32 Tướng Hảo & Sự Từ Bỏ Vĩ Đại Của Thế Tôn!
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
32 TƯỚNG HẢO & SỰ TỪ BỎ VĨ ĐẠI CỦA THẾ TÔN!
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí nam nữ Phật tử, hôm nay là buổi đầu tiên chúng ta vào khóa tu ba ngày nhân mùa Phật Đản, Phật lịch 2568 năm. Trong thời điểm này chúng ta tưởng nhớ lại sự xuất hiện của Đức Phật, sự hiện hữu của Thế Tôn, bậc thế gian tôn kính, bậc thế giới tôn thờ, bậc lịch sử tôn trọng. Sự xuất hiện của ngài là một sự hy hiến vĩ đại cho nhân thiên, hy sinh và phụng hiến to lớn cho cả chư thiên và loài người và cả thế giới ngày hôm nay đều công nhận Đức Phật, một bậc vĩ đại của thế giới và lấy ngày rằm tháng tư làm cái ngày tam hợp. Tam hợp là hợp lại ba cái thời điểm đản sanh, thành đạo và nhập Niết-bàn.
Như vậy chúng ta là những người đệ tử Phật chúng ta hiểu Phật như thế nào cho đúng? Có khi mình chỉ nghe người này người kia nói rồi xem trên phim mà mình chưa có nghe cái gốc, nghe trực tiếp vào trong những cái bản kinh nguyên chất, nguyên gốc, nguyên thủy để mình thấy thật sự con người Đức Phật, đời sống Đức Phật, sự hy sinh của Đức Phật và sự cống hiến vĩ đại của Đức Phật như thế nào thì hôm nay chúng ta sẽ có cái dịp điểm lại một vài cái sự kiện từ ở trong kinh tạng Nikāya để mình thấy Đức Phật lịch sử như thế nào. Trong kinh Trung Bộ sẽ trình bày cho chúng ta thấy tại sao Đức Phật được người ta tôn kính, tôn xưng, tôn thờ, tôn trọng, chúng ta nhắc lại những cái phần quan trọng ở trong cái bản kinh này.
"Một thời Thế Tôn du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỳ-kheo khoảng năm trăm vị.
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Brahmayu trú tại Mithila (Di-tát-la) già yếu, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã gần mãn cuộc đời, tuổi đã đến một trăm hai mươi, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp trì chú thuật, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Vị Bà-la-môn một trăm hai mươi tuổi này rất là nổi tiếng, rất là có tầm vóc, có vị trí ở trong giới Bà-la-môn tu sĩ thời đó, là một bậc trưởng lão, trưởng thượng.
"Bà-la-môn Brahmayu có nghe: 'Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya (Thích-ca) đang du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỳ-kheo khoảng năm trăm vị'. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: 'Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Tốt đẹp thay sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!'. (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Bà-la-môn này nghe tin đồn Sa-môn Gotama là người dòng họ Thích gọi là Thích tử xuất gia và đang du hành đi đến cái vùng của ngài đang ở. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về tôn giả Gotama ngài là bậc thế gian tôn kính, ngài là bậc diệt sạch hết tham, sân, si, tâm hoàn toàn thanh tịnh, là bậc thấy biết thấu suốt cùng tột giác ngộ cứu cánh thân tâm, đời sống này và thế giới, ngài có đầy đủ tam minh tức là ba cái loại trí tuệ biết được vô lượng vô biên kiếp đời sống quá khứ của mình gọi là sanh tử minh, biết được tất cả những cái đời sống quá khứ của chúng sanh gọi là túc mạng minh và biết được đoạn tận được tất cả các cái nguyên nhân của đau khổ, các lậu hoặc, thành tựu bốn thánh trí về ngũ uẩn, thành tựu bốn thánh trí về lậu hoặc thì gọi là minh hạnh túc. Ngài là bậc khéo vượt qua bốn dòng thác lũ của thế gian, là bậc thông hiểu tất cả các pháp thế gian, là bậc vô thượng, là bậc có thể điều phục và chế ngự những người và có trí tuệ, trung trực, chánh trực, cứng cỏi, ương ngạnh ở trong đời này gọi là điều ngự trượng phu, là thầy của trời và người, là Phật và với một cái trí tuệ thù thắng. Như vậy tự thân ngài chứng ngộ thế giới này cùng với thiên giới, phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, loài trời và loài người.
Đây là những cái lời đồn về thập hiệu, chúng ta đọc kinh chúng ta có nhớ thập hiệu không ạ? Đó là Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, đó là mười cái đức hiệu, mười cái đạo hạnh, mười cái trí tuệ, mười cái công đức mà chúng ta gọi là thập hiệu hay là mười cái hồng danh. Chữ "hồng" ở đây không phải là màu hồng mà là vĩ đại, là to lớn, hồng danh là cái tên gọi của một bậc có những cái đức hạnh to lớn, vĩ đại, gọi là hồng danh. Trước nay truyền thống mình hay có là "Hồng Danh Bửu Sám" là vậy đó, hồng danh là chỉ cho cái tên của Đức Phật, như vậy mười cái phương diện về đức hạnh, về thiền định, về trí tuệ, về công đức được lan truyền khắp tất cả vùng ngũ thiên Ấn Độ lúc đó, gọi là ngũ thiên trúc.
Vùng đất Ấn Độ lúc đó chia làm năm cái tiểu bang, như vậy tiếng đồn vang dội cùng gấp hết thì cái vị Bà-la-môn này nghe cái tin đồn như vậy muốn đi tìm đến để gặp Đức Phật. Vị Bà-la-môn này mới nói với người thanh niên đệ tử của ngài:
Lúc bấy giờ đệ tử của Bà-la-môn Brahmayu là thanh niên Uttara, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp trì chú thuật, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Rồi Bà-la-môn Brahmayu bảo thanh niên Uttara:
"-- Này Uttara thân mến, Sa-môn Gotama này là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya (Thích-ca) đang du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỳ-kheo khoảng năm trăm vị"... Tốt đẹp thay được yết kiến một vị A-la-hán như vậy. Uttara thân mến, hãy đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy tìm hiểu Sa-môn Gotama, có phải là Tôn giả Gotama như tiếng đã đồn, hay là không phải, hay là Tôn giả Gotama như thế này, hay là không phải như thế này. Chính nhờ Ông mà chúng ta sẽ biết về Tôn giả Gotama.
-- Thưa Tôn giả, làm sao tôi biết Tôn giả Gotama có phải là Tôn giả Gotama như tiếng đã đồn, hay là không phải, hay là Tôn giả Gotama như thế này, hay là không phải như thế này?
-- Này Uttara thân mến, theo Thánh điển của chúng ta được truyền lại về ba mươi hai Ðại nhân tướng, những ai có ba mươi hai tướng ấy sẽ chọn một trong hai con đường, không có con đường nào khác: nếu là tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương chinh phục mọi quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu này là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Và vị này có hơn một ngàn con trai, là những vị anh hùng, oai phong lẫm liệt, chiến thắng ngoại quân. Vị này sống thống lãnh quả đất cùng tận cho đến đại dương, và trị vì với Chánh pháp, không dùng gậy, không dùng đao. Nếu vị này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị này sẽ chứng quả A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác quét sạch mê lầm ở đời. Này Uttara thân mến, ta đã cho con chú thuật, con đã nhận những chú thuật ấy.
-- Thưa vâng, Tôn giả." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Chuyển Luân Thánh Vương tức là vị này làm vua cả trái đất mà không dùng dao, không dùng gậy, không dùng gươm, không dùng kiếm mà với cái đức độ, cái phước báu, cái công đức thì vị này sẽ làm vua của địa cầu. Nếu vị này đi xuất gia thì vị này thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nếu đi xuất gia thì sẽ được thành Phật, là giác ngộ cứu cánh cùng cực. Chỉ có hai con đường thôi, nếu tại gia sẽ thành vị Chuyển Luân Thánh Vương chinh phục mọi quốc độ đầy đủ bảy món báo, cái này là chúng ta có thời gian chúng ta đọc ở trong Trường Bộ Kinh thì mình sẽ biết công năng tác dụng của bảy báo này. Tức là vị này có phước đức đại viên mãn, vị này sẽ có được ba mươi hai tướng đại nhân rồi sau đó nếu ở đời thì vị này làm vua của cả địa cầu gọi là Chuyển Luân Thánh Vương, là thánh vương, là vua thánh, vị này sẽ có bảy món báo xuất hiện. Những cái này đều là những cái đặc biệt do cái công đức mà nó xuất hiện ra. Còn nếu vị này xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình thì vị này sẽ chứng thánh quả A-la-hán Chánh Đẳng Giác, quét sạch mê lầm ở đời.
"-- Tiếng đồn về Tôn giả Gotama là đúng như vậy, không phải khác, Tôn giả Gotama là như vậy, không phải khác. Và Tôn giả Gotama ấy có đầy đủ ba mươi hai Ðại nhân tướng. Tôn giả Gotama có lòng bàn chân bằng phẳng. Ðây là Ðại nhân tướng của Ðại nhân Tôn giả Gotama. Dưới hai bàn chân Tôn giả Gotama, có hiện ra hình bánh xe, với ngàn tăm xe, với trục xe vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Các vị này rất giỏi về nhân tướng học, xem tướng, nhìn tướng. Khi chúng ta đi qua bên Sri Lanka hay là Myanmar thì quý vị sẽ thấy người ta làm bức tượng Đức Phật dài lắm, rất là lớn và cái dưới bàn chân là làm cái bánh xe một ngàn căm, ở Việt Nam mình thì cũng có nhưng mà ít thôi, tượng nhỏ nhỏ thôi, thì đó là một trong ba mươi hai tướng hảo, là dưới lòng bàn chân có hình thiên bức luân là bánh xe một ngàn cánh, một ngàn căm.
"Tôn giả Gotama có gót chân thon dài. Tôn giả Gotama có ngón tay, ngón chân dài. Tôn giả Gotama có tay chân mềm mại. Tôn giả Gotama tay chân có màn da lưới. Tôn giả Gotama có mắt cá tròn như con sò. Tôn giả Gotama có ống chân to như con dê rừng. Tôn giả Gotama đứng thẳng, không cong lưng xuống có thể rờ đầu gối với hai bàn tay. Tôn giả Gotama có tướng mã âm tàng. Tôn giả Gotama có màu da như đồng, màu sắc như vàng. Tôn giả Gotama có da trơn mướt khiến bụi không có thể bám dính vào. Tôn giả Gotama có lông da mọc từng lỗ lông một, mỗi lỗ chân lông có một lông. Tôn giả Gotama có lông mọc xoáy tròn thẳng lên, mỗi sợi lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Chúng ta thấy người ta làm tượng Phật có những chỗ làm cái tóc của Phật màu xanh biếc và xoắn về phía bên phải, đó là căn cứ vô trong kinh này chứ không phải tự nhiên đâu.
"Tôn giả Gotama có thân hình cao thẳng. Tôn giả Gotama có bảy chỗ tròn đầy. Tôn giả Gotama có nửa thân trước như thân con sư tử. Tôn giả Gotama không có lõm khuyết xuống giữa hai vai. Tôn giả Gotama có thân thể cân đối như cây bàng. Bề cao thân ngang bằng bề dài hai tay sải rộng, bề dài hai tay sải rộng ngang bằng bề cao của thân. Tôn giả Gotama có bán thân trên vuông tròn. Tôn giả Gotama có vị giác hết sức sắc bén. Tôn giả Gotama có quai hàm như con sư tử. Tôn giả Gotama có bốn mươi răng. Tôn giả Gotama có răng đều đặn. Tôn giả Gotama có răng không khuyết hở. Tôn giả Gotama có răng cửa trơn láng. Tôn giả Gotama có tướng lưỡi rộng dài. Tôn giả Gotama có giọng nói tuyệt diệu như tiếng chim ca-lăng- tần-già (karavika). Tôn giả Gotama có hai mắt màu xanh đậm. Tôn giả Gotama có lông mi con bò cái. Tôn giả Gotama, giữa hai lông mày, có sợi lông trắng mọc lên mịn màng như bông nhẹ. Tôn giả Gotama có nhục kế trên đầu. Ðây là Ðại nhân tướng của Ðại nhân Tôn giả Gotama." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Người ta thường gọi là tướng bạch hào vì có cọng lông trắng giữa hai hàng lông mày. Nhục kế là búi thịt nổi trên đỉnh đầu.
"Khi Tôn giả Gotama đi, Ngài bước chân mặt trước, không đặt chân xuống quá xa, không rút chân lên quá gần, không bước quá mau, không bước quá chậm, khi đi đầu gối không va chạm đầu gối, khi đi mắt cá không va chạm mắt cá; Ngài đi không co bắp vế lên, không duỗi bắp vế xuống, không đưa bắp vế vào trong, không đưa bắp vế ra ngoài. Khi đi Tôn giả Gotama chỉ di động phần thân ở dưới, và không dùng toàn thân lực. Khi ngó quanh, Tôn giả Gotama ngó quanh với toàn thân. Khi đi không có ngưỡng mặt lên, không cúi mặt xuống, không có ngó quanh, và chỉ ngó xuống khoảng một tầm (yugamattam, bề dài một cái cày). Xa hơn, tri kiến được mở rộng (anavatam: không bị che đậy)." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Khi ngài nhìn cái gì là ngài quay hết toàn thân người chứ không có quay cái cổ không, đó là cái uy nghi, cái oai nghi của ngài.
"Khi đi vào nhà, (Tôn giả Gotama) không ngửa thân về phía sau, không cúi thân về phía trước, không đưa thân về phía trong, không đưa thân về phía ngoài; vị ấy quay lưng không quá xa ghế ngồi, không quá gần ghế ngồi; ngồi trên ghế, không nắm chặt thành ghế, không gieo thân ngồi xuống ghế.
Khi ngồi trong nhà. Ngài không rung tay, không rung chân, không ngồi tréo đầu gối với nhau, tréo mắt cá với nhau, không ngồi tay chống cằm. Khi ngồi trong nhà, không có sợ hãi, không có run rẩy, không có dao động, không có hoảng hốt. Như vậy Tôn giả Gotama ngồi, không sợ hãi, không run sợ, không dao động, không hoảng hốt, lông tóc không dựng ngược, Thiền tịnh độc cư.
Khi nhận nước để rửa bát, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận nước không quá ít, không quá nhiều. Ngài rửa bát, không sanh tiếng động, rửa bát không xoay tròn bình bát, không đặt bình bát xuống đất rồi rửa tay, khi hai tay rửa xong, bát cũng rửa xong, khi bát rửa xong, tay cũng rửa xong. Ngài đổ nước bình bát không quá xa, không quá gần, và không vẩy nước cùng khắp.
Khi Ngài nhận cơm, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận cơm không quá ít, không quá nhiều. Ngài ăn đồ ăn vừa phải (với cơm), không có bỏ miếng cơm, chỉ lựa miếng thức ăn. Tôn giả Gotama đưa miếng cơm quanh miệng hai ba lần rồi mới nuốt, không hột cơm nào được vào trong thân không bị nghiến nát, và không một hột cơm nào còn lại trong miệng trước khi ăn miếng cơm khác. Tôn giả Gotama không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ ăn, không thưởng thức lòng tham vị. Tôn giả Gotama ăn đồ ăn có đầy đủ tám đức tánh, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: 'Như vậy, Ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và Ta sẽ không lỗi lầm, sống được an ổn'." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Cái âm thanh của ngài có tám đức, cái lời nó nói khi ngài nói ra lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động.
"Ði đến tu viện, Ngài thuyết pháp cho hội chúng, không tán dương hội chúng ấy, không chỉ trích hội chúng ấy, trái lại với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ. Tiếng nói thoát ra từ miệng Tôn giả Gotama có tám đức tánh; lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động. Khi Tôn giả Gotama giải thích cho hội chúng với tiếng nói của mình, tiếng nói không vượt ra khỏi hội chúng. Hội chúng sau khi được Tôn giả Gotama khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho thích thú, làm cho hoan hỉ, từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi vẫn quay nhìn lại, không muốn rời bỏ." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Như vậy chúng ta chỉ trích một vài phần để mình thấy, nãy giờ đó là chúng ta trình bày ở phía trên là ba mươi hai tướng hảo và vị thanh niên Bà-la-môn này bám sát theo Thế Tôn trong bảy tháng như bóng không bao giờ rời hình.
"Rồi thanh niên Uttara suy nghĩ: 'Sa-môn Gotama có đầy đủ ba mươi hai Ðại nhân tướng. Vậy ta hãy theo sát Sa-môn Gotama để dò xem các uy nghi (của Ngài)'. Rồi thanh niên Uttara trong bảy tháng theo sát Thế Tôn như bóng không bao giờ rời hình." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Ông Bà-la-môn trẻ được ông Bà-la-môn lớn tuổi phái đến để theo dõi coi có thật vậy không, tiếng đồn như vậy có phải vậy không, có đức hạnh như vậy không, có thiền định như vậy không, có trí tuệ như vậy không, có đạo hạnh đúng vậy không thì cái vị này vâng lệnh của đại bậc đại trưởng thượng bám sát theo Thế Tôn như bóng không bao giờ rời hình suốt bảy tháng trời. Vị này nhìn thấy hết ba mươi hai tướng hảo mà có hai tướng không nhìn thấy, tức là cái lưỡi và mã âm tàng, mã âm tàng đây là cái cơ quan sinh dục của người nam mà cái tướng của Phật là rất là đặc biệt là giống như bộ phận sinh dục của ngựa gọi là mã âm tàng. Bình thường là nó ẩn, khi cần sử dụng nó mới hiển lộ thành ra là cái vị này mới nghi ngờ không biết bây giờ ba chục tướng hảo mình thấy rồi, còn hai tướng kia mình chưa thấy thì bây giờ làm sao.
Đức Thế Tôn dùng thần thông biết cái tâm ý của cái vị này nên ngài dùng thần thông cho vị này thấy hai cái tướng hảo đó và vị này tâm phục khẩu phục và đi về báo lại cho vị trưởng thượng là Đức Thế Tôn đức hạnh như vậy, trí tuệ như vậy, tướng hảo như vậy, ngài hãy nên đi đến thăm viếng Đức Thế Tôn đi. Sau đó vị này đi đến thăm viếng Đức Phật và tán thán Đức Phật:
"Tôn giả Gotama!
Ba hai Ðại nhân tướng,
Con được nghe nói đến,
Hai tướng con không thấy
Trên thân của Tôn giả,
Tôn giả, mã âm tàng,
Bậc tối thượng loài Người,
Ngài có hay không có?
Hay là tướng nữ nhân?
Hay lưỡi Ngài quá ngắn?
Hay lưỡi Ngài rộng dài?
Ðể con như thật biết.
Hãy đưa lưỡi Ngài ra,
Mong bậc Ðại Tiên Nhân,
Trừ nghi cho chúng con,
Vì an lạc hiện tại,
Vì hạnh phúc tương lai,
Chúng con xin được phép,
Hỏi điều muốn được biết." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Ông già này tới cũng nhìn thấy ba chục tướng rồi, còn hai tướng kia chưa nhìn được nên mong muốn được thấy để thỏa mãn là đúng ba mươi hai tướng bởi vì thánh điển của Bà-la-môn này nói rồi người có đủ ba mươi hai tướng thì chỉ có hai con đường thôi, một là Chuyển Luân Thánh Vương, hai là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cho nên bây giờ Đức Thế Tôn dùng thần thông lực cho các vị này thấy được đầy đủ ba mươi hai tướng hảo thì vị này tâm phục khẩu phục thì Bà-la-môn này mới xưng tán Đức Phật.
"Rồi Thế Tôn trả lời Bà-la-môn Brahmayu với bài kệ:
Ba hai Ðại nhân tướng,
Ông đã được nghe đến,
Ðều có trên thân Ta,
Hiền giả, chớ có nghi!
Ðiều cần biết, đã biết,
Ðiều cần tu, đã tu,
Ðiều cần trừ, đã trừ,
Do vậy, Ta là Phật.
(Này Bà-la-môn!)
Vì an lạc hiện tại,
Vì hạnh phúc tương lai,
Ông được phép vấn hỏi,
Những điều Ông muốn biết." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Khi vị này hỏi xong thì Đức Thế Tôn thuyết pháp cho vị này, sau đó vị này xưng tán Đức Phật, hỏi rồi Đức Phật trả lời.
"Ai biết được đời trước,
Thấy thiện thú, ác thú,
Ðoạn tận được tái sanh,
Thắng trí được viên thành,
Vị ấy gọi Mâu-ni.
Ai biết tâm thanh tịnh,
Giải thoát gọi tham dục,
Sanh tử đều đoạn tận,
Phạm hạnh được viên thành,
Thông đạt nhứt thiết pháp,
Vị ấy xưng Phật-đà." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Ở trong bài kinh này rất là dài, con chỉ tóm gọn cái ý cho chúng ta thôi, chúng ta về đọc thêm.
"Khi được nghe vậy, Bà-la-môn Brahmayu từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu xuống dưới chân Thế Tôn, dùng miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, lấy tay rờ xung quanh và tự xưng danh:
-- Thưa Tôn giả Gotama, con là Bà-la-môn Brahmayu.
Và hội chúng ấy tâm tư trở thành kinh dị, vi diệu: 'Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay, đại uy lực, đại thần lực của vị Sa-môn đã khiến cho Bà-la-môn Brahmayu này, với danh tiếng, danh vọng như vậy, lại hạ mình tối đa như vậy'. Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Brahmayu:
-- Thôi vừa rồi, Bà-la-môn, hãy đứng dậy. Ông hãy ngồi trên ghế của Ông vì tâm của Ông đã hoan hỉ đối với Ta.
Sau khi Bà-la-môn này đứng dậy Thế Tôn liền thứ tự thuyết pháp.
"Rồi Bà-la-môn Brahmayu, sau khi đứng dậy, liền ngồi trên ghế của mình. Rồi Thế Tôn thứ lớp thuyết pháp cho Bà-la-môn Brahmayu, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi Trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn Brahmayu đã sẵn sàng, đã nhu thuận, không còn chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa các vết đen, sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính tại chỗ ngồi này, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Brahmayu: 'Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt'. Bà-la-môn Brahmayu thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tin, không y cứ nơi người khác đối với đạo pháp của đức Bổn sư. Bà-la-môn Brahmayu liền bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng! Mong Tôn giả Gotama ngày mai nhận lời mời của con đến dùng cơm với chúng Tỳ-kheo!" (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Vị Bà-la-môn này ngay tại chỗ Đức Phật thuyết pháp nhập dự lưu thánh quả là chứng được Tu-đà-hoàn, mở được con mắt pháp, giống như người mù vô lượng kiếp bây giờ được sáng mắt ra nhìn thấy được ngũ uẩn, thấy được khổ, thấy được những nguyên nhân của khổ. Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt là thấy được sự sanh diệt, thành tựu được cái trí sanh diệt đối với thân tâm, vạn vật thế giới. Bà-la-môn thấy pháp tức là thấy sự thật, chứng pháp là chứng được sự thật, ngộ pháp là hiểu ra sự thật, thể nhập vào pháp là đi vào ở trong sự thật, nghi ngờ tiêu tan, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người khác đối với đạo pháp của đức bổn sư. Tức là vị Bà-la-môn một trăm hai mươi tuổi này nhập lưu thánh quả bất thối chuyển, đi đến Chánh Giác và sau đó vị Bà-la-môn này cải đạo và xin làm đệ tử của Đức Phật.
"Mong Tôn giả Gotama ngày mai nhận lời mời của con đến dùng cơm với chúng Tỳ-kheo!
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Bà-la-môn Brahmayu khi được biết Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Bà-la-môn Brahmayu sau khi đêm ấy đã mãn, sau khi đã sửa soạn tại trú xá của mình các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, liền báo thì giờ cho Thế Tôn: 'Tôn giả Gotama, nay đã đến giờ, cơm đã sẵn sàng'. Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, lấy y bát, đi đến trú xá của Bà-la-môn Brahmayu, sau khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn với chúng Tỳ-kheo. Bà-la-môn Brahmayu tự tay làm cho chúng Tỳ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, thỏa mãn bằng những món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.
Rồi Thế Tôn sau bảy ngày liền khởi sự du hành ở Videha. Sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, Bà-la-môn Brahmayu mệnh chung. Một số đông Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Bà-la-môn Brahmayu đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì, tương lai tái sanh thế nào?
-- Này các Tỳ-kheo, Bà-la-môn Brahmayu là bậc hiền triết. Vị ấy theo Pháp đúng với Chánh pháp, không có phiền nhiễu Ta với những kiện cáo về Chánh pháp (Dhammadhikaranam). Này các Tỳ-kheo, Bà-la-môn Brahmayu sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ chỗ ấy nhập Niết-bàn, không có trở lui đời này nữa.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Vị Bà-la-môn này mới chứng sơ quả thì bảy ngày sau thành tựu bất lai và sanh lên Tịnh Cư Thiên là chỗ chú xứ của thánh đệ tử thiên, từ đó nhập Niết-bàn, không trở lại cõi đời này nữa. Như vậy là vừa rồi con điểm sơ một bản kinh để chúng ta thấy được những cái điều gì? Nhân cái ngày lễ Phật Đản chúng ta chiêm nghiệm ba cái sự kiện đản sanh, thành đạo và nhập Niết-bàn, vấn đề ở đây ngài là thái tử là đầy đủ hết tất cả những cái gì người ta khó có, hiếm có, ít có, hy hữu chứ không phải là một người bình thường, không phải một thái tử bình thường mà là ba mươi hai đại nhân tướng, cái đó mới là cái tối thượng nữa chứ không phải một thái tử bình thường nữa. Ba mươi hai tướng hảo này nếu mình ở thế gian không có đi xuất gia thì thống lãnh cả quả đất, vua của cả địa cầu, cái này là chúng ta nằm chiêm bao cũng không có nữa, mình giờ mới được chút thôi cũng vỗ ngực xưng tên rồi chứ đừng nói chi được tới cái mức độ như vậy là cái phước trí đại viên mãn.
Cho nên Thế Tôn nói trong kinh sự xuất hiện của một người là sự xuất hiện của mắt lớn, của đại quang, của đại minh, là sự xuất hiện của đại trí tuệ, là sự xuất hiện mà độc nhất vô nhị, có một không hai, duy nhất, không ai ngang bằng, không ai sánh bằng, không ai ngang tầm, không ai đặt ngang hàng, không ai so sánh được, có người duy nhất là Đức Như Lai bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người thì chúng ta mới thấy những cái lời nói đó là lời nói sự thật. Từ đó giờ mình từ hồi sanh ra tới giờ có gặp ai được ba mươi hai tướng hảo chưa ạ? Như vậy thì trăm năm, ngàn năm, vạn năm nhiều lần trăm kiếp, ngàn kiếp, trăm ngàn kiếp trái đất thành hoại mới có một bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện mà trong ngày này mình có thấy mình vinh hạnh không? Vinh dự không? Có thấy vinh quang vì được làm đệ tử của Đức Phật không?
"Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân.
Sự xuất hiện của một người, này các Tỳ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang, là sự xuất hiện của đại minh, là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ bốn vô ngại giải, là sự thông đạt của nhiều giới, là sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ của minh và giải thoát, là sự chứng ngộ quả Dự Lưu, là sự chứng ngộ quả Nhất Lai, là sự chứng ngộ quả Bất Lai, là chứng ngộ quả A-la-hán. Của một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỳ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang... là sự chứng ngộ quả A-la-hán". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, Như Lai)
Chỉ riêng địa vị của ngài thôi là mình cũng thấy tối thượng rồi, cộng với cái tướng hảo của ngài thôi là vô thượng rồi chưa nói tới cái vụ xuất gia thành đạo, chỉ là Chuyển Luân Thánh Vương thôi là không thể ai có thể so sánh được rồi. Như vậy mà ta quăng bỏ ngai vàng như là đôi dép rách, cái chỗ này là cái chỗ mình mới tôn kính Đức Phật, nhiều khi mình học lại cuộc đời của ngài, mình chiêm nghiệm lại đức hạnh của ngài, mình hoài niệm lại những gì mà Đức Thế Tôn đã kinh qua, đã trải qua, đã đi qua mình thấy mình hổ thẹn lắm. Mình làm con của ngài, mình chưa có giống được bao nhiêu hết, như vậy mà ngài vứt bỏ hết, quăng bỏ hết, liệng bỏ hết, giục bỏ hết. Ngài ra đi trong nước mắt của phụ vương, trong nước mắt của bà Maha Ba-xà-ba-đề, Da-du-đà-la, La-hầu-la, một sự từ bỏ vĩ đại, một sự từ bỏ tối thượng, một sự từ bỏ hoàn toàn những cái mà người ta ước ao còn chưa được, mộng mơ còn chưa thấy vậy mà ngài từ bỏ.
Mình bây giờ dám từ bỏ ba ngày lại đây tu thì cũng là quý rồi đó, có thấy chưa? Vì nhiều khi hỏi sao không lại tu tập thì nói bận lắm, con mắc đi kiếm, con mắc đi tìm nhưng mà tìm cái gì, có cái gì đâu để mà tìm, thật sự là không có ý nghĩa gì bao nhiêu. Do mình nghĩ nó quan trọng chứ thật sự mình làm từ nhỏ cho tới giờ thì chừng nào xong? Tới bao giờ đủ? Tới bao giờ là hoàn tất? Không có, cho nên trong thời điểm Phật Đản này là những cái cơ hội rất tốt, rất quý, rất hy hữu hiếm có để chúng ta ôn những lời kinh rồi nhắc lại cuộc đời Đức Phật, nhắc lại cái đức hạnh của Phật, cái trí tuệ của Phật, cái công đức của Phật, cái tâm từ của Phật, cái việc làm của Đức Phật, sự từ bỏ vĩ đại của Thế Tôn để chúng ta làm cho mình phát khởi lên lòng tin, lớn mạnh thêm cái tín tâm, cái tính giải, cái sự hiểu của mình thêm về Đức Phật trên con đường, cái đạo lộ tinh tấn, nỗ lực tiến lên của mình trong cái ý nghĩa giá trị thật sự của đời sống này là cái gì.
Thế Tôn từ bỏ ba mươi hai tướng hảo của mình như vậy và sống cuộc đời của một người ăn xin. Quý vị đọc kinh đi rồi quý vị sẽ thấy ngài đi ăn xin bị người ta hủy nhục "làm gì lại đây xin hoài vậy? Sa-môn Gotama này tham lam quá", có hôm bị ác ma phá nên nhịn đói bưng cái bình bát không, những khi mất mùa, hạn hán, dịch bệnh thì Thế Tôn phải dùng những cái thức ăn của gia cầm, gia súc hàng tháng trời, hàng mấy tháng trời trong cả một cái mùa an cư rồi chịu đựng nắng táp mưa xa, gió bão trong rừng. Chúng ta đọc trong kinh sẽ thấy cái sự chịu đựng, kham nhẫn của Đức Phật, còn giờ nhiều khi mình ngồi tụng kinh, ngồi nghe pháp, ngồi thiền thấy mỏi một chút là than mệt, chịu đựng không nổi thì quý vị nghĩ Đức Thế Tôn như thế nào? Ngài không ăn, có khi bảy ngày mới ăn, có khi nửa tháng ngài mới ăn lúc tu khổ hạnh, thậm chí là ăn phân bò, thậm chí là ăn cái phân của chính mình luôn lúc ngài tu cái khổ hạnh.
"Này Sariputta, rồi Ta bò bốn chân đến các chuồng bò, khi các con bò cái đã bỏ đi, khi các người chăn bò không có mặt, rồi Ta ăn phân các con bò con, các con bò còn trẻ, các con bò còn bú. Khi nước tiểu và phân của Ta còn tồn tại, Ta tự nuôi sống với các loại ấy. Này Sariputta, như vậy là hạnh đại bất tịnh thực của Ta.
Này Sariputta, Ta nằm ngủ trong bãi tha ma, dựa trên một bộ xương. Này Sariputta, những đứa mục đồng đến gần Ta, khạc nhổ trên Ta, tiểu tiện trên Ta, rắc bụi trên Ta và lấy que đâm vào lỗ tai. Này Sariputta, và Ta biết Ta không khởi ác tâm đối với chúng. Này Sariputta, như vậy là hạnh trú xả của Ta." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)
Khủng khiếp lắm, ăn chính cái phân của mình luôn, uống là cái nước tiểu của chính mình và bị mấy đứa trẻ mục đồng tiểu lên trên mặt, tiểu lên lỗ tai rồi nó lấy mấy cái cây nhọn đâm vô lỗ tai của ngài mà ngài không có khởi tâm sân hận, không có khởi một cái ý niệm tức giận, sân hận mà chỉ là thương cho chúng sanh. Ngài đã tu tập chín mươi mốt kiếp về cái tâm đại từ, đại bi, cái tâm từ của ngài đã trở thành căn cứ địa, thuần thục viên mãn, thành thành quách, thành cỗ xe, thành căn cứ địa, cái tâm từ của ngài bất động. Bao nhiêu những cái đức hạnh, những cái trí tuệ như vậy để ngày hôm nay chúng ta có được một Đạo Phật, có được một cái đạo lộ, có được một con đường, một phương pháp, một cách thức sống.
Bây giờ con nói cái hết sức là đơn giản về năm giới hạnh thôi thì Đức Phật đã cứu cho chúng sanh biết bao nhiêu là khổ, lấy biết bao nhiêu dòng nước mắt để chúng sanh khỏi phải tuôn tràn ra. Bây giờ chỉ cần mình biết từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh, tà dâm, từ bỏ nói dối, đâm thọc, nói lời ác độc, thêu dệt, từ bỏ sa, xưa nghiện ngập, sống đời tỉnh thức chánh niệm, sống với tình thương, sống với sự tôn trọng tài sản của mình và của người, tôn trọng tình cảm, sự thủy chung của bản thân mình và của bản thân người khác, tôn trọng sự thật không có nói dối, chúng ta thấy chỉ cần năm cái giới khi mình mới bước vào đạo mà mình giữ cái đó là suốt cuộc đời đã đem lại bình an, đem lại hạnh phúc, đem lại an ổn, lấy biết bao nhiêu đau khổ bớt đi cho chúng sanh, đem lại bao nhiêu sự bình an cho nhân loại, đem lại bao nhiêu những sự an toàn, an lành, an yên, an ổn, an tịnh, an vui cho chúng sanh chỉ trong năm giới đó.
Cả một cuộc đời mà có khi năm giới đó mình làm chưa có tròn cho nên không phải là chỉ vô thọ tam quy ngũ giới rồi được truyền giới thì nói "dạ con giữ được" là xong, về im ru mà khi về mình phải tụng giới, phải nhắc giới, phải học giới, phải ôn giới và phải tác ý trong tâm của mình. Ngoài ra còn tám giới là Đức Phật thêm những cái giới dần dần đến sự ly tham rồi tới mười giới của Sa-di cho đến các giới của các vị xuất gia, càng ngày đời sống càng thanh cao, càng đơn giản, càng ít muốn, càng ly tham. Tại sao tại vì chúng sanh đau khổ? Là do bị hệ lụy, bị trói cột, bị đắm chìm ở trong những cái vật chất và nghĩ rằng cái vật chất là cái đem lại hạnh phúc cho mình, nó quyết định hết tất cả nhưng mà chúng ta đi tìm hạnh phúc lộn địa chỉ.
Tiền thật nhiều chưa hẳn là hạnh phúc, có khi nó lại là tai họa, nó để cho con người ta đi vào trong sự sa đọa ở trong dục lạc, sắc đẹp cũng vậy, nó đưa người ta đi vào những cái sa đọa, say đắm. Chính vì vậy Đức Phật mới từ bỏ, mới thoát ra, mới sống đời sống thanh cao, cao thượng, thánh thiện vậy mà bây giờ chúng ta lại chạy đi tìm những cái sắc; thanh; hương; vị; xúc đó, lấy đó làm mục tiêu của cuộc đời, lấy đó làm đích đến, lấy đó làm sự nghiệp, tưởng đâu nó là quyết định hết tất cả hạnh phúc của cuộc đời. Bây giờ chúng ta nhìn thấy những người giàu nhất Sài Gòn, giàu nhất nước Việt Nam, giàu nhất trên thế giới này những người đó có đủ không? Có thật sự là họ thỏa mãn với cái giàu đó chưa hay còn muốn thêm nữa không? Đó là bất toại nguyện, là cái cảm giác thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái, người ta khổ không phải chỉ vì cái vật chất ở bên ngoài mà vì cái cảm giác thiếu thốn, không thỏa mãn, không đầy đủ ở bên trong, vì cái cảm xúc nô lệ cho tham dục, tham ái, vì cái cảm xúc thiếu thốn, đòi hỏi, thèm khát, khát khao, khát ái. Cái này mới là cái mấu chốt của vấn đề, mới là cái cốt lõi của vấn đề, cho nên Đức Phật dạy chúng ta giáo pháp ly tham.
Chẳng hạn như hồi xưa mình ăn con này, con kia, con nọ, món này, món kia, món nọ mình mới thích, bây giờ mình lìa bỏ những món đó, mình ăn thanh đạm, ăn đơn giản, đơn sơ mà mình vui, mình hoan hỉ. Ăn chay được có vui không? Lên núi ở có vui không? Ngồi thiền được có vui không? Đi chùa tu được có vui không? Đó là những cái vui thanh cao, cao thượng, thánh thiện, mình tập lần lần, hồi xưa mình vui với cái đục bây giờ mình vui với cái trong, chịu không? Hồi xưa mình vui với cái dơ bây giờ mình vui với cái sạch, hồi xưa mình vui với cái nhiễm bây giờ mình vui với cái tịnh, hồi xưa mình vui với cái ồn ào, cái nhạc sập xình bây giờ mình vui cái ngồi im trải hỷ vô lượng tâm. Mình ngồi đâu có cần tốn tiền tốn bạc, đâu cần đi kiếm ai lại đánh bài tứ sắc hay là đi du lịch, chỉ cần ngồi im ru tác ý thôi, hoan hỉ với cái sự ngồi yên này, hạnh phúc với cái sự ngồi yên này, hài lòng với cái sự thiền định này, hân quan với cái sự tĩnh lặng này và bình an với sự thoát ra, ly tham, từ bỏ những cái sự rộn ràng, lăng xăng, dao động, tất bật, rối loạn, động loạn, đầy rẫy những cái ham muốn, những cái thèm khát, những cái giành giật, những cái đố kỵ, những cái hơn thua, những cái ganh đua của cuộc đời này.
Mình thoát ra và mình ngồi ở trong chùa Bửu Liên bình an, mình thở vô thở ra, mình ngắm lên thánh tượng của Đức Phật khỏe quá, an bình, đại bình an. Tìm vui ở đâu? Tìm vui trong mấy cái chầu nhậu hả? Tìm vui ở trong mấy chiếc xe đua với nhau phải không? Tìm vui ở trong xì ke, ma túy hay sao? Những cái đó là khổ, là bệnh, là sầu, bi, khổ, ưu, não, là bất an, là tai họa, còn đức Phật dạy cho mình cái vui thanh cao, thanh thoát, cao thượng, thánh thiện, một cái vui mà càng vui thì mình càng khỏe, càng vui thì mình càng yên, càng vui thì mình càng tĩnh, càng vui thì trí mình càng sáng, càng vui thì cái tâm mình càng hiểu, càng thương, càng bao dung, độ lượng, rộng lớn, hy sinh, vị tha, vô ngã, đại từ đại bi. Mọi người chịu cái vui này không? Mình phải khéo thấy được cái điều đó, mình hạnh phúc với cái việc ngồi thiền, mình hoan hỉ với việc nghe pháp.
"Như hồ nước sâu thẳm,
Trong sáng, không khuấy đục,
Cũng vậy, nghe chánh pháp,
Người trí hưởng tịnh lạc"
(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 82)
Tịnh lạc là cái niềm vui của một cái tâm yên, niềm vui của một cái thân an, niềm vui của một cảm thọ nhẹ nhàng, một nội tâm tĩnh lặng. Cái vui này là cái vui của trường thọ, cái vui của khỏe mạnh, cái vui của nhẹ nhàng, cái vui của thoát ra, cái vui của rời xa, cái vui của trí tuệ, cái vui của hỷ xả đối với tất cả. Bây giờ vì mình nhớ cái người làm cho mình giận thì mình nhớ cái công đức của Phật, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả thì cái nào khỏe hơn? Nhớ người giận khỏe hay là nhớ cái tâm từ khỏe? Vậy mà nhớ người giận chi vậy? Đó là tự mình làm cho mình khổ, thay vì đem cả cái tâm mình nhớ cái người làm cho mình giận thì tại sao mình không đem cái tâm của mình tội nghiệp, thương cái người mình giận? Cái nào khỏe hơn? Từ khỏe hơn cho nên cái mặt tươi rói, mỗi ở đây là một đó hoa, mỗi một gương mặt ở đây là một đóa sen, mỗi đôi môi ở đây là một cánh sen dâng lên cúng Phật mùa Phật Đản. Nhiều khi mình nghĩ tu hay lắm mà sao người ta không tu?
Chẳng hạn như mình ngồi đó cứ trách cha mẹ không lo cho con mà lo cho anh hai, lo cho chị hai, lo cho người này kia không lo con, sao mình không nhớ công ơn của cha mẹ mà mình đi trách cha mẹ? Sao mình không ngồi đó nhắc hết những điều từ lúc mình nhỏ mà mình có thể nhớ được cha mẹ đã làm cho mình cái gì, mình nhớ từng cái để làm cho tâm mình sanh khởi ra những hình ảnh đó, những cảm thọ đó, những suy nghĩ đó, hết cái này tới cái kia, hết kia tới cái nọ. Mình nhớ hoài như vậy rồi mình trở thành người con hiếu thảo, được không? Mình trở thành người con biết ơn, nhớ ơn, báo ơn, cảm ơn, đền ơn, hiếu thảo nếu mình biết tu thiền biết ơn với cha mẹ, ngồi đó mình cứ nhớ rồi thậm chí mình viết ra rồi mình nói, mình ghi âm lại, mình viết ra từng cái gạch đầu dòng.
Thay vì mình hờn cha, mình trách mẹ, mình phiền vợ chồng, con cái thì sao mình không ngồi đó niệm thiền biết ơn, được không? Ngọt không? Bổ không? Hết sức là đơn giản vậy đó mà không chịu rồi khổ hoài, giận người này, buồn người kia, trách người nọ, hờn mác đủ thứ hết để cho khổ. Thay vì ngồi đó mình suy nghĩ hơn thua với vợ, chồng, con của mình, thay vì cái suy nghĩ hơn thua đó thì mình lại suy nghĩ thương xót, thương cái tâm mê này, xót thương những cảm thọ của bản ngã này, xót thương cái tâm dại khờ, con nít, trẻ thơ này, đi giành đúng, giành phải, giành phần hay, giành phần giỏi, giành phần hơn với cha mẹ, vợ chồng, con cái của mình để được cái gì. Mình giành phần hơn với huynh đệ, với thầy của mình, chị em mình để được cái gì? Tại sao mình lại sống chi cho khổ vậy? Tại sao cái tâm mình lại nhỏ hẹp vậy? Hơn thua như vậy? Bản ngã như vậy? Tại sao mình không sống với tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, khiêm hòa? Tại sao không sống với cái tâm luôn luôn cung kính, luôn luôn biết ơn, luôn luôn tha thứ, luôn luôn cảm thông, luôn luôn thấu hiểu với nhau thì nó đẹp biết bao nhiêu. nó mái ấm biết bao nhiêu, nó dạt dào biết bao nhiêu.
Tại sao vậy? Mình cứ quay vô tâm mình hỏi tại sao vậy, "tâm dại khờ quá vậy tâm, tâm trẻ thơ quá vậy tâm, tâm nhỏ bé quá vậy tâm, Sao tâm không hiểu cho nỗi khổ của mình, nỗi khổ của người vậy tâm? Khổ vậy chưa đủ sao tâm?".
Mỗi người một nỗi khổ
Mỗi loài một niềm đau
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau
Mong tất cả chúng sanh
Thấu hiểu và cảm thông
Những nỗi khổ của nhau
Đừng tạo thêm oan trái.
Đừng tạo thêm đắng cay,
Đừng tạo thêm khổ ải,
Cho kiếp người của nhau.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Trong này nó tràn ngập một tình thương, nó dào dạt một từ tâm, nó sung mãn tất cả, nó đầy ấp hết một cái tâm xót thương, tha thứ. Đẹp hay là không? Thấm đẫm hay không? Tuyệt vời hay không? Thay vì mình giận để mình thương, thay vì mình trách để mình cảm thông, thay vì mình hơn thua thì để cho mình bao dung, độ lượng, tha thứ.
Sống không giận, các con thương mến
Sống bao dung vạn vật trên đời
Sống bao dung như đất và trời
Sống rộng lượng như trời và đất.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Mình ngẩng lên bầu trời mình nhìn mình cười một mình, đất trời rộng lớn thênh thang lắm, dại gì chui vào chỗ tối tăm. Nhìn đi trời đất rộng lớn như vậy, hư không bao la như vậy, thênh thang như vậy tại sao mình lại sống với những cái suy nghĩ nhỏ hẹp này? Tại sao mình lại sống với những cái hình bóng cứ chập chờn sân si vậy? Tại sao mình không thể sống với một cái tâm bao dung, độ lượng, rộng lớn, thênh thang cùng khắp hư không giới, cả bề dọc, bề ngang, bên phải, bên trái, ở trước, ở sau, cùng khắp giống như khi mình trải từ vô lượng tâm khắp mười phương như vậy? Hạnh phúc biết bao nhiêu, rộng rãi biết bao nhiêu, đẹp đẽ biết bao nhiêu, tình thương biết bao nhiêu, chỉ trong một cái suy nghĩ của mình thôi, chỉ trong một sự hướng tâm của mình thôi mình có thể thay đổi vận mệnh, đổi đời, một cuộc đời nhỏ bé trước kia bây giờ trở thành một cuộc đời bầu trời. Mọi người có chịu không?
Một cuộc đời mà đi câu mâu, đi ghim gút thì trở thành một cuộc đời rộng mở, thương yêu. Một cuộc đời mà cứ hành tội, hành hạ, hành xác, hành khổ cho nhau trở thành một cuộc đời hành thiện, hành đạo, hành từ. Như vậy mình sống mới có ý nghĩa, sống như vậy mới có giá trị, sống vậy mới có hương vị, sống như vậy mới có hoan hỉ chứ mình sống mà mình cứ làm khổ cho mình làm khổ cho người, hại mình hại người, hành tội mình hành tội người, hành hạ mình hành hạ người, hành xác mình hành xác người rồi tới hành hình, hành sự luôn là xong, hết cuộc đời. Tại sao mình không hành thiện? Tại sao mình không hành đạo? Tại sao mình không hành từ mà mình đi hành hạ? Mình chịu cái nào? Hành từ hay là hành hạ? Hành thiện hay là hành tội? Làm cho nhau hạnh phúc an lạc hay làm khổ cho nhau?
Tự mình quyết định gọi là tự mình nương tựa chính mình không nương tựa điều gì khác, gọi là tự mình là hải đảo tự thân của mình. Không có ai bắt mình nghĩ ác hết, không có ai buộc mình phải nuôi những cảm giác sân hận đó hết, không có ai đè đầu kêu mình phải bản ngã cho bự, cho to lên, không có ai bắt hết trơn, chỉ cần mình bỏ cái bản ngã là khỏe re, ai muốn nói sao cũng được, làm nùi giẻ chùi chân khỏe quá. Đó chính là những cái hạnh phúc, những cái lợi ích, những cái giá trị, những cái cống hiến vĩ đại mà Đức Như Lai bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác hy hiến cho nhân thiên, cho nhân loại. Đây là nói cái gần nhất thôi, có một số người mới cho nên nói vừa vừa cho các vị mới hiểu, đó chính là sự hy sinh, sự cống hiến vĩ đại của Đức Phật cho chư thiên và loài người, cho muôn loài, cho nhân loại, cho thế giới, cho chúng sanh.
Sống với tứ vô lượng tâm, từ, bi, hỷ, xả, còn sống tham, sân, si, vô minh, bản ngã chi cho khổ? Sống từ, bi, hỷ, xả và cứ vậy mình càng hiểu Đức Phật mình càng tin Đức Phật, mình càng tin Đức Phật mình càng kính Đức Phật, mình càng kính Đức Phật thì mình càng nghe lời Đức Phật và mình càng nghe lời Đức Phật thì mình càng hiểu về pháp của Phật, mình càng hiểu về pháp của Phật thì mình càng thực hành, mình càng thực hành thì mình càng tiến nhanh, mình đi nhanh, mình đi mau và mình đi tới cái chỗ hoàn toàn chấm dứt khổ đau. Đó là cái trình tự tu học, mình càng ngày càng xa cái khổ, càng ngày mình càng gần tới Niết-bàn, càng gần tới một cái tâm buông xả là tâm hạnh phúc. Một cái tâm an tịnh, một cái tâm lắng dịu, một cái tâm ngọt ngào, dễ chịu, một cái tâm dào dạt tình thương, một cái tâm đầy ấp sự cảm thông.
Bất cứ lúc nào mình có thể tuôn trào dòng lệ thương đối với mọi người thậm chí là những người ta kiếm chuyện, gây sự, làm khổ cho mình, thương luôn, thương luôn đi. Họ không biết, họ vô minh cũng giống như mình đã từng vô minh, mình chấp mình làm chi cái vô minh, họ không hiểu cũng giống như mình đã từng không hiểu mà bây giờ mình bớt vô minh, bây giờ mình hiểu thì mình cảm thông, cảm thông thì mình tha thứ, tha thứ thì mình yêu thương, yêu thương thì mình buông bỏ mà buông bỏ thì cái tâm nó nhẹ, mà nhẹ thì nó khỏe, mà khỏe thì nó tươi, mà tươi thì nó trẻ, mà trẻ thì đi đến chỗ bất tử không chết nữa. Tu học ci con đường này là đi đến cảnh giới bất tử vì không có cái gì sanh hết, sanh là ngũ uẩn nó sanh chứ đâu có mình sanh đâu, rồi ngũ uẩn nó diệt chứ cái trí thánh trí không có sanh diệt.
Thánh trí đó là bất tử, ai thể nhập được thánh trí thì người đó đi vào thế giới của bất tử, còn ai sống trong ngũ uẩn, trong tứ đại, trong bản ngã này là tử tử sanh sanh, sanh sanh tử tử, chết chết sống sống, sống sống chết chết, quay quay cuồng cuồng, điên điên đảo đảo, chìm chìm đắm đắm, lặn lặn hụp hụp, trôi trôi dạt dạt, là sống ở trong cái bản ngã này, sống trong cái tham, sân, si, dục ái này, sống trong cái vô minh, cái chấp thủ và ngũ uẩn này thì người đó đắm chìm, trôi dạt, lang thang, vất vơ vất vưởng, trong máu, trong nước mắt, trong hận sầu, trong đau khổ. Còn người sống trở về với cái trí tuệ, cái thánh trí ngũ uẩn, sống trở về với cái tâm lắng dịu, cái tâm bình yên, cái tâm an tịnh, cái tâm thương rộng lớn thì người đó như đất và trời vô biên, vô tận, vô lượng, vô cùng, tâm bất động giải thoát, đi theo con đường bất tử của Thế Tôn và chúng ta thấy Thế Tôn đâu có chết đâu, chết là cái thân mấy chục kí lô thịt tứ đại ở Ấn Độ chết, còn thánh trí Thế Tôn pháp thân là bất tử.
Bát thánh đạo đâu có chết, tứ thánh đế đâu có chết, thánh trí ngũ uẩn đâu có chết, vẫn còn sống 26 thế kỷ. Bậc đạo sư nói con đường bất tử đây nè, còn đây nè, thấy chữ đây nè đó không? Nó sờ sờ trước mắt, sống trong cái trí tuệ, sống trong cái tỉnh giác, sống ở trong cái từ bi, sống ở trong cái tâm giải thoát, còn mình đi theo cái tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, đi theo cái tứ đại ngũ uẩn mấy chục kí thịt thì mình chết ráng chịu, nó chết, nó là pháp sanh diệt rồi nó chết. Mình sống với cái trí vô sanh, cái trí bất tử, cái tâm bất động giải thoát cho nên đối với Đức Thế Tôn, đối với các bậc thánh thì chết là bình thường, chết thì khỏe, cảm ơn.
Ngài Phú-lâu-na na muốn đi hoằng pháp thì Đức Phật hỏi lỡ chỗ đó họ mắng chửi ông thì sao, ngài nói dạ vậy còn hiền, bạch Thế Tôn họ chưa có đánh con, Đức Phật hỏi lỡ họ đánh ông rồi sao, họ lấy gậy đánh, họ đập ông, họ lấy đá liệng thì sao, ngài nói dạ còn hiền họ chưa có xử con, họ chưa có giết con chết, Đức Phật hỏi họ giết ông rồi sao thì ngài bạch Thế Tôn dạ con khỏe, con nhẹ, con trút bỏ cái tấm thân đầy bất tịnh, bệnh hoạn, khổ đau này, từ lâu con cũng muốn thoát rồi, con đâu có mê cái này đâu, con đâu có cho cái này là con của con đâu, con sẽ được nhẹ nhàng, giải thoát. Sau đó Đức Phật nói ngài đi đi, trong mùa an cư ba tháng ngài độ cho ba trăm vị chứng thánh quả A-la-hán.
"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Punna đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh. Sau một thời gian, Tôn giả Punna mệnh chung.
Rồi một số đông Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thiện nam tử Punna ấy, sau khi được Thế Tôn giáo giới với bài giáo giới vắn tắt đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau của vị ấy là thế nào?
-- Này các Tỳ-kheo, Thiện nam tử Punna là bậc Hiền trí. Vị ấy thực hành pháp và tùy pháp. Vị ấy không phiền nhiễu Ta với những câu hỏi về pháp. Này các Tỳ-kheo, Thiện nam tử Punna đã nhập Niết-bàn." (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Chỉ có ba tháng mà độ mấy trăm người chứng thánh quả, còn mình tu ba chục năm chỉ thấy quả A-la-hán ngoài chợ lớn, không chịu bỏ tham, sân, si, không chịu bỏ bản ngã, vô nghe pháp cũng gật gù, gật đầu rồi vỗ tay nhưng trở ra cũng sống với bản ngã nữa, cũng sống với tham, sân, si nữa. Bây giờ nhất định là phải đoạt cái quả A-la-hán thiệt của Phật chứ không phải A-la-hán ở chợ lớn. Mọi người nhất trí không? bây giờ muốn làm sao để đoạt được thì là quý vị cứ nỗ lực hành trì theo đúng cái đạo lộ thì quý vị sẽ thấy thôi, quý vị sẽ đi đến. Cái ngày Phật Đản là ngày chúng ta ôn lại sự xuất hiện của Đức Phật, sự cống hiến cho cuộc đời này của Thế Tôn và sự nhập diệt của Đức Phật cũng đem lại lợi lạc vĩ đại cho chúng sanh để chúng ta niệm Phật, nhớ Phật, hiểu Phật, thương Phật, kính Phật, đi theo con đường của Phật đi, hành theo những cái gì Đức Phật hành, tu theo cái gì Đức Phật đã tu và chúng ta sẽ đạt được những cái gì mà Đức Phật đã đạt được.
Đó là cái ý nghĩa mà chúng ta trở về để tưởng nhớ đến cái mùa Phật Đản sanh, cái ngày sự xuất hiện của Đức Phật trong cuộc đời này đem lại lợi lạc, lợi ích cho chúng ta.
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết hơn này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.
32 TƯỚNG HẢO & SỰ TỪ BỎ VĨ ĐẠI CỦA THẾ TÔN!
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí nam nữ Phật tử, hôm nay là buổi đầu tiên chúng ta vào khóa tu ba ngày nhân mùa Phật Đản, Phật lịch 2568 năm. Trong thời điểm này chúng ta tưởng nhớ lại sự xuất hiện của Đức Phật, sự hiện hữu của Thế Tôn, bậc thế gian tôn kính, bậc thế giới tôn thờ, bậc lịch sử tôn trọng. Sự xuất hiện của ngài là một sự hy hiến vĩ đại cho nhân thiên, hy sinh và phụng hiến to lớn cho cả chư thiên và loài người và cả thế giới ngày hôm nay đều công nhận Đức Phật, một bậc vĩ đại của thế giới và lấy ngày rằm tháng tư làm cái ngày tam hợp. Tam hợp là hợp lại ba cái thời điểm đản sanh, thành đạo và nhập Niết-bàn.
Như vậy chúng ta là những người đệ tử Phật chúng ta hiểu Phật như thế nào cho đúng? Có khi mình chỉ nghe người này người kia nói rồi xem trên phim mà mình chưa có nghe cái gốc, nghe trực tiếp vào trong những cái bản kinh nguyên chất, nguyên gốc, nguyên thủy để mình thấy thật sự con người Đức Phật, đời sống Đức Phật, sự hy sinh của Đức Phật và sự cống hiến vĩ đại của Đức Phật như thế nào thì hôm nay chúng ta sẽ có cái dịp điểm lại một vài cái sự kiện từ ở trong kinh tạng Nikāya để mình thấy Đức Phật lịch sử như thế nào. Trong kinh Trung Bộ sẽ trình bày cho chúng ta thấy tại sao Đức Phật được người ta tôn kính, tôn xưng, tôn thờ, tôn trọng, chúng ta nhắc lại những cái phần quan trọng ở trong cái bản kinh này.
"Một thời Thế Tôn du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỳ-kheo khoảng năm trăm vị.
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Brahmayu trú tại Mithila (Di-tát-la) già yếu, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã gần mãn cuộc đời, tuổi đã đến một trăm hai mươi, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp trì chú thuật, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Vị Bà-la-môn một trăm hai mươi tuổi này rất là nổi tiếng, rất là có tầm vóc, có vị trí ở trong giới Bà-la-môn tu sĩ thời đó, là một bậc trưởng lão, trưởng thượng.
"Bà-la-môn Brahmayu có nghe: 'Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya (Thích-ca) đang du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỳ-kheo khoảng năm trăm vị'. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: 'Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Tốt đẹp thay sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!'. (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Bà-la-môn này nghe tin đồn Sa-môn Gotama là người dòng họ Thích gọi là Thích tử xuất gia và đang du hành đi đến cái vùng của ngài đang ở. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về tôn giả Gotama ngài là bậc thế gian tôn kính, ngài là bậc diệt sạch hết tham, sân, si, tâm hoàn toàn thanh tịnh, là bậc thấy biết thấu suốt cùng tột giác ngộ cứu cánh thân tâm, đời sống này và thế giới, ngài có đầy đủ tam minh tức là ba cái loại trí tuệ biết được vô lượng vô biên kiếp đời sống quá khứ của mình gọi là sanh tử minh, biết được tất cả những cái đời sống quá khứ của chúng sanh gọi là túc mạng minh và biết được đoạn tận được tất cả các cái nguyên nhân của đau khổ, các lậu hoặc, thành tựu bốn thánh trí về ngũ uẩn, thành tựu bốn thánh trí về lậu hoặc thì gọi là minh hạnh túc. Ngài là bậc khéo vượt qua bốn dòng thác lũ của thế gian, là bậc thông hiểu tất cả các pháp thế gian, là bậc vô thượng, là bậc có thể điều phục và chế ngự những người và có trí tuệ, trung trực, chánh trực, cứng cỏi, ương ngạnh ở trong đời này gọi là điều ngự trượng phu, là thầy của trời và người, là Phật và với một cái trí tuệ thù thắng. Như vậy tự thân ngài chứng ngộ thế giới này cùng với thiên giới, phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, loài trời và loài người.
Đây là những cái lời đồn về thập hiệu, chúng ta đọc kinh chúng ta có nhớ thập hiệu không ạ? Đó là Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, đó là mười cái đức hiệu, mười cái đạo hạnh, mười cái trí tuệ, mười cái công đức mà chúng ta gọi là thập hiệu hay là mười cái hồng danh. Chữ "hồng" ở đây không phải là màu hồng mà là vĩ đại, là to lớn, hồng danh là cái tên gọi của một bậc có những cái đức hạnh to lớn, vĩ đại, gọi là hồng danh. Trước nay truyền thống mình hay có là "Hồng Danh Bửu Sám" là vậy đó, hồng danh là chỉ cho cái tên của Đức Phật, như vậy mười cái phương diện về đức hạnh, về thiền định, về trí tuệ, về công đức được lan truyền khắp tất cả vùng ngũ thiên Ấn Độ lúc đó, gọi là ngũ thiên trúc.
Vùng đất Ấn Độ lúc đó chia làm năm cái tiểu bang, như vậy tiếng đồn vang dội cùng gấp hết thì cái vị Bà-la-môn này nghe cái tin đồn như vậy muốn đi tìm đến để gặp Đức Phật. Vị Bà-la-môn này mới nói với người thanh niên đệ tử của ngài:
Lúc bấy giờ đệ tử của Bà-la-môn Brahmayu là thanh niên Uttara, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp trì chú thuật, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Rồi Bà-la-môn Brahmayu bảo thanh niên Uttara:
"-- Này Uttara thân mến, Sa-môn Gotama này là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya (Thích-ca) đang du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỳ-kheo khoảng năm trăm vị"... Tốt đẹp thay được yết kiến một vị A-la-hán như vậy. Uttara thân mến, hãy đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy tìm hiểu Sa-môn Gotama, có phải là Tôn giả Gotama như tiếng đã đồn, hay là không phải, hay là Tôn giả Gotama như thế này, hay là không phải như thế này. Chính nhờ Ông mà chúng ta sẽ biết về Tôn giả Gotama.
-- Thưa Tôn giả, làm sao tôi biết Tôn giả Gotama có phải là Tôn giả Gotama như tiếng đã đồn, hay là không phải, hay là Tôn giả Gotama như thế này, hay là không phải như thế này?
-- Này Uttara thân mến, theo Thánh điển của chúng ta được truyền lại về ba mươi hai Ðại nhân tướng, những ai có ba mươi hai tướng ấy sẽ chọn một trong hai con đường, không có con đường nào khác: nếu là tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương chinh phục mọi quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu này là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Và vị này có hơn một ngàn con trai, là những vị anh hùng, oai phong lẫm liệt, chiến thắng ngoại quân. Vị này sống thống lãnh quả đất cùng tận cho đến đại dương, và trị vì với Chánh pháp, không dùng gậy, không dùng đao. Nếu vị này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị này sẽ chứng quả A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác quét sạch mê lầm ở đời. Này Uttara thân mến, ta đã cho con chú thuật, con đã nhận những chú thuật ấy.
-- Thưa vâng, Tôn giả." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Chuyển Luân Thánh Vương tức là vị này làm vua cả trái đất mà không dùng dao, không dùng gậy, không dùng gươm, không dùng kiếm mà với cái đức độ, cái phước báu, cái công đức thì vị này sẽ làm vua của địa cầu. Nếu vị này đi xuất gia thì vị này thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nếu đi xuất gia thì sẽ được thành Phật, là giác ngộ cứu cánh cùng cực. Chỉ có hai con đường thôi, nếu tại gia sẽ thành vị Chuyển Luân Thánh Vương chinh phục mọi quốc độ đầy đủ bảy món báo, cái này là chúng ta có thời gian chúng ta đọc ở trong Trường Bộ Kinh thì mình sẽ biết công năng tác dụng của bảy báo này. Tức là vị này có phước đức đại viên mãn, vị này sẽ có được ba mươi hai tướng đại nhân rồi sau đó nếu ở đời thì vị này làm vua của cả địa cầu gọi là Chuyển Luân Thánh Vương, là thánh vương, là vua thánh, vị này sẽ có bảy món báo xuất hiện. Những cái này đều là những cái đặc biệt do cái công đức mà nó xuất hiện ra. Còn nếu vị này xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình thì vị này sẽ chứng thánh quả A-la-hán Chánh Đẳng Giác, quét sạch mê lầm ở đời.
"-- Tiếng đồn về Tôn giả Gotama là đúng như vậy, không phải khác, Tôn giả Gotama là như vậy, không phải khác. Và Tôn giả Gotama ấy có đầy đủ ba mươi hai Ðại nhân tướng. Tôn giả Gotama có lòng bàn chân bằng phẳng. Ðây là Ðại nhân tướng của Ðại nhân Tôn giả Gotama. Dưới hai bàn chân Tôn giả Gotama, có hiện ra hình bánh xe, với ngàn tăm xe, với trục xe vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Các vị này rất giỏi về nhân tướng học, xem tướng, nhìn tướng. Khi chúng ta đi qua bên Sri Lanka hay là Myanmar thì quý vị sẽ thấy người ta làm bức tượng Đức Phật dài lắm, rất là lớn và cái dưới bàn chân là làm cái bánh xe một ngàn căm, ở Việt Nam mình thì cũng có nhưng mà ít thôi, tượng nhỏ nhỏ thôi, thì đó là một trong ba mươi hai tướng hảo, là dưới lòng bàn chân có hình thiên bức luân là bánh xe một ngàn cánh, một ngàn căm.
"Tôn giả Gotama có gót chân thon dài. Tôn giả Gotama có ngón tay, ngón chân dài. Tôn giả Gotama có tay chân mềm mại. Tôn giả Gotama tay chân có màn da lưới. Tôn giả Gotama có mắt cá tròn như con sò. Tôn giả Gotama có ống chân to như con dê rừng. Tôn giả Gotama đứng thẳng, không cong lưng xuống có thể rờ đầu gối với hai bàn tay. Tôn giả Gotama có tướng mã âm tàng. Tôn giả Gotama có màu da như đồng, màu sắc như vàng. Tôn giả Gotama có da trơn mướt khiến bụi không có thể bám dính vào. Tôn giả Gotama có lông da mọc từng lỗ lông một, mỗi lỗ chân lông có một lông. Tôn giả Gotama có lông mọc xoáy tròn thẳng lên, mỗi sợi lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Chúng ta thấy người ta làm tượng Phật có những chỗ làm cái tóc của Phật màu xanh biếc và xoắn về phía bên phải, đó là căn cứ vô trong kinh này chứ không phải tự nhiên đâu.
"Tôn giả Gotama có thân hình cao thẳng. Tôn giả Gotama có bảy chỗ tròn đầy. Tôn giả Gotama có nửa thân trước như thân con sư tử. Tôn giả Gotama không có lõm khuyết xuống giữa hai vai. Tôn giả Gotama có thân thể cân đối như cây bàng. Bề cao thân ngang bằng bề dài hai tay sải rộng, bề dài hai tay sải rộng ngang bằng bề cao của thân. Tôn giả Gotama có bán thân trên vuông tròn. Tôn giả Gotama có vị giác hết sức sắc bén. Tôn giả Gotama có quai hàm như con sư tử. Tôn giả Gotama có bốn mươi răng. Tôn giả Gotama có răng đều đặn. Tôn giả Gotama có răng không khuyết hở. Tôn giả Gotama có răng cửa trơn láng. Tôn giả Gotama có tướng lưỡi rộng dài. Tôn giả Gotama có giọng nói tuyệt diệu như tiếng chim ca-lăng- tần-già (karavika). Tôn giả Gotama có hai mắt màu xanh đậm. Tôn giả Gotama có lông mi con bò cái. Tôn giả Gotama, giữa hai lông mày, có sợi lông trắng mọc lên mịn màng như bông nhẹ. Tôn giả Gotama có nhục kế trên đầu. Ðây là Ðại nhân tướng của Ðại nhân Tôn giả Gotama." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Người ta thường gọi là tướng bạch hào vì có cọng lông trắng giữa hai hàng lông mày. Nhục kế là búi thịt nổi trên đỉnh đầu.
"Khi Tôn giả Gotama đi, Ngài bước chân mặt trước, không đặt chân xuống quá xa, không rút chân lên quá gần, không bước quá mau, không bước quá chậm, khi đi đầu gối không va chạm đầu gối, khi đi mắt cá không va chạm mắt cá; Ngài đi không co bắp vế lên, không duỗi bắp vế xuống, không đưa bắp vế vào trong, không đưa bắp vế ra ngoài. Khi đi Tôn giả Gotama chỉ di động phần thân ở dưới, và không dùng toàn thân lực. Khi ngó quanh, Tôn giả Gotama ngó quanh với toàn thân. Khi đi không có ngưỡng mặt lên, không cúi mặt xuống, không có ngó quanh, và chỉ ngó xuống khoảng một tầm (yugamattam, bề dài một cái cày). Xa hơn, tri kiến được mở rộng (anavatam: không bị che đậy)." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Khi ngài nhìn cái gì là ngài quay hết toàn thân người chứ không có quay cái cổ không, đó là cái uy nghi, cái oai nghi của ngài.
"Khi đi vào nhà, (Tôn giả Gotama) không ngửa thân về phía sau, không cúi thân về phía trước, không đưa thân về phía trong, không đưa thân về phía ngoài; vị ấy quay lưng không quá xa ghế ngồi, không quá gần ghế ngồi; ngồi trên ghế, không nắm chặt thành ghế, không gieo thân ngồi xuống ghế.
Khi ngồi trong nhà. Ngài không rung tay, không rung chân, không ngồi tréo đầu gối với nhau, tréo mắt cá với nhau, không ngồi tay chống cằm. Khi ngồi trong nhà, không có sợ hãi, không có run rẩy, không có dao động, không có hoảng hốt. Như vậy Tôn giả Gotama ngồi, không sợ hãi, không run sợ, không dao động, không hoảng hốt, lông tóc không dựng ngược, Thiền tịnh độc cư.
Khi nhận nước để rửa bát, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận nước không quá ít, không quá nhiều. Ngài rửa bát, không sanh tiếng động, rửa bát không xoay tròn bình bát, không đặt bình bát xuống đất rồi rửa tay, khi hai tay rửa xong, bát cũng rửa xong, khi bát rửa xong, tay cũng rửa xong. Ngài đổ nước bình bát không quá xa, không quá gần, và không vẩy nước cùng khắp.
Khi Ngài nhận cơm, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận cơm không quá ít, không quá nhiều. Ngài ăn đồ ăn vừa phải (với cơm), không có bỏ miếng cơm, chỉ lựa miếng thức ăn. Tôn giả Gotama đưa miếng cơm quanh miệng hai ba lần rồi mới nuốt, không hột cơm nào được vào trong thân không bị nghiến nát, và không một hột cơm nào còn lại trong miệng trước khi ăn miếng cơm khác. Tôn giả Gotama không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ ăn, không thưởng thức lòng tham vị. Tôn giả Gotama ăn đồ ăn có đầy đủ tám đức tánh, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: 'Như vậy, Ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và Ta sẽ không lỗi lầm, sống được an ổn'." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Cái âm thanh của ngài có tám đức, cái lời nó nói khi ngài nói ra lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động.
"Ði đến tu viện, Ngài thuyết pháp cho hội chúng, không tán dương hội chúng ấy, không chỉ trích hội chúng ấy, trái lại với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ. Tiếng nói thoát ra từ miệng Tôn giả Gotama có tám đức tánh; lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động. Khi Tôn giả Gotama giải thích cho hội chúng với tiếng nói của mình, tiếng nói không vượt ra khỏi hội chúng. Hội chúng sau khi được Tôn giả Gotama khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho thích thú, làm cho hoan hỉ, từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi vẫn quay nhìn lại, không muốn rời bỏ." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Như vậy chúng ta chỉ trích một vài phần để mình thấy, nãy giờ đó là chúng ta trình bày ở phía trên là ba mươi hai tướng hảo và vị thanh niên Bà-la-môn này bám sát theo Thế Tôn trong bảy tháng như bóng không bao giờ rời hình.
"Rồi thanh niên Uttara suy nghĩ: 'Sa-môn Gotama có đầy đủ ba mươi hai Ðại nhân tướng. Vậy ta hãy theo sát Sa-môn Gotama để dò xem các uy nghi (của Ngài)'. Rồi thanh niên Uttara trong bảy tháng theo sát Thế Tôn như bóng không bao giờ rời hình." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Ông Bà-la-môn trẻ được ông Bà-la-môn lớn tuổi phái đến để theo dõi coi có thật vậy không, tiếng đồn như vậy có phải vậy không, có đức hạnh như vậy không, có thiền định như vậy không, có trí tuệ như vậy không, có đạo hạnh đúng vậy không thì cái vị này vâng lệnh của đại bậc đại trưởng thượng bám sát theo Thế Tôn như bóng không bao giờ rời hình suốt bảy tháng trời. Vị này nhìn thấy hết ba mươi hai tướng hảo mà có hai tướng không nhìn thấy, tức là cái lưỡi và mã âm tàng, mã âm tàng đây là cái cơ quan sinh dục của người nam mà cái tướng của Phật là rất là đặc biệt là giống như bộ phận sinh dục của ngựa gọi là mã âm tàng. Bình thường là nó ẩn, khi cần sử dụng nó mới hiển lộ thành ra là cái vị này mới nghi ngờ không biết bây giờ ba chục tướng hảo mình thấy rồi, còn hai tướng kia mình chưa thấy thì bây giờ làm sao.
Đức Thế Tôn dùng thần thông biết cái tâm ý của cái vị này nên ngài dùng thần thông cho vị này thấy hai cái tướng hảo đó và vị này tâm phục khẩu phục và đi về báo lại cho vị trưởng thượng là Đức Thế Tôn đức hạnh như vậy, trí tuệ như vậy, tướng hảo như vậy, ngài hãy nên đi đến thăm viếng Đức Thế Tôn đi. Sau đó vị này đi đến thăm viếng Đức Phật và tán thán Đức Phật:
"Tôn giả Gotama!
Ba hai Ðại nhân tướng,
Con được nghe nói đến,
Hai tướng con không thấy
Trên thân của Tôn giả,
Tôn giả, mã âm tàng,
Bậc tối thượng loài Người,
Ngài có hay không có?
Hay là tướng nữ nhân?
Hay lưỡi Ngài quá ngắn?
Hay lưỡi Ngài rộng dài?
Ðể con như thật biết.
Hãy đưa lưỡi Ngài ra,
Mong bậc Ðại Tiên Nhân,
Trừ nghi cho chúng con,
Vì an lạc hiện tại,
Vì hạnh phúc tương lai,
Chúng con xin được phép,
Hỏi điều muốn được biết." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Ông già này tới cũng nhìn thấy ba chục tướng rồi, còn hai tướng kia chưa nhìn được nên mong muốn được thấy để thỏa mãn là đúng ba mươi hai tướng bởi vì thánh điển của Bà-la-môn này nói rồi người có đủ ba mươi hai tướng thì chỉ có hai con đường thôi, một là Chuyển Luân Thánh Vương, hai là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cho nên bây giờ Đức Thế Tôn dùng thần thông lực cho các vị này thấy được đầy đủ ba mươi hai tướng hảo thì vị này tâm phục khẩu phục thì Bà-la-môn này mới xưng tán Đức Phật.
"Rồi Thế Tôn trả lời Bà-la-môn Brahmayu với bài kệ:
Ba hai Ðại nhân tướng,
Ông đã được nghe đến,
Ðều có trên thân Ta,
Hiền giả, chớ có nghi!
Ðiều cần biết, đã biết,
Ðiều cần tu, đã tu,
Ðiều cần trừ, đã trừ,
Do vậy, Ta là Phật.
(Này Bà-la-môn!)
Vì an lạc hiện tại,
Vì hạnh phúc tương lai,
Ông được phép vấn hỏi,
Những điều Ông muốn biết." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Khi vị này hỏi xong thì Đức Thế Tôn thuyết pháp cho vị này, sau đó vị này xưng tán Đức Phật, hỏi rồi Đức Phật trả lời.
"Ai biết được đời trước,
Thấy thiện thú, ác thú,
Ðoạn tận được tái sanh,
Thắng trí được viên thành,
Vị ấy gọi Mâu-ni.
Ai biết tâm thanh tịnh,
Giải thoát gọi tham dục,
Sanh tử đều đoạn tận,
Phạm hạnh được viên thành,
Thông đạt nhứt thiết pháp,
Vị ấy xưng Phật-đà." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Ở trong bài kinh này rất là dài, con chỉ tóm gọn cái ý cho chúng ta thôi, chúng ta về đọc thêm.
"Khi được nghe vậy, Bà-la-môn Brahmayu từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu xuống dưới chân Thế Tôn, dùng miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, lấy tay rờ xung quanh và tự xưng danh:
-- Thưa Tôn giả Gotama, con là Bà-la-môn Brahmayu.
Và hội chúng ấy tâm tư trở thành kinh dị, vi diệu: 'Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay, đại uy lực, đại thần lực của vị Sa-môn đã khiến cho Bà-la-môn Brahmayu này, với danh tiếng, danh vọng như vậy, lại hạ mình tối đa như vậy'. Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Brahmayu:
-- Thôi vừa rồi, Bà-la-môn, hãy đứng dậy. Ông hãy ngồi trên ghế của Ông vì tâm của Ông đã hoan hỉ đối với Ta.
Sau khi Bà-la-môn này đứng dậy Thế Tôn liền thứ tự thuyết pháp.
"Rồi Bà-la-môn Brahmayu, sau khi đứng dậy, liền ngồi trên ghế của mình. Rồi Thế Tôn thứ lớp thuyết pháp cho Bà-la-môn Brahmayu, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi Trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn Brahmayu đã sẵn sàng, đã nhu thuận, không còn chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa các vết đen, sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính tại chỗ ngồi này, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Brahmayu: 'Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt'. Bà-la-môn Brahmayu thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tin, không y cứ nơi người khác đối với đạo pháp của đức Bổn sư. Bà-la-môn Brahmayu liền bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng! Mong Tôn giả Gotama ngày mai nhận lời mời của con đến dùng cơm với chúng Tỳ-kheo!" (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Vị Bà-la-môn này ngay tại chỗ Đức Phật thuyết pháp nhập dự lưu thánh quả là chứng được Tu-đà-hoàn, mở được con mắt pháp, giống như người mù vô lượng kiếp bây giờ được sáng mắt ra nhìn thấy được ngũ uẩn, thấy được khổ, thấy được những nguyên nhân của khổ. Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt là thấy được sự sanh diệt, thành tựu được cái trí sanh diệt đối với thân tâm, vạn vật thế giới. Bà-la-môn thấy pháp tức là thấy sự thật, chứng pháp là chứng được sự thật, ngộ pháp là hiểu ra sự thật, thể nhập vào pháp là đi vào ở trong sự thật, nghi ngờ tiêu tan, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người khác đối với đạo pháp của đức bổn sư. Tức là vị Bà-la-môn một trăm hai mươi tuổi này nhập lưu thánh quả bất thối chuyển, đi đến Chánh Giác và sau đó vị Bà-la-môn này cải đạo và xin làm đệ tử của Đức Phật.
"Mong Tôn giả Gotama ngày mai nhận lời mời của con đến dùng cơm với chúng Tỳ-kheo!
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Bà-la-môn Brahmayu khi được biết Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Bà-la-môn Brahmayu sau khi đêm ấy đã mãn, sau khi đã sửa soạn tại trú xá của mình các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, liền báo thì giờ cho Thế Tôn: 'Tôn giả Gotama, nay đã đến giờ, cơm đã sẵn sàng'. Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, lấy y bát, đi đến trú xá của Bà-la-môn Brahmayu, sau khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn với chúng Tỳ-kheo. Bà-la-môn Brahmayu tự tay làm cho chúng Tỳ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, thỏa mãn bằng những món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.
Rồi Thế Tôn sau bảy ngày liền khởi sự du hành ở Videha. Sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, Bà-la-môn Brahmayu mệnh chung. Một số đông Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Bà-la-môn Brahmayu đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì, tương lai tái sanh thế nào?
-- Này các Tỳ-kheo, Bà-la-môn Brahmayu là bậc hiền triết. Vị ấy theo Pháp đúng với Chánh pháp, không có phiền nhiễu Ta với những kiện cáo về Chánh pháp (Dhammadhikaranam). Này các Tỳ-kheo, Bà-la-môn Brahmayu sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ chỗ ấy nhập Niết-bàn, không có trở lui đời này nữa.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)
Vị Bà-la-môn này mới chứng sơ quả thì bảy ngày sau thành tựu bất lai và sanh lên Tịnh Cư Thiên là chỗ chú xứ của thánh đệ tử thiên, từ đó nhập Niết-bàn, không trở lại cõi đời này nữa. Như vậy là vừa rồi con điểm sơ một bản kinh để chúng ta thấy được những cái điều gì? Nhân cái ngày lễ Phật Đản chúng ta chiêm nghiệm ba cái sự kiện đản sanh, thành đạo và nhập Niết-bàn, vấn đề ở đây ngài là thái tử là đầy đủ hết tất cả những cái gì người ta khó có, hiếm có, ít có, hy hữu chứ không phải là một người bình thường, không phải một thái tử bình thường mà là ba mươi hai đại nhân tướng, cái đó mới là cái tối thượng nữa chứ không phải một thái tử bình thường nữa. Ba mươi hai tướng hảo này nếu mình ở thế gian không có đi xuất gia thì thống lãnh cả quả đất, vua của cả địa cầu, cái này là chúng ta nằm chiêm bao cũng không có nữa, mình giờ mới được chút thôi cũng vỗ ngực xưng tên rồi chứ đừng nói chi được tới cái mức độ như vậy là cái phước trí đại viên mãn.
Cho nên Thế Tôn nói trong kinh sự xuất hiện của một người là sự xuất hiện của mắt lớn, của đại quang, của đại minh, là sự xuất hiện của đại trí tuệ, là sự xuất hiện mà độc nhất vô nhị, có một không hai, duy nhất, không ai ngang bằng, không ai sánh bằng, không ai ngang tầm, không ai đặt ngang hàng, không ai so sánh được, có người duy nhất là Đức Như Lai bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người thì chúng ta mới thấy những cái lời nói đó là lời nói sự thật. Từ đó giờ mình từ hồi sanh ra tới giờ có gặp ai được ba mươi hai tướng hảo chưa ạ? Như vậy thì trăm năm, ngàn năm, vạn năm nhiều lần trăm kiếp, ngàn kiếp, trăm ngàn kiếp trái đất thành hoại mới có một bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện mà trong ngày này mình có thấy mình vinh hạnh không? Vinh dự không? Có thấy vinh quang vì được làm đệ tử của Đức Phật không?
"Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân.
Sự xuất hiện của một người, này các Tỳ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang, là sự xuất hiện của đại minh, là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ bốn vô ngại giải, là sự thông đạt của nhiều giới, là sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ của minh và giải thoát, là sự chứng ngộ quả Dự Lưu, là sự chứng ngộ quả Nhất Lai, là sự chứng ngộ quả Bất Lai, là chứng ngộ quả A-la-hán. Của một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỳ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang... là sự chứng ngộ quả A-la-hán". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, Như Lai)
Chỉ riêng địa vị của ngài thôi là mình cũng thấy tối thượng rồi, cộng với cái tướng hảo của ngài thôi là vô thượng rồi chưa nói tới cái vụ xuất gia thành đạo, chỉ là Chuyển Luân Thánh Vương thôi là không thể ai có thể so sánh được rồi. Như vậy mà ta quăng bỏ ngai vàng như là đôi dép rách, cái chỗ này là cái chỗ mình mới tôn kính Đức Phật, nhiều khi mình học lại cuộc đời của ngài, mình chiêm nghiệm lại đức hạnh của ngài, mình hoài niệm lại những gì mà Đức Thế Tôn đã kinh qua, đã trải qua, đã đi qua mình thấy mình hổ thẹn lắm. Mình làm con của ngài, mình chưa có giống được bao nhiêu hết, như vậy mà ngài vứt bỏ hết, quăng bỏ hết, liệng bỏ hết, giục bỏ hết. Ngài ra đi trong nước mắt của phụ vương, trong nước mắt của bà Maha Ba-xà-ba-đề, Da-du-đà-la, La-hầu-la, một sự từ bỏ vĩ đại, một sự từ bỏ tối thượng, một sự từ bỏ hoàn toàn những cái mà người ta ước ao còn chưa được, mộng mơ còn chưa thấy vậy mà ngài từ bỏ.
Mình bây giờ dám từ bỏ ba ngày lại đây tu thì cũng là quý rồi đó, có thấy chưa? Vì nhiều khi hỏi sao không lại tu tập thì nói bận lắm, con mắc đi kiếm, con mắc đi tìm nhưng mà tìm cái gì, có cái gì đâu để mà tìm, thật sự là không có ý nghĩa gì bao nhiêu. Do mình nghĩ nó quan trọng chứ thật sự mình làm từ nhỏ cho tới giờ thì chừng nào xong? Tới bao giờ đủ? Tới bao giờ là hoàn tất? Không có, cho nên trong thời điểm Phật Đản này là những cái cơ hội rất tốt, rất quý, rất hy hữu hiếm có để chúng ta ôn những lời kinh rồi nhắc lại cuộc đời Đức Phật, nhắc lại cái đức hạnh của Phật, cái trí tuệ của Phật, cái công đức của Phật, cái tâm từ của Phật, cái việc làm của Đức Phật, sự từ bỏ vĩ đại của Thế Tôn để chúng ta làm cho mình phát khởi lên lòng tin, lớn mạnh thêm cái tín tâm, cái tính giải, cái sự hiểu của mình thêm về Đức Phật trên con đường, cái đạo lộ tinh tấn, nỗ lực tiến lên của mình trong cái ý nghĩa giá trị thật sự của đời sống này là cái gì.
Thế Tôn từ bỏ ba mươi hai tướng hảo của mình như vậy và sống cuộc đời của một người ăn xin. Quý vị đọc kinh đi rồi quý vị sẽ thấy ngài đi ăn xin bị người ta hủy nhục "làm gì lại đây xin hoài vậy? Sa-môn Gotama này tham lam quá", có hôm bị ác ma phá nên nhịn đói bưng cái bình bát không, những khi mất mùa, hạn hán, dịch bệnh thì Thế Tôn phải dùng những cái thức ăn của gia cầm, gia súc hàng tháng trời, hàng mấy tháng trời trong cả một cái mùa an cư rồi chịu đựng nắng táp mưa xa, gió bão trong rừng. Chúng ta đọc trong kinh sẽ thấy cái sự chịu đựng, kham nhẫn của Đức Phật, còn giờ nhiều khi mình ngồi tụng kinh, ngồi nghe pháp, ngồi thiền thấy mỏi một chút là than mệt, chịu đựng không nổi thì quý vị nghĩ Đức Thế Tôn như thế nào? Ngài không ăn, có khi bảy ngày mới ăn, có khi nửa tháng ngài mới ăn lúc tu khổ hạnh, thậm chí là ăn phân bò, thậm chí là ăn cái phân của chính mình luôn lúc ngài tu cái khổ hạnh.
"Này Sariputta, rồi Ta bò bốn chân đến các chuồng bò, khi các con bò cái đã bỏ đi, khi các người chăn bò không có mặt, rồi Ta ăn phân các con bò con, các con bò còn trẻ, các con bò còn bú. Khi nước tiểu và phân của Ta còn tồn tại, Ta tự nuôi sống với các loại ấy. Này Sariputta, như vậy là hạnh đại bất tịnh thực của Ta.
Này Sariputta, Ta nằm ngủ trong bãi tha ma, dựa trên một bộ xương. Này Sariputta, những đứa mục đồng đến gần Ta, khạc nhổ trên Ta, tiểu tiện trên Ta, rắc bụi trên Ta và lấy que đâm vào lỗ tai. Này Sariputta, và Ta biết Ta không khởi ác tâm đối với chúng. Này Sariputta, như vậy là hạnh trú xả của Ta." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)
Khủng khiếp lắm, ăn chính cái phân của mình luôn, uống là cái nước tiểu của chính mình và bị mấy đứa trẻ mục đồng tiểu lên trên mặt, tiểu lên lỗ tai rồi nó lấy mấy cái cây nhọn đâm vô lỗ tai của ngài mà ngài không có khởi tâm sân hận, không có khởi một cái ý niệm tức giận, sân hận mà chỉ là thương cho chúng sanh. Ngài đã tu tập chín mươi mốt kiếp về cái tâm đại từ, đại bi, cái tâm từ của ngài đã trở thành căn cứ địa, thuần thục viên mãn, thành thành quách, thành cỗ xe, thành căn cứ địa, cái tâm từ của ngài bất động. Bao nhiêu những cái đức hạnh, những cái trí tuệ như vậy để ngày hôm nay chúng ta có được một Đạo Phật, có được một cái đạo lộ, có được một con đường, một phương pháp, một cách thức sống.
Bây giờ con nói cái hết sức là đơn giản về năm giới hạnh thôi thì Đức Phật đã cứu cho chúng sanh biết bao nhiêu là khổ, lấy biết bao nhiêu dòng nước mắt để chúng sanh khỏi phải tuôn tràn ra. Bây giờ chỉ cần mình biết từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh, tà dâm, từ bỏ nói dối, đâm thọc, nói lời ác độc, thêu dệt, từ bỏ sa, xưa nghiện ngập, sống đời tỉnh thức chánh niệm, sống với tình thương, sống với sự tôn trọng tài sản của mình và của người, tôn trọng tình cảm, sự thủy chung của bản thân mình và của bản thân người khác, tôn trọng sự thật không có nói dối, chúng ta thấy chỉ cần năm cái giới khi mình mới bước vào đạo mà mình giữ cái đó là suốt cuộc đời đã đem lại bình an, đem lại hạnh phúc, đem lại an ổn, lấy biết bao nhiêu đau khổ bớt đi cho chúng sanh, đem lại bao nhiêu sự bình an cho nhân loại, đem lại bao nhiêu những sự an toàn, an lành, an yên, an ổn, an tịnh, an vui cho chúng sanh chỉ trong năm giới đó.
Cả một cuộc đời mà có khi năm giới đó mình làm chưa có tròn cho nên không phải là chỉ vô thọ tam quy ngũ giới rồi được truyền giới thì nói "dạ con giữ được" là xong, về im ru mà khi về mình phải tụng giới, phải nhắc giới, phải học giới, phải ôn giới và phải tác ý trong tâm của mình. Ngoài ra còn tám giới là Đức Phật thêm những cái giới dần dần đến sự ly tham rồi tới mười giới của Sa-di cho đến các giới của các vị xuất gia, càng ngày đời sống càng thanh cao, càng đơn giản, càng ít muốn, càng ly tham. Tại sao tại vì chúng sanh đau khổ? Là do bị hệ lụy, bị trói cột, bị đắm chìm ở trong những cái vật chất và nghĩ rằng cái vật chất là cái đem lại hạnh phúc cho mình, nó quyết định hết tất cả nhưng mà chúng ta đi tìm hạnh phúc lộn địa chỉ.
Tiền thật nhiều chưa hẳn là hạnh phúc, có khi nó lại là tai họa, nó để cho con người ta đi vào trong sự sa đọa ở trong dục lạc, sắc đẹp cũng vậy, nó đưa người ta đi vào những cái sa đọa, say đắm. Chính vì vậy Đức Phật mới từ bỏ, mới thoát ra, mới sống đời sống thanh cao, cao thượng, thánh thiện vậy mà bây giờ chúng ta lại chạy đi tìm những cái sắc; thanh; hương; vị; xúc đó, lấy đó làm mục tiêu của cuộc đời, lấy đó làm đích đến, lấy đó làm sự nghiệp, tưởng đâu nó là quyết định hết tất cả hạnh phúc của cuộc đời. Bây giờ chúng ta nhìn thấy những người giàu nhất Sài Gòn, giàu nhất nước Việt Nam, giàu nhất trên thế giới này những người đó có đủ không? Có thật sự là họ thỏa mãn với cái giàu đó chưa hay còn muốn thêm nữa không? Đó là bất toại nguyện, là cái cảm giác thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái, người ta khổ không phải chỉ vì cái vật chất ở bên ngoài mà vì cái cảm giác thiếu thốn, không thỏa mãn, không đầy đủ ở bên trong, vì cái cảm xúc nô lệ cho tham dục, tham ái, vì cái cảm xúc thiếu thốn, đòi hỏi, thèm khát, khát khao, khát ái. Cái này mới là cái mấu chốt của vấn đề, mới là cái cốt lõi của vấn đề, cho nên Đức Phật dạy chúng ta giáo pháp ly tham.
Chẳng hạn như hồi xưa mình ăn con này, con kia, con nọ, món này, món kia, món nọ mình mới thích, bây giờ mình lìa bỏ những món đó, mình ăn thanh đạm, ăn đơn giản, đơn sơ mà mình vui, mình hoan hỉ. Ăn chay được có vui không? Lên núi ở có vui không? Ngồi thiền được có vui không? Đi chùa tu được có vui không? Đó là những cái vui thanh cao, cao thượng, thánh thiện, mình tập lần lần, hồi xưa mình vui với cái đục bây giờ mình vui với cái trong, chịu không? Hồi xưa mình vui với cái dơ bây giờ mình vui với cái sạch, hồi xưa mình vui với cái nhiễm bây giờ mình vui với cái tịnh, hồi xưa mình vui với cái ồn ào, cái nhạc sập xình bây giờ mình vui cái ngồi im trải hỷ vô lượng tâm. Mình ngồi đâu có cần tốn tiền tốn bạc, đâu cần đi kiếm ai lại đánh bài tứ sắc hay là đi du lịch, chỉ cần ngồi im ru tác ý thôi, hoan hỉ với cái sự ngồi yên này, hạnh phúc với cái sự ngồi yên này, hài lòng với cái sự thiền định này, hân quan với cái sự tĩnh lặng này và bình an với sự thoát ra, ly tham, từ bỏ những cái sự rộn ràng, lăng xăng, dao động, tất bật, rối loạn, động loạn, đầy rẫy những cái ham muốn, những cái thèm khát, những cái giành giật, những cái đố kỵ, những cái hơn thua, những cái ganh đua của cuộc đời này.
Mình thoát ra và mình ngồi ở trong chùa Bửu Liên bình an, mình thở vô thở ra, mình ngắm lên thánh tượng của Đức Phật khỏe quá, an bình, đại bình an. Tìm vui ở đâu? Tìm vui trong mấy cái chầu nhậu hả? Tìm vui ở trong mấy chiếc xe đua với nhau phải không? Tìm vui ở trong xì ke, ma túy hay sao? Những cái đó là khổ, là bệnh, là sầu, bi, khổ, ưu, não, là bất an, là tai họa, còn đức Phật dạy cho mình cái vui thanh cao, thanh thoát, cao thượng, thánh thiện, một cái vui mà càng vui thì mình càng khỏe, càng vui thì mình càng yên, càng vui thì mình càng tĩnh, càng vui thì trí mình càng sáng, càng vui thì cái tâm mình càng hiểu, càng thương, càng bao dung, độ lượng, rộng lớn, hy sinh, vị tha, vô ngã, đại từ đại bi. Mọi người chịu cái vui này không? Mình phải khéo thấy được cái điều đó, mình hạnh phúc với cái việc ngồi thiền, mình hoan hỉ với việc nghe pháp.
"Như hồ nước sâu thẳm,
Trong sáng, không khuấy đục,
Cũng vậy, nghe chánh pháp,
Người trí hưởng tịnh lạc"
(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 82)
Tịnh lạc là cái niềm vui của một cái tâm yên, niềm vui của một cái thân an, niềm vui của một cảm thọ nhẹ nhàng, một nội tâm tĩnh lặng. Cái vui này là cái vui của trường thọ, cái vui của khỏe mạnh, cái vui của nhẹ nhàng, cái vui của thoát ra, cái vui của rời xa, cái vui của trí tuệ, cái vui của hỷ xả đối với tất cả. Bây giờ vì mình nhớ cái người làm cho mình giận thì mình nhớ cái công đức của Phật, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả thì cái nào khỏe hơn? Nhớ người giận khỏe hay là nhớ cái tâm từ khỏe? Vậy mà nhớ người giận chi vậy? Đó là tự mình làm cho mình khổ, thay vì đem cả cái tâm mình nhớ cái người làm cho mình giận thì tại sao mình không đem cái tâm của mình tội nghiệp, thương cái người mình giận? Cái nào khỏe hơn? Từ khỏe hơn cho nên cái mặt tươi rói, mỗi ở đây là một đó hoa, mỗi một gương mặt ở đây là một đóa sen, mỗi đôi môi ở đây là một cánh sen dâng lên cúng Phật mùa Phật Đản. Nhiều khi mình nghĩ tu hay lắm mà sao người ta không tu?
Chẳng hạn như mình ngồi đó cứ trách cha mẹ không lo cho con mà lo cho anh hai, lo cho chị hai, lo cho người này kia không lo con, sao mình không nhớ công ơn của cha mẹ mà mình đi trách cha mẹ? Sao mình không ngồi đó nhắc hết những điều từ lúc mình nhỏ mà mình có thể nhớ được cha mẹ đã làm cho mình cái gì, mình nhớ từng cái để làm cho tâm mình sanh khởi ra những hình ảnh đó, những cảm thọ đó, những suy nghĩ đó, hết cái này tới cái kia, hết kia tới cái nọ. Mình nhớ hoài như vậy rồi mình trở thành người con hiếu thảo, được không? Mình trở thành người con biết ơn, nhớ ơn, báo ơn, cảm ơn, đền ơn, hiếu thảo nếu mình biết tu thiền biết ơn với cha mẹ, ngồi đó mình cứ nhớ rồi thậm chí mình viết ra rồi mình nói, mình ghi âm lại, mình viết ra từng cái gạch đầu dòng.
Thay vì mình hờn cha, mình trách mẹ, mình phiền vợ chồng, con cái thì sao mình không ngồi đó niệm thiền biết ơn, được không? Ngọt không? Bổ không? Hết sức là đơn giản vậy đó mà không chịu rồi khổ hoài, giận người này, buồn người kia, trách người nọ, hờn mác đủ thứ hết để cho khổ. Thay vì ngồi đó mình suy nghĩ hơn thua với vợ, chồng, con của mình, thay vì cái suy nghĩ hơn thua đó thì mình lại suy nghĩ thương xót, thương cái tâm mê này, xót thương những cảm thọ của bản ngã này, xót thương cái tâm dại khờ, con nít, trẻ thơ này, đi giành đúng, giành phải, giành phần hay, giành phần giỏi, giành phần hơn với cha mẹ, vợ chồng, con cái của mình để được cái gì. Mình giành phần hơn với huynh đệ, với thầy của mình, chị em mình để được cái gì? Tại sao mình lại sống chi cho khổ vậy? Tại sao cái tâm mình lại nhỏ hẹp vậy? Hơn thua như vậy? Bản ngã như vậy? Tại sao mình không sống với tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, khiêm hòa? Tại sao không sống với cái tâm luôn luôn cung kính, luôn luôn biết ơn, luôn luôn tha thứ, luôn luôn cảm thông, luôn luôn thấu hiểu với nhau thì nó đẹp biết bao nhiêu. nó mái ấm biết bao nhiêu, nó dạt dào biết bao nhiêu.
Tại sao vậy? Mình cứ quay vô tâm mình hỏi tại sao vậy, "tâm dại khờ quá vậy tâm, tâm trẻ thơ quá vậy tâm, tâm nhỏ bé quá vậy tâm, Sao tâm không hiểu cho nỗi khổ của mình, nỗi khổ của người vậy tâm? Khổ vậy chưa đủ sao tâm?".
Mỗi người một nỗi khổ
Mỗi loài một niềm đau
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau
Mong tất cả chúng sanh
Thấu hiểu và cảm thông
Những nỗi khổ của nhau
Đừng tạo thêm oan trái.
Đừng tạo thêm đắng cay,
Đừng tạo thêm khổ ải,
Cho kiếp người của nhau.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Trong này nó tràn ngập một tình thương, nó dào dạt một từ tâm, nó sung mãn tất cả, nó đầy ấp hết một cái tâm xót thương, tha thứ. Đẹp hay là không? Thấm đẫm hay không? Tuyệt vời hay không? Thay vì mình giận để mình thương, thay vì mình trách để mình cảm thông, thay vì mình hơn thua thì để cho mình bao dung, độ lượng, tha thứ.
Sống không giận, các con thương mến
Sống bao dung vạn vật trên đời
Sống bao dung như đất và trời
Sống rộng lượng như trời và đất.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Mình ngẩng lên bầu trời mình nhìn mình cười một mình, đất trời rộng lớn thênh thang lắm, dại gì chui vào chỗ tối tăm. Nhìn đi trời đất rộng lớn như vậy, hư không bao la như vậy, thênh thang như vậy tại sao mình lại sống với những cái suy nghĩ nhỏ hẹp này? Tại sao mình lại sống với những cái hình bóng cứ chập chờn sân si vậy? Tại sao mình không thể sống với một cái tâm bao dung, độ lượng, rộng lớn, thênh thang cùng khắp hư không giới, cả bề dọc, bề ngang, bên phải, bên trái, ở trước, ở sau, cùng khắp giống như khi mình trải từ vô lượng tâm khắp mười phương như vậy? Hạnh phúc biết bao nhiêu, rộng rãi biết bao nhiêu, đẹp đẽ biết bao nhiêu, tình thương biết bao nhiêu, chỉ trong một cái suy nghĩ của mình thôi, chỉ trong một sự hướng tâm của mình thôi mình có thể thay đổi vận mệnh, đổi đời, một cuộc đời nhỏ bé trước kia bây giờ trở thành một cuộc đời bầu trời. Mọi người có chịu không?
Một cuộc đời mà đi câu mâu, đi ghim gút thì trở thành một cuộc đời rộng mở, thương yêu. Một cuộc đời mà cứ hành tội, hành hạ, hành xác, hành khổ cho nhau trở thành một cuộc đời hành thiện, hành đạo, hành từ. Như vậy mình sống mới có ý nghĩa, sống như vậy mới có giá trị, sống vậy mới có hương vị, sống như vậy mới có hoan hỉ chứ mình sống mà mình cứ làm khổ cho mình làm khổ cho người, hại mình hại người, hành tội mình hành tội người, hành hạ mình hành hạ người, hành xác mình hành xác người rồi tới hành hình, hành sự luôn là xong, hết cuộc đời. Tại sao mình không hành thiện? Tại sao mình không hành đạo? Tại sao mình không hành từ mà mình đi hành hạ? Mình chịu cái nào? Hành từ hay là hành hạ? Hành thiện hay là hành tội? Làm cho nhau hạnh phúc an lạc hay làm khổ cho nhau?
Tự mình quyết định gọi là tự mình nương tựa chính mình không nương tựa điều gì khác, gọi là tự mình là hải đảo tự thân của mình. Không có ai bắt mình nghĩ ác hết, không có ai buộc mình phải nuôi những cảm giác sân hận đó hết, không có ai đè đầu kêu mình phải bản ngã cho bự, cho to lên, không có ai bắt hết trơn, chỉ cần mình bỏ cái bản ngã là khỏe re, ai muốn nói sao cũng được, làm nùi giẻ chùi chân khỏe quá. Đó chính là những cái hạnh phúc, những cái lợi ích, những cái giá trị, những cái cống hiến vĩ đại mà Đức Như Lai bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác hy hiến cho nhân thiên, cho nhân loại. Đây là nói cái gần nhất thôi, có một số người mới cho nên nói vừa vừa cho các vị mới hiểu, đó chính là sự hy sinh, sự cống hiến vĩ đại của Đức Phật cho chư thiên và loài người, cho muôn loài, cho nhân loại, cho thế giới, cho chúng sanh.
Sống với tứ vô lượng tâm, từ, bi, hỷ, xả, còn sống tham, sân, si, vô minh, bản ngã chi cho khổ? Sống từ, bi, hỷ, xả và cứ vậy mình càng hiểu Đức Phật mình càng tin Đức Phật, mình càng tin Đức Phật mình càng kính Đức Phật, mình càng kính Đức Phật thì mình càng nghe lời Đức Phật và mình càng nghe lời Đức Phật thì mình càng hiểu về pháp của Phật, mình càng hiểu về pháp của Phật thì mình càng thực hành, mình càng thực hành thì mình càng tiến nhanh, mình đi nhanh, mình đi mau và mình đi tới cái chỗ hoàn toàn chấm dứt khổ đau. Đó là cái trình tự tu học, mình càng ngày càng xa cái khổ, càng ngày mình càng gần tới Niết-bàn, càng gần tới một cái tâm buông xả là tâm hạnh phúc. Một cái tâm an tịnh, một cái tâm lắng dịu, một cái tâm ngọt ngào, dễ chịu, một cái tâm dào dạt tình thương, một cái tâm đầy ấp sự cảm thông.
Bất cứ lúc nào mình có thể tuôn trào dòng lệ thương đối với mọi người thậm chí là những người ta kiếm chuyện, gây sự, làm khổ cho mình, thương luôn, thương luôn đi. Họ không biết, họ vô minh cũng giống như mình đã từng vô minh, mình chấp mình làm chi cái vô minh, họ không hiểu cũng giống như mình đã từng không hiểu mà bây giờ mình bớt vô minh, bây giờ mình hiểu thì mình cảm thông, cảm thông thì mình tha thứ, tha thứ thì mình yêu thương, yêu thương thì mình buông bỏ mà buông bỏ thì cái tâm nó nhẹ, mà nhẹ thì nó khỏe, mà khỏe thì nó tươi, mà tươi thì nó trẻ, mà trẻ thì đi đến chỗ bất tử không chết nữa. Tu học ci con đường này là đi đến cảnh giới bất tử vì không có cái gì sanh hết, sanh là ngũ uẩn nó sanh chứ đâu có mình sanh đâu, rồi ngũ uẩn nó diệt chứ cái trí thánh trí không có sanh diệt.
Thánh trí đó là bất tử, ai thể nhập được thánh trí thì người đó đi vào thế giới của bất tử, còn ai sống trong ngũ uẩn, trong tứ đại, trong bản ngã này là tử tử sanh sanh, sanh sanh tử tử, chết chết sống sống, sống sống chết chết, quay quay cuồng cuồng, điên điên đảo đảo, chìm chìm đắm đắm, lặn lặn hụp hụp, trôi trôi dạt dạt, là sống ở trong cái bản ngã này, sống trong cái tham, sân, si, dục ái này, sống trong cái vô minh, cái chấp thủ và ngũ uẩn này thì người đó đắm chìm, trôi dạt, lang thang, vất vơ vất vưởng, trong máu, trong nước mắt, trong hận sầu, trong đau khổ. Còn người sống trở về với cái trí tuệ, cái thánh trí ngũ uẩn, sống trở về với cái tâm lắng dịu, cái tâm bình yên, cái tâm an tịnh, cái tâm thương rộng lớn thì người đó như đất và trời vô biên, vô tận, vô lượng, vô cùng, tâm bất động giải thoát, đi theo con đường bất tử của Thế Tôn và chúng ta thấy Thế Tôn đâu có chết đâu, chết là cái thân mấy chục kí lô thịt tứ đại ở Ấn Độ chết, còn thánh trí Thế Tôn pháp thân là bất tử.
Bát thánh đạo đâu có chết, tứ thánh đế đâu có chết, thánh trí ngũ uẩn đâu có chết, vẫn còn sống 26 thế kỷ. Bậc đạo sư nói con đường bất tử đây nè, còn đây nè, thấy chữ đây nè đó không? Nó sờ sờ trước mắt, sống trong cái trí tuệ, sống trong cái tỉnh giác, sống ở trong cái từ bi, sống ở trong cái tâm giải thoát, còn mình đi theo cái tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, đi theo cái tứ đại ngũ uẩn mấy chục kí thịt thì mình chết ráng chịu, nó chết, nó là pháp sanh diệt rồi nó chết. Mình sống với cái trí vô sanh, cái trí bất tử, cái tâm bất động giải thoát cho nên đối với Đức Thế Tôn, đối với các bậc thánh thì chết là bình thường, chết thì khỏe, cảm ơn.
Ngài Phú-lâu-na na muốn đi hoằng pháp thì Đức Phật hỏi lỡ chỗ đó họ mắng chửi ông thì sao, ngài nói dạ vậy còn hiền, bạch Thế Tôn họ chưa có đánh con, Đức Phật hỏi lỡ họ đánh ông rồi sao, họ lấy gậy đánh, họ đập ông, họ lấy đá liệng thì sao, ngài nói dạ còn hiền họ chưa có xử con, họ chưa có giết con chết, Đức Phật hỏi họ giết ông rồi sao thì ngài bạch Thế Tôn dạ con khỏe, con nhẹ, con trút bỏ cái tấm thân đầy bất tịnh, bệnh hoạn, khổ đau này, từ lâu con cũng muốn thoát rồi, con đâu có mê cái này đâu, con đâu có cho cái này là con của con đâu, con sẽ được nhẹ nhàng, giải thoát. Sau đó Đức Phật nói ngài đi đi, trong mùa an cư ba tháng ngài độ cho ba trăm vị chứng thánh quả A-la-hán.
"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Punna đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh. Sau một thời gian, Tôn giả Punna mệnh chung.
Rồi một số đông Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thiện nam tử Punna ấy, sau khi được Thế Tôn giáo giới với bài giáo giới vắn tắt đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau của vị ấy là thế nào?
-- Này các Tỳ-kheo, Thiện nam tử Punna là bậc Hiền trí. Vị ấy thực hành pháp và tùy pháp. Vị ấy không phiền nhiễu Ta với những câu hỏi về pháp. Này các Tỳ-kheo, Thiện nam tử Punna đã nhập Niết-bàn." (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Chỉ có ba tháng mà độ mấy trăm người chứng thánh quả, còn mình tu ba chục năm chỉ thấy quả A-la-hán ngoài chợ lớn, không chịu bỏ tham, sân, si, không chịu bỏ bản ngã, vô nghe pháp cũng gật gù, gật đầu rồi vỗ tay nhưng trở ra cũng sống với bản ngã nữa, cũng sống với tham, sân, si nữa. Bây giờ nhất định là phải đoạt cái quả A-la-hán thiệt của Phật chứ không phải A-la-hán ở chợ lớn. Mọi người nhất trí không? bây giờ muốn làm sao để đoạt được thì là quý vị cứ nỗ lực hành trì theo đúng cái đạo lộ thì quý vị sẽ thấy thôi, quý vị sẽ đi đến. Cái ngày Phật Đản là ngày chúng ta ôn lại sự xuất hiện của Đức Phật, sự cống hiến cho cuộc đời này của Thế Tôn và sự nhập diệt của Đức Phật cũng đem lại lợi lạc vĩ đại cho chúng sanh để chúng ta niệm Phật, nhớ Phật, hiểu Phật, thương Phật, kính Phật, đi theo con đường của Phật đi, hành theo những cái gì Đức Phật hành, tu theo cái gì Đức Phật đã tu và chúng ta sẽ đạt được những cái gì mà Đức Phật đã đạt được.
Đó là cái ý nghĩa mà chúng ta trở về để tưởng nhớ đến cái mùa Phật Đản sanh, cái ngày sự xuất hiện của Đức Phật trong cuộc đời này đem lại lợi lạc, lợi ích cho chúng ta.
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết hơn này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.