Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Ba Điều Không Bao Giờ Cảm Thấy Vừa Đủ! Kinh HATTHAKA - Tăng Chi 1

2026-03-18 06:54:25
TINH HOA THÁNH ĐIỂN NIKĀYA 9

BA ĐIỀU KHÔNG BAO GIỜ CẢM THẤY VỪA ĐỦ!

KINH HATTHAKA

TĂNG CHI 1

–Thích Minh Thành–

Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí, hôm nay cũng bước vào mùa Phật Đản nên nay chúng ta mới tìm hiểu những bài kinh liên hệ về công đức tam bảo, về công đức trí tuệ của Đức Thế Tôn nhằm nhắc lại để cho mình nhớ, nhắc lại để cho mình sanh khởi niềm tin lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển, đi đến chỗ tịnh tín bất động, lòng tin không có lay chuyển. Buổi trước chúng ta đã có nghe về các vị cư sĩ thành tựu thánh quả Bất Lai là thánh quả thứ ba trong bốn thánh quả, trong các vị cư sĩ hôm trước chúng ta tìm hiểu có một vị tên Hatthaka cũng chứng thánh quả Bất Lai. Vị này khi còn tại thế là một cư sĩ đã đi vào được thánh quả Bất Lai tức là đã phá được kiến chấp về thân, giới cấm thủ, hoài nghi, tham và sân giết sạch cho nên vị này sau khi nhắm mắt sanh lên trên cõi trời Vô Phiền Thiên là các tầng trời ở trong tứ thiền, vô phiền tức là không còn phiền não nữa.

Vì vị này là một vị thánh đệ tử thiên, con nhắc lại chúng ta chư thiên có hai dạng, một dạng là phàm phu thiên, một dạng là chư thiên bậc thánh, gọi là thánh đệ tử thiên. Phàm phu thiên thì các vị này vui sướng, hạnh phúc, hoan hỉ và hưởng thụ cái phước đức của mình do mình tu tập, tích lũy ở nhân giới, ở trong nhân loại, trong loài người cho nên sau khi được lên trên thiên giới thì các vị mãi mê hưởng thụ những cái niềm vui, những cái sung sướng, những cái sự luôn luôn là những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc đều là dễ chịu, là hỷ lạc, sung sướng cho nên các vị này thường thường sau khi nhắm mắt sẽ rơi vào các cõi thấp. Dạng chư thiên thứ hai là thánh đệ tử thiên, thánh đệ tử ở đây là đệ tử của bậc thánh là chỉ cho đệ tử của Đức Phật, các vị này cũng là chư thiên nhưng mà chư thiên này không có đọa, chư thiên này chỉ có tiến lên, tiến lên và tiến lên, bất thối chuyển.

Vị cư sĩ Hatthaka này hôm trước mình đã tìm hiểu khi ngài còn ở nhân gian, bây giờ ngài đã lên thiên giới. Bây giờ tuy là lên thiên giới rồi nhưng chúng ta biết ngài là thánh đệ tử cho nên ngài vẫn lui tới để thỉnh giáo, nghe pháp, hầu hạ Đức Thế Tôn.

"Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetanava, khu vườn của Anàthapindika.

Rồi Thiên tử Hatthaka, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetanava đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy nghĩ: 'Ta sẽ đứng thẳng trước Thế Tôn', nhưng vị ấy chìm xuống, lún xuống, không có thể đứng thẳng; ví như thục tô hay dầu đổ trên cát, chìm xuống, lún xuống, không thể giữ lại. Cũng vậy, Thiên tử Hatthaka nghĩ rằng: 'Ta sẽ đứng thẳng trước mặt Thế Tôn', nhưng vị ấy chìm xuống, lún xuống, không thể đứng thẳng.

Rồi Thế Tôn nói với Thiên tử Hatthaka:

- Này Hatthaka, hãy hóa thành một tự thể thô xấu.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Thiên tử Hatthaka vâng đáp Thế Tôn sau khi hóa thành một tự thể thô xấu, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với Thiên tử Hatthaka đang đứng một bên:

- Này Hatthaka, các pháp được diễn tiến trước kia, khi Ông còn làm người, các pháp ấy được diễn tiến hiện nay đối với Ông không?" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XIII. Phẩm Kusinàra, Hatthaka)

Tức là những cái pháp mà ông đã học, đã tu được, đã thành tựu được khi ông còn ở nhân giới, còn ở nhân loại, còn ở cõi đời này, bây giờ sau khi ông đã sanh lên thiên giới thì những cái pháp đó có còn không, nó diễn tiến như thế nào.

"- Bạch Thế Tôn, các pháp được diễn tiến trước kia, khi con còn làm người, các pháp ấy có được diễn tiến hiện nay với con. Và bạch Thế Tôn, có các pháp không được diễn tiến trước kia, khi con còn làm người, các pháp ấy có được diễn tiến hiện nay đối với con. Ví như, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sống, được các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, các vua chúa, các đại thần của vua, các ngoại đạo, các đệ tử ngoại đạo đoanh vây. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con sống được các Thiên tử đoanh vây. Từ xa, bạch Thế Tôn, các Thiên tử đi đến, nghĩ rằng: 'Chúng ta hãy đến nghe pháp từ Thiên tử Hatthaka'." (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XIII. Phẩm Kusinàra, Hatthaka)

Tức là những cái gì được học, được tu, được thành tựu ở cõi đời, thế gian này bây giờ vẫn được học, được tu, được thành tựu ở thiên giới, ở cõi trời. Ngoài cái pháp mà con đã học, đã tu, đã thành tựu được ở thế gian thì bây giờ con còn có những cái pháp mà trước kia con chưa có sau khi con sanh lên cõi trời. Như vậy vị này đi lên cõi trời thì trở thành pháp sư, thánh đệ tử thiên, khi ngài chứng thánh quả Bất Lai rồi ngài lên trên thiên giới thì các thiên tử, các vị chư thiên, các vị thiên tử, các vị thiên nhân thường thường giống như Thế Tôn ở dưới thế gian các vị này đoanh vây con, vây quanh con, thường ở bên cạnh con để mong muốn được nghe pháp. Chúng ta thấy cái này hoan thỉ không ạ? Mình đừng có sợ mai mốt mình chết rồi mình quên hết pháp tu nha, nếu mình tu đúng chánh pháp, mình thành tựu được lòng tin vững chắc bất thối chuyển thì mình ở chỗ nào pháp cũng không có mất, càng ngày càng lớn mạnh lên thêm, càng tăng trưởng lên thêm, càng thêm hướng thượng.

"Có ba pháp, bạch Thế Tôn, con cảm thấy không bao giờ vừa đủ, con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc. Thế nào là ba?

Bạch Thế Tôn, con cảm thấy không bao giờ vừa đủ được thấy Thế Tôn, con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc. Bạch Thế Tôn, con cảm thấy không bao giờ vừa đủ được nghe Diệu pháp, con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc. Bạch Thế Tôn, con cảm thấy không bao giờ được phục vụ hầu hạ chúng Tăng, con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc." (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XIII. Phẩm Kusinàra, Hatthaka)

Con vẫn còn mong muốn được gặp Thế Tôn, được thấy Thế Tôn, thân cận với Đức Thế Tôn, đó là pháp thứ nhất con không bao giờ cảm thấy vừa đủ, cho đến chết con vẫn còn ân hận, luyến tiếc, chính vì vậy chết rồi sanh lên trời vẫn tiếp tục xuống gặp Đức Thế Tôn nữa. Cái pháp thứ hai là vẫn còn muốn nghe diệu pháp, ưa nghe diệu pháp, thích nghe diệu pháp, muốn nghe diệu pháp, cho đến chết vẫn luyến tiếc, ân hận, con muốn nghe thêm, muốn nghe nhiều hơn nữa. Đó là bậc thánh quả Bất Lai thứ ba đó, không bao giờ thấy vừa đủ khi nghe diệu pháp cho nên mình tu đúng đạo lộ là rõ lắm, nghe pháp không có chán, mình thích thú, mình hân hoan, mình hoan hỉ là biết đi đúng rồi đó. Ngược lại học thời gian thấy nghe pháp chán quá, sao nói tới nói lui cứ vô thường, khổ, vô ngã, cứ mấy cái tham, sân, si, cứ nói hoài mấy cái này là phải xem lại, còn người đi đúng đạo lộ, thể nhập được, đạt được lòng tin đối với pháp, thành tựu được trí tuệ rồi nhất là tịnh tín bất động trở lên thì cái người này ưa pháp, thích pháp, yêu pháp, hoan hỉ với pháp, vui với pháp và khát ngưỡng đối với pháp bất tận.

Con cảm thấy không bao giờ vừa đủ được phục vụ, hầu hạ chúng Tăng, con chết con cũng vẫn còn ân hận, luyến tiếc. Chúng ta thấy lời tác bạch, trình bạch của một bậc thánh đệ tử thiên Bất Lai thánh quả thứ ba, có ba pháp này, Bạch Thế Tôn con cảm thấy không bao giờ vừa đủ, con chết con vẫn còn ân hận, luyến tiếc, một là gặp Phật, hai là nghe pháp, ba là được phục vụ, hầu hạ chúng Tăng.

"Có ba pháp này, bạch Thế Tôn, con cảm thấy không bao giờ vừa đủ. Con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc.

Con thấy không vừa đủ

Khi được gặp Thế Tôn

Ðược phục vụ chúng Tăng

Ðược lắng nghe Diệu pháp

Học tập tăng thượng giới

Thích thú nghe Diệu pháp

Do đối với ba pháp

Cảm thấy không vừa đủ

Thiên tử Hatthaka

Ðược sanh vô phiền thiên" Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XIII. Phẩm Kusinàra, Hatthaka)

Ba cái pháp đó là cái nhân để đưa vị này lên tới Bất Lai thánh quả, lên tới cõi Vô Phiền Thiên, lên tới cảnh giới mà cái tâm không còn phiền não, ba cái pháp này là đề tài vĩ đại cho chúng ta Thiền Quán. Không bao giờ mình cảm thấy vừa đủ đối với cái việc mình được làm đệ tử của Thế Tôn, Thế Tôn nhập diệt rồi nhưng bây giờ mình có nhiều cách để thấy, thấy qua hình, thấy qua tượng, thấy qua tranh, thấy qua ảnh và sâu sắc hơn nữa là chúng ta thấy qua được pháp thân. Khi mình thấy được ngũ uẩn tức là thấy Phật, khi mình thấy được cái tính chất vô thường của ngũ uẩn, thấy được cái tính chất khổ của ngũ uẩn, thấy được cái tính chất vô ngã, trống rỗng của ngũ uẩn, mình không bao giờ tâm mình cảm thấy vừa đủ đối với cái nhìn, cái thấy về cái pháp đó, về chân lý đó, cái sự thật đó, cái bản tính đó, cái bản chất đó, cho đến chết mình vẫn còn ân hận, luyến tiếc.

Mình muốn nhìn được cái sự thật đó, mình muốn thấy được cái sự thật đó, mình muốn sống với sự thật đó, mình muốn ở gần với sự thật đó, muốn ngắm tượng Đức Phật, mình muốn nhìn hình ảnh Đức Phật, muốn nhớ đến những cái đức, những cái hạnh, những cái trí, những cái gì mà Đức Thế Tôn đã sống, đã tu, đã học, đã làm, đã cống hiến cho cuộc đời này, cho nhân loại, cho chúng sanh, cho thiên giới, cho ma giới, cho Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người. Không bao giờ mình thấy đủ khi học những cái đức hạnh của Phật, mình nhớ nghĩ, mình tư niệm, suy tư về những việc làm của Phật, không bao giờ mình cảm thấy là vừa đủ, cho đến chết mình vẫn còn luyến tiếc, hân hận vì chưa đủ. Mình muốn thêm nữa, mình muốn nhiều hơn nữa.

Ở đây chúng ta thấy dục như ý túc chứ không phải tu là không có muốn gì đâu, muốn được thấy Thế Tôn, muốn được nghe diệu pháp, muốn được phục vụ hầu hạ chúng Tăng. Mình cảm thấy không bao giờ vừa đủ đối với việc nghe diệu pháp, cho đến cái hơi thở cuối cùng ở trên giường bệnh cho đến xuôi cái tay xuống mình vẫn còn ân hận, luyến tiếc vì mình vẫn còn muốn được nghe diệu pháp, vẫn muốn nghe pháp nữa, vẫn muốn học pháp thêm, vẫn muốn thực hành các pháp, vẫn muốn được Thế Tôn thuyết pháp, vẫn muốn được các bậc thánh Tăng tuyên thuyết thánh đế, vẫn muốn được các bậc đạo sư, các bậc hiện tri thức, những bậc chân nhân, những bậc có pháp nhãn, những bậc minh kiến, những bậc đã nhìn thấy đạo lộ, nhìn thấy con đường tuyên thuyết diệu pháp cho mình nghe. Mình có chết mình vẫn còn ân hận, luyến tiếc, mình cảm thấy chưa có vừa đủ.

Đây là lời của một bậtc đã thành tựu gần cuối con đường, mình không bao giờ thỏa mãn, không bao giờ cảm thấy là đủ đối với việc được phục vụ, hầu hạ chúng Tăng. Mình làm được cái gì cho chúng, mình phụng sự được cái gì cho quý thầy, quý cô, cho các bậc tu hành mình vui lắm, mình hân hoan lắm, hạnh phúc lắm, mình thấy thời gian của mình không có uổng phí, không có lãng phí, không có phung phí, không có hoang phí, không có phí phạm vì mình được làm cho chúng Tăng. Mình đi đến chùa mình được quét cái sân, những chiếc lá đa, những chiếc lá tre, những chiếc lá bồ đề, mình được lao chánh điện mình vui, mình được rửa cái chén, cái tô mình hoan hỉ, mình được đi chùi cầu tiêu, nhà tắm, nhà vệ sinh thậm chí là trên Linh Quy chúng con các Ni sư, các sư cô vì thiếu nước mà giặt đồ cho các cái vị tu sinh vẫn hoan hỉ.

Chữ "Tăng" ở đây mình phải hiểu được hầu hạ, phục vụ chúng Tăng, mình đừng có nghĩ là chỉ người xuất gia không, Tăng đây là đoàn thể đệ tử của Đức Phật gồm có bốn chúng, đoàn thể thì nói gọn có bốn hạng Tăng, ni và cư sĩ nam, cư sĩ nữ, đây gọi là chúng Tăng. Chữ Tăng là Sangha là đoàn thể của Phật giáo gồm có xuất gia và tại gia, xuất gia nữ, xuất gia nam và tại gia nam, tại gia nữ, mình phụng sự đó là mình đang phục vụ, hầu hạ chúng Tăng, những con người m hướng đến Phật, hướng đến pháp, hướng đến Tăng, hướng đến sự ly tham, ly sân, ly si, nhiếp phục, chế ngự bản ngã, sống một đời sống hiền thiện, hiền hòa, thanh cao, cao thượng, sống một đời sống không lấy dục lạc là mục đích mà lấy sự ly dục làm cái chỗ đi đến, lấy sự hy sinh, lấy sự cống hiến, lấy sự phụng sự, lấy được sự đem lợi ích, đem giá trị, đem hạnh phúc, đem an lạc cho đời.

Vì lợi ích, vì an lạc cho chúng sanh, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người, vì lợi ích cho đời, vì sống theo lời Phật dạy, vì duy trì con đường cao thượng, cao đẹp này, vì lan tỏa cái đạo lộ diệt khổ này cho hữu tình chúng sanh mà chúng ta sẵn sàng phục vụ, sẵn sàng hầu hạ, sẵn sàng làm tất cả mọi việc, thậm chí từ bỏ cả cái sinh mạng để làm những việc nghĩa lợi, ý nghĩa, lợi ích, giá trị nhất là ở trong chánh pháp tối thượng này. Trong tất cả sự cúng dường, cúng dường pháp là tối thượng, trong tất cả sự bố thí, bố thí pháp là cao tột, trong tất cả các hương vị thì hương vị pháp là hương vị tối thượng, trong tất cả cái niềm vui thì niềm vui pháp là niềm vui cao tột.

"Pháp thí, thắng mọi thí!

Pháp vị, thắng mọi vị!

Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!

Ái diệt, dứt mọi khổ!"

(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 354)

Làm sao mà con không hoan hỉ được thưa Đức Thế Tôn, con gần gũi ngài con thật sự thấy ấm áp, khi con về bên ngài con thật sự thấy ngọt ngào, khi con được trở về bên ngài là con thấy một cái bóng mát. Ngài là một vầng trăng, ngài là một bóng cây, ngài là một chiếc cầu, ngài là một ánh đèn, ngài giống như cây dù che cho con trong mưa gió, ngài giống như ngọn đèn soi cho con trong đêm dài tăm tối vô minh này, ngài giống như mặt trời chân lý chiếu vào tim con, ngài giống như ánh trăng diệu huyền, thanh lương, mát dịu, dễ chịu để cho cuộc đời con thấy được ánh sáng, ngài giống như chiếc cầu từ bờ bên này để cho chúng con có thể đạt tới bờ bên kia, từ bờ đau khổ nguy hiểm bên này chúng con có thể bước qua, đi qua, vượt qua để đến bờ bên kia đầy bình an, đầy an lạc, đầy hạnh phúc.

Làm sao mà con cảm thấy vừa đủ được trong sự gặp gỡ Đức Thế Tôn, con chết con cũng vẫn còn ân hận, luyến tiếc, cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, những hơi thở cuối cùng cho đến xuôi tay nhắm mắt rồi nhưng trong lòng con vẫn còn ân hận, phải chi con gặp Thế Tôn nhiều hơn nữa. Con vẫn còn luyến tiếc, con mong muốn ở bên cạnh Thế Tôn nhiều hơn nữa, sự gặp Thế Tôn là sự thấy vô thượng, sự gặp vô thượng, sự nhìn vô thượng, sự ngó vô thượng, sự gặp gỡ tối thượng trên cuộc này. Làm sao mà con cảm thấy vừa đủ được, con chết con vẫn còn ân hận và luyến tiếc, cho đến ngày hôm nay Thế Tôn nhập diệt hơn 25 thế tỷ nhưng hình dáng của ngài, hình tướng của ngài, biểu tượng của ngài, hình ảnh của ngài vẫn sống mãi trong tim của con. Ngài là bất tử, ngài là bất diệt, ngài là bất hoại trong tim của con, trong tim của những người thánh đệ tử, trong tim của những người đã cảm nhận được giá trị, ý nghĩa, cái lợi ích tối thượng của đạo lộ diệt khổ tám đúng, bậc thánh ly tham thoát tục mà ngài đã để lại.

Con cảm thấy không bao giờ vừa đủ đối với sự được nghe diệu pháp, con chết con cũng vẫn còn ân hận, luyến tiếc đối với sự nghe diệu pháp của ngài, đối với những cái chân lý mà ngài đã chứng ngộ, đối với những sự thật mà ngài tuyên thuyết, đối với Thánh Đế mà ngài đã trình bày, hiển thị, minh thị, tuyên thệ, tuyên thuyết, khai thị, hiển lộ, phân minh, phân tích, mở bài cho chúng con. Con không bao giờ cảm thấy vừa đủ, không bao giờ biết chán, không bao giờ biết ngán, con muốn nghe, con mong nghe, con vui nghe, con thích nghe, con ưa nghe, dầu cho con có chết trong giây phút cuối cùng của cuộc đời con mà con được nghe diệu pháp thì con cam tâm tình nguyện, con ngậm cười nơi chín suối và con thỏa mãn đối với diệu pháp tối thượng này.

Làm sao mà con có thể vừa đủ được, làm sao mà con có thể cảm thấy như vậy là đủ rồi được. Bạch Đức Thế Tôn con chết con vẫn còn ân hận, luyến tiếc, con muốn được nghe thêm nhiều pháp nữa, nghe thêm những sự thật tối tôn, tối thượng, tối thắng, tối cao, những sự thật làm cho con sáng mắt ra, những sự thật làm cho con vỡ lẽ ra, sự thật phá tan cái u mê trong tâm trí con, những sự thật làm cho con bừng sáng lên mặt trời chân lý, những sự thật có thể chiếu phá hết những cái xuyên thủng hết những cái khối vô minh uẩn to lớn trong tâm thức của con, xuyên thủng và phá vỡ những cái tường đồng vách sắc của tham ái, của chấp thủ trong cuộc đời này.

Làm sao mà con có thể cho rằng là đầy đủ đối với việc nghe diệu pháp này được, con có chết cũng vẫn còn muốn, vẫn còn mong, vẫn còn luyến tiếc, vẫn còn ân hận. Con muốn được nghe nhiều hơn nữa, con muốn được sống trong pháp, được trú trong pháp, con lấy hơi pháp là hơi thở của con, con lấy hơi pháp là thức ăn của con, con lấy pháp là nước uống của con, con lấy pháp giải khát, con lấy pháp làm sự nuôi dưỡng, con lấy pháp làm hơi thở, con lấy pháp làm sự sống, con lấy pháp làm lẽ sống, làm lối sống, làm phương thức sống, làm cách sống, làm nguồn sống, làm sinh lực của con, làm sức sống ở trong con. Không bao giờ con cảm thấy là vừa đủ đối với việc nghe diệu pháp cho nên tuy là con đã trở thành thánh đệ tử thiên, lên tới Vô Phiền Thiên rồi con vẫn quay trở lại đây và quỳ dưới chân Thế Tôn, con vẫn quỳ mọp dưới chân của ngài, vẫn phủ phục trước tòa của ngài, vẫn dập đầu dưới chân của bậc Thế Gian Giải, của bậc thế gian tôn kính, thế giới tôn thờ, lịch sử tôn trọng.

Con thật là hạnh phúc khi được gặp Thế Tôn, con thật là vui sướng khi được nghe diệu pháp, con không bao giờ cảm thấy vừa đủ đối với sự phục vụ hầu hạ chúng Tăng. Con chết con vẫn còn ân hận, luyến tiếc, con muốn được quét chùa, con muốn được lau chánh điện, con muốn được rửa chén, con muốn được nấu cơm, dâng từng bữa cơm lên cho bốn chúng, con muốn lau chùi những cái chỗ dơ bẩn nhất, hôi tanh nhất trong những nhà vệ sinh, trong những nhà cầu. Con phải xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, xả bản ngã này để thể nhập vào thánh trí vô ngã. Con vui sướng lắm, con hạnh phúc lắm, con hoan hỉ lắm vì con được phụng sự, được phục vụ, được hầu hạ đoàn thể của Đức Thế Tôn.

Hầu hạ những con người hiền thiện, hiền lành, hiền đức, hiền trí, hầu hạ những bậc hiền thánh, những bậc có cái tâm ly tham, những bậc có cái tâm nghiêng về ly tham, hướng vào ly tham, nhập vào trong ly tham, những bậc cái tâm nghiêng về rời xa, hướng về rời xa, nhập vào sự rời xa, những bậc có tâm nghiêng về sự thoát ra, hướng về sự thoát ra, nhập vào sự thoát ra, những bậc đã chứng đắc được sự thoát ra, sự rời xa, sự xuất ly khỏi những đời sống đầy nước mắt, đầy bất an, đầy tai họa, đầy phiền não, phiền bực, phiền phức, đầy lo toan, đầy khổ ải này. Con thật là hoan hỉ, thật là hạnh phúc, thật là vui sướng khi được phục vụ, hầu hạ chúng Tăng, con không bao giờ cảm thấy vừa đủ cho đến hơi thở cuối cùng, từ đây cho đến mạng chung con vẫn mong được phục vụ hầu hạ chúng Tăng. Con không có ân hận khi con được gặp Thế Tôn, con không có ân hận khi con được nghe diệu pháp, con không có ân hận khi phục vụ, hầu hạ chúng Tăng.

"Này Sariputta, có tám Hội chúng này: Hội chúng Sát-đế-lị, Hội chúng Bà-la-môn, Hội chúng Gia chủ, Hội chúng Sa-môn, Hội chúng Tứ thiên vương, Hội chúng Tam thập tam thiên, Hội chúng Màra, Hội chúng Phạm thiên. Này Sariputta, có tám Hội chúng này. Này Sariputta, Như Lai thành tựu bốn pháp vô sở úy như vậy, đến gần và vào tám Hội chúng này.

Này Sariputta, Ta nhớ lại Ta đã đến hàng trăm Hội chúng Sát-đế-lị. Tuy vậy, trước khi Ta ngồi xuống tại chỗ ấy, trước khi Ta nói chuyện và trước khi Ta đàm luận; này Sariputta, ta thấy không có lý do gì để nghĩ rằng: 'Chắc chắn sự sợ hãi và run sợ sẽ đến ám ảnh Ta'. Này Sariputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.

Này Sariputta, Ta nhớ lại, Ta đã đến hàng trăm Hội chúng Bà-la-môn... (như trên)... Hội chúng Gia chủ... Hội chúng Sa-môn... Hội chúng Tứ thiên vương... Hội chúng Tam thập tam thiên... Hội chúng Màra... Hội chúng Phạm thiên. Tuy vậy, trước khi Ta ngồi xuống tại chỗ ấy, trước khi Ta nói chuyện và trước khi Ta đàm luận, này Sariputta, Ta thấy không có một lý do gì để nghĩ rằng: 'Chắc chắn sự sợ hãi và run sợ sẽ đến ám ảnh Ta'. Này Sariputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.

Này Sariputta, nếu ai biết Ta như vậy... người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục, như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)

Ngài đạt được một cái tâm vô sở uý là một cái tâm dõng mãnh trong tất cả tất cả các hội chúng ở trong tam thiên, đại thiên thế giới này. Ngài đi vào tâm bình an, tâm bất động, tâm an tịnh.

"Này Sariputta, có năm loại sanh thú này. Thế nào là năm? Ðịa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, loài Người, chư Thiên.

Này Sariputta, Ta tuệ tri địa ngục, con đường đưa đến địa ngục và hành lộ đưa đến địa ngục. Tùy theo hạnh nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, sự việc này ta cũng tuệ tri.

Và này Sariputta, Ta tuệ tri bàng sanh, con đường đưa đến bàng sanh và hành lộ đưa đến bàng sanh. Tùy theo hạnh nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào bàng sanh, sự việc này Ta cũng tuệ tri.

Và này Sariputta, Ta tuệ tri ngạ quỷ, con đường đưa đến ngạ quỷ và hành lộ đưa đến ngạ quỷ. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào ngạ quỷ, sự việc này Ta cũng tuệ tri." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)

Tại sao người đó rơi vào địa ngục ta biết, họ làm cái gì ra vào địa ngục ta thấy, tại sao người đó đi vào con đường của súc sanh, thú vật, trở thành con heo, con trâu, con bò, con gà, con chó, con ngựa, con giòi, con gián, con muỗi, con kiến ta biết bằng trí tuệ tại sao họ bị như vậy, do cái nghiệp gì mà họ phải sanh vào những loài như vậy ta biết rõ đường đi nước bước, nguyên nhân, căn nguyên, gốc rễ, nguồn cội, ta thấy ta biết rõ.

" Và này Sariputta, Ta cũng tuệ tri loài Người, con đường đưa đến thế giới loài Người và hành lộ đưa đến thế giới loài Người. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào loài Người, sự việc này Ta cũng tuệ tri." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)

Tại sao sanh vào trong thế giới của con người, tại sao mặt mũi như vậy, tại sao tánh tình như vậy, tại sao thấp lùn có một thước như vậy, tại sao lại cao một thước tám như vậy, tại sao lại đen trắng, mập ốm, cao thấp, sang hèn, quý tiện, tại sao cái tướng phúc hậu còn cái tướng nhìn xấu ác, thấp hèn. Tất cả những cái đó ta đều biết hết căn nguyên, cội nguồn, gốc rễ, đường đi nước bước ta đều biết bằng trí tuệ một cách rõ ràng, minh minh bạch bạch, tỏ tỏ tường tường, trong trong sáng sáng.

"Và này Sariputta, Ta cũng tuệ tri chư Thiên, con đường đưa đến Thiên giới và hành lộ đưa đến Thiên giới. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới, thế giới này, sự việc này Ta cũng tuệ tri." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)

Tại sao sanh lên cõi trời này, tại sao sanh lên cõi trời kia, tại sao sanh lên cõi trời nọ, tại sao sanh lên cõi trời dục, sanh lên cõi trời sắc hay là sanh lên cõi trời vô sắc. Tu cái pháp gì, cái tâm như thế nào, cái hạnh nghiệp ra làm sao, thiền định gì ta thấy, ta biết rõ đường đi nước bước, căn nguyên, gốc rễ, nguồn cội. Ta tuệ tri chư thiên, con đường đưa đến thiên giới và hành lộ đưa đến thiên giới.

"Và này Sariputta, Ta cũng tuệ tri Niết-bàn, con đường đưa đến Niết-bàn và hành lộ đưa đến Niết-bàn. Tùy theo hành nghiệp, do đoạn trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, sự việc này, Ta cũng tuệ tri." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)

Con đường đưa đến sẽ chấm dứt hoàn toàn tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã đi như thế nào, bước như thế nào, đến như thế nào để đưa đến sự chấm dứt hoàn toàn sự tái sanh ở trong cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, chấm dứt hoàn toàn sự tái sanh trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, trời cho đến cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, chấm dứt hết tất cả sự hiện hữu, đoạn tận hết tất cả những lậu hoặc, dứt trừ hết tất cả các kiết sử ta cũng biết bằng trí tuệ con đường đưa đến Niết-bàn và hành lộ đưa đến Niết-bàn.

Con thưa là con chỉ trích một cái đoạn hết sức là ngắn ở trong Đại Kinh Sư Tử Hống, năm ngoái Phật Đản con cũng chỉ trích một phần ngắn ở trong bài kinh này thôi. Đây là Đức Phật trình bày trí tuệ của ngài thấy rõ được năm loại sanh thú tức là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người và trời là năm cái giới này, hay là mình nói là lục đạo luân hồi đó, A-tu-la nữa cộng vô. Bằng cái trí tuệ ngài nhìn thấy hết, ngài ví dụ giống như từ nhà bên này đối diện với nhà bên kia có hai cái cửa mà người bên đây đi qua, người bên kia đi lại rồi mặc áo màu xanh, hay là màu đỏ, màu vàng, rồi làm cái gì ngài nhìn thấy hết. Có một ví dụ ngài giống như đứng ở trên lầu cao giữa ngã tư đường nhìn thấy người này đi qua, người nọ đi lại, hạnh nghiệp của người này làm cái gì đưa người này đến địa ngục, người này tạo cái nghiệp gì đưa đến làm con bò, con trâu, con heo, con gà, con giòi, hành nghiệp người này tạo những cái nghiệp gì người này làm thành con ma hay là thành ma vương, nghiệp thiện của người này tu tập những cái gì, tâm như thế nào, giới hạnh như thế nào, tu tập ra làm sao đưa người này đi đến làm phạm thiên, vua trời, hay là thiên tử con trời, hay là thiên nhân ngài nhìn thấy, biết hết tất cả đường đi nước bước, gốc rễ nhân quả, hành tướng.

Đức Thế Tôn gọi là con đường đưa đến và hành lộ đưa đến lục đạo luân hồi, hay là ngũ thú, năm loại sanh thú, năm loại thú hướng để tái sanh. Nhưng cái điều tối thượng ở đây là "ta là tuệ tri Niết-bàn" chỗ này là chỗ tối tôn, tối thượng, tối cao. Có những cái vị thời Đức Phật trong ngoại đạo tu chứng nên biết được năm trăm kiếp, năm trăm đời, người ta biết được điều đó nhưng để biết được Niết-bàn thì không biết. Trong Trưởng Lão Tăng Kệ có câu chuyện ông này học bùa chú, đi tới mấy người chết rồi cầm cái đầu sọ lên gõ gõ là biết người này sanh ở cõi nào, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hay người, hay là chư thiên. Ông nổi tiếng là đi làm cái nghề đó để sinh sống, khi đi tới Đức Phật thì Đức Phật nói lấy cái đầu sọ của bậc A-la-hán đưa cho gõ thì ông gõ hoài kiếm không ra. Đức Phật mỉm cười "đây là bậc A-la-hán, làm sao ông tìm sanh thú được, giờ ông muốn học thì ông đi theo ta, ta chỉ cho". Đức Phật giảng cho nghe rồi ông tu chứng thánh quả A-la-hán.

"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn ở Kosala, được đặt tên là Migasìra, theo ngôi sao ngày sinh. Học theo văn hóa Bà-la-môn, ngài thực hành bùa chú sọ người, khi ngài đọc lên bùa chú và lấy móng tay gõ trên sọ người, ngài tuyên bố: 'Người này sẽ được tái sanh trong giới này...', cho đến với những người đã chết được ba năm. Không thích thú đời sống thế tục, ngài trở thành người du sĩ, với hạnh sọ người của ngài, ngài được cung kính cúng dường. Ði đến Sàvatthi, đứng trước mặt bậc Ðạo Sư, ngài tuyên bố sức mạnh của ngài: 'Thưa Tôn giả Gotama, ta có thể nói chỗ tái sanh của những người đã chết'.

Ðức Phật hỏi: 'Ông làm như thế nào?'

Ngài cho đem lại một sọ người, đọc lên bùa chú, với móng tay gõ trên sọ người, ngài tuyên bố đọa xứ v.v... là chỗ tái sanh!

Ðức Phật cho đem lại sọ người của một Tỳ-kheo, đã chứng Niết-bàn và nói: 'Hãy nói chỗ tái sanh của người này'. Migasìra đọc bùa chú, lấy móng tay gõ trên sọ người, nhưng không thấy đầu đuôi như thế nào.

Rồi Thế Tôn hỏi:

- Này du sĩ, có phải ông làm không được?

Ngài trả lời: - Tôi cần phải xác chứng cho chắc chắn! Nhưng dù cho ngài xoay xở như thế nào, làm sao ngài biết được sanh thú của vị A-la-hán; ngài xấu hổ, toát mồ hôi, im lặng.

- Này du sĩ, có phải ông mệt mỏi?

- Vâng, tôi mệt mỏi, tôi không biết sanh tử của vị này, Ngài có biết chăng?

- Ta biết được và Ta biết nhiều hơn thế nữa! Vị này đã nhập Niết-bàn!

Vị du sĩ nói:

- Vậy nói lên cho con, bí quyết ấy?

- Vậy ông phải xuất gia! Rồi Migasìra xuất gia và được dạy cho đề tài tu định. An trú vững vàng trên thiền và thắng trí, ngài thực hành thiền quán, không bao lâu, chứng quả A-la-hán.

Rồi ngài nói lên chánh trí của ngài như sau:

Từ khi ta xuất gia,

Trong pháp bậc Chánh giác,

Giải thoát, ta tiến lên,

Ta vượt qua dục giới.

Nhờ Phạm-chí quán sát,

Tâm ta được giải thoát,

Ta giải thoát bất động,

Mọi kiết sử đoạn diệt." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Phẩm Bốn, Chương II - Hai Kệ, (CLI). Migasìra (Thera. 24))

Thành ra cái chỗ tối thượng ở đây là ta đã biết bằng trí tuệ con đường đưa đến Niết-bàn và hành lộ đưa đến Niết-bàn, chỗ này mới là chỗ Thiên Nhân Sư, mới là chỗ tối tôn, tối thượng, tối thắng, tối cao của tam giới, mấy con đường kia là dễ rồi nhưng đối với một chúng sanh bình thường không phải dễ. Mình nói dễ là đối với Đức Phật thôi và đối với các vị có những cái khả năng, nhưng đây là thánh trí về túc mạng minh, về sanh tử trí, thấy rõ hết tất cả đời kiếp của mình và của tất cả chúng sanh. Giống như người đứng trên lầu cao ở ngã tư đường nhìn xuống thấy người đi qua, người kia đi lại, người này làm cái gì, tất cả hạnh nghiệp của họ, vì đâu mà họ đưa đến cái quả như vậy, thấy rõ hết, rõ ràng, minh minh bạch bạch, tỏ tỏ tường tường, trong trong sáng sáng.

"Ví như, này Udayi, một tòa lầu có thượng đài giữa ngã tư đường, một người có mắt đứng trên ấy, sẽ thấy những người đi vào nhà, đi từ nhà ra, đi qua lại trên đường, ngồi ở giữa ngã tư hay trên đài thượng. Người ấy nghĩ: 'Những người này đi vào nhà, những người này đi từ nhà ra, những người này đi qua lại trên đường, những người này ngồi giữa ngã tư hay trên đài thượng'. Cũng vậy, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Những vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh... đều do hạnh nghiệp của họ. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn." (Trung Bộ Kinh, 77. Ðại kinh Sakuludàyi)

Cho nên cái tối thượng ở đây là "ta cũng tuệ tri Niết-bàn" là cái đạo lộ dẫn người ta đi đến chỗ diệt khổ nếu người nào muốn.

"Này Sariputta, ở đây, với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người. Do hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục như vậy. Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng như có một hố than sâu hơn thân người, đầy vun than hừng, không có lửa ngọn, không có khói, và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi khô cổ, đắng họng, khát nước, và đi thẳng đến hố than ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy, có thể nói: 'Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến hố than kia'. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia rơi vào hố than ấy và phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: 'Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục như vậy'. Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)

Cái ví dụ này của Đức Phật hết sức là rõ, một người có mắt nhìn thấy một cái người kia đi như vậy, cái hướng đó như vậy, cái hố hang ở phía trước người này lao tới như vậy thì người này phải rơi xuống cái hố than hừng đó. Đó là ví dụ cho rơi địa ngục, bây giờ ví dụ cái ví dụ thứ hai rơi vào cõi súc sanh.

"Này Sariputta, cũng như có một hố phân, sâu hơn thân người, đầy những phẩn uế, và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến hố phân ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: 'Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến hố phân ấy'. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia rơi vào hố phân ấy và phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây với tâm của Ta... (như trên)... thống khổ, khốc liệt." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)

Hồi nãy là hầm lửa, bây giờ hố phân, sau đây là ví dụ sanh vào ngạ quỷ.

"Này Sariputta, cũng như có một cây sống trên miếng đất không bằng phẳng, với lá thưa thớt, với bóng che từng đám lưa thưa. Và một người đi đến bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến cây ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: 'Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến cây ấy'. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia ngồi hay nằm dưới bóng cây ấy và phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng vậy ở đây với tâm của Ta... (như trên)... thống khổ, khốc liệt." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)

Sau đây là ví dụ được sanh vào loài người.

"Này Sariputta, cũng như có một cây sống trên miếng đất bằng phẳng với lá sum sê, với bóng cây rậm rạp. Và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến cây ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: 'Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ của người này như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến cây ấy'. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia, ngồi hay nằm dưới bóng cây ấy và cảm thọ được nhiều cảm giác lạc thọ. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây, với tâm của Ta... được nhiều cảm giác lạc thọ." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)

Một miếng đất bằng phẳng có cây cổ thụ sum sê, mát mẻ là được ví dụ sanh vào loài người

Này Sariputta, giống như một ngôi lầu, có gác nhọn, có tô vôi cả trong lẫn ngoài, được che gió, có then chốt đóng lại và có các cửa sổ khép kín. Tại đây có một sàng tọa, trải nệm lông dài, trải nệm màu trắng, trải nệm bông có thêu hoa, trải nệm bằng da sơn dương gọi là kadali, có nệm với khuôn màu treo phía trên, có gối dài màu đỏ cả hai đầu. Và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến ngôi lầu ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: 'Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến ngôi lầu ấy'. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia ngồi hay nằm trong ngôi lầu ấy, trong gác nhọn ấy, trên sàng tọa ấy và cảm thọ được nhiều cảm thọ cực lạc. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây với tâm của Ta... được nhiều cảm giác lạc thọ." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)

Đó là sanh vào cõi người.

"Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: 'Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát như vậy'. Sau một thời gian, Ta thấy vị ấy đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, cảm thọ những cảm giác cực lạc.

Này Sariputta, năm loại này là năm sanh thú. Này Sariputta, có ai biết Ta như vậy, thấy Ta như vậy, và nói: 'Sa-môn Gotama không có pháp Thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuộc trắc nghiệm'. Này Sariputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy, thì người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên. Này Sariputta, Tỳ-kheo thành tựu giới hạnh, thành tựu thiền định, thành tựu trí tuệ, có thể chứng được chánh trí ngay trong hiện tại. Này Sariputta, Ta nói như vậy là sự thành tựu như vậy. Nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy, thì người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)

Hôm nay chúng ta giới thiệu một bài kinh của một vị thánh đệ tử thiên, ba pháp không bao giờ biết đủ dầu cho đến chết vẫn còn luyến tiếc, vẫn còn hối tiếp tức là gặp Phật, nghe diệu pháp và phục vụ, hầu hạ chúng Tăng. Đó là ba cái pháp hết sức quan trọng mà tất cả người tại gia hay người xuất gia đều hành trì và cái đoạn thứ hai chúng ta trích trong Đại Kinh Sư Tử Hống để thấy được thánh trí tuệ của Đức Phật nhìn thấu được nhân quả, thấu được con đường, thấy được cái lối đi của trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và quan trọng nhất là thấy được cái lối đi của Niết-bàn siêu sanh, thoát tử. Đó là lý do tại sao mà chúng ta luôn luôn nhớ ơn Phật, cảm ơn Phật, biết ơn Phật, đội ơn Phật và mong muốn được báo ân Phật vì cái ân đức vĩ đại, to lớn mà ngài chỉ chúng ta.

Tạm chia ba cách độ tức là nhân đạo, thiên đạo và thánh đạo, trừ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la ra, ba đường ác hay là bốn cõi dữ đó ra thì Đức Phật dạy cho mình thế nào để đi con đường để được làm người thì gọi là nhân đạo, đi con đường nào để sanh lên cõi trời gọi là thiên đạo và đi con đường nào để đạt đến thánh quả đoạn tận sanh tử, xuất ly ngũ thú, lục đạo, tam giới thì đó là con đường thánh đạo. Đó là ân đức vĩ đại của Thế Tôn nhân mùa Phật Đản chúng ta tưởng niệm, ghi nhớ để nỗ lực hành trì cũng như mạnh mẽ lên, lớn mạnh lên, vững mạnh lên, vững chắc lên trong lòng, tịnh tín bất động đối với Đức Thế Tôn chánh pháp, chúng Tăng và thánh giới.

Nguyện đem công đức này

Hương về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn hành Phật đạo

./.