Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Ý căn là gì - Thế nào là an trú pháp

2026-03-18 06:50:22
SOI SÁNG NIKĀYA - Ý CĂN LÀ GÌ? THẾ NÀO LÀ AN TRÚ PHÁP?

-Thích Minh Thành-

-----***-----

Mục lục

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Duyên sanh pháp: PAGEREF _Toc59438729 \h 1

II. Ý căn là gì? PAGEREF _Toc59438730 \h 2

III. Ý xúc: PAGEREF _Toc59438731 \h 15

IV. An trú pháp - tỉnh giác – tác ý: PAGEREF _Toc59438732 \h 17

     

I. Duyên sanh pháp:

Kính bạch quý thầy, quý sư cô, kính thưa toàn thể đại chúng. Hôm nay, chúng ta trình Pháp nhân sự kiện hôm qua chư tăng tập sự có hỏi những câu hỏi có lợi ích cho đại chúng, chúng ta chia sẻ hai câu hỏi trước sau đó, tùy theo đại chúng có thể nêu lên những câu hỏi, những khó khăn trong thực tập, có thể chia làm ba nhóm. Nhóm thứ nhất là các vị mới, nhóm hai là các vị Phật tử có tu học một thời gian, nhóm thứ ba là các vị xuất gia. 

Hôm qua, chú có hỏi về ý xúc tức là hỏi về ý căn như thế nào? Câu hỏi thứ hai là thế nào là an trú pháp, làm sao biết mình đang an trú trong pháp?

Mời một vị đọc Duyên Sanh Pháp, để cho các vị mới kiểm tra bài, các chú các cô Phật tử phải thuộc Duyên Sanh Pháp.

- Phật tử:

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính Bạch sư phụ, kính thưa quý Thầy, kính thưa quý sư cô, kính thưa quý Phật tử con xin đọc Duyên Sanh Pháp:

“Do duyên có mắt và các sắc sanh khởi nhãn thức, rõ biết các sắc, sự hội tụ của ba pháp này là nhãn xúc.

Do duyên có nhãn xúc sanh khởi thọ, do nhãn xúc sanh sắc tưởng sắc tư.

Do duyên có tai và các tiếng sanh khởi nhĩ thức, rõ biết lời nói âm thanh. Sự hội tụ của ba pháp này là nhĩ xúc do duyên có nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh thanh tưởng, thanh tư.

Do duyên có mũi và các mùi sanh khởi nhĩ thức rõ biết các mùi. Sự hội tụ của ba pháp này là nhĩ xúc do duyên có nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh hương tưởng, hương tư.

Do duyên có lưỡi và các vị sanh khởi thiệt thức rõ biết các vị. Sự hội tụ của ba pháp này là thiệt xúc.

Do duyên có thiệt xúc nên sanh khởi thọ do thiệt xúc sanh vị tưởng, vị tư.

Do duyên có thân và có sự đụng chạm sanh khởi thân thức rõ biết sự đụng chạm. Sự hội tụ của ba pháp này là thân xúc.

Do duyên có thân xúc nên sanh khởi thọ do thân xúc sanh xúc tưởng xúc tư. Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành sanh khởi ý thức rõ biết thọ, tưởng, hành. Sự hội tụ của ba pháp này là ý xúc.

Do duyên có ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh pháp tưởng pháp tư.”

Dạ con xin hết!

-----

II. Ý căn là gì?

Có vị nào giải thích dùm hai chữ ý căn, ý căn là gì? Giải thích được không?

- Phật tử:

Nam mô bổn sư thích ca Mâu Ni Phật, con kính Bạch sư phụ, kính Bạch quý Thầy quý sư cô và toàn thể đại chúng con xin được giải thích về ý căn trong sự giải thích trong sự tu tập còn vô minh, khi con chia sẻ còn gì thiếu sót mong sư phụ, quý Thầy và quý sư cô, toàn thể đại chúng hoan hỷ cho con và chỉ dạy thêm cho con. Nam Mô Phật. Dạ bạch sư phụ ý căn là sự để ý đối với những cảm giác, những hình bóng, những suy nghĩ ở trong tâm.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Cho ví dụ ở bên ngoài để diễn tả bên trong tâm, cũng là ví dụ thọ tưởng hành là khi con đang đứng đây mà có một cái cảm giác lạc thọ, dễ chịu và lúc này thì con có một sự để ý ở trong tâm, có một sự để ý đến cảm giác này thì đó là ý căn thưa sư phụ; hoặc là khi con đứng đây mà có một cái hình bóng, có bóng dáng của sư phụ ở trong tâm hiện khởi lên mà lúc này ý căn, sự để ý của con nó hướng tới hình bóng và bóng dáng của sư phụ trong tâm thì đó là ý căn đang hướng tới hình bóng. Dạ Mô Phật.

-----

Mời vị khác giải thích và cho ví dụ rõ hơn nữa, mời cô Hạnh Trí.

- Sư cô Hạnh Trí: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính Bạch sư phụ, kính thưa quý Thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng, con xin phép trả lời câu hỏi về ý căn, trong quá trình chia sẻ và cho ví dụ con có nhiều sai sót con xin sư phụ, quý Thầy và quý sư cô chỉ dạy thêm cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Dạ thưa ý căn là sự để ý, ví dụ khi đang ngồi thì có một con mèo chạy ngang qua và ý mình hướng tới để ý con mèo nó đang chạy hay nhảy trong đó nó có một cảm giác hơi khó chịu hay là thấy vui vui thì khi có ý nó tiếp xúc với các pháp thọ tưởng hành, khi có cảm giác bùi ngùi thì trong đó ý tưởng là hình bóng con mèo có cái hành suy nghĩ là sao con mèo nó có cái hạnh nghiệp, cái ác nghiệp như vậy và tại sao nó có hình tướng như vậy. Khi có ý căn tiếp xúc với các pháp thọ tưởng hành sẽ sinh ra ý thức là rõ biết thọ, tưởng, hành. Sự hội tụ của ba pháp này là ý xúc và do duyên cái ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, lúc đó có pháp tưởng và pháp tư. Dạ Mô Phật.

---

Xin mời quý vị khác vì cái này là quan trọng phải nắm thật vững.

- Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính Bạch quý Thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng, con xin lấy ví dụ về ý căn đó là sự để ý. Ví dụ như khi con ngồi đây, con mắt con tiếp xúc với cây bồ đề đó là các sắc pháp, khi tiếp xúc như vậy con có sự rõ biết và các sắc cây bồ đề đó khi rõ biết. Như vậy thì ba pháp này nó hội tụ giao thoa với nhau tạo sự tiếp xúc. Sự tiếp xúc khởi lên con có cái cảm thọ gọi là thọ do nhãn xúc sanh và cảm giác do con mắt tiếp xúc với sắc đó thì lúc đó bên trong nội tâm; phải để ý xem từ sự tiếp xúc đó nó khởi lên hình bóng hoặc là cái tưởng cái suy nghĩ gì không. Mình cần xem kỹ hình bóng đó, cái tưởng đó, cái lời nói đó mình để ý xem nó có có lòng tham, lòng dục, lòng ái đối với cây bồ đề đó hay không, khi mắt mình tiếp xúc với cây đó và xem rõ ý hành của mình nó có muốn sự thúc giục, sự ham muốn xin đem về trồng hay không do mắt mình tiếp xúc với các pháp như vậy mình phải chú ý xem cái thọ, tưởng, hành nó khởi lên như thế nào nó có lòng dục, lòng ái, lòng tham trong đó hay không để phát hiện ra nó để nhiếp phục nó, theo ý con nghĩ là như vậy mong Thầy chỉ dạy thêm.

-----

Còn có ai muốn chia sẻ nữa không?

- Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính thưa sư phụ, quý Thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Đây cũng là câu hỏi con đang thắc mắc nên câu trả lời của con cũng là câu hỏi vấn đề này có đúng không với cách con suy nghĩ. Do trong quá trình tu tập còn vô minh và yếu kém nên có gì sai sót mong quý Thầy, quý sư cô và đại chúng hoan hỷ chỉ dạy cho con thêm. Dạ ý căn là sự để ý và ý niệm ví dụ như con đang ngồi ở đây đột nhiên có những dòng suy nghĩ nó hiện về như nó hiện lên trong suy nghĩ của con hình bóng cha mẹ, làm sanh khởi sự cảm thọ hình bóng dòng suy nghĩ chợt hiện ra nó hội tụ lại. Xin phép hỏi sư phụ như thế có đúng không ạ?

- Sư cô Hạnh Trí:

Dạ con xin phép sư phụ, quý Thầy và quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin bổ sung thêm về ý căn lúc nảy con ví dụ là cái tâm đang hướng ngoại, nó bị phóng dật và cái ý để ý ra bên ngoài còn khi mà trú được trong pháp có sự để ý. Ví dụ đang ngồi có một cảm giác đau chân thì cảm giác đau chân và tê chân đó, có sự để ý đến cảm giác đó thì rõ biết cảm giác đang đau thì đó là ý thức nhưng khi có cảm giác đau đó, thì có một cái tưởng là thấy hình bóng cái chân đang đau và đồng thời cũng có suy nghĩ cái chân thì đau mà cái tâm không đau, hoặc nó trú trong pháp là khi để ý đến định tướng là quán bất tịnh. Khi ý có cảm giác rùng người có những hình ảnh vừa xem, có những máu, mủ, thể trượt nó khởi lên trong tâm thì trong đó có cái hành sẽ tất ý đưa đến nhàm chán đến cái thân uẩn này. Lúc này, ý thức cảm giác thọ, tưởng, hành này nó đang khởi lên và đồng thời có pháp tưởng là suy nghĩ, có hình bóng là nhớ tới cái pháp vừa diễn ra trong tâm và đồng thời nó có cái pháp tư là suy nghĩ về những cái pháp mà mình đã được học; có sự liên tưởng tư duy tiếp tục để cho pháp vận hành một quá trình ngồi thiền. Dạ câu trả lời còn thiếu sót mong sư phụ chỉ dạy thêm. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

-----

Cái này thấy vậy chứ nó vi tế đó.

- Phật tử: Dạ, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính Bạch sư phụ, con kính Bạch quý Thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng cho con xin được chia sẻ sự hiểu biết của con, sự hiểu biết còn nông cạn nên trong quá trình chia sẻ còn sai sót. Xin sư phụ, quý Thầy, quý cô chỉ dạy cho con. Phần ý căn theo con hiểu là rõ biết sáu căn, theo con ý căn là sự để ý bao hàm để ý năm căn trước: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Bởi vì khi con ngồi ở đây con thử thực nghiệm khi nào có sự để ý thì con nhận diện được trong hoàn cảnh hiện tại của con, là đang ngậm cái kẹo thì cái nổi trội trong các căn của con là về cái vị là bằng miệng, thêm cái là âm thanh của tiếng chim con thấy được sự nổi trội ở đó bắt đầu ý căn của con sẽ để ý vào những căn này.

Khi có sự để ý thì giống như căn do có pháp và các căn sanh ra ý thức từ thức này sanh ra xúc và xúc sanh ra thọ, từ thọ này sanh ra pháp và tưởng nó có sự vận hành khi có căn này thì sự vận hành của ngũ uẩn, nó cứ liên tục liên tục và khi con xác định thấy được sự vận hành liên tục này cho con quay về cái thọ; cho con cái hiện tại và con thấy ngay hiện tại cái vị của con đang ngậm cái kẹo con đắm chìm trong sự dễ chịu con lập tức tạc ý nó là một cảm giác vô thường và con phải bỏ đi cảm giác này. Nếu không cảm giác vị ngọt này cho con chìm đắm đây là mặt thô mặt tế con vẫn chưa nhìn ra, còn tiếng chim cái căn khi nghe rõ, để ý và nghe được tiếng chim bên ngoài, con quay về nhìn cái thọ của con và con cảm giác các sự dễ chịu và con xét trong sự dễ chịu này có cái tham muốn hay dục lạc hay không thì có để ý thấy có con lập tức tác ý, nó cũng là cái âm thanh rồi tan biến con nhận diện nếu còn những cái này mà không tác ý thì sẽ có sự đau khổ, khi mất đi một âm thanh nào tốt hay xấu sẽ có sự phiền não ở trong. Đây là sự hiểu biết nông cạn của con, con xin trình lên mong quý sư phụ, quý sư cô và đại chúng hoan hỷ và chỉ dạy cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

-----

Chú Tam hiểu được cái ý căn chưa, chú hãy trình bày.

- Phật tử Chú Tam:

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý Thầy, kính bạch trên quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Ngày hôm qua con có hỏi sư phụ về ý căn thì được sư phụ tận tình hướng dẫn chỉ dạy và con chú tâm lắng nghe nhưng do con còn nhiều vô minh, si mê vẫn chưa tiếp nhận và chưa thấy được pháp, nếu có điều gì sơ suất xin sư phụ, quý Thầy, quý sư cô và đại chúng thứ lỗi, chỉ dạy thêm cho con. Con xin trình bày sự hiểu của con, ý căn là sự để ý đến pháp trần thọ, tưởng, hành hiện khởi có trong tâm. Ý căn có sự để ý tới pháp trần thì sẽ hiện rõ cảm giác, hình bóng, suy nghĩ ở trong tâm. Khi có ý căn và có pháp trần sanh khởi ý thức và sự hội tụ của ba pháp này tạo thành ý xúc, có duyên ý xúc nên sanh khởi có cảm giác có hình bóng có suy nghĩ tiếp theo, theo con được hiểu là khi tâm tiếp xúc với trần theo duyên sanh pháp thì sẽ có sinh ra được thọ tưởng hành và khi ý căn có sự để ý thì pháp trần này hiện rõ. Cho ví dụ khi ý có sự để ý như con đang đứng thì có sự để ý dưới lòng bàn chân có cảm giác dưới lòng bàn chân khởi lên con cảm giác dễ chịu, có hình bóng ở lòng bàn chân có suy nghĩ là thật là dễ chịu khi đứng trên tấm thảm. 

- Phật tử:

Dạ thưa sư phụ con có bổ sung, con chợt nhớ hai câu Pháp cú của Đức Phật dạy là ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ ý tạo nếu với ý cấu nhiễm nói lên hai hành động khổ não sẽ theo sau, như xe chân vật kéo, ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ ý tạo. Nếu với ý thanh tịnh nói lên hai hành động, an lạc bước theo sau, như bóng không rời hình thì cũng giống như sư cô Hạnh Đức lúc nảy, là khi ý luôn dẫn đầu các pháp là làm chủ năm căn còn lại và khi có mắt tiếp xúc với sắc sinh ra sự rõ biết các sắc là nhãn thức và khi ba pháp này hội tụ lại thì sinh ra nhãn xúc, và khi có nhãn xúc thì có thọ do nhãn xúc sanh và có sắc tưởng sắc tư các căn còn lại cũng vậy; và khi có thọ thì có tưởng và có hành đó là theo kinh Pháp cú. Còn theo Duyên Sanh Pháp thì lúc nảy con đã giải thích, vì có sự để ý của năm căn và đó là bên ngoài cái thứ sáu là bên nội tâm, trong nội tâm nó có những cái cảm giác hình bóng và suy nghĩ nó khởi lên như thế nào thì lúc này khi có ý thức khi có sự để ý vào các cảm giác hình bóng suy nghĩ đó thì mới rõ biết các cảm giác hình bóng và suy nghĩ đó nó khởi lên như thế nào, an trú như thế nào, chấm dứt như thế nào.

Trong quá trình tu tập là cả một chuỗi diễn biến của tâm thức nó là cái chuỗi rất là logic không tách rời và trong lúc mình phóng dật thì tâm phóng ra ngoài còn khi có sự để ý vào nội tâm có sự trú trong pháp thì quay trở lại nhìn cảm giác trong nội tâm. Hai câu pháp cú trước đó là nói chung về sáu căn, sáu trần, sáu thức còn theo Duyên Sanh Pháp là quay trở lại nội tâm thấy rõ cái cảm giác khó chịu dễ chịu thì đó là mình nhận diện được tham, sân, si và có cái hình bóng gì nó đang khởi lên và an trú như thế nào, và pháp ý như thế nào để cho thọ tưởng hành này chấm dứt và không bị ngũ uẩn dẫn dắt. Trong bài kinh Đảnh lễ đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất có hai câu con rất là tâm đắc: nay con xin tập hạnh hiền nhân không để tham sân dẫn dụ mình lắng nghe thọ tưởng hành thật kỹ nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm. Nay con xin tập hạnh hiền nhân chẳng để hơn thua dẫn dụ mình. An trú tâm hiền theo Thánh đạo. Nguyện bỏ phàm tâm tập Thánh tâm. Dạ con xin trình lên mong quý Thầy, quý sư cô chỉ dạy thêm cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

-----

Câu hỏi ý căn là gì?

- Phật tử:

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính thưa sư phụ, kính thưa quý Thầy, kính thưa quý cô, kính thưa quý phật tử con xin chia sẻ một số hiểu biết nông cạn của con nếu có gì sơ xuất thì mong được sự chỉ dạy thêm. Ở đây, chúng ta đang hỏi ý căn là gì theo con thì ý là sự để ý còn căn là liên hệ đến sáu trần mình chỉ nói là sự để ý đến sắc thanh hương vị xúc pháp, còn phần liên tưởng liên quan đến sắc thọ tưởng hình thức, liên quan đến pháp trần đó thuộc về phần thức.

-----

Ý căn là một từ cho nên giờ mình kiểm tra lại nó thấy mình thuộc vậy đó, chứ khi nhận diện ở trong thực tại không phải dễ. Thật ra, chúng ta tu là chúng ta sử dụng ý căn này rất là nhiều nếu không sử dụng ý căn thì đâu có biết thọ tưởng hành. Giờ mình ví dụ trong cái đêm tối mình đi ở trên núi cầm cái đèn pin của điện thoại mình muốn nhìn thấy chỗ nào thì mình rọi vô chỗ đó, cầm cây đèn pin mình muốn soi chỗ nào thì mình rọi ánh đèn pin đến chỗ đó.

Khi ánh sáng của đèn pin rọi đến chỗ đó thì cái chỗ đó là cái gì hiện hình tướng của nó ra nhờ cái ánh sáng. Xung quanh đó tối nhưng chỗ mình cần muốn nhìn thấy thì mình đưa cái đèn pin mình lia vô chỗ đó thì hiện rõ ra, ý căn của mình giống mình cầm mình lia cái đèn pin vô vậy đó. Tức là mình muốn coi coi hiện tại có cái thọ gì mình có để ý không mình để ý mình mới biết đang có cái thọ gì lạc thọ hay là khổ thọ hay là bất khổ bất lạc thọ. Nếu mình không để ý thi cái sự hướng ngoại của mình nó sẽ phóng ra ngoài sắc trần thân trần như vậy, để ý vô chỗ nào bên trong tâm, nói về cái ý căn không nói rộng ra bên ngoài nói rộng ra sẽ bị lẫn lộn người ta nhận thức không được thì mình nhớ rằng, cái sự để ý loại trong tâm mình muốn để ý vô cái phần thọ thì cái thọ biểu hiện rõ ra sáng tỏ ra trong tâm mình, muốn để ý phần tưởng thì cái tưởng hiện ra trong mình.

 Mình cầm đèn soi trong phần tưởng uẩn thì cái tưởng hiện đó nó đang có tưởng gì, đang có hình bóng gì, có hình bóng gì thì nó sẽ hiện ra thì mình muốn để ý trong cái phần mình đang suy nghĩ cái gì thì mình để ý vô phần hành uẩn thì mình đang suy nghĩ gì nó sẽ hiện ra phải không nó đơn giản như vậy. Sự nhận diện ngũ uẩn là sự để ý trở lại nội tâm, còn sự không nhận diện ngũ uẩn là hướng ngoại. Như vậy, mình nhớ cái ví dụ này, cầm cái đèn pin lia tới chỗ nào thì vật chỗ đó sẽ hiển lộ, sáng tỏ ra. Cho nên cái Duyên Sanh Pháp ở đây là sự để ý lại cảm giác, hình bóng trong tâm, để ý lại những suy nghĩ.

Khi mình để ý lại thì rõ biết giống như hồi nãy chú Huy hỏi đúng rồi đó, chú đang ngồi nghe Pháp nhưng mà bỗng nhiên chú để ý nội tâm thấy hình bóng cha mẹ mình hiện lên thì có cảm giác thương nhớ, lo lo. Chú cứ suy nghĩ không biết cha mẹ có buồn mình không, mình bỏ đi vậy đó. Thì mình để ý trở lại cảm giác, hình bóng, suy nghĩ hiện ra. Như vậy, sự để ý và học hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó thì lúc đó mình nhận thức rõ biết, con nói không dùng thuật ngữ chữ nghĩa người ta nghe không biết, con nói thực pháp không dùng chữ nghĩa nhiều. Mình nhận thức được hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó khi mà trong đó sự tiếp xúc trở lại bên trong thì mình sanh ra cảm giác. Rồi hình bóng tiếp theo sanh khởi, những suy nghĩ tiếp theo sanh khởi.

Cái chữ Pháp tưởng, Pháp tư ở đây, Pháp không phải là Phật pháp, Pháp ở đây là thọ, tưởng, hành ở trong tâm. Tức là sau hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó cái ý thức của mình rõ biết đang có hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó, khi nó rõ biết như vậy sanh ra cảm giác, tiếp tục sanh ra hình bóng nữa, cảm giác nữa suy nghĩ nữa. Mà nếu tiếp tục nữa nó sanh ra thọ tưởng hành thứ hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy...sanh hoài như vậy, cái đó là duyên sanh pháp của ý. Đây là thuần túy nói ở trong tâm, không nói ở ngoài, hình bóng, cảm giác, suy nghĩ ở trong tâm, thì đây là phần ý.

Mình ngồi thiền thì bỗng nhiên, đương nhiên phải quay vô trong tâm, để ý trong tâm, thấy trong tâm hiện ra hình bóng một bậc Bất Tịnh Quán, máu thịt bầy nhầy hết, cảm giác đi theo khổ thọ, sợ hãi, ớn. Như suy nghĩ về thân xác này, có cái gì sạch sẽ đâu, thực là kinh tởm, khi mà chín giai đoạn một tử thi hiện ra, suy nghĩ, hình bóng, cảm giác đó. Mình để ý trở lại hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó để rõ biết nó đang có mặt thì sẽ sanh ra một cảm giác nhàm chán nữa, suy nghĩ, hình bóng nữa, tiếp tục những hình bóng, suy nghĩ đó. Như vậy, mình để tâm mình sanh khởi những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ nhàm chán đó tác ý, liên tục liên tục giữ hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó hoài liên tục, thì vậy gọi là an trú trong Pháp, gọi là thiền quán.

Còn nếu lúc đó chen cái gì khác vô không phải là Pháp, dẫn dắt mình đi chỗ khác lúc đó là mình bị thất niệm, không an trú trong Pháp hành đang thực hành, đề mục đang quán chiếu. Ví dụ như trong buổi thiền quán mình chỉ theo lời dẫn xuyên suốt từ lúc mở ra tới lúc chấm dứt thì mình thực hành thiền quán một cách nghiêm túc, sâu sắc, tốt. Còn mình nghe một hồi đơ đơ ngủ, giật mình thức dậy mơ mơ thì nó lạc qua si, không thôi lạc qua sự phóng tâm, không đi theo đề mục đó nó muốn quán cái khác thì gọi là không chấp nhận học Pháp, tâm chưa nhu nhuyến thậm chí nó bực nữa, tôi muốn mở này sao mà mở cái kia. Pháp mà nó còn sân nếu không phải Pháp thì còn hơn nữa. 

Như vậy, ở đây nói những cái gần từ từ mở rộng ra để cho mình thấy được là thật sự sử dụng cái người tu sử dụng ý căn nhiều, liên tục và thường xuyên. Cái này nếu không học Duyên sanh pháp của kinh NIKĀYA, không có người hướng dẫn thì ngồi thiền suốt cuộc đời cũng không biết ý căn là cái gì. Cho nên sự tu của mình như ví dụ hồi nãy, ngồi nhớ hình bóng cha mẹ hiện ra, cảm giác nhớ thương lo lắng, suy nghĩ. Sau đó, mình không muốn hình bóng, cảm giác, suy nghĩ này xâm chiếm tâm mình, đây là sự níu kéo, luyến ái, ràng buộc.

Mình đánh đuổi hình bóng ra khỏi nội tâm mình, dẹp suy nghĩ này qua chỗ khác, làm cho cảm thọ tan biến để trở về trú trong pháp đang nghe, đang học, đang tu, thì cái đó gọi là tinh tấn, thoát ra, xuất ly cái thọ, tưởng, hành, đi ra khỏi cảm giác, hình bóng nghĩ tưởng đó ngay lập tức nếu mà sức mạnh, còn nếu sức yếu thì cũng ám ảnh, lâu lâu hiện lại, cảm giác sân khởi nữa, hình bóng có mặt nữa, suy nghĩ nữa. Nếu tu kém thì hình ảnh đó cứ dai dẳng, kéo mình. còn nếu mình sức mạnh tác ý dùng tuệ lực, mãnh hổ lực, hung hãn lực, thần lực, đạo lực đánh một chưởng Như Lai Thần Chưởng, Bát Chánh chưởng, Tuệ Lực chưởng đánh tan hết, bứng hoàn toàn gốc rễ suy nghĩ, cảm giác hình bóng đó, diệt tận nó luôn thì nó sẽ không bao giờ sân khởi trở lại. Đó là nói tu mà công lực thâm hậu, sau này sân khởi thì sân khởi nhẹ, không đủ sức lôi kéo để làm mình bị dao động nữa.

Tác ý hoài như vậy, thấy cái gì chập chờn, lờ mờ, ám ảnh mà bất thiện pháp thì mình phải ra công sức thiệt nhiều, tác ý liên tục thường xuyên. Nếu không để lâu ngày sẽ tích luỹ tăng trưởng, nuôi dưỡng phát triển khi mình yếu nó quật ngã đổ mình xuống núi, cho nên mình nhớ vấn đề dễ lắm, đèn pin dễ nhớ lắm. Bây giờ ví dụ kỹ, tất cả là sự để ý trong tu tập, là một sự để ý. Mình đang ngồi thiền bỗng nhiên thấy cái thọ đơ ra, mình có để ý thì mới thấy cái thọ đơ ra, cái thọ không những ở trong tâm mà còn biểu hiện ra thân, tại vì cái thọ gắn liền thân tâm. cái thọ đơ ra thì kết hợp giữa cái đầu và con mắt, cái đầu sẽ nặng, con mắt sẽ sụp xuống, khi mình để ý thấy như vậy thì tác ý đánh đuổi những cảm thọ đó, quán tưởng về ánh sáng, sự đau khổ như lũ lụt miền trung, những chỗ chết chóc tai nạn, tang thương, mình ngồi đây mà không chịu tu, ngủ gục, sao mình lại biếng nhác, hèn hạ như vậy. Mình tác ý mạnh như vậy thì sẽ ra khỏi thọ, cái thọ của trì trệ, si ám đó. Như vậy, tất cả sự tu của mình ở sự để ý, không để ý mình không biết lúc đó đang có thọ si.

Mình đang ngồi bình thường như vậy bên ni xá, bỗng nhiên trong nội tâm nhìn thấy mặt một người lờ mờ mình ghét hiện lên trong tâm, sao mà hiện hình bóng lên, đi theo đó là cảm giác khó chịu, suy nghĩ bực bội cái người này từng làm mình như vậy nè, để ý lại mới thấy; cảm thọ mình cảm thấy khó chịu, suy nghĩ đó làm mình như vậy nè, ác với mình quá trời thì có cảm giác sân ở trong đó. Lúc đó, sự tu tập của mình là đánh đuổi, tẩy sạch, thoát ly, thoát khỏi nó ra. quán chiếu nghiệp quả, tâm từ; tại vì nếu mình đuổi ra không thì gốc không hết, bây giờ đuổi nó ra mai mốt hiện trở lại giống như bóng ma, nếu quán nghiệp quả, trải tâm từ là mình đào bới dưới gốc rễ để sau này khi mình đào từ từ mình bứng cái gốc thì hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó sẽ diệt tận, chỗ này là sâu sắc.

Tại vì mình chỉ đuổi ra thôi nên nó đi vài bữa nó hiện lại như ma, cô hồn, cho nên tại sao mình quán bất tịnh thì không nghĩ tới được không? cũng như chú quay phim nói là con làm suốt ngày con mệt tối vô ngủ như chết, ít có nhớ gì vấn đề, ít có nhớ không có nghĩa là không có dục ái, mấy người già 70, 80 tuổi hết sức lực, lực bất tòng tâm nhưng cái dục chưa hết. chính vì cái dục, dục ái, dâm dục đậu bên trong chưa hết cho nên chết rồi sanh dục tiếp tục, tại sao, rút gốc rễ vẫn còn thâm căn cố đế, gốc chưa hạ thì nó vẫn bền, cứng chắc bên trong. Sự quán bất tịnh này là đào bới gốc rễ. Tại vì gốc không phải con người đó, hình bóng đó mà là cái lòng khát, ham muốn, lòng thèm, lòng dục ở bên trong chứ không phải con người đó.

Mà thâm sâu ở trong các tầng cảm thọ, trong đó là một sự thiếu thốn, khát khao của sự tham ái. Bây giờ, sự tu quán bất tịnh quán ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn của một tử thi; quán những nguy hiểm của dục, tác hại của dục, sự đau khổ, hành hạ của dục, quán như vậy để tẩy, rửa, nhổ, đào, bới, xới một sự khát ái, thâm sâu ở dưới các lớp cảm thọ. Tại sao người ta quá trời đau khổ muốn chết vì thất tình nhưng rồi vài bữa lại có người khác, vì gốc dục ái trong này còn, không những có một người mà có khi hai ba người, năm bảy người. Thậm chí cả trăm người cũng chưa thoả mãn. Tại sao? Gốc rễ, ái triền miên chưa nhổ, đau khổ còn sanh hoài, cho nên sự quán của chúng ta hết sức thâm sâu, sự học Chánh chi kiến hết sức thâm sâu tại vì “tẩy não”. Não của chúng ta bị ô nhiễm tức là cái tâm lậu hoặc, thâm căn cố đế, vô lượng vô biên nhất trong này là chất chứa vô minh và khát ái.

Cho nên không phải nghe một lần mà quán vài lần, quán một tháng, ba tháng, năm tháng mới chứng đắc, thể nhập Thánh Trí Huệ và chứng nhập Trí Bất Tịnh, cần phải gội rửa liên tục liên tục, suốt đời cho đến khi nào thực sự bứng được gốc đó thì mới gọi là chặt cái chân ta la, không còn làm cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai. những lúc chúng ta quán bất tịnh, quán 32 thể trược, chín giai đoạn một tử thi mà chúng ta nước mắt tràn trụa, xúc cảm, xúc động, rúng động, khóc nước mắt đầy mặt, khóc oà lên, một cú sốc triệt để trong thân tâm của mình là những lúc chạm tới được cái rễ của cây cổ thụ ngàn năm khát ái đó, một vài cái rễ. nhiều người không biết thấy vậy quán lắng dịu thân tâm dục rồi xong, tưởng dục diệt rồi, vài bữa nó sanh khởi trở lại.

Cho nên khi mình tu nhất là đường lối tu Nikaya, theo gốc của Đức Phật là sử ý căn sử dụng liên tục, rất nhiều sự để ý, mà để ý chúng ta nhớ Chánh niệm tỉnh giác, định nghĩa 1, định nghĩa 2.  Định nghĩa 2 là khởi lên là mình biết, thọ an trú, thọ chấm dứt là mình biết, tưởng khởi lên. An trú chấm dứt, biết hành khởi lên, mà không để ý làm sao biết cho nên sử dụng ý căn nhiều lắm. Mình không biết ý căn làm sao để tu.

Ngoài đời, người ta nói con gái có ý có tứ, người làm việc phải cẩn trọng có sự để ý, sự tu cũng phải càng để ý nhiều hơn rất là nhiều, không để ý là không biết mình, thọ tưởng hành sanh khởi lên mình cho qua, không quan trọng đâu, vài bữa sanh khởi lên, rồi sanh khởi thường thường lên thì nó dẫn dắt mình.

Cho nên phải để ý và đọc lại bí kíp võ công Duyên Sanh Pháp này, do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành cho nên sanh khởi ý thức, mình để ý lại hình bóng một người yêu thương, cha mẹ, bạn bè hay chồng con hiện lên, cảm giác sân khởi, suy nghĩ sanh khởi theo thì lúc đó mình rõ biết đang có hình bóng, đang có cảm giác, có suy nghĩ đó.

Như vậy, lúc đó có sự để ý, hình bóng của người mình thương yêu, cảm giác dễ chịu, suy nghĩ theo nó, có một sự nhận thức điều đó. Tất cả các pháp hội tụ lại với nhau như vậy đó gọi là ý xúc, sự tiếp xúc của ý. mình không để ý thì nó cũng xúc mà xúc ngoại cảnh, hướng ngoại chứ không phải xúc hướng nội. Sự giao thoa giữa để ý, hình bóng suy nghĩ, cảm giác, sự rõ biết tất cả cùng trên một cái dĩa, tất cả pháp giao thoa tiếp xúc với nhau như vậy gọi là tiếp xúc của ý. nếu mà mình không học, không tu, không nhận diện các pháp, thì thưa với đại chúng mình ngồi thiền tới chết cũng không biết đâu, không biết thọ, tưởng, hành là gì. Không biết ý thức là gì, càng không biết ý căn là gì, làm sao mình đánh đuổi từng thứ phân loại nó. Cũng giống như một người không biết gì về xe để một đống như vậy, bánh xe, gọng xe, cổ, dây sên… giống như đống rác, họ có biết gì đâu. Nhưng mà ông thợ chuyên về xe, cái này lắp lắp ráp ráp thành chiếc xe, chỗ nhỏ từng con ốc lắp ráp vô, thì cũng như vậy, một người không nhận thức được ngũ uẩn, không nhìn thấy được thân tâm của mình, không thấy được duyên sanh pháp, thì người đó đối diện nội tâm của mình biết cái gì, là một đống bùi nhùi, xà bần, hỗn tạp. Họ ngồi bị quậy, dục lậu, hủ lậu, vô minh lậu quậy trong đó, họ chịu không nổi, ra làm này làm kia cho dễ chứ ngồi thiền ngồi không nổi.

Cho nên sao ngồi thiền không được, dục lậu, hữu lậu nó quậy, hữu lậu là sự vận hành hoạt động, nó kêu làm này, làm kia, ở yên không được. Vô thất trồng hoa, trái cây chứ làm sao mình hướng nội vô trong được nhìn thấy thân tâm, chính vì vậy sự thực hành chúng ta đang tu học, khi mà mình học cho kỹ trong trí tuệ căn bản trí này rồi thì thân tâm từng cái, từng bộ phận mình biết rõ nó vận hành làm sao, chứ không dừng lại ở sắc hương tưởng hình thức. Càng học kỹ duyên sanh pháp này, tất cả các pháp, trí tuệ của mình mỗi một bài học, mỗi một pháp mình học, nhận diện thì thành tựu một loại trí huệ về cái đó. Ví dụ ý xúc mình biết rồi, Minh Thành tựu trí huệ về ý xúc, ý căn. Còn mình không biết nó thì là bí mật đối với mình, tới cái pháp đó là mình bị đen thùi lùi - vô minh, còn thành tựu về pháp đó thì tới pháp đó sáng toả, minh bạch ra. cho nên, sự tiếp xúc của ý là cả một trí huệ để mình nhìn thấy, sau khi tiếp xúc, hội tụ như vậy thì bắt đầu cảm giác nghĩ tưởng hình bóng sân thứ hai sanh khởi, tiếp tục suy nghĩ, hình bóng, cảm giác. Pháp tưởng, pháp tư là gì?

III. Ý xúc:

- Phật tử:

Nam Mô A Di Đà Phật, thưa sư phụ, quý thầy, sư cô cùng toàn thể đại chúng. Pháp tưởng là những hình bóng của cảm giác, ý hiện khởi, suy nghĩ hiện ra; Pháp tư là suy tư về cảm giác đó, hình bóng, dòng suy nghĩ đó.

-----

Giỏi đó! Pháp tưởng, chữ Pháp ở đây là thọ tưởng hành, chứ không phải pháp tu của mình đâu, pháp trong Duyên Sanh Pháp đó, Pháp tưởng là những hình bóng của cảm giác nghĩ tưởng. Pháp tư là những suy nghĩ về hình bóng, cảm giác nghĩ tưởng đó, cho nên thấy cái này sâu sắc. Tâm lý học tối thượng của Phật giáo đó. Tức là khi mình để ý lại thì thấy trong tâm mình mặt của người mình thương, cảm giác đó dễ chịu, suy nghĩ về người đó. Đó là lớp thứ nhất, thấy trong tâm mình có cái đó, khi thấy mặt người bạn, đứa con, cha mẹ mình, thấy khuôn mặt, hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó. Sau khi mình thấy thì cái cảm thọ ra, gọi là thọ và ý xúc sanh, Mình thấy nó nhanh và vi tế, chứ không phải thấy rồi là xong. Hình bóng của người dễ thương hiện ra, cảm giác dễ chịu những suy nghĩ về hình bóng, cảm giác đó.

Khi các pháp giao thoa với nhau, ý xúc, tiếp xúc của ý thì sanh ra cảm giác mới, thọ do ý xúc sanh. Cho nên có người ngồi một mình lúc mới yêu cười hoài à, đó là thọ do ý xúc sanh,mấy người xung quanh nhìn là biết người đang yêu, tuổi mới lớn. Cho nên tại sao ngoài đời mình lấy ví dụ cho mình dễ hiểu, mới yêu nhìn là biết, nó tung tăng, ngồi nó cười, nghĩa là phấn khởi lắm. Người đang giận ai nhìn biết, ra vô bực bội mở cửa rầm rầm, tô chén muốn bể, đó cũng là ý xúc, không có người giận ở đó mà nhớ lại hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm thì tức.

Tất cả là ý xúc, thọ do ý xúc sanh, mình thấy cái này trùm khắp hết, cho nên nhớ về người thương, người giận, nhớ về người không thương, không giận, bình thường, tham sân si hết. Nhớ người thương dục ái tham sanh, nhớ người ghét sân hận, bực bội sanh; nhớ về người bình thường không thương không ghét si, tại vì không biết lúc đó do ý xúc, thọ do ý xúc sanh thì cái nào cũng dính hết. Nếu không có một Chánh Trí tuệ quán, nhận diện các Pháp, đều là ở trong si, vô minh hết. Dù cho đó là thương, ghét, không thương không ghét thì chết hết.

Này các Tỷ kheo, kẻ vô văn phàm phu cảm thọ một cảm giác khổ thọ giống như người đang bị trói buộc

Này các Tỷ kheo, kẻ vô văn phàm phu cảm thọ một cảm giác lạc thọ giống như người đang bị trói buộc

Này các Tỷ kheo, kẻ vô văn phàm phu cảm thọ một cảm giác bất khổ bất lạc thọ giống như người đang bị trói buộc

Mình thấy nó ghê gớm, sâu sắc khủng khiếp, tu hết cuộc đời ở trong chùa, ăn hết mấy chục bao gạo hết kho lúa, tàu hủ, dưa leo, nước tương, dầu, bột ngọt, đường... mà cũng không thành tựu trí huệ này. Nếu không học theo đúng Chánh pháp, không có người hướng dẫn, tối ngày chỉ lạy lục cầu xin, không biết về thân tâm của mình. Cho nên cái này phải ngồi thiền để nhận diện, không phải đọc suông trả bài. Khi ngồi thiền để cuốn sách này ra trước mặt, nếu không thuộc bài cố gắng học thuộc, coi lại từng cái nhận diện, có khi cả một ngày, một tuần lễ để nhận diện xong Duyên Sanh Pháp của ý xúc này. Đây là tâm lý học tối thượng của Phật giáo.

IV. An trú pháp - tỉnh giác – tác ý:

- Phật tử: Kính thưa Sư phụ, Quý thầy, sư cô và đại chúng, Pháp tưởng và Pháp tư có thể hiểu theo cách nào, nó là dòng thọ tưởng hành sanh khởi thứ hai và thứ ba?

-----

Đúng rồi, tưởng là tưởng uẩn, tư tức là hành uẩn. 

- Phật tử:

Khi mình nhận diện ngũ uẩn, tiếp tục con thấy trong sự sanh diệt của ngũ uẩn thì không bao giờ dừng lại ở một thọ tưởng hành thứ nhất, mà nó luôn có thọ tưởng hành thứ hai, thứ ba tiếp tục sanh khởi rất là nhanh, điều này có đúng? Hay là bên kia Pháp tưởng, Pháp tư, ngũ uẩn nhận diện sắc tưởng hành thức thứ nhất. Ví dụ trong quá trình ngồi ăn, khi ăn cơm có một cảm giác khi món thích ăn thì cảm giác thích trong đó có hình bóng khởi lên lúc trước mình đã ăn món đó, thì có suy nghĩ mình nấu món đó thế này, thế kia thì tiếp tục một cái thọ, tưởng hành tiếp theo, tưởng nhớ đến lần trước mình đã ăn như thế nào, rồi hình bóng, cảm giác, suy nghĩ khởi lên tư duy tiếp tục. Nếu như mình không có như lý tác ý để dừng thì cái dòng thọ tưởng hành sanh khởi thứ nhất, thứ hai, thứ ba liên tiếp như vậy.

-----

Cái sự tu của mình khi ăn cơm là việc cảm thọ cũ không cho sanh cảm thọ mới, cảm thọ cũ tức là cảm thọ của quá khứ về món ăn đó, cảm thọ mới tức là cảm thọ hiện tại ngay trong món ăn đó, muốn như vậy thì phải tác ý, không tác ý thì có cách nào hết, làm sao diệt cảm thọ; sao mà không cho sanh cảm thọ mới. mình phải hiểu là ưa thích cảm thọ đó mới là vấn đề, không phải diệt cảm thọ là cái vị giác, tức là nhiếp phục sự ái luyến, ưa thích, tham đắm trong cảm giác lạc thọ khi ăn này, không phải diệt cảm thọ. cuối tận cùng cái đó mình gọi là đi đến chỗ cứu cánh mới diệt thọ, tưởng định, còn bây giờ chưa diệt nổi đâu, chỉ là tác ý để xả ly sự yêu thích luyến ái, tham đắm, chấp thủ trong cảm thọ đó.

Như vậy, chúng ta bắt đầu mở rộng ra. Khi ý thức chỉ biết thọ tưởng hành ở trong thôi, nhớ chỗ này đừng để lẫn lộn ở cho năm thức trước. Bây giờ, mình bắt đầu kết hợp sự tu năm thức trước, thì năm thức trước biết ở bên ngoài, không biết ở bên trong. rõ biết về sắc thì biết sắc ở bên ngoài, rõ biết về âm thanh thì chỉ biết phạm trù của nó là âm thanh, ra tiếng thôi ngoài cái tiếng thì nó không biết. Đây toàn bộ nói tiếng Việt không nói chữ Hán.

Sự rõ biết về mũi, phạm trù, phạm vi, lãnh vực, giới bức chỉ rõ biết về mùi thôi, ngoài mùi ra không biết. 

Sự rõ biết vị, chỉ biết vị thôi còn cái khác không biết.

Bây giờ tới rõ biết sự động chạm, thân thức thì chỉ rõ biết sự động chạm, có động chạm mới biết không có không biết. Nó biết trong phạm vi động chạm, tiếp xúc đó thôi chứ những thứ khác thì không biết được. 

Bây giờ, sau khi nó biết. Ví dụ con mắt tiếp xúc với sắc, sanh ra cảm giác, nếu đó là sắc đẹp khả hỷ, khả lạc, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn. cái sắc đó là sắc đáng vui, đáng thích, đáng mừng, vừa lòng, khoan khoái, thu hút, hấp dẫn.  bây giờ nó sanh ra cảm thọ ưa thích, thì cảm thọ, ý căn để ý, cái thọ vô trong rồi. Bởi vì ý thức biết thọ tưởng hành không còn ở bên ngoài nữa. Khi mà thọ ở trong này sanh khởi lên, cảm giác khoan khoái thích thú thì ý căn để ý,” mày không được nha mậy. cái này là khổ, là sầu bi khổ ưu não nghe không?”. Cái này phải để ý.

Bây giờ, cái lỗ tai cũng như vậy, tiếp xúc âm thanh, rõ biết âm thanh, do duyên lỗ tai có âm thanh khởi lên sự rõ biết âm thanh, thì ba pháp này giao thoa tiếp xúc với nhau. nhĩ xúc - sự tiếp xúc của lỗ tai sinh ra cảm giác. câu nói chỉ trích, nói nặng mình khó chịu quá, trong này cảm thọ bực bội, bản ngã sanh khởi lên. chị cũng như tui ngang hàng với nhau sao mà nói tui, bộ sư phụ tui hay sao mà nói như vậy. Cảm giác trong này bực lên, hành nói chuyện lên, hình bóng khó chiu của mình, hoặc của đối tượng người mình sân hiện lên, có ý thức mình để ý. “sao có hình bóng này, sao mình suy nghĩ vậy, cái sân nè nghe không, cái này sai nghe không”. Nhớ bài kinh Cây Cưa.

Như vậy, đó là một sự để ý thường xuyên thường trực trong sáu cánh cửa, mình tu là gác cổng giữ thành trì. Cho nên lục nhập - sáu chỗ đi vô, từ đó sanh ra cảm giác, hình bóng, suy nghĩ rồi tham sân si trong đó.

Bây giờ, nó khởi lên hình bóng bực bội của người mình ghét, cảm giác khó chịu, suy nghĩ thì để ý ở trong đang có sân, quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp hết. cái sự để ý đó mình hiển lộ các pháp sau đó, mình dùng như lý tác ý. tất cả các pháp dùng tác ý làm sanh khởi, nó cũng sanh lên ý hành bực bội tức tối này kia. mình cũng lấy ý hành, lấy pháp mình đánh nó; cũng ý hành đó sân.thì lấy ý hành đó diệt cái sân. Dùng hành diệt hành, dùng suy nghĩ của thiện pháp diệt suy nghĩ của bất thiện pháp.

Như vậy, mình nghĩ rằng làm việc cỡ nào mà sợ thất nghiệp, cứ không chịu tu nên mới thất nghiệp làm biếng làm nhác buông lung, ham chơi, ham vui. Còn làm việc như vậy làm gì mà mình rảnh, phải canh sáu cái cửa đó. Thọ do nhĩ xúc sanh - cảm giác do lỗ tai tiếp xúc sanh khởi ra, một câu nói mà bao nhiêu pháp ở trong đó. Cả một dây chuyền, bảy tám chục hàng trăm pháp vận hành trong một cơn sân giận, yêu thích thì nó vận hành nguyên một chuỗi của nó, cả một hệ thống, trong tâm thức của mình nếu có định để mà nhìn ra nhận diện các pháp. 

Hương cũng vậy, đi ngang qua Quán Chiếu đường để chùi lau, quét dọn, đi phớt ngang một bóng hồng nào đó bay ra một mùi, nam nữ cũng vậy, thanh niên thiếu nữ đi phớt ngang thì cái mùi thơm tỏa ra, xài dầu thơm. Thì có phải Duyên sanh pháp không, do duyên có lỗ mũi, có mùi khởi lên sự rõ biết các mùi, ba pháp này hội tụ với nhau, giao thoa, tiếp xúc với nhau tạo thành sự tiếp xúc của lỗ mũi, nhĩ xúc sanh ra cảm giác. Như vậy, người ta đi qua rồi cái mùi không còn nữa nhưng cái hương tưởng lưu dấu, cho nền về ngồi thiền cái mùi nó còn phảng phất đâu đây, cảm giác sanh khởi, hình bóng người đó sanh khởi. Tại vì mình để ý mới thấy, mới tác ý đánh đuổi ra, xuất ly, tất cả sự để ý, ý căn là hết sức quan trọng trong sự tu tập, thì mình để ý à, dính mắc cái mũi rồi phải không, thích cái mùi nước mắm phải không? Thích cái mùi cầu tiêu phải không, mùi cầu tiêu nè. Mình tác ý dùng cái mùi này để đẩy cái mùi kia. Đó là sự tu tập quán bất tịnh, khi mình quán nhuần nhuyễn rồi thì đứa nào lạng quạng mình gõ đầu. Có công phu trong trí tuệ mà nhận thức thân tâm, thân hành niệm của mình.

Còn nếu không, cái đó vừa ám ảnh xâm chiếm, áp đảo quật ngã mình; nhiều người vì cái mùi mà chết thiếu cái mùi đó không được, mùi hôi nách. Con xin thưa đại chúng, cái đó có thiệt. Hồi đó, trên đây có mấy người bị, cái người mà dính mắc nhau thiếu cái mùi đó không được, ghê gớm cái mùi. Cho nên Đức Thế Tôn nói trần là trần, không thể nói trần không có trần được, bụi. Sáu thứ bụi làm ô nhiễm: sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần, pháp trần. Nó dấy bụi lên, bụi đời nằm trong đó, bụi sắc, bụi tiếng, bụi mùi, bụi vị, bụi tiếp xúc – xúc chạm, bụi dấy khởi lên. Bụi pháp trần là thọ tưởng hành bên trong, hình bóng, cảm giác nghĩ tưởng bên trong là bụi.

Cho nên cửa thiền mà lại là dấy bụi, bởi vì trong đó là nó vận hành ghê gớm lắm,  mình không thể nhìn thấy được, cái vị cũng như vậy, mình không để ý cho nên cái chánh quán của mình là cả một sự để ý, trong cái sự mình tu chánh quán ...ăn cơm, cả một sự để ý, thầy đừng ráng, ở đây người ta học quen rồi, nghỉ chút cũng được ra ăn sáng, thành ra tới cái vị đó là ghê lắm, thấy nó như vậy dục, ái, tham vận hành trong đó, mình không để ý gặp là nhai ngổm ngoảm nuốt. mình thấy những người không biết tu, trước khi vào vòng Pháp này cũng vậy, trước khi ăn mình có thấy dục ái tham sân si vận hành không, không thấy. ăn chỉ lo món này món gì, nêm vừa ý hay không, ngon cỡ nào, rồi hưởng thụ món ăn đó, lạc thọ trong món ăn đó, hoặc là khổ thọ trong đó. Rồi cái sự ăn là cả một sự để ý trước khi ăn, trong khi ăn và sau khi ăn, lúc nào cũng để ý hết, có tham, có thích, có khoái trong đó không. Như người ta khen, ôi sư cô tướng hảo quá, phúc tướng, mập thù lù, tròn vo, trong bụng khoái, thọ tưởng hành, thì người ta nói mình như vậy thì trong cái tưởng, cái mặt mốc, cảm giác hiện ra, suy nghĩ được à nha, chắc mình cũng ngon lành lắm. Mình coi thử để ý, ghê gớm lắm, khủng khiếp lắm. Nói chung, mình tu nhận diện ngũ uẩn này khủng khiếp lắm, nó nhanh, mau lẹ, vận hành liên tục, cho nên cần sự thiền định. Mấy chú hay nhắc khi hỏi gì thì nhanh lẹ liền trả lời thì con không chịu, chầm chậm suy nghĩ, mà chậm quá người ta cũng mệt, một câu lâu quá, nó phải phù hợp; giỏi giỏi giang giang, ẩu tả không chịu suy nghĩ, kiểm soát. cho nên mình thấy sắc thanh hương vị xúc, ghê khủng khiếp.

Cái xúc này ghê gớm lắm buộc hết vào trong sanh tử. Mà mình nói một thôi mà xúc có sáu lận, như vậy mình thấy không như mê hồn trận, bát quái trận mà chúng sanh vào đó làm sao ra ngoài nổi. Mắt nhìn thấy thích rồi, cái tai nghe êm ái, mũi thì thơm, những cái vị hấp dẫn, xúc chạm êm ái trơn láng. thọ tưởng hành trong này như vậy, sáu ái nhất tề tấn công một lúc, thọ tưởng hành vận hành như vậy, mắt tai mũi lưỡi, sắc thanh hương vị xúc, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu thủ làm trùng trùng như vậy vô một cái trận làm sao đi ra, vô lượng vô biên kiếp, làm tù binh nô lệ, làm sao đi ra nổi. Tình cảm nam nữ như vậy đó, tất cả các pháp tung chưởng ra, ác ma quăng một cái lưới như vậy, cả ngàn mắt trùm hết tất cả. Mắt tai mũi lưỡi thân ý, sắc thanh hương nhĩ xúc pháp, nhãn thức nhĩ thức tỷ thức thiệt thức thân thức ý thức, nhãn xúc tỷ xúc thiệt xúc thân xúc ý xúc, thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh,  rồi bao nhiêu vô số bủa vây làm sao mà giãy dụa, cho nên người ta tự vận mà chết, khủng khiếp vậy đó.

Cho nên sự tu của mình gọi là sự tu xuất trần, nghịch lưu ngược dòng, đi ra dục tham ái là cả một công phu, công trình, công đức, công tích kỳ vĩ. Có một cái thích tượng phật hay món đồ thích bị hư mẻ thôi, bị ăn cắp cũng mệt rồi đó; mà những cái đó cái xúc, thọ ít thôi đó. cái xúc này khủng khiếp lắm, cái thân xảy ra đụng chạm thể ra sự rõ biết, rõ biết sự đụng chạm đó sanh ra cảm giác, cảm giác trong sự đụng chạm đó, hình bóng của sự đụng chạm đó, những suy nghĩ về sự đụng chạm đó hiện ra, hình bóng của cảm giác đó, suy nghĩ đó, của những hình ảnh thọ tưởng hành, cảm xúc nghĩ tưởng, suy nghĩ về những nghĩ tưởng đó dai dẳng kéo dài xâm chiếm thân tâm của mình suốt đời không đi ra khỏi được, hình bóng cứ ám ảnh, cảm giác cứ sanh khởi, suy nghĩ lờn quờn trong đầu, ghê gớm cái xúc này.

Đức Thế Tôn dạy mình giữ giới, chặn những cái gì nguy hiểm nhất. Cho nên giới của mình năm, bảy lớp. Tại vì vô cái đó rồi là ra không được, mê hồn trận. giống như xì ke không bỏ được, còn muốn cai là cả một sự chết lên chết xuống, thậm chí buộc tay chân lại, nước miếng chảy ra, quằn quại đau đớn, đập, cho tôi chết đi. Khủng khiếp như vậy. Đó là vị ngọt của dục, của xúc, vị ngọt trở thành sự khổ đau, trối trăn, ràng buộc, hệ luỵ. Tất cả chúng sanh bị hãm vô cái hầm, vực sâu, cho nên cái sự quán chiếu bất tịnh quán, cái sự nguy hại của dục là cả một cái công trình, không phải nói một ngày, một buổi, tháng, ba tháng. Bứng cái gốc rễ cổ thụ ngàn năm. Cho nên câu hỏi mà chú hỏi an trú pháp, làm thế nào để biết mình an trú pháp. Mình nói từng cái nhỏ để mình thấy được là lúc nào mình không có pháp hành, mình đi ra khỏi pháp hành là không có an trú pháp, lúc nào ở trong pháp hành là lúc an trú pháp.

Ví dụ mình luôn an trú cảm giác toàn thân, luôn thực hành ba pháp thì lúc đó mình an trú pháp; lúc nào nhận diện ngũ uẩn là an trú pháp, lúc nào tác ý là an trú pháp. Mình đi ra khỏi mấy cái đó là lúc đó không có an trú pháp, hướng ngoại theo sắc thanh hương nhĩ xúc. pháp có chạy không, nhiều khi thấy ngồi thiền chứ đâu có ngồi thiền, ngồi đó ngủ, si si dại dại, đi theo những thọ tưởng hành, không thấy thân tâm, không có tác ý, ly dục tư duy, ly sân tư duy bất hại tư duy. bởi vì ngồi đó đâu phải là tu, ngồi đó không an trú trong pháp, như xác chết ngồi đó, tử thi ngồi đó trong chín giai đoạn một tử thi, trơ trơ vô cảm, không thắp sáng ngọn lửa trí tuệ trong thân tâm, cho nên lúc nào không có an trú trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo thì lúc đó không có pháp, tóm gọn lại lúc nào không có an trú trong tứ niệm xứ thì lúc đó mất pháp.

Lúc nào cũng nhìn thấy năm uẩn thì lúc đó không an trú pháp, lúc nào không có an trú cảm giác toàn thân là lúc đó không có an trú pháp, mất pháp. mà mất pháp thì mình trú ở đời, thế gian, tham sân si, bản ngã, vô minh, tham ái; cho nên cố gắng tác ý trong pháp,đừng để quên pháp, nghe pháp, học pháp, thực hành pháp, nói về pháp thôi đừng nói về đời, nói hoài không giải quyết gì được hết, cứ bàn luận về pháp. Ví dụ về ý xúc, pháp đàm, về nhà viết bài cái đó, phải nắm cho thật vững, cái cần học, cần tu, cần nhận diện, chứ không phải chỉ nhận diện  sắc hành ý thức... thôi.

Chúng ta cảm ơn chú tam không, lý căn, an trú pháp là gì, thường xuyên, thường trực thực hành thực tập an trú, rồi mình sẽ thấy sự hỷ lạc sẽ sanh, an sanh, hỷ sanh trong pháp đó. Nhìn thấy tự thân mình hay là mọi người tham sân si, sầu bi ưu não, thấy một tình thương lan toả ra, hỷ lạc, bi tâm, tuyệt vời không. Tiếp tục an trú pháp suốt, không phải xả ra rồi mất pháp, tiếp tục an trú trong tưởng, tuỳ theo không có ép, bất tịnh quán không có ép, khuyến khích không ép, nên thực tập thân hình niệm thật là nhiều bất tịnh quán; không chỉ khi đang ngồi thiền, khi ra rồi ráng cố gắng an trú vô tuỳ theo mình chọn đề mục: dòi ăn, hay là bộ xương, tướng phình trương... tập thường xuyên an trú trong pháp, để phá bỏ thân kiến từ từ, tham ái chấp thụ, về cái tôi cái của tôi, phá bỏ sự dục, tham dục nặng nề chi phối xâm chiếm thân tâm mình, phá bỏ những cái điên đảo tưởng, cho nó là lạc tưởng, vui thích sung sướng đẹp đẽ, nhờ sự an trú trong pháp, sự quán chiếu, đề mục đó sẽ phát huy trí huệ của mình một cách sâu sắc, thẩm thấu, thể nhập. Họ nghe một chút rồi thôi nó yếu lắm, càng mỏng.

Đại Tâm Từ: bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình, cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này, chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần và dễ chịu an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng thân thương tự thân mình và yêu thương muôn loài, mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, không chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, và thoát khỏi sanh tử, chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện sự an lạc, bình an, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.