Chia Sẻ Tâm Đắc Tu Học (XGGD 9)
NIKĀYA CHIA SẺ TÂM ĐẮC TU HỌC (XGGD 9)
–Thích Minh Thành–
Sư Phụ: Cảm nhận cơ thể, mở mắt ra đừng có nhắm mắt, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, cảm nhận sự ra sáng rực của đôi mắt, cảm nhận sự trong sáng, tinh minh của ánh mắt, ánh nhìn. Cảm nhận gò má, cảm nhận đôi môi, cảm nhận hơi thở, cảm nhận sự dễ chịu trên đôi môi, ánh mắt và khuôn mặt. Cảm nhận cảm giác dễ chịu từ đỉnh đầu, hai lỗ tai, bờ vai, dễ chịu, sự lắng dịu của thân và tâm, cảm nhận cảm giác của hai cánh tay, bàn tay, ngón tay và lòng bàn tay, cảm nhận lưng, xương sống, cảm nhận mông, chân, ống chân, bàn chân, ngón chân. Cảm nhận sự an tịnh từ đảnh tóc cho tới gót chân, cảm nhận sự lắng dịu, sự dễ chịu của tâm.
Thật là dễ chịu khi được trở về núi để ngồi yên, thật là lắng dịu trong vùng đất này, trong không gian an tịnh này, trong vùng trời đất rộng lớn này. Đôi mắt thật là dễ chịu, thật là sáng tỏ, gò má thật là dễ chịu, thật là lắng dịu, cả khuôn mặt giờ này thật là dễ chịu, đôi môi giờ này thật là dễ chịu, hé nở một nụ cười nhẹ. Toàn thân nhờ này thật là lắng dịu, thật là dễ chịu, không khí núi rừng này thật là trong lành, thật là mát dịu, thật là hoan hỉ khi được trở về non thiêng, thật là vui vẻ khi được ngồi yên, thật là hạnh phúc khi được tu học nơi xa vắng như vầy. Từ trái tim lan tỏa ra một cảm giác dễ chịu khắp lồng ngực, lan tỏa ra khắp bộ não, khắp châu thân.
Thầy Thiện Huệ: Bây giờ miệng mỉm cười, nụ cười trong an lạc, nhẹ nhàng cùng gió mát, hạnh phúc của tâm an nếu chúng ta biết an trú trong giờ phút hiện tại.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng toàn thể chư vị hiền trí, được sự chỉ dạy trên sư phụ sáng nay đạo tràng chúng ta có một buổi chia sẻ tâm đắc tu học Nikāya, chúng ta sẽ được nghe những lời của quý thầy, quý chư Ni chia sẻ những cái tâm đắc qua những lời dạy gốc của Đức Phật ở trong kinh tạng Nikāya, từ đó chúng ta hiểu và thực thành, chúng ta sẽ cảm nhận được pháp của Đức Phật rất là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, không có trải qua thời gian và người trí tự mình giác hiểu.
Tất cả đệ tử của Đức Phật gặp nhau chỉ có hai điều thôi, một là im lặng đúng như chánh pháp, hai là nói năng đúng như chánh pháp, gặp nhau chỉ thiền định, thiền quán, học pháp, nói pháp, pháp đàm chia sẻ pháp với nhau. Tại vì những việc làm này sẽ liên hệ đến mục đích của chúng ta tu học, liên hệ đến lợi ích của chúng ta tu học.
"Ðệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Tưởng Chánh Pháp thường niệm"
(Kinh Pháp Cú 21 – Phẩm Tạp Lục, kệ 297)
Vào giờ này con kính mời toàn thể các bậc hiền trí chúng ta lắng nghe quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô sẽ chia sẻ tâm đắc tu học cho quý vị. Con thỉnh quý thầy chúng ta chia sẻ trước sau đó lần lượt được tới quý Ni sư, sư cô.
Thầy Pháp Tâm: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên chư tôn thiền đức cùng chư hiền trí. Sáng hôm nay vì lòng thương tưởng được sư phụ chỉ dạy cho chúng con được chia sẻ tâm đắc tu học, sáng hôm nay con xin được chia sẻ về sự tâm đắc trong việc thực hành, trong việc nhìn nhận, quán chiếu về thân tâm, đó là nhận diện trí tuệ về ngũ uẩn. Trí tuệ về ngũ uẩn chính là trí tuệ về thân tâm và chính tự thân, trí tuệ về vũ trụ, trí tuệ thế giới, trí tuệ thực thấy thực biết nơi chính trong năm uẩn, năm nhóm, năm tổ hợp được vận hành trong sự vô minh, trong khát ái do không có đủ trí tuệ để nhìn thấy. Và hôm nay được nhận được, thấy được, nương nơi bậc Chánh Đẳng Chánh Giác truyền trao trí về ngũ uẩn, trí về tự thân cũng là trí về chân lý, về sự thật.
Đó là khi mà nhìn nhận thì có bốn điều mình nhìn nhận và thấy được, thứ nhất đó là thấy được năm uẩn là năm uẩn trong tự thân về sắc, về thọ, về tưởng, về hành và về thức, về thân và về tâm cụ thể ra từ năm nhóm, năm tổ hợp, tập hợp, không xem nó là một cái tổ hợp, một khối vững chắc, một khối kiên cố, một khối tổng hợp mà khi được thấy được biết về trí ngũ uẩn thì nó được phân tách, được nhìn thấy rõ là năm nhóm, năm tổ hợp, cấu tạo thân tâm, cấu tạo nên thế giới, tạo nên thế giới vật chất và tinh thần này.
Trí tuệ thứ hai khi mình nhìn nhận mình sẽ phân loại được trong nhóm đó nhóm sắc uẩn là do tứ đại đất, nước, gió, lửa. trong thọ uẩn cảm giác có ba loại cảm giác, cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Khi mình học được trí về ngũ uẩn trí về sắc, trí về thọ mình sẽ phân biệt được trong thân này gồm có đất, nước, gió, lửa, trong cái những cái cảm giác, những cái cảm xúc mình bao gồm tổng hợp lại thì có ba loại cảm giác, cảm thọ. Và nhìn sâu ở trong nội tâm thì thấy có những cái hình bóng, những cái suy tưởng, những cái suy tư, những nghĩ ngợi, những cái bóng dáng hiện khởi trong tâm thì đây là tổ hợp của những hình bóng và tổ hợp của những suy nghĩ. Và trong thân này nó có sự rõ biết, có sự thấy biết trong và ngoài sáu trần, đó là đó là thức uẩn, là tổ hợp của những cái rõ biết, rõ biết cảnh, rõ biết âm thanh, rõ biết mùi, rõ biết sự xúc chạm, rõ biết vị, rõ biết được các pháp trong nội tâm thọ; tưởng; hành đang vận hành, đang sanh khởi, sanh diệt ở trong nội tâm.
Đó là những cái tổ hợp, khi nhận diện ngũ uẩn sẽ thấy có trí về ngũ uẩn sẽ thấy được sự vận hành, tên tuổi rõ ràng của từng uẩn một, được nhìn nhận, thấy biết nơi chính tự thân và tự tâm của chính mình cũng chính là năm uẩn, năm nhóm tổ hợp. Sau khi biết được tên tuổi, phân loại nó rồi nhìn nhận ở bên trong nó sự điều khiển, sự chi phối, cái guồng máy, cái cấu trúc để cho sự vận hành của sắc này hoạt động sự, vận hành của thọ này, tưởng này, hành này và thức này nó là gì. Nó là sự chi phối bởi sự thúc giục ở bên trong nội tâm, sự yêu thích, sự dính mắt ở bên trong nội tâm, tham ái, sân hận, khó chịu, bực bội, ganh tỵ, tật đố, si mê và thấy ta tôi, hơn thua, tranh đấu. Đó là cái chất và cái bộ máy, cái nguồn cơn để nó sanh khởi, để nó vận hành, nó làm cho năm uẩn này sanh khởi, sanh diệt và khi nhìn thấy được thì mình biết, mình thấy nó sanh và nó diệt, nương nơi cái thánh trí tuệ của Đức Phật truyền trao, thấy được sự sanh sự diệt của sắc, sự sanh sự diệt của thọ, của tưởng, của hành, của thức.
Năm uẩn này là pháp duyên sanh, là sự kết hợp, sự cấu tạo, sự lắp rắp, sự kết hợp nên nó sanh khởi lên, nó vận hành và nó hoại diệt. Vì đó là pháp duyên sanh, có duyên sanh thì sẽ có duyên diệt, có sanh và có diệt, do sanh diệt nên nó vô thường. Trong nhiều bài kinh Đức Thế Tôn hỏi quý thầy sắc là thường hay vô thường, tất cả vị Tỳ-kheo đều bạch Đức Thế Tôn "Thưa Thế Tôn sắc là vô thường", các ngài thấy được duyên sanh và duyên diệt, do nhân duyên, do sự lắp ráp, do sự kết hợp mà nó tạo thành. Cũng từ sự lắp ráp này, kết hợp này khi nó không còn đủ nhân đủ duyên, khi duyên hết nhân hết thì sẽ diệt đi, sẽ chấm dứt, bởi vậy sắc là vô thường, thọ; tưởng; hành; thức là vô thường.
Bởi vì nó vô thường, nó biến đổi như vậy nhưng cái tâm si mê, cái tâm chấp ngã, cái tâm khát ái, cái tâm nắm giữ của chính tự thân mình, đó là một cái tâm bị ô nhiễm, bị uế nhiễm, bị mê lầm, bị điên đảo, bị cái thấy cái biết không đúng đắn, lộn lạo, ngược ngạo nên mình thường cho năm uẩn này thường còn. Bởi vậy khi mà nó biến đổi tâm mình sẽ bị phiền não, bị khổ đau sanh ra sầu, bi, ưu, não than van, khóc lóc, đau khổ, sự trầm luân ở trong những cái cảm thọ thống khổ do nó không như cái sự mong muốn, như cái sự nhìn thấy biết sai lầm đó. Ngũ uẩn là nó phiền não và nó khổ đau nên là phiền não, khổ đau như vậy thì mình không nên dính mắc, không nên trói buộc vào trong đó.
Đức Phật cũng hỏi các vị Tỳ-kheo khi năm uẩn này là vô thường, cái gì vô thường, là khổ hay lạc? Tất cả các vị Tỳ-kheo đều bạch với Đức Thế Tôn cái gì vô thường là khổ, do nó vô thường, biến đổi mà tâm si mê nên khi nó biến đổi tâm mình không chấp nhận, không thấu hiểu, do sự không thấy không biết, do cái tâm mê lầm, do cái tâm điên đảo, do cái tưởng sai lầm, lộn lạo nên gây nên những khổ đau cho chính tự thân mình, cho chính những người mà mình cho là người thương, người thân, người yêu, người quý, người ơn mà khi bị những cái sự vô thường biến đổi này sanh khởi, sự chấp trước này nó có mặt thì phiền não, khổ đau nó có mặt. Khi thấy được khổ rồi thì Đức Phật cũng hỏi các hàng Tỳ-kheo rằng năm uẩn này là vô thường, là khổ như vậy thì có hợp lý chăng nếu các ông cho rằng cái này là tôi, cái này là của tôi, cái này là tự ngã của tôi thì tất cả vị Tỳ-kheo, các bậc chân nhân đều thưa với Đức Thế Tôn rằng "thưa không bạch Thế Tôn".
Mình đi vô cái một cái lò lửa với đi vô một cái nhà máy lạnh mình thích đi vô cái nhà nào hơn ạ? Tất nhiên là máy lạnh, đều tốt đẹp, mình không thích sự khổ nên mình sẽ thấy sự khổ của năm uẩn này nên mình không cho đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi nên tâm sẽ buông bỏ, sẽ không có chấp trước, sẽ không có dính mắc. Đó là những cái sự tâm đắc trong thời gian vừa qua, suy tư, chiêm nghiệm và thấy biết được, khi mình có đầy đủ trí về ngũ uẩn, đầy đủ sự nhìn nhận nội tâm và khi học thì Đức Phật sẽ đưa cho mình những cái phương pháp, những cách thức để mình có thể thoát khỏi những cái sự phiền não, khổ đau cũng như thấy rõ sự vô thường, biến đổi, sanh diệt, guồng máy của năm uẩn. Con xin kính bạch trên quý thầy và đại chúng trong thời gian chia sẻ có điều gì sơ suất, kính mong trên quý ngài từ bi, hoan hỉ chỉ dạy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính đảnh lễ trên sư phụ, con cung kính đảnh lễ chư tôn thiền đức Tăng Ni và chư vị hiền trí. Được sự chỉ dạy của sư phụ sáng nay con xin chia sẻ về chủ đề tâm đắc tu học Nikāya và cái tâm đắc của con là tâm hiền. Con thấy rất lọi lạc đối với tự thân của con đem lại nhiều thay đổi trong tự thân con, con tu tập tâm hiền con thấy thân tâm con được thay đổi, thân được an tịnh trong đi, đứng, nằm, ngồi, không bị thúc giục mà nhẹ nhàng, có sự kiềm chế, khiêm nhường, còn về thân, về tâm được lắng dịu, các cảm thọ được dễ chịu. Tâm hiền là bước đầu căn bản của một người tu, của một người đệ tử của Đức Phật, Đức Phật là một người rất hiền từ, chúng ta là người đệ tử của Đức Phật thì phải hiện từ giống Đức Phật, vì chúng ta không hiền từ thì khi người khác nhìn vào Đức Phật, nhìn vào hàng đệ tử họ sẽ đánh giá, họ sẽ phỉ báng, họ sẽ so đo tại sao con của Đức Phật mà không dùng Đức Phật.
Tâm hiền từ là một nét đẹp của người tu, là giới đức, giới hạnh, là diệu hạnh, là một trong những bốn cái yếu chỉ để làm đệ tử của Đức Phật. Người đời họ đẹp vì họ đam mê ở vật chất, còn con thấy chỗ người tu đẹp là phải hiền từ, hiền lành, hiện đức, đó là nét đẹp đối với tự thân con. Khi tu tập tâm hiền con thấy những cái cảm thọ khó chịu bị nhiếp phục, bị chế ngự, những cái lời nói hay là những cái tâm dao động ở bên ngoài bị nhiếp phục, lúc con chưa tu thỉnh thoảng vẫn có những tâm sân nhưng khi con tu tập trong dòng pháp này thì cảm thọ con dễ chịu, tâm sân không phát triển mạnh và nó lắng dịu. Con thấy tâm sân chỉ có tâm hiền mới nhiếp phục và chế ngự được giống như trong phim Tây Du Kí có Hồng Hài Nhi phun lửa cả quả đồi, Tôn Ngộ Không đã nhờ Long Vương phun nước và nhưng cũng không dập tắt được, phải nhờ đến được Cam Lộ từ bi của Bồ Tát mới dập tắt được.
Với con tâm hiền cũng vậy, nhờ tu tập tâm hiền mà tâm sân, khó chịu bị nhiếp phục. Trong kinh ba Đức Phật nói thế nào là người hiền, người hiền là người nhiếp phục dục và tham, làm cho các cảm thọ lắng dịu, con cũng chiêm nghiệm và thực tập con thấy rất lợi lạc. Tâm hiền là tâm dễ chịu, dễ thương, dễ miễn và dễ học pháp để những tâm chống đối, tâm ganh ghét, tâm hẹp hồi bị chế ngự và mình học pháp nó dễ dàng. Tâm hiền nó nhiếp phục được tâm tham, sân, si, tâm thúc giục hướng ngoại ở bên ngoài, tâm hiền làm cho tự thân con được sống trong chúng được hài hòa, được nhu hòa, chấp nhận những cái điều của chúng quyết định.
Tu tập tâm hiền làm cho mọi người xung quanh cảm nhận được năng lượng của mình, cảm nhận được tình thương của mình. Con ví dụ giống như con ở Tăng xá, con nói chuyện và bình thường mà con không biết sao quý thầy cảm nhận được cái tâm từ, nói có được cái tình thương ấm áp, có được cái tình nghĩa của huynh đệ, có được cái sự ấm áp từ nơi con. Tâm hiền được biểu hiện ở nơi cung kính và oai nghi, giống như chúng ta cung kính đức Phật thì không chỉ cung kính ở trong tâm và phải cung kính ở nơi bàn thờ của Đức Phật phải trang nghiêm, phải sạch sẽ, phải gọn gàng, phải thoảng mát. Cũng vậy tâm hiền được biểu hiện qua tâm cung kính vì khi chúng ta cung kính thì khi đó tâm hiền xuất hiện và những ngã mạn, những tranh dành, hơn thua được nhiếp phục, được chế ngự.
Chúng ta cung kính tâm hiền ở đâu? Cung kính tâm hiền ở Đức Phật, ở pháp, ở Tăng, ở giới, ở cha mẹ, anh em, bà con, vợ chồng và các bạn đồng tu. Khi gia đình có được tâm hiền thì trên hòa dưới thuận, xã hội có tâm hiền thì được bình an và thế giới có tâm hiền thì được an lạc, không có chiến tranh xảy ra. Khi chúng ta tu tập tâm hiện biểu hiện qua tâm khiêm cung thì khi đó chúng ta cũng đã thực hiện được thanh quy của đạo tràng là năm khiêm hai khéo, khiêm nhường, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhã, khiêm cung và khéo léo xét lỗi mình, khéo phòng hộ căn. Vì khi chúng ta khiêm nhường, cúi đầu cung kính hay là cúi đầu là hành động đẹp để chúng ta diệt ngã và nét đẹp của người tu. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, trong quá trình con chia sẻ có gì sai sót xin trên sư phụ và quý thầy bỏ qua.
Ni sư: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng ni cùng chư vị hiền trí, Sáng nay được sự cho phép của sư phụ chúng con chia sẻ tâm đắc tu học kinh Nikāya, khi vô đây học kinh Nikāya con tâm đắc nhất bài kinh cần phải thường xuyên quán sát: Ta phải bị bệnh, ta phải bị già, ta phải bị chết. Khi mở mắt ra con nói "nhà ngươi phải bị bệnh, phải bị già, phải bị cháy", ngày nào con cũng răn nhắc như vậy nhưng có một bữa là ngày sinh nhật của con, từ nhỏ đến giờ con chưa bao giờ làm ngày sinh nhật, cái ngày hôm đó bất thình lình giống y là sự nhắc nhở quý thầy đã nhắc nhở cái tâm mê của con. Quý thầy cho con một cái bánh mà con nhớ lại là cái bánh mặt Đức Phật, mình phải từ từ nhâm nhi, chiêm nghiệm để cho nó ngấm, quý thầy cho con một bó hoa mà hoa này nó cũng ngộ lắm, không phải hoa bình thường mà là hoa bất tử.
Có nghĩa là quý thầy răn nhắc con là mình tu cái dòng pháp này để nhàm chán cái xác thân này để đi đến bất tử. Lúc đó cảm thọ trong con khởi lên một sự nhục nhã, ê chề bởi vì Đức Phật nói sự sanh này là khổ, lúc đó con mới nhìn ra "đây là khổ, khổ là đây, hôm nay nhà ngươi vui mừng với cái sinh nhật để tái sanh tiếp tục đời sau, để rồi tái diễn cái đau khổ à. Thật là một sự ê chề, nhục nhã" và con luôn luôn lấy cái sự sanh, già, bệnh, chết là một cái định tướng cho mình. Nhìn vào sắc thân này là một ổ bệnh tật, một ổ giòi bò, là một cái sự chết chóc, có một lần con đào một cái huyệt mộ và tự chôn mình xuống cái huyệt mộ đó thì lúc đó tự nhiên trong con nó lại bừng sáng lên, từ cái huyệt mộ đó vụt lên không trung và từ đó con thấy hiển lộ là tứ vô lượng tâm nó tràn khắp cả hư không. Lúc đó hai hàng nước mắt con ràng rụa "thì ra nhà ngươi đã chết bao lâu rồi, bao nhiêu lần như vậy rồi, người ta đã cho nhận ngươi bao nhiêu lần như vậy rồi".
Lúc đó con khởi lên cái lòng thương cho xác thân này và thương cho mọi người, tâm bi thương xót tất cả những vạn vật trong thế gian này. Trong đó nó không phải có một sự níu kéo, không có một sự liên tiếp thì trong đó cái hỷ lạc khởi lên tràn ngập không gian nơi đó. Cái định tướng đó nó đi theo con thì lúc đó con nhắc nhở đây là cũng là tưởng, cũng là thọ thôi, nó cũng là vô thường, không phải là của mình hãy từ bỏ nhưng mà ngồi đâu con cũng thấy một cái định tướng như vậy. Cái huyệt mộ và thân xác mình nằm xuống đó và một luồn ánh sáng từ huyệt mộ vụt lên không trung thì lúc đó thân thể của con nó trở nên nhẹ nhàng và nó an tịnh, nó an tịnh như vậy thì con mới nhìn lại cái cảm thọ của mình coi thử mình tu tâm hiền tới đâu rồi, người ta nói mình thế này thế kia coi thử mình có hiền không.
Lúc đó con hướng đến mấy vị khó chịu với mình con quỳ xuống, sụp đầu xuống đảnh lễ vị ấy và con quán tưởng là mấy vị đó là cha mình, là mẹ mình, là ông mình, là bà mình, là thầy tổ của mình tại sao mình đi sân hận với người ta. Nếu mình đi sân hận với người ta là mình trở thành đứa con bất hiếu, chính vì vậy mà con thực tập được cái tâm hiền rất là nhẹ nhàng và an tịnh. Con cũng có nhớ bài kinh Đức Phật nói người nào nghĩ mình không bao giờ bệnh thì người đó là kẻ ngu, không phải người trí và khi con nhìn lại thân mình là bệnh mà, là ung nhọt mà lúc đó con nhìn vào cái thân bệnh thì con thoát ra được là con không bệnh. Thân bệnh nhưng tâm không bệnh, thân thì bệnh thật đó nhưng cái bệnh tham, sân, si của con càng ngày nó càng muội lược, nó dần dần giảm dần và nó suy yếu đi.
Khi cái tâm mình hoan hỉ như vậy thì nó kéo theo cái thân không bệnh nữa giống như hồi bữa con đang ngồi thiền trúng gió, nó đau bụng, ói mửa thì lúc đó con mới chạy xuống mà thân thể nó rã rời hết mà trong con có sự học tập, nó thôi thúc trong con thì con lấy iPad mở ra thì có bài kinh Đức Phật nói là hãy đứng dậy, ngồi dậy thì "Đức Phật nói mình đứng dậy, ngồi dậy, mình đâu được nằm, nếu mình nằm là những cái kẻ mộng mị". Người bệnh không có được nằm, nếu mà nằm như vậy là mũi tên phiền lụy sẽ đốt cháy các ông, đừng có để cho ác ma biết được cái tâm các ông phóng dật, cõi luân hồi địa ngục các ông sẽ chui vào. Đức Phật biết được cái tâm tư của con nên ngài cho con bài pháp đó, bài kinh đó, tự nhiên trong con bừng tỉnh lại và cứ vậy con đi thì mấy cô hỏi "ủa con mới bệnh đó mà sao mới hết mau dữ vậy". Con kêu "Phật cho thuốc này là thuốc pháp vi diệu lắm, vi diệu vô cùng".
Con cũng cảm ơn quý thầy đã cho con đóa hoa bất tử mà đến bây giờ vẫn chưa chết, nó vẫn còn y nguyên. Con mong rằng con trên đường tu tập của con sẽ đi đến cửa bất tử như vậy và không bao giờ tái sanh nữa và đó là những lời chia sẻ và thực hành của con trong thời gian qua. Có gì mà con nói chưa đúng thì xin quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và chư hiền trí chỉ dạy thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô Huệ Lý: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con cung kính đảnh lễ trên sư phụ, con cung kính đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng, chư tôn thiền đức Ni cùng chư vị hiền trí, hiền thiện. Dạ con kính bạch trên sư phụ hôm nay con được sự cho phép trên sư phụ chia sẻ những tâm đắc, những lợi ích trong khi học kinh Nikāya. Khi con học vào kinh Nikāya được nhìn thấy ngũ uẩn con thấy rất ngao ngán, rất khiếp sợ, rất run sợ, rất ê chề với cái thân tứ đại này, với cái năm uẩn này tại vì lúc nào nó cũng thể gây ra ác bất thiện pháp nên khi con chiêm nghiệm bài kinh tâm hiền:
Người tu tâm thật là hiền
Trong ngoài thanh tịnh
Nụ cười bình yên
Người tu tâm thật là yên
Thọ hiền tỏa sáng
Yên vui rạng ngời
Khi con chiêm nghiệm bài kinh này thì con học, con tu tập theo hiền. Nói thì rất đơn giản nhưng nó rất khó tại vì mình hiện từ trong ý nghĩ, hiện từ trong hơi thở, nếu hơi thở nó động mạnh thì cũng làm cái tâm mình nó động. Khi mình tu tâm hiền hơi thở mình cũng được nhẹ nhàng, ý nghĩ của mình cũng hiền thiện, không nhìn ra bên ngoài, vì không nhìn ra bên ngoài nên mình không tạo nghiệp, khi nhìn ra bên ngoài thì mắt xúc, thọ, tưởng, hình đã khởi và những ác bất thiện pháp đều theo đó khởi lên, hiếm khi được những cái tâm hiền thiện. Tại vì bản tính của con là một người không hiền, con thật tâm đắc, con thật lợi ích khi con tu tâm hiền thì con nhìn thấy mình được hiền ra ngay trong cái ý nghĩ, hiền ra ngay trong cái hơi thở, hiền ra khi đi khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi nghe, khi thấy. Nếu một ý tưởng bất thiện khởi lên thì ngay đó con đã quay về với tâm hiền, con cứ dạy tâm mình tất cả đều là vô nghĩa, chỉ có thực hành pháp mới là cái mình cần làm nên con cứ dạy tâm con mỗi ngày, mỗi ngày.
Con thấy tâm mình hiền ra, hiền ra từ lời nói, hiền ra từ suy nghĩ, hiền từ bước đi và mỗi khi những cái tâm bất thiện khởi lên thì con đã lấy tâm hiền đánh ngay. Tại vì hằng ngày cứ nhìn vào ngũ uẩn, nhìn nó sanh khởi, một cái pháp nó xúc là thọ; tưởng; hành đi theo, tùy theo pháp đó thiện hay ác, con thấy con thật kinh hãi, thật khiếp đảm tại vì nó nhanh đến nỗi mình không thể tưởng tượng được, mắt xúc là thọ; tưởng; hành vận hành liền nên hằng ngày con bớt cái duyên xúc bên ngoài, con cố gắng tu tâm hiền, ngày nào con cũng nhắc tâm mình phải hiền và con cố gắng, cố gắng rất nhiều. Nhiều khi con quán tưởng về cái tâm hiền rộng lớn, tâm hiền vô lượng, tâm hiền thương tất cả mọi người dù người đó giàu hay nghèo, người mạnh hay người bệnh, người hiền hay người ác và tất cả chúng sanh đến cây cỏ con tập tâm mình trải rộng ra thương hết tất cả.
Mặc dù con đang tu tập thì con tiến bộ từng ngày từng chút, con chưa được hoàn thiện nhưng con thấy tâm mình có sự yêu thương, có sự hiểu biết, có sự thông cảm, có sự chia sẻ và cái tâm con càng ngày thấy nó càng an tịnh, lắng dịu hơn và nó được tỉnh giác hơn trong khi đi, đứng, nói, nín. Con thấy con tỉnh giác hơn nhờ con tu tâm hiền nên con mới được an tịnh, mỗi lần căn bệnh nổi lên thì con cũng tập con kêu, ví dụ con hay bị mệt tim thì con kêu tim an tịnh, lắng dịu, tim hiền ra. Cái sự an tịnh, lắng dịu con cũng rất tâm đắc vì mỗi lần con có cái gì dao động ở trong tâm thì con cũng tập an tịnh, lắng dịu nên tâm con nó an tịnh, lắng dịu lại kể cả bệnh đau, khi tim con nó nhói, nó đau thì con cũng kêu tim an tịnh, lắng dịu thì nó cũng dần dần bớt nỗi đau và nó nhẹ nhàng hơn.
Đây là sự tu học tâm và tâm an tịnh lắng dịu của con, con bạch trên sư phụ, con thưa toàn thể chư tôn thiền đức trong khi con chia sẻ con có một bản ngã nào, con có một cái sự khoe khoang nào thì con xin trên quý ngài thương tưởng con vì con đang tu học chỉ cho con để con hoàn thiện mình và tiến được đến gần với sự giải thoát. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Thầy Thiện Huệ: Đức Thế Tôn là bậc an tịnh, ngài thuyết giảng giáo pháp để đưa chúng sanh đến an tịnh cho nên trong đạo tràng Nikāya chúng ta tuyệt đối phải giữ sự an tịnh, lắng dịu.
Nay con xin tập hạnh tâm hiền, hiền lành, lắng dịu chẳng phiền ai. Dễ chịu, dễ thương và dễ mến, dễ bảo, dễ nghe pháp thánh hiền. Nãy giờ quý thầy, quý cô chia sẻ chúng ta nhắc rất là nhiều về cái tâm hiền, tâm an tịnh, đây cũng là pháp hành rất, rất là quan trọng trong đạo tràng Nikāya chúng ta và đối với tự thân của mỗi hành giả, chúng ta cố gắng ghi nhớ, giữ gìn để mà thực hành.
Sư cô Khánh An: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật ngũ uẩn con kính bạch trên sư phụ, ngũ uẩn con kính bạch trên các chư vị tôn giả và tất cả các chư vị hiền giả được sự cho phép của sư phụ con cũng được xin chia sẻ về vấn đề tâm đắc trong quá trình tu học về kinh Nikāya. Quá trình tu tập và hành trì theo kinh Nikāya thì trước tiên khi con được học nhận diện ngũ uẩn và con luôn luôn đem tâm mình về với thân thì từ đó con luôn luôn tâm sự và nói chuyện với tâm mình, cũng như nãy giờ quý vị ở đây đã thấy tâm mình an tịnh, lắng dịu, từ sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu đó nên lúc nào con cũng luôn luôn tâm sự và nói chuyện với tâm con.
Khi tâm sự nói chuyện với tâm thì con luôn nhắc nhở, khi mắt tiếp xúc với một cảnh đẹp thì con luôn nhắc với tâm cảnh đẹp đó chỉ đẹp chút xíu thôi nhưng nó là vô thường, nhớ nghe tâm, nó là vô thường, nó sẽ biến hoại, nó sẽ biến đổi bởi vậy tâm đừng có mê, đừng có chấp, đừng có tham vào đó nha. Trong quá trình thực hiện con có một câu thần chú, đại chúng có muốn nghe con nói câu thần chú đó không ạ? Khi tâm con tiếp xúc với những vấn đề mà mình thấy là nó chưa có hài lòng, nó chưa có được hay là mình thấy cái vấn đề đó sẽ dễ dàng đưa đến một cái lỗi của mình thì từ đó cái câu thần chú của con đọc ra là "án xa ra… án xa ra… án xa ra… án xa ra… án xa ra".
Con sẽ đọc ba lần như vậy thì tự động cái tâm của con sẽ không có tiếp xúc, không có thích, điển hình như khi mỗi lần con đi khất thực xuống nhà bếp thì khi mắt con nhìn thấy món thức ăn đó, ở trên bàn rất là nhiều món nhưng khi con tiếp xúc cái món mà trong tâm khoan khoái, thích thú của con thì con vẫn phóng về cái món mà con đang thích nhưng mà khi gần đến thì tự động con răn nhắc cái tâm con "nhớ nha, án xa ra… án xa ra". Con nghe những lời mời mọc của các cô nhà bếp là "sư ơi cái món này nó nhiều, cứ dùng thêm đi, cứ gắp thêm đi", mình biết rồi nhưng mà con vẫn phải kiềm chế cái tâm của mình, con nhắc cái tâm của mình lấy vừa đủ thôi, lấy vừa ăn thôi để còn những vị kế tiếp đi sau mình nữa.
Trong quá trình thực hiện để nói với tâm mình thì khi con gặp một cái vấn đề ham thích hay là buồn bã như thế nào thì con vẫn luôn nói với tâm là "tâm ơi cái ngũ uẩn này nó vận hành rắc rối lắm, nó không theo một cái chiều hướng nào hết, khi thì nó bình lặng, khi thì nó muốn nổi sóng, nó muốn nổi phong ba bởi vậy tâm ơi hãy điều phục thân". Nhưng mà nói thì nói như vậy chứ mình cũng điều phục thân mình một phần nào thôi chứ không thể là điều phục toàn bộ được, có một lần bác sĩ về tại Linh Quy Pháp Ấn khám bệnh thì bác sĩ nói là sức khỏe của sư rất tốt nhưng vẫn có nguy cơ gan nhiễm mỡ, từ cái chỗ con biết được là gan con nhiễm mỡ và bản thân gia đình con cũng có truyền thống cao huyết áp thì từ chỗ đó con cũng hạn chế trong cách sinh hoạt, ăn uống thì con cũng luôn rất cẩn thận. Nhưng mà con nhận thấy là khi mình huấn luyện, mình tâm sự, mình nói chuyện với nó thường xuyên thì cái tâm mình sẽ bớt phóng dật, nó sẽ bớt đi ra ngoài nhiều hơn tại vì luôn luôn lúc nào mình cũng quay về mình nhắc nhở "tâm ơi phải ráng nha, phải nhìn nhận ngũ uẩn một cách sâu sắc nha".
Phải biết nó, phải hiểu nó và biết nó đang vận hành như thế nào để từ đó mình mới phá được, mình mới đập tan nó được. Mỗi ngày mình đều soi gương, tại sao mình không soi lại nhìn chính tâm của mình, không nhìn nhận chính cái tâm này nó là một cái tâm hoang vu, một cái tâm rừng rú. Bởi vậy có khi nó rất dễ nổi loạn, con cũng nhận thấy trong quá trình học về kinh Nikāya thì con thấy quay về với tâm làm cho con dễ học, dễ hiễu và cái tâm nhu nhuyến này nó cũng dễ được nương theo những lời kinh, những lời giảng mà sư phụ thường hay giảng cho những ngũ uẩn ở đây nghe. Và lúc nào khi mới vừa mở mắt buổi sáng là con đã luôn luôn nhận diện ngũ uẩn trên thân này liền, những cảm thọ lúc đó rất là dễ chịu sau một đêm mình được an nghỉ thì cái tinh thần của mình cũng rất thoải mái, những cái hình bóng luôn luôn quay về với con đó là một buổi học trong suốt ngày hôm qua để con ghi nhớ, để con đem vào tâm mình và những cái suy nghĩ của con là làm sao để mình học hiểu và hành trì được những lời Đức Phật dạy.
Cái thức của con lúc nào con cũng rõ biết những điều đó để khi thân và tâm luôn luôn ở một nơi để lúc nào sự hành trì pháp và thực hành pháp cũng luôn luôn sẽ được trọn vẹn hơn. Đó là những điều mà con rất tâm đắc trong quá trình con tu học về kinh Nikāya, trong lúc chia sẻ nếu con có những lời nói chưa được êm dịu hoặc là có những vấn đề con chưa chiêm nghiệm tới thì con cũng xin trên sư phụ, quý thầy cùng tất cả các chư vị Ni và tất cả các chư vị hiền trí có mặt ở đây hoan hỉ cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Pháp Định: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính trên sư phụ, con cung kính trên chư tôn hiền đức tăng ni cùng các chư hiền trí. Sáng nay đầy đủ nhân duyên được trên sư phụ chỉ dạy cho phép con có ít phút chia sẻ với đại chúng về cái sự tâm đắc tu học trong thời gian vừa qua thì con nhớ lại đúng thời điểm này năm trước, đúng vào ngày này thì con được sư phụ từ bi thương tưởng cho xuất gia, học và thực hành đời sống phạm hạnh theo chân của chư Phật và thánh chúng thì cảm thọ của con đến sau một năm cũng vẫn có cái cảm thọ như ngày xưa, như khi con được xuất gia, vẫn là rất là hoan hỉ, hân hoan, thậm chí là cái tâm mê của con nó luôn nhắc con, nó không có chấp nhận về chuyện con đã được xuất gia mà nó luôn nhắc con "chuyện đó là đang mày đang mơ đó".
Như các chư tôn thiền đức Tăng Ni ở đây thì được xuất gia khi tuổi đời còn trẻ, nhiệt huyết, sung mãn, con thì gần năm mươi tuổi con mới được sư phụ làm lễ tế độ cho xuất gia. Tuy thời gian trễ khi mà đi vào đời sống tu tập nhưng con vẫn thấy đây là một cái ơn huệ rất là lớn, to lớn cho con, một cái phước báo thù thắng cho con và con biết ơn về điều này, rất biết ơn về điều này. Hòa với cái dòng cảm thọ hôm nay trong cái sự hoan hỉ thì con xin chia sẻ với đại chúng về một cái chủ đề mà con nghĩ là rất cần thiết cho người mới được bước vào con đường tu tập như con đó là sự cái tầm quan trọng của cái sự hỉ lạc trong cái đời sống tu tập. Con nhớ lại cái bài kinh Khó Làm trong Tương Ưng Bộ kinh tập IV.
"-- Này Hiền giả Sàriputta, trong Pháp luật này, cái gì là khó làm?
-- Xuất gia, này Hiền giả, là điều khó làm trong Pháp luật này.
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, cái gì là khó làm?
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, hoan hỉ (abhirati) là điều khó làm.
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỉ, cái gì là khó làm?
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỉ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp.
-- Có lâu không, này Hiền giả, một người đã thực hành đúng pháp và tùy pháp có thể thành vị A-la-hán?
-- Không lâu, này Hiền giả" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương IV. Tương Ưng JambukhàdakaXVI. Khó Làm)
Một số cái bài kinh con được nghe bậc đạo sư và sư phụ chia sẻ thì con cũng thấy cái sự hoan hỉ, cái sự hỷ lạc trong pháp rất quan trọng, nó đưa đến những cái quả vị cho một người tu tập, như Đức Phật sau khi ngài sống khổ Hạnh thực hành cái pháp Khổ Hạnh không có kết quả thì ngài đã hướng tới sự hỉ lạc trong thiền định và đã chứng được tam minh. Con cũng lên tưởng đến sự hỷ lạc cũng giống như một cái máy bay khi bắt đầu nó cất cánh, cái động cơ phản lực mạnh mẽ sẽ đưa cái máy bay cất cánh lên không trung và ngược lại nếu không có cái sự hoan hỉ trong sự tu tập thì cũng giống như cái may bay chuẩn bị hạ cánh xuống đường băng và nó dừng lại, kết thúc một cái hành trình. Con cũng có thời gian sống ngoài thế tục cũng tương đối lâu thì con cũng thấy đời sống thế tục cũng rất cần cái sự niềm vui, cái sự hoan hỉ để sống, thì cũng vậy đời sống tu tập cũng rất cần cái sự hoan hỉ, cái sự niềm vui trong pháp để có cái sự tăng thượng, sự tiến tu.
Con cũng tư duy, suy nghĩ vậy nó có cái sự sai khác gì giữa cái niềm vui của thế tục và niềm vui trong tu tập, nếu cái niềm vui của thế tục là cái sự ăn, ngủ, hưởng các dục lạc, sự phát triển trong các mối quan hệ và những cái sự đó nó đều dẫn đến cái sự tham dục và ái, như Đức phật nói thì đó là cái quả, cái con đường dẫn đến đau khổ. Còn với người tu thì con nhớ đến ngày đầu tiên con được sư phụ và quý thầy cho đảnh lễ, trong đảnh lễ bốn dự lưu phần thì có đảnh lễ thánh pháp ly tham tối thượng thì lúc đó con cũng chưa hiểu thánh pháp ly tham là thánh pháp gì. Sau này khi được đọc kinh con với hiểu trong một bài kinh Đức Phật có nói là không có một cái pháp nào tối thắng, tối thượng bằng cái pháp ly tham vì vậy người tu chắc chắn phải thực hành cái pháp ly tham tối thượng này.
Đời sống của người tu khi trong một năm qua con được thực hành, được học tập thì con thấy đó là cái đời sống hiểu dục tri túc, ít muốn biết đủ, đời sống viễn ly, sống một mình. Đời sống mà thức sớm rồi ăn ít, rồi đời sống luôn hoan hỉ khi thực hành pháp, học pháp và con cũng không có cái nhân duyên lớn tu học nhiều với đại chúng để hưởng được cái sự hỷ lạc trong hội chúng tinh ba nhưng con bên làng tu cũng đã tìm cho mình được những cái đời sống tu tập mang đến cái hỷ lạc, đó là trong cái sự lao tác. Nhưng con cũng suy nghĩ làm sao để được cái sự hỷ lạc này kéo dài thì con nhớ đến một cái bài pháp của bậc đạo sư có nói, đó là cái sự cân bằng trong cái sự tu tập, không phải là lúc mình tinh tấn, mình cảm thấy hoan hỉ thì mình lên mình ngồi thiền cả, ngày mình học pháp mà không có làm một cái lao tác gì. Bậc đạo bảo đó không phải là cái sự tinh tấn mà sự tinh tấn ở đây đó là giờ tu thì lên tu, giờ nghe pháp thì lên nghe pháp và cái cuối cùng con nghĩ đó là cái sự cố gắng giữ được cái giới, họ trì cái giới đức trọn vẹn nhất có thể.
Qua đây là một số cái chia sẻ của đệ tử con vì thời gian cũng không có cho phép nhiều thì đệ tử con đang trên cái bước đường tu học, chưa biết rõ cái thân tâm của mình nên không tránh khỏi những cái lỗi lầm khi nói, khi chia sẻ với đại chúng. Rất mong đại chúng từ bi, hoan hỉ tha lỗi cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Thiện Huệ: Con kính thưa các chư vị hiền trí, trong buổi chia sẻ tâm đắc sáng nay chư hiền chúng ta có mấy điểm cần phải ghi nhớ và thực hành. Đầu tiên chúng ta phải thực tập, nhất là các vị mới cũng như các vị đã tu học lâu năm những cái pháp này rất là căn bản, rất là quan trọng là phải thực tập cho được ba pháp quay trở về nhận diện lại thân tâm của mình, tức là nhận diện ngũ uẩn. Chúng ta nhìn vào trong cảm thọ để chúng ta thấy được tham, sân, si trú ẩn ở trong ba cảm thọ, trong cảm thọ dễ chịu có tham, dục, ái, trong cảm thọ khó chịu có sân, trong cảm thọ không khổ không lạc, không dễ chịu không khó chịu thì có si và chúng ta sẽ dùng những cái phương pháp thích hợp để đánh đuổi, nhiếp phục, đối trị, diệt tận những cái tham, sân, si bằng cách như tham dục chúng ta phải dùng quán bất tịnh để đối trị, sân hận dùng cái tâm từ, tâm mà si mê, vô minh chúng ta tu tập trí tuệ bằng cái sự tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, an trú trong cái niệm tử, niệm chết, quán vô thường, quán những cái cảnh tai nạn giao thông chết chóc, động đất, sóng thần, thiên tai, lũ lụt sẽ đến với mình bất cứ lúc nào.
Mình đánh phá đi những cái cảm giác đơ đơ, trơ trơ, trì trệ, hôn ám, cảm giác không có tinh tấn tu học. Khi chúng ta nhận diện được ngũ uẩn rồi chúng ta cố gắng an trú trong cái Tâm an tịnh, lắng dịu, trong cái tâm hiền thiện, tâm an tịnh, lắng dịu và tâm hiền. Tâm hiền là chúng ta tu tập một cái cảm thọ bên trong có sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu bên trong được thể hiện ra những cái hành động, những cái lời nói thậm chí từng suy nghĩ bên trong của mình để cho nó an trú vào cái tâm hiền, cảm giác hiền thiện, dễ chịu, lắng dịu, dễ thương. Nhất là các vị mới chúng ta tu thời gian dễ có những cảm giác buồn buồn, chán chán, nản nản.
Như thầy Pháp Định mới chia sẻ thì chúng ta phải khéo, nhất là các vị mới cũng như các chư hiền, các vị đã tu lâu vẫn thường xuyên tác ý tu tập cái tâm hỷ lên rất là nhiều để mình cảm nhận được cái pháp thánh pháp nó thiêng liêng, nó thần thánh, nó hoan hỉ, nó khoan khoái, nó thích thú trong sự tu học để mình đánh phá đi những cảm giác đơ đơ, trơ trơ, trì trệ, những cảm giác buồn buồn, nản nản, chán chán, ngán ngán, đánh phá những cảm giác đó. Cho nên Đức Phật dạy con cưng của ngài La-hầu-la hãy tu tập tâm hỷ tức là tâm vui để diệt trừ những cái tâm buồn phiền không có vui, đó là những cái pháp hành đầu tiên căn bản rất là quan trọng là các vị mới chúng ta chú ý để tâm học hỏi và hành trì.
Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức giấc ta có thêm ngày nữa yêu thương, thêm một ngày tu tập pháp lành, thêm một ngày vun trồng phước đức, thêm một ngày lan tỏa tình thương.
Tâm thương này tỏa rộng tâm
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
–Thích Minh Thành–
Sư Phụ: Cảm nhận cơ thể, mở mắt ra đừng có nhắm mắt, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, cảm nhận sự ra sáng rực của đôi mắt, cảm nhận sự trong sáng, tinh minh của ánh mắt, ánh nhìn. Cảm nhận gò má, cảm nhận đôi môi, cảm nhận hơi thở, cảm nhận sự dễ chịu trên đôi môi, ánh mắt và khuôn mặt. Cảm nhận cảm giác dễ chịu từ đỉnh đầu, hai lỗ tai, bờ vai, dễ chịu, sự lắng dịu của thân và tâm, cảm nhận cảm giác của hai cánh tay, bàn tay, ngón tay và lòng bàn tay, cảm nhận lưng, xương sống, cảm nhận mông, chân, ống chân, bàn chân, ngón chân. Cảm nhận sự an tịnh từ đảnh tóc cho tới gót chân, cảm nhận sự lắng dịu, sự dễ chịu của tâm.
Thật là dễ chịu khi được trở về núi để ngồi yên, thật là lắng dịu trong vùng đất này, trong không gian an tịnh này, trong vùng trời đất rộng lớn này. Đôi mắt thật là dễ chịu, thật là sáng tỏ, gò má thật là dễ chịu, thật là lắng dịu, cả khuôn mặt giờ này thật là dễ chịu, đôi môi giờ này thật là dễ chịu, hé nở một nụ cười nhẹ. Toàn thân nhờ này thật là lắng dịu, thật là dễ chịu, không khí núi rừng này thật là trong lành, thật là mát dịu, thật là hoan hỉ khi được trở về non thiêng, thật là vui vẻ khi được ngồi yên, thật là hạnh phúc khi được tu học nơi xa vắng như vầy. Từ trái tim lan tỏa ra một cảm giác dễ chịu khắp lồng ngực, lan tỏa ra khắp bộ não, khắp châu thân.
Thầy Thiện Huệ: Bây giờ miệng mỉm cười, nụ cười trong an lạc, nhẹ nhàng cùng gió mát, hạnh phúc của tâm an nếu chúng ta biết an trú trong giờ phút hiện tại.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng toàn thể chư vị hiền trí, được sự chỉ dạy trên sư phụ sáng nay đạo tràng chúng ta có một buổi chia sẻ tâm đắc tu học Nikāya, chúng ta sẽ được nghe những lời của quý thầy, quý chư Ni chia sẻ những cái tâm đắc qua những lời dạy gốc của Đức Phật ở trong kinh tạng Nikāya, từ đó chúng ta hiểu và thực thành, chúng ta sẽ cảm nhận được pháp của Đức Phật rất là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, không có trải qua thời gian và người trí tự mình giác hiểu.
Tất cả đệ tử của Đức Phật gặp nhau chỉ có hai điều thôi, một là im lặng đúng như chánh pháp, hai là nói năng đúng như chánh pháp, gặp nhau chỉ thiền định, thiền quán, học pháp, nói pháp, pháp đàm chia sẻ pháp với nhau. Tại vì những việc làm này sẽ liên hệ đến mục đích của chúng ta tu học, liên hệ đến lợi ích của chúng ta tu học.
"Ðệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Tưởng Chánh Pháp thường niệm"
(Kinh Pháp Cú 21 – Phẩm Tạp Lục, kệ 297)
Vào giờ này con kính mời toàn thể các bậc hiền trí chúng ta lắng nghe quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô sẽ chia sẻ tâm đắc tu học cho quý vị. Con thỉnh quý thầy chúng ta chia sẻ trước sau đó lần lượt được tới quý Ni sư, sư cô.
Thầy Pháp Tâm: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên chư tôn thiền đức cùng chư hiền trí. Sáng hôm nay vì lòng thương tưởng được sư phụ chỉ dạy cho chúng con được chia sẻ tâm đắc tu học, sáng hôm nay con xin được chia sẻ về sự tâm đắc trong việc thực hành, trong việc nhìn nhận, quán chiếu về thân tâm, đó là nhận diện trí tuệ về ngũ uẩn. Trí tuệ về ngũ uẩn chính là trí tuệ về thân tâm và chính tự thân, trí tuệ về vũ trụ, trí tuệ thế giới, trí tuệ thực thấy thực biết nơi chính trong năm uẩn, năm nhóm, năm tổ hợp được vận hành trong sự vô minh, trong khát ái do không có đủ trí tuệ để nhìn thấy. Và hôm nay được nhận được, thấy được, nương nơi bậc Chánh Đẳng Chánh Giác truyền trao trí về ngũ uẩn, trí về tự thân cũng là trí về chân lý, về sự thật.
Đó là khi mà nhìn nhận thì có bốn điều mình nhìn nhận và thấy được, thứ nhất đó là thấy được năm uẩn là năm uẩn trong tự thân về sắc, về thọ, về tưởng, về hành và về thức, về thân và về tâm cụ thể ra từ năm nhóm, năm tổ hợp, tập hợp, không xem nó là một cái tổ hợp, một khối vững chắc, một khối kiên cố, một khối tổng hợp mà khi được thấy được biết về trí ngũ uẩn thì nó được phân tách, được nhìn thấy rõ là năm nhóm, năm tổ hợp, cấu tạo thân tâm, cấu tạo nên thế giới, tạo nên thế giới vật chất và tinh thần này.
Trí tuệ thứ hai khi mình nhìn nhận mình sẽ phân loại được trong nhóm đó nhóm sắc uẩn là do tứ đại đất, nước, gió, lửa. trong thọ uẩn cảm giác có ba loại cảm giác, cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Khi mình học được trí về ngũ uẩn trí về sắc, trí về thọ mình sẽ phân biệt được trong thân này gồm có đất, nước, gió, lửa, trong cái những cái cảm giác, những cái cảm xúc mình bao gồm tổng hợp lại thì có ba loại cảm giác, cảm thọ. Và nhìn sâu ở trong nội tâm thì thấy có những cái hình bóng, những cái suy tưởng, những cái suy tư, những nghĩ ngợi, những cái bóng dáng hiện khởi trong tâm thì đây là tổ hợp của những hình bóng và tổ hợp của những suy nghĩ. Và trong thân này nó có sự rõ biết, có sự thấy biết trong và ngoài sáu trần, đó là đó là thức uẩn, là tổ hợp của những cái rõ biết, rõ biết cảnh, rõ biết âm thanh, rõ biết mùi, rõ biết sự xúc chạm, rõ biết vị, rõ biết được các pháp trong nội tâm thọ; tưởng; hành đang vận hành, đang sanh khởi, sanh diệt ở trong nội tâm.
Đó là những cái tổ hợp, khi nhận diện ngũ uẩn sẽ thấy có trí về ngũ uẩn sẽ thấy được sự vận hành, tên tuổi rõ ràng của từng uẩn một, được nhìn nhận, thấy biết nơi chính tự thân và tự tâm của chính mình cũng chính là năm uẩn, năm nhóm tổ hợp. Sau khi biết được tên tuổi, phân loại nó rồi nhìn nhận ở bên trong nó sự điều khiển, sự chi phối, cái guồng máy, cái cấu trúc để cho sự vận hành của sắc này hoạt động sự, vận hành của thọ này, tưởng này, hành này và thức này nó là gì. Nó là sự chi phối bởi sự thúc giục ở bên trong nội tâm, sự yêu thích, sự dính mắt ở bên trong nội tâm, tham ái, sân hận, khó chịu, bực bội, ganh tỵ, tật đố, si mê và thấy ta tôi, hơn thua, tranh đấu. Đó là cái chất và cái bộ máy, cái nguồn cơn để nó sanh khởi, để nó vận hành, nó làm cho năm uẩn này sanh khởi, sanh diệt và khi nhìn thấy được thì mình biết, mình thấy nó sanh và nó diệt, nương nơi cái thánh trí tuệ của Đức Phật truyền trao, thấy được sự sanh sự diệt của sắc, sự sanh sự diệt của thọ, của tưởng, của hành, của thức.
Năm uẩn này là pháp duyên sanh, là sự kết hợp, sự cấu tạo, sự lắp rắp, sự kết hợp nên nó sanh khởi lên, nó vận hành và nó hoại diệt. Vì đó là pháp duyên sanh, có duyên sanh thì sẽ có duyên diệt, có sanh và có diệt, do sanh diệt nên nó vô thường. Trong nhiều bài kinh Đức Thế Tôn hỏi quý thầy sắc là thường hay vô thường, tất cả vị Tỳ-kheo đều bạch Đức Thế Tôn "Thưa Thế Tôn sắc là vô thường", các ngài thấy được duyên sanh và duyên diệt, do nhân duyên, do sự lắp ráp, do sự kết hợp mà nó tạo thành. Cũng từ sự lắp ráp này, kết hợp này khi nó không còn đủ nhân đủ duyên, khi duyên hết nhân hết thì sẽ diệt đi, sẽ chấm dứt, bởi vậy sắc là vô thường, thọ; tưởng; hành; thức là vô thường.
Bởi vì nó vô thường, nó biến đổi như vậy nhưng cái tâm si mê, cái tâm chấp ngã, cái tâm khát ái, cái tâm nắm giữ của chính tự thân mình, đó là một cái tâm bị ô nhiễm, bị uế nhiễm, bị mê lầm, bị điên đảo, bị cái thấy cái biết không đúng đắn, lộn lạo, ngược ngạo nên mình thường cho năm uẩn này thường còn. Bởi vậy khi mà nó biến đổi tâm mình sẽ bị phiền não, bị khổ đau sanh ra sầu, bi, ưu, não than van, khóc lóc, đau khổ, sự trầm luân ở trong những cái cảm thọ thống khổ do nó không như cái sự mong muốn, như cái sự nhìn thấy biết sai lầm đó. Ngũ uẩn là nó phiền não và nó khổ đau nên là phiền não, khổ đau như vậy thì mình không nên dính mắc, không nên trói buộc vào trong đó.
Đức Phật cũng hỏi các vị Tỳ-kheo khi năm uẩn này là vô thường, cái gì vô thường, là khổ hay lạc? Tất cả các vị Tỳ-kheo đều bạch với Đức Thế Tôn cái gì vô thường là khổ, do nó vô thường, biến đổi mà tâm si mê nên khi nó biến đổi tâm mình không chấp nhận, không thấu hiểu, do sự không thấy không biết, do cái tâm mê lầm, do cái tâm điên đảo, do cái tưởng sai lầm, lộn lạo nên gây nên những khổ đau cho chính tự thân mình, cho chính những người mà mình cho là người thương, người thân, người yêu, người quý, người ơn mà khi bị những cái sự vô thường biến đổi này sanh khởi, sự chấp trước này nó có mặt thì phiền não, khổ đau nó có mặt. Khi thấy được khổ rồi thì Đức Phật cũng hỏi các hàng Tỳ-kheo rằng năm uẩn này là vô thường, là khổ như vậy thì có hợp lý chăng nếu các ông cho rằng cái này là tôi, cái này là của tôi, cái này là tự ngã của tôi thì tất cả vị Tỳ-kheo, các bậc chân nhân đều thưa với Đức Thế Tôn rằng "thưa không bạch Thế Tôn".
Mình đi vô cái một cái lò lửa với đi vô một cái nhà máy lạnh mình thích đi vô cái nhà nào hơn ạ? Tất nhiên là máy lạnh, đều tốt đẹp, mình không thích sự khổ nên mình sẽ thấy sự khổ của năm uẩn này nên mình không cho đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi nên tâm sẽ buông bỏ, sẽ không có chấp trước, sẽ không có dính mắc. Đó là những cái sự tâm đắc trong thời gian vừa qua, suy tư, chiêm nghiệm và thấy biết được, khi mình có đầy đủ trí về ngũ uẩn, đầy đủ sự nhìn nhận nội tâm và khi học thì Đức Phật sẽ đưa cho mình những cái phương pháp, những cách thức để mình có thể thoát khỏi những cái sự phiền não, khổ đau cũng như thấy rõ sự vô thường, biến đổi, sanh diệt, guồng máy của năm uẩn. Con xin kính bạch trên quý thầy và đại chúng trong thời gian chia sẻ có điều gì sơ suất, kính mong trên quý ngài từ bi, hoan hỉ chỉ dạy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính đảnh lễ trên sư phụ, con cung kính đảnh lễ chư tôn thiền đức Tăng Ni và chư vị hiền trí. Được sự chỉ dạy của sư phụ sáng nay con xin chia sẻ về chủ đề tâm đắc tu học Nikāya và cái tâm đắc của con là tâm hiền. Con thấy rất lọi lạc đối với tự thân của con đem lại nhiều thay đổi trong tự thân con, con tu tập tâm hiền con thấy thân tâm con được thay đổi, thân được an tịnh trong đi, đứng, nằm, ngồi, không bị thúc giục mà nhẹ nhàng, có sự kiềm chế, khiêm nhường, còn về thân, về tâm được lắng dịu, các cảm thọ được dễ chịu. Tâm hiền là bước đầu căn bản của một người tu, của một người đệ tử của Đức Phật, Đức Phật là một người rất hiền từ, chúng ta là người đệ tử của Đức Phật thì phải hiện từ giống Đức Phật, vì chúng ta không hiền từ thì khi người khác nhìn vào Đức Phật, nhìn vào hàng đệ tử họ sẽ đánh giá, họ sẽ phỉ báng, họ sẽ so đo tại sao con của Đức Phật mà không dùng Đức Phật.
Tâm hiền từ là một nét đẹp của người tu, là giới đức, giới hạnh, là diệu hạnh, là một trong những bốn cái yếu chỉ để làm đệ tử của Đức Phật. Người đời họ đẹp vì họ đam mê ở vật chất, còn con thấy chỗ người tu đẹp là phải hiền từ, hiền lành, hiện đức, đó là nét đẹp đối với tự thân con. Khi tu tập tâm hiền con thấy những cái cảm thọ khó chịu bị nhiếp phục, bị chế ngự, những cái lời nói hay là những cái tâm dao động ở bên ngoài bị nhiếp phục, lúc con chưa tu thỉnh thoảng vẫn có những tâm sân nhưng khi con tu tập trong dòng pháp này thì cảm thọ con dễ chịu, tâm sân không phát triển mạnh và nó lắng dịu. Con thấy tâm sân chỉ có tâm hiền mới nhiếp phục và chế ngự được giống như trong phim Tây Du Kí có Hồng Hài Nhi phun lửa cả quả đồi, Tôn Ngộ Không đã nhờ Long Vương phun nước và nhưng cũng không dập tắt được, phải nhờ đến được Cam Lộ từ bi của Bồ Tát mới dập tắt được.
Với con tâm hiền cũng vậy, nhờ tu tập tâm hiền mà tâm sân, khó chịu bị nhiếp phục. Trong kinh ba Đức Phật nói thế nào là người hiền, người hiền là người nhiếp phục dục và tham, làm cho các cảm thọ lắng dịu, con cũng chiêm nghiệm và thực tập con thấy rất lợi lạc. Tâm hiền là tâm dễ chịu, dễ thương, dễ miễn và dễ học pháp để những tâm chống đối, tâm ganh ghét, tâm hẹp hồi bị chế ngự và mình học pháp nó dễ dàng. Tâm hiền nó nhiếp phục được tâm tham, sân, si, tâm thúc giục hướng ngoại ở bên ngoài, tâm hiền làm cho tự thân con được sống trong chúng được hài hòa, được nhu hòa, chấp nhận những cái điều của chúng quyết định.
Tu tập tâm hiền làm cho mọi người xung quanh cảm nhận được năng lượng của mình, cảm nhận được tình thương của mình. Con ví dụ giống như con ở Tăng xá, con nói chuyện và bình thường mà con không biết sao quý thầy cảm nhận được cái tâm từ, nói có được cái tình thương ấm áp, có được cái tình nghĩa của huynh đệ, có được cái sự ấm áp từ nơi con. Tâm hiền được biểu hiện ở nơi cung kính và oai nghi, giống như chúng ta cung kính đức Phật thì không chỉ cung kính ở trong tâm và phải cung kính ở nơi bàn thờ của Đức Phật phải trang nghiêm, phải sạch sẽ, phải gọn gàng, phải thoảng mát. Cũng vậy tâm hiền được biểu hiện qua tâm cung kính vì khi chúng ta cung kính thì khi đó tâm hiền xuất hiện và những ngã mạn, những tranh dành, hơn thua được nhiếp phục, được chế ngự.
Chúng ta cung kính tâm hiền ở đâu? Cung kính tâm hiền ở Đức Phật, ở pháp, ở Tăng, ở giới, ở cha mẹ, anh em, bà con, vợ chồng và các bạn đồng tu. Khi gia đình có được tâm hiền thì trên hòa dưới thuận, xã hội có tâm hiền thì được bình an và thế giới có tâm hiền thì được an lạc, không có chiến tranh xảy ra. Khi chúng ta tu tập tâm hiện biểu hiện qua tâm khiêm cung thì khi đó chúng ta cũng đã thực hiện được thanh quy của đạo tràng là năm khiêm hai khéo, khiêm nhường, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhã, khiêm cung và khéo léo xét lỗi mình, khéo phòng hộ căn. Vì khi chúng ta khiêm nhường, cúi đầu cung kính hay là cúi đầu là hành động đẹp để chúng ta diệt ngã và nét đẹp của người tu. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, trong quá trình con chia sẻ có gì sai sót xin trên sư phụ và quý thầy bỏ qua.
Ni sư: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng ni cùng chư vị hiền trí, Sáng nay được sự cho phép của sư phụ chúng con chia sẻ tâm đắc tu học kinh Nikāya, khi vô đây học kinh Nikāya con tâm đắc nhất bài kinh cần phải thường xuyên quán sát: Ta phải bị bệnh, ta phải bị già, ta phải bị chết. Khi mở mắt ra con nói "nhà ngươi phải bị bệnh, phải bị già, phải bị cháy", ngày nào con cũng răn nhắc như vậy nhưng có một bữa là ngày sinh nhật của con, từ nhỏ đến giờ con chưa bao giờ làm ngày sinh nhật, cái ngày hôm đó bất thình lình giống y là sự nhắc nhở quý thầy đã nhắc nhở cái tâm mê của con. Quý thầy cho con một cái bánh mà con nhớ lại là cái bánh mặt Đức Phật, mình phải từ từ nhâm nhi, chiêm nghiệm để cho nó ngấm, quý thầy cho con một bó hoa mà hoa này nó cũng ngộ lắm, không phải hoa bình thường mà là hoa bất tử.
Có nghĩa là quý thầy răn nhắc con là mình tu cái dòng pháp này để nhàm chán cái xác thân này để đi đến bất tử. Lúc đó cảm thọ trong con khởi lên một sự nhục nhã, ê chề bởi vì Đức Phật nói sự sanh này là khổ, lúc đó con mới nhìn ra "đây là khổ, khổ là đây, hôm nay nhà ngươi vui mừng với cái sinh nhật để tái sanh tiếp tục đời sau, để rồi tái diễn cái đau khổ à. Thật là một sự ê chề, nhục nhã" và con luôn luôn lấy cái sự sanh, già, bệnh, chết là một cái định tướng cho mình. Nhìn vào sắc thân này là một ổ bệnh tật, một ổ giòi bò, là một cái sự chết chóc, có một lần con đào một cái huyệt mộ và tự chôn mình xuống cái huyệt mộ đó thì lúc đó tự nhiên trong con nó lại bừng sáng lên, từ cái huyệt mộ đó vụt lên không trung và từ đó con thấy hiển lộ là tứ vô lượng tâm nó tràn khắp cả hư không. Lúc đó hai hàng nước mắt con ràng rụa "thì ra nhà ngươi đã chết bao lâu rồi, bao nhiêu lần như vậy rồi, người ta đã cho nhận ngươi bao nhiêu lần như vậy rồi".
Lúc đó con khởi lên cái lòng thương cho xác thân này và thương cho mọi người, tâm bi thương xót tất cả những vạn vật trong thế gian này. Trong đó nó không phải có một sự níu kéo, không có một sự liên tiếp thì trong đó cái hỷ lạc khởi lên tràn ngập không gian nơi đó. Cái định tướng đó nó đi theo con thì lúc đó con nhắc nhở đây là cũng là tưởng, cũng là thọ thôi, nó cũng là vô thường, không phải là của mình hãy từ bỏ nhưng mà ngồi đâu con cũng thấy một cái định tướng như vậy. Cái huyệt mộ và thân xác mình nằm xuống đó và một luồn ánh sáng từ huyệt mộ vụt lên không trung thì lúc đó thân thể của con nó trở nên nhẹ nhàng và nó an tịnh, nó an tịnh như vậy thì con mới nhìn lại cái cảm thọ của mình coi thử mình tu tâm hiền tới đâu rồi, người ta nói mình thế này thế kia coi thử mình có hiền không.
Lúc đó con hướng đến mấy vị khó chịu với mình con quỳ xuống, sụp đầu xuống đảnh lễ vị ấy và con quán tưởng là mấy vị đó là cha mình, là mẹ mình, là ông mình, là bà mình, là thầy tổ của mình tại sao mình đi sân hận với người ta. Nếu mình đi sân hận với người ta là mình trở thành đứa con bất hiếu, chính vì vậy mà con thực tập được cái tâm hiền rất là nhẹ nhàng và an tịnh. Con cũng có nhớ bài kinh Đức Phật nói người nào nghĩ mình không bao giờ bệnh thì người đó là kẻ ngu, không phải người trí và khi con nhìn lại thân mình là bệnh mà, là ung nhọt mà lúc đó con nhìn vào cái thân bệnh thì con thoát ra được là con không bệnh. Thân bệnh nhưng tâm không bệnh, thân thì bệnh thật đó nhưng cái bệnh tham, sân, si của con càng ngày nó càng muội lược, nó dần dần giảm dần và nó suy yếu đi.
Khi cái tâm mình hoan hỉ như vậy thì nó kéo theo cái thân không bệnh nữa giống như hồi bữa con đang ngồi thiền trúng gió, nó đau bụng, ói mửa thì lúc đó con mới chạy xuống mà thân thể nó rã rời hết mà trong con có sự học tập, nó thôi thúc trong con thì con lấy iPad mở ra thì có bài kinh Đức Phật nói là hãy đứng dậy, ngồi dậy thì "Đức Phật nói mình đứng dậy, ngồi dậy, mình đâu được nằm, nếu mình nằm là những cái kẻ mộng mị". Người bệnh không có được nằm, nếu mà nằm như vậy là mũi tên phiền lụy sẽ đốt cháy các ông, đừng có để cho ác ma biết được cái tâm các ông phóng dật, cõi luân hồi địa ngục các ông sẽ chui vào. Đức Phật biết được cái tâm tư của con nên ngài cho con bài pháp đó, bài kinh đó, tự nhiên trong con bừng tỉnh lại và cứ vậy con đi thì mấy cô hỏi "ủa con mới bệnh đó mà sao mới hết mau dữ vậy". Con kêu "Phật cho thuốc này là thuốc pháp vi diệu lắm, vi diệu vô cùng".
Con cũng cảm ơn quý thầy đã cho con đóa hoa bất tử mà đến bây giờ vẫn chưa chết, nó vẫn còn y nguyên. Con mong rằng con trên đường tu tập của con sẽ đi đến cửa bất tử như vậy và không bao giờ tái sanh nữa và đó là những lời chia sẻ và thực hành của con trong thời gian qua. Có gì mà con nói chưa đúng thì xin quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và chư hiền trí chỉ dạy thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô Huệ Lý: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con cung kính đảnh lễ trên sư phụ, con cung kính đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng, chư tôn thiền đức Ni cùng chư vị hiền trí, hiền thiện. Dạ con kính bạch trên sư phụ hôm nay con được sự cho phép trên sư phụ chia sẻ những tâm đắc, những lợi ích trong khi học kinh Nikāya. Khi con học vào kinh Nikāya được nhìn thấy ngũ uẩn con thấy rất ngao ngán, rất khiếp sợ, rất run sợ, rất ê chề với cái thân tứ đại này, với cái năm uẩn này tại vì lúc nào nó cũng thể gây ra ác bất thiện pháp nên khi con chiêm nghiệm bài kinh tâm hiền:
Người tu tâm thật là hiền
Trong ngoài thanh tịnh
Nụ cười bình yên
Người tu tâm thật là yên
Thọ hiền tỏa sáng
Yên vui rạng ngời
Khi con chiêm nghiệm bài kinh này thì con học, con tu tập theo hiền. Nói thì rất đơn giản nhưng nó rất khó tại vì mình hiện từ trong ý nghĩ, hiện từ trong hơi thở, nếu hơi thở nó động mạnh thì cũng làm cái tâm mình nó động. Khi mình tu tâm hiền hơi thở mình cũng được nhẹ nhàng, ý nghĩ của mình cũng hiền thiện, không nhìn ra bên ngoài, vì không nhìn ra bên ngoài nên mình không tạo nghiệp, khi nhìn ra bên ngoài thì mắt xúc, thọ, tưởng, hình đã khởi và những ác bất thiện pháp đều theo đó khởi lên, hiếm khi được những cái tâm hiền thiện. Tại vì bản tính của con là một người không hiền, con thật tâm đắc, con thật lợi ích khi con tu tâm hiền thì con nhìn thấy mình được hiền ra ngay trong cái ý nghĩ, hiền ra ngay trong cái hơi thở, hiền ra khi đi khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi nghe, khi thấy. Nếu một ý tưởng bất thiện khởi lên thì ngay đó con đã quay về với tâm hiền, con cứ dạy tâm mình tất cả đều là vô nghĩa, chỉ có thực hành pháp mới là cái mình cần làm nên con cứ dạy tâm con mỗi ngày, mỗi ngày.
Con thấy tâm mình hiền ra, hiền ra từ lời nói, hiền ra từ suy nghĩ, hiền từ bước đi và mỗi khi những cái tâm bất thiện khởi lên thì con đã lấy tâm hiền đánh ngay. Tại vì hằng ngày cứ nhìn vào ngũ uẩn, nhìn nó sanh khởi, một cái pháp nó xúc là thọ; tưởng; hành đi theo, tùy theo pháp đó thiện hay ác, con thấy con thật kinh hãi, thật khiếp đảm tại vì nó nhanh đến nỗi mình không thể tưởng tượng được, mắt xúc là thọ; tưởng; hành vận hành liền nên hằng ngày con bớt cái duyên xúc bên ngoài, con cố gắng tu tâm hiền, ngày nào con cũng nhắc tâm mình phải hiền và con cố gắng, cố gắng rất nhiều. Nhiều khi con quán tưởng về cái tâm hiền rộng lớn, tâm hiền vô lượng, tâm hiền thương tất cả mọi người dù người đó giàu hay nghèo, người mạnh hay người bệnh, người hiền hay người ác và tất cả chúng sanh đến cây cỏ con tập tâm mình trải rộng ra thương hết tất cả.
Mặc dù con đang tu tập thì con tiến bộ từng ngày từng chút, con chưa được hoàn thiện nhưng con thấy tâm mình có sự yêu thương, có sự hiểu biết, có sự thông cảm, có sự chia sẻ và cái tâm con càng ngày thấy nó càng an tịnh, lắng dịu hơn và nó được tỉnh giác hơn trong khi đi, đứng, nói, nín. Con thấy con tỉnh giác hơn nhờ con tu tâm hiền nên con mới được an tịnh, mỗi lần căn bệnh nổi lên thì con cũng tập con kêu, ví dụ con hay bị mệt tim thì con kêu tim an tịnh, lắng dịu, tim hiền ra. Cái sự an tịnh, lắng dịu con cũng rất tâm đắc vì mỗi lần con có cái gì dao động ở trong tâm thì con cũng tập an tịnh, lắng dịu nên tâm con nó an tịnh, lắng dịu lại kể cả bệnh đau, khi tim con nó nhói, nó đau thì con cũng kêu tim an tịnh, lắng dịu thì nó cũng dần dần bớt nỗi đau và nó nhẹ nhàng hơn.
Đây là sự tu học tâm và tâm an tịnh lắng dịu của con, con bạch trên sư phụ, con thưa toàn thể chư tôn thiền đức trong khi con chia sẻ con có một bản ngã nào, con có một cái sự khoe khoang nào thì con xin trên quý ngài thương tưởng con vì con đang tu học chỉ cho con để con hoàn thiện mình và tiến được đến gần với sự giải thoát. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Thầy Thiện Huệ: Đức Thế Tôn là bậc an tịnh, ngài thuyết giảng giáo pháp để đưa chúng sanh đến an tịnh cho nên trong đạo tràng Nikāya chúng ta tuyệt đối phải giữ sự an tịnh, lắng dịu.
Nay con xin tập hạnh tâm hiền, hiền lành, lắng dịu chẳng phiền ai. Dễ chịu, dễ thương và dễ mến, dễ bảo, dễ nghe pháp thánh hiền. Nãy giờ quý thầy, quý cô chia sẻ chúng ta nhắc rất là nhiều về cái tâm hiền, tâm an tịnh, đây cũng là pháp hành rất, rất là quan trọng trong đạo tràng Nikāya chúng ta và đối với tự thân của mỗi hành giả, chúng ta cố gắng ghi nhớ, giữ gìn để mà thực hành.
Sư cô Khánh An: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật ngũ uẩn con kính bạch trên sư phụ, ngũ uẩn con kính bạch trên các chư vị tôn giả và tất cả các chư vị hiền giả được sự cho phép của sư phụ con cũng được xin chia sẻ về vấn đề tâm đắc trong quá trình tu học về kinh Nikāya. Quá trình tu tập và hành trì theo kinh Nikāya thì trước tiên khi con được học nhận diện ngũ uẩn và con luôn luôn đem tâm mình về với thân thì từ đó con luôn luôn tâm sự và nói chuyện với tâm mình, cũng như nãy giờ quý vị ở đây đã thấy tâm mình an tịnh, lắng dịu, từ sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu đó nên lúc nào con cũng luôn luôn tâm sự và nói chuyện với tâm con.
Khi tâm sự nói chuyện với tâm thì con luôn nhắc nhở, khi mắt tiếp xúc với một cảnh đẹp thì con luôn nhắc với tâm cảnh đẹp đó chỉ đẹp chút xíu thôi nhưng nó là vô thường, nhớ nghe tâm, nó là vô thường, nó sẽ biến hoại, nó sẽ biến đổi bởi vậy tâm đừng có mê, đừng có chấp, đừng có tham vào đó nha. Trong quá trình thực hiện con có một câu thần chú, đại chúng có muốn nghe con nói câu thần chú đó không ạ? Khi tâm con tiếp xúc với những vấn đề mà mình thấy là nó chưa có hài lòng, nó chưa có được hay là mình thấy cái vấn đề đó sẽ dễ dàng đưa đến một cái lỗi của mình thì từ đó cái câu thần chú của con đọc ra là "án xa ra… án xa ra… án xa ra… án xa ra… án xa ra".
Con sẽ đọc ba lần như vậy thì tự động cái tâm của con sẽ không có tiếp xúc, không có thích, điển hình như khi mỗi lần con đi khất thực xuống nhà bếp thì khi mắt con nhìn thấy món thức ăn đó, ở trên bàn rất là nhiều món nhưng khi con tiếp xúc cái món mà trong tâm khoan khoái, thích thú của con thì con vẫn phóng về cái món mà con đang thích nhưng mà khi gần đến thì tự động con răn nhắc cái tâm con "nhớ nha, án xa ra… án xa ra". Con nghe những lời mời mọc của các cô nhà bếp là "sư ơi cái món này nó nhiều, cứ dùng thêm đi, cứ gắp thêm đi", mình biết rồi nhưng mà con vẫn phải kiềm chế cái tâm của mình, con nhắc cái tâm của mình lấy vừa đủ thôi, lấy vừa ăn thôi để còn những vị kế tiếp đi sau mình nữa.
Trong quá trình thực hiện để nói với tâm mình thì khi con gặp một cái vấn đề ham thích hay là buồn bã như thế nào thì con vẫn luôn nói với tâm là "tâm ơi cái ngũ uẩn này nó vận hành rắc rối lắm, nó không theo một cái chiều hướng nào hết, khi thì nó bình lặng, khi thì nó muốn nổi sóng, nó muốn nổi phong ba bởi vậy tâm ơi hãy điều phục thân". Nhưng mà nói thì nói như vậy chứ mình cũng điều phục thân mình một phần nào thôi chứ không thể là điều phục toàn bộ được, có một lần bác sĩ về tại Linh Quy Pháp Ấn khám bệnh thì bác sĩ nói là sức khỏe của sư rất tốt nhưng vẫn có nguy cơ gan nhiễm mỡ, từ cái chỗ con biết được là gan con nhiễm mỡ và bản thân gia đình con cũng có truyền thống cao huyết áp thì từ chỗ đó con cũng hạn chế trong cách sinh hoạt, ăn uống thì con cũng luôn rất cẩn thận. Nhưng mà con nhận thấy là khi mình huấn luyện, mình tâm sự, mình nói chuyện với nó thường xuyên thì cái tâm mình sẽ bớt phóng dật, nó sẽ bớt đi ra ngoài nhiều hơn tại vì luôn luôn lúc nào mình cũng quay về mình nhắc nhở "tâm ơi phải ráng nha, phải nhìn nhận ngũ uẩn một cách sâu sắc nha".
Phải biết nó, phải hiểu nó và biết nó đang vận hành như thế nào để từ đó mình mới phá được, mình mới đập tan nó được. Mỗi ngày mình đều soi gương, tại sao mình không soi lại nhìn chính tâm của mình, không nhìn nhận chính cái tâm này nó là một cái tâm hoang vu, một cái tâm rừng rú. Bởi vậy có khi nó rất dễ nổi loạn, con cũng nhận thấy trong quá trình học về kinh Nikāya thì con thấy quay về với tâm làm cho con dễ học, dễ hiễu và cái tâm nhu nhuyến này nó cũng dễ được nương theo những lời kinh, những lời giảng mà sư phụ thường hay giảng cho những ngũ uẩn ở đây nghe. Và lúc nào khi mới vừa mở mắt buổi sáng là con đã luôn luôn nhận diện ngũ uẩn trên thân này liền, những cảm thọ lúc đó rất là dễ chịu sau một đêm mình được an nghỉ thì cái tinh thần của mình cũng rất thoải mái, những cái hình bóng luôn luôn quay về với con đó là một buổi học trong suốt ngày hôm qua để con ghi nhớ, để con đem vào tâm mình và những cái suy nghĩ của con là làm sao để mình học hiểu và hành trì được những lời Đức Phật dạy.
Cái thức của con lúc nào con cũng rõ biết những điều đó để khi thân và tâm luôn luôn ở một nơi để lúc nào sự hành trì pháp và thực hành pháp cũng luôn luôn sẽ được trọn vẹn hơn. Đó là những điều mà con rất tâm đắc trong quá trình con tu học về kinh Nikāya, trong lúc chia sẻ nếu con có những lời nói chưa được êm dịu hoặc là có những vấn đề con chưa chiêm nghiệm tới thì con cũng xin trên sư phụ, quý thầy cùng tất cả các chư vị Ni và tất cả các chư vị hiền trí có mặt ở đây hoan hỉ cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Pháp Định: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính trên sư phụ, con cung kính trên chư tôn hiền đức tăng ni cùng các chư hiền trí. Sáng nay đầy đủ nhân duyên được trên sư phụ chỉ dạy cho phép con có ít phút chia sẻ với đại chúng về cái sự tâm đắc tu học trong thời gian vừa qua thì con nhớ lại đúng thời điểm này năm trước, đúng vào ngày này thì con được sư phụ từ bi thương tưởng cho xuất gia, học và thực hành đời sống phạm hạnh theo chân của chư Phật và thánh chúng thì cảm thọ của con đến sau một năm cũng vẫn có cái cảm thọ như ngày xưa, như khi con được xuất gia, vẫn là rất là hoan hỉ, hân hoan, thậm chí là cái tâm mê của con nó luôn nhắc con, nó không có chấp nhận về chuyện con đã được xuất gia mà nó luôn nhắc con "chuyện đó là đang mày đang mơ đó".
Như các chư tôn thiền đức Tăng Ni ở đây thì được xuất gia khi tuổi đời còn trẻ, nhiệt huyết, sung mãn, con thì gần năm mươi tuổi con mới được sư phụ làm lễ tế độ cho xuất gia. Tuy thời gian trễ khi mà đi vào đời sống tu tập nhưng con vẫn thấy đây là một cái ơn huệ rất là lớn, to lớn cho con, một cái phước báo thù thắng cho con và con biết ơn về điều này, rất biết ơn về điều này. Hòa với cái dòng cảm thọ hôm nay trong cái sự hoan hỉ thì con xin chia sẻ với đại chúng về một cái chủ đề mà con nghĩ là rất cần thiết cho người mới được bước vào con đường tu tập như con đó là sự cái tầm quan trọng của cái sự hỉ lạc trong cái đời sống tu tập. Con nhớ lại cái bài kinh Khó Làm trong Tương Ưng Bộ kinh tập IV.
"-- Này Hiền giả Sàriputta, trong Pháp luật này, cái gì là khó làm?
-- Xuất gia, này Hiền giả, là điều khó làm trong Pháp luật này.
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, cái gì là khó làm?
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, hoan hỉ (abhirati) là điều khó làm.
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỉ, cái gì là khó làm?
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỉ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp.
-- Có lâu không, này Hiền giả, một người đã thực hành đúng pháp và tùy pháp có thể thành vị A-la-hán?
-- Không lâu, này Hiền giả" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương IV. Tương Ưng JambukhàdakaXVI. Khó Làm)
Một số cái bài kinh con được nghe bậc đạo sư và sư phụ chia sẻ thì con cũng thấy cái sự hoan hỉ, cái sự hỷ lạc trong pháp rất quan trọng, nó đưa đến những cái quả vị cho một người tu tập, như Đức Phật sau khi ngài sống khổ Hạnh thực hành cái pháp Khổ Hạnh không có kết quả thì ngài đã hướng tới sự hỉ lạc trong thiền định và đã chứng được tam minh. Con cũng lên tưởng đến sự hỷ lạc cũng giống như một cái máy bay khi bắt đầu nó cất cánh, cái động cơ phản lực mạnh mẽ sẽ đưa cái máy bay cất cánh lên không trung và ngược lại nếu không có cái sự hoan hỉ trong sự tu tập thì cũng giống như cái may bay chuẩn bị hạ cánh xuống đường băng và nó dừng lại, kết thúc một cái hành trình. Con cũng có thời gian sống ngoài thế tục cũng tương đối lâu thì con cũng thấy đời sống thế tục cũng rất cần cái sự niềm vui, cái sự hoan hỉ để sống, thì cũng vậy đời sống tu tập cũng rất cần cái sự hoan hỉ, cái sự niềm vui trong pháp để có cái sự tăng thượng, sự tiến tu.
Con cũng tư duy, suy nghĩ vậy nó có cái sự sai khác gì giữa cái niềm vui của thế tục và niềm vui trong tu tập, nếu cái niềm vui của thế tục là cái sự ăn, ngủ, hưởng các dục lạc, sự phát triển trong các mối quan hệ và những cái sự đó nó đều dẫn đến cái sự tham dục và ái, như Đức phật nói thì đó là cái quả, cái con đường dẫn đến đau khổ. Còn với người tu thì con nhớ đến ngày đầu tiên con được sư phụ và quý thầy cho đảnh lễ, trong đảnh lễ bốn dự lưu phần thì có đảnh lễ thánh pháp ly tham tối thượng thì lúc đó con cũng chưa hiểu thánh pháp ly tham là thánh pháp gì. Sau này khi được đọc kinh con với hiểu trong một bài kinh Đức Phật có nói là không có một cái pháp nào tối thắng, tối thượng bằng cái pháp ly tham vì vậy người tu chắc chắn phải thực hành cái pháp ly tham tối thượng này.
Đời sống của người tu khi trong một năm qua con được thực hành, được học tập thì con thấy đó là cái đời sống hiểu dục tri túc, ít muốn biết đủ, đời sống viễn ly, sống một mình. Đời sống mà thức sớm rồi ăn ít, rồi đời sống luôn hoan hỉ khi thực hành pháp, học pháp và con cũng không có cái nhân duyên lớn tu học nhiều với đại chúng để hưởng được cái sự hỷ lạc trong hội chúng tinh ba nhưng con bên làng tu cũng đã tìm cho mình được những cái đời sống tu tập mang đến cái hỷ lạc, đó là trong cái sự lao tác. Nhưng con cũng suy nghĩ làm sao để được cái sự hỷ lạc này kéo dài thì con nhớ đến một cái bài pháp của bậc đạo sư có nói, đó là cái sự cân bằng trong cái sự tu tập, không phải là lúc mình tinh tấn, mình cảm thấy hoan hỉ thì mình lên mình ngồi thiền cả, ngày mình học pháp mà không có làm một cái lao tác gì. Bậc đạo bảo đó không phải là cái sự tinh tấn mà sự tinh tấn ở đây đó là giờ tu thì lên tu, giờ nghe pháp thì lên nghe pháp và cái cuối cùng con nghĩ đó là cái sự cố gắng giữ được cái giới, họ trì cái giới đức trọn vẹn nhất có thể.
Qua đây là một số cái chia sẻ của đệ tử con vì thời gian cũng không có cho phép nhiều thì đệ tử con đang trên cái bước đường tu học, chưa biết rõ cái thân tâm của mình nên không tránh khỏi những cái lỗi lầm khi nói, khi chia sẻ với đại chúng. Rất mong đại chúng từ bi, hoan hỉ tha lỗi cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Thiện Huệ: Con kính thưa các chư vị hiền trí, trong buổi chia sẻ tâm đắc sáng nay chư hiền chúng ta có mấy điểm cần phải ghi nhớ và thực hành. Đầu tiên chúng ta phải thực tập, nhất là các vị mới cũng như các vị đã tu học lâu năm những cái pháp này rất là căn bản, rất là quan trọng là phải thực tập cho được ba pháp quay trở về nhận diện lại thân tâm của mình, tức là nhận diện ngũ uẩn. Chúng ta nhìn vào trong cảm thọ để chúng ta thấy được tham, sân, si trú ẩn ở trong ba cảm thọ, trong cảm thọ dễ chịu có tham, dục, ái, trong cảm thọ khó chịu có sân, trong cảm thọ không khổ không lạc, không dễ chịu không khó chịu thì có si và chúng ta sẽ dùng những cái phương pháp thích hợp để đánh đuổi, nhiếp phục, đối trị, diệt tận những cái tham, sân, si bằng cách như tham dục chúng ta phải dùng quán bất tịnh để đối trị, sân hận dùng cái tâm từ, tâm mà si mê, vô minh chúng ta tu tập trí tuệ bằng cái sự tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, an trú trong cái niệm tử, niệm chết, quán vô thường, quán những cái cảnh tai nạn giao thông chết chóc, động đất, sóng thần, thiên tai, lũ lụt sẽ đến với mình bất cứ lúc nào.
Mình đánh phá đi những cái cảm giác đơ đơ, trơ trơ, trì trệ, hôn ám, cảm giác không có tinh tấn tu học. Khi chúng ta nhận diện được ngũ uẩn rồi chúng ta cố gắng an trú trong cái Tâm an tịnh, lắng dịu, trong cái tâm hiền thiện, tâm an tịnh, lắng dịu và tâm hiền. Tâm hiền là chúng ta tu tập một cái cảm thọ bên trong có sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu bên trong được thể hiện ra những cái hành động, những cái lời nói thậm chí từng suy nghĩ bên trong của mình để cho nó an trú vào cái tâm hiền, cảm giác hiền thiện, dễ chịu, lắng dịu, dễ thương. Nhất là các vị mới chúng ta tu thời gian dễ có những cảm giác buồn buồn, chán chán, nản nản.
Như thầy Pháp Định mới chia sẻ thì chúng ta phải khéo, nhất là các vị mới cũng như các chư hiền, các vị đã tu lâu vẫn thường xuyên tác ý tu tập cái tâm hỷ lên rất là nhiều để mình cảm nhận được cái pháp thánh pháp nó thiêng liêng, nó thần thánh, nó hoan hỉ, nó khoan khoái, nó thích thú trong sự tu học để mình đánh phá đi những cảm giác đơ đơ, trơ trơ, trì trệ, những cảm giác buồn buồn, nản nản, chán chán, ngán ngán, đánh phá những cảm giác đó. Cho nên Đức Phật dạy con cưng của ngài La-hầu-la hãy tu tập tâm hỷ tức là tâm vui để diệt trừ những cái tâm buồn phiền không có vui, đó là những cái pháp hành đầu tiên căn bản rất là quan trọng là các vị mới chúng ta chú ý để tâm học hỏi và hành trì.
Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức giấc ta có thêm ngày nữa yêu thương, thêm một ngày tu tập pháp lành, thêm một ngày vun trồng phước đức, thêm một ngày lan tỏa tình thương.
Tâm thương này tỏa rộng tâm
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.