhiếp phục nó, mình bắt đầu làm chủ nó, tham, sân, si muội lược, bắt đầu giảm bớt rồi đi đến chỗ hết sạch hoàn toàn là Thánh quả thứ tư, đó là cứu cánh cùng cực của phạm hạnh, "sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa", không còn trở lại trạng thái tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não, vô minh và bản ngã trong năm uẩn này nữa, đó là cứu cánh phạm hạnh của người xuất gia cũng gọi là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người, diệt tận nó như chặt cây tala để nó không thể sanh khởi trở lại trong tương lai, tức là phá vỡ hoàn toàn vô minh, tham ái và chấp thủ đối với năm uẩn, không còn mê lầm cho rằng hình hài, thể xác, của cải, vật chất này là tôi, là của tôi nữa, không còn cho bất cứ cảm thọ nào là tôi, là của tôi nữa, không còn cho bất cứ hình bóng, suy nghĩ nào là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, không còn cho những nhận thức, chấp thủ này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, tâm người này hướng đến nhàm chán, ly tham, hướng đến giác ngộ, thắng trí, Niết-bàn, thoát ly khỏi ngũ uẩn, như vậy gọi là cứu cánh cùng cực của đời sống tu hành phạm hạnh. Để làm sáng tỏ điều này thì Minh Thành xin đọc bài kinh Sona.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagala (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Rồi Sona, con vị gia chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Sona, con vị gia chủ, đang ngồi một bên:
-- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, không biết rõ sắc, không biết rõ (nappajananti) sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; không biết rõ thọ... không biết rõ tưởng... không biết rõ các hành... không biết rõ thức, không biết rõ thức tập khởi, không biết rõ thức đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị ấy trong đời sống hiện tại, cũng không tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Còn những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; biết rõ thọ... biết rõ tưởng... biết rõ các hành... biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, còn tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Ðảo, VIII. Sona)
Đức Phật nói rất nhiều trong Tương Ưng Uẩn rằng ngài không tuyên bố rằng ngài là bậc giác ngộ cứu cánh cùng cực giữa chư thiên, giữa ma giới, giữa tất cả người tu hành cho đến khi nào ngài hoàn toàn thấu triệt sắc; thọ; tưởng; hành; thức một cách đầy đủ, đồng đều, trọn vẹn những góc độ, khía cạnh về năm uẩn này, về thân tâm này thì lúc đó ngài mới tuyên bố ngài là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, còn một chút nào về sắc; thọ; tưởng; hành; thức chưa trọn vẹn, chưa thông đạt thì ngài không nói rằng ngài là bậc giác ngộ cùng cực giữa chư thiên và loài người. Do ngài thấy, ngài biết, ngài chứng đắc và thấu hiểu tận cùng tất cả những phương diện, khía cạnh, góc độ của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, của thân tâm, của thế giới này nên ngài mới tuyên bố ngài là bậc giác ngộ vô thượng cứu cánh cùng cực Chánh Đẳng Chánh Giác.
"Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta không tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta:
'Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa'". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)
Bài hôm nay con gửi gắm đến tất cả các thầy, các sư cô và đại chúng yếu chỉ của kinh tạng Nikāya là đoạn tận vô minh và tham ái đối với năm uẩn, tức là chấm dứt sự không thấy, không biết, chấm dứt sự yêu thích, đam mê vào trong hình hài, tâm thức và năm nhóm sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Năm nhóm này là vô thường, là pháp duyên sanh, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, nó là bọt nước, là bong bóng, là khói sương. Nếu tâm chúng ta cứ đeo bám, nắm chặt vào đây thì nhất định chúng ta sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não, nhất định nước mắt sẽ đầm đìa, nhất định máu hồng sẽ tuôn xuống và nhất định vô lượng những đời sống về sau dòng luân hồi sẽ bất tịnh với những hình hài của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nhân thiên không chấm dứt. Cho đến khi nào chúng ta quay lại nương vào trí huệ của Đức Phật nhìn thấy năm uẩn thân tâm này chính xác, thấy rõ tham, sân, si trong nội tâm rồi nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch nó thì lúc đó sự tu hành thật sự thành tựu, đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
./.
–Thích Minh Thành–
Kính bạch trên chư tôn đức, kính thưa toàn thể chư Tăng Ni và đại chúng. Được sự chỉ dạy của chư tôn đức, Minh Thành cùng quý thầy cô chia sẻ về yếu chỉ kinh tạng Nikāya, chủ đề này rất sâu rộng nhưng thời gian có hạn nên chúng ta sẽ giới thiệu tổng quát hơn là đi chuyên sâu. Kính thưa quý thầy, quý cô, sau đây là bài kệ của Bồ-tát Tất-đạt-đa lúc mới thành đạo gọi là bài kệ chứng ngộ:
"Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng không gặp
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh".
(Kinh Pháp Cú 11 Phẩm Già, kệ 153)
"Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Ðòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong".
(Kinh Pháp Cú 11 Phẩm Già, kệ 154)
Ngài nói rằng bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp ở trong sanh tử ngài đã đi lang thang tìm kiếm nhưng không gặp được người đã làm ra căn nhà của sống chết, căn nhà của sanh tử, căn nhà của dòng tái sanh liên tục không chấm dứt, cho đến giờ phút này ngài đã thấy được người đó, người đó không còn làm nhà nữa, kèo cột đã gãy hết, tham ái tiêu vong hết tất cả. Vậy người xây dựng lên căn nhà luân hồi sanh tử, tạo ra dòng tái sanh chính là vô minh và tham ái, vô minh là sự không thấy không biết, tham ái là sự yêu thích, ham muốn, trói buộc, dính mắc, chấp thủ. Nhưng vấn đề là đối với cái gì mà mình vô minh? Đối với cái gì mà mình tham ái, yêu thích? Nếu chúng ta không thấy rõ được từ đâu sanh khởi ra vô minh, vô minh đối với cái gì, từ đâu có ra tham ái và tham ái đối với cái gì thì mình sẽ không giải quyết được gốc rễ của vấn đề, chỗ trọng tâm hôm nay chúng ta tìm hiểu chính là năm thủ uẩn, toàn bộ kinh tạng Nikāya là trình bày về trí tuệ năm uẩn. Năm uẩn này chính là thân tâm, đời sống của chúng sanh, đầu tiên là sắc uẩn chính là thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại, như vậy phần sắc uẩn này bao trùm con người, sự vật, hoàn cảnh bên ngoài, từ hạt bụi cho đến quả đại cầu đều không ra ngoài chữ sắc uẩn, chúng ta không thấy, không biết, không rành, không rõ về sắc này nên nắm giữ sắc này và cho sắc tứ đại này là tôi và của tôi, đây là cái vô minh thứ nhất cũng là cái nhìn sai lầm thứ nhất, chính cái này đưa đến khổ đau. Trí tuệ thứ nhất trong bốn Thánh trí về năm uẩn chính là sự chấp thủ vào năm uẩn là phiền não và khổ đau, chấp thủ là nắm giữ vào sắc, chúng ta chấp thủ vào sắc vì không biết sắc chỉ là tứ đại, vì không biết sắc là tan hoại, tan nát, là hoại diệt, sắc chỉ như bọt nước, như món đồ gốm thì dù cho còn là đất sét hay đã nung rồi thì tánh chất tan vỡ, bể nát đã nằm sẵn trong món đồ gốm nhưng chỗ không hiểu, không biết, không thấy, vô minh chính là đi nhận món đồ gốm này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Chúng ta dùng Thánh trí năm uẩn này soi từng góc độ, góc độ thứ nhất là soi về tổ hợp sắc chất này gọi là sắc uẩn, uẩn là sự tập hợp, tích tụ để sanh khởi, như vậy chữ sắc uẩn này có nghĩa là tổ hợp của sắc chất, tổ hợp này gồm bốn thành phần kết hợp là đất, nước, gió, lửa và chúng ta bị ngộ nhận, nhìn sai lầm về sắc này. Đầu tiên chúng ta nhìn từ thô vào tế, căn nhà, ngôi chùa, tịnh thất nơi mình ở thì mình đều nghĩ nó là của mình, chiếc xe trong nhà mình thì mình nghĩ nó là của mình, khi gắn chữ "của mình", "của tôi" vào thì lúc đó có vấn đề, có người thích hoa, cây kiểng, bonsai nhưng bỗng nhiên cây kiểng quý chết thì người này đau buồn, bực bội, khổ sầu vì người này nghĩ "cây đó là cây của tôi", khi mình gắn chữ "của tôi" vào bất cứ món đồ nào thì cái đó là sự chấp thủ sắc uẩn, tức là sự nắm giữ, nắm chặt vào món đồ đó và cho rằng cái đó của mình, đây cũng là nguyên nhân của phiền não, khổ đau, sầu bi, lo lắng, sợ hãi, bất an, đi đâu cũng nhớ đến cây kiểng quý sợ bị ăn cắp, cảnh vật ở bên ngoài cũng cho rằng nó là tôi, là của tôi, đi xa là nhớ, tiến sâu vào tấm thân này cũng vậy, mình cho rằng tấm thân này là mình, là của mình. Tóc, răng, móng, lông, tim, gan, phèo, phổi, tùy phế thận là đất, nước tiểu, máu mủ, hồ hôi, nước mắt, nước mũi, những chất ướt trong cơ thể là nước, những hô hấp tuần hoàn động chuyển trong cơ thể thuộc về gió, hơi ấm trong cơ thể thuộc về lửa.
"Một bao máu mủ, bao năm khổ luyến ân tình
Bảy thước xương khô, mặc sức tham xan tiền của.
Thở ra không hẹn thở vào
Ngày nay không tin ngày kế
Trôi nổi sông yêu giờ nào nghỉ
Nấu ung nhà cháy biết bao thôi?".
(Phổ Khuyến Phát Bồ-đề Tâm – Trần Thái Tông)
"Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tim gan, máu, thịt xương
Phủ ngoài mỗi lớp da trơn láng
Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ".
(Thiền quán thân trống rỗng)
Nếu muốn phá trừ sự chấp thủ, sự vô minh, sự vô trí không thấy không biết, sự say đắm, ham mê, yêu thích trong tổ hợp sắc chất này thì Đức Phật dạy phải quán chiếu tứ đại, ba mươi hay thể trược, chín giai đoạn của một tử thi hay còn gọi là niệm thân, nói đầy đủ phải có sáu pháp là niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược và niệm chín giai đoạn của một tử thi, Đức Phật gọi sáu pháp này là niệm thân hoặc là Thân Hành Niệm, đó là sự quán chiếu về tự thân, là cái nhìn đúng đắn về thể xác, hình hài, sắc chất, sắc pháp này, nhìn thấu đáo, nhìn chân chánh vào đó, cái nhìn này phải thường xuyên và liên tục bằng tác ý, tư duy, thiền quán để thể nhập, thâm nhập thật sự vào sự thật tấm thân mấy chục kí này là tứ đại, nó chỉ là tóc, lông, móng răng, da thịt, gân xương, nó là nơi bài tiết ra những sự rỉ chảy của bất tịnh, của nhơ nhớp, bất tịnh, nó là nơi bài tiết những chất xấu hổ, hôi thối, Đức Phật nói đó là tấm thân ung nhọt chín lỗ. Với trí tuệ này, với sự thực tập, thiền quán này một cách thâm sâu, sâu sắc thì chúng ta mới nhiếp phục được dục ái, nếu không có phương pháp này thì không có cách nào khác có thể nhiếp phục và đoạn tận tham dục, tham ái đối với thân xác này, đối với thân xác người khác, đối với tất cả đồ vật thuộc về sắc pháp. Nếu chúng ta không nhìn bằng con mắt Thánh trí huệ, không có cái nhìn thấu đáo, triệt để trong Thánh trí về ngũ uẩn thì chúng ta mãi mãi cảm thấy thiếu thốn, khát khao, mãi mãi làm nô lệ cho tham ái.
"'Thế giới (thân này) là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Tự thân mình và những hữu tình chúng sanh đau khổ, sầu lo, cay đắng, chảy biết bao nước mắt, giọt máu hồng là từ sự yêu thích, say đắm thể xác, hình hài này, chỉ vì nhìn lầm, vì không thấy chính xác, chân chánh, triệt để, thấu đáo, tận cùng trí tuệ, không đủ khả năng để giải phẫu thân xác này để phơi bày bên trong là một sự bất tịnh cho nên chúng ta bị lớp da trơn láng che phủ bên ngoài, che hết những thứ hôi dơ, bất tịnh bên trong rồi chúng ta bị dính mắc, bị trói buộc vào trong hình hài này, vào trong tài sản này. Bằng trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác chúng ta soi vào bên trong tâm thức này có bốn phần, đó là cảm giác (thọ), suy nghĩ (hành), hình bóng (tưởng), sự rõ biết (thức), bốn cái này thuộc về phần tâm. Trong cảm giác có ba loại cảm giác, dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu cũng không khó chịu, trong cảm giác dễ chịu chúng ta bị tham ái, yêu thích, dính mắc trong đó, trong cảm giác khó chịu có sự bực tức, sân hận, trong cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu có si ám, lờ đờ. Khi nhìn sâu vào cảm thọ sẽ thấy một sự thiếu thốn, đòi hỏi, tìm kiếm, đây là sự thật rất phũ phàng, chính những cảm giác bên trong này làm chúng ta bức xúc, nó thúc giục mình phải đi nhanh, nói lẹ, nó làm mình phải tất bật, bận rộn, nói đòi cái này muốn cái kia, lúc nào cũng thấy bất an, buồn bã, bực bội không thì yêu thích, lưu luyến, thương nhớ, nắm chặt, chấp thủ. Hễ cảm giác nào sanh khởi mình cũng cho nó là tôi, là của tôi, khi có cảm giác vui sướng thì cho rằng "tôi đang vui, tôi đang sướng", đó là thọ thủ uẩn, là một sự chấp thủ vào trong cảm thọ, nếu đang bực bội thì nói rằng "đừng lại gần, tôi đang khó chịu, bực mình", thế là mình cũng nắm vào trong cảm thọ khó chịu đó và cho nó là mình, đó chính là vô minh và tham ái, nghĩa là không thấy không biết cái đó chỉ là cảm thọ, là cảm giác, cảm xúc nên nắm giữ, yêu thích, nhận nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Chúng ta muốn đánh đuổi những cảm giác khó chịu nhưng lại mời gọi, tìm kiếm, khao khát những cảm thọ vui sướng, dễ chịu, trong khi cái thọ là thứ sanh diệt, là thứ vô thường, nó cứ khởi lên rồi diệt liên tục mà mình lại đeo bám, đuổi hình bắt bóng với nó, cho cảm giác đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình thì làm sao không đau khổ, làm sao lại không ràng rụa nước mắt, làm sao không khổ sầu, rồi có biết bao thương ghét, hơn thua, tranh giành, như vậy đời sống của mình là cả một chuỗi dài những cảm xúc sanh diệt này, nó cứ thúc giục, dẫn dắt, xâm chiếm và áp đảo mình. Mình sẽ lấy ví dụ để biết được hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si, có khi trước nay tu học mà được hỏi tham, sân, si chỉ biết chung chung trong tâm nhưng ở chỗ nào trong tâm lại không biết, hôm nay chúng ta sẽ phân tích để thấy rõ.
Đức Phật nói rằng tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ, muốn thấy được trong tâm có gì chỉ cần nhìn vào cảm thọ. Mình vừa gặp một người sân si với mình, sau đó họ có lời lẽ hủy nhục, mắng chửi thì khi đó ngay lồng ngực bốc lên sân khí như nồi nước đang sôi ùng ục, từ ngực bốc lên luồn khí nóng bức, nhiệt não làm gương mặt đổi màu, cái miệng giật giật, mắt đỏ lên, tai lùng bùng, sau đó phát ra những lời nói thô ác, sân hận, có những hành động quơ tay múa chân, cho nên sân nằm trong cảm thọ khó chịu (khổ thọ). Sau khi đã nói qua nói lại, có những cử chỉ hành vi sân hận thì khi trở về một mình hình bóng người mình tức giận hiện ra trong tâm, hình bóng đó là tưởng, suy nghĩ về những câu nói, hành vi của người đó và suy nghĩ bực bội cứ quanh quẩn trong đó, khi đó mình nhận thức trong tâm đang có cảm giác bực bội, đang có những suy nghĩ, hình bóng về người mình đang tức giận, mình có nhận thức biết được thọ; tưởng; hành đó thì đó là thức. Đây là phần nhận diện ngũ uẩn khi đang có cơn giận trong tâm, thân này bị bức xúc, có cảm thọ khó chịu, hình bóng của đối tượng đang giận là tưởng, suy nghĩ về những hành vi, lời nói mà mình tức giận, lúc đó mình nhận thức được trong tâm đang có cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng đó, như vậy thức là cái biết được thọ; tưởng; hành trong tâm. Sau đây là nhận diện về tham dục, tham ái, nhận diện năm uẩn khi tham ái sanh khởi, cái này rất thực tế, thiết thực, hiện tại, rõ ràng, còn tu mà không nhận diện năm uẩn sẽ bị mù mờ, không có cơ sở y cứ để mình tiến tu sâu sắc, ví dụ lỡ nhìn thấy một người nào đó dễ thương, dễ mến, nói chuyện dịu dàng, tánh tình hiền hậu thì mình có cảm giác thương mến, yêu thích, khi mình trở về phòng thì hình bóng người đó hiện ra trong tâm là tưởng uẩn, suy nghĩ về người đó là hành uẩn, hình bóng người đó hiện ra là tưởng uẩn, có cảm giác dễ chịu là thọ, trong tâm mình rõ biết đang có cảm giác, suy nghĩ, hình bóng về người đó, đây là nhận diện năm uẩn đối với tâm tham ái. Khi thực tập nhận diện năm uẩn thường xuyên và liên tục sẽ thấy thú vị, giống như mình có được chìa khóa mở ra cánh cửa của căn nhà tâm linh mà trong bao đời bao kiếp qua mình không thấy không biết, Minh Thành thường ví dụ có một người sanh ra đã mù gọi là mù bẩm sinh, người này trải qua năm mươi năm sống trong tối tăm, u ám của bệnh mù bẩm sinh. Một hôm người này gặp được thần y, thần y dùng thần dược trị bệnh mù bẩm sinh nên người này được sáng mắt, trong thời gian mấy chục năm không nhìn thấy thì căn nhà tràn ngập rác bẩn, cấu uế bây giờ đã sáng mắt thì điều đầu tiên người này thấy chính là rác. Sau khi thấy rác thì phải quét rác, hốt rác, dọn rác, rồi dùng thuốc tẩy, bàn chải làm tổng vệ sinh thì căn nhà đó mới sạch được. Ví dụ trên để thấy rằng khi chưa thấy năm uẩn một cách chân chánh, đúng đắn thì người đó giống như người mù không thấy được tự thân mình, còm khi đã thấy năm uẩn thì mới bắt đầu thấy đúng như thật, thấy sự thật về thân tâm mình, khi thấy được rồi sẽ cảm thấy bất ngờ, bị sốc, mình không ngờ trong tâm lại đầy rẫy dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã. Sự tu trong đạo Phật của chúng ta có ba giai đoạn, thứ nhất là nhìn thấy được tham, sân, si, thứ hai là nhiếp phục được tham, sân, si, thứ ba là đoạn tận được tham, sân, si, đây là ba giai đoạn của người thật sự thấy pháp. Ở đây phải thấy chứ không chỉ là học, nghe giảng trên chữ nghĩa mà phải thấy trong cảm giác, nghĩ tưởng chính mình, phải thấy tham, sân, si sanh khởi, vận hành, hoạt động, an trú, xâm chiếm tâm ra sao, thấy nó làm cho mình bức xúc, khó chịu, khốn khổ thế nào, đó là thấy được Khổ-Tập Thánh Đế, thấy được nguyên nhân thật sự gây ra đau khổ cho mình và chúng sanh, đó là thấy bằng con mắt tâm, thấy bằng con mắt pháp, thấy bằng sự nhận diện ngũ uẩn chứ không phải thấy bằng việc nghe nói, không phải thấy trên chữ nghĩa, văn chương, phải thấy bằng sự quay lại để ý thân xác này, hình hài này, để ý những cảm giác đang như thế nào, nhìn lại trong tâm đang có hình bóng thiện hay bất thiện, để ý trong tâm đang suy nghĩ lành hay dữ, tốt hay xấu, suy nghĩ ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, suy nghĩ lìa xa dục, rời khỏi nóng giận hay suy nghĩ về dục, về tham, nghĩ về hơn thua, ích kỷ, vênh váo, ta đây. Như vậy luôn quay trở lại nhìn những cảm giác, nghĩ tưởng của mình để thấy thì cái thấy, cái phát giác, phát hiện một cách đầy đủ trong kinh gọi là "đắc pháp nhãn tịnh", tức là mở được con mắt pháp trong sáng. Trước đây không biết nhận diện năm uẩn thì mình sống hướng ngoại, nhìn người kia đẹp hay xấu, đúng hay sai rồi thị phị, hơn thua, nhân ngã, đó là kẻ vô văn phàm phu không biết tu, không biết nhìn lại thân tâm, bây giờ sau khi học được nhận diện năm uẩn, nhìn lại hình hài này, nhìn lại cử chỉ, ngôn ngữ, hành vi, nhìn lại những cảm thọ bên trong xem có tham, sân, si không sẽ thấy chỗ trú ẩn của tham, sân, si trong cảm thọ và cả trên thân, cái dục thì cư trú ở bộ phận sinh dục, sân cư trú trong lồng ngực, cái si cư trú trong hai con mắt, mắt lờ đờ, đầu nặng rồi gục xuống, vì thế tham, sân, si có chỗ cư trú trong thân thể của mình. Tham, sân, si cư trú trong cảm thọ là trong tâm và nó cũng có chỗ cư trú trên thân thể, dục ái nằm ở bộ phận sinh dục, sân ở ngay lồng ngực, si ở con mắt và đầu, cho nên từ thân đến tâm đều phải thấy được hang ổ, sào huyệt, chỗ cư trú của tham, sân, si vì chỉ có thấy rõ, đi thẳng vào hang ổ, căn cứ địa của nó thì mình mới có thể nhiếp phục và đoạn tận được nó. Đức Phật nói rất rõ thức ăn của tham, sân, si trong kinh Nikāya nên Minh Thành mong mỏi mọi người hãy để tâm thật nhiều vào tạng kinh Nikāya này. Đức Phật nói trong Tăng Chi Bộ kinh rằng thức ăn của dục tham là tịnh tướng, nghĩa là mình cho đối tượng đó là đẹp, dễ thương, dễ nhìn, danh từ trong kinh là khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, nghĩa là vừa lòng, đáng yêu, hấp dẫn nên mình ưa thích và ham muốn, đó là thức ăn của tham dục.
"Ta không thấy một phép nào khác, này các Tỳ-kheo, dẫn đến dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỳ-kheo, như tịnh tướng. Tịnh tướng, này các Tỳ-kheo, nếu không như lý tác ý, đưa đến dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Vì mình nghĩ theo chiều hướng đẹp đẽ, sạch sẽ, dễ thương đó là mình đang cho những cảm giác dục, tham, ái ăn, chính vì vậy những cảm thọ dục, ái, tham, yêu thích này sẽ tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh trong thân tâm mình, đó là đang nuôi lớn lòng dục, lòng tham, lòng yêu thích, lòng say đắm, lòng khao khát, thèm thường. Đây là đại chướng ngại, lúc nào tâm cũng ở trong trạng thái dao động, đòi hỏi, tìm kiếm, bất an, không an tịnh, lắng dịu được vì bị dục quấy phá, không ngồi thiền được, không ở yên được, trong tâm là một cảm giác thúc giục, đòi hỏi nên cứ sai khiến, dẫn dắt mình liên tục. Vì thế để nhiếp phục dục tham phải dùng bất tịnh tướng, đi ngược lại tịnh tướng.
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, đưa đến dục tham chưa sanh không sanh khởi, hay dục tham đã sanh được đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như tướng bất tịnh. Tướng bất tịnh, này các Tỳ-kheo, nếu như lý tác ý, thời dục tham chưa sanh không sanh khởi, hay dục tham đã sanh được đoạn tận". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Phải thường tác ý, tư duy, quán chiếu về những hình ảnh bất tịnh, về tính chất bệnh hoạn, khổ sở, dơ bẩn không sạch sẽ, quán chiếu về chín giai đoạn của một tử thi, về nắm tro tàn, thường quán chiếu như vậy để nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham.
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, đưa đến sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỳ-kheo, như đối ngại tướng. Ðối ngại tướng, này các Tỳ-kheo, nếu không như lý tác ý, đưa đến sân, chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng quảng đại". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Thức ăn của sân giận là chướng ngại tướng, tức là mình cho đối tượng đó là chướng tai gai mắt (đối ngại tướng), thấy tướng đi cũng ghét, giọng nói cũng không ưa, nghe đến tên đã bực bội, cho nên dân gian có câu "thương nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười" hoặc là "thương nhau thương cả lối đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng".
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, đưa đến sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như từ tâm giải thoát. Từ tâm giải thoát, này các Tỳ-kheo, nếu như lý tác ý, thời sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Đức Phật dạy để đối trị tâm sân phải dùng từ tâm giải thoát. Từ tâm này không phải chỉ thương người ta mà còn thương cả chính mình vì mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh. Thương mình không phải chỉ là cho ăn ngon, mặc đẹp, ở sang mà thương cho sự ngu si, vô minh của chính mình, thương cho lòng sân hận, nhiệt não đang đốt cháy mình, thương cho sự mê muội, khờ dại, si ám của mình, thương cho lòng dục, tham, ái, bản ngã đáng tội nghiệp của mình. Đầu tiên là phải thương mình, từ chỗ thương được mình, xót xa với chính mình rồi mới nhìn ra chúng sanh, như vậy mới gọi là từ tâm. Tâm từ này không giận người làm cho mình giận, ngược lại còn thương người làm mình giận vì mình và họ đều là nạn nhân của cơn giận, những điều này phải thực tập, quán chiếu lâu dài mới có thể làm được chứ không phải nói sơ sài là được, mình là người tu thì phải tu thật nhiều.
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, đưa đến hôn trầm thụy miên chưa sanh đưọc sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỳ-kheo, như không hân hoan, biếng nhác, chán nản, ăn quá no, tâm thụ động. Với người có tâm thụ động, này các Tỳ-kheo, hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng quảng đại". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Thức ăn của si là sự lờ đờ, mệt mỏi, dã dượi, uể oải, gần tới giờ ngồi thiền mà đi ăn no rồi làm sao ngồi được.
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, đưa đến hôn trầm thụy miên chưa sanh không sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ kheo, như tinh cần giới, tinh tấn giới, dõng mãnh giới. Người tinh cần tinh tấn, này các Tỷ kheo, hôn trầm thụy miên chưa sanh không sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được đoạn tận". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, II. Phẩm Đoạn Triền Cái, 1-10 Tịnh Tướng v.v...)
Muốn nhiếp phục cái si thì Đức Phật dạy phải tác ý mạnh mẽ, tu trí tuệ, quán ánh sáng, tinh cần, tinh tấn dõng mãnh để thoát ra cảm giác si đang áp đảo nơi hai con mắt, nơi cái đầu đang nặng nề. Đó chính là sự tu tập để nhiếp phục để đoạn tận tham, sân, si, còn nói chung chung thì tu suốt đời cũng không thấy được hang ổ, sao huyệt, căn cứ địa của tham, sân, si nên cứ khổ đau liên tục. Tham, sân, si là giặc ở trong con người mình mà mình không thấy không biết nên nhận giặc làm bạn thì làm sao mình nhiếp phục và đoạn tận được hết tham, sân, si? Mình nương theo trí tuệ ngũ uẩn của Đức Phật dạy trong kinh Nikāya và học thuộc lòng năm định nghĩa về ngũ uẩn:
Thân người là sắc.
Cảm giác là thọ.
Hình bóng là tưởng.
Suy nghĩ là hành.
Rõ biết là thức.
Định nghĩa thứ hai:
Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.
Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.
Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.
Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.
Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.
Khi nương vào trí tuệ tối thượng của Đức Phật và học thuộc lòng nó rồi quay trở lại nhìn thân tâm thì lúc đó mới bắt đầu mở được con mắt pháp, con mắt trí, con mắt tuệ. Khi đã mở được mắt sẽ bất ngờ vì không ngờ trong thân tâm dục, tham, ái, vô minh, bản ngã rất nhiều, đầy rác bẩn, cấu uế, thấy được là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất. Thánh quả là sự phát giác, phát hiện một thân tâm đầy cấu uế, rác bẩn tham, sân, si, lậu hoặc. Thánh quả thứ hai, thứ ba là làm cho tham, sân, si giảm thiểu, có khả năng nhiếp phục, dùng bất tịnh để trị tham dục, dùng từ tâm giải thoát trị sân hận và dùng sự dõng mãnh, tinh cần, tinh tấn quán chiếu về thiền quán, tuệ giác để giải phá si mê và sự tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh này không dừng lại mà phải dùng cả sinh mạng để nhiếp phục tham, sân, si, đó là giai đoạn của Thánh quả thứ hai, thứ ba, những cái thô, hung bạo, hung tàn được nhiếp phục, chế ngự, từ xưa đến giờ nó dẫn dắt, hành hạ mình, đay nghiến mình, còn giờ mình quay ngược lại nhiếp phục nó, mình bắt đầu làm chủ nó, tham, sân, si muội lược, bắt đầu giảm bớt rồi đi đến chỗ hết sạch hoàn toàn là Thánh quả thứ tư, đó là cứu cánh cùng cực của phạm hạnh, "sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa", không còn trở lại trạng thái tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não, vô minh và bản ngã trong năm uẩn này nữa, đó là cứu cánh phạm hạnh của người xuất gia cũng gọi là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người, diệt tận nó như chặt cây tala để nó không thể sanh khởi trở lại trong tương lai, tức là phá vỡ hoàn toàn vô minh, tham ái và chấp thủ đối với năm uẩn, không còn mê lầm cho rằng hình hài, thể xác, của cải, vật chất này là tôi, là của tôi nữa, không còn cho bất cứ cảm thọ nào là tôi, là của tôi nữa, không còn cho bất cứ hình bóng, suy nghĩ nào là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, không còn cho những nhận thức, chấp thủ này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, tâm người này hướng đến nhàm chán, ly tham, hướng đến giác ngộ, thắng trí, Niết-bàn, thoát ly khỏi ngũ uẩn, như vậy gọi là cứu cánh cùng cực của đời sống tu hành phạm hạnh. Để làm sáng tỏ điều này thì Minh Thành xin đọc bài kinh Sona.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagala (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Rồi Sona, con vị gia chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Sona, con vị gia chủ, đang ngồi một bên:
-- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, không biết rõ sắc, không biết rõ (nappajananti) sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; không biết rõ thọ... không biết rõ tưởng... không biết rõ các hành... không biết rõ thức, không biết rõ thức tập khởi, không biết rõ thức đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị ấy trong đời sống hiện tại, cũng không tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Còn những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; biết rõ thọ... biết rõ tưởng... biết rõ các hành... biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, còn tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Ðảo, VIII. Sona)
Đức Phật nói rất nhiều trong Tương Ưng Uẩn rằng ngài không tuyên bố rằng ngài là bậc giác ngộ cứu cánh cùng cực giữa chư thiên, giữa ma giới, giữa tất cả người tu hành cho đến khi nào ngài hoàn toàn thấu triệt sắc; thọ; tưởng; hành; thức một cách đầy đủ, đồng đều, trọn vẹn những góc độ, khía cạnh về năm uẩn này, về thân tâm này thì lúc đó ngài mới tuyên bố ngài là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, còn một chút nào về sắc; thọ; tưởng; hành; thức chưa trọn vẹn, chưa thông đạt thì ngài không nói rằng ngài là bậc giác ngộ cùng cực giữa chư thiên và loài người. Do ngài thấy, ngài biết, ngài chứng đắc và thấu hiểu tận cùng tất cả những phương diện, khía cạnh, góc độ của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, của thân tâm, của thế giới này nên ngài mới tuyên bố ngài là bậc giác ngộ vô thượng cứu cánh cùng cực Chánh Đẳng Chánh Giác.
"Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta không tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta:
'Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa'". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)
Bài hôm nay con gửi gắm đến tất cả các thầy, các sư cô và đại chúng yếu chỉ của kinh tạng Nikāya là đoạn tận vô minh và tham ái đối với năm uẩn, tức là chấm dứt sự không thấy, không biết, chấm dứt sự yêu thích, đam mê vào trong hình hài, tâm thức và năm nhóm sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Năm nhóm này là vô thường, là pháp duyên sanh, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, nó là bọt nước, là bong bóng, là khói sương. Nếu tâm chúng ta cứ đeo bám, nắm chặt vào đây thì nhất định chúng ta sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não, nhất định nước mắt sẽ đầm đìa, nhất định máu hồng sẽ tuôn xuống và nhất định vô lượng những đời sống về sau dòng luân hồi sẽ bất tịnh với những hình hài của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nhân thiên không chấm dứt. Cho đến khi nào chúng ta quay lại nương vào trí huệ của Đức Phật nhìn thấy năm uẩn thân tâm này chính xác, thấy rõ tham, sân, si trong nội tâm rồi nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch nó thì lúc đó sự tu hành thật sự thành tựu, đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
./.