Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

7 Trí Về Tưởng

2026-03-18 06:54:25
TINH HOA NIKĀYA

7 TRÍ VỀ TƯỞNG

–Thích Minh Thành–

Sư Phụ: Bây giờ chúng ta thử nhận diện ngũ uẩn hồi trưa này mình ăn cái gì, hồi trưa này mình ăn món gì, ăn cơm với gì? Bây giờ khi mình nói ăn thịt quay chay thì có cái hình bóng không? Lúc đó quý vị có cái cảm giác dễ chịu không? Cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, mình có suy nghĩ về cái món ăn đó, suy nghĩ là hành, trong tâm quý vị có một sự rõ biết là đang có cái hình bóng của món đó, có cảm giác về món đó và có suy nghĩ về món đó, rõ biết là thức.

Bây giờ quý vị nhớ quê hương mình, nhớ căn nhà ở quê hương mình, quý vị có thấy hình bóng của căn nhà ở quê hương không? Hình bóng là tưởng, có cảm giác thân thương, cảm giác là thọ, có suy nghĩ liên hệ về căn nhà, suy nghĩ là hành, quý vị có cái rõ biết được hình bóng căn nhà, rõ biết được cái cảm giác thân thương, rõ biết được mình đang có suy nghĩ liên hệ về cái căn nhà đó, rõ biết là thức. Mình ôn lại tổng quát về nhận diện ngũ uẩn, đó chính là tâm của mình, hình bóng, cảm giác, suy nghĩ và rõ biết, bốn cái uẩn đó là tâm của mình và mình luôn luôn sống ở trong đó, vận hành trong tâm mình là những cái hình bóng, những cảm giác, những cái suy nghĩ, những sự rõ biết đầy đủ bốn khía cạnh đó thì cái đó mới gọi là tâm.

Hôm nay chúng ta bước qua một phần sâu sắc hơn là chúng ta học bảy trí tuệ về tưởng, đầu tiên hình bóng là tưởng. Bây giờ quý vị nhớ trái cam, có hình bóng trái cam trong tâm, quý vị nhớ mấy bức tượng phía sau chùa, có hình bóng hiện ra không, thập bát La-hán rồi bao nhiêu tướng Quán Âm biểu hiện, ba mươi hai ứng hóa thân, quý vị nhớ lại là hình bóng hiện ra, bóng đó là tưởng. Tất cả hình bóng trong tâm đều là tưởng hết, bây giờ quý vị nhớ hình bóng con của mình thì có hình bóng, thí dụ mình chỉ cần nói cái nồi là có cái hình bóng cái nồi, mình nói cái chén là có hình bóng cái chén, mình nói cây hoa đào là có cái hình bóng cây hoa đào. Như vậy hình bóng trong tâm là tưởng, tưởng này có sáu tưởng, sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng và pháp tưởng.

Đây là thánh trí của Đức Phật, Đức Phật phân loại tất cả các tưởng ra làm sáu loại. Đầu tiên là sắc tưởng, nãy giờ mình nói đó là sắc tưởng, hình bóng trái cam, cây hoa đào, hay là cái nồi, cái chén, hay là căn nhà, hay là tượng Phật, hay là dòng sông, ngọn núi, bất cứ cái gì tất cả cái đó là sắc tưởng. Bây giờ mình nghe người đó cự mình lúc sáng, tối về mình nhớ lại câu nói đó, hồi tưởng lại âm thanh đó thì đó là thanh tưởng, chỗ này rất sâu sắc, chúng ta học được cái này rồi quý vị sẽ có một trí tuệ rất đặc biệt ở trong tâm của mình. Đây là thanh tưởng, tất cả âm thanh mà mình hồi tưởng lại thì gọi là thanh tưởng, hồi tưởng lại âm thanh mà mình đã được nghe.

Thí dụ như lời nói yêu thương lâu đâu mình nhớ lại thì mình ngồi cười, mình thấy dễ chịu, mình thấy thích thú, hoan hỉ, vui nhưng mà mình ngồi mình nhớ lại lời mắng chửi, nói nặng nói nhẹ, chỉ trích, chê bai thì lúc đó mình tức, mình giận, mình sân, mình buồn thì đó thuộc về thanh tưởng. Mình vô toilet mà người đi trước họ để lại một cái hậu quả đó rất là lớn, cái mùi đó nó bốc vô cái lỗ mũi mình, tuy rằng là mình đã dội hết rồi nhưng cũng bực bội, khó chịu, mình về nhà rồi mỗi lần mình nhớ lại cái mùi đó thì lúc đó là vẫn không dễ chịu, cái đó là sân. Chỉ cần nhớ lại thôi cũng sân nữa, nhớ lại thôi cũng tham nữa, thành ra tham, sân, si ở trong Nikāya rất là vi tế. Không phải đợi mình phát ra lời nói cự cãi, la lối mới sân, không phải mình tỏ ra sự yêu thích, thấy hay là chạy theo này kia nọ mà hình bóng trong tâm mình vẫn có tham, sân, si.

Ví dụ mình nhớ lại cái âm thanh ngọt ngào, dễ chịu, yêu thương là mình thích, mình khoái, cái đó gọi là vị ngọt của tưởng. Tức là mình ngồi đó không có người đó, không có món đồ đó, không có cảnh vật đó, thí dụ như mình ở Đà Lạt bây giờ mình qua đây rồi hồi tưởng lại cảnh sắc ở Đà Lạt thì thấy dễ chịu, êm ái, thân thương, ấm áp, ngọt ngào, đó là vị ngọt của tưởng. Như vậy mình hồi tưởng lại cái mùi ở trong cái toilet đó là mình cũng giận lên, mình bực bội, mình sân lên, mình tức "không biết ai đi, tôi biết cái người này đó là mệt với tôi". Nếu như bữa đó mình ăn được cái món rất đặc biệt, không biết ai nấu bánh canh mà nó ngon dễ sợ luôn, hay là cái món bún riêu đặc biệt, mình ăn xong rồi nhưng mà mỗi khi nhớ lại cái mùi và cái vị đó mình thấy dễ chịu, mình thấy thích, muốn lặp lại mùi vị đó thì đó là hương tưởng, vị tưởng.

Nếu như mình ăn một cái món quá dở, nấu canh chua mà nó quá chua thì lúc đó mình nhớ lại cũng là cái hương và cái vị đó, thành ra cái đồ ăn thường thường mình sẽ hồi tưởng lại sắc, hương, vị. Nếu ăn bánh tráng thì có thanh luôn, nhai rạo rạo, từ đó có đầy đủ hết, rồi nó có xúc, khi mình nhai là cái lưỡi tiếp xúc, khi mình để món ngon vô tới cái lưỡi là nó tê hết trơn, nó khoan khoái, nó thích thú thì chỗ đó là xúc tưởng. Mình nhớ lại món đó khi lưỡi chạm vào, mình thấy đã, thấy thích, mình hồi tưởng lại lúc cái lưỡi tiếp xúc với món ăn thì gọi là xúc tưởng nhưng cái xúc này đó nhiều là về nam nữ, là sự tiếp xúc của thân thể đụng chạm.

Tại sao người ta tương tư? Tại sao người ta nhảy cầu, nhảy lầu? Tại sao người ta tự tử? Khi người yêu thương nhất của họ mất đi cái cảm xúc đó, không còn được cái cảm xúc đó nữa thì họ đau khổ, cái xúc tưởng này hành hạ trong tâm, những cái hình bóng đó, những cái cảm giác đó, những cái suy nghĩ đó ám ảnh trong tâm. Cái thương, cái yêu cũng vậy mà cái oán hận, hận thù cũng vậy, nó dằn vặt ở trong này, nó dày xéo trong này, nó làm cho mình rất là đau khổ, cái tưởng này nó ghê gớm lắm, khủng khiếp cái tưởng này lắm. Nếu mình không có trí tuệ về cái tưởng này là mình đau khổ với nó dữ lắm, nó hành hạ mình lắm, nó làm khổ mình làm khổ người đủ thứ hết.

Pháp Tưởng là mình hồi tưởng lại cảm giác, hình bóng và những cái suy nghĩ đã qua, đó gọi là pháp tưởng, tức là thọ; tưởng; hành. Mình không có còn tiếp xúc nữa, mình chỉ ngồi lại mình hồi tưởng thôi, thí dụ hồi sáng này vợ chồng cự cãi nhau nhưng buổi chiều tối mình hồi tưởng lại những cái âm thanh chồng nói với mình, cái cảm thọ lúc đó, những cái suy nghĩ ngay cái lúc đó, mình hồi tưởng lại đó là pháp tưởng, hồi tưởng hình bóng đó, hồi tưởng cảm giác lúc đó, hồi tưởng lại suy nghĩ lúc đó, mình dằn vật, mình dày xéo, mình đau khổ trong đó. Cho nên nhiều người bị nói một câu, hay là gặp những hành động gì đó có khi người ta không chịu nổi, người ta sốc, trầm cảm, có khi bị ảnh hưởng thần kinh, thậm chí là có những trường hợp họ quyên sinh, họ không muốn sống nữa tại vì cái tưởng này ám ảnh.

Cái tưởng này ghê gớm lắm, đa số chúng ta sống với tưởng, là ảo tưởng, hư tưởng, vọng tưởng, huyễn tưởng, mộng tưởng, điên đảo tưởng, rất nhiều cái tưởng. Vọng tưởng là cái tưởng giả, hư tưởng là cái tưởng rỗng không, huyễn tưởng là những cái tưởng huyễn ảo, mộng tưởng là những cái tưởng mộng mơ, điên đạo tưởng là những cái tưởng sai cái sự thật. Mình bị cái tưởng này hành hạ mình dữ lắm, như vậy có sáu cái tưởng, tưởng về hình bóng, tưởng về âm thanh, tưởng về mùi, tưởng về vị, tưởng về sự tiếp xúc đụng chạm, tưởng về những cái cảm giác, hình bóng, suy nghĩ. Tất cả tưởng trong tâm mình Đức Phật phân loại làm sáu thứ, gọi là sáu tưởng và khi mình ngồi một mình là mấy cái này vận hành dữ lắm. Khi mình đi ra làm việc, hay là tiếp xúc, tất cả nó vận hành dữ lắm, tất cả những cái này có trong tâm là do mình tiếp xúc. Nếu mình không tiếp xúc là mình không có tưởng được, chẳng hạn như bây giờ mình đi qua New Zealand thì mình về mình mới tưởng được, mình mới nhớ lại cái cảnh ở đó, hoặc là mình coi ở trên mạng, hoặc là tiếp xúc trực tiếp hoặc là tiếp xúc gián tiếp nhưng phải tiếp xúc thì cái tiếp xúc này gồm có sáu xúc, tiếp xúc bằng mắt, tiếp xúc bằng lỗ tai, tiếp xúc bằng lỗ mũi, tiếp xúc bằng lưỡi, tiếp xúc bằng cái thân và tiếp xúc bằng cái ý.

Có sáu sự tiếp xúc, mình thấy, mình nghe, mình ngửi, mình nếm, mình xúc, mình biết như vậy thì do mình tiếp xúc cho nên mình mới có cái tưởng về cái đối tượng tiếp xúc đó. Thí dụ bữa nay mình đi gặp ông A đó thì mình về mới nhớ hình bóng của ông A, mình gặp cô B đó thì về mình mới có hình bóng của cô B đó, nếu như mình không có gặp thì làm sao mình có hình bóng của người đó trong tâm mình được. Cái hình bóng cứ ám ảnh hoài không chịu tan biến trong tâm gọi là ý trung nhân, là người trong mộng, người trong tâm, người trong tim, là cái hình ảnh này ám ảnh. Yêu cũng vậy mà hận cũng vậy, người mình ghét ám ảnh hoài, hai cái đó là tham, sân đó, còn bình thường mình không biết cái đó là tưởng mà mình nói đó là tâm của mình thì cái đó là si. Mình không biết cái đó là tưởng mà mình nói đây tôi, đây là tư tưởng của tôi, đây là tôi nghĩ, cái nào mình cũng nói của tôi hết thì cái đó là si mê, không có trí tuệ. Như vậy đó do xúc tập khởi cho nên tưởng tập khởi, do xúc đoạn diệt cho nên tưởng đoạn diệt.

Chỉ cần mình cắt duyên tiếp xúc thì lúc đó sẽ không còn tưởng nữa, đừng tiếp xúc nữa là nó hết tưởng. Đây là ba cái trí đầu tiên, bây giờ chúng ta mới thấy được vị ngọt của tưởng, hồi nãy chúng ta nói vị ngọt của tưởng, cái ngọt này là ngọt mật chết ruồi. Hồi đó mới quen với ổng, ổng có ngọt không? Hồi đó mới quen bả, bả có ngọt không? Vị ngọt này rất nguy hiểm, do duyên tưởng khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của tưởng, cái hình bóng ở trong tâm nó khởi lên mà mình vui, mình sướng, mình thích, mình khoái, mình muốn thì cái đó là vị ngọt của tưởng. Thí dụ mình ngồi mà hình bóng cháu nội, cháu ngoại khởi lên thì thấy cưng quá, thương quá rồi đi theo chăm nó hoài, ba mẹ thấy bà nội, bà ngoại thương cháu quá nên gửi cho chăm hoài là hết tu, hết tụng, như vậy vị ngọt này giết chết giờ tu của mình.

Chẳng hạn như bây giờ món ăn ngon quá, mình khoái cái món ăn đó mà mình bệnh gan lại cứ thích ăn tương, ăn chao, ăn mắm. Ngồi hồi tưởng lại những món đó cũng thấy khoái nữa, cũng thấy thích nữa thì đó là vị ngọt của tưởng, chính cái vị ngọt này mà không đi ra khỏi tưởng được. Thí dụ mình hỏi một cô "sao cô không đi dự khóa tu này?", "thầy ơi, con đi không ai trông con chó", tại vì con chó có vị ngọt của nó, con mèo có vị ngọt của nó, chính vị ngọt này người ta không có đi ra khỏi nó và người ta bị nó trói cột. Đó cũng là sự nguy hại, tức là nguy hiểm và tác hại ở trong cái tưởng là sự vô thường, khổ đau, chịu sự biến hoại của tưởng, đó là nguy hại của tưởng.

Cái vị ngọt này không có vậy hoài mà nó biến đổi liên tục, nó đổi thay liên tục, mình muốn cái vị ngọt phải vậy cho nên mình đau khổ. Tất cả nó đều phải chịu sự biến hoại, tức là biến đổi và tan hoại, tất cả đều đi đến sự biến đổi, tan hoại. Thí dụ mình ngồi đây nói rằng "giờ tôi đang ngồi, tôi ngồi thôi" nhưng mà thấy như vậy tức là vô minh, không có cái tôi nào hết đó, ở đây là sắc đang vận hành, từng tế bào, từng hơi thở, từng mạch máu, từng sự động chuyển ở trong các các bộ phận ở trong cơ thể của mình, chỉ cần nó là bất ổn, bất trắc, bất thường thì đột biến, đột quỵ, đột tử. Tuy nhiên mình lại thấy thân này là vị ngọt, mình học kinh nào giờ mình nghe cái từ thân kiến không? Chấp ngã, thân kiến, chấp thân, bản ngã chính là cái tưởng về tự thân của mình. Thí dụ mình nhìn thấy cái mặt mình trong cái gương đó thì lúc đó mình có cảm thọ gì? Thấy đẹp thì sướng, bữa nào thấy xấu quá thì buồn, thường thường là mình rất là thương mình, mình rất là yêu mình cho nên đa số mình nhìn bản thân là thấy "Coi vậy chứ cũng được".

Lúc trẻ thì mình kiêu ngạo với cái tuổi trẻ, mình kiêu ngạo với cái sức khỏe, mình kiêu ngạo với cái sự sống, mình kiêu ngạo với cái tài sản, mình kiêu ngạo với cái địa vị thành công, mình giỏi cái gì là hất cái mặt lên, đi ưỡn ngực không à, cái bản ngã to lớn. Nếu mà mình thành công, mình ở một cái vị trí nào đó to lớn một chút thì mình có dễ nói chuyện với mấy người nghèo, thiếu khổ không? Hay là phải môn đăng hộ đối, đẳng cấp cỡ nào mới chơi? Trở lại cái vấn đề ở đây khi mình nhìn vô gương thấy bóng của mình thôi mà mình rất là thích, rất là yêu, mình rất là hoan hỉ, mình ái cái tự ngã, gọi là tự ái. Tức là mình yêu mình dữ lắm, cái hình bóng mình cũng yêu luôn, thí dụ mình đang ngồi mà cái bóng mình phản chiếu xuống cái nền đó, nhiều khi có những người chấp ngã nặng mà có người đạp lên cái bóng đó cũng sân nữa, cũng khó chịu nữa, cái hình bóng đó sẽ ám ảnh trong tâm mình.

Thí dụ mình nói một hồi tôi đi ra chợ, ngày mai tôi đi chợ thì sẽ có một cái hình bóng của mình lờ mờ trong tâm, cái hình bóng lờ mờ đó là thân kiến, tức là kiến chấp về thân, là một tự ngã, nó ám ảnh trong tâm, là một ảo tưởng về tự ngã. Cái này rất sâu sắc, luôn luôn lúc nào trong tâm mình cũng có một cái hình bóng lờ mờ cái mặt mình trong tâm, khi mình nói tới mình sẽ có hình bóng hiện ra, mình không có thoát khỏi được cái tự ngã, cái bản ngã, cái chấp ngã là tại vì cái tưởng về tự ngã ám ảnh trong tâm mình rất là sâu sắc, rất là đậm đà, rất là cứng chắc, rất là kiên cố, tường đồng vách sắt, ai mà chạm tới thôi là sân si lên, hơn thua, phiền não, Cái này là cái chỗ thâm sâu của trí tuệ, chính cái này làm cho mình khổ, đừng nói chi là cái tưởng chỉ là cái hình bóng lờ mờ thôi, cái sắc thật sự cũng vô thường, biến hoại, khổ đau, bệnh tật thì huống chi cái hình bóng ảo ảnh trong tâm thì làm sao nó có thật. Nhưng mà mình nắm chặt vô đó gọi là tưởng thủ uẩn, tức là một cái tâm nắm chặt vào những cái hình bóng bên trong đó không có bỏ, cho đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, cái này làm cho mình khổ đau.

Chính vì vậy mà ngài Xá-lợi-phất dạy pháp tu của ngài, chúng ta biết ngài Xá-lợi-phất là đệ nhất về trí tuệ mà pháp tu của ngài là ngài an trú tâm như cái nùi giẻ rách, ngài thường luôn quán cái tâm của mình như một cái nùi giẻ rách, như cái tấm giậm chân cho người ta đạp lên là ngài phá cái ngã, tức là trong tâm ngài không có cái ám ảnh về cái tự ngã, trong tâm ngài khi ngài nói về ngài là cái hình bóng của nùi giẻ rách hiện ra, đó là pháp tu của bậc thánh. Thí dụ ngài nói "một chút nữa tôi sẽ đi khất thực" thì cái hình bóng của nùi giẻ rách hiện ra chứ không phải có hình bóng một con người to lớn một thước tám, ngài an trú tâm ngài với những cái hình ảnh như vậy. Pháp tu của ngài có chín pháp quán lận nhưng ở đây chúng ta chỉ nói một vài điểm thôi, ngài quán tâm của mình an trú như đất, nước, gió, lửa.

"Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong

Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,

Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách

Có gì để lên mặt, hơn thua."

Cái pháp tu của ngài là cái tấm chùi chân cho nên ngài mới đạt tới vô ngã thánh trí, còn mình quá xá to, quá xá bự, quá xá cao, như cái núi vậy, cái bản ngã lớn hơn địa cầu nữa cho nên bây giờ là mới bay ra sao hỏa, bay ra sao này sao kia giành đất, cái bản ngã con người khủng khiếp lắm, nó lớn hơn hư không, cái thân có chút xíu thôi nhưng cái tôi, cái ảo tưởng về tự ngã là bao trùm cả hành tinh. Chính vì vậy mà con người ta đau khổ, cứ ảo trong cái thân này bất thình lình rầm một cái là thành đống bầy nhầy, bất thình lình tai biến mạch máu não nằm liệt gường, chớp mắt một cái nghe bác sĩ thông báo chuẩn bị đi, ba tháng nữa thôi, ung thư giai đoạn cuối, sơ sảy té đập đầu rồi hết đời.

Vậy mà bên trong là một cái tâm rất là cứng chắc, to, cao lớn, tự ngã, bản ngã, chấp ngã rồi hơn thua, tranh đấu, vợ chồng mà nói một hai câu cũng không chịu thua, phải thắng mới được, cha mẹ nói chút xíu là giận, anh chị em không thèm nhìn mặt nhau là cái tự ngã, bản ngã, tôi, ta, tao, mi, tớ cho nên cái pháp tu của bậc thánh là phá ngã, là diệt ngã, là hạ ngã, là khiêm cung, khiêm nhường, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhã, là cúi đầu. Cho nên cái pháp lạy Phật của mình là hay lắm, mình biết lạy là tuyệt vời lắm, trong khóa tu ở Melbourne con có hướng dẫn cách lạy an trú tâm như đất và các vị rất là xúc động. Bởi vì chúng ta có một buổi giảng thì chúng ta không thể thực hành được nhiều cái pháp, cái khóa tu mới thực hành được nhiều pháp, khi mình cúi đầu lạy thì trán mình chạm xuống tới đất, hai cái khủy tay, hai cái đầu gối mình chạm tới đất thì gọi là năm vóc sát đất là ngũ thể đầu địa, năm vóc sát đất đó thì mình phải tác ý như thế nào, mình suy nghĩ như thế nào, mình quán chiếu như thế nào.

Cái tấm thân này sẽ trở về dưới đất, mình cảm nhận hơi lạnh của đất khi cái trán mình, hai khủy tay của mình, hai đầu gối mình áp xuống dưới đất thì mình nghe có hơi lạnh, mà cái thân này làm từ đất ở trong, còn cái đất ở dưới là đất ở ngoài và cái đất trong, đất ngoài giáp tiếp tiếp xúc với nhau, xúc chạm với nhau và lúc đó mình cho cái đất trong này hòa tan với đất ở ngoài. Cái thân xác này sẽ bị chôn xuống lòng đất và nó sẽ mục rã, tan ra thành tro bụi, mình cho cái bản ngã này, cái tôi, cái ta này chôn vùi xuống tại cái mảnh đất này, cái ta này phải diệt tận, cái ta này phải chôn sống, cái ta này phải chết ngay lập tức, không cho nó sống. Mỗi lần mình lạy xuống là mình phá cái bản ngã, diệt cái tôi, mình làm cho tan biến cái ta to lớn để hòa với cát bụi, hòa với đại địa, cái tâm của mình khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, nó chan hòa cùng với mặt đất.

Mình thấy mình chỉ là cát bụi thôi, cát bụi mà thôi, cuối cùng cũng chỉ là cát bụi thôi và cái tâm đó nó lắng dịu, nó an tịnh, nó hiền hòa, nó khiêm cung, nó nhẹ nhàng, nó ngọt ngào, từ ái. Mỗi một cái lạy như vậy là mỗi lần mình chôn sống cái bản ngã này, mỗi một cái lạy như vậy là mỗi lần mình hỏa táng cái tôi này, mỗi một cái lạy đó là mỗi lần mình diệt tận cái chấp ngã ngu si, mê muội này, hôn ám đầy ác độc, đầy tội lỗi này, diệt tận, chôn vùi nó trong mỗi cái lạy của mình. Cho nên mình lạy thật là chậm, lạy thật là lâu và mình quán chiếu thật là thâm sâu thì lạy như vậy tội diệt phước sanh, trí tuệ tăng trưởng. Đó là cái cách lạy Phật của chúng con ở Linh Quy Pháp Ấn, là sám hối diệt ngã.

Chúng ta nghĩ rằng người này hại mình, người kia hại mình, người nọ làm khổ mình, sai hết, kẻ thù thật sự của mình không phải ai bên ngoài chính là cái bản ngã. Thí dụ người kia muốn hơn thua với mà mình nói mình chịu thua để cho họ hơn, mình không cần hơn thua gì, cái tôi này có cái gì đâu mà hơn thua nhau làm gì. Mình sống với một cái tâm thấu hiểu cái bản chất đau khổ của cuộc đời này và mình sẵn sàng tha thứ, bao dung, độ lượng tất cả thì lúc đó có ai làm hại mình được không? Mình không thèm hơn thua với người ta thì có ai làm hại mình không? Người ta chửi mình xối xả như vậy mà mình chỉ có một cái lòng thương thôi, tội nghiệp họ, họ đang bị lửa hận, lửa sân thiêu đốt, bây giờ mình là người tu không lẽ mình đi đổ xăng, đổ dầu thêm cho lửa, mình phải đem nước lại tạt cho họ chứ. Như vậy mình không có một cái bản ngã, mình không có hơn thua, mình không có cái tâm đấu đá, mình không có cái tâm khẩu tranh, cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh, mình có một cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, một cái tâm từ rộng lớn thì như vậy ai hại mình được?

Thành ra kẻ thù thật sự chính là cái bản ngã của mình, cái tôi của mình, chồng mình nói một câu, mình nói ba câu, ba mẹ mình vừa góp ý một chút là mình sân hận bực bội, mình không coi anh chị em ra gì, mình thành đạt một chút là bắt đầu kiêu ngạo, kiêu căn, ngạo mạn rồi cuối cùng người ta xa lánh mình hết cái mình nói "trời ơi sao không ai hiểu cho tôi hết trơn" mà tôi có hiểu cho ai không, không ai thương tôi hết trơn mà tôi có thương ai không. Cái bản ngã đó mới là kẻ thù của mình chứ không có ai hại mình hết, không có ai bỏ mình hết mà chính cái bản ngã làm cho người ta bỏ mình, chính cái bản ngã làm cho người ta ghét mình, chính cái bản ngã đó làm cho người ta xa lánh mình, tránh xa mình, gặp mình là người ta tránh né "ai mà chịu nổi, thôi chạy trước", tam thập lục kế dĩ đào vi thượng, trong ba mươi sáu kế chạy là số một, người ta thấy mình là người ta ớn.

Thành ra mình tu là lấy thước đo của bản ngã này ấn định được, lường xét được cái sự tu tập của một con người. Nếu mình càng tu mà càng khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm nhã, khiêm tốn, nếu càng tu mà càng ngày mình càng cúi đầu, càng ngày mình càng hạ thấp, càng ngày mình càng trở thành một cái tấm chùi chân, một cái nùi giẻ rách, hoàn toàn dẹp hết cái chấp ngã, cái tôi, ta của mình thì sự tu đó đã lần lần tới thánh quả, thánh trí đó, thánh pháp, thánh tuệ, thánh nhân. Chúng ta phải nắm thật kỹ cái này vì nó rất quan trọng, đây là cốt lỗi của tất cả kinh tạng và tất cả sự tu hành, không nắm được cái này là mình tu hoài, nhiều khi càng tu mà mình không thấy chính xác cái bản ngã càng to lớn, đi đâu mình cũng khoe công, mình cũng cư công, mình cũng kể công, cũng vô công, cũng bày cái công mình ra cho người ta thấy. Cuối cùng cái công mình nó nhỏ xíu thôi, thậm chí mất hết công đức. Mình làm tất cả mà mình vẫn là sống với một cái tâm có cái gì đâu, tôi là cái gì, chỉ là một cái ảo ảnh, tôi là cái gì chỉ là những cái suy nghĩ hôn mê, mê muội thôi.

Sắc này đâu phải của mình, nhà này, xe này, tiền bạc này, thân này có phải của mình không? Chỉ cần thở một cái khì ra thôi thì của ai? Làm gì có cái của mình, tất cả chỉ là duyên sanh, là tạm bợ, là mình có phước thì mình hưởng được một chút, mình giữ nó được một chút, mình hết phước rồi thì nó qua người khác, không có một cái nào mà của mình thật sự hết, tất cả là duyên sanh, là vô thường, là kết hợp, là lắp ráp, là giả dối. Nhiều khi mình thấy vậy đó, rõ ràng mắt thấy tai nghe vậy đó nhưng mà thật sự trật lất hết trơn, cái tâm thức của mình là một nhà ảo thuật đại tài, người ta cầm khăn tay giũ vài cái ra con bồ câu, người ta quẹt vài cái ra mấy tờ tiền đô, nếu có thể làm được như vậy thật sự thì cần gì đi làm kiếm tiền. Cái tâm thức của mình là một nhà ảo thuật đại tài, những cái thấy, cái nghe, cái ngửi, nếm, nhận thức của mình tưởng đâu là thiệt nhưng ở trong vô minh không à, cái tâm thức nó ảo thuật, chỉ có bậc thánh đạt được thánh trí tuệ mới nhìn ra bản chất hư ảo, lừa dối, gian xảo của cái tâm thức này.

Không phải là người bên ngoài gạt mình, ngũ uẩn gạt mình, mà ngũ uẩn là thân tâm của mình gạt mình. Cái thân này có gạt mình không? Mình lo cho nó ăn ngon, mặc cho đẹp, ở cho sang, nó đòi cái gì là được cái nấy, thậm chí mình tạo nghiệp cũng phải làm cho nó được nhưng cuối cùng bất thình lình nó đi có từ giã mình tiếng nào không? Nó có báo trước cho mình nghe không? Mình có biết mình chết ở đâu, chết khi nào, chết ra sao không? Mình có biết không? Vậy cái thân này là phũ phàng, cái thân này là vô ơn, vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã, vậy mà mình thương nó lắm, mình chấp nó lắm, ai đụng vô là biết mặt nhé… đụng vô là mệt nhé… đụng vô tôi là không được… tôi không đụng ai hết, đừng đụng tôi nha… đụng tôi là mệt rồi đó. Thành ra mình thấy được cái trí về cái bản ngã này đó là trí tuệ của bậc thánh, mỗi ngày mình phải quay lại coi cái suy nghĩ mình đang suy nghĩ cái gì, có suy nghĩ về bản ngã không, suy nghĩ về bản ngã là mình phải dẹp nó, mình hạ nó. Mỗi cái lạy của mình là phải chôn vùi bản ngã vào lòng đất, mỗi cái lạy của mình là phải chôn sống cái bản ngã đó, mỗi cái lạy của mình là phải diệt tận cái chấp ngã đó để cho mình trở thành một con người hết sức hiền hòa, hiền hậu, hiền lành, hiền từ, hiền nhân, hiền đức, hiền thiện, hiền trí để đi theo các bậc hiền thánh.

Chúng ta tu như vậy mới là chánh pháp, tu như vậy đó mới có lợi ích, tu như vậy mới đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc dài lâu, nếu không nhiều khi mình làm được chút, mình ra công được chút là không ai chịu nổi hết trơn, rồi mình càng khổ, người ở gần mình khổ hơn. Thành ra chỗ này đó chúng ta để ý thật kỹ, chúng ta nhấn mạnh một chút về cái này, nhấn mạnh rất nhiều về cái ảo tưởng về tự ngã, ảo tưởng về tự ngã này đó nếu mình nói rộng gồm có bốn thứ gọi là điên đảo tưởng. Vô thường mà mình tưởng là thường, vô ngã mà mình tưởng là có ngã, khổ thì cho là vui, bất tịnh mình lại cho là tịnh. Đây gọi là bốn tưởng điên đảo của chúng sanh. Bây giờ con hỏi thiệt quý vị trong con người mình có cái gì sạch không? Nếu không có gì sạch thì sao mình mê? Mình mê cái thân của mình và mình mê cái thân của người, bây giờ cái miệng chảy ra nước miếng, cái lỗ mũi chảy ra cứt mũi, lỗ tai chảy ra cứt ráy, mắt thì có ghèn, rồi phân với nước tiểu, mồ hôi, ngoài ra còn có những người có mùi cơ thể không chịu nổi. Ba ngày không tắm có chịu nổi không?

Bây giờ mình coi trong thân mình là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim, gan, tỳ phế thận, mủ, máu, mỡ, đàm giải… có cái gì sạch? Nhưng mà mình cho là sạch thì cái đó là điên đảo tưởng thứ nhất, bất tịnh mà cho là tịnh, cũng như đồ ăn của mình, thấy nó ngon, nó thơm, nó béo, nó bổ nhưng chỉ cần để một ngày, hai ngày là nó ra giòi, như xà lách, cà rốt, khoai tây, nhất là mùa hè là mau hư lắm, đồ ăn buổi sáng để tới chiều là oi thiu, có mùi hôi. Mình nhìn sâu vào bên trong thân này để mình thấy được từ bên trong cho đến ở bên ngoài cho đến tất cả mọi sự vật luôn, nhìn hoa thấy đẹp dù là hoa giả hay hoa thật cũng đẹp nhưng tới chừng nó tàn, nó lụi, nó héo, nó hư thì lúc đó chúng ta thấy cái mùi dễ chịu không? Lúc nó còn tươi thì nó thơm lắm nhưng tới lúc tàn tạ thì nó thúi, nó hôi, những cái mùi rất là khó chịu.

Cái sự nở thắm tươi rất là ngắn ngủi lắm nhưng cái tàn lụi của nó là rất là mau chóng, sự bại hoại, biến hoại của nó rất nhanh. Còn chúng ta là ngay trong con người của mình mà mình vẫn không chấp nhận sự thật, mình vẫn cho nó là sạch, là đẹp, là hấp dẫn, đó là điên đảo tưởng thứ nhất. Cái thứ hai là ngũ uẩn này là khổ, sắc này là khổ, chống gậy đi mà vẫn nói là sướng, là vui, không có thấy khổ cho nên vô minh nặng nề lắm, si mê, hôm ám, ngu muội, ngu si rất nặng. Phật chỉ cũng cãi, chống đối cho nên mới khổ chứ nếu nghe lời là thành thánh nhân hết rồi. Thành ra sắc này là khổ, những cái cảm giác này là khổ, những hình bóng trong tâm là khổ, những cái suy nghĩ cũng làm cho mình khổ không, rồi cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, làm cho mình khổ mà mình cứ cho nó sướng thì cái đó là điên đảo tưởng thứ hai.

Mình cho là sướng mà cái khổ nhiều hơn cái sướng, khổ là bản chất của nó mà mình không thấy, mình cứ cho là vui thành ra đó là điên đảo tưởng thứ hai, tức là khổ mà mình cho là vui. Ngược lên trên là không có cái tôi mà mình cho là tôi, lúc nào mình cũng tôi, ta, lúc nào cũng ta hết, lúc nào cũng tôi, có thân là có khổ mà không có thấy khổ. Cuối cùng là xuất ly đối với tưởng, sự nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với tưởng gọi là sự xuất ly của tưởng, mình quán chiếu được tính chất vô thường, tính chất vô ngã, tính chất khổ đau, tính chất bất tịnh ở trong ngũ uẩn, ở trong tứ đại này. Vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh là bốn cái pháp ấn rất là quan trọng trong sự tu học của chúng ta, mình thường quán chiếu như vậy, mình thường nhớ nghĩ về cái vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, mình nhớ nghĩ về những cái pháp ấn vô ngã, khổ đau, bất tịnh thì mình sẽ làm nhiếp phục được cái tham muốn của mình, nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với tưởng đó là sự xuất ly ra khỏi các tưởng.

Những hình bóng trong tâm mình không ham muốn, mình không ham thích nó nữa, mình không cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình nữa mà mình chỉ thấy những hình bóng này là duyên sanh, do tiếp xúc cho nên mới có tưởng, do tiếp xúc mới có tưởng không có tiếp xúc làm sao có tưởng. Bây giờ mình không thèm tham tất cả cái tưởng này nữa, bất cứ hình bóng gì trong tâm mình cũng nói đây là tưởng mà cái tưởng này là vô thường, tưởng này là hư ảo, tưởng này chỉ là si mê thôi, tham, sân, si thôi. Mình không có chạy theo các vọng tưởng đó, mình không có chạy theo những cái huyễn tưởng đó, mình không có chạy theo những cái hư tưởng đó, mình không có chạy theo những cái ảo tưởng đó, mình không có nắm giữ một cái ảo tưởng về tự ngã nữa. Như vậy thì những cái tưởng ám ảnh này mình phá nó hết, dùng cái trí tuệ vô thường, khổ, vô ngã đánh phá nó, trong tâm mình có tuệ lực, có một sức mạnh.

Tất cả những hình bóng sanh khởi trong tâm mình đều biết đây là tưởng, tưởng này là hư ảo, tưởng này là ảo tưởng, tưởng này là không có thật, tưởng này là vô thường. Mình không có để cho nó xâm chiếm, áp đảo, dẫn dắt, khống chế mình nữa, sai khiến mình nữa mà mình làm chủ các tưởng, mình không có tham đắm trong các tưởng, mình không có bị dính mắc ở trong các tưởng, mình phá vỡ tất cả các tưởng bằng trí tuệ thánh trí Đức Phật truyền trao, như vậy gọi là xuất ly tưởng, là vượt ra khỏi tưởng cũng gọi là giải thoát khỏi tưởng, cũng là giải thoát khỏi luân hồi sanh tử khổ đau.

Tưởng diệt đạo, phương pháp tu tập đưa đến tưởng đoạn diệt là phương pháp tám đúng của bậc thánh, đó là Bát Chánh Đạo. Đây là trí tuệ cuối cùng, tưởng diệt đạo là con đường chấm dứt tất cả các ảo tưởng để sống với thánh trí tuệ, đó là con đường tám đúng của bậc thánh, thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng. Thấy đúng về tưởng, thấy đúng về thọ, thấy đúng về hành, về thức, thấy đúng về sắc, thấy đúng về ngũ uẩn, thấy đúng về thân này, thấy đúng về tâm này, thấy đúng về đời sống này, không có si mê, không có hôn mê, không có ngu mê, không có đam mê, không có mê muội mà thấy rõ bản chất sắc này là tứ đại, là vô thường, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành, vô thường, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, thấy rõ cái bản chất của cái thân này. Mình nương nên cái trí tuệ của Đức Phật rồi mình nhắc hoài cái tâm của mình thì mình mới nhả ra được những cái mê, còn mình vô minh, học đạo mà mình nhớ ngoài đời, mình cứ so sánh, đối chiếu hoài thì mình không có thể nhập được trí tuệ.

Khi mình do học đạo mà mình đem cái kiến thức ngoài đời rồi mình lấy cái đó mình đối chiếu, mình so sánh, mình phân biệt này kia thì mình sẽ không thể nhập được trí tuệ, tại vì nó chống đối lại trí huệ của Phật. Cho nên quy pháp là một cái tâm dễ bảo, dễ nghe pháp thánh hiền, cái này rất quan trọng cũng như Đức Phật dạy mà mình cứ cãi lời, mình nói "tôi không muốn, tôi muốn cái này" thì chừng nào mình trở thành con ngoan của Phật được? Cho nên cái quan trọng nhất là cái tâm dễ bảo, dễ nghe pháp thánh hiền, khi nghe chánh pháp là tâm mình lắng nghe và tiếp thọ một cách ngọt ngào, cung kính, khát ngưỡng, cầu học thì như vậy giống như là rót cam lộ trên đỉnh đầu vào tim của mình, rót vào tâm của mình, thấm từng lỗ chân lông, từng tế bào, từng làn da, từng thớ thịt, ngấm vào trong xương tủy của mình thì lần lần mình mới thể nhập được thánh trí.

Ngược lại nghe với một cái tâm hời hợt, nghe với một tâm không có cung kính, mình nghe giống như nghe radio, xem đài, mình nghe với một cái tâm khinh thường thì mình không thể đạt được thánh pháp, thánh trí, thánh đạo của Phật dù cho mình tu suốt đời. Vì vậy khi mình nghe pháp với một cái tâm giống như cái người khát cần được uống, người đói cần được ăn, nghe với một cái tâm khiêm cung, cung kính tột độ, tột bậc thì cái tâm mình nó mở ra hết để mình đón nhận. Giống như cái bình rót nước sang một cái chung trống rỗng, rót bao nhiêu vào hết bấy nhiêu, còn nếu rót vô cái chung đầy nước thì nó tràn ra hết, làm sao đựng được cho nên mình biết cách học sẽ hay lắm, tuyệt vời lắm. Khi mình tiếp nhận được thánh trí huệ thì lần lần sẽ đoạn giảm cái khổ đau, tức là cái khổ đau, cái vô minh, cái tham, sân, si của mình nó sẽ giảm, nó bớt rồi từ từ nó chấm dứt luôn gọi là đoạn giảm.

Mình tu mà mình thấy tham, sân, si, bản ngã còn hoài, nó cứ chình một đống một đống, nó to tướng là tại vì mình đâu có để tâm, mình không có chú ý, mình không có tìm thầy học đạo đúng chánh pháp thì đó nó cứ vậy hoài. Tu bao nhiêu năm cũng vậy, ba năm gặp lại cũng vậy, năm năm gặp lại cũng vậy, mười năm gặp lại cũng vậy, gặp lại nằm trên giường cũng vậy rồi cuối cùng cũng vậy, không có cái gì tiến bộ, không có gì đột phá, không có cái gì tăng thượng, không có gì phát triển thì như vậy rất uổng cuộc đời tu của mình. Mình học tiểu học phải lên trung học, trung học lên đại học, đại học lên gì thạc sĩ rồi lên tiến sĩ, còn giờ mình học mười năm rồi mà tiểu học hoài, trung học hoài không có lên, như vậy mình muốn lên cao thì mình phải có công lao, phải có để tâm thật là nhiều. Hôm nay chúng ta học bảy trí tuệ, đây là thánh trí ngũ uẩn trong kinh tạng Nikāya, bảy trí tuệ về tưởng.

Sư Phụ: Chúng ta nhắm mắt lại nhận diện những hình bóng trong tâm.

Cô Hiền Trân: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính lạy trên sư phụ bậc ân sư tôn kính, con kính lạy trên quý chư tôn hiền đức, chư Tăng, chư Ni, quý sư cô và cùng quý chư hiền, con trò xin nhận diện ngũ uẩn. Sắc thân tứ đại con ngồi hồi tưởng lại bài sư phụ vừa giảng bên Sydney, hình bóng trong tâm của con là hình bóng của sư phụ đang giảng và quý chư hiền ở bên Úc Châu mà sư phụ đang giảng bảy trí về sắc và bảy trí về tưởng. Con thầm đọc bài bảy trí về tưởng, tưởng là hình bóng, bóng dáng thô tế ở trong tâm.

Sư Phụ: Nhận diện hình bóng trong tâm của mình.

Cô Hiền Trân: Dạ hình bóng trong tâm của con là hình bóng của sư phụ đang giảng bài pháp bảy trí về tưởng bên Úc Châu và quý chư hiền đang ngồi nghe sư phụ giảng. Cảm thọ rất là an lạc dễ chịu khi nghe sư phụ giảng và một cái ý hành khởi lên là sư phụ thật là vất vả, phải đi ngược về xuôi để giảng cho các chư vị bên Úc Châu lẫn cả Việt Nam về những thánh trí của Đức Thế Tôn. Đó là những cái hình tưởng, hình bóng và suy nghĩ của con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Chú Trí Hoàng: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin đánh lễ sư phụ, con xin được đảnh lễ quý chư Tăng, con xin được đảnh lễ quý chư Ni, quý sư cô cùng các bậc hiền chí. Con Trí Hoàng xin nhận diện ngũ uẩn, thân con là sắc, cảm giác hình bóng của sư phụ là thọ.

Sư Phụ: Nhận diện lại cảm giác là sao?

Chú Trí Hoàng: Cảm giác của con khi ngồi nghe sư phụ giảng con rất hoan hỉ là thọ. Hình bóng là tưởng, tưởng gồm có sáu tưởng, sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng và pháp tưởng, đó là tưởng uẩn, còn hành của con đang lắng nghe những lời sư phụ giảng và nhiếp thu căn. Con ráng hành cho tốt, nguyện làm những gì mình đã nghe được.

Sư Phụ: Hành là gì thưa chú?

Chú Trí Hoàng: Hành là con đang lắng nghe và nhiếp thu và hành cho tốt.

Sư Phụ: Chú đọc định nghĩa ngũ uẩn đi.

Chú Trí Hoàng: Thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành.

Sư Phụ: Rồi bây giờ nhận diện hành lại, suy nghĩ gì.

Chú Trí Hoàng: Con suy nghĩ qua những lời giảng của sư phụ về tưởng uẩn, con nhiếp thọ và con sẽ hành cho tốt, đó là hành uẩn của con ạ. Thức uẩn con rõ biết thọ; tưởng; hành. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Cô Hiền Trang: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, đệ tử con Hiền Trang xin phép trên sư phụ cùng quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng đại chúng con xin nhận diện ngũ uẩn. Hiện tại thân tứ đại đang quỳ, thọ thân dễ chịu, lạc của thân và thọ hỷ của tâm. Thanh tưởng, lời nói âm thanh của thầy Thiện Huệ vừa mời đại chúng sang ngồi an tịnh, lắng diệu và chuẩn bị làm bài tập. Ý hành thầm trong con nói là con sẽ làm bài tập về một ví dụ sáu tưởng, đó là ý hành, thức rõ biết và con cho cái ví dụ sáu tưởng. Sắc tưởng là đám rau lang ở nhà, thanh tưởng là trước khi đi con có nhắc người nhà tưới giùm đám rau lang cho con, đừng để nó khô, hương tưởng là cái vị hương, cái mùi thơm của cái rau lang luộc lên nó thơm và vị tưởng là cái vị chát chát, ngọt ngọt của cái cọng rau lang và cái mùi thơm của chao, hai vị nó cộng lại rất là thơm, pháp tưởng là thọ dễ chịu và tưởng về cái đám rau lang và hành nói lo sợ, không biết là ở nhà có nhớ tưới đám rau lang giùm cho mình hay không, đó là pháp tưởng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con xin hết ạ.

Sư Phụ: Sao cô có tác ý gì nữa không?

Cô Hiền Trang: Dạ con có tác ý an trú trong pháp, an tịnh, lắng dịu, bước qua để ngồi an tịnh, lắng dịu và chuẩn bị chia sẻ bài.

Sư Phụ: Tác ý thêm nữa về cái đám rau lang nữa.

Cô Hiền Trang: Dạ con xin cảm ơn.

Sư Phụ: Tác ý như thế nào?

Cô Hiền Trang: Dạ nếu được tác ý thêm sâu sắc nữa là đó cũng là sắc thôi, đó là cũng là các thứ vô thường, nếu đi khóa tu về thật sự họ quên tưới đám rau lang mà nó có héo, nó đó chết cũng là cái luật vô thường thôi. Không có gì mà phải luyến tiếc, thân này bước lên xe rồi có về đến nhà đâu, nằm lên giường giống như nằm lên cái băng ca để kéo ra nhà ngoài nhà xác thì có xá gì, có còn gì cái đám rau lang để chăm sóc nữa đâu. Thôi thì hãy nhả ra đi, định luật vô thường nó là như vậy.

Sư Phụ: Từ bỏ cái hình bóng đám rau lang đó, từ bỏ cái suy nghĩ lo lắng đám rau lang đó, từ bỏ những cái cảm giác chua chua, ngọt ngọt, nhẫn nhẫn gì đó, từ bỏ những cái vị đó. Tác ý vậy đó, đó là cái cách mình tác ý để cái tâm mình viễn ly, rời xa, từ bỏ và quay trở về cái sự thực tập ngay trong hiện tại.

Cô Hiền Trang: Dạ con cảm ơn sư phụ nhiều.

Sư Phụ: Đây là cái cơ hội cho chúng ta làm bài tập rất là trí tuệ về tự thân tâm của mình. Mình hãy năng nổ lên, nhiệt tâm lên, mình phải làm bài tập về cái tưởng lúc mình giận lên lúc đó là sao, trình bày ra, hồi tưởng lại cái cơn giận nổi lên lúc đó mình như thế nào.

Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí, con xin nhận diện ngũ uẩn buổi sáng ngày hôm nay ạ. Con không biết có đúng hay không, nếu có sai ở chỗ nào xin thầy chỉ dạy cho con ạ. Cái sắc thì lúc nãy con hồi tưởng lại thì có hình bóng, cảm thọ của con rất là an lạc ạ, còn hình bóng thì con tưởng trong tâm con có sư phụ, có Phật tử ở nơi khác mà con cũng không biết, còn hình bóng nữa là con tưởng sư phụ dạy về sáu tưởng, sắc tưởng là khi mình hồi tưởng lại khi mình soi gương ạ, thanh tưởng là khi những lời nói của người ta khen hoặc chê thì mình nghĩ lại mình vui hay là mình buồn ạ. Con lại tưởng đến sư phụ nói hương tưởng là khi mình ở trong nhà vệ sinh ạ, còn vị tưởng là khi mình ăn một cái món ăn gì đó và mình về mình biết cái vị ngọt hoặc là cái vị không hài lòng về cái vị đó, xúc tưởng là khi mình xúc chạm thức ăn đó với cái vị tưởng và hương tưởng ạ. Còn ý tưởng là khi mình rõ biết những cái pháp này là vô thường, là khổ, là bất tịnh, là khổ đau và biết được nó khổ thì mình đưa đến nhiếp phục và đoạn tận, pháp tưởng là mình rõ biết thọ; tưởng; hành ạ. Con tác ý là buổi học ngày hôm nay là con về sẽ học lại một cách sâu sắc hơn ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Rất là tốt, cô nhớ là pháp tưởng nha chứ không có ý tưởng nha.

Phật tử 1: Dạ pháp tưởng.

Sư Phụ: Giờ cô nhận diện sắc uẩn.

Phật tử 1: Sắc con đang ngồi ở đây.

Sư Phụ: Đúng rồi, được rồi, chúng ta phân biệt được sắc uẩn và sắc tưởng là hai cái khác nhau. Ai xung phong nhận diện sắc tưởng và sắc uẩn khác nhau như thế nào?

Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ, kính bạch quý chư Tăng Ni cùng quý giới tử, con xin phân biệt sắc tưởng với lại sắc uẩn. Sắc uẩn chính là thân con đang ngồi đây, còn sắc tưởng cũng là cái thân nhưng mà thân nó nằm ở trong cái tưởng.

Sư Phụ: Dạ cái hình bóng thân này ở trong tâm là sắc tưởng, cho tràng pháo tay.

Phật tử 2: Dạ con cũng xin phép trả bài luôn ạ. Dạ kính bạch sư phụ để cho đại chúng dễ hiểu thì con xin diễn tả cái ý của con, thứ nhất nhận diện ngũ uẩn, ngũ uẩn thì gồm có thứ nhất là sắc, sắc chính là thân con đang ngồi đây, thứ hai là thọ là cảm giác thì nó có ba cảm giác là khó chịu, dễ chịu và vừa không dễ chịu không khó chịu. Cái tưởng của con thì con tưởng hình bóng của Đức Phật, trong cái tưởng hình bóng Đức Phật này hiện lên thứ nhất là sắc tưởng là hình bóng của đức Phật, thứ hai là hương tưởng thì con nghĩ đến cái hương mùi hương của Phật thơm, thứ ba là thanh tưởng thì con nghĩ đến những cái âm thanh, những lời nói của Đức Phật, cái thứ tư là vị tưởng thì không có ạ, bởi vì Đức Phật không phải là đồ ăn, thức uống cho nên nó không có vị tưởng nên con không có tưởng đến cái vị, vị tưởng ở đây là không có, pháp tưởng này chính là thọ; tưởng; hành của cái pháp đó.

Tiếp theo là tới cái hành trong ngũ uẩn thì con suy nghĩ là chánh pháp của Đức Phật đang được lưu truyền rất là tốt. Cái hành này con cũng có tác ý, tác ý đầu tiên của con chính là mặc dù hình ảnh Đức Phật hiện ra nhưng vẫn là ảo tưởng, nó vẫn nằm trong cái ảo dù cái tưởng này nó tốt, hình ảnh của Đức Phật hiện ra là tốt nhưng vẫn nằm trong cái ảo tưởng. Cuối cùng là cái thức của con chính là rõ biết thọ; tưởng; hành.

Sư Phụ: Rất là tốt, cho thêm tràng tay vỗ tay nữa. Rất là tốt, chúng ta nhớ phân biệt thọ; tưởng; hành và cái pháp tưởng. Thọ; tưởng; hành là ngay trong hiện tại, mình có cảm giác như thế nào trong mình, hình bóng gì, có suy nghĩ gì, cái đó gọi là thọ; tưởng; hành nhưng cái pháp tưởng là hồi tưởng thọ; tưởng; hành đó. Tức là mình hồi tưởng lại cái cảm giác mà mình đã có, mình hồi tưởng lại suy nghĩ mà mình đã suy nghĩ, mình hồi tưởng lại những hình bóng đã có trong tâm của mình. Mình hồi tưởng lại thì cái đó là pháp tưởng, chỗ này vi tế và rất tuyệt vời.

Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin cảm ơn sư phụ, cảm ơn quý thầy, cảm ơn quý sư cô, cảm ơn toàn thể. Ngày hôm nay con từ Huế vô đây con xin cảm ơn sư phụ, quý thầy, quý cô. Con qua đây thấy cảnh dịu dàng, mát mẽ, vô đây cũng nhờ sư phụ dạy học hành thấy yên tịnh. Con xin cảm ơn.

Sư Phụ: Dạ mô Phật, cảm ơn cô. Chúng ta nhớ phân biệt thọ; tưởng; hành là cảm giác, hình bóng, suy nghĩ ngay hiện giờ thì gọi là thọ; tưởng; hành. Nhưng mình hồi tưởng lại cái cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó trước kia, bây giờ mình hồi tưởng lại thì cái đó trở thành pháp tưởng. Ví dụ sáng này ăn bún riêu, hình bóng của tô bún riêu đó là cái sắc tưởng, cái mùi của tô bún rêu đó là hương tưởng, mình nhớ cái vị của bún riêu là vị tưởng. Mình nhớ lại sắc, hương, vị thì gọi là pháp tưởng, còn lúc mình đang ăn thì lúc đó có cái cảm giác là thọ, cảm giác ăn ngon, thích thì đó là thọ.

Ngay lúc đó mình có suy nghĩ về tô bún riêu, mình nghĩ ngon quá thì đó là hành, trong tâm mình có hình bóng tô bóng riêu thì thọ; tưởng; hành ngay lúc đó là cái cảm giác ngon, lúc đó có cái hình bóng tô bóng riêu trong tâm, lúc đó có cái suy nghĩ liên hệ tới bún riêu này ngon hay là không ngon, mặn hay lạt thì ngay lúc đó là thọ; tưởng; hành. Nhưng mình hồi tưởng lại cái hồi sáng này thì nó trở thành ra pháp tưởng, mình suy nghĩ về cái điều đó trở thành pháp tư. Bây giờ chúng ta làm bài tập nhận diện về tham, sân, si, mình hồi tưởng lại khi mình nổi giận thì lúc đó nó ra sao?

Phật tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô và các bạn hiền trí, con xin nhận diện ngũ uẩn về tham, sân, si. Đầu tiên là thân tứ đại ngồi tại đây.

Sư Phụ: Bây giờ chú nhớ lại lúc chú nổi giận nó ra sao và chú thuật lại.

Phật tử 4: Lúc ấy con nghĩ đến chuyện giữa con và bạn con, hai người bạn của con là sắc tưởng, hình bóng đấy là hai người bạn, con và bạn con cãi nhau ạ.

Sư Phụ: Cảm thọ lúc đó như thế nào?

Phật tử 4: Cảm thọ của con lúc ấy là rất bực tức, sân hận.

Sư Phụ: Cái bực tức nó ra làm sao?

Phật tử 4: Bực tức là lúc ấy mình rất chi là khó chịu ạ.

Sư Phụ: Nó khó chịu làm sao?

Phật tử 4: Nó khó chịu là nó bùng lên, lúc sân rồi thì mình nóng, mình chửi, mình nói rất chi là bực bội.

Sư Phụ: Nó nóng từ đâu?

Phật tử 4: Trước nó nóng từ ngực mình lên ạ.

Sư Phụ: Rồi sau đó nó diễn biến sao?

Phật tử 4: Nó lên mặt, lên mũi, nó muốn ra tay ra chân luôn ạ. Đó là cái cảm thọ lúc đấy là con tưởng tượng lại.

Sư Phụ: Sau đó ra tay ra chân thì cái hậu quả nó như thế nào?

Phật tử 4: Dạ cái thanh tưởng lúc ấy con thấy là bụp bụp, chạt chạt rồi ạ. Còn cái vị tưởng là mồm và máu các thứ ngậm vào nhau cũng thấy mùi ngọt ngọt, chát chát và nhổ ra ạ.

Sư Phụ: Tức là đánh tới nỗi chảy máu mồm máu miệng luôn.

Phật tử 4: Vâng vâng.

Sư Phụ: Rồi sau đó có đau khổ không? Có khổ mình khổ người không?

Phật tử 4: Vâng, sau đó là cũng thấy rất chi là khổ và cũng có ân hận, theo như hiểu gọi là rất ân hận. Sau này về khi mình hồi tưởng, mình nghĩ lại toàn bộ quá trình đấy, đến đây học được cái pháp này của thầy thì bây giờ con mới hiểu được, còn lúc ấy cũng chỉ là ân hận của người đời thường thôi thì gọi là nghĩ vậy nhưng vẫn còn chấp bên trong ạ. Thế nhưng lên tới đây con học được cái pháp này thì con nghĩ bây giờ mình tác ý được và tự làm là "thôi, có những chuyện như thế thì Mình sẽ phải dùng cái cảm thọ trong mình này ngăn nó lại và làm từ từ lại". Con nghĩ là như thế và muốn gặp người đó nói chuyện để cho gần gũi nhau hơn, để đỡ xảy ra cái chuyện trước đây. Đến bây giờ bọn con cãi nhau, đánh nhau trong con chưa lên đây thì là vẫn còn nhìn nhau là ghét, vẫn còn tưởng tượng lại vẫn ức, nó là như thế. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Để tay vuốt lên trái tim và đọc "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, dễ mến". Chúng ta có thấy cái cơn giận làm cho mình khổ không? Có thấy cơn giận làm cho người sống chung với mình khổ không? Cơn giận hại mình hại người, làm khổ mình làm khổ người, hành hạ mình hành hạ người, hành tội mình hành tội người, hành phạt mình hành phạt người, hành xác mình hành xác người, nó hành hình mình hành hình người. Đó là sự thật về khổ và bây giờ chúng ta thực tập sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, trải tâm từ là chúng ta diệt khổ, thấy rõ khổ và diệt khổ. Đó là pháp thiết thực, hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến đây mà thấy không có thời gian, đó là khổ và diệt khổ, đó là tất cả những gì Phật dạy, chỉ có hai điều thôi, khổ và phương pháp diệt khổ.

Nhận diện, hồi tưởng lại những lúc sanh khỏi cái ta lên, cái bản ngã lên, cái tôi lên, lúc đó nó như thế nào. Cái tôi này nó có hại mình không? Nó có làm cho mình khổ không? Nó hại mình nhiều không?

Phật tử 5: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ cùng quý chư Tăng, chư Ni và toàn thể đại chúng. con xin chia sẻ về cái chấp ngã là cái tôi của con, con hồi tưởng lại cách đây năm năm là năm 2018, con là một người Phật tử cũng được tu học. Bắt đầu từ năm 2010 nhưng mãi đến năm 2018 con mới phát hiện ra là con bị chấp ngã là vì cái tôi của con muốn quá nhiều. Khi đến thời điểm nó bọc phát ra thì người đầu tiên chịu đựng đó là con, vì cái muốn của mình mà con đã tự làm cho bản thân con khổ đau và bị stress rất là nhiều, nhưng con lúc đó chưa nhận diện ra là lý do gì, chỉ biết là mình đang bị stress, đang bị khó chịu, đang bị khổ với những người mà con thương.

Tuy nhiên con may mắn vào năm đó con gặp được sư ông làng Mai đã cho con nhận diện lại chính con, do con mong muốn quá nhiều từ người thân con, từ những người bạn con và làm theo ý của con mà không được. Theo cái ý của con nên con đã tự khổ và con cũng muốn họ làm theo cái mong muốn của mình, nhưng con không có nhận diện rằng mỗi người có một khả năng và có một cái sự nhận diện. Khi con thực tập con quay về với chính con, con biết chấp nhận hiện tại và buông bỏ những cái mong cầu của con dành cho mọi người, chấp nhận cái khả năng của mình để trở về thực tập nuôi dưỡng với chính con trước bằng sự thiền tập, bằng sự buông bỏ và chấp nhận mọi thứ đến với con trong hiện tại một cách đơn giản nhất.

Con đã nhận thấy được một cái sự hạnh phúc và an lạc cho chính con trong từng giây phút hiện tại, đến hôm nay con cũng đang thừa đón nhận được những điều đó ngay trong đạo tràng hôm nay. Con xin chia sẻ một chút cái chấp ngã của con đến sư phụ cùng toàn thể chư Tăng Ni và đại chúng.

Sư Phụ: Lành thay! Lành thay! Bây giờ có vị nào trình bày nhận diện một cách cụ thể hơn không, thực tế cụ thể nó xảy ra trong thân mình, nó đau khổ như thế nào, nó làm cho những người thân trong gia đình mình khổ như thế nào vì cái tôi của mình.

Phật tử 6: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin nhận diện lại cái tôi của con, khoảng hai tuần trước con về nhà và con sống với gia đình, sắc ở đây là cái thớt, cái dao và trái chanh. Người dượng con và cả gia đình của con ngay tại lúc đó cảm thọ của con là xấu hổ và khó chịu, lo lắng.

Sư Phụ: Kể cái câu chuyện đó ra người ta mới hiểu.

Phật tử 6: Dạ là con cắt chanh xong rồi con đi làm một cái việc khác, khoảng mới năm phút thôi thì dượng của con đã nói rất là to tiếng là về việc sao không dọn liền thì con đã bị cái tôi của mình. Lúc đó con tức giận lên, con sân si lên và con đã đáp trả dượng bằng lời to tiếng, con đã nói với dượng ở trước mặt mọi người là con tự biết dọn đồ của con, không cần phải nói. Sắc ở đây là dượng con và tất cả gia đình của con hiện diện ở đó, là tấm thớt, dao và trái chanh, hương tưởng ở đây là mùi của trái chanh hơi thanh thanh, vị là trái chanh chua chua, thọ là con cảm thấy khó chịu, lo lắng và xấu hổ.

Sau đó con cũng đã nhận thức được và tác ý là dượng cũng là người lớn và mình không nên nói và tác động đến dượng trước mặt mọi người như vậy. Tại vì sau đó con nhận ra là tất cả mọi người đều thay đổi sắc mặt hết, chính điều đó là do con gây ra và con tác ý là bản thân của mình sai khi làm xong không dọn, mình phải sửa đổi cho lần sau, mình không được đáp trả nữa. Dạ con xin hết.

Sư Phụ: Rất là tốt, rất là tốt. Nhiều khi mình được nhắc nhở mà cái điều đó rất là đúng, lúc đó mình phản ứng tiêu cực lại liền "sao nhắc tôi", thường thường là vậy và chính chỗ đó làm cho gia đình lục đục, xào xáo. Nếu ngay lúc đó mình cảm ơn dượng, mình đã tu cái tâm hiền thiện, ngọt ngào là cảm ơn dượng đã nhắc cho con thì lúc đó đẹp không? Tuyệt vời không? Cho nên chúng ta thấy tu có hiệu quả tức thời không? Hiệu quả rất là thiết thực, rõ ràng, nhớ tâm hiền nha, tâm đừng có bỏ quên tâm hiền.

Phật tử 7: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch thầy, kính bạch quý Tăng Ni. Thật ra con đang hơi là run, đây là lần đầu tiên con dám bỏ cái sợ của con mà cầm mic.

Sư Phụ: Bây giờ con nhắm mắt lại, con hít vào an tịnh, lắng dịu, thở ra dễ chịu, ngọt ngào vài lần rồi sau đó hãy nói.

Phật tử 7: Dạ thưa thầy con muốn nhận diện là vào chiều ngày hôm qua khi được chia học nhóm thì con đã nổi lên một cái tâm không đúng đắn với một cô đồng tu trong nhóm. Lúc đó con đã thấy cái bản ngã con nổi lên bởi vì cô ấy giành chỗ con đứng và cô ấy muốn con lên trên đứng thì con đã nổi lên cái sự không vui trong đó và cái sự sân giận. Cái bản ngã của con là "tại sao cái chỗ này là của con, của tôi mà cô lại giành như vậy" trong khi con có thể dễ dàng nhường cho cô nhưng mà con lại sân giận. Sau đó thì con cũng đã lên trên con ngồi yên tĩnh lại và con hít thở nhận diện ngũ uẩn, con nhận thấy cảm thọ của con rất là khó chịu, cái sự sân của con đang nổi lên và con dùng quán tâm từ con nghĩ là có thể cô lớn tuổi và cô ngại ngồi đối diện với mọi người, mình là người trẻ thì mình nên nhường như vậy chứ không nên nổi bản ngã của mình, là của tôi, của ta, không được dành của tôi và cái sự sân đó là không đúng.

Con nghĩ đến câu của thầy là an tịnh, lắng dịu nên con từ từ hít thở ra vào, lúc đó cô Ấn Đức cũng có nói là dòng pháp này nếu sân là đã sai. Con bắt đầu cảm thấy cảm thọ dễ chịu trở lại và con không còn khó chịu với cô đó nữa, lúc đó con nhớ đến bài pháp sám hối diệt ngã, trong đó có câu lạy bạn đồng tu, lạy bạn đồng chang lứa thì con rất là muốn sám hối với cô mà con đã nổi sân lên. Con nổi sân là con đã không đúng nhưng mà giờ con cũng không nhớ mặt cô đó.

Sư Phụ: Rất là tuyệt vời, cho tràng vỗ tay lớn, hai người lạy với nhau là tuyệt vời lắm. Bây giờ bằng tấm lòng của mình, tâm mình sao thì mình cứ nói xin lỗi với nhau, trải tâm từ, tâm thương với nhau.

Phật tử 7: Tấm lòng của con là con đã chia sẻ rồi, thật sự là hôm qua con có nổi sân với cô, con thấy rất là khó chịu với bản thân mình là con không nên như vậy. Khi mà con dùng an tịnh, lắng dịu, con cảm thấy dễ chịu lại thì con rất là muốn sám hối xin lỗi với cô thì đó cũng là một cách để con diệt cái bản ngã của mình xuống, hạ cái tôi của mình xuống, và đặc biệt cô là người lớn tuổi hơn con rất là nhiều. Dạ con cũng nói là con rất là xin lỗi cô.

Sư Phụ: Đây là những hình ảnh đẹp nhất của người tu, đây là những hình ảnh hiền thiện nhất của thánh đệ tử, đây là những cảm thọ ngọt ngào nhất của sự hành trì chánh pháp. Cô có nói gì không cô?

Cô Phật tử 8: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính thưa thầy, dạ con kính thưa chư Tăng, các sư cô và các bạn hiền trí, bản ngã con cũng không khua kém gì nhưng mà hôm qua con thấy bạn đồng tu của mình như vậy, con đã học ra cái sự an tịnh, lắng dịu cho nên con không có để ý đến, on cố học cho hết buổi.

Sư Phụ: Cô có nhìn lại mình, thấy mình hành động vậy đúng không?

Cô Phật tử 8: Dạ thưa, con ra đây có mấy ngày mà con học được rất là nhiều.

Sư Phụ: Con hỏi cô là cái hành động mà cô kêu người khác đi chỗ người ta đang đứng là có đúng không?

Cô Phật tử 8: Dạ thưa sai, tại vì con không có nghe rõ, con muốn đi lên trước ngồi để con nghe được nhiều hơn, hành động con rất là sai.

Sư Phụ: Cô có muốn xin lỗi không?

Cô Phật tử 8: Dạ có, cô cũng xin lỗi bạn thiện hữu trí thức là do cô cũng không có để ý cho nên cô cứ làm theo cái ý muốn của cô, cô muốn lên trên để cô học được nhiều hơn. Cô không có để ý tới bạn của mình cho nên bạn thông cảm.

Sư Phụ: Dạ rồi hai vị lạy nhau, đây là tâm hiền thiện, đây là hạnh hiền hòa, đây là hạnh hiền kính, hiền thương, hiền đức. Đây là nét đẹp nhất của người tu, con mong rằng những hình ảnh này, những lời nói này, những cảm thọ này sẽ thấm nhuần tất cả thân tâm của chư vị trong đạo tràng. Hãy sống với nhau với một cái tâm hiền hòa, cảm thông, tha thứ, thương yêu với nhau và hãy đem tình thương này, sự hiền hòa này lan tỏa về trong gia đình của mình, những người sống cận kề, những người đã đồng cam cộng khổ với mình, hãy đem tình thương này thấm nhuần, dâng hiến lên đối với cha mẹ, ông bà, cô bác.

Không phải chỉ dừng lại ở chỗ này, đem tình thương này, tâm hiền hòa, hiền kính, hiền thương này thương cho chính mình, thương cho những sự không thấy, không biết của cái tâm dại khờ, thương cho những cảm thọ ta đây, những cảm thọ của bản ngã. Thương cho những cảm xúc sân hận, bực bội, bực dọc, bức xúc, khó chịu, cau có, cọc cằn, ghim gút, thương thật nhiều cho chính mình và thương thật nhiều cho những người chung quanh mình. Hãy đem cảm thọ thương này, hiền này cất giữ thật kỹ, thật nhiều, thật đầy trong tim mình, hãy sống với nhau với ánh nhìn thiện cảm, hãy nói với nhau với những lời thật sự là hiểu thương, hãy có những hành động thật là dễ thương với nhau, thật là hiền hòa với nhau.

Chúng ta thật là đẹp, vẻ đẹp này là vẻ đẹp hiền thiện, vẻ đẹp của hiền từ, hiền hòa, vẻ đẹp của hiền kính, hiền lương, vẻ đẹp của hiền đức, vẻ đẹp này là vẻ đẹp thanh cao, cao thượng thánh thiện. Vẻ đẹp này cần phải được trang sức mỗi ngày, cần phải được tô điểm mỗi giờ, cần phải được chăm chút mỗi phút giây, mỗi suy nghĩ, mỏi cảm xúc của mình, mỏi hình bóng trong tâm của mình hãy làm cho sanh khởi lên những cảm xúc hiền thiện này. Hãy làm cho tăng trưởng những cảm giác hiền thương này, hãy làm cho lớn mạnh những suy nghĩ hiền từ, ngọt ngào, mát dịu này. Cuộc đời chúng ta sẽ bước sang trang mới, sẽ đổi đời, sẽ thay đổi vận mạng, cuộc sống chúng ta sẽ ngọt ngào, sẽ tươi đẹp, sẽ ngát hương.

Chúng ta thấy không, cái tâm mê này đáng thương lắm, nó có lỗi lầm mà dù cho người lớn nói là nó chống đối lại liền, cái tâm này đáng thương lắm, đi tới đâu nó cũng đặt cái chữ của mình, của tôi vô. Cái tâm này đáng thương lắm, lúc nào nó cũng ta đây, nó cũng hơn thua hết, giống như là thanh sắt, chất sét hủy hoại lại tự thân của nó, sét sanh ra từ sắt hủy hoại lại sắt. Đó là cái tâm bất thiện, cái tâm tham, sân, si, bản ngã, tự nó sanh ra cái chất sét rồi tự nó hủy hoại lại nó, tự nó làm cho nó phải đau đớn, đau khổ, ray rứt, đau nhức, hối hận, tự nó làm cho nó đau khổ, giống như sét sanh ra từ sắt lại hủy hoại trở lại sắt. Những tham, sân, si, bản ngã này sanh ra từ cái cảm thọ, từ tâm, nó hủy hoại lại thân tâm của chính mình.

Cũng như ánh sáng lung linh, lấp lánh của viên ngọc minh châu chiếu rọi trở lại viên ngọc, cũng vậy những suy nghĩ, những cảm giác, những tưởng thiện lành, hiền thiện, hiền đức, từ tâm sẽ giống như ánh sáng lấp lánh phản chiếu lại cho viên ngọc minh châu. Ánh sáng sanh ra từ viên ngọc, làm cho viên ngọc rực rỡ, lấp lánh tuyệt vời. Hãy sanh khởi những thiện tâm, những hiền tâm, những hiền trí để làm cho thân tâm này lấp lánh, ngọt ngào, mát dịu, tươi đẹp và hiền hòa, hiền đức.

Sư cô Nhã Hiền: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Khi con nghe sư phụ dạy về những ngũ uẩn, về bản ngã, con đã nghĩ tới bản ngã của con rất to, rất lớn, đặc biệt là đối với huynh đệ trong chùa. Bản thân con luôn nghĩ mình lớn nhất trong chùa, ngoài sư phụ ra, nên lúc nào mình cũng có tiếng nói, có quyền, mỗi khi sư phụ sai đệ tử, sai huynh đệ làm cái gì nhưng không đúng ý của con hoặc là trái ý thì con sẽ nổi sân lên. Cơn sân đó thật kinh khủng, con đã la huynh đệ rất thậm tệ nhưng chư huynh đệ lúc nào cũng nghĩ tới con, cái gì ngon cũng đem lên cho con trước, cái gì tốt nhất cũng dành cho con. Có những điều con hay nói với huynh đệ làm cái này tốt cho đệ nhưng thật ra là con đang ép buộc sư đệ phải làm theo quy trình như vậy, phải đồng ý con, phải đúng với cái bản ngã của con.

Mặc dù có nhiều sư đệ hay nói sư huynh nghĩ tốt nhưng em thấy không tốt, con lại nói rằng chị đi trước, chị có kinh nghiệm. Con hay luôn bắt ép huynh đệ, không những như vậy có những lúc con khinh thường sư đệ sao mà ngu dốt vậy, nói cái gì cũng không hiểu, cái gì cũng để huynh làm. Con nhiều lần làm tổn thương huynh đệ trong chùa nhưng con không hề nhận ra, ngược lại huynh đệ luôn yêu thương con, luôn luôn tôn trọng, luôn luôn nghe lời. Hôm nay ở đây cũng có sư đệ con là Nhã Hoa, sư đệ ấy cũng chiều theo cái ngã của con rất nhiều, cũng luôn luôn nghe lời mặc dù nhiều lúc con bắt ép nhưng vẫn chịu đựng, lúc nào chỉ ra lỗi sai cho con thì con lại dùng ngôn từ để biện bạch lại.

Con không bao giờ lắng nghe sư đệ, con đã làm tổn thương chư huynh đệ trong chùa rất nhiều, nhiều huynh đệ tức con đến nỗi vào nhà vệ sinh khóc. Con lúc nào cũng tự cho mình là lớn, là có quyền, là người có kinh nghiệm, người làm việc giỏi nên không coi huynh đệ ra gì. Cũng cơ duyên may mắn khi được phép nghỉ ở trường con và sư đệ đã đến đây gieo duyên học đạo, tầm cầu học đạo và chị em chúng con cũng nhận ra một số điều sự thật, chị em con cũng đang trên đường nỗ lực để tu tập, để nhìn thấy sự thật. Hôm nay tại đây con xin gửi lời sám hối tới chư huynh đệ trong chùa, tới những người mà con đã làm tổn thương vì cái bản ngã này, vì cái sân giận này, vì cái ngu si này.

Sư Phụ: Sư cô có muốn hai huynh đệ bước ra lạy với nhau, xin lỗi nhau không?

Sư cô Nhã Hiền: Dạ có.

Sư Phụ: Vậy con mời hai huynh đệ bước lên trước thánh tượng của Đức Thế Tôn cúi lạy xin lỗi với nhau và cảm ơn nhau. Linh sơn cốt nhục, quyến thuộc bồ đề, mình hãy thương nhau, cảm thông cho nhau, tác thành cho nhau trên con đường hướng thượng trong giới đức, thiền định, trí tuệ và giải thoát. Không phải chúng ta đi xuất gia để làm khổ cho nhau.

Sư cô Nhã Hiền: Hôm nay ở trước Chư Phật, trước sư phụ, trước quý thầy, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Đệ tử Nhã Hiền xin chân thành sám hối sư đệ Nhã Hoa, đã làm sư đệ đau khổ nhiều, đã không bao giờ nghe lời sư đệ nhắc nhở, luôn luôn làm sư đệ tổn thương, luôn luôn bắt ép sư đệ phải làm cái này làm cái kia, có lúc con khinh thương sư đệ vì không hiểu biết. Hôm nay con xin sám hối, con xin sám hối.

Sư Phụ: Đây là những hình ảnh tối thượng, cao thượng, hiền thiện của thánh đệ tử, đây là pháp hòa kính mà Đức Thế Tôn đã truyền trao cho thánh chúng, đây là hình ảnh chân thật của một người xuất gia khất sĩ, đây là bản sắc của người xuất gia.

Sư cô Nhã Hoa: Con xin đánh lễ sư phụ bậc tôn kính của chúng con, con chân thành đảnh lễ quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Xin quý ngài hôm nay chứng minh cho lòng sám hối của con đối với sư huynh của con. Con cũng vì ngã mạn, cũng có đôi khi cũng khinh sư huynh con, có những lúc con cái chỉ làm những cái con thích, con có khởi lên những cái tâm ngu si, khờ dại, mê muội đến mức như vậy.

Em xin sám hối với chị, hai chị em ở trong một chùa có gì hỗ trợ, trợ duyên tu tập qua lại. Em vẫn còn khờ dại, xin chị nhắc nhở em bằng tình thương, bằng cái tâm hiền thiện.

Sư Phụ: Đây là những giọt nước mắt hạnh phúc, giọt nước mắt ngọt ngào của linh sơn pháp lữ, Đây là những cảm xúc tuyệt diệu của người từ bỏ gia đình, sống không gia đình, của người đã nhiếp phục cái bản ngã, đánh cho bản ngã này gục ngã là một sức mạnh của người tu.

Lạy thứ nhất con nguyện sống hòa kính.

Lạy thứ hai con nguyện sống luôn luôn với tâm hiền từ.

Lạy thứ ba con nguyện cùng hỗ trợ nhau thành tựu cứu cánh phạm hạnh.

Tất cả chúng ta đứng lên, chúng ta nói theo con:

Từ lâu con sống trong mê muội,

Không biết tâm mình rất uế nhơ.

Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.

Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.

Nay thấy tâm mình lắm bùn nhơ,

Rác bẩn hồ tâm đã ngập bờ,

Đáy nước hồ tâm toàn cấu uế,

Thật quá ê chề, quá chán chê.

Chán chê cho cái ngã u mê,

Dối trá, hơn thua, thật não nề.

Chẳng biết vô thường và ảo mộng,

Chẳng biết cuộc đời vốn rỗng không.

Bản chất cuộc đời là trống rỗng,

Bản chất cuộc đời là trống không,

Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,

Dễ dàng tan biến vào hư không.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.