Biểu Đồ Giải Mã Nhân Sinh Thế Giới (XGGD10)
TINH HOA NIKĀYA
BIỂU ĐỒ GIẢI MÃ NHÂN SINH THẾ GIỚI (XGGD10)
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí hôm nay là buổi chia sẻ cuối trong khóa tu cho nên chúng ta có cái biểu đồ này. Người ta dựa theo cái cuốn tóm tắt ngũ uẩn của bậc đạo sư để người ta viết thành cái biểu đồ này, cái này cũng là trói voi bỏ rọ ở trong một cái buổi học không thể nào chia sẻ hết được vì thời gian chúng ta chỉ được hai tuần thôi thì chúng ta có thể nghe tổng quát ở trong Tương Ưng Bộ kinh, Thế Tôn nói rằng ta không có tuyên bố ta là bậc giác ngộ cứu cánh cùng cực vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khi ta chưa thấu suốt hoàn toàn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của năm thủ uẩn, ta chỉ tuyên bố ta là bậc giác ngộ tối thượng, bậc thấy biết tận cùng khi nào ta thấu suốt hoàn toàn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của năm uẩn như vậy ngài được gọi là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác tức là bậc giác ngộ sự thật một cách tận cùng, tột cùng, cùng cực, cùng tột, không có một ai có thể ngang hàng, so sánh thấy biết bằng được.
"Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta không tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta: 'Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa'." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)
Ở trong mười ngàn thế giới này ngài là người duy nhất, là người độc nhất vô nhị, không có người ngang hàng, không có người ngang bằng, không có người ngang tầm, không có người chúng đôi ngài là người duy nhất ở trong mười ngàn thế giới, tam thiên đại thiên thế giới và cái sự giác ngộ tột cùng đó chính là giác ngộ năm uẩn và năm uẩn đó cũng chính là thân tâm và thế giới và tất cả sự giác ngộ đó có thể tóm thâu trong một cái biểu đồ này.
"Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân." (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, Như Lai)
Chúng ta thấy bậc đạo sự dùng hàng thập kỷ, ngày đêm xỉu lên xỉu xuống, chết lên chết xuống, một mình âm thầm lặng lẽ ở nơi xứ người ở bên Pháp, gặp cảnh mẹ chồng nàng dâu khủng khiếp tức là đau khổ tột cùng. Và trong cái sự đau khổ tột cùng đó cộng với túc duyên tuệ căn, phước đức của ngài ở trong quá khứ đã dẫn ngài vào trong kinh tạng Nikāya và tự mình mày mò, tự mình tìm tòi, tự mình biên chép, tự mình ghi chép, tuyển chọn, biên tập biên soạn, tự mình từ cái định nghĩa nhỏ nhất. Vì khóa tu lần này nhiều người mới cho nên con chưa có tiện để kể, những cái khóa sau cho những vị đã biết tu lâu, từ từ con sẽ kể, kể cho đến chúng ta chết cũng chưa hết câu chuyện về ngài.
Ngài tóm thâu thành quyển "tóm tắc năm uẩn" và từ trong cái quyển đó mà không biết người này là ai, không có đề tên ở trên mạng thì viết thành cái biểu đồ này. Chúng ta nhìn cái biểu đồ này thật ra không có gì lạ hết, đây là diễn tả thân tâm của mình thôi, tất cả những chữ này chỉ có diễn tả thân tâm của mình thôi. Trong sắc uẩn thì cái thân này, cái cảnh này, tất cả món đồ cho đến ngọn núi, quả quả đất có một chữ thôi, đó là sắc. Chúng ta thấy khủng khiếp thánh trí tuệ của Đức Phật không? Khi chúng ta còn mê, chúng ta chưa được học về thánh trí ngũ uẩn thì chúng ta nhìn cái chợ Bến Thành nó ra sao? Nhìn cái quận 1 ra sao? Quận 2, quận 3 nó ra sao? Nhìn ở Hà Nội ra sao? Nhìn ở Đà Nẵng, Nha Trang ra sao? Chúng ta nhìn Thái Lan, chúng ta nhìn Mỹ, nhìn Úc, nhìn châu âu, châu phi ra sao?
Nó mênh mông, nó bao la, nó nhiều cái mới, nhiều cái lạ lắm, chúng ta chạy suốt đời để đi tìm những cái mới lạ, chúng ta thấy thiên hình vạn trạng, sum la vạn tượng, ngàn hoa khoe sắc và chúng ta ảo tưởng, mơ tưởng, mộng tưởng, điên đảo tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng và chúng ta nghĩ rằng là nhiều lắm, nhiều lắm, mình đi tới chết cũng không hết nữa. Nhưng mà Thế Tôn ngồi ngay tại chỗ nói những cái này chỉ là sắc, tuyệt diệu không? Cho nên giờ mấy thầy, mấy cô ở đây con cho đi hoằng pháp mà nhiều khi cũng không muốn đi nữa "tất cả là sắc hết sư phụ, không đi đâu". Có nhiều vị bây giờ đang ẩn tu ở trong rừng không có đi đâu hết, "tất cả sắc hết sư phụ, con không đi đâu. Ở đây con quán cho thực chứng cái sắc này là vô thường, là khổ, là vô ngã đã đủ rồi", tuyệt diệu không?
Chỉ có thánh trí tuệ thì mình mới có thể nắm ở trong lòng bàn tay, bậc đạo sư chúng ta có một cái bài pháp "Trong Lòng Bàn Tay", nghe cái bài đó chưa? Con cũng có bài pháp "Trong Lòng Bàn Tay" bắt trước theo, kiếm chút đỉnh cũng bị ngài rầy, rầy hoài tới gần cuối trước khi ra đi về cũng bị rầy nữa, "dạ… dạ" mình hạnh phúc khi mình được rầy. Được rầy là ngài còn thương mình ngài mới rầy, phải không? Còn không thèm dòm, không thèm nói tới nữa là xong rồi cho nên bây giờ mình có thể ngồi dưới một gốc cây, ngồi ở trên cái tảng đá, ngồi ở dưới một cái khóm tre mà mình có thể hiểu thấu được cả địa cầu này. Trong mấy cái bài về núi chúng ta thấy con có làm có cái bài thế giới này chỉ là một cái quả banh thôi, là trái banh bằng đất thôi à, không có gì hết.
Mình muốn nhìn thấy được như vậy thì phải tác ý thường xuyên, phải nhắc mình thường xuyên bằng cái thánh trí tuệ để mình mới có thể phá được cái tâm mê mình nó mê khủng khiếp lắm, nó mê kinh hoàng lắm, nó mê khủng hoảng lắm. Cái sắc này là cái giống gì cũng nói hấp dẫn, nhìn cái xe mắc tiền là mê, nhiều khi bỏ mạng với chiếc xe này, đổ máu với chiếc xe này, vô tù ra khám vì chiếc xe này, đánh lộn đánh lạo vì chiếc xe này. Có khi quẹt cái thôi là xuống có chuyện tại vì người ta không biết đó là sắc, cái thân này cũng sắc, tất cả những thứ cả cái địa cầu này, cả cái hành tinh này, cả cái thế giới này cũng là sắc. Nội một chữ này thôi đó chúng ta sụp xuống chúng ta lạy bậc Thế Gian Giải, một chữ này thôi, chữ uẩn là sự tập hợp của sắc, tổ hợp của sắc, một đống sắc. Cái uẩn này là một đống, là sự nhóm hợp, sự tập hợp, sự tụ tập, tích tập, tích tụ, một đống sắc, một đống đất, nước, gió, lửa thôi.
Tất cả nó làm bằng đất, nước, gió, lửa hết, cho đến khi nào chúng ta nhìn vô bất cứ con người, sự vật, đồ vật, cảnh vật, trời đất gì chúng ta cũng biết là đất, nước, gió, lửa hết chứ không có gì hết thì lúc đó gần tới cửa bất tử rồi đó. Đi chơi hoài, cánh cửa mở vậy mà không chịu bước vô, cứ đi vòng vòng rồi khóc lóc, rồi "Phật ơi! Con khổ quá. Sao đời con khổ quá" cứ than hoài mà mở cửa không chịu vô. Linh Quy Pháp Ấn không có cửa mà không chịu vô mà cái cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đóng mà lại gõ cửa mở ra, cạy ra để chui vô. Trời đất ơi! Trời đất ơi!
Thiên đường hữu lộ vô nhân đáo,
Địa ngục vô môn hữu khách tầm
Thiên đường có lối mà không người đến, địa ngục không cửa lại chung vào. Trời đất ơi! Thiệt tình. Kêu trời hoài, mới kêu trời là trời tới, cảm động lòng. Bây giờ mình cứ nhớ hoài, mình cứ gặp cái giống gì, bất cứ cái gì mình nói nó là sắc, đó là thứ duyên sanh, là thứ vô thường, cái thứ này là đổ máu, giành giật, cái thứ này là cái thứ đốt nhà, giết người, cái thứ này là huynh đệ tương tàn, cha con giết hại, anh em thảm sát với nhau, vợ chồng phân ly là cái thứ sắc ác độc này. Nhắc hoài, nhắc hoài, nhắc hoài, nhìn hoa đẹp cũng nhắc nữa, nhìn cảnh đẹp cũng nhắc nữa, nhìn người đẹp càng nhắc hơn nữa. Trời đất ơi cái này còn dữ dằn nữa, càng nhắc nữa, hộ trì căn, hãy nhìn cho ra được cái đống sắc chỉ lòa loẹt trau chuốt bên ngoài thôi, có một cái lớp mỏng bề ngoài rồi nó bao lại bên trong. Nó bị rách thì đổ ra cái thứ kinh hoàng lắm, một ngày phải vô cầu tiêu quán ba lần, ngày đi ít nhất ba lần vô đó nhìn cho nó kỹ, ngửi cho nó thọ. Hít cái hơi đó sâu vô, nhìn cho kỹ để thọ.
Bữa nay là con nói pháp thực dụng, thực hành, không có nói lời kinh nhiều. Nhìn vô mấy cái cục đó nó nhơ nhớp mà nó bẩn thỉu, nó tồi bại mà nó xấu hổ, nó nhục nhã, nhìn vô đó thọ. Trời ơi! Trời đất ơi! Sao mà cái thân này nó đi ra những thứ này như vậy mà tại sao mà mình ngu mê, mình đam mê, mình si mê, tại sao mình nhìn không thấy như vậy, hằng ngày nó ra bao nhiêu lần như vậy, nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi, tồi bại, bất tịnh, hạ liệt, xú uế. Mỗi lần vô thì nhìn vậy đó, nhiều khi cái thân của chính mình mà cái mùi bốc lên rồi mình cũng ngán luôn, phải đi tắm chứ không tắm là chịu không nổi, gặp mấy cái người nặng mùi thì còn chết dữ nữa. Trời đất ơi vậy mà cũng mê rồi khổ suốt đời, còn đánh ghen ầm ầm, khổ lắm. sắc là kẻ giết người, chỗ nào có sắc là chỗ đó có sự chết, chỗ nào có sắc là chỗ đó có bệnh hoạn, có già nua, có chết chóc, có sự giết người, là kẻ sát nhân.
Vì có thân này trên mình mới có chết, vì có thân này cho nên mình mới có bệnh, vì có thân này cho nên mình có già, vì có thân này cho nên mình có tai nạn, hoạn nạn, lo lắng, sợ hãi, bất an. Kêu đứng lên trình pháp sợ quá không dám trình, pháp mà sợ gì, sợ không có pháp, cái pháp mà sợ cái gì. Cái đáng sợ thì không sợ mà cái không đáng sợ lại sợ, pháp mà tại sao sợ, chính gì sợ đó cho nên mãi mãi không có đạt được pháp, không có đi đến chỗ vô sở uý, sợ hoài muôn kiếp ngàn đời. Đánh gục được cái sợ đó thì mình đi đến cái chỗ vĩnh viễn bình an không còn sợ hãi nữa. Có ráng trình pháp hay không? Sợ cái giống gì mà sợ? Sợ tham, sân, si, sợ bản ngã, sợ dục ái, sợ vô minh chứ trình pháp mà sợ cái giống gì.
Sợ cái gì mà sợ? Cái này là cái thân mình, là cả thế giới, Đức Thế Tôn chúng ta tối thượng lắm, ngài nói một cái gì đó thì chân tơ kẽ tóc, một cọng tóc mà ngài chẻ ra đó là trăm phần, chín mươi chín phần biết hết còn một phần không có rõ thì ngài cũng chưa tuyên bố ngài vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho nên khi ngài nói về sắc thì ngài nói sắc tập khởi và sắc đoạn diệt tức là từ đâu mà có cái sắc này, cái sắc này nó vận hành như thế nào, nó an trú, nó tồn tại ra làm sao rồi nó biến hoại, nó đi đến diệt tận như thế nào. Ngài trình bày hết tất cả đầu đuôi, căn nguyên, nguồn cội, gốc gác, sự tập khởi và sanh diệt của nó, chúng ta thấy khủng khiếp không? Không phải ngài nói chung chung cái này đồ giả rồi tu, không phải, cho nên mình tu cái kiểu đó là mình tu mình không có đạt được trí huệ.
Nói nhà này giả, con người này giả, cái miệng nó giả nhưng mà cái tâm làm sao thấy giả? Bây giờ Đức Phật nói từ đâu mà nó sanh ra, cái hấp dẫn của nó là như thế nào rồi cái tác hại của nó như thế nào, làm sao mình thoát ra được nó. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Do mình ăn vô thì cái sắc này tồn tại mà mình không ăn thì là mình chết thì sắc này nó hoại diệt, thức ăn tập khởi thì đắc tập khởi thức ăn đoạn diệt thì sắc đoạn diệt, ngài nói cho mình biết cái nguyên nhân để sanh khởi ra sắc. Thức ăn ở đây có bốn loại thức ăn chứ không phải là chỉ có ăn đồ như mình, đó là mình có biết có một cái đoàn thực thôi, là cái thức ăn thô mà mình bóc, mình gấp, mình múc, mình húp, cái đó là đoàn thực thôi, còn ba loại thức ăn khác nữa.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Hai là xúc thực,
Ba là tư niệm thực,
Bốn là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Cái thức ăn mình ăn hằng ngày, mình đi thất thực đó là đoàn thực, những cái thứ mình bóc, mình gắp, mình múc này kia và xin thưa đó ở bên các cái thiền viện, con đi qua tới bên thiền viện trung tâm thiền quốc tế của ngài Ajahn Chah bên Thái Lan, tới bây giờ là các thầy Tỳ-kheo vẫn còn ăn bóc. Mình thấy người phương Tây rất hay, không có học thì thôi mà học là tới cùng cái gốc của Đức Phật và họ đi xuất gia. Lúc đó con đi tới trung tâm thiền quốc tế, đi cực khổ lắm, xa lắm mới tới, sâu lắm, vùng sâu vùng xa lắm, đi tới đó là có hai mươi mấy ba mươi vị thôi nhưng mà là trên hai chục nước, mỗi vị cao 1m8, 1m9 mà ốm nhom, xanh lè, ngày ăn chỉ một bữa. Sáng thì ôm bát đi khất thực, con cũng ôm bình bát theo sau các ngài nhưng bước của các ngài dài vì người cao lớn nên mình đi theo không kịp, đạp lên đất đá thì chân đau.
Một kỉ niệm rất sâu sắc, rất là ấn tượng là khi đi về thì con bước vô có một cụ già ở ngay trước cửa chánh điện quỳ sẵn ở đó, để một cái thau nước với cái khăn thì mỗi một vị về cụ lấy cái nước rửa chân các thầy Tỳ-kheo, lấy cái khăn lau chân. Cho nên mình thấy những cái giữ được truyền thống từ thời Đức Phật tới giờ quý báu lắm, đứng đó là nước mắt mình chảy, như vậy đó mà mình tu mà không có xứng đáng thì đọa. Hình ảnh đó con mãi con không quên tới bây giờ, di khất thực về đứng đó thì cụ già quỳ sẵn với một cái thau nước sạch và cái khăn, về tới cụ mới lấy nước tưới lên cái chân cho các thầy, cụ lấy khăn lau cái chân các thầy mới bước vô chánh điện ngồi tụng kinh rồi ăn cơm mà bóc tay. Cho tới bây giờ cái tay bóc nhưng mà đương nhiên là không có thánh trí ngũ uẩn như chúng ta, hạnh phúc không?
Con đã đi hết tám cái thiền viện Myanmar, Sri Lanka và Thái Lan, thiền viện lớn nhất các hệ thống để con đi ấn chứng lại lời của bậc đạo sư. Ngài nói mà con chưa chịu, con phải đi xác nhận về con mới chịu, đi tám cái thiền viện lớn nhấ,t cái trường thiền lớn nhất mà con tìm không thấy cái thánh trí ngũ uẩn. Cho nên mình học được như vậy mà không chịu tu nữa thì thôi, mình khổ lắm trăm đời vạn kiếp sau mình cũng không gặp chánh pháp nữa tại cái tội mình gặp chánh pháp mà mình khinh thường, mình không có cung kính, không có nắm bắt cơ hội này, mình vuột qua một cái rồi giống có con rùa mù để cho cái bọng cây nổi đi qua cho nên phải sống chết với cái pháp này.
Hiện tại giờ mình thấy rõ ngũ ẩn không ạ? Thấy rõ tham, sân, si không? Thấy rõ những thúc giục, những cái dục, tham, ái hành hạ mình không? Thấy rõ cái sân nó thiêu đốt mình không? Thấy rõ cái tâm si mê, vô minh nó hôn ám, nó bao phủ hết đời sống của mình không? Đó là công năng của thánh trí ngũ uần cho nên tại sao sáng nay chúng ta rất là xúc cảm khi nhắc về bậc đạo sư và thật ra con kèm lại rất nhiều vì có rất nhiều người mới không có biết nhiều về ngài chứ con bung ra thì cũng là lớn lắm. Cái ân đức của ngài vô cùng vô tận, không có gì so sánh nổi trên thế gian này, trên thế giới này hết, trên hành tinh này hết, sau Đức Phật 2000 năm mới có một người cho nên con dùng cái từ thiên cổ nhất nhân là ngàn năm có một mà chúng ta gặp được, hiểu được và thực hành như vậy mà chúng ta không có chịu cố gắng, nỗ lực, không có trân quý, trân trọng, trân kính thì chúng ta có tội với rất lớn.
Đừng nghĩ rằng có đời sau để mình gặp được cái pháp này, không có đâu, mất đời này rồi mình sanh ra đời sau không có trừ là mình nhập lưu. Khó lắm, thiên nan, vạn nan, tỷ nan chứ không phải là nói là cái khó mà khó trăm, khó ngàn đâu mà khó tỷ. Các vị ngồi đây là đi hết bao nhiêu cái chùa rồi, đọc bao nhiêu quyển sách rồi chứ không phải là không có đâu, có bao giờ mình nhìn thấy được ngũ uẩn một cách rõ ràng, minh bạch, tường tận như sự hướng dẫn của bậc đạo sư mà chúng ta đang được học đây vì vậy chúng ta trân quý. Trở lại cái thức ăn thì ngoài cái thức ăn mà mình bốc ra thì còn thức ăn tiếp xúc, nó không nhìn chịu không nổi, không nghe ngóng nó chịu không nổi, ngửi, nếm, xúc chạm vậy đó.
Cho nên chúng ta thấy lúc dịch là bức xúc nhiều không? Tại nó không được xúc cho nên nó bức xúc, thấy chưa? Tại vì cái xúc thực này không có, xúc không được, bức xúc, bực bội rồi bắt đầu ở nhà nhiều chuyện bạo hành ở trong gia đình, trầm cảm này kia, cái thời điểm đó rất khủng khiếp, khủng hoảng, kinh khủng mà những thời điểm đó là chúng ta tu an lạc, chúng ta tăng thượng trong thánh trí. Tuyệt dịu không? Chính cái thời điểm đó là cái thời điểm mà đạo tràng Nikāya có những vị tu học tăng thượng tại vì chứng kiến sự thật xung quanh mình, ngay trong bản thân mình, ngay trong gia đình mình thì vô cái pháp này nữa, nhất nhật thiên lý ngày đi ngàn dặm như tuấn mã bỏ lại sau lưng những con ngựa yếu hèn.
Lúc đó phong tỏa, bế quan tỏa cảng, lúc nhà ai ở chỗ nấy thì một ngày con thăng tòa liên tục, lia lịa, hai thời mỗi ngày, có khi là nhiều hơn nữa, ít nhất cũng là một thời và như vậy thì sau cái dịch đó thì các vị đã về đây khóc và cảm ơn rất nhiều "con nhờ lúc đó có cái pháp, nếu không có lúc đó con sống không nổi, con hoảng loạn hết, con muốn điên luôn, bức xúc, đau khổ". Gia đình chứng kiến hai, ba, bốn, năm người chết, trong mấy ngày thôi mà năm người ra đi, kinh hoàng, khủng hoảng, đó là mình chưa có chiến tranh. Bây giờ các nước đang chiến tranh đó là khủng khiếp lắm cho nên mình đừng có dễ vui cái thân người, đừng có nghĩ rằng có ngày mai, đừng bao giờ nghĩ có ngày mai. Bậc đạo sư dạy cho con là "không có tu nhiều đâu thầy, tu ngay cái khoảnh khắc ngay bây giờ đây thôi, thầy tu được ngay bây giờ đây thôi, nhiêu đó thôi chứ không có tu nhiều, đâu có tu nhiều, tu ngay cái thọ ngay từ giờ". Ngay chỗ đó thôi mà được chỗ đó là coi như vĩnh viễn mãi mãi, ngay bây giờ đây nè, hiện giờ nè cho nên "ngày mơi con tu, tuần sau con tu, để con về nhà sắp xếp xong công chuyện" thì con ngồi đó nghe "dạ mô Phật". Rồi đi tuốt luôn không có ngày trở lại cho nên đừng lại con nói "dạ để con sắp xếp năm sau con lên", con ngồi vậy thôi chứ con không có trả lời đâu.
Không có ngày mai, làm gì có chuyện để con về sắp xếp cho đình ổn hết rồi con lên tu với thầy, không có, tích tắc chết liền ngay tại chỗ. Chiều nay cô Phật tử sẽ lên đây để ngày mai cúng Trai Tăng cho chồng cô, hai vợ chồng ngày xưa lúc đầu tiên con về trên núi này cúng dường tám mẫu đất, lúc đầu tiên còn cái am tranh và chú này là kỷ sư ba mươi mấy gần bốn mươi năm ở bên Mỹ, thung lũng Silicon ở bắc Cali. Mới sáu mươi mấy tuổi thôi, đang khỏe mạnh bình thường vậy bất thình lình đột quỵ mà rất đặc biệt là chết ngay trùng ngày, trùng giờ của bậc đạo sư bậc. Chú này là người rất là đức hạnh, rất hiền thiện, con biết mấy chục năm, từ cái ngày biết cho đến cái ngày chú viên mãn là cái lòng cung kính chú đối với tam bảo là y như vậy, càng nhiều lớn hơn chứ không có thay đổi cho nên con nói "chắc là đi theo làm thị giả bậc đạo sư luôn" vì ngài có lên đây ngài giảng pháp, hưởng xái cái công đức của ngài.
Thành ra chết trùng ngày, đúng cái giờ đó luôn cho nên hễ hôm nào cái lễ của bậc đạo sư là cũng ké ké theo. Trời đất ơi! Đó là phước lành của chú, nhiều khi trong cái rủi có cái may, rất là hiếm chứ nếu m không có trùng ngày thì làm gì được mấy chục thầy cô đi tụng đi đưa, mấy chục vị ở trên núi mình xuống. Trở lại cái vô thường thì chúng ta nhớ và không bao giờ quên chết bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ thời điểm nào, hoàn cảnh nào cũng đều có thể chết, phải nhớ cái đó và bất cứ lúc nào 24/24 cứ mỗi khi mà mình đi làm xa, đi thì phải nhớ rằng là có thể mình không trở về. Phải nhớ kỹ vậy đó, phải nhớ cái điều đó, nhớ là cái dịch bệnh đó làm cái đề tài thiền quán.
Tư niệm là nghĩ nhớ, niệm là nhớ, tư là nghĩ. Mình nhớ mình nghĩ, mình suy nghĩ, nhớ nghĩ, nhớ nghĩ, nhớ nghĩ đó cũng là thức ăn, tư duy, suy nghĩ, mình khoan khoái, thích thú trong đó, nó cũng là thức ăn cho cái tâm vô minh, hôn mê. Cứ nghĩ nhớ hoài, ngồi cứ nhớ cái này, nhớ kia, nhớ chuyện này, nhớ chuyện kia mà không có chịu an tịnh, lắng dịu đó cũng là thức ăn. Thức thực là cái sự nhận thức, sự biết, sự hay biết, sự rõ biết đưa đến cảm giác vui thích, muốn nhìn, muốn thấy, muốn nghe, muốn ngửi, muốn nếm, muốn tiếp xúc cũng như đồ người ta ghi "không được chạm vào" thì cũng sờ vô rồi rớt bể. Đó là xúc thực cũng là thức thực luôn, muốn thấy, muốn nghe, muốn gặp cho nên mình đang ngồi thiền tự nhiên con chó sủa thì mình quay vô dòm coi sủa ai vậy, đó là xúc thực và thất thực.
Mình đang ngồi thiền tự nhiên có người ho, hoặc điện thoại vang lên thì quay qua nhìn coi ai vậy, thấy chưa? Đó là thức thực. Mình nhìn làm gì, chuyện của người ta kệ người ta, mình thiền thì lo thiền đi, đó là cái tâm hướng ngoại đó, mình lo thiền đi, lo coi cái cảm thọ của mình. Cứ dòm kiếm cái điện thoại của ai, cái bà nào, chó sủa ai, lỡ người ta rớt bể cái chung hay cái ly sau lưng cũng ráng quay lại dòm coi ai làm, thức thực đó. Chúng ta thấy chưa? Nó giải mã hết tất cả những cái sự sinh hoạt, những cử chỉ, tất cả cái sự thi vi, vận hành, động tác trong đời sống của mình là giải mã hết trơn. Mình bớt được mấy cái này mình đỡ khổ lắm, tại sao mà mấy cái này cứ đòi hỏi hoài, đòi ăn hoài, sáng mở mắt ăn, trưa ăn, tối ăn, nửa đêm cũng ăn rồi cái bụng nước lèo đi tìm cái thuốc giảm cân.
Ăn cho nhiều mà làm sao uống cái thuốc này vô cho nó đừng có mập, chế được cái thuốc này là bán đắc lắm bán, mắt nhiêu cũng mua hết trơn. Muốn ăn cho ngon mà đừng có cho nó mập, tham đủ thứ tham, thấy rõ không? Nó giải mã hết, bây giờ do ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, nó khoái, nó thích cho nên nó chạy theo bốn cái này hoài, còn có ái là còn đi tìm bốn cái này. Cho nên tu không lo tu, tối ngày cứ xuống dưới bếp hoài, có chuyện thì cũng được đi, không có chuyện cũng chạy xuống kiếm làm món này, làm món kia, làm món nọ, đừng có bưng cho con nhiều, bưng nhiều bị rầy chứ đừng tưởng bưng cho đồ con nhiều là con khen đâu, không có.
Cái người mà lo cho đại chúng ăn, lo cho quý thầy cô không phải chỉ biết lo cho cái món ngon vì món ngon là ái, dục, tham sức. Phải biết về sức khỏe, dưỡng sinh, thực dưỡng, phải biết cái đó nữa chứ bây giờ trời đang lạnh mà đem rau má nước dừa ướp lạnh ở trong tủ lạnh, bảy giờ tối bưng lên cho con uống. Con nhìn con trời đất ơi! Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, cái này không biết là đang thương con hay là đang xử con đây mà làm hoài. Nhiều khi chú thị giả vô nói mà cũng không chịu nữa, "làm cái này, bưng cái này cho sư phụ" cho nên khổ lắm, không có hiểu mà thương là khổ lắm. Không phải mình con đâu tất cả đại chúng cũng vậy, mình làm thức ăn là rất quan trọng rồi chưng hoa cũng vậy, ý con muốn làm là thiền vị chứ không có phải chưng vào giống như cải lương mà con nhắc không biết bao nhiêu lần, cho nên nhiều khi là nhắc hoài rồi cũng khó chịu, không có muốn nhắc nữa, không có muốn nhìn luôn.
Cứ làm theo cái câm cái tâm ái, cái tâm thích của mình mà nói ra giận, khổ vậy đó, trở lại vấn đề cái ăn bây giờ bệnh ung thư rất là nhiều. Nước mình con không chính xác lắm hình như là mười lăm ngàn người chết mỗi một năm vì ung thư, rất là nhiều đó là nói mất mạng còn chưa nói bệnh mới, mà phần lớn là do cái ăn, đoàn thực này ghê lắm. Cho nên mình nấu đồ ăn đương nhiên cũng cần một chút vừa miệng, cái gì cũng phải là phù hợp, hài hòa nhưng mà phải chú trọng vào sức khỏe chứ không phải chỉ chú trọng vào cái hương cái vị của nó. Con nhắc hoài từ cái ngày lên núi tới giờ khai sơn mười tám năm nay 5:00 sáng lên đãi nước trà đá mà trời mùa đông run cầm cập, còn 12:00 trưa lên đãi nước trà mà nước sôi nóng hổi đ đem ra đãi mà con ngồi cứ nhắc hoài, độc đáo thiệt, rất là độc đáo.
Nhiều khi ngồi đó giống như á khẩu, thằng câm ăn ớt, câm mà nó nhai vô trúng trái ớt cay quá nhưng không biết nói sao, rồi thôi về thất đóng cửa lại, mình giờ cũng phế nhân, rồi hàng phế phẩm, phế liệu rồi. Cho nên mình phải để tâm và phải để ý, phải chánh niệm tỉnh giác, phải quán sát, quán chiếu lại lợi hay hại, thế nào là đúng thời cho nên mình phải để tâm vào những cái đó. Nói tiếng việt cho dễ hiểu thì ái chính là khoái, vì thích cho nên đi tìm bốn loại thức ăn đó hoài, người này tu không có thoát được, không bao giờ giải thoát được. Ngày ăn chỉ một bữa, mình bây giờ xấu hổ vì mình làm công việc nhiều này nọ kia rồi ăn thêm một hai cử nữa là đã thấy nhục nhã rồi, cho nên không có để tiếp xúc bớt nhiều, bớt nhớ nghĩ, bớt tìm hiểu.
Bây giờ tất cả sách vở kiến thức của thế gian này mình đọc cho tới chết đi sống lại trăm đời ngàn kiếp đọc cũng hết mà nói toàn tham, sân, si với bản ngã, dục ái vô minh không à cho nên không đi cần thức thực. Mình chỉ cần tìm ra cái thấy biết của bậc thánh thôi, chỉ có cái thấy biết mới đưa mình đi ra khỏi khổ còn tất cả cái thức của thế gian đều không có sử dụng được. Chính vì vậy mà làng tu Nikāya cái tâm nguyện con để xây dựng đó là những cái chú trẻ nhỏ vào ở trong đó được, các cái vị xuất gia từng làm cô giáo, thầy giáo ở ngoài hướng dẫn từ nhỏ, không có học cái kiến thức ở ngoài đời, dạy cho biết chữ, biết nghĩa, biết đạo đức, biết lễ giáo rồi học toàn bộ Nikāya thôi. Đó là thế hệ truyền thừa, thừa kế trong dòng pháp Nikāya. Hoan hỉ không? Không cần học kiến thức gì ngoài đời hết, tám tỷ người học rồi mà bây giờ được chừng tám người học cái này thôi thì tám người này có phải kim cương không? Có phải hột xoàn không?
Cần gì phải giống người ta? Cứ thấy người ta sao là cứ muốn giống vậy, không thôi mình thua người ta, mình phải giống người ta, mình phải bằng người ta, mình phải hơn người ta để làm cái gì? Giống người ta rồi thì cũng bộ xương, cũng nấm mồ, cũng hủ cốt, đừng giống người ta để mình đạt được cái gọi là siêu phàm, cái tuệ giác, cái thánh tuệ. Cho nên sau này cái duyên làng tu thành lập được thì vô trong đó coi như xong rồi, giống như mấy cái bản, mấy cái làng ở trên đó rồi mấy người dân tộc đồng bào ở trên đó không có tiếp xúc với ngoài thế gian. Thậm chí bây giờ có số người ta đem con vô rừng, vô núi rồi người ta sống ẩn, người ta dạy trong đó, người ta không cho đi học mà bây giờ có cũng có khá nhiều người, sau này cái này sẽ nhiều. Đức Phật nói trước hết trơn rồi, nói trước ác pháp nó sanh khởi rất cường thịnh, nó xâm chiếm, áp đảo hết toàn bộ thế giới này cho nên những người hiền thiện, nhân đức sẽ ẩn dật, ẩn cư.
Dạ con kính chào các bậc ẩn sĩ, đây là ẩn sĩ đây, ngồi đây là nhiều thành phần trong xã hội lắm, tối thiểu cũng được ẩn sĩ hai tuần lễ, ngon không? Sướng không? Tương lai sẽ có những ẩn sĩ dài hơn lâu hơn à con cứ chờ đợi các ẩn sĩ đó về, không cần giống người ta, thật sự khi con đi vào tu là ít người có ưa con lắm tại vì tối ngày con ở trong chùa mà mấy người kia hỏi "ông có hay chuyện gì không?" – "dạ không có hay", "người ta nói ông như này" – "Dạ con bận lắm, không có thời giờ học kinh, Ai nói gì nói kệ người ta, con bận lắm", ai chê, ai chửi, ai khen gì cũng "thế à, con bận đọc kinh". Nhờ vậy mà mình đi tu rồi mình chọn cái pháp môn rồi mình đi con đường không giống ai, tại không cần giống ai hết, giống Phật thôi.
Cho nên cái nhìn thấy đúng ở trong cái thánh pháp con xin thưa là cô độc và một sức mạnh tinh thần lắm, dám mạnh mẽ vượt qua, phải có một cái tâm sắc đá, cái đầu thép không sợ gì hết, chết cũng không sợ, chỉ sợ luân hồi sanh tử khổ đau thôi, tất cả cái khác không sợ, không đáng sợ, chỉ sợ còn tham, sân, si thôi, chỉ sợ còn dục ái thôi, chỉ sợ còn bản ngã, còn vô minh thôi chứ có gì đâu mà. Trình pháp mà sợ cái gì? Nhắc lại nữa, pháp mà sợ thì làm sao thành tựu pháp, không sợ.
Cái cảm Thọ này đó là đặc biệt lắm tại vì cái tưởng, cái hình bóng trong tâm mình đi qua rồi mình quên mất tiêu, phải không? Những cái hình bóng, cái món đồ này, cái cảnh vật kia, con người nọ đi qua, những cái suy nghĩ có khi hồi nãy mình nghĩ cái gì mà bây giờ mình nhớ không được, nhất là bị mấy mũi nữa, trước khi mà chích đã như vậy rồi mà bây giờ chích còn nặng thêm nữa thì nó nghĩ gì mà lát sau nhớ hoài không được. Cái nhận thức cũng vậy, nó đổi thay lắm, có những món đồ mình thấy rồi mình cũng quên, có những con người mình gặp rồi cũng đi qua, có những hình bóng cũng phai nhòa nhưng có những cảm giác suốt đời mình không bao giờ quên. Câu đó là câu tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ.
Trong cuộc đời mình có những điều, có những sự việc, có những cảm xúc, cảm giác, cảm thọ mà suốt đời này không bao giờ mình quên, nhất là những cảm thọ tu học mà khóc ở tại Linh Quy Pháp Ấn gọi là đệ nhất khóc. Có người hỏi lên Linh Quy Pháp Ấn tu thì có khóc chưa – dạ rồi, đặc sản rừng thiền nhưng mà người ta không biết không phải dễ khóc đâu, chỉ có thánh trí tuệ mới đánh vô các chấp thủ làm cho rung chuyển, làm cho kinh chấn, chấn động, địa chấn ở trong tâm mới có những cái dòng cảm thọ như vậy. Hồi đó giờ mình nghe pháp đó ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm cũng lờ đờ, trơ trơ không có ép phê, nó không có đủ sức để đánh phá cái vô minh, chấp ngã này, đánh vô một cái là sụp xuống khóc rung động. Hồi sáng con nói triển khai từ lực, rúng động đất trời lúc ngài ra đi, sức mạnh của cái thọ của các bậc thành tựu là khủng khiếp lắm.
Hồi đó khi bậc đạo sư ở trên đây những khóa tu là quý vị không có tưởng tượng nổi đâu. Bình thường ở dưới ngài nằm bệnh, ngài mệt mà ngài lên pháp tòa là mặt mày hồng hào, trang nghiêm mà ngài nói những câu nói ở dưới nổi da gà chấn động khóc, nếu người bình thường không biết sẽ tưởng có chuyện gì đó vì cái lực khủng khiếp. Con bây giờ chừng phân nửa của ngài thôi mà quý vị khóc vậy rồi, khủng khiếp lắm là tại vì cái thọ của các vị tu như sáng các vị có trình pháp là nó mềm. Lúc đầu nó rất là ương ngạnh, nó cứng cỏi lắm, nó kiêu căng lắm, ta đây dữ lắm nhưng mà tắm vô cái này rồi nó dập vô, từ từ nó ngấm, nó thấm vô thì nó sẽ mềm nhũng ra, bắt đầu nó rã rồi rệu, nó tiêu dung, nó hoại diệt, nó hòa tan, nó tan chảy.
Cho nên khi cái thọ mềm ra như vậy thì quý vị thấy dễ chạm tới lắm, vừa nói tới từ vô lượng tâm "trong ta là tình thương, tình thương có trong ta, từ tâm có trong ta" là bắt đầu nước mắt chảy ra. Đó là hiệu quả, là tăng thượng, là cái cảm thọ từ một người trơ trơ, đơ đơ, lúc mới vô mình trơ trơ, mình kêu tâm từ thì nói "tôi không có tâm từ sao tu tâm từ", tới ngày hôm nay mình tu là vừa chạm nhẹ thôi là tuôn chảy thì đó là hiệu quả làm cho cái thọ mình mềm ra. Cái thọ này đặc biệt ở trong tưởng; hành; thức là cái thọ này là cái cầu nối giữa thân và tâm, cái này nó độc thủ là vậy đó. Mình tưởng trong đầu mình cái gì đâu có ai biết, chỉ có chư thiên mới biết, các vị có thần thông mới biết, mình suy nghĩ cái gì đâu có ai biết, chỉ có bậc tha tâm thông mới biết, chư thiên, chư thần mới biết, phải không? Nhưng mà mình cảm thọ người ta biết, thấy chưa?
Mình vui người ta nhìn mặt mình biết không? Giờ con đang là thọ gì? Thấy chưa? Cái thọ này nó đặc biệt là gắn liền thân và tâm, độc đáo ở trong bốn uẩn của tâm thì thọ uẩn này nó độc thủ lắm, nó là gạch nối của thân và tâm cho nên khi nó có sanh khởi cái gì là nó biểu hiện ra cái sắc, cái tưởng nó vận hành, cái hành nó suy nghĩ và cái thức cũng đi theo trong đó. Nó sẽ chạy lòng vòng theo cái cảm thọ này, cái thọ này nó chủ lực nên khi nó khởi lên thì các uẩn còn lại chạy lòng vòng theo. Cái thọ này là sếp sòng, là tổng chỉ huy, là thống soái, đại tướng quân, là dẫn đường cho tâm cho nên cái thọ này một cái độc thủ, độc đáo mà tối thượng của Đức Phật thì mỗi cái gì mà ngài nói ra ngài đều nói căn nguyên, nguồn cội, nguồn cơn tại sao mày sanh ra vậy thọ, mày vận hành như thế nào rồi làm sao tao cho mày chết, mày chết như thế nào thọ. Ngài trình bày đầy đủ hết đó là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, tại sao có cảm xúc, khi cảm xúc vận hành có mấy loại, nó vận hành như thế nào, làm sao để cho tất cả cảm xúc này an tịnh, lắng dịu, làm sao để thoát ra tất cả cảm xúc này, có một đạo lộ, có một con đường, có một phương pháp, có một cách thức, có một cái sự tuần tự.
Chúng ta thấy khủng khiếp không, là Chánh Đẳng Chánh Giác phương diện thứ hai của thọ uẩn, cho nên khi con nghe bậc đạo sư trình bày cái này là con sụp xuống lạy ở trong thất, nước mắt đầm đìa hết, sốc toàn tập. Mình học hai mươi tám năm trời, mình ra đứng lớp dạy cả ngàn ngàn Tăng Ni mà bây giờ đánh vô một cái coi như tất cả mấy cái mình học không xài được nữa, giờ mình học lại A B C đầu, làm sao không rúng động, làm sao không chấn động. "Tất cả cái mình học để qua bên, thầy học lại từ đâu" – "dạ mô Phật, con nghe lời".
Thầy dạy cho con quý vị không chịu nổi đâu, không có ai chịu nổi hết, bây giờ mấy chú mới về mà ngay cả những người ở gần bên con vậy đó, thật sự nhiều khi con chia sẻ chừng có hai ba phần thôi, ngài đánh con cũng phải chừng tám chín phần. Ngài dạy cho con từ cái ăn, cái đi, cái nói chuyện từng chút như mẹ dạy con, như một người chị, như một người mẹ, như một người thầy, như một bậc đại đạo sư suốt ba năm trời và ba năm đó thì con suy nghĩ là nó vượt qua ba ngàn năm. Nếu một người tu học bình thường ba ngàn năm cũng chưa được, ba chục ngàn năm cũng chưa được vì đâu có gặp chánh kiến chỉ dẫn mình đâu mà được, ba tỷ năm cũng không được nữa cho nên cái quý báo là mình gặp được bậc thấy đúng, chánh kiến, nghe diệu pháp, như lý tác ý và mình thưa hỏi các nghi vấn để ngài chỉ dẫn, đánh phá những cái chấp thủ, ngu mê, vô minh ở trong tâm của mình.
Cái đó là những cái nhân duyên để sanh ra chánh kiến, bây giờ cũng thấy đa số nhiều khi gặp các bậc hiền trí chỉ lỗi mình là mình sân si, khó chịu thành ra không học được và con nghĩ không biết rằng sau con còn có người nào tiếp nổi cái như lai thần chưởng này không. Khó lắm, vì muốn học cái này là phải dập cái bản ngã, phải tu diệt ngã dữ lắm, phải tu cái hạnh tâm hiền mà cái tâm hiền là phải được huân tập, huấn luyện từ kiếp trước chứ không phải mới đời này đủ đâu, mà nếu người mới đời này thì phải dốc lực dữ lắm. Cho nên thật sự trân quý khi mình học được chánh pháp, phải tác ý hoài, cứ rảnh là tác ý và mình siêng năng nghe pháp, sau khi xuống núi tối thiểu một ngày phải có một thời pháp và tối thiểu một thời thiền quán, một thời thiền chỉ mới nuôi được nuôi được cái thấy đúng này, cái con đường của mình. Tất cả mấy cái khác không tính, không quan trọng, không có gì quan trọng, chỉ có pháp mới quan trọng.
Những người trẻ học pháp có lợi thế rất nhiều, cố gắng lên, mình tận dụng cái tuổi của mình, cái sức khỏe của mình, cái sự bén nhạy của mình. Hôm qua mình nói lúc thiền quán vấn đề dục thì chúng ta nhớ trong bài niệm ước muốn sắc bén chữ Đức Phật dùng ước muốn chưa đủ, ước muốn tăng thượng giới đức chưa đủ mà ước muốn sắc bén. Chúng ta thấy cái từ ngôn ngữ học của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác sử dụng không, ước muốn chưa đủ, ước muốn cho cái giới đức của mình, cái đạo đức của mình, cái đạo hạnh của mình, cái đức hạnh của mình lên cao lên mà còn chưa đủ, phải là ước muốn sắc bén.
Cái tuổi trẻ của mình, cái sức khỏe của mình, cái sự bén nhạy của mình, cái trí não của mình trong thời gian thanh xuân này mà mình bỏ hoang phí là uổng lắm. Những trẻ nhỏ vì mà đi tu là tuyệt vời lắm, hoan nghênh lắm, phải ráng học kinh giống bên Myanmar. Con đi lại thăm chỗ của ngài tam tạng pháp sư, con đi qua con lạy và cúng dường mấy vị tam tạng pháp sư, trong mùa dịch ở đây mình cũng gửi qua cúng dường, con đi lây thì bước vô chùa hiện ra một hình ảnh hết sức ấn tượng không bao giờ quên là đó mấy chú tiểu nhỏ nhỏ, mấy sư sư nhỏ nhỏ đi vô đi ra, đi vô đi ra mà niệm vang trời hết, đó là học cái kinh Nikāya thuộc lòng. Năm bảy người mà người vừa cầm kinh vừa đi vô đi ra niệm vang dội hết cái chùa, con nhìn thấy là con sụp xuống lạy từ ngoài cổng, con về đây trông hoài mà sao không thấy ai học hết, treo giải thưởng cho đi Ấn Độ luôn mà không thấy ai trả bài cho nên tuổi trẻ nhỏ như vầy mà đi tu là phải cố gắng học căn bản trí 1-2, học thêm bài sám hối diệt ngã. Thành ra cố gắng học cái quyển nghi thức tu học đó, nếu mình học thuộc được nguyên cái quyển đó là ở trong con người mình có thánh vật, có pháp khí, có bảo bối, có một cái linh thiên ở trong cái ngũ uẩn này. Thuộc được cái đó là linh thiêng lắm, quý báu lắm, còn hơn mình đeo một chục hột xoàn không có so sánh được, đeo chục hột xoàn coi chừng bị chặt tay còn có cái thánh trí huệ mình chặt được tham, sân, si, phiền não.
Cái chỗ nào cũng có để cho mình tác ý hết vậy mà không chịu tác ý, cái nào cũng có cho mình quán chiếu cho nên tận dụng tuổi còn trẻ, mấy quý vị sồn sồn cũng vậy cố gắng lên chứ không phải "thầy nói mấy người trẻ thôi còn mình sồn sồn", phải cố gắng học lên, còn mấy bà già cũng cố gắng luôn để kiếm mớ ra đi làm tư lương, hành trang. Biết đi đâu không? Cái lúc nằm ở trên giường bệnh khỏi còn ai trợ niệm hết, mình nằm đó đọc căn bản trí, mình nằm đó niệm thân vô chủ, nằm nó niệm rồi đi. Bậc đạo sư đọc lời cuối của Đức Phật, hết hồn không? Làm sao lúc mình gần chết cũng vậy đó chứ đừng có rên, mình đã được học cái này chết mà rên là uổng lắm, đừng có rên, thời đã đến rồi không có rên, nó hư nó hoại, nó tan nó rã rồi có gì nữa đâu mà rên, đọc niệm thân vô chủ, đọc ngũ uẩn duyên sanh. Tất cả những cái trí tuệ đọc lên, đọc lên sự kiện cần phải quán sát.
Trở lại vấn đề đó Thế Tôn nói cho mình biết tại sao mình có cảm giác, cảm giác có mấy loại, nó vận hành như thế nào, cái làm cho đam mê, đau khổ trong này là cái gì, cái tai hại của nó ra làm sao và cuối cùng làm sao để mình thoát ra được cái cảm giác này. Ngài trình bày đầy đủ tất cả tối thượng thánh trí, đó là Chánh Đẳng Giác về thọ thủ uẩn, chúng sanh mình thì cái nhà của tôi, cái xe của tôi rồi cái chùa cũng của tôi luôn. Khổ ơi là khổ, cái thân của tôi, con mắt của tôi, mũi của tôi, miệng tôi, lưỡi tôi, cái giống gì cũng của tôi hết, ai đụng vô của tôi là sầu, bi, khổ, ưu, não, tham, sân, si đủ thứ.
Cái giống gì cũng gắn cái chữ tôi vô hết rồi tới cái cảm giác vui cũng tôi vui, buồn cũng tôi buồn, tôi đâu có vui buồn gì đâu. Cảm giác sanh khởi lên nhập cuộc với nó, cảm giác an trú cũng nhập cuộc với nó, cảm giác vận hành cũng nhập cuộc với nó mà cảm giác có lắng dịu chút cũng nhập cuộc nó luôn, hoàn toàn không biết cái đó là thọ. Đó là sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử, bậc Đa văn Thánh đệ tử thì nhìn thấy được thọ sanh khởi, thọ an trú và thọ chấm dứt, thấy được thấy được tưởng sanh khởi, tưởng an trú, tưởng chấm dứt, thấy được hành sanh khởi, hành an trú, hành chấm dứt.
Phải thấy được, Đức Phật trình bày cho mình cái này thì rất ớn, khi mình học cái này, mình thực tập rồi mình quán chiếu rồi mình sẽ phát hiện, mình giải mã ra nhiều điều, tất cả những sự việc, sự vật, bao nhiêu những chuyện ở trên đời này mình giải mã được hết. Mình thực tập quán chiếu cảm thọ giải mã được hết, tại sao người đó như vậy, tại sao cái tánh tình họ như vậy, tại sao cách họ cư xử như vậy, tại sao họ gặp chuyện như vậy, giải mã được cái nhân quả, nhân duyên hết.
Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.
Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.
Bát chánh đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.
Vừa rồi là chúng ta lạy bốn thánh trí về ngũ uẩn, bậc đạo sư rút cái tinh túy ở trong đại tạng kinh ra đó, nếu chúng ta đọc suốt đời cũng không thấy được bốn cái thánh trí đó đâu. Cho nên tới tưởng cũng vậy, Đức Phật cũng trình bày cho mình thấy tại sao có hình bóng trong tâm, cái hình bóng sanh khởi ra sao, nó vận hành như thế nào, có mấy loại hình bóng. Đức Phật phân loại ra chúng ta thấy khủng khiếp không? Cái tâm mình là một cái không có thể nhìn thấy được, nó không hình, không tướng mà Đức Phật nhìn ra từng cái thành phần, rồi nó cấu tạo như thế nào, có bao nhiêu loại, nó vận hành ra làm sao. Chúng ta thấy là một cái sự giác ngộ không thể tưởng tượng nổi, đó mới gọi là thiên nhân chi đạo sư, bậc Thế Gian Giải, bậc chánh biến tri.
Cái sự thấy biết là cùng khắp tất cả thân tâm, thế giới, trong ngoài các pháp, không còn một cái gì không thấy, không còn một cái gì không biết, gọi là Chánh Biến Tri, vô thượng giác. Nhiều khi chúng ta học mà chúng ta không có thấy, không để ý là không biết đâu, đầu tiên là Đức Phật nhìn thấy thân tâm này gồm năm cái yếu tố, trong mỗi một cái yếu tố này, trong cái sắc này gồm đất, nước, gió, lửa sanh ra làm sao, nó an trú như thế nào để nó tồn tại, làm sao để nó hoại diệt là bằng cách nào, tại vì sao chúng sanh cứ nắm chặt vô trong này. Tại vì không hiểu biết nó rồi yêu thích, khoái nó tức là vô minh và khát ái.
Nói tiếng Việt mình là dễ hiểu vì không nhận thức được nó, không biết nó là sắc mà cũng không biết cái thành phần cấu tạo của nó là đất, nước, gió, lửa càng không biết cái sự vận hành của nó là trong cái vô thường, trong cái khổ, trong cái tật bệnh, càng không biết cái tính chất trống rỗng, trống không của nó. Vì không biết cho nên ảo tưởng đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, chính vì không biết, vì ảo tưởng cho nên khoan khoái, thích thú, say đắm, nắm chặt, chấp thủ trong này rồi đau khổ trong này. Chúng ta thấy giải mã hết đầu đuôi, ngọn nguồn, căn nguyên, gốc rễ, tất cả giải mã hết, Chánh Biến Tri, Thế Gian Giải đó, vô thượng giác đó, Chánh Đẳng Chánh Giác là vậy đó.
Chúng ta học để thấy chứ nhiều khi mình lạy Phật mà không biết gì hết, thấy người ta lạy thì cũng lạy thôi chứ không biết, nghĩ rằng Phật như một vị thần ban phước cho mình. Không phải, Đức Phật chỉ cho mình thôi, ngay ở trong con người mình mà mình không thấy không biết gì hết trơn thì như vậy là vô minh, từ cái không thấy, không biết cho nên nhận lầm, hiểu lầm, tưởng lầm, nghĩ lầm, nói lầm, làm lầm, sống lầm, tập trung tâm ý lầm lạc hết trơn, suy xét nghĩ gì cũng lầm lạc hết trơn. Một dọc như vậy, thấy sai, nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, siêng sai, định sai, quán xét sai thì đi vào bát tà đạo, Đức Phật lật ngược cái đó trở về bát chánh đạo, con phải nghĩ vì mới đúng, con phải thấy mới đúng, con phải thấy về sắc bằng bát chánh đạo thì con mới thoát ra được cái nhìn sai lầm này rồi con phải nghĩ cho đúng nó mới thoát ra cái nghĩ sai, con phải nói cho đúng thì mới thoát ra nói sai.
Con nói sai con nói là tôi, nói là của tôi, con nói là hơn thua, không có tôi. Thân trống rỗng không ai trong đó, như một bao rác đầy hôi thúi lại vỗ vào bao nói ta tôi. Đó là những lời chánh kiến, chánh ngữ của bậc đạo sư khai phá cái tâm mê cho mình, đánh phá cái tâm mê của mình, đột phá cái tâm mê của mình, đập bể cái tâm mê của mình, đánh nát cái tâm mê của mình. Đó là thiền quán, nương vô cái thánh trí của Đức Phật và các bật thánh để mình đập vỡ cái tâm mê, cái tình thức, cái nhìn lầm lạc sai quấy, đó là phương pháp thoát ra khỏi sắc. Chúng ta thấy tuyệt diệu không? Từng cái Đức Phật chỉ cho con, tại sao con có cảm giác, cảm giác có mấy loại mà khi nó vận hành những cái loại đó thì trong đó nó có cái gì, cái gì ở trong cảm giác đó rồi những cái cảm giác đó đưa con đau khổ như thế nào, bây giờ con muốn không có đau khổ thì con phải làm cho lắng dịu những cái cảm giác, những cảm giác bất thiện đó ác đó con phải làm lắng dịu xuống, con phát huy cảm giác thiện. Nếu mà con muốn còn ở trong vòng luân hồi sanh tử, con muốn hưởng phước nhân thiên thì ta chỉ cho con cái cách đó, nhân đạo, thiên đạo và nếu con muốn đi thánh đạo thì ta chỉ cho con cách thoát ra tất cả mọi cảm giác, xuất ly cảm thọ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Ta chỉ cho con cái cách đi ra khỏi cảm thọ luôn, chúng ta thấy dễ sợ không? Bậc Chánh Biến Tri, Thiên Nhân Sư, Thế Gian Giải là vậy đó, thế gian tức là ngũ uẩn, là thế giới đó, giải là thông giải pháp thế gian, thông giải tâm nhân thế, thông giải tham sân si, không giải tâm cấu uế, thông giải nẻo luân hồi, không giải cái đường tái sanh, thông giải cái lối đạo lội giải thoát, đó là Thế Gian Giải đó. Tối thượng chưa? Mình phải thấy mình vinh hạnh, mình vinh dự, mình hạnh phúc, mình hãnh diện vì mình làm đệ tử của Phật, không có một vị thầy nào vĩ đại, tối thượng ở trong mười ngàn thế giới này như Đức Thế Tôn hết cho nên mình đọc cái bài đảnh lễ trí đức Như Lai là mình lạy xuống, mình hạnh phúc, sung sướng, mình rung động, rung chấn, giống như trong tâm mình là địa chấn vậy đó, hạnh phúc, hân hoan, chấn động, phấn khích, phấn khởi trào dâng cảm xúc.
Mình có một cái bậc thầy tối tôn, tối thượng, vô thượng, độc nhất vô nhị, tối thắng, thù thắng, không có một ai, người thứ hai có thể chỉ ra được vậy, mới một cái thân thọ thôi mà chúng ta thấy vậy rồi. Giải mã hết tất cả tại sao mình buồn, tại sao mình vui, tại sao mình ngơ ngơ, tại sao mình khổ sầu, tại sao mình trầm cảm, giải mã hết trơn. Tu cái này là không có trầm cảm, giải quyết hết tất cả mọi sự trầm cảm, đưa cho mình tới cái cảm thọ của chư thiên, tứ vô lượng tâm, những cái cảm thọ của thánh hiền. Tưởng cũng vậy, tại sao có hình bóng Đức Phật giải thích hết, do mình tiếp xúc, bao nhiêu loại hình bóng, các hình bóng vận hành ở trong đó, khi nó vận hành lên trong đó nó có cái gì, tham, sân, si, dục ái như thế nào, vô minh, bản ngã thế nào.
Bây giờ con phải thấy được cái vị ngọt của nó, con mê cái vị ngọt của cái ám Ảnh này là con khổ nha con, ngọt mật chết rồi nha con, nó giết con chết nha con, chết bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, chết oan chết ức, chết tức chết tưởi, chết bờ chết bụi, chết nhục chết nhã, chết cay chết đắng, chết bất đắc kỳ tử, chết không biết tại sao mình chết nghe không con. Thấy chưa? Giải Nikāya mà giải vậy thì không biết còn cái gì nữa giấu, khi bậc đạo sư ra đi ngài nói "mọi người còn chờ đợi gì ở ta nữa, pháp cần nói ta nói hết rồi" giống như Thế Tôn lúc chuẩn bị nhập Niết-bàn ngài nói:
"-- Này Ananda, chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo, hay: Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng: 'Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo', hay 'Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta', thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo?" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)
"Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng Phẩm III)
Ta không có cất giấu lại bất cứ cái gì hết, tất cả trí tuệ mà ta đã chứng ngộ ta truyền trao lại, cũng vậy, bậc đạo sư trước khi ra đi các vị còn mong đợi gì ở con nữa, những gì cần nói, cần giảng, cần thiết con đã chia sẻ tất cả, theo đó mà tu tập hành trì rồi các vị sẽ gặp con ở trong thánh trí, ở trong thánh pháp, thánh đạo, thánh quả. Mình phải thấm thía, mình phải hiểu được cái tâm của Đức Phật, cái tuệ của Đức Phật, lòng đại từ, đại bi của Đức Phật, tình thương bao la của ngài. Mình phải thấy được, cảm nhận được sâu sắc, mình phải cảm thọ được, mình phải chạm được tới trái tim của Đức Phật và mình nghe được cái nhịp thở của ngài, mình chạm được tới trái tim của bậc đạo sư và mình thấy từng dòng máu nóng, huyết lệ trong đó đang luân lưu, đang vận hành với một cái trái tim nhiệt huyết truyền lại thánh trí, thánh pháp, thánh đạo cho mình.
Đó là lý do tại sao mỗi khi con nhắc về ngài là con sẽ khóc, vì không có một người thầy thứ hai trên cuộc đời này con thật sự là phước đức, thật sự là phúc lạc cho con, lợi đắc cho con, lợi ích cho con, vô tận, vô lượng, vô biên, vô cùng trong vòng sanh tử luân hồi vô thỉ này có thể gặp được một bậc chân nhân, bậc chánh kiến như vậy, đem hết cả trái tim cả tấm lòng nhiệt huyết truyền trao cho mình, vắt hết xương tủy. Cho nên làm sao mỗi khi nhắc về ngài mà con không xúc động được, nhắc về cha mẹ con không có xúc động bằng như vậy, nhắc tất cả mọi người trên cuộc đời này con không thể xúc động như vậy, khi nhắc với bậc đạo sư là quặn lòng, đau nhói là như vậy cũng như nhắc về Đức Phật và mình thấy cả một cái trái tim bao la, trùm khắp hoàn vũ này. Địa cầu này đối với ngài cũng như một trái banh thôi, có là gì trong mắt trí của các ngài, mắt tuệ của các ngài, mắt pháp của các ngài.
Bất cứ nơi nào, ở đâu, đều có thể triển khai thiền quán, có cơ hội là cứ triển khai thiền quán niệm ân đức của Thế Tôn, niệm ân đức của bậc đạo sư, lấy đó làm động lực để cho mình tiến tu. Bất cứ nơi nào, chỗ nào, đừng đợi con tổ chức thiền biết ơn lúc đó mới nhớ, bất cứ lúc nào ngồi đó niệm ơn đức ghi rồi chép ra, rồi viết ra, nói rồi ghi âm lại, đọc lại rồi nghe, lạy rồi tưởng, rồi nhớ, quán và nhắc, khắc ghi cho thật sâu sắc. Khi lòng biết ơn của mình tận cùng rồi thì nó trở thành một cái sức mạnh đẩy mình đi tới dòng pháp đưa người về phía trước, mình sẽ mau chóng thể nhập vào dòng trí tuệ để cùng đi với ngài cùng, trở về trúc lâm, trở Về Linh Thứu, trở về nơi các bậc hiền thánh.
Đây đâu phải là nhà của mình đâu, thế gian này đâu phải là nhà của mình đâu, vài bữa rồi mình chết ở đâu mình cũng không biết, chết như thế nào mình cũng không hay, tại sao chết mình cũng không biết, lúc đó rồi còn cái gì nữa. Ba, bốn, bảy tuần thất rồi qua giỗ một năm, hai năm, ba năm rồi cuối cùng không còn ai biết mình là ai nữa hết, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm trừ những người có công đức lớn người ta còn nhắc tên lại, chứ còn bình thường rồi xong, không ai biết mình là ai nữa. Lạnh lẽo, cô đơn, lẻ loi một mình rồi ở trong cái u u minh minh, trong cái con đường nghiệp quả đó mình đi đâu mình cũng không biết, cũng thấy, trong sáu nẻo luân hồi này mình đi ngã nào mình cũng không rành, không thấy vậy mà không biết lo, không biết sợ, không biết ngày đêm suy tư, nghiền ngẫm, nỗ lực để mình tìm con đường thoát ra. Đó là một cái sự thiếu xót rất là lớn, một sự lãng quên rất là nghiêm trọng, một sự thiệt thời rất là cay đắng cho cái kiếp người này.
Cứ mãi chạy đuổi theo những cái phù du, những cái ảo ảnh, những cái phù vân, những đám sương, đám mây buổi sáng đó. Mình le lói cuộc đời này một chút xíu thôi rồi mình sẽ tắt, không còn ai biết mình là ai nữa, một nắm xương tàn đó, có khi người ta còn không muốn để trong nhà, muốn rải đi lẹ lẹ, đi đổ cho xong, đi thiêu lẹ lẹ đi để ra ngoài mệt quá, hôi thúi, rỉ chảy ra dơ quá không ai chịu nổi hết, đi đốt lẹ đi, đi cuốn lẹ đi, đi thiêu lẹ đi, đi chôn lẹ đi, vứt lẹ lẹ nhanh nhanh mau mau đi. Vô nghĩa, vô nghĩa là cuộc đời này, vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã, một cuộc đời vô thích sự nếu mình không có lối thoát, nếu mình không có đường đi, nếu mình không có đạo lộ, nếu mình không thành tựu chánh kiến, nếu mình không thấy được sự thật của cái bản thân này, của cái đời sống này, của ý nghĩa thật sự của kiếp sống này là cái gì.
Sanh ra mình lăn lóc, mình đi tìm dục, tìm ái, sân si, bản ngã rồi thời gian sau mình sụp xuống, mình ngã xuống, mình đổ xuống, mình nằm xuống thân tàn ma dại, bệnh hoạn, ỉa chay đái dầm, đau đớn, khổ sở, mình báo đời ăn hại những người chung quanh, những đứa con, đứa cháu nó gớm ghiếc. Đó là được sống ở trường thọ đó chưa kể là chết oan chết yểu, chưa kể là tai nạn giao thông rồi mình làm cô hồn vất vơ vất vưởng không tin mình chết, chết rồi nhưng mà nói tôi không có chết tại vì cái tâm chấp thủ quá mạnh đi, cái xác chết rồi nhưng thọ; tưởng; hành thức không chết. Thậm chí nó vất vơ vất vưởng rồi lòng vòng chỗ cái xác đó, không thôi là cái chỗ nó chết đó thì người ta lập cái miếu thờ ngay chỗ đó.
Chúng ta thấy có những con đường ở chỗ đó tai nạn hoài luôn nên người ta lập cái miếu ngay chỗ đó. Tại vì cái vong linh đó, cái cô hồn đó, cái chư vị ở đó người ta không có siêu được, nhiều lắm, mình không thấy hết đâu, vừa rồi chúng ta biết là ở biển mà nổi lên chết là cả ngàn tấn cá thì không biết bao nhiêu con, mình tưởng đâu tám tỷ người là nhiều lắm nhưng không có là gì so với các loài thủy tộc. Nội thủy tộc dưới dưới biển thôi chưa nói các cái loài trong rừng, các loài dưới đất nhiều lắm, tám tỷ người của mình ở trên hành tinh này ít lắm, không có là gì hết, những chúng sanh vô hình ở trong loài ngạ quỷ vất vơ vất vưởng, những súc sanh ở trong địa ngục nhiều, nhiều, nhiều, không thể tính kể được.
Khi mà con mới lên núi này có cô hiệu trưởng đó rất là tha thiết cô cúng cái tượng Phật ở trong chánh điện đó, cô chuyên môn là đi cúng, đi đến chùa nào cũng cúng cho các vong linh, cô có cái duyên với các vị đó, cô thương các chúng sanh ở trong đường ngạ quỷ. Cô lên đây nói "con bạch thầy, lúc đó khoảng mười lăm năm trước thì con thấy trên này đầy hết cả một ngọn núi, con xin với thầy quy y", lúc đó con mới thỉnh các vị tôn đức ở trong thất ra làm lễ quy y và bữa lễ quy y đó khủng khiếp lắm. Cái cửa quy y trong chánh điện này mà con ngồi nổi da gà hết, đó là mười lăm năm trước, đang bình thường giống vầy nhưng đến lúc làm lễ quy y là gió thổi hụ hụ, đập ầm ầm ầm vô cái chánh điện, mình ngồi mà thấy lạnh hết trơ, nổi như gà hết. Cô nói chúng sanh ở trong loài ngạ quỷ nhiều lắm, thời kỳ chiến sanh những người chết thì mình đâu có thấy, mình chỉ thấy sao người ta đông vậy, mình tưởng đâu làm người dễ lắm nhưng thật ra là thiên nan, vạn nan, tỷ nan.
Mình mất cái thân này rồi là không biết mình vô cái thân cái con gì cho nên phải trân quý, trân trọng, trân kính từng giây, từng phút, từng ngày, từng giờ mình được tu tập. Đừng có hoang phí cuộc đời mình trong những cái việc hấp hèn, tầm thường, hạ liệt, phàm phu, vô minh, dục, tham, ái, phung phí, hoang phí, lãng phí, uổng phí cả một cuộc đời của mình, nhất là cái tuổi trẻ mình còn sức khỏe, mình còn minh mẫn, mình còn tỉnh táo, mình còn sắc bén. Mình không nỗ lực thì mai này mình già rồi lúc đó mình khổ lắm, khổ dữ lắm nên cơ hội của chúng ta hai tuần nay là hiếm có, không phải trong cuộc đời này mà trong vô thỉ kiếp cho đến nay mình được nghe thánh pháp, thánh trí, thánh đạo, thánh tuệ như vậy hãy cố gắng giữ gìn, đừng có để cho rớt mất.
Đức Phật trình bày tại sao mình có suy nghĩ, có mấy loại suy nghĩ và cái suy nghĩ nó vận hành như thế nào, cái sự vận hành của nó, cái vị ngọt của nó, sự nguy hiểm và tác hại của nó, làm thế nào để mình thoát ra khỏi cái si nghĩ này, Đức Phật trình bày đầy đủ hết. Ở trong cái sự nhận thức này Đức Phật trình bày cho mình đầy đủ hết tại sao mình có sự rõ biết, nhân nào, duyên nào sanh khởi cái rõ biết đó, có mấy cái loại rõ biết. Đức Phật phân loại ra rồi mình bị đắm đuối ở trong cái biết đó như thế nào, cái biết đó đưa mình tới tai hại, đau khổ ra làm sao và làm bằng cách nào, con đường nào mình thoát ra khỏi cái thức đó, cái biết đó. Đầy đủ hết tất cả cái đạo lộ như vậy.
Bây giờ trở lại cái vấn đề quan trọng vừa rồi chúng ta nói bốn thánh trí ngũ uẩn đó là tổng quát, tổng cương lĩnh của thánh trí tuệ. Chúng ta thấy là do vô minh và khát ái mới sanh khởi ra ngũ uẩn thì bây giờ vô minh là không biết về ngũ uẩn và khát ái là yêu thích ngũ uẩn. Mình không biết về ngũ uẩn cho nên mình mới yêu thích ngũ uẩn rồi mình nắm chặt vô trong ngũ uẩn đó, mình không có buông ra, mình cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Nếu bây giờ có một cái cách nào khác ngoài cái cách để mình biết về ngũ uẩn còn cách nào khác không? Nếu mà mình không biết về ngũ uẩn đó là vô minh thì giờ mình biết về ngũ uẩn đó là mình. Chúng ta thấy nó khoa học không? Nó nhân quả không? Nó cụ thể, nó thiết thực, nó thực tế, nó rõ ràng không? Nó đâu có một cái gì mờ ám, mê tín, không có cái gì viễn vong hết.
Bây giờ anh không biết thì anh bị nó gạt, giờ anh biết ra được rồi anh hết bị gạt, rồi xong, đơn giản không? Chữ biết và chữ không biết, biết tức là giác, không biết là mê, mà biết như thế nào chứ không phải biết là nghe được mấy ngày rồi cho rằng biết ngũ uẩn rồi, đến khi trở ra cũng tham, sân, si, bản ngã nữa thì cái biết đó không là gì hết. Biết mà phải thật biết cho nên mới gọi cái từ là thực chứng, cái biết đó nó ở trong mình hoài nó không mất thì mới gọi là thực chứng, còn cái biết đó khi có, khi không, khi còn, khi mất, khi nhớ, khi quên thì cái biết đó gọi là nhất thời mình giác ngộ thôi. Cái lúc nào mình nhớ, mình thấy được, mình nghĩ được vậy thì lúc đó mình giác ngộ, mình tỉnh, lúc nào mình quên, mình không thấy được vậy, mình không nhớ được vậy, mình không nghĩ được vậy thì lúc đó mình mê, cho đến khi nào mà cái thấy biết đó nhớ hoài, nó thấy hoài, nó hiểu hoài, nó sống luôn ở trong đó không mất thì lúc đó gọi là chứng ngộ, thể nhập thánh trí.
Nhớ cái gì? Nhớ vô minh làm cho mình khổ đau, đó là ngũ uẩn đó nha, nó là năm cái thằng ác độc, không thấy rõ nghe không, cái thằng sắc này chết với nó nè, cái thằng thọ này cũng làm cho mình khổ đau, cái thằng tưởng này ám ảnh mình một tự ngã, cái thằng hành này cứ lầm thầm, nó thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than, nó xúi giục mình vô dục, vô ái, vô tham, rồi cái thằng nhận thức là nhận thức ở trong cái tình thức, ở trong cái mê lầm, ở trong cái ngu muội, nhận thức ở trong cái bóng đêm, mù rờ voi.
Phải thấy rõ từng thằng như vậy và không để cho nó gạt mình, đầu tiên là biết tên tuổi, kế đó là biết mặt mũi, sau đó là biết tánh tình và cuối cùng là biết được cái bản chất của nó về năm uẩn. Nói đơn giản là vậy, tứ chuyển đó, biết được tên tuổi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, biết được mặt mũi là mình nhận diện được ngũ uẩn đó. Mình đã thấy cái bản mặt nó chưa? Thấy cái bộ mặt của nó chưa? Thấy cho rõ, thằng thọ ra thằng tưởng, hành ra thức là lộn xộn, không được, cái nào nó ra cái nấy rõ ràng. Mình thấy được, mình biết được cái tên tuổi, mình biết được cái mặt mũi, mình về ở chung thì mình biết được tánh tình "mày nha mày, mày chết mày với tao nghe không, hồi đó tới giờ là tao không biết mày, bữa nay tao biết được cái gu của mày, tao biết được cái gì cái mánh khóe của mày. Mày láu cá, mày rất là xảo trá. Mày gạt tao phải không? Tao biết được rồi nha, tên tuổi nè, mặt mũi, tánh tình của mày, mày đừng có hòng từ nay về sau gạt tao nghe không, mày chết với tao, mày chết với tao".
Mình nhớ vị thánh Tăng bị cái cá dục nó quấy rối quá thì ngài đứng ở vực thẳm hét lớn "tao giết mày, tao phải giết mày chết, tao phải giết mày chết, tao nhảy mày xuống cho mày chết luôn", chuẩn bị nhảy xuống thì quán chiếu triển khai thiền quán diệt tận ái, chứng quả A-la-hán.
"Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi trong gia đình một Bà-la-môn, được đặt tên là Mahànàma, ngài được nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lấy một đề tài làm thiền quán, ngài sống trên một ngọn đồi tên là Nesàdka. Không thể chận đứng được các dục tưởng khởi lên, ngài tuyên bố: 'Ðời này của ta có ý nghĩa gì, với tâm tư uế nhiễm như vậy'. Tự nhàm chán với chính mình, ngài leo lên một đỉnh núi, và như muốn lao mình xuống, ngài nói với chính mình như nói với một người khác: 'Ta sẽ giết nó!' với bài kệ như sau:
Hãy xem, sao đời nay,
Lại chấm dứt ở đây,
Với hòn núi nhiều ngọn,
Và nhiều cây cối này?
Núi Nesàdaka,
Một ngọn núi có danh,
Rập rạp với cỏ cây,
Che kín trùm tất cả.
Tự mình trách móc như vậy, vị Trưởng lão phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Bài kệ trên trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười Hai, (CXV). Mahànàma (Thera. 16))
"Tao giết cho mày chết, tao phải giết mày, tao giết mày, tao giết cho mày chết, đừng có hòng mày gạt tao nữa. Từ đây về sau tao thấy được cái bộ mặt của mày, tao biết được cái tánh tình của mày rồi, thấy được cái bản chất của mày là tham, sân, si, cái bản chất của mày là vô thường, vô ngã, cái bản chất của mày là lươn lẹo, mánh khóe, cái bản chất của mày là ngụy biện, quanh co giấu lỗi lầm. Mày gạt, mày dụ tao, chuyến này tao cho mày chết, tao cho mày chết, đao hạ bất lưu tình, nhất đao lưỡng đoạn - một dao hai khúc, cẩu đầu đao chờ lệnh – trảm, hổ đầu đao chờ lệnh – trảm, long đầu đao chờ lệnh – trảm".
Cái tác ý của mình phải mạnh, cái tuệ lực của mình phải mạnh, mãnh hổ lực, hung hãn lực, sư tử lực, voi chúa lực, uy lực của mình phải mạnh thì mình mới diệt được, không thôi nó dữ dần lắm, cái sừng con bò ngũ uẩn này bén dữ lắm. Mọi người có biết cặp sừng con bò không? Nó có thể húc người ta đổ ruột, phải cưa cặp sừng ác độc của nó, trong này nó trống rỗng mà nhưng mà nó tạo ra ác nghiệp, nó vô thường nhưng mà nó đầy rẫy tham sân, nó bất tịnh nhưng mà nó dục ái là muôn thuở vĩnh hằng. Vậy mình mới khổ cho nên phải trừng trị nó thẳng tay, không có được nhẹ tay với nó vì nhẹ tay nó là mình chết, nó giết mình vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp mà bây giờ mà mình nhẹ với nó là mình chết. Nó bằm thây mình, nó diệt mình, nó giết mình, nó hại mình, nó đè đầu cưỡi cổ mình, nó làm cho mình chết tức chết tưởi, chết oan chết ức, chết nhục chết nhã, chết tồi chết bại, chết bờ chết bụi, chết khốn chết nạn, chết đau chết đớn, chết bất đắc kỳ tử, nhảy lầu, nhảy cầu, nhảy xe, nhảy sông, uống thuốc độc, tai nạn giao thông, chết máy bay, đủ thứ kiểu làm cho mình chết.
Bây giờ mình diệt được nó thì mình mới thể nhập được bất tử, còn mình không diệt được nó là mình sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh, chết hoài, chết dài dài, chết vô lượng, vô số, vô biên kếp. Cho nên bài hôm nay là nói tận cùng luôn rồi đó không còn giấu gì nữa hết, tất cả pháp tu hành, cái cách tu của mình đó. Cái đầu não của nó là vô minh và khát ai tức là sự mù lòa về ngũ uẩn và sự ham thích ở trong ngũ uẩn, sự mù lòa về thân và tâm và sự yêu thích ở trong thân tâm này, không thấy được bản chất của nó. Mình biết được tên tuổi nó là ngũ uẩn nè, sắc; thọ; tưởng; hành; thức, biết mặt mũi của nó là mình nhận diện được nó, thằng nào ra thằng nấy, mình biết được tánh tình của nó là tham, sân, si, dục ái. Người ta nói gì nói khỏi cần nhìn gì hết vì chỉ là dục không thôi, sân thôi, bản ngã thôi cho nên nhiều khi ngồi nói với con đủ thứ hết thì con nói "được rồi, thôi được rồi, biết rồi, nói hoài cũng nhiêu đó thôi, bài ca con cá ca mấy chục ngàn lần rồi, khỏi còn nói cũng biết bệnh rồi.
Tuyệt vời không? Thánh trí đó, mình thấy hai người cãi lộn khỏi cần phân bua nhìn vô biết rồi, sân bệnh về trị đi. Phân bua cái gì, dành đúng dành sai cái gì? Cho nên hai đệ tử lên mách sư phụ sư huynh nói vậy, sư đệ nói vậy thì sư phụ kêu về đi, ngày mai lên nói chuyện, sáng mai hai ông thức dậy sớm để canh sư phụ ra là mách liền, hai ông nói một hồi thì sư phụ bảo "về hết đi, sai hết ráo, về hết đi. Sân là sai, càng nói càng sai, cự nhau là sai, hơn thua nhau là sai, cả hai về sám hối hết". Giải mã hết tất cả cho nên hồi sáng đọc giải mã tâm mê. giải mã dục ái. giải mã thế giới. giải mã cuộc đời, giải mã trần gian, giải mã hết cái vòng luân hồi sanh tử này, thánh trí ngũ uẩn tối tôn, tối thượng, tối cao, tối thắng, tối đệ nhất của bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Thông giải hết thế gian, thông giải hết cuộc đời, thông giải hết thế giới, thông giải hết tâm thức của tất cả chúng sanh và đặc biệt là thông giải cái tâm của chính mình, từ đâu mà mình có khổ, tại sao mình tham, sân, si. Quay vô trong đi rồi sẽ thông, quay ra ngoài là nó bít, giờ muốn thông hay muốn bít? Càng quay ra ngoài là càng không biết gì hết, càng quay trở vào thì giải quyết được tất cả mọi vấn đề cho nên bật đạo sư dạy con khi nhập thất là diệt tâm hướng ngoại, chưa bao giờ con có thể ở được bảy ngày ở trong thất hay là mười ngày mà ngài dạy con là con ở luôn trong thất hai tháng không ra. Diệt cái tâm hướng ngoại thì mình mới ở yên được, ví dụ mình muốn về núi mà mình ở yên được là mình phải diệt cái tâm hướng ngoại, không thôi về tu chứ lâu lâu chạy ra quán café kiếm chút đỉnh.
Phải diệt cái tâm hướng ngoại, tu là chuyên tâm vô tu, chừng nào về tới thiếu gì quán. Vậy đó phải diệt cái tâm hướng ngoại chuyên chú vào pháp, thực hành pháp, khi mình nắm được, mình hiểu được rồi thì quý vị thấy cuộc đời mình tuyệt vời mình đổi đời thật sự, thay đổi vận mạng giống như mình đầu thai kiếp khác, mình không còn là một con người trước nữa, mình sẽ thay đổi cuộc đời của mình, mình sẽ thay đổi vận mệnh của mình, mình sẽ thay đổi thân tâm của mìn,h mình sẽ thay đổi cuộc sống của mình và từ đó mình sẽ thay đổi cho cha mẹ của mình, anh chị em, bà con của mình, giúp đỡ mọi người bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng, bằng sự thấy biết đúng về chánh pháp, bằng tám đúng của bậc thánh. Hạnh phúc không?
Hôm nay là giải mã thế giới rồi đó, giải mã thân tâm, giải mã đời sống, giải mã khổ đau, giải mã trần gian, giải mã luân hồi. Nhiều khi tu học mười năm nói bát chánh đạo nói không xong, nói cứ lộn qua lộn lại cái này cái kia, mình nói tiếng việt rất dễ. Tối nay mình đốt lửa có hoan hỉ không ạ? Tối nay ra ngoài trời đốt lửa trại rồi mình mới chia sẻ cái cảm xúc tu học trong hai tuần, có một số vị vội nên lúc sáng chưa gì hết đã chia sẻ, thành ra mình đợi cho nó đúng thời, tối nay đó là chia sẻ cảm xúc tu học trong hai tuần. Ai có bảo bối gì thì đem ra, cái quý, cái viên ngọc, hột xoàn, kim cương, vàng gì của mình mà trong nửa tháng nay mình gom góp, mình tích lũy đó, mà nó cô đọng thôi. Mình nhớ lại mình nói, hoặc là mình có ghi chép thì đọc nhưng đọc thì ngắn thôi chứ không có đọc dài mất thời gian của đại chúng. Thí dụ nếu mình có đọc thì mình chỉ đọc một trang thôi là mình đọc cái tinh túy nhất quan trọng nhất còn tốt nhất là mình nên nói trực tiếp mình đã tu đã học được cái gì trong nửa tháng, mình cảm nhận ra làm sao, mình thay đổi như thế nào, những cái thiện pháp này kia mình chia sẻ tối nay.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
khắp trời đất bao la.
./.
BIỂU ĐỒ GIẢI MÃ NHÂN SINH THẾ GIỚI (XGGD10)
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí hôm nay là buổi chia sẻ cuối trong khóa tu cho nên chúng ta có cái biểu đồ này. Người ta dựa theo cái cuốn tóm tắt ngũ uẩn của bậc đạo sư để người ta viết thành cái biểu đồ này, cái này cũng là trói voi bỏ rọ ở trong một cái buổi học không thể nào chia sẻ hết được vì thời gian chúng ta chỉ được hai tuần thôi thì chúng ta có thể nghe tổng quát ở trong Tương Ưng Bộ kinh, Thế Tôn nói rằng ta không có tuyên bố ta là bậc giác ngộ cứu cánh cùng cực vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khi ta chưa thấu suốt hoàn toàn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của năm thủ uẩn, ta chỉ tuyên bố ta là bậc giác ngộ tối thượng, bậc thấy biết tận cùng khi nào ta thấu suốt hoàn toàn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của năm uẩn như vậy ngài được gọi là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác tức là bậc giác ngộ sự thật một cách tận cùng, tột cùng, cùng cực, cùng tột, không có một ai có thể ngang hàng, so sánh thấy biết bằng được.
"Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta không tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta: 'Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa'." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)
Ở trong mười ngàn thế giới này ngài là người duy nhất, là người độc nhất vô nhị, không có người ngang hàng, không có người ngang bằng, không có người ngang tầm, không có người chúng đôi ngài là người duy nhất ở trong mười ngàn thế giới, tam thiên đại thiên thế giới và cái sự giác ngộ tột cùng đó chính là giác ngộ năm uẩn và năm uẩn đó cũng chính là thân tâm và thế giới và tất cả sự giác ngộ đó có thể tóm thâu trong một cái biểu đồ này.
"Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân." (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, Như Lai)
Chúng ta thấy bậc đạo sự dùng hàng thập kỷ, ngày đêm xỉu lên xỉu xuống, chết lên chết xuống, một mình âm thầm lặng lẽ ở nơi xứ người ở bên Pháp, gặp cảnh mẹ chồng nàng dâu khủng khiếp tức là đau khổ tột cùng. Và trong cái sự đau khổ tột cùng đó cộng với túc duyên tuệ căn, phước đức của ngài ở trong quá khứ đã dẫn ngài vào trong kinh tạng Nikāya và tự mình mày mò, tự mình tìm tòi, tự mình biên chép, tự mình ghi chép, tuyển chọn, biên tập biên soạn, tự mình từ cái định nghĩa nhỏ nhất. Vì khóa tu lần này nhiều người mới cho nên con chưa có tiện để kể, những cái khóa sau cho những vị đã biết tu lâu, từ từ con sẽ kể, kể cho đến chúng ta chết cũng chưa hết câu chuyện về ngài.
Ngài tóm thâu thành quyển "tóm tắc năm uẩn" và từ trong cái quyển đó mà không biết người này là ai, không có đề tên ở trên mạng thì viết thành cái biểu đồ này. Chúng ta nhìn cái biểu đồ này thật ra không có gì lạ hết, đây là diễn tả thân tâm của mình thôi, tất cả những chữ này chỉ có diễn tả thân tâm của mình thôi. Trong sắc uẩn thì cái thân này, cái cảnh này, tất cả món đồ cho đến ngọn núi, quả quả đất có một chữ thôi, đó là sắc. Chúng ta thấy khủng khiếp thánh trí tuệ của Đức Phật không? Khi chúng ta còn mê, chúng ta chưa được học về thánh trí ngũ uẩn thì chúng ta nhìn cái chợ Bến Thành nó ra sao? Nhìn cái quận 1 ra sao? Quận 2, quận 3 nó ra sao? Nhìn ở Hà Nội ra sao? Nhìn ở Đà Nẵng, Nha Trang ra sao? Chúng ta nhìn Thái Lan, chúng ta nhìn Mỹ, nhìn Úc, nhìn châu âu, châu phi ra sao?
Nó mênh mông, nó bao la, nó nhiều cái mới, nhiều cái lạ lắm, chúng ta chạy suốt đời để đi tìm những cái mới lạ, chúng ta thấy thiên hình vạn trạng, sum la vạn tượng, ngàn hoa khoe sắc và chúng ta ảo tưởng, mơ tưởng, mộng tưởng, điên đảo tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng và chúng ta nghĩ rằng là nhiều lắm, nhiều lắm, mình đi tới chết cũng không hết nữa. Nhưng mà Thế Tôn ngồi ngay tại chỗ nói những cái này chỉ là sắc, tuyệt diệu không? Cho nên giờ mấy thầy, mấy cô ở đây con cho đi hoằng pháp mà nhiều khi cũng không muốn đi nữa "tất cả là sắc hết sư phụ, không đi đâu". Có nhiều vị bây giờ đang ẩn tu ở trong rừng không có đi đâu hết, "tất cả sắc hết sư phụ, con không đi đâu. Ở đây con quán cho thực chứng cái sắc này là vô thường, là khổ, là vô ngã đã đủ rồi", tuyệt diệu không?
Chỉ có thánh trí tuệ thì mình mới có thể nắm ở trong lòng bàn tay, bậc đạo sư chúng ta có một cái bài pháp "Trong Lòng Bàn Tay", nghe cái bài đó chưa? Con cũng có bài pháp "Trong Lòng Bàn Tay" bắt trước theo, kiếm chút đỉnh cũng bị ngài rầy, rầy hoài tới gần cuối trước khi ra đi về cũng bị rầy nữa, "dạ… dạ" mình hạnh phúc khi mình được rầy. Được rầy là ngài còn thương mình ngài mới rầy, phải không? Còn không thèm dòm, không thèm nói tới nữa là xong rồi cho nên bây giờ mình có thể ngồi dưới một gốc cây, ngồi ở trên cái tảng đá, ngồi ở dưới một cái khóm tre mà mình có thể hiểu thấu được cả địa cầu này. Trong mấy cái bài về núi chúng ta thấy con có làm có cái bài thế giới này chỉ là một cái quả banh thôi, là trái banh bằng đất thôi à, không có gì hết.
Mình muốn nhìn thấy được như vậy thì phải tác ý thường xuyên, phải nhắc mình thường xuyên bằng cái thánh trí tuệ để mình mới có thể phá được cái tâm mê mình nó mê khủng khiếp lắm, nó mê kinh hoàng lắm, nó mê khủng hoảng lắm. Cái sắc này là cái giống gì cũng nói hấp dẫn, nhìn cái xe mắc tiền là mê, nhiều khi bỏ mạng với chiếc xe này, đổ máu với chiếc xe này, vô tù ra khám vì chiếc xe này, đánh lộn đánh lạo vì chiếc xe này. Có khi quẹt cái thôi là xuống có chuyện tại vì người ta không biết đó là sắc, cái thân này cũng sắc, tất cả những thứ cả cái địa cầu này, cả cái hành tinh này, cả cái thế giới này cũng là sắc. Nội một chữ này thôi đó chúng ta sụp xuống chúng ta lạy bậc Thế Gian Giải, một chữ này thôi, chữ uẩn là sự tập hợp của sắc, tổ hợp của sắc, một đống sắc. Cái uẩn này là một đống, là sự nhóm hợp, sự tập hợp, sự tụ tập, tích tập, tích tụ, một đống sắc, một đống đất, nước, gió, lửa thôi.
Tất cả nó làm bằng đất, nước, gió, lửa hết, cho đến khi nào chúng ta nhìn vô bất cứ con người, sự vật, đồ vật, cảnh vật, trời đất gì chúng ta cũng biết là đất, nước, gió, lửa hết chứ không có gì hết thì lúc đó gần tới cửa bất tử rồi đó. Đi chơi hoài, cánh cửa mở vậy mà không chịu bước vô, cứ đi vòng vòng rồi khóc lóc, rồi "Phật ơi! Con khổ quá. Sao đời con khổ quá" cứ than hoài mà mở cửa không chịu vô. Linh Quy Pháp Ấn không có cửa mà không chịu vô mà cái cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đóng mà lại gõ cửa mở ra, cạy ra để chui vô. Trời đất ơi! Trời đất ơi!
Thiên đường hữu lộ vô nhân đáo,
Địa ngục vô môn hữu khách tầm
Thiên đường có lối mà không người đến, địa ngục không cửa lại chung vào. Trời đất ơi! Thiệt tình. Kêu trời hoài, mới kêu trời là trời tới, cảm động lòng. Bây giờ mình cứ nhớ hoài, mình cứ gặp cái giống gì, bất cứ cái gì mình nói nó là sắc, đó là thứ duyên sanh, là thứ vô thường, cái thứ này là đổ máu, giành giật, cái thứ này là cái thứ đốt nhà, giết người, cái thứ này là huynh đệ tương tàn, cha con giết hại, anh em thảm sát với nhau, vợ chồng phân ly là cái thứ sắc ác độc này. Nhắc hoài, nhắc hoài, nhắc hoài, nhìn hoa đẹp cũng nhắc nữa, nhìn cảnh đẹp cũng nhắc nữa, nhìn người đẹp càng nhắc hơn nữa. Trời đất ơi cái này còn dữ dằn nữa, càng nhắc nữa, hộ trì căn, hãy nhìn cho ra được cái đống sắc chỉ lòa loẹt trau chuốt bên ngoài thôi, có một cái lớp mỏng bề ngoài rồi nó bao lại bên trong. Nó bị rách thì đổ ra cái thứ kinh hoàng lắm, một ngày phải vô cầu tiêu quán ba lần, ngày đi ít nhất ba lần vô đó nhìn cho nó kỹ, ngửi cho nó thọ. Hít cái hơi đó sâu vô, nhìn cho kỹ để thọ.
Bữa nay là con nói pháp thực dụng, thực hành, không có nói lời kinh nhiều. Nhìn vô mấy cái cục đó nó nhơ nhớp mà nó bẩn thỉu, nó tồi bại mà nó xấu hổ, nó nhục nhã, nhìn vô đó thọ. Trời ơi! Trời đất ơi! Sao mà cái thân này nó đi ra những thứ này như vậy mà tại sao mà mình ngu mê, mình đam mê, mình si mê, tại sao mình nhìn không thấy như vậy, hằng ngày nó ra bao nhiêu lần như vậy, nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi, tồi bại, bất tịnh, hạ liệt, xú uế. Mỗi lần vô thì nhìn vậy đó, nhiều khi cái thân của chính mình mà cái mùi bốc lên rồi mình cũng ngán luôn, phải đi tắm chứ không tắm là chịu không nổi, gặp mấy cái người nặng mùi thì còn chết dữ nữa. Trời đất ơi vậy mà cũng mê rồi khổ suốt đời, còn đánh ghen ầm ầm, khổ lắm. sắc là kẻ giết người, chỗ nào có sắc là chỗ đó có sự chết, chỗ nào có sắc là chỗ đó có bệnh hoạn, có già nua, có chết chóc, có sự giết người, là kẻ sát nhân.
Vì có thân này trên mình mới có chết, vì có thân này cho nên mình mới có bệnh, vì có thân này cho nên mình có già, vì có thân này cho nên mình có tai nạn, hoạn nạn, lo lắng, sợ hãi, bất an. Kêu đứng lên trình pháp sợ quá không dám trình, pháp mà sợ gì, sợ không có pháp, cái pháp mà sợ cái gì. Cái đáng sợ thì không sợ mà cái không đáng sợ lại sợ, pháp mà tại sao sợ, chính gì sợ đó cho nên mãi mãi không có đạt được pháp, không có đi đến chỗ vô sở uý, sợ hoài muôn kiếp ngàn đời. Đánh gục được cái sợ đó thì mình đi đến cái chỗ vĩnh viễn bình an không còn sợ hãi nữa. Có ráng trình pháp hay không? Sợ cái giống gì mà sợ? Sợ tham, sân, si, sợ bản ngã, sợ dục ái, sợ vô minh chứ trình pháp mà sợ cái giống gì.
Sợ cái gì mà sợ? Cái này là cái thân mình, là cả thế giới, Đức Thế Tôn chúng ta tối thượng lắm, ngài nói một cái gì đó thì chân tơ kẽ tóc, một cọng tóc mà ngài chẻ ra đó là trăm phần, chín mươi chín phần biết hết còn một phần không có rõ thì ngài cũng chưa tuyên bố ngài vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho nên khi ngài nói về sắc thì ngài nói sắc tập khởi và sắc đoạn diệt tức là từ đâu mà có cái sắc này, cái sắc này nó vận hành như thế nào, nó an trú, nó tồn tại ra làm sao rồi nó biến hoại, nó đi đến diệt tận như thế nào. Ngài trình bày hết tất cả đầu đuôi, căn nguyên, nguồn cội, gốc gác, sự tập khởi và sanh diệt của nó, chúng ta thấy khủng khiếp không? Không phải ngài nói chung chung cái này đồ giả rồi tu, không phải, cho nên mình tu cái kiểu đó là mình tu mình không có đạt được trí huệ.
Nói nhà này giả, con người này giả, cái miệng nó giả nhưng mà cái tâm làm sao thấy giả? Bây giờ Đức Phật nói từ đâu mà nó sanh ra, cái hấp dẫn của nó là như thế nào rồi cái tác hại của nó như thế nào, làm sao mình thoát ra được nó. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Do mình ăn vô thì cái sắc này tồn tại mà mình không ăn thì là mình chết thì sắc này nó hoại diệt, thức ăn tập khởi thì đắc tập khởi thức ăn đoạn diệt thì sắc đoạn diệt, ngài nói cho mình biết cái nguyên nhân để sanh khởi ra sắc. Thức ăn ở đây có bốn loại thức ăn chứ không phải là chỉ có ăn đồ như mình, đó là mình có biết có một cái đoàn thực thôi, là cái thức ăn thô mà mình bóc, mình gấp, mình múc, mình húp, cái đó là đoàn thực thôi, còn ba loại thức ăn khác nữa.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Hai là xúc thực,
Ba là tư niệm thực,
Bốn là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Cái thức ăn mình ăn hằng ngày, mình đi thất thực đó là đoàn thực, những cái thứ mình bóc, mình gắp, mình múc này kia và xin thưa đó ở bên các cái thiền viện, con đi qua tới bên thiền viện trung tâm thiền quốc tế của ngài Ajahn Chah bên Thái Lan, tới bây giờ là các thầy Tỳ-kheo vẫn còn ăn bóc. Mình thấy người phương Tây rất hay, không có học thì thôi mà học là tới cùng cái gốc của Đức Phật và họ đi xuất gia. Lúc đó con đi tới trung tâm thiền quốc tế, đi cực khổ lắm, xa lắm mới tới, sâu lắm, vùng sâu vùng xa lắm, đi tới đó là có hai mươi mấy ba mươi vị thôi nhưng mà là trên hai chục nước, mỗi vị cao 1m8, 1m9 mà ốm nhom, xanh lè, ngày ăn chỉ một bữa. Sáng thì ôm bát đi khất thực, con cũng ôm bình bát theo sau các ngài nhưng bước của các ngài dài vì người cao lớn nên mình đi theo không kịp, đạp lên đất đá thì chân đau.
Một kỉ niệm rất sâu sắc, rất là ấn tượng là khi đi về thì con bước vô có một cụ già ở ngay trước cửa chánh điện quỳ sẵn ở đó, để một cái thau nước với cái khăn thì mỗi một vị về cụ lấy cái nước rửa chân các thầy Tỳ-kheo, lấy cái khăn lau chân. Cho nên mình thấy những cái giữ được truyền thống từ thời Đức Phật tới giờ quý báu lắm, đứng đó là nước mắt mình chảy, như vậy đó mà mình tu mà không có xứng đáng thì đọa. Hình ảnh đó con mãi con không quên tới bây giờ, di khất thực về đứng đó thì cụ già quỳ sẵn với một cái thau nước sạch và cái khăn, về tới cụ mới lấy nước tưới lên cái chân cho các thầy, cụ lấy khăn lau cái chân các thầy mới bước vô chánh điện ngồi tụng kinh rồi ăn cơm mà bóc tay. Cho tới bây giờ cái tay bóc nhưng mà đương nhiên là không có thánh trí ngũ uẩn như chúng ta, hạnh phúc không?
Con đã đi hết tám cái thiền viện Myanmar, Sri Lanka và Thái Lan, thiền viện lớn nhất các hệ thống để con đi ấn chứng lại lời của bậc đạo sư. Ngài nói mà con chưa chịu, con phải đi xác nhận về con mới chịu, đi tám cái thiền viện lớn nhấ,t cái trường thiền lớn nhất mà con tìm không thấy cái thánh trí ngũ uẩn. Cho nên mình học được như vậy mà không chịu tu nữa thì thôi, mình khổ lắm trăm đời vạn kiếp sau mình cũng không gặp chánh pháp nữa tại cái tội mình gặp chánh pháp mà mình khinh thường, mình không có cung kính, không có nắm bắt cơ hội này, mình vuột qua một cái rồi giống có con rùa mù để cho cái bọng cây nổi đi qua cho nên phải sống chết với cái pháp này.
Hiện tại giờ mình thấy rõ ngũ ẩn không ạ? Thấy rõ tham, sân, si không? Thấy rõ những thúc giục, những cái dục, tham, ái hành hạ mình không? Thấy rõ cái sân nó thiêu đốt mình không? Thấy rõ cái tâm si mê, vô minh nó hôn ám, nó bao phủ hết đời sống của mình không? Đó là công năng của thánh trí ngũ uần cho nên tại sao sáng nay chúng ta rất là xúc cảm khi nhắc về bậc đạo sư và thật ra con kèm lại rất nhiều vì có rất nhiều người mới không có biết nhiều về ngài chứ con bung ra thì cũng là lớn lắm. Cái ân đức của ngài vô cùng vô tận, không có gì so sánh nổi trên thế gian này, trên thế giới này hết, trên hành tinh này hết, sau Đức Phật 2000 năm mới có một người cho nên con dùng cái từ thiên cổ nhất nhân là ngàn năm có một mà chúng ta gặp được, hiểu được và thực hành như vậy mà chúng ta không có chịu cố gắng, nỗ lực, không có trân quý, trân trọng, trân kính thì chúng ta có tội với rất lớn.
Đừng nghĩ rằng có đời sau để mình gặp được cái pháp này, không có đâu, mất đời này rồi mình sanh ra đời sau không có trừ là mình nhập lưu. Khó lắm, thiên nan, vạn nan, tỷ nan chứ không phải là nói là cái khó mà khó trăm, khó ngàn đâu mà khó tỷ. Các vị ngồi đây là đi hết bao nhiêu cái chùa rồi, đọc bao nhiêu quyển sách rồi chứ không phải là không có đâu, có bao giờ mình nhìn thấy được ngũ uẩn một cách rõ ràng, minh bạch, tường tận như sự hướng dẫn của bậc đạo sư mà chúng ta đang được học đây vì vậy chúng ta trân quý. Trở lại cái thức ăn thì ngoài cái thức ăn mà mình bốc ra thì còn thức ăn tiếp xúc, nó không nhìn chịu không nổi, không nghe ngóng nó chịu không nổi, ngửi, nếm, xúc chạm vậy đó.
Cho nên chúng ta thấy lúc dịch là bức xúc nhiều không? Tại nó không được xúc cho nên nó bức xúc, thấy chưa? Tại vì cái xúc thực này không có, xúc không được, bức xúc, bực bội rồi bắt đầu ở nhà nhiều chuyện bạo hành ở trong gia đình, trầm cảm này kia, cái thời điểm đó rất khủng khiếp, khủng hoảng, kinh khủng mà những thời điểm đó là chúng ta tu an lạc, chúng ta tăng thượng trong thánh trí. Tuyệt dịu không? Chính cái thời điểm đó là cái thời điểm mà đạo tràng Nikāya có những vị tu học tăng thượng tại vì chứng kiến sự thật xung quanh mình, ngay trong bản thân mình, ngay trong gia đình mình thì vô cái pháp này nữa, nhất nhật thiên lý ngày đi ngàn dặm như tuấn mã bỏ lại sau lưng những con ngựa yếu hèn.
Lúc đó phong tỏa, bế quan tỏa cảng, lúc nhà ai ở chỗ nấy thì một ngày con thăng tòa liên tục, lia lịa, hai thời mỗi ngày, có khi là nhiều hơn nữa, ít nhất cũng là một thời và như vậy thì sau cái dịch đó thì các vị đã về đây khóc và cảm ơn rất nhiều "con nhờ lúc đó có cái pháp, nếu không có lúc đó con sống không nổi, con hoảng loạn hết, con muốn điên luôn, bức xúc, đau khổ". Gia đình chứng kiến hai, ba, bốn, năm người chết, trong mấy ngày thôi mà năm người ra đi, kinh hoàng, khủng hoảng, đó là mình chưa có chiến tranh. Bây giờ các nước đang chiến tranh đó là khủng khiếp lắm cho nên mình đừng có dễ vui cái thân người, đừng có nghĩ rằng có ngày mai, đừng bao giờ nghĩ có ngày mai. Bậc đạo sư dạy cho con là "không có tu nhiều đâu thầy, tu ngay cái khoảnh khắc ngay bây giờ đây thôi, thầy tu được ngay bây giờ đây thôi, nhiêu đó thôi chứ không có tu nhiều, đâu có tu nhiều, tu ngay cái thọ ngay từ giờ". Ngay chỗ đó thôi mà được chỗ đó là coi như vĩnh viễn mãi mãi, ngay bây giờ đây nè, hiện giờ nè cho nên "ngày mơi con tu, tuần sau con tu, để con về nhà sắp xếp xong công chuyện" thì con ngồi đó nghe "dạ mô Phật". Rồi đi tuốt luôn không có ngày trở lại cho nên đừng lại con nói "dạ để con sắp xếp năm sau con lên", con ngồi vậy thôi chứ con không có trả lời đâu.
Không có ngày mai, làm gì có chuyện để con về sắp xếp cho đình ổn hết rồi con lên tu với thầy, không có, tích tắc chết liền ngay tại chỗ. Chiều nay cô Phật tử sẽ lên đây để ngày mai cúng Trai Tăng cho chồng cô, hai vợ chồng ngày xưa lúc đầu tiên con về trên núi này cúng dường tám mẫu đất, lúc đầu tiên còn cái am tranh và chú này là kỷ sư ba mươi mấy gần bốn mươi năm ở bên Mỹ, thung lũng Silicon ở bắc Cali. Mới sáu mươi mấy tuổi thôi, đang khỏe mạnh bình thường vậy bất thình lình đột quỵ mà rất đặc biệt là chết ngay trùng ngày, trùng giờ của bậc đạo sư bậc. Chú này là người rất là đức hạnh, rất hiền thiện, con biết mấy chục năm, từ cái ngày biết cho đến cái ngày chú viên mãn là cái lòng cung kính chú đối với tam bảo là y như vậy, càng nhiều lớn hơn chứ không có thay đổi cho nên con nói "chắc là đi theo làm thị giả bậc đạo sư luôn" vì ngài có lên đây ngài giảng pháp, hưởng xái cái công đức của ngài.
Thành ra chết trùng ngày, đúng cái giờ đó luôn cho nên hễ hôm nào cái lễ của bậc đạo sư là cũng ké ké theo. Trời đất ơi! Đó là phước lành của chú, nhiều khi trong cái rủi có cái may, rất là hiếm chứ nếu m không có trùng ngày thì làm gì được mấy chục thầy cô đi tụng đi đưa, mấy chục vị ở trên núi mình xuống. Trở lại cái vô thường thì chúng ta nhớ và không bao giờ quên chết bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ thời điểm nào, hoàn cảnh nào cũng đều có thể chết, phải nhớ cái đó và bất cứ lúc nào 24/24 cứ mỗi khi mà mình đi làm xa, đi thì phải nhớ rằng là có thể mình không trở về. Phải nhớ kỹ vậy đó, phải nhớ cái điều đó, nhớ là cái dịch bệnh đó làm cái đề tài thiền quán.
Tư niệm là nghĩ nhớ, niệm là nhớ, tư là nghĩ. Mình nhớ mình nghĩ, mình suy nghĩ, nhớ nghĩ, nhớ nghĩ, nhớ nghĩ đó cũng là thức ăn, tư duy, suy nghĩ, mình khoan khoái, thích thú trong đó, nó cũng là thức ăn cho cái tâm vô minh, hôn mê. Cứ nghĩ nhớ hoài, ngồi cứ nhớ cái này, nhớ kia, nhớ chuyện này, nhớ chuyện kia mà không có chịu an tịnh, lắng dịu đó cũng là thức ăn. Thức thực là cái sự nhận thức, sự biết, sự hay biết, sự rõ biết đưa đến cảm giác vui thích, muốn nhìn, muốn thấy, muốn nghe, muốn ngửi, muốn nếm, muốn tiếp xúc cũng như đồ người ta ghi "không được chạm vào" thì cũng sờ vô rồi rớt bể. Đó là xúc thực cũng là thức thực luôn, muốn thấy, muốn nghe, muốn gặp cho nên mình đang ngồi thiền tự nhiên con chó sủa thì mình quay vô dòm coi sủa ai vậy, đó là xúc thực và thất thực.
Mình đang ngồi thiền tự nhiên có người ho, hoặc điện thoại vang lên thì quay qua nhìn coi ai vậy, thấy chưa? Đó là thức thực. Mình nhìn làm gì, chuyện của người ta kệ người ta, mình thiền thì lo thiền đi, đó là cái tâm hướng ngoại đó, mình lo thiền đi, lo coi cái cảm thọ của mình. Cứ dòm kiếm cái điện thoại của ai, cái bà nào, chó sủa ai, lỡ người ta rớt bể cái chung hay cái ly sau lưng cũng ráng quay lại dòm coi ai làm, thức thực đó. Chúng ta thấy chưa? Nó giải mã hết tất cả những cái sự sinh hoạt, những cử chỉ, tất cả cái sự thi vi, vận hành, động tác trong đời sống của mình là giải mã hết trơn. Mình bớt được mấy cái này mình đỡ khổ lắm, tại sao mà mấy cái này cứ đòi hỏi hoài, đòi ăn hoài, sáng mở mắt ăn, trưa ăn, tối ăn, nửa đêm cũng ăn rồi cái bụng nước lèo đi tìm cái thuốc giảm cân.
Ăn cho nhiều mà làm sao uống cái thuốc này vô cho nó đừng có mập, chế được cái thuốc này là bán đắc lắm bán, mắt nhiêu cũng mua hết trơn. Muốn ăn cho ngon mà đừng có cho nó mập, tham đủ thứ tham, thấy rõ không? Nó giải mã hết, bây giờ do ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, nó khoái, nó thích cho nên nó chạy theo bốn cái này hoài, còn có ái là còn đi tìm bốn cái này. Cho nên tu không lo tu, tối ngày cứ xuống dưới bếp hoài, có chuyện thì cũng được đi, không có chuyện cũng chạy xuống kiếm làm món này, làm món kia, làm món nọ, đừng có bưng cho con nhiều, bưng nhiều bị rầy chứ đừng tưởng bưng cho đồ con nhiều là con khen đâu, không có.
Cái người mà lo cho đại chúng ăn, lo cho quý thầy cô không phải chỉ biết lo cho cái món ngon vì món ngon là ái, dục, tham sức. Phải biết về sức khỏe, dưỡng sinh, thực dưỡng, phải biết cái đó nữa chứ bây giờ trời đang lạnh mà đem rau má nước dừa ướp lạnh ở trong tủ lạnh, bảy giờ tối bưng lên cho con uống. Con nhìn con trời đất ơi! Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, cái này không biết là đang thương con hay là đang xử con đây mà làm hoài. Nhiều khi chú thị giả vô nói mà cũng không chịu nữa, "làm cái này, bưng cái này cho sư phụ" cho nên khổ lắm, không có hiểu mà thương là khổ lắm. Không phải mình con đâu tất cả đại chúng cũng vậy, mình làm thức ăn là rất quan trọng rồi chưng hoa cũng vậy, ý con muốn làm là thiền vị chứ không có phải chưng vào giống như cải lương mà con nhắc không biết bao nhiêu lần, cho nên nhiều khi là nhắc hoài rồi cũng khó chịu, không có muốn nhắc nữa, không có muốn nhìn luôn.
Cứ làm theo cái câm cái tâm ái, cái tâm thích của mình mà nói ra giận, khổ vậy đó, trở lại vấn đề cái ăn bây giờ bệnh ung thư rất là nhiều. Nước mình con không chính xác lắm hình như là mười lăm ngàn người chết mỗi một năm vì ung thư, rất là nhiều đó là nói mất mạng còn chưa nói bệnh mới, mà phần lớn là do cái ăn, đoàn thực này ghê lắm. Cho nên mình nấu đồ ăn đương nhiên cũng cần một chút vừa miệng, cái gì cũng phải là phù hợp, hài hòa nhưng mà phải chú trọng vào sức khỏe chứ không phải chỉ chú trọng vào cái hương cái vị của nó. Con nhắc hoài từ cái ngày lên núi tới giờ khai sơn mười tám năm nay 5:00 sáng lên đãi nước trà đá mà trời mùa đông run cầm cập, còn 12:00 trưa lên đãi nước trà mà nước sôi nóng hổi đ đem ra đãi mà con ngồi cứ nhắc hoài, độc đáo thiệt, rất là độc đáo.
Nhiều khi ngồi đó giống như á khẩu, thằng câm ăn ớt, câm mà nó nhai vô trúng trái ớt cay quá nhưng không biết nói sao, rồi thôi về thất đóng cửa lại, mình giờ cũng phế nhân, rồi hàng phế phẩm, phế liệu rồi. Cho nên mình phải để tâm và phải để ý, phải chánh niệm tỉnh giác, phải quán sát, quán chiếu lại lợi hay hại, thế nào là đúng thời cho nên mình phải để tâm vào những cái đó. Nói tiếng việt cho dễ hiểu thì ái chính là khoái, vì thích cho nên đi tìm bốn loại thức ăn đó hoài, người này tu không có thoát được, không bao giờ giải thoát được. Ngày ăn chỉ một bữa, mình bây giờ xấu hổ vì mình làm công việc nhiều này nọ kia rồi ăn thêm một hai cử nữa là đã thấy nhục nhã rồi, cho nên không có để tiếp xúc bớt nhiều, bớt nhớ nghĩ, bớt tìm hiểu.
Bây giờ tất cả sách vở kiến thức của thế gian này mình đọc cho tới chết đi sống lại trăm đời ngàn kiếp đọc cũng hết mà nói toàn tham, sân, si với bản ngã, dục ái vô minh không à cho nên không đi cần thức thực. Mình chỉ cần tìm ra cái thấy biết của bậc thánh thôi, chỉ có cái thấy biết mới đưa mình đi ra khỏi khổ còn tất cả cái thức của thế gian đều không có sử dụng được. Chính vì vậy mà làng tu Nikāya cái tâm nguyện con để xây dựng đó là những cái chú trẻ nhỏ vào ở trong đó được, các cái vị xuất gia từng làm cô giáo, thầy giáo ở ngoài hướng dẫn từ nhỏ, không có học cái kiến thức ở ngoài đời, dạy cho biết chữ, biết nghĩa, biết đạo đức, biết lễ giáo rồi học toàn bộ Nikāya thôi. Đó là thế hệ truyền thừa, thừa kế trong dòng pháp Nikāya. Hoan hỉ không? Không cần học kiến thức gì ngoài đời hết, tám tỷ người học rồi mà bây giờ được chừng tám người học cái này thôi thì tám người này có phải kim cương không? Có phải hột xoàn không?
Cần gì phải giống người ta? Cứ thấy người ta sao là cứ muốn giống vậy, không thôi mình thua người ta, mình phải giống người ta, mình phải bằng người ta, mình phải hơn người ta để làm cái gì? Giống người ta rồi thì cũng bộ xương, cũng nấm mồ, cũng hủ cốt, đừng giống người ta để mình đạt được cái gọi là siêu phàm, cái tuệ giác, cái thánh tuệ. Cho nên sau này cái duyên làng tu thành lập được thì vô trong đó coi như xong rồi, giống như mấy cái bản, mấy cái làng ở trên đó rồi mấy người dân tộc đồng bào ở trên đó không có tiếp xúc với ngoài thế gian. Thậm chí bây giờ có số người ta đem con vô rừng, vô núi rồi người ta sống ẩn, người ta dạy trong đó, người ta không cho đi học mà bây giờ có cũng có khá nhiều người, sau này cái này sẽ nhiều. Đức Phật nói trước hết trơn rồi, nói trước ác pháp nó sanh khởi rất cường thịnh, nó xâm chiếm, áp đảo hết toàn bộ thế giới này cho nên những người hiền thiện, nhân đức sẽ ẩn dật, ẩn cư.
Dạ con kính chào các bậc ẩn sĩ, đây là ẩn sĩ đây, ngồi đây là nhiều thành phần trong xã hội lắm, tối thiểu cũng được ẩn sĩ hai tuần lễ, ngon không? Sướng không? Tương lai sẽ có những ẩn sĩ dài hơn lâu hơn à con cứ chờ đợi các ẩn sĩ đó về, không cần giống người ta, thật sự khi con đi vào tu là ít người có ưa con lắm tại vì tối ngày con ở trong chùa mà mấy người kia hỏi "ông có hay chuyện gì không?" – "dạ không có hay", "người ta nói ông như này" – "Dạ con bận lắm, không có thời giờ học kinh, Ai nói gì nói kệ người ta, con bận lắm", ai chê, ai chửi, ai khen gì cũng "thế à, con bận đọc kinh". Nhờ vậy mà mình đi tu rồi mình chọn cái pháp môn rồi mình đi con đường không giống ai, tại không cần giống ai hết, giống Phật thôi.
Cho nên cái nhìn thấy đúng ở trong cái thánh pháp con xin thưa là cô độc và một sức mạnh tinh thần lắm, dám mạnh mẽ vượt qua, phải có một cái tâm sắc đá, cái đầu thép không sợ gì hết, chết cũng không sợ, chỉ sợ luân hồi sanh tử khổ đau thôi, tất cả cái khác không sợ, không đáng sợ, chỉ sợ còn tham, sân, si thôi, chỉ sợ còn dục ái thôi, chỉ sợ còn bản ngã, còn vô minh thôi chứ có gì đâu mà. Trình pháp mà sợ cái gì? Nhắc lại nữa, pháp mà sợ thì làm sao thành tựu pháp, không sợ.
Cái cảm Thọ này đó là đặc biệt lắm tại vì cái tưởng, cái hình bóng trong tâm mình đi qua rồi mình quên mất tiêu, phải không? Những cái hình bóng, cái món đồ này, cái cảnh vật kia, con người nọ đi qua, những cái suy nghĩ có khi hồi nãy mình nghĩ cái gì mà bây giờ mình nhớ không được, nhất là bị mấy mũi nữa, trước khi mà chích đã như vậy rồi mà bây giờ chích còn nặng thêm nữa thì nó nghĩ gì mà lát sau nhớ hoài không được. Cái nhận thức cũng vậy, nó đổi thay lắm, có những món đồ mình thấy rồi mình cũng quên, có những con người mình gặp rồi cũng đi qua, có những hình bóng cũng phai nhòa nhưng có những cảm giác suốt đời mình không bao giờ quên. Câu đó là câu tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ.
Trong cuộc đời mình có những điều, có những sự việc, có những cảm xúc, cảm giác, cảm thọ mà suốt đời này không bao giờ mình quên, nhất là những cảm thọ tu học mà khóc ở tại Linh Quy Pháp Ấn gọi là đệ nhất khóc. Có người hỏi lên Linh Quy Pháp Ấn tu thì có khóc chưa – dạ rồi, đặc sản rừng thiền nhưng mà người ta không biết không phải dễ khóc đâu, chỉ có thánh trí tuệ mới đánh vô các chấp thủ làm cho rung chuyển, làm cho kinh chấn, chấn động, địa chấn ở trong tâm mới có những cái dòng cảm thọ như vậy. Hồi đó giờ mình nghe pháp đó ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm cũng lờ đờ, trơ trơ không có ép phê, nó không có đủ sức để đánh phá cái vô minh, chấp ngã này, đánh vô một cái là sụp xuống khóc rung động. Hồi sáng con nói triển khai từ lực, rúng động đất trời lúc ngài ra đi, sức mạnh của cái thọ của các bậc thành tựu là khủng khiếp lắm.
Hồi đó khi bậc đạo sư ở trên đây những khóa tu là quý vị không có tưởng tượng nổi đâu. Bình thường ở dưới ngài nằm bệnh, ngài mệt mà ngài lên pháp tòa là mặt mày hồng hào, trang nghiêm mà ngài nói những câu nói ở dưới nổi da gà chấn động khóc, nếu người bình thường không biết sẽ tưởng có chuyện gì đó vì cái lực khủng khiếp. Con bây giờ chừng phân nửa của ngài thôi mà quý vị khóc vậy rồi, khủng khiếp lắm là tại vì cái thọ của các vị tu như sáng các vị có trình pháp là nó mềm. Lúc đầu nó rất là ương ngạnh, nó cứng cỏi lắm, nó kiêu căng lắm, ta đây dữ lắm nhưng mà tắm vô cái này rồi nó dập vô, từ từ nó ngấm, nó thấm vô thì nó sẽ mềm nhũng ra, bắt đầu nó rã rồi rệu, nó tiêu dung, nó hoại diệt, nó hòa tan, nó tan chảy.
Cho nên khi cái thọ mềm ra như vậy thì quý vị thấy dễ chạm tới lắm, vừa nói tới từ vô lượng tâm "trong ta là tình thương, tình thương có trong ta, từ tâm có trong ta" là bắt đầu nước mắt chảy ra. Đó là hiệu quả, là tăng thượng, là cái cảm thọ từ một người trơ trơ, đơ đơ, lúc mới vô mình trơ trơ, mình kêu tâm từ thì nói "tôi không có tâm từ sao tu tâm từ", tới ngày hôm nay mình tu là vừa chạm nhẹ thôi là tuôn chảy thì đó là hiệu quả làm cho cái thọ mình mềm ra. Cái thọ này đặc biệt ở trong tưởng; hành; thức là cái thọ này là cái cầu nối giữa thân và tâm, cái này nó độc thủ là vậy đó. Mình tưởng trong đầu mình cái gì đâu có ai biết, chỉ có chư thiên mới biết, các vị có thần thông mới biết, mình suy nghĩ cái gì đâu có ai biết, chỉ có bậc tha tâm thông mới biết, chư thiên, chư thần mới biết, phải không? Nhưng mà mình cảm thọ người ta biết, thấy chưa?
Mình vui người ta nhìn mặt mình biết không? Giờ con đang là thọ gì? Thấy chưa? Cái thọ này nó đặc biệt là gắn liền thân và tâm, độc đáo ở trong bốn uẩn của tâm thì thọ uẩn này nó độc thủ lắm, nó là gạch nối của thân và tâm cho nên khi nó có sanh khởi cái gì là nó biểu hiện ra cái sắc, cái tưởng nó vận hành, cái hành nó suy nghĩ và cái thức cũng đi theo trong đó. Nó sẽ chạy lòng vòng theo cái cảm thọ này, cái thọ này nó chủ lực nên khi nó khởi lên thì các uẩn còn lại chạy lòng vòng theo. Cái thọ này là sếp sòng, là tổng chỉ huy, là thống soái, đại tướng quân, là dẫn đường cho tâm cho nên cái thọ này một cái độc thủ, độc đáo mà tối thượng của Đức Phật thì mỗi cái gì mà ngài nói ra ngài đều nói căn nguyên, nguồn cội, nguồn cơn tại sao mày sanh ra vậy thọ, mày vận hành như thế nào rồi làm sao tao cho mày chết, mày chết như thế nào thọ. Ngài trình bày đầy đủ hết đó là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, tại sao có cảm xúc, khi cảm xúc vận hành có mấy loại, nó vận hành như thế nào, làm sao để cho tất cả cảm xúc này an tịnh, lắng dịu, làm sao để thoát ra tất cả cảm xúc này, có một đạo lộ, có một con đường, có một phương pháp, có một cách thức, có một cái sự tuần tự.
Chúng ta thấy khủng khiếp không, là Chánh Đẳng Chánh Giác phương diện thứ hai của thọ uẩn, cho nên khi con nghe bậc đạo sư trình bày cái này là con sụp xuống lạy ở trong thất, nước mắt đầm đìa hết, sốc toàn tập. Mình học hai mươi tám năm trời, mình ra đứng lớp dạy cả ngàn ngàn Tăng Ni mà bây giờ đánh vô một cái coi như tất cả mấy cái mình học không xài được nữa, giờ mình học lại A B C đầu, làm sao không rúng động, làm sao không chấn động. "Tất cả cái mình học để qua bên, thầy học lại từ đâu" – "dạ mô Phật, con nghe lời".
Thầy dạy cho con quý vị không chịu nổi đâu, không có ai chịu nổi hết, bây giờ mấy chú mới về mà ngay cả những người ở gần bên con vậy đó, thật sự nhiều khi con chia sẻ chừng có hai ba phần thôi, ngài đánh con cũng phải chừng tám chín phần. Ngài dạy cho con từ cái ăn, cái đi, cái nói chuyện từng chút như mẹ dạy con, như một người chị, như một người mẹ, như một người thầy, như một bậc đại đạo sư suốt ba năm trời và ba năm đó thì con suy nghĩ là nó vượt qua ba ngàn năm. Nếu một người tu học bình thường ba ngàn năm cũng chưa được, ba chục ngàn năm cũng chưa được vì đâu có gặp chánh kiến chỉ dẫn mình đâu mà được, ba tỷ năm cũng không được nữa cho nên cái quý báo là mình gặp được bậc thấy đúng, chánh kiến, nghe diệu pháp, như lý tác ý và mình thưa hỏi các nghi vấn để ngài chỉ dẫn, đánh phá những cái chấp thủ, ngu mê, vô minh ở trong tâm của mình.
Cái đó là những cái nhân duyên để sanh ra chánh kiến, bây giờ cũng thấy đa số nhiều khi gặp các bậc hiền trí chỉ lỗi mình là mình sân si, khó chịu thành ra không học được và con nghĩ không biết rằng sau con còn có người nào tiếp nổi cái như lai thần chưởng này không. Khó lắm, vì muốn học cái này là phải dập cái bản ngã, phải tu diệt ngã dữ lắm, phải tu cái hạnh tâm hiền mà cái tâm hiền là phải được huân tập, huấn luyện từ kiếp trước chứ không phải mới đời này đủ đâu, mà nếu người mới đời này thì phải dốc lực dữ lắm. Cho nên thật sự trân quý khi mình học được chánh pháp, phải tác ý hoài, cứ rảnh là tác ý và mình siêng năng nghe pháp, sau khi xuống núi tối thiểu một ngày phải có một thời pháp và tối thiểu một thời thiền quán, một thời thiền chỉ mới nuôi được nuôi được cái thấy đúng này, cái con đường của mình. Tất cả mấy cái khác không tính, không quan trọng, không có gì quan trọng, chỉ có pháp mới quan trọng.
Những người trẻ học pháp có lợi thế rất nhiều, cố gắng lên, mình tận dụng cái tuổi của mình, cái sức khỏe của mình, cái sự bén nhạy của mình. Hôm qua mình nói lúc thiền quán vấn đề dục thì chúng ta nhớ trong bài niệm ước muốn sắc bén chữ Đức Phật dùng ước muốn chưa đủ, ước muốn tăng thượng giới đức chưa đủ mà ước muốn sắc bén. Chúng ta thấy cái từ ngôn ngữ học của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác sử dụng không, ước muốn chưa đủ, ước muốn cho cái giới đức của mình, cái đạo đức của mình, cái đạo hạnh của mình, cái đức hạnh của mình lên cao lên mà còn chưa đủ, phải là ước muốn sắc bén.
Cái tuổi trẻ của mình, cái sức khỏe của mình, cái sự bén nhạy của mình, cái trí não của mình trong thời gian thanh xuân này mà mình bỏ hoang phí là uổng lắm. Những trẻ nhỏ vì mà đi tu là tuyệt vời lắm, hoan nghênh lắm, phải ráng học kinh giống bên Myanmar. Con đi lại thăm chỗ của ngài tam tạng pháp sư, con đi qua con lạy và cúng dường mấy vị tam tạng pháp sư, trong mùa dịch ở đây mình cũng gửi qua cúng dường, con đi lây thì bước vô chùa hiện ra một hình ảnh hết sức ấn tượng không bao giờ quên là đó mấy chú tiểu nhỏ nhỏ, mấy sư sư nhỏ nhỏ đi vô đi ra, đi vô đi ra mà niệm vang trời hết, đó là học cái kinh Nikāya thuộc lòng. Năm bảy người mà người vừa cầm kinh vừa đi vô đi ra niệm vang dội hết cái chùa, con nhìn thấy là con sụp xuống lạy từ ngoài cổng, con về đây trông hoài mà sao không thấy ai học hết, treo giải thưởng cho đi Ấn Độ luôn mà không thấy ai trả bài cho nên tuổi trẻ nhỏ như vầy mà đi tu là phải cố gắng học căn bản trí 1-2, học thêm bài sám hối diệt ngã. Thành ra cố gắng học cái quyển nghi thức tu học đó, nếu mình học thuộc được nguyên cái quyển đó là ở trong con người mình có thánh vật, có pháp khí, có bảo bối, có một cái linh thiên ở trong cái ngũ uẩn này. Thuộc được cái đó là linh thiêng lắm, quý báu lắm, còn hơn mình đeo một chục hột xoàn không có so sánh được, đeo chục hột xoàn coi chừng bị chặt tay còn có cái thánh trí huệ mình chặt được tham, sân, si, phiền não.
Cái chỗ nào cũng có để cho mình tác ý hết vậy mà không chịu tác ý, cái nào cũng có cho mình quán chiếu cho nên tận dụng tuổi còn trẻ, mấy quý vị sồn sồn cũng vậy cố gắng lên chứ không phải "thầy nói mấy người trẻ thôi còn mình sồn sồn", phải cố gắng học lên, còn mấy bà già cũng cố gắng luôn để kiếm mớ ra đi làm tư lương, hành trang. Biết đi đâu không? Cái lúc nằm ở trên giường bệnh khỏi còn ai trợ niệm hết, mình nằm đó đọc căn bản trí, mình nằm đó niệm thân vô chủ, nằm nó niệm rồi đi. Bậc đạo sư đọc lời cuối của Đức Phật, hết hồn không? Làm sao lúc mình gần chết cũng vậy đó chứ đừng có rên, mình đã được học cái này chết mà rên là uổng lắm, đừng có rên, thời đã đến rồi không có rên, nó hư nó hoại, nó tan nó rã rồi có gì nữa đâu mà rên, đọc niệm thân vô chủ, đọc ngũ uẩn duyên sanh. Tất cả những cái trí tuệ đọc lên, đọc lên sự kiện cần phải quán sát.
Trở lại vấn đề đó Thế Tôn nói cho mình biết tại sao mình có cảm giác, cảm giác có mấy loại, nó vận hành như thế nào, cái làm cho đam mê, đau khổ trong này là cái gì, cái tai hại của nó ra làm sao và cuối cùng làm sao để mình thoát ra được cái cảm giác này. Ngài trình bày đầy đủ tất cả tối thượng thánh trí, đó là Chánh Đẳng Giác về thọ thủ uẩn, chúng sanh mình thì cái nhà của tôi, cái xe của tôi rồi cái chùa cũng của tôi luôn. Khổ ơi là khổ, cái thân của tôi, con mắt của tôi, mũi của tôi, miệng tôi, lưỡi tôi, cái giống gì cũng của tôi hết, ai đụng vô của tôi là sầu, bi, khổ, ưu, não, tham, sân, si đủ thứ.
Cái giống gì cũng gắn cái chữ tôi vô hết rồi tới cái cảm giác vui cũng tôi vui, buồn cũng tôi buồn, tôi đâu có vui buồn gì đâu. Cảm giác sanh khởi lên nhập cuộc với nó, cảm giác an trú cũng nhập cuộc với nó, cảm giác vận hành cũng nhập cuộc với nó mà cảm giác có lắng dịu chút cũng nhập cuộc nó luôn, hoàn toàn không biết cái đó là thọ. Đó là sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử, bậc Đa văn Thánh đệ tử thì nhìn thấy được thọ sanh khởi, thọ an trú và thọ chấm dứt, thấy được thấy được tưởng sanh khởi, tưởng an trú, tưởng chấm dứt, thấy được hành sanh khởi, hành an trú, hành chấm dứt.
Phải thấy được, Đức Phật trình bày cho mình cái này thì rất ớn, khi mình học cái này, mình thực tập rồi mình quán chiếu rồi mình sẽ phát hiện, mình giải mã ra nhiều điều, tất cả những sự việc, sự vật, bao nhiêu những chuyện ở trên đời này mình giải mã được hết. Mình thực tập quán chiếu cảm thọ giải mã được hết, tại sao người đó như vậy, tại sao cái tánh tình họ như vậy, tại sao cách họ cư xử như vậy, tại sao họ gặp chuyện như vậy, giải mã được cái nhân quả, nhân duyên hết.
Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.
Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.
Bát chánh đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.
Vừa rồi là chúng ta lạy bốn thánh trí về ngũ uẩn, bậc đạo sư rút cái tinh túy ở trong đại tạng kinh ra đó, nếu chúng ta đọc suốt đời cũng không thấy được bốn cái thánh trí đó đâu. Cho nên tới tưởng cũng vậy, Đức Phật cũng trình bày cho mình thấy tại sao có hình bóng trong tâm, cái hình bóng sanh khởi ra sao, nó vận hành như thế nào, có mấy loại hình bóng. Đức Phật phân loại ra chúng ta thấy khủng khiếp không? Cái tâm mình là một cái không có thể nhìn thấy được, nó không hình, không tướng mà Đức Phật nhìn ra từng cái thành phần, rồi nó cấu tạo như thế nào, có bao nhiêu loại, nó vận hành ra làm sao. Chúng ta thấy là một cái sự giác ngộ không thể tưởng tượng nổi, đó mới gọi là thiên nhân chi đạo sư, bậc Thế Gian Giải, bậc chánh biến tri.
Cái sự thấy biết là cùng khắp tất cả thân tâm, thế giới, trong ngoài các pháp, không còn một cái gì không thấy, không còn một cái gì không biết, gọi là Chánh Biến Tri, vô thượng giác. Nhiều khi chúng ta học mà chúng ta không có thấy, không để ý là không biết đâu, đầu tiên là Đức Phật nhìn thấy thân tâm này gồm năm cái yếu tố, trong mỗi một cái yếu tố này, trong cái sắc này gồm đất, nước, gió, lửa sanh ra làm sao, nó an trú như thế nào để nó tồn tại, làm sao để nó hoại diệt là bằng cách nào, tại vì sao chúng sanh cứ nắm chặt vô trong này. Tại vì không hiểu biết nó rồi yêu thích, khoái nó tức là vô minh và khát ái.
Nói tiếng Việt mình là dễ hiểu vì không nhận thức được nó, không biết nó là sắc mà cũng không biết cái thành phần cấu tạo của nó là đất, nước, gió, lửa càng không biết cái sự vận hành của nó là trong cái vô thường, trong cái khổ, trong cái tật bệnh, càng không biết cái tính chất trống rỗng, trống không của nó. Vì không biết cho nên ảo tưởng đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, chính vì không biết, vì ảo tưởng cho nên khoan khoái, thích thú, say đắm, nắm chặt, chấp thủ trong này rồi đau khổ trong này. Chúng ta thấy giải mã hết đầu đuôi, ngọn nguồn, căn nguyên, gốc rễ, tất cả giải mã hết, Chánh Biến Tri, Thế Gian Giải đó, vô thượng giác đó, Chánh Đẳng Chánh Giác là vậy đó.
Chúng ta học để thấy chứ nhiều khi mình lạy Phật mà không biết gì hết, thấy người ta lạy thì cũng lạy thôi chứ không biết, nghĩ rằng Phật như một vị thần ban phước cho mình. Không phải, Đức Phật chỉ cho mình thôi, ngay ở trong con người mình mà mình không thấy không biết gì hết trơn thì như vậy là vô minh, từ cái không thấy, không biết cho nên nhận lầm, hiểu lầm, tưởng lầm, nghĩ lầm, nói lầm, làm lầm, sống lầm, tập trung tâm ý lầm lạc hết trơn, suy xét nghĩ gì cũng lầm lạc hết trơn. Một dọc như vậy, thấy sai, nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, siêng sai, định sai, quán xét sai thì đi vào bát tà đạo, Đức Phật lật ngược cái đó trở về bát chánh đạo, con phải nghĩ vì mới đúng, con phải thấy mới đúng, con phải thấy về sắc bằng bát chánh đạo thì con mới thoát ra được cái nhìn sai lầm này rồi con phải nghĩ cho đúng nó mới thoát ra cái nghĩ sai, con phải nói cho đúng thì mới thoát ra nói sai.
Con nói sai con nói là tôi, nói là của tôi, con nói là hơn thua, không có tôi. Thân trống rỗng không ai trong đó, như một bao rác đầy hôi thúi lại vỗ vào bao nói ta tôi. Đó là những lời chánh kiến, chánh ngữ của bậc đạo sư khai phá cái tâm mê cho mình, đánh phá cái tâm mê của mình, đột phá cái tâm mê của mình, đập bể cái tâm mê của mình, đánh nát cái tâm mê của mình. Đó là thiền quán, nương vô cái thánh trí của Đức Phật và các bật thánh để mình đập vỡ cái tâm mê, cái tình thức, cái nhìn lầm lạc sai quấy, đó là phương pháp thoát ra khỏi sắc. Chúng ta thấy tuyệt diệu không? Từng cái Đức Phật chỉ cho con, tại sao con có cảm giác, cảm giác có mấy loại mà khi nó vận hành những cái loại đó thì trong đó nó có cái gì, cái gì ở trong cảm giác đó rồi những cái cảm giác đó đưa con đau khổ như thế nào, bây giờ con muốn không có đau khổ thì con phải làm cho lắng dịu những cái cảm giác, những cảm giác bất thiện đó ác đó con phải làm lắng dịu xuống, con phát huy cảm giác thiện. Nếu mà con muốn còn ở trong vòng luân hồi sanh tử, con muốn hưởng phước nhân thiên thì ta chỉ cho con cái cách đó, nhân đạo, thiên đạo và nếu con muốn đi thánh đạo thì ta chỉ cho con cách thoát ra tất cả mọi cảm giác, xuất ly cảm thọ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Ta chỉ cho con cái cách đi ra khỏi cảm thọ luôn, chúng ta thấy dễ sợ không? Bậc Chánh Biến Tri, Thiên Nhân Sư, Thế Gian Giải là vậy đó, thế gian tức là ngũ uẩn, là thế giới đó, giải là thông giải pháp thế gian, thông giải tâm nhân thế, thông giải tham sân si, không giải tâm cấu uế, thông giải nẻo luân hồi, không giải cái đường tái sanh, thông giải cái lối đạo lội giải thoát, đó là Thế Gian Giải đó. Tối thượng chưa? Mình phải thấy mình vinh hạnh, mình vinh dự, mình hạnh phúc, mình hãnh diện vì mình làm đệ tử của Phật, không có một vị thầy nào vĩ đại, tối thượng ở trong mười ngàn thế giới này như Đức Thế Tôn hết cho nên mình đọc cái bài đảnh lễ trí đức Như Lai là mình lạy xuống, mình hạnh phúc, sung sướng, mình rung động, rung chấn, giống như trong tâm mình là địa chấn vậy đó, hạnh phúc, hân hoan, chấn động, phấn khích, phấn khởi trào dâng cảm xúc.
Mình có một cái bậc thầy tối tôn, tối thượng, vô thượng, độc nhất vô nhị, tối thắng, thù thắng, không có một ai, người thứ hai có thể chỉ ra được vậy, mới một cái thân thọ thôi mà chúng ta thấy vậy rồi. Giải mã hết tất cả tại sao mình buồn, tại sao mình vui, tại sao mình ngơ ngơ, tại sao mình khổ sầu, tại sao mình trầm cảm, giải mã hết trơn. Tu cái này là không có trầm cảm, giải quyết hết tất cả mọi sự trầm cảm, đưa cho mình tới cái cảm thọ của chư thiên, tứ vô lượng tâm, những cái cảm thọ của thánh hiền. Tưởng cũng vậy, tại sao có hình bóng Đức Phật giải thích hết, do mình tiếp xúc, bao nhiêu loại hình bóng, các hình bóng vận hành ở trong đó, khi nó vận hành lên trong đó nó có cái gì, tham, sân, si, dục ái như thế nào, vô minh, bản ngã thế nào.
Bây giờ con phải thấy được cái vị ngọt của nó, con mê cái vị ngọt của cái ám Ảnh này là con khổ nha con, ngọt mật chết rồi nha con, nó giết con chết nha con, chết bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, chết oan chết ức, chết tức chết tưởi, chết bờ chết bụi, chết nhục chết nhã, chết cay chết đắng, chết bất đắc kỳ tử, chết không biết tại sao mình chết nghe không con. Thấy chưa? Giải Nikāya mà giải vậy thì không biết còn cái gì nữa giấu, khi bậc đạo sư ra đi ngài nói "mọi người còn chờ đợi gì ở ta nữa, pháp cần nói ta nói hết rồi" giống như Thế Tôn lúc chuẩn bị nhập Niết-bàn ngài nói:
"-- Này Ananda, chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo, hay: Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng: 'Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo', hay 'Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta', thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo?" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)
"Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng Phẩm III)
Ta không có cất giấu lại bất cứ cái gì hết, tất cả trí tuệ mà ta đã chứng ngộ ta truyền trao lại, cũng vậy, bậc đạo sư trước khi ra đi các vị còn mong đợi gì ở con nữa, những gì cần nói, cần giảng, cần thiết con đã chia sẻ tất cả, theo đó mà tu tập hành trì rồi các vị sẽ gặp con ở trong thánh trí, ở trong thánh pháp, thánh đạo, thánh quả. Mình phải thấm thía, mình phải hiểu được cái tâm của Đức Phật, cái tuệ của Đức Phật, lòng đại từ, đại bi của Đức Phật, tình thương bao la của ngài. Mình phải thấy được, cảm nhận được sâu sắc, mình phải cảm thọ được, mình phải chạm được tới trái tim của Đức Phật và mình nghe được cái nhịp thở của ngài, mình chạm được tới trái tim của bậc đạo sư và mình thấy từng dòng máu nóng, huyết lệ trong đó đang luân lưu, đang vận hành với một cái trái tim nhiệt huyết truyền lại thánh trí, thánh pháp, thánh đạo cho mình.
Đó là lý do tại sao mỗi khi con nhắc về ngài là con sẽ khóc, vì không có một người thầy thứ hai trên cuộc đời này con thật sự là phước đức, thật sự là phúc lạc cho con, lợi đắc cho con, lợi ích cho con, vô tận, vô lượng, vô biên, vô cùng trong vòng sanh tử luân hồi vô thỉ này có thể gặp được một bậc chân nhân, bậc chánh kiến như vậy, đem hết cả trái tim cả tấm lòng nhiệt huyết truyền trao cho mình, vắt hết xương tủy. Cho nên làm sao mỗi khi nhắc về ngài mà con không xúc động được, nhắc về cha mẹ con không có xúc động bằng như vậy, nhắc tất cả mọi người trên cuộc đời này con không thể xúc động như vậy, khi nhắc với bậc đạo sư là quặn lòng, đau nhói là như vậy cũng như nhắc về Đức Phật và mình thấy cả một cái trái tim bao la, trùm khắp hoàn vũ này. Địa cầu này đối với ngài cũng như một trái banh thôi, có là gì trong mắt trí của các ngài, mắt tuệ của các ngài, mắt pháp của các ngài.
Bất cứ nơi nào, ở đâu, đều có thể triển khai thiền quán, có cơ hội là cứ triển khai thiền quán niệm ân đức của Thế Tôn, niệm ân đức của bậc đạo sư, lấy đó làm động lực để cho mình tiến tu. Bất cứ nơi nào, chỗ nào, đừng đợi con tổ chức thiền biết ơn lúc đó mới nhớ, bất cứ lúc nào ngồi đó niệm ơn đức ghi rồi chép ra, rồi viết ra, nói rồi ghi âm lại, đọc lại rồi nghe, lạy rồi tưởng, rồi nhớ, quán và nhắc, khắc ghi cho thật sâu sắc. Khi lòng biết ơn của mình tận cùng rồi thì nó trở thành một cái sức mạnh đẩy mình đi tới dòng pháp đưa người về phía trước, mình sẽ mau chóng thể nhập vào dòng trí tuệ để cùng đi với ngài cùng, trở về trúc lâm, trở Về Linh Thứu, trở về nơi các bậc hiền thánh.
Đây đâu phải là nhà của mình đâu, thế gian này đâu phải là nhà của mình đâu, vài bữa rồi mình chết ở đâu mình cũng không biết, chết như thế nào mình cũng không hay, tại sao chết mình cũng không biết, lúc đó rồi còn cái gì nữa. Ba, bốn, bảy tuần thất rồi qua giỗ một năm, hai năm, ba năm rồi cuối cùng không còn ai biết mình là ai nữa hết, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm trừ những người có công đức lớn người ta còn nhắc tên lại, chứ còn bình thường rồi xong, không ai biết mình là ai nữa. Lạnh lẽo, cô đơn, lẻ loi một mình rồi ở trong cái u u minh minh, trong cái con đường nghiệp quả đó mình đi đâu mình cũng không biết, cũng thấy, trong sáu nẻo luân hồi này mình đi ngã nào mình cũng không rành, không thấy vậy mà không biết lo, không biết sợ, không biết ngày đêm suy tư, nghiền ngẫm, nỗ lực để mình tìm con đường thoát ra. Đó là một cái sự thiếu xót rất là lớn, một sự lãng quên rất là nghiêm trọng, một sự thiệt thời rất là cay đắng cho cái kiếp người này.
Cứ mãi chạy đuổi theo những cái phù du, những cái ảo ảnh, những cái phù vân, những đám sương, đám mây buổi sáng đó. Mình le lói cuộc đời này một chút xíu thôi rồi mình sẽ tắt, không còn ai biết mình là ai nữa, một nắm xương tàn đó, có khi người ta còn không muốn để trong nhà, muốn rải đi lẹ lẹ, đi đổ cho xong, đi thiêu lẹ lẹ đi để ra ngoài mệt quá, hôi thúi, rỉ chảy ra dơ quá không ai chịu nổi hết, đi đốt lẹ đi, đi cuốn lẹ đi, đi thiêu lẹ đi, đi chôn lẹ đi, vứt lẹ lẹ nhanh nhanh mau mau đi. Vô nghĩa, vô nghĩa là cuộc đời này, vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã, một cuộc đời vô thích sự nếu mình không có lối thoát, nếu mình không có đường đi, nếu mình không có đạo lộ, nếu mình không thành tựu chánh kiến, nếu mình không thấy được sự thật của cái bản thân này, của cái đời sống này, của ý nghĩa thật sự của kiếp sống này là cái gì.
Sanh ra mình lăn lóc, mình đi tìm dục, tìm ái, sân si, bản ngã rồi thời gian sau mình sụp xuống, mình ngã xuống, mình đổ xuống, mình nằm xuống thân tàn ma dại, bệnh hoạn, ỉa chay đái dầm, đau đớn, khổ sở, mình báo đời ăn hại những người chung quanh, những đứa con, đứa cháu nó gớm ghiếc. Đó là được sống ở trường thọ đó chưa kể là chết oan chết yểu, chưa kể là tai nạn giao thông rồi mình làm cô hồn vất vơ vất vưởng không tin mình chết, chết rồi nhưng mà nói tôi không có chết tại vì cái tâm chấp thủ quá mạnh đi, cái xác chết rồi nhưng thọ; tưởng; hành thức không chết. Thậm chí nó vất vơ vất vưởng rồi lòng vòng chỗ cái xác đó, không thôi là cái chỗ nó chết đó thì người ta lập cái miếu thờ ngay chỗ đó.
Chúng ta thấy có những con đường ở chỗ đó tai nạn hoài luôn nên người ta lập cái miếu ngay chỗ đó. Tại vì cái vong linh đó, cái cô hồn đó, cái chư vị ở đó người ta không có siêu được, nhiều lắm, mình không thấy hết đâu, vừa rồi chúng ta biết là ở biển mà nổi lên chết là cả ngàn tấn cá thì không biết bao nhiêu con, mình tưởng đâu tám tỷ người là nhiều lắm nhưng không có là gì so với các loài thủy tộc. Nội thủy tộc dưới dưới biển thôi chưa nói các cái loài trong rừng, các loài dưới đất nhiều lắm, tám tỷ người của mình ở trên hành tinh này ít lắm, không có là gì hết, những chúng sanh vô hình ở trong loài ngạ quỷ vất vơ vất vưởng, những súc sanh ở trong địa ngục nhiều, nhiều, nhiều, không thể tính kể được.
Khi mà con mới lên núi này có cô hiệu trưởng đó rất là tha thiết cô cúng cái tượng Phật ở trong chánh điện đó, cô chuyên môn là đi cúng, đi đến chùa nào cũng cúng cho các vong linh, cô có cái duyên với các vị đó, cô thương các chúng sanh ở trong đường ngạ quỷ. Cô lên đây nói "con bạch thầy, lúc đó khoảng mười lăm năm trước thì con thấy trên này đầy hết cả một ngọn núi, con xin với thầy quy y", lúc đó con mới thỉnh các vị tôn đức ở trong thất ra làm lễ quy y và bữa lễ quy y đó khủng khiếp lắm. Cái cửa quy y trong chánh điện này mà con ngồi nổi da gà hết, đó là mười lăm năm trước, đang bình thường giống vầy nhưng đến lúc làm lễ quy y là gió thổi hụ hụ, đập ầm ầm ầm vô cái chánh điện, mình ngồi mà thấy lạnh hết trơ, nổi như gà hết. Cô nói chúng sanh ở trong loài ngạ quỷ nhiều lắm, thời kỳ chiến sanh những người chết thì mình đâu có thấy, mình chỉ thấy sao người ta đông vậy, mình tưởng đâu làm người dễ lắm nhưng thật ra là thiên nan, vạn nan, tỷ nan.
Mình mất cái thân này rồi là không biết mình vô cái thân cái con gì cho nên phải trân quý, trân trọng, trân kính từng giây, từng phút, từng ngày, từng giờ mình được tu tập. Đừng có hoang phí cuộc đời mình trong những cái việc hấp hèn, tầm thường, hạ liệt, phàm phu, vô minh, dục, tham, ái, phung phí, hoang phí, lãng phí, uổng phí cả một cuộc đời của mình, nhất là cái tuổi trẻ mình còn sức khỏe, mình còn minh mẫn, mình còn tỉnh táo, mình còn sắc bén. Mình không nỗ lực thì mai này mình già rồi lúc đó mình khổ lắm, khổ dữ lắm nên cơ hội của chúng ta hai tuần nay là hiếm có, không phải trong cuộc đời này mà trong vô thỉ kiếp cho đến nay mình được nghe thánh pháp, thánh trí, thánh đạo, thánh tuệ như vậy hãy cố gắng giữ gìn, đừng có để cho rớt mất.
Đức Phật trình bày tại sao mình có suy nghĩ, có mấy loại suy nghĩ và cái suy nghĩ nó vận hành như thế nào, cái sự vận hành của nó, cái vị ngọt của nó, sự nguy hiểm và tác hại của nó, làm thế nào để mình thoát ra khỏi cái si nghĩ này, Đức Phật trình bày đầy đủ hết. Ở trong cái sự nhận thức này Đức Phật trình bày cho mình đầy đủ hết tại sao mình có sự rõ biết, nhân nào, duyên nào sanh khởi cái rõ biết đó, có mấy cái loại rõ biết. Đức Phật phân loại ra rồi mình bị đắm đuối ở trong cái biết đó như thế nào, cái biết đó đưa mình tới tai hại, đau khổ ra làm sao và làm bằng cách nào, con đường nào mình thoát ra khỏi cái thức đó, cái biết đó. Đầy đủ hết tất cả cái đạo lộ như vậy.
Bây giờ trở lại cái vấn đề quan trọng vừa rồi chúng ta nói bốn thánh trí ngũ uẩn đó là tổng quát, tổng cương lĩnh của thánh trí tuệ. Chúng ta thấy là do vô minh và khát ái mới sanh khởi ra ngũ uẩn thì bây giờ vô minh là không biết về ngũ uẩn và khát ái là yêu thích ngũ uẩn. Mình không biết về ngũ uẩn cho nên mình mới yêu thích ngũ uẩn rồi mình nắm chặt vô trong ngũ uẩn đó, mình không có buông ra, mình cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Nếu bây giờ có một cái cách nào khác ngoài cái cách để mình biết về ngũ uẩn còn cách nào khác không? Nếu mà mình không biết về ngũ uẩn đó là vô minh thì giờ mình biết về ngũ uẩn đó là mình. Chúng ta thấy nó khoa học không? Nó nhân quả không? Nó cụ thể, nó thiết thực, nó thực tế, nó rõ ràng không? Nó đâu có một cái gì mờ ám, mê tín, không có cái gì viễn vong hết.
Bây giờ anh không biết thì anh bị nó gạt, giờ anh biết ra được rồi anh hết bị gạt, rồi xong, đơn giản không? Chữ biết và chữ không biết, biết tức là giác, không biết là mê, mà biết như thế nào chứ không phải biết là nghe được mấy ngày rồi cho rằng biết ngũ uẩn rồi, đến khi trở ra cũng tham, sân, si, bản ngã nữa thì cái biết đó không là gì hết. Biết mà phải thật biết cho nên mới gọi cái từ là thực chứng, cái biết đó nó ở trong mình hoài nó không mất thì mới gọi là thực chứng, còn cái biết đó khi có, khi không, khi còn, khi mất, khi nhớ, khi quên thì cái biết đó gọi là nhất thời mình giác ngộ thôi. Cái lúc nào mình nhớ, mình thấy được, mình nghĩ được vậy thì lúc đó mình giác ngộ, mình tỉnh, lúc nào mình quên, mình không thấy được vậy, mình không nhớ được vậy, mình không nghĩ được vậy thì lúc đó mình mê, cho đến khi nào mà cái thấy biết đó nhớ hoài, nó thấy hoài, nó hiểu hoài, nó sống luôn ở trong đó không mất thì lúc đó gọi là chứng ngộ, thể nhập thánh trí.
Nhớ cái gì? Nhớ vô minh làm cho mình khổ đau, đó là ngũ uẩn đó nha, nó là năm cái thằng ác độc, không thấy rõ nghe không, cái thằng sắc này chết với nó nè, cái thằng thọ này cũng làm cho mình khổ đau, cái thằng tưởng này ám ảnh mình một tự ngã, cái thằng hành này cứ lầm thầm, nó thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than, nó xúi giục mình vô dục, vô ái, vô tham, rồi cái thằng nhận thức là nhận thức ở trong cái tình thức, ở trong cái mê lầm, ở trong cái ngu muội, nhận thức ở trong cái bóng đêm, mù rờ voi.
Phải thấy rõ từng thằng như vậy và không để cho nó gạt mình, đầu tiên là biết tên tuổi, kế đó là biết mặt mũi, sau đó là biết tánh tình và cuối cùng là biết được cái bản chất của nó về năm uẩn. Nói đơn giản là vậy, tứ chuyển đó, biết được tên tuổi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, biết được mặt mũi là mình nhận diện được ngũ uẩn đó. Mình đã thấy cái bản mặt nó chưa? Thấy cái bộ mặt của nó chưa? Thấy cho rõ, thằng thọ ra thằng tưởng, hành ra thức là lộn xộn, không được, cái nào nó ra cái nấy rõ ràng. Mình thấy được, mình biết được cái tên tuổi, mình biết được cái mặt mũi, mình về ở chung thì mình biết được tánh tình "mày nha mày, mày chết mày với tao nghe không, hồi đó tới giờ là tao không biết mày, bữa nay tao biết được cái gu của mày, tao biết được cái gì cái mánh khóe của mày. Mày láu cá, mày rất là xảo trá. Mày gạt tao phải không? Tao biết được rồi nha, tên tuổi nè, mặt mũi, tánh tình của mày, mày đừng có hòng từ nay về sau gạt tao nghe không, mày chết với tao, mày chết với tao".
Mình nhớ vị thánh Tăng bị cái cá dục nó quấy rối quá thì ngài đứng ở vực thẳm hét lớn "tao giết mày, tao phải giết mày chết, tao phải giết mày chết, tao nhảy mày xuống cho mày chết luôn", chuẩn bị nhảy xuống thì quán chiếu triển khai thiền quán diệt tận ái, chứng quả A-la-hán.
"Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi trong gia đình một Bà-la-môn, được đặt tên là Mahànàma, ngài được nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lấy một đề tài làm thiền quán, ngài sống trên một ngọn đồi tên là Nesàdka. Không thể chận đứng được các dục tưởng khởi lên, ngài tuyên bố: 'Ðời này của ta có ý nghĩa gì, với tâm tư uế nhiễm như vậy'. Tự nhàm chán với chính mình, ngài leo lên một đỉnh núi, và như muốn lao mình xuống, ngài nói với chính mình như nói với một người khác: 'Ta sẽ giết nó!' với bài kệ như sau:
Hãy xem, sao đời nay,
Lại chấm dứt ở đây,
Với hòn núi nhiều ngọn,
Và nhiều cây cối này?
Núi Nesàdaka,
Một ngọn núi có danh,
Rập rạp với cỏ cây,
Che kín trùm tất cả.
Tự mình trách móc như vậy, vị Trưởng lão phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Bài kệ trên trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười Hai, (CXV). Mahànàma (Thera. 16))
"Tao giết cho mày chết, tao phải giết mày, tao giết mày, tao giết cho mày chết, đừng có hòng mày gạt tao nữa. Từ đây về sau tao thấy được cái bộ mặt của mày, tao biết được cái tánh tình của mày rồi, thấy được cái bản chất của mày là tham, sân, si, cái bản chất của mày là vô thường, vô ngã, cái bản chất của mày là lươn lẹo, mánh khóe, cái bản chất của mày là ngụy biện, quanh co giấu lỗi lầm. Mày gạt, mày dụ tao, chuyến này tao cho mày chết, tao cho mày chết, đao hạ bất lưu tình, nhất đao lưỡng đoạn - một dao hai khúc, cẩu đầu đao chờ lệnh – trảm, hổ đầu đao chờ lệnh – trảm, long đầu đao chờ lệnh – trảm".
Cái tác ý của mình phải mạnh, cái tuệ lực của mình phải mạnh, mãnh hổ lực, hung hãn lực, sư tử lực, voi chúa lực, uy lực của mình phải mạnh thì mình mới diệt được, không thôi nó dữ dần lắm, cái sừng con bò ngũ uẩn này bén dữ lắm. Mọi người có biết cặp sừng con bò không? Nó có thể húc người ta đổ ruột, phải cưa cặp sừng ác độc của nó, trong này nó trống rỗng mà nhưng mà nó tạo ra ác nghiệp, nó vô thường nhưng mà nó đầy rẫy tham sân, nó bất tịnh nhưng mà nó dục ái là muôn thuở vĩnh hằng. Vậy mình mới khổ cho nên phải trừng trị nó thẳng tay, không có được nhẹ tay với nó vì nhẹ tay nó là mình chết, nó giết mình vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp mà bây giờ mà mình nhẹ với nó là mình chết. Nó bằm thây mình, nó diệt mình, nó giết mình, nó hại mình, nó đè đầu cưỡi cổ mình, nó làm cho mình chết tức chết tưởi, chết oan chết ức, chết nhục chết nhã, chết tồi chết bại, chết bờ chết bụi, chết khốn chết nạn, chết đau chết đớn, chết bất đắc kỳ tử, nhảy lầu, nhảy cầu, nhảy xe, nhảy sông, uống thuốc độc, tai nạn giao thông, chết máy bay, đủ thứ kiểu làm cho mình chết.
Bây giờ mình diệt được nó thì mình mới thể nhập được bất tử, còn mình không diệt được nó là mình sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh, chết hoài, chết dài dài, chết vô lượng, vô số, vô biên kếp. Cho nên bài hôm nay là nói tận cùng luôn rồi đó không còn giấu gì nữa hết, tất cả pháp tu hành, cái cách tu của mình đó. Cái đầu não của nó là vô minh và khát ai tức là sự mù lòa về ngũ uẩn và sự ham thích ở trong ngũ uẩn, sự mù lòa về thân và tâm và sự yêu thích ở trong thân tâm này, không thấy được bản chất của nó. Mình biết được tên tuổi nó là ngũ uẩn nè, sắc; thọ; tưởng; hành; thức, biết mặt mũi của nó là mình nhận diện được nó, thằng nào ra thằng nấy, mình biết được tánh tình của nó là tham, sân, si, dục ái. Người ta nói gì nói khỏi cần nhìn gì hết vì chỉ là dục không thôi, sân thôi, bản ngã thôi cho nên nhiều khi ngồi nói với con đủ thứ hết thì con nói "được rồi, thôi được rồi, biết rồi, nói hoài cũng nhiêu đó thôi, bài ca con cá ca mấy chục ngàn lần rồi, khỏi còn nói cũng biết bệnh rồi.
Tuyệt vời không? Thánh trí đó, mình thấy hai người cãi lộn khỏi cần phân bua nhìn vô biết rồi, sân bệnh về trị đi. Phân bua cái gì, dành đúng dành sai cái gì? Cho nên hai đệ tử lên mách sư phụ sư huynh nói vậy, sư đệ nói vậy thì sư phụ kêu về đi, ngày mai lên nói chuyện, sáng mai hai ông thức dậy sớm để canh sư phụ ra là mách liền, hai ông nói một hồi thì sư phụ bảo "về hết đi, sai hết ráo, về hết đi. Sân là sai, càng nói càng sai, cự nhau là sai, hơn thua nhau là sai, cả hai về sám hối hết". Giải mã hết tất cả cho nên hồi sáng đọc giải mã tâm mê. giải mã dục ái. giải mã thế giới. giải mã cuộc đời, giải mã trần gian, giải mã hết cái vòng luân hồi sanh tử này, thánh trí ngũ uẩn tối tôn, tối thượng, tối cao, tối thắng, tối đệ nhất của bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Thông giải hết thế gian, thông giải hết cuộc đời, thông giải hết thế giới, thông giải hết tâm thức của tất cả chúng sanh và đặc biệt là thông giải cái tâm của chính mình, từ đâu mà mình có khổ, tại sao mình tham, sân, si. Quay vô trong đi rồi sẽ thông, quay ra ngoài là nó bít, giờ muốn thông hay muốn bít? Càng quay ra ngoài là càng không biết gì hết, càng quay trở vào thì giải quyết được tất cả mọi vấn đề cho nên bật đạo sư dạy con khi nhập thất là diệt tâm hướng ngoại, chưa bao giờ con có thể ở được bảy ngày ở trong thất hay là mười ngày mà ngài dạy con là con ở luôn trong thất hai tháng không ra. Diệt cái tâm hướng ngoại thì mình mới ở yên được, ví dụ mình muốn về núi mà mình ở yên được là mình phải diệt cái tâm hướng ngoại, không thôi về tu chứ lâu lâu chạy ra quán café kiếm chút đỉnh.
Phải diệt cái tâm hướng ngoại, tu là chuyên tâm vô tu, chừng nào về tới thiếu gì quán. Vậy đó phải diệt cái tâm hướng ngoại chuyên chú vào pháp, thực hành pháp, khi mình nắm được, mình hiểu được rồi thì quý vị thấy cuộc đời mình tuyệt vời mình đổi đời thật sự, thay đổi vận mạng giống như mình đầu thai kiếp khác, mình không còn là một con người trước nữa, mình sẽ thay đổi cuộc đời của mình, mình sẽ thay đổi vận mệnh của mình, mình sẽ thay đổi thân tâm của mìn,h mình sẽ thay đổi cuộc sống của mình và từ đó mình sẽ thay đổi cho cha mẹ của mình, anh chị em, bà con của mình, giúp đỡ mọi người bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng, bằng sự thấy biết đúng về chánh pháp, bằng tám đúng của bậc thánh. Hạnh phúc không?
Hôm nay là giải mã thế giới rồi đó, giải mã thân tâm, giải mã đời sống, giải mã khổ đau, giải mã trần gian, giải mã luân hồi. Nhiều khi tu học mười năm nói bát chánh đạo nói không xong, nói cứ lộn qua lộn lại cái này cái kia, mình nói tiếng việt rất dễ. Tối nay mình đốt lửa có hoan hỉ không ạ? Tối nay ra ngoài trời đốt lửa trại rồi mình mới chia sẻ cái cảm xúc tu học trong hai tuần, có một số vị vội nên lúc sáng chưa gì hết đã chia sẻ, thành ra mình đợi cho nó đúng thời, tối nay đó là chia sẻ cảm xúc tu học trong hai tuần. Ai có bảo bối gì thì đem ra, cái quý, cái viên ngọc, hột xoàn, kim cương, vàng gì của mình mà trong nửa tháng nay mình gom góp, mình tích lũy đó, mà nó cô đọng thôi. Mình nhớ lại mình nói, hoặc là mình có ghi chép thì đọc nhưng đọc thì ngắn thôi chứ không có đọc dài mất thời gian của đại chúng. Thí dụ nếu mình có đọc thì mình chỉ đọc một trang thôi là mình đọc cái tinh túy nhất quan trọng nhất còn tốt nhất là mình nên nói trực tiếp mình đã tu đã học được cái gì trong nửa tháng, mình cảm nhận ra làm sao, mình thay đổi như thế nào, những cái thiện pháp này kia mình chia sẻ tối nay.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
khắp trời đất bao la.
./.