Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Ý xúc sâu xa (1)

2026-03-18 06:50:22
Ý XÚC SÂU XA

-Thích Minh Thành-

Ngày 29 tháng 09 năm 2018

Mục Lục

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chia sẻ của sư phụ: PAGEREF _Toc57187863 \h 1

II. Những câu hỏi: PAGEREF _Toc57187864 \h 2

III. Cung kính: PAGEREF _Toc57187865 \h 3

IV. Ý hành: PAGEREF _Toc57187866 \h 5

V. Ý xúc: PAGEREF _Toc57187867 \h 6

VI. Vị ngọt: PAGEREF _Toc57187868 \h 10

VII. Xuất ly: PAGEREF _Toc57187869 \h 10

I. Chia sẻ của sư phụ:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Trong đại chúng bây giờ đang có cảm giác gì? Có phải 3 loại cảm giác: khổ, sân, nóng không? Vậy thì mấy bà cụ già đi bán vé số ngoài đường làm sao chịu nổi? Mấy trẻ em đi nhặt phế liệu hay những người mua gánh bán bưng, những người làm bốc vác làm sao người ta có thể chịu nổi? Bây giờ mình đang ở trong cái khổ thọ của thân, nếu mình không biết Như Lý Tác Ý thì từ khổ thọ của thân này đưa qua khổ thọ của tâm. Trong từ chuyên môn, khổ thọ của tâm gọi là ưu thọ, của thân là khổ thọ.

Bây giờ nếu mình biết Như Lý Tác Ý như khi nãy Minh Thành nói thì khổ thọ của thân có mà ưu thọ của tâm không có. Biết Như Lý Tác Ý không? Như Lý Tác Ý là mình soi xét đúng pháp, đúng đạo lý, đúng lẽ Phật, cái này quan trọng. Thật ra cái mình học trên lý thuyết là khác, còn bây giờ thực tế là khác. Đúng ra trong lúc này phải làm cho mình phát sanh cảm thọ hỷ lạc. Dù thân có nực nhưng tâm mình phát sinh lạc thọ vì mình được tu, được học. Thấy vấn đề chưa? Những cái tác ý, suy nghĩ này theo một chiều hướng khác, lúc đó cảm thọ đổi khác.

Hôm nay cho hỏi đáp về vấn đề thực tập Pháp hành kinh nghiệm trong đời sống. Ví dụ hồi nãy là một kinh nghiệm đó, một cách quán chiếu, một cách tư duy suy xét mới nói hồi nãy. Nên Minh Thành bỏ hai phái đoàn Phật tử trên núi để về đây, không nói thì mấy huynh đệ không biết, thành ra phải nói. Chứ huynh đệ nghĩ rằng ngồi đây nói chuyện đơn giản lắm. Đó là bổn phận của mấy thầy, mấy giáo thọ. Không phải đâu, đừng nghĩ đơn giản, đừng quá ngây thơ, quá vô tư như vậy.

Một buổi học của mình trong đó trùng trùng duyên khởi, có rất nhiều tâm huyết, rất nhiều tấm lòng, rất nhiều sự truyền trao kinh nghiệm tu tập, trí huệ. Mình đừng nghĩ một cách đơn giản như vậy, thấy không, bây giờ nói ra mấy huynh đệ mới hiểu chứ không nói mấy huynh đệ không biết. Lúc vô Minh Thành không nói gì hết, nên mấy vị không biết gì hết. Phải vượt qua 250 cây số, bỏ 2 phái đoàn Phật tử lên thăm Minh Thành để tiếp hơn 300 ni sinh ở đây mà vô không biết có thấy hạnh phúc không? Cho nên cái tư duy, thọ, tưởng, hành, thức của mình không trúng, trật hết rồi. Bây giờ tưởng khác rồi, thọ, hành khác rồi, mà khi nãy thì khác nên phải thấy được thọ, tưởng, hành, thức là vô thường. Thấy rõ chưa, nó biến đổi, nó không đúng sự thật. Mỗi người hỏi đi.

II. Những câu hỏi:

Ni sinh 1: Kính thưa thầy giáo thọ và đại chúng, con có một thắc mắc mà con muốn hỏi: khi con ngồi thiền thì ý niệm nó cứ ở đâu chứ không ở đây, đó là ý hành. Thưa thầy, ý hành đó con phải làm sao để diệt được nó hay nhận biết nó và đó là tốt hay xấu thưa thầy những ý hành này nó cứ vận hành ý này qua ý khác làm sao con diệt được ý đó được và những ý đó ở đâu mà cứ lung tung trong đầu. Mô Phật, thưa thầy con xin hết.

Ni sinh 2: Kính thưa thầy giáo thọ, kính thưa toàn thể đại chúng, con xin hỏi thầy là khi con tập ngồi thiền, thầy dạy là phải mở 1/3 mắt, như vậy thì khi con theo thói quen cũ là nhắm mắt. Nhưng khi nhắm mắt mình dễ đi vào trạng thái bồng bềnh mà một chút thôi, mình phải có tác ý để quay trở về hiện tại mình đang ngồi, để tay như thế nào, trong tư tưởng mình đang như thế nào để mình trở về thực tại nơi mình đang ngồi. Còn khi con tập mở mắt giống như thầy dạy thì mở mắt một chút xíu thôi, nó nhắm lại lúc nào không hay. Như vậy mình làm thế nào để có thể tập duy trì mở mắt giữ được lâu trong thời ngồi thiền của mình, mà mắt con rất dễ nhắm lại một chút mà con không hay. A Di Đà Phật.

Sư phụ: Cho một tràng vỗ tay lớn và dài.

Ni sinh 3: Nam mô A Di Đà Phật, kính bạch thầy, con xin hỏi, ví dụ trong quá trình tu học, mình có trải nghiệm, mình nằm như vậy thì mình biết mình nằm đó, nhưng mỗi khi con tụng kinh, có những cái tưởng nó diễn ra, ví dụ niệm không may thì là không có, mà thường khi con tụng kinh, có đôi khi tự nhiên con thấy có những điều mình chưa xứng đáng với một người tu và mình quán. Có những khi mình học bài chưa thuộc và những ý tưởng làm bài chưa có, mà lúc tu thì tự nhiên xuất hiện ý niệm đó. Nếu như con bỏ ý niệm đó mà con tu, chuyên vô việc lạy Phật hay tụng kinh thì con sợ một lát xuống, mất ý tưởng con không làm được. Và con tiếp tục suy nghĩ để một lát xuống con có ý viết ra bài. Như vậy con hỏi thầy là con nên giữ ý niệm đó hay con chuyên vào việc ngay lúc hiện tại như tụng kinh, hay lạy Phật. Con xin cảm ơn.

Ni sinh 4: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch thầy cùng đại chúng, con xin hỏi rằng: tại sao trong tâm có những lúc con rơi vào cảm giác, trạng thái, cảm thọ bất tổn bất lạc. Con biết đó là trạng thái của tâm mình còn si nhưng không biết phải khắc phục như thế nào. A Di Đà Phật.

Ni sinh 5: Nam mô A Di Đà Phật, con xin kính bạch thầy giáo thọ và đại chúng. Con xin hỏi một câu hỏi đó là khi ngồi thiền con mở mắt, lưng thẳng, hơi thở đôi lúc rất nhẹ, dễ thở và con ngồi rất lâu. Nhưng có đôi lúc con cũng thẳng lưng mà nó nghẹn nghẹn ngay ngực, khó thở, hơi thở [11':00] A Di Đà Phật.

Ni sinh 6: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch chư tôn giảng sư và đại chúng. Con xin thắc mắc một câu như thế này: giữ tâm không giữ cảnh, thầy dạy chúng con quán chiếu trong ngữ cảnh, con không biết thức có vai trò như thế nào, thức có đồng với tâm hay không, giống như Phật dạy chỉ có một giai đoạn, mức độ nào đó thì thức sẽ chuyển thành trí. Con kính bạch thầy, thầy đã đi qua lộ trình này rồi, hoan hỉ chỉ cho con thế nào là cảnh giới thức chuyển thành trí. Bạch thầy, giống như người có tu tập rồi, đi con đường đó rồi thì sẽ chỉ rõ ràng hơn. Con có cảm giác thầy đã đạt đến cảnh giới nào đó, không biết phải không?

III. Cung kính:

Sư phụ: (cảnh giới đại sân si) còn ai nữa không? Thầy chia sẻ cho kinh nghiệm trong sự tu học, cung kính là tất cả, toàn bộ đời sống phạm hạnh của người xuất gia cho nên các vị phải biết rằng tổ sư của các vị thành tựu Tỳ-kheo ni là do kính pháp. Không phải riêng người nữ mới cung kính mà ngay cả người nam – tất cả người học Phật đều phải cung kính, về đọc lại bài kinh “Cung Kính”. Nếu thiếu pháp này là không thành tựu, điều này quan trọng lắm.

Minh Thành đi cầu học đạo với các vị cao tăng trong nước, ngoài nước, khắp thế giới bằng một sự tôn kính vô hạn nên ngày giờ này, Minh Thành xác quyết cái thầy của mình là hoàn toàn tương ứng với Chánh Pháp, không thể sai được. Mà tâm cung kính đi cầu học đó, chưa dám nói là trọn vẹn nhưng có một lòng tin về sự cung kính của mình đối với các bậc tôn đức mà nhất là những bậc dạy dỗ mình tu học. Nếu không có chi phần này thì không thể nào thành tựu pháp viên mãn. Trong kinh “Cung Kính” Đức Phật nói:

“Nếu Tỳ-kheo nào thực hành hạnh cung kính và khéo quán sát, kính trọng các bậc phạm hạnh nên pháp oai nghi đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra. Pháp oai nghi đầy đủ nên học pháp đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra. Học pháp đầy đủ nên giới thân đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra. Giới thân đầy đủ nên định thân đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra. Định thân đầy đủ nên tuệ thân đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra. Tuệ thân đầy đủ nên giải thoát thân đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra. Giải thoát thân đầy đủ nên giải thoát tri kiến thân đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra. Giải thoát tri kiến thân đầy đủ nên Niết-bàn đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra”.

Kinh Cung Kính – Kinh Trung A Hàm

Đó là trình tự tu học, nên Minh Thành khuyên tất cả trong đại chúng, nhất là lớp này là lớp có nhân duyên với Minh Thành hết, phải nhớ kỹ và về nhà tìm bài kinh “Cung Kính” trong kinh Nikāya, về tìm và học thuộc lòng bài kinh đó. Không những mình cung kính đối với những bậc đáng kính, vì trong bài kinh “Phước Đức” mình lật “kính bậc đáng kính” hay trong kinh “Pháp Cú” cũng vậy. Không những kính bậc đáng kính mà ngay cả những người ngang hàng, huynh đệ với mình, mình cũng có sự cung kính, thậm chí đối với người Phật tử.

Vừa rồi Minh Thành có một chuyến đi hoằng pháp ở miền Trung, khi vào ngồi chung với mấy thầy, bà cụ đó 70, 80 tuổi, tóc bạc phơ hết, mà ông thầy ngồi cũng là bạn học của Minh Thành, kêu bà già bằng con, Minh Thành giật mình. Vì bà cụ đó có thể đáng tuổi bà nội, bà ngoại nên pháp cung kính này rất quan trọng. Người xuất gia mình phải hiểu cho thật kỹ, thật chính xác, còn nếu không, mình cứ tưởng mình thầy, mình sư, coi chừng! Một bậc đáng kính mà mình không kính thì coi như tất cả sự học của mình bỏ hết, không thành công.

Minh Thành hình như có nhắc lớp này rồi, bậc ân đức vĩ đại thứ nhất là bậc mà từ bậc đó mà mình thọ tam quy ngũ giới, có nhắc rồi phải không? Bậc ân nhân vĩ đại thứ hai là từ vị đó mà mình hiểu được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, chấm dứt khổ và con đường đưa đến những chấm dứt khổ, từ bậc đó mà mình hiểu được Chánh Pháp, là ân nhân vĩ đại thứ hai. Đức Phật nói: suốt cuộc đời này mình không thể nào đem tứ sự cúng dường. Cả một cuộc đời mình, hầu hạ, dâng cơm, nước, xoa bóp, tất cả mọi thứ để mình đền ơn vị đó.

Và vị ân nhân vĩ đại thứ 3 là từ người này giúp cho mình đoạn tận dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, chấm dứt tất cả phiền não. Đó là 3 vị ân nhân vĩ đại mà trong suốt cuộc đời mình không bao giờ đền đáp được. Nếu mình bất kính với những bậc đó coi như cuộc đời mình không bao giờ tu thành tựu. Hãy nhớ cho kỹ, dù cho mình bước ra khỏi chỗ ngài bổn sư của mình, tuyệt đối không được nói xấu ngài. Đó là cái tình cái nghĩa, đạo làm người.

Khi mình ra đi, dù đến bất cứ chùa nào, tuyệt đối không được nói xấu chùa đó, hết duyên thì đi. Nếu nói như vậy, mình là kẻ vong ơn bội nghĩa. Từ ai mà mình được cạo tóc, được xuất gia, được đắp lên chiếc y này mà mình trở ra, quay ngược lại nói xấu thầy tổ. Đây là kinh nghiệm Minh Thành gặp trong thực tế rất nhiều, cái này rất quan trọng. Những cái này rớt vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đầy dẫy, đừng tưởng xuất gia rồi chắc chắn không rơi vào 3 đường ác. Người xuất gia dễ rơi, dễ đọa hơn người cư sĩ nữa, rất nguy hiểm. Khi chiếc áo cà sa này rớt xuống rồi là một hiểm họa nếu mình không tu tập giới, tâm, tuệ, tàm quý hổ thẹn, cung kính. Khi chiếc áo cà sa này rớt xuống rồi là một đại hiểm họa, không làm người được nữa chứ không phải chuyện bình thường.

Cuộc đời của Minh Thành, mấy huynh đệ đi lên Linh Quy Pháp Ấn rồi mới thấy, chỗ thiền đường để tấm bảng lớn: “Trang nghiêm, tôn trọng, cung kính, biết ơn” . Đó là những tiêu chí của cuộc sống Minh Thành. Mình nói trên trời dưới đất, toàn giải thoát, giác ngộ, Niết-bàn mà hành vi, cách cư xử của mình chưa thích hợp. Nhìn cho kỹ, tu là rất thiết thực, cách mình cư xử với thầy, với huynh đệ, với Phật tử, với gia đình.

IV. Ý hành:

Câu hỏi thứ nhất: làm sao để diệt ý hành, ý hành như vậy là tốt hay xấu. Điều quan trọng mình phải biết được thế nào là hành, biết được 7 trí huệ về hành, phải nắm được. Ở đây Minh Thành chỉ nói nghĩa căn bản thôi. Chú Nghĩa bước lên trả bài, đọc 7 trí về hành cho quý sư cô. Đây là tập sự xuất gia trên núi.

Chú Nghĩa: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch sư phụ và quý sư cô. Sau đây con xin đọc 7 trí về hành. “Định nghĩa về hành, những tư duy, những suy nghĩ hiện khởi trong tâm gọi là hành. Hành này trong ngũ uẩn là ý hành, làm cho hiện hành các pháp hữu vi nên được gọi là hành. Làm cho hiện hành hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tướng, làm cho hiện hành thọ với thọ tướng, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tướng, làm cho hiện hành thức với thức tướng, làm cho hiện hành hành với hành tướng”.

Câu kinh trên có nghĩa là gì? Những tư duy, suy nghĩ, làm cho hiện hành ra sắc, thọ, tưởng, hành, thức với bản tánh vi sanh vô thường hoại diệt của chúng. Hữu là có, vi là thấy, hữu vi là pháp có thể thấy biết, có thể trình bày rõ sự an trú, hoại diệt của chúng. Khi nói pháp hữu vi là nói về pháp ngũ uẩn, ngũ uẩn là những pháp có thể thấy biết, có thể trình bày rõ sự an trú, hoại diệt của chúng. Hành sanh do xúc tập khởi, nên hành tập khởi. Hành diệt do xúc đoạn diệt, vi hành đoạn diệt. Hành diệt đạo, phương pháp tu hành đưa đến hành diệt đạo là phương pháp tám đúng, vị ngọt của hành do duyên hành trở lên lạc hỷ gì, lạc hỷ đó là vị ngọt của hành. Sự nguy hại của hành, sự vô thường, khổ chịu sự biến hoại gọi là sự nguy hại của hành. Sự xuất ly của hành, sự nhiếp phục dục, tham, sự đoạn tận dục, tham họi sự xuất ly của hành. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Sư phụ: mình đọc cho viết tại sao có những suy nghĩ mình có biết không? Cả lớp có biết tại sao không? Do mình học 7 cái này mình sẽ biết. Bây giờ ai ở đây trả lời đúng sẽ được thưởng lớn: từ đâu mà có suy nghĩ? Nghe kinh đọc rồi có hiểu không? Không phải chuyện đơn giản, học đạo không phải chuyện đơn giản, đừng nghĩ mình hiểu biết 1 mớ chút ít đó là xong rồi, được rồi, là cao đẳng cẳng đau. Đối với Minh Thành là toàn mẫu giáo hết, không dính dáng gì bao nhiêu. Kiến thức khác với trí tuệ.

Xin thưa với các huynh đệ là Minh Thành xuất gia 30 năm mà trong gần 30 năm đó Minh Thành luôn luôn đóng vị trí, vai trò là mẫu giáo, luôn luôn lắng nghe, tìm hiểu và học hỏi. Cho nên bây giờ là xác định học xong rồi, không còn đi tìm pháp nữa. Như vậy ngồi trong đây hết, trong đại chúng có biết từ đâu mà mình phát sanh ra những suy nghĩ đó?

Ni sinh: xin bạch thầy, kính thưa toàn thể đại chúng, theo kinh nghiệm của con là tự học hỏi, từ các giáo thọ. Nguyên nhân có các suy nghĩ, tác ý là do sáu căn tiếp xúc với sau trần và có thể khi đó mình không có kinh nghiệm hộ trì các căn vì thế nó lưu dấu một cách tự nhiên vào thức và khi những căn mình tạm thời đóng lại thì ý hành phát triển mạnh và nó khởi lên.

V. Ý xúc:

Sư phụ: bây giờ nghe chính xác nè. Do xúc tập khởi nên hành tập khởi, điều này phải học thuộc lòng, do xúc đoạn diệt nên hành đoạn diệt. Giờ hôm nay mình sẽ học thuộc lòng một cái rộng ra là học về ý xúc? Tại sao xúc tập khởi là hành tập khởi? Tiếp xúc làm cho mình sanh ra nghĩ ngợi, suy nghĩ. Nếu mình không tiếp xúc thì mình không suy nghĩ về vấn đề mình tiếp xúc. Bây giờ có thể suy nghĩ về một cái gì mà từ đó giờ mình chưa từng tiếp xúc? Không có, tất cả suy nghĩ của mình là từ chỗ những cái mình tiếp xúc chứ làm sao mình suy nghĩ những cái mình không tiếp xúc được nên xúc tập khởi là hành tập khởi.

Giờ sẽ nói từ cái thô đến cái tế. Do có lưỡi, thức ăn, thiệt thức – tức là sự rõ biết vì của thức ăn là vị giác. Ba cái này kết hợp, tiếp xúc, hội tụ lại với nhau sanh ra thiệt xúc – sự tiếp xúc của lưỡi. Lưỡi là căn, thức ăn là trần, thiệt thức là thức cùng tạo ra thiệt xúc. Khi nó tiếp xúc như vậy với lưỡi mình chạm vào thức ăn thì lúc đó sanh ra thọ, thọ sanh ra ái, nói thêm nữa là sanh ra thủ. Thường thường kinh nói tới chỗ: ái và thủ. Còn mình hoàn toàn không thấy không biết gì hết nên ngày nào cũng ăn, không ăn thì uống, lúc đó mình chỉ biết nó ngon quá, gắp tiếp tục chứ lúc đó mình không thấy lưỡi là cái lưỡi, lúc đó mình không thấy thức ăn. Mình không biết rõ thiệt thức là cái nào. Sự rõ biết vị mình không biết 3 pháp này hội tụ, chạm lại với nhau, tê tê rồi tiết ra nước miếng, mình nhai rồi nuốt. Lúc đó bao nhiêu cảm giác sanh ra từ tiếp xúc của lưỡi, trong đó mình thích thú hoặc ghét bỏ.

Các pháp vận hành như vậy, siêu tốc, hệ tốc, tinh vi, chớp nhoáng, thâm sâu mà mình không biết gì hết nên mình ở trong trạng thái của vô minh, si, vô tri, không thấy không biết. Cái này ngày nào mình ăn cơm cũng bị, nhất là những bữa trai tăng có nhiều món, gắp từ từ không có lâu nha. Nếu gắp từ từ khổ thọ, sân trong đó cũng có nữa mà mình không thấy. Như vậy hằng ngày của mình tham, sân, si, bản ngã, vô minh, tật đố dày đặc hết mà mình không thấy không biết gì hết mà mình tưởng đâu mình ngon. Đó là mình đang sống với tưởng uẩn, ảo tưởng, giả tưởng, vọng tưởng, hư tưởng.

Nên nãy giờ các huynh đệ có nhìn lại năm uẩn của mình không? Thí dụ như những câu mà nãy giờ Minh Thành nói, nếu ai mà khéo, nhất là những đối tượng đang được giúp đỡ, lúc đó mình nhìn ra được năm uẩn thấy rất rõ nãy giờ nó vận hành. Mình có lỗ tai, có tiếng của thầy, có sự rõ biết của tâm tham, 3 cái ráp lại, hội tụ tạo thành hỷ xúc, từ cái hỷ xúc nó sẽ tiếp xúc sanh ra cảm giác thọ do hỷ xúc sanh. Đây là cảm giác khó chịu, khổ, mình nhìn thấy được nó hết thì đó là mình đang tuệ quán, trí quán siêu việt của Thánh trí.

Còn bây giờ mình cứ theo nó, rồi sanh ra bực mình lên, khó chịu quá, ỷ làm thầy ha… tức quá. Ví dụ vậy, thành ra ở trong phiền não mà không phải trong trí huệ. Mình thấy được như vậy, biết được như vậy mình là Đa văn Thánh đệ tử. Thấy được tâm mình vận hành như vậy rồi sau đó mình quán sao? Giờ mới bắt đầu, mình phải quán thọ, tất cả cảm giác là vô thường, dầu cho cảm giác là vui sướng hay cảm giác khó chịu, hay cảm giác không vui sướng, không khó chịu đều là vô thường. Cảm giác này là cảm giác không phải tôi, không phải của tôi.

Sau khi mình quán chiếu cảm giác đó là vô thường, mình phải thấy là không nên đắm trước – đây là pháp hành, pháp hành này sâu xa, nên phải nhớ kỹ, ghi chú vô, mình vừa làm bài thi vừa tu tập. Tất cả cảm giác đều là vô thường, nhưng mình phải biết đó là cảm giác gì chứ không phải nói chung được. Hằng ngày, hằng giờ, mà nhất là những lúc mình gặp chuyện gì đó nó tới, lúc đó mình phải nhìn lại cảm giác mình liền coi đây là cảm giác gì.

Những lúc mình khó chịu, dễ chịu, những lúc mình được, những lúc mình bị, những lúc mình sướng hay khổ, những lúc bình thường không sướng không khổ, luôn luôn phải nhìn lại để thấy được cảm giác. Đây là quán thọ ở trên thọ. Mình biết cảm giác này vô thường rồi đừng có đắm trước, đừng có đam mê, dính mắc vô đây. Nó không phải là đối tượng để cho mình hoan hỉ. Đây là dùng từ nguyên văn trong kinh. Thọ này, cảm giác này không phải là đối tượng để cho mình hoan hỉ. Mình quán được như vậy là đang sống với Thánh trí, sống với trí huệ của bậc Thánh.

Còn theo cái thường tình để mình giận, mình buồn, mình ham, mình thích, đam mê này nọ thì đó là phàm tình. Mà cái đau đớn là không biết Thánh trí là gì làm sao mình thoát. Bây giờ mình biết Thánh trí rồi, đó là quy trình vận hành của tâm thức. Hằng ngày mình tiếp xúc, thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, suy nghĩ, mình ở trong chỗ mù mù mịt mịt không biết gì hết. Không biết cái nào là căn, trần, thức, xúc, là thọ, là ái mà mình chỉ biết mình đang vui hoặc đang khổ. Đó là đại vô minh.

Giờ mình nghe một tiếng khen mà đưa đến trời ơi sướng quá, bữa nay tôi được khen. Thấy chưa, mình đâu có thấy các pháp nó vận hành, đâu có thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức, mình đâu có thấy cảm giác vì có một mớ cảm giác, mình đâu có thấy một mớ suy tư và một mớ nhận thức. Mình đâu có thấy sắc thân này, đâu có quán niệm thân này là một mớ bao tử, dạ dày, ruột non ruột già, tim, gan, tỳ, phế, thận, nước miếng, nước mũi, máu, mủ, mỡ, nước tiểu, đàm, dãi, phân… mình đâu có thấy là một mớ sắc pháp, sắc uẩn mà là tôi, của tôi thì đó là cái thấy của vô văn phàm phu, phàm phu không nghe Chánh Pháp nên Minh Thành nhắc lại tất cả trong đại chúng hãy để tâm vào năm bộ kinh Nikāya, phải đặt trọn lòng tin mình vào trong đó, đó là những lời dạy gốc của Đức Phật. Vào trong đó mình sẽ thành tựu Thánh đạo, có quả Thánh trí, đừng đi lòng vòng lung tung lang tang. Mình đi thêm 30 tỷ ngàn năm nữa cũng chưa thấy Thánh Đạo nếu mình hoài kinh Nikāya. Nên mình thấy không, lưỡi, vị, sự tiếp xúc, rõ biết, sanh ra cảm giác yêu thích hoặc ghét bỏ.

Còn bây giờ nói tới ý xúc này rất sâu xa. Minh Thành sẽ chỉ cho quý vị ngồi tại chỗ, nhắm mắt lại, chỉ cho ý xúc, cái này ngồi thiền 30 năm có khi cũng chưa biết. Nhắm mắt lại tưởng về hình ảnh mẹ mình dưới quê, không biết giờ này mẹ đang làm gì? Thấy hình bóng mẹ chưa? Nếu còn ba có nhìn thấy hình bóng ba lờ mờ không? Mở mắt ra. Bây giờ nhắm mắt lại nữa, để ý dưới lòng bàn chân của mình xem nó đang có cảm giác gì? Để ý đằng sau ót xem có cảm giác gì? Thấy được cảm giác chưa? Mở mắt ra.

Khi mình để ý, nếu mình không để ý thì mình không biết cảm giác dưới gót chân nó ra sao, khi mình để ý mới thấy gót chân ấm hay gì đó. Khi mình để ý như vậy mình nhìn thấy hình bóng của mẹ mình, lúc nãy mình thấy hình bóng mẹ hiện lên mình có cảm giác không? Lúc gặp hình bóng mẹ mình có nói 1 tiếng như: mẹ khỏe không hay có ăn uống được không? Có không? Lúc đó mình biết được có cảm giác, có hình bóng người mẹ, mình biết được có những suy nghĩ, lời nói. Mình có biết được những hình bóng này không? Những suy nghĩ, những cảm giác… lúc đó mình có biết không – đó là thức. Thấy rõ chưa?

Như vậy, mình làm nhiều lắm mà mình đâu có biết cái nào là thọ, tưởng, hành, thức. Mình nói đó là tâm mình, tôi đang suy nghĩ, có cái tôi, có suy nghĩ, cảm giác, mình nhận những cái này cho nó là “tôi” hết, là tâm mình hết. Đây là tà kiến, thân kiến, vô minh, si mê, chấp ngã mà mình không thấy từng phần từng phần như vầy nó riêng biệt.

Khi ngồi thiền mình phải tập nhận diện năm uẩn để mình thấy được 5 nhóm này ở trong nội tâm của mình, nó không phải một mình, nó là 5 nhóm. Như vậy tất nhiên mình để ý. Giờ ở đây, thọ, tưởng, hành này là trần, cái này là thức. Căn, trần, thức, 3 cái này hợp lại tạo thành ý xúc. Lúc đó là sự tiếp xúc của ý của mình tiếp xúc những cái này. Mà khi ý xúc tiếp xúc như vậy nó sanh ra cảm giác, xúc sanh ra thọ, ý xúc sanh ra cảm giác nữa, rồi sanh ra những hình bóng tiếp tục, tưởng bắt đầy suy nghĩ sau đó là hành thức. Đây là thọ, tưởng, hành. Cái này tiếp tục ra 3, 4 thứ, tiếp tục ra hoài như vậy mà mình không có pháp tu để mình chấm dứt năm uẩn thì nó tiếp tục sanh ra hoài như vậy, chúng sanh khởi hoài như vậy gọi là chúng sanh. Chúng sanh là chúng ngũ uẩn sanh khởi liên tục trong nội tâm mình hoài không dứt. Cái này rất quan trọng, ngồi thiền 40 năm chưa chắc gì biết nếu không đi theo lời Đức Phật dạy theo bài kinh Nikāya, cái này rất thâm sâu, đây gọi là ý xúc, sự tiếp xúc của ý và suốt ngày của mình nó quay cuồng trong đó mà mình không nhận biết.

VI. Vị ngọt:

Ni sinh: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch thầy giáo thọ, kính thưa toàn thể đại chúng. Nãy giờ thầy đã phân tích rất kỹ cho chúng con biết và nhận rõ được ngũ uẩn. Như vậy thì con cùng mong thầy dạy cho chúng con rõ một chút cái cách để mình đoạn diệt hay dừng lại, hay giữ như thế nào đó khi mình nhận rõ. A Di Đà Phật.

Sư phụ: mình phải biết vị ngọt của năm uẩn, biết được sự nguy hai của năm uẩn mới biết được sự xuất ly khỏi năm uẩn. Cái này hôm bữa ôn tập thi Minh Thành có nói rồi, vị ngọt là do duyên sắc, thọ, tưởng, hành, thức này; do duyên ở nơi sắc, cảm xúc, suy tưởng, nhận thức này mà mình có khởi lên lạc hỷ gì thì lạc hỷ đó chính là vị ngọt của năm uẩn.

Như vậy có được một cảm giác mình thích thú, khoan khoái trong đó là vị ngọt của cảm giác. Nếu từ do cái sắc nào đó, món đồ hay con người, hay sự vật sự việc gì đó làm mình khoái, mình thích thú trong đó, đó là vị ngọt của sắc. Hằng ngày là mình chết với vị ngọt biết bao nhiêu mà nói ở đây. Đừng có nói người tại gia, người tu chết như thường. Rồi trong suy nghĩ, trong tư duy, trong suy tư của mình hiện lên hình bóng trong nội tâm, những lời nói thầm, những suy nghĩ trong đó có vị ngọt, có suy nghĩ mình thấy đã, khoái, mình muốn suy nghĩ nữa, không muốn dừng lại, đó là vị ngọt của tưởng, hành. Rồi trong nhận thức, trong cái biết của mình có vị ngọt không, cho nên mình lướt hoài, quẹt quẹt. Rồi đi qua lộ cũng quẹt quẹt, làm cái rầm, rồi xong. Không thèm đi bộ dưới đất nữa, lên bàn thờ ngồi, đó là thức thực, vị ngọt của thức. Nhưng thức mình cho ra hỷ lạc đó là vị ngọt của thức.

VII. Xuất ly:

Bây giờ vị ngọt đó mình khỏi cần nói, nhiều người nói rồi, giờ nói về sự nguy hại của năm uẩn nên thầy mới nói đó là vô thường, là khổ, là chịu sự biến hoại. Tất cả năm uẩn đều ở trong trạng thái vô thường, giống như hồi nãy Minh Thành chưa nói thì các huynh đệ không trân trọng, khi nói ra vượt mấy trăm cây số về, bỏ mấy phái đoàn này kia tự nhiên có tâm trân trọng, tội nghiệp thấy, thấy thương, tội nghiệp, thôi ráng đi. (Ví dụ mình nói vậy đó). Ví dụ trong 300 người có được 30 người như vậy cũng đỡ, tới đó tự nhiên năm uẩn nó đổi. Bây giờ thì nó vô thường nên nói năm uẩn này là vô thường, là khổ, là sự biến hoại, nó là sự nguy hại của năm uẩn.

Chắc chắn nó là bất toàn, [47:10] là bất an, bất toại nguyện, nó không toàn diện, nên mãi mãi mình đi tìm cái để cho mình thỏa mãn, không bao giờ có, vì bản chất của nó là bất toàn, bản chất nó là bất tự nguyện sao mình đi tìm cái tự nguyện được, thỏa mãn được, bản chất của nó là bất an làm sao mình đi tìm cái bình an. Nên mình tu cỡ này mà lên cầu an cái đó là chưa Chánh tín, đó là nghi thức thôi, an làm sao mà cầu. An là phải do mình ăn uống, vệ sinh, biết giữ gìn sức khỏe, biết ngăn chặn những cái gì là nguyên nhân sanh ra bệnh thì nó khỏe. Chứ không phải an là vô lạy, cầu là khỏe, phải tập thể dục, ăn uống điều độ, tối không được ăn mì gói, không nhậu nhẹt.

Mình phải thấy được hệ nhân quả chứ đừng cầu hoài xin hoài thì còn ngoài cổng chùa, ở trong chùa 30 năm vẫn còn ở trong chùa, chưa thành tựu Chánh tín, Chánh kiến. Trở lại vấn đề là khổ vô thường và sự biến hoại nó là nguyên nhân của năm uẩn. Làm sao xuất ly, đây là chỗ quan trọng nhất để dành 5 phút cuối cùng. Thế nào là sự xuất ly, tức là thoát ra khỏi 5 uẩn? Nhiếp phục nhục và tham, đoạn tận dục và tham đối với 5 uẩn, đó là sự xuất ly ra khỏi 5 uẩn. Mình tham cái cảm giác mà sắc đưa lại, chứ không phải tham cái sắc không ở ngoài, cái này sâu sắc lắm.

Cũng giống như một bộ đồ mới, đâu phải mình nhìn ở ngoài vậy là xong, mặc lên rồi mình có cảm giác êm quá, bằng lụa hay gì đó, nó mịn màng, láng, êm, rồi đi ra người ta chụp hình mình khoái, mình coi lại nữa, rồi mình tạo dáng. Nó nhiều kiểu lắm chứ không phải đơn giản là chụp hình là xong đâu. Cảm giác suy tưởng, nhận thức, nhiếp thúc, dục tham trong đó. Tham trong ái, tham trong cảm giác, rồi tham trong suy tưởng, nhận thức, đắm đuối, say mê, khao khát, cuồng nhiệt trong đó. Đức Phật gọi là dục nhiệt não, thờ dục, nhục dục, khao khát. Đọc bộ kinh Nikāya mình mới thấy được tận cùng trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chứ không phải tu đơn giản như mình nghĩ: một ngày lên gõ bong bong cốc cốc 2 thời rồi xuống là tu xong. Tu là không có giờ nào mà không tu, không có giờ nào không nhìn lại sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình. Luôn luôn nhìn lại coi nó có dục tham không, có sân si, có chấp ngã không, lúc đó thấy tất cả 5 uẩn là mình là lúc đó chấp ngã, trị nó liền, quán chiếu nó liền.

Bây giờ làm sao để nhiếp phục và tham, quán Tứ Đại, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi, quán giòi nó ăn hai con mắt lòi tròng ra, nó ăn mất lỗ mũi, miệng. Khi Minh Thành đi qua thiền viện Pa Auk, ở trước thiền viện có một bộ xương, khi hỏi thì nói là đây là bộ xương của hoa hậu đẹp nhất Myanma. Khi còn sống cô phát tâm cúng dường, cô dạy trước khi cô chết, để bộ xương trước thiền viện để cho mọi người nhìn thấy dầu cho là người đẹp nhất đi nữa, cuối cùng cũng chỉ là bộ xương thôi. Bây giờ ở thiền viện đi tới là nhìn thấy liền bộ xương của hoa hậu cho nên những phương pháp này không có phương pháp nào khác ngoài con đường này.

Đây là bậc Chánh Đẳng Giác, làm gì có con đường khác, không có cách nào có thể trị, diệt tận được dục tham, tham ái bằng phương pháp Quán Bất Tịnh, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Quán Chín Giai Đoạn Một Tử Thi. Quán cái đó vĩnh viễn không bao giờ mình nhiếp phục được dục tham tham ái hết, mà nếu mình không nhiếp phục được dục tham, tham ái thì cái đau khổ này còn dài dài, không bao giờ chấm dứt, không có ngày chấm dứt, không có ngày thoát ra.