Chúng Ta Đang Bị Ám Hại
TINH HOA THÁNH ĐIỂN NIKĀYA 6
CHÚNG TA ĐANG BỊ ÁM HẠI!
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức và kính thưa chư vị hiền trí, nếu mình không có học chánh pháp, mình không gặp bậc chân nhân, không thân cận bậc chân nhân, không nghe pháp bậc chân nhân, không thuần thục pháp bậc chân nhân, không tu tập pháp bậc chân nhân thì mình thấy cuộc đời này là một màu hồng. Mình rất là an toàn và vững chắc, mình hơn người khác, mình giỏi, mình tài ba, đó là cái nhìn của người chưa học chánh pháp. Khi chúng ta được gặp bậc thánh, nghe pháp bậc thánh, tu tập pháp bậc thánh, thuần thục pháp bậc thánh thì chúng ta sẽ thấy khác, bậc thánh đây là chỉ cho Đức Phật và các bậc hiền thánh thì mình sẽ thấy rằng chúng ta đang bị ám hại.
Tất cả chúng ta là đang bị ám hại. Cái gì hại và tại sao lại là ám hại? Có một cái thứ hại mình rất là khủng khiếp mà nó ở trong cái bóng tối, trong cái âm thầm mà tất cả chúng sanh không thấy, không biết. Cái thứ hại mình mà ở trong bóng đêm, ở trong bóng tối, ở trong sự u ám đã làm cho mình đau khổ, làm cho người khổ đau, làm cho những người thân thương nhất của mình sầu, bi, ưu, não và khắp chúng sanh hữu tình đều ràng rụa nước mắt chia ly, chia xa, tan vỡ, đổ bể, tan nát mà mình không biết cái đó là một thứ ám hại rất khủng khiếp.
Chúng ta có muốn biết thứ ám hại này là cái gì không? chúng ta vừa rồi mới lạy sám mối diệt ngã chính là chúng ta đang bắt đầu thức tỉnh, đánh thức cái tâm hôn mê của mình. Chúng ta đang thực tập đánh thức một cái nội tâm hôn mê, si mê, ngu mê, chụp thuốc mê, say mê gọi tắt là tâm mê, như vậy cái tâm của mình bị hôn mê, đam mê, say mê, ngu mê, si mê từ vô thỉ kiếp, nó không có nhìn thấy, không có nhận biết. Không thấy, không biết là gọi là vô minh, vô minh tức là không có sáng, là không thấy, không biết, không nhìn, không rõ được. Không thấy, không biết, không nhìn không rõ được cái gì? Không thấy, không biết, không nhìn, không rõ, không phát giác, không phát hiện, không nhận ra được mình đang sống với một cái nội tâm hôn. Nội tâm hôn mê là nội tâm như thế nào? Là một cái tâm mà luôn luôn nắm chặt vào trong các sắc, nói đơn giản dễ hiểu là nó nắm chặt vào trong cái hình hài này, đồ đạc này, cái cảnh vật này, nó cứ cho rằng hình này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, đồ vật này là của tôi, là của ta, là của tao, những cái cảnh vật này là mình, là của mình.
Đó là cái tâm hôn mê nó nắm chặt vào trong sắc, trong các cái sắc pháp. Cái tâm hôn mê tiếp tục nắm chặt vào trong các cảm giác, vui nó cũng nói là tôi vui, buồn cũng nói là tôi buồn, trơ trơ, đơ đơ, thường thường nó cũng nói là tôi thấy bình thường. Đây là một cái khía cạnh hôn mê thứ hai của tâm và nó luôn nắm chặt vào ở bên trong những cái cảm giác này và cho cảm giác này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, tôi vui quá, tôi buồn quá, tôi thấy thường thường thôi và bất cứ một cảm giác nào sanh khởi lên nó đều nắm chặt vô cảm giác đó hết và cho đó là tôi đang sướng hay tôi đang khổ. Đó là cái khía cạnh hôn mê thứ hai của tâm, nắm chặt vào trong sắc, nắm chặt vào trong thọ.
Bây giờ trong tâm có hình bóng gì sanh khởi lên, hình bóng trong tâm là tưởng, bất cứ hình bóng nào sanh khởi lên thì nó đều chụp liền cái hình bóng đó và cho là tôi tưởng, hình bóng đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Chẳng như mình ngồi ở đây nhưng mà cái hình bóng căn nhà hiện ra, cái đó là nhà của tôi đó nhưng đó chỉ là cái hình bóng trong tâm, mình vẫn nắm chặt vô cái hình bóng đó cho cái đó là tôi, là của tôi, cái hình bóng đó nó ám ảnh mình. Ám ảnh cái nhà rồi còn ám ảnh người không? Chẳng những ám ảnh người thương mà nó còn ám ảnh người ghét cũng ám ảnh luôn, như vậy đó gọi là tưởng thủ uẩn tức là cái tâm luôn nắm chặt những hình bóng bên trong, tâm đó là một cái khía cạnh thứ ba của cái tâm mê.
Bây giờ có một suy nghĩ nào nổi lên là ai nghĩ? Tôi nghĩ cái suy nghĩ nàylà của tôi, suy nghĩ đó chính là tôi đó, tôi là cái suy nghĩ đó, suy nghĩ đó nó ở trong tôi và tôi ở trong cái suy nghĩ đó, suy nghĩ đó là tôi. Khi nó nghĩ rồi thì ai nói nghĩ sai, nghĩ trật, nghĩ bậy thì lúc đó sân giận lên, ai khen suy nghĩ này thông minh, giỏi quá vậy thì tham, khoái, thích, bản ngã, hỉnh lỗ mũi lớn lên. Như vậy mỗi một cái suy nghĩ đó đều nắm chặt vô hết, nó cho rằng suy nghĩ này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, tôi đang suy nghĩ như vậy, cái suy nghĩ này ở trong tôi, tôi ở trong cái suy nghĩ này, suy nghĩ này là tôi. Như vậy đó là cái khía cạnh thứ tư của tâm mê, tưởng thủ uẩn, sự nắm chặt vào trong các cái hình bóng, sự nắm chặt vào trong các suy nghĩ, sự nắm chặt vào trong các cái cảm giác, sự nắm chặt vào trong các sắc.
Cái sau cùng là thức uẩn, thức thủ uẩn là cái tâm hôn mê này nắm chặt vào trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết và nó cho rằng tôi biết, cái biết là của tôi, tôi là cái biết đó nhưng mà các cái pháp thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này là pháp duyên sanh. Bây giờ ở nhà có người đang nói lời thương mình, hoặc có người đang chửi mình trong khi mình đang ở đây thì mình có biết thương hay giận không? Tại sao? Vì nó nằm ngoài giới vức của cái lỗ tai, như vậy cái lời nói sở dĩ nó được nghe và nó có cảm xúc, cảm thọ, thương hay ghét, vừa lòng hay là nghịch ý, dễ chịu hay là khó chịu, tham hay là sân thì chỉ là pháp duyên sanh, nó ở trong một cái giới vức vừa phải cho nó cảm nhận được. Nếu người ta chửi mình mà cách xa chừng mấy trăm thước là mình đâu có nghe nhưng nếu điện thoại thì mình nghe rồi mình sân, như vậy cái nghe của mình, cái thấy hay là cái ngửi, cái nếm, cái xúc, cái biết ở bên trong luôn là pháp duyên sanh.
Cái tâm hôn mê này nắm chặt vào trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết trong sáu cái thức này, sự rõ biết này. Cái hậu quả của nó là như thế nào? Là nó có một cái tôi rất là to tướng, ví dụ một nắm tay là cái tôi cứng chắc, to tướng và giữ chặt, nắm chặt và khi nó nói ra là nó nói rất mạnh, rất to, vỗ ngực xưng tên đây gọi là ngã luận thủ, sự nắm chặt. Khi mà nó nói chuyện về cái tôi nó luôn luôn có một cái sự nắm chặt về cái tôi của mình gọi là ngã luận thủ, hay là bản ngã, hay là chấp ngã, hay là tự ngã và như vậy đây là bản ngã đang hiện hữu trên cuộc đời này. Một cái bản ngã to lớn đang có mặt trên cuộc đời này, một cái tôi siêu to khổng lồ, nó đang ngự trị, đang áp đảo, đang xâm chiếm, đang điều khiển, đang chỉ huy toàn bộ. Chỉ huy toàn bộ cái gì? Chỉ huy toàn bộ một cái khối thịt mấy chục ký này, chỉ huy toàn bộ tất cả những cái cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng, suy tư, nhận thức này, đó là tổng tư lệnh, là bộ chỉ huy.
Từ một cái tôi này mà nó có ra sân hận khi mà ai không vừa lòng nó, nó có ra yêu thích, yêu thương khi ai vừa lòng nó và nó có một cái sự đơ đơ, trơ trơ, thường thường, đều đều khi cũng không không thương mà cũng không ghét. Từ sâu thẩm bên trong là một cái tôi và tất cả chúng sanh đều mù lòa trước cái tôi này, không thấy, không biết, chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện mới chỉ ra được bản ngã là cái gì thì nãy giờ chúng ta đã học, trí thứ nhất bản ngã là tâm nắm chặt vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức và cái tâm nắm chặt và sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là một cái tâm phiền não và khổ đau, nó luôn luôn ở trong cái trạng thái buồn đau và sầu khổ.
Vì sao vậy? Vì bản chất của sắc pháp này là biến đổi, nó biến hoại, nó tiêu tan, nó hủy hoại, nó hoại diệt mà bây giờ nó muốn một cái tôi là một cái phải cứng chắc, phải có một cái lõi cây, phải thường hằng, bất biến, phải được tự chủ, làm chủ nhưng nó không được cái đó thì nó đau khổ. Bởi vì sắc là vô thường, sắc là duyên sanh, sắc là vô ngã, trống rỗng, trống không, sắc là biến hoại, huỷ hoại, hoại diệt, tiêu ma, tan rã thì làm sao nó mong muốn cái sắc này nó tốt tươi, mong muốn cái sắc này được thường còn. Chúng ta thấy không, mất mạng nhưng mà mạng mình không có mất, nhất trí không? Đó là pháp duyên sanh, trước mắt cho thấy luôn chứ không phải đợi tới trong kinh mới thấy đâu, cho nên Đức Thế Tôn nói "các hành vô thường, thị sanh diệt pháp" tức là cái sự vận hành của sắc, sự vận hành của các cảm thọ, sự vận hành của những hình bóng trong tâm, sự vận hành của các suy nghĩ và sự vận hành của nhận thức này luôn luôn đổi dời, nó đổi thay, nó biến đổi, nó biến hóa, nó biến huyễn, nó biến diệt.
Nhưng cái tâm mê này nó ngu, nó muốn là không có biến đổi, nó muốn nó phải vậy hoài, tốt hoài cho nên nó bị đau khổ. Đó là một cái tâm hôn mê và nó lại nghĩ lầm thêm một cái thứ hai nữa là nó có một cái tôi rất là rắn chắc, đó là cái mê thứ hai, cái ngu thứ hai, cái vô minh thứ hai và cái thứ ba nữa là nó nghĩ rằng là cái tôi này là sướng lắm, vui lắm, đẹp lắm, tài năng, hay, giỏi lắm, hơn người ta lắm, tức là vô thường nó chấp là thường, vô ngã nó chấp là ngã, khổ mà nó chấp là vui và cái sự nhơ nhớp, bất tịnh mà nó cho là sạch sẽ, là đam mê, đó là tâm điên đảo, tưởng điên đảo và kiến điên đảo, nó vừa mù mà nó lại vừa điên, cái này bệnh nặng dữ. Vừa mù không thấy mà nó lại vừa điên nữa, mù tức là vô minh mà điên tức là điên đảo, nó vô minh mà lại nghĩ mình thông minh, ai mà nói vô minh là nó sân lên liền, nói thông minh thì được "tôi thông minh lắm", tôi thông minh dữ lắm mà tôi không ngờ tôi lại là vô minh, rất là vô minh, đại vô minh, cực kỳ vô minh. Vì không thấy, không biết sự thật về mình cho nên gọi là vô minh.
Cho nên học Phật là học chính mình, thấy chính mình, hiểu chính mình, biết về chính mình, đó gọi là tự giác tức là giác ngộ tự thân mình, thấy biết chính mình. Cái chữ giác ngộ của đạo Phật là vậy đó, là thấy biết được tự thân của mình, mà thấy biết tự thân của mình là thấy ngũ uẩn, mình thấy thêm cái tâm mê ở trong ngũ uẩn, sau đó là mình thấy được cái tâm mê này nó vận hành, nó hoạt động, nó sai khiến, nó xâm chiếm, áp đảo và nó điều khiển hết tất cả thân tâm của chính mình, của anh chị em, cha mẹ, dòng họ, cô bác, cậu chú, gì, hữu tình vạn loại, muôn loài chúng sanh điều là một con rối, là một cái bộ máy được ở bên trong này là tổng tư lệnh và bộ chỉ hủy trong đây tức là cái tâm vô minh và khát ái bị điều khiển bởi bản ngã nhưng mà không ai biết gì hết. Cho nên mới gọi là bị ám hại bị hại nhưng mà hại ở trong một cái bóng đêm, không nhìn thấy được cho nên bây giờ mình nhìn ra cái sự nguy hại của bản ngã ác độc này.
Mẹ con có thể không nhìn nhau, cha con không nhìn mặt nhau, chưa kể là thưa kiện nhau thậm chí là sát hại lẫn nhau, vợ chồng tan rã, đổ bể, đổ vỡ, anh em, huynh đệ tương tàn, thầy trò không còn nghĩa tình gì nữa hết, tri âm, tri kỷ bạn bè mấy chục năm nhưng vừa đụng tới cái tôi của nhau thôi, chạm tới cái lợi ích, tới cái tiền, tới cái danh dự gì đó là lúc đó tất cả là chia ly, tất cả là tan nát, tất cả là đổ bể hết. Như vậy để cho chúng ta thấy giải mã được sự đau khổ trên cuộc đời, khi đụng tới cái tôi là không còn gì hết, không còn mẹ con, cha con, vợ chồng, anh em, chị em gì nữa. Tại sao trong gia đình cự cãi với nhau? Tại sao vợ chồng nói chuyện mấy tiếng là cự, là cãi? Có cái tôi không? Tại sao con mẹ con, cha con có thể là đi đến những cái tình cảnh đáng tiếc hoặc là không thể tưởng tượng được? Có phải vì cái tôi không? Rồi huynh đệ hay là ngay cả trong gia đình có khi trở thành như kẻ thù thì chúng ta thấy đó là cái sự nguy hiểm, là tác hại của cái bản ngã, của sự chấp ngã, của một cái tự ngã của một cái tâm kiêu ngạo, ngạo mạn, tự cao, tự đại, tự thị, tự tôn và như thế là tất cả chúng sanh bị ám hại, bị làm hại, bị sát hại, bị giết hại, bị hãm hại, bị mưu hại.
Thế gian gục ngã vì bản ngã, cả thế gian này gục ngã ở trước cái bản ngã của mình chứ không phải ai làm cho mình khổ hết. Không phải là cái người kia nói câu đó làm cho mình khổ mà vì cái bản ngã mình cao, mình không chịu, thậm chí người ta nói sai không nói đi, nói đúng sự thật vẫn giận, không chấp nhận "sao nói tôi vậy? Sao lại dám khinh thường tôi vậy? Chê tôi sao không lựa chỗ vắng không có người chê mà lựa ngay chỗ đông chê tôi?". Rất nhiều trường hợp như vậy, học kinh đi rồi mình sẽ thấy, vào trong kinh rồi mình sẽ thấy, vì cái bản ngã này nó âm thầm, nó giết hại, nó làm cho vợ chồng chia ly, cha con, mẹ con không nhìn mặt nhau, huynh đệ tương tàn, thầy trò không còn nghĩa tình, bạn bè đổ vỡ hết, đừng nói chi là đồng nghiệp, đồng đạo, đồng tu đều bị hết, vào chùa rồi cũng bị cái bản ngã hành hạ, cũng bị nó làm cho đau khổ. Đừng nói chi còn tóc, hết tóc rồi vẫn bị nó ám hại từng trong ý nghĩ, từng trong cái tưởng, từng trong cái suy tư, nhận thức luôn luôn nghĩ có một cái tôi và cái của tôi bên trong.
Nhưng mà thật sự cái tôi là cái gì? Bị xe đụng thành một đống bầy nhầy đó thì cái tôi nào? Bây giờ răng còn dính trong người thì nói "răng của tôi", lỡ đụng rớt răng ra thì đó là răng của ai? Rồi trở thành nắm tro tàn thì nắm tro đó là của ai? Sắc nó chỉ là tứ đại và nó chỉ là cái pháp duyên sanh kết hợp, lắp ráp, đủ duyên thì nó hình thành, nó vận hành như vậy, hết duyên là tan. Nó không có là của ai hết, nó không có một cái tự ngã nhưng vì cái tâm hôn mê này, cái tâm chấp thủ này, cái tâm nắm chặt này, cái tâm mù lòa này thì nó mới làm hang, làm ổ, làm tổ ở trong cái đống thịt máu này.
Cái tâm hôn mê này nó làm hang, làm ổ, làm tổ, làm xào huyệt, căn cứ địa ở trong cái đống máu mủ này, xương da này rồi sau đó nó hơn, nó thua, nó cao, nó thấp, nó nhân ngã, nó bỉ thử, nó tôi ta, nó ganh tỵ, nó đố kỵ, nó đầy rẫy những tham dục, sân hận, si mê, đầy rẫy những hơn thua, tranh đấu và sau khi nó giành giật suốt bảy chục năm thì được một nắm tro tàn, nó dành được một cái mồ hoang, nó chiếm được một cái chỗ ngồi ở trên đầu tủ, ở trên nóc tủ, ở trên bàn thờ. Nó giật cho tận cùng cả một cuộc đời của nó, nó giật từ trẻ cho đến già và cuối cùng nó giật được một hủ cốt, đó là sự vô minh và ngu si, là sự hôn mê. Nhưng đâu phải chỉ một nắm cho tàn đó, một hũ cốt đó, một nấm mồ đó, một cái quan tài đó, một cái huyệt đó đâu, nó đem theo vô số những ác nghiệp, nào là dối trá, lộc lừa, gian xảo, mưu mô, nào là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, những lời ác độc, đâm bị thóc thọc bị gạo, những lời thêu dệt, những lời nói chua cay, ghim gút, tạo ra vô số những cái ác nghiệp, kể không có hết đâu.
Mình đọc vô kinh Nikāya rồi mình sẽ thấy dối trá, lừa đảo, kiêu mạn, ngạo mạn, ngã mạn, quá mạn, đủ thứ là những cái nghiệp của cái tâm hôn mê này nó tạo ra, Đừng nói chi nó dối trá với người ngoài đường ngay người trong nhà nó có dối trá không? Ngay với người thân thương nhất nó có dối trá không? Đừng nói chi ngay người thân thương mà chính tự thân nó, nó có dối trá không? Khi mình nhận diện ngũ uẩn mình sẽ thấy cái tâm thức này là một sự dối trán khủng khiếp, một sự lộc lừa tinh ranh và rất là xảo quyệt, chính mình mà mình còn nhận diện cái sự dối trá đó ở trong những cái ý hành đó.
Đã quyết định hết ở nhà lên tu, lên tới đây tự nhiên tâm muốn thối lui, thấy chưa? Thấy ghê không? Vô pháp đánh ầm âm như Như Lai Thần Chưởng rồi quyết định cạo đầu, đó là ăn cơm có canh tu hành có bạn khích lệ, khuyến khích, an trú, áp đặt, hướng dẫn kéo mình lên. Thành ra rất là cần trong cái sự tu học, ăn cơm có canh tu hành có bạn, nhờ vậy mới kéo mình đi lên kéo, nếu không mình sẽ bị cái tâm xảo quyệt, xảo trá, ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm là cái bản chất của bản ngã. Rõ ràng làm sai mà người ta nói sai là "đâu có đâu, tại cái ông kia chứ đâu phải tôi", "tại cô kia kìa", rõ ràng bắt tại trận nhưng mà "đâu có đâu, tại cái cô kia đó", "tại cái ông kia", đó là ngụy biện rồi quanh co giống như con lươn trườn uốn. Đức Phật ví dụ trong kinh do vì cái tâm quanh co cộng với ác nghiệp đời sau sanh ra thành rắn, thành lươn, thành những con vật bò sát.
Tâm không có ngay thẳng, không có trực hạnh, không có chân chánh hạnh cho nên người tu tâm hiền hay lắm, tu chân nhân hay lắm, có sao nói vậy, sai là nhận sai liền. Thí dụ giờ mình đang phừng phựt lên thì có người nói:
Sao chị tu về sân như vậy?
Dạ em xin lỗi, em thấy em xấu hổ quá, cũng đang tập, cái sân của em còn bự lắm. Em cảm ơn.
Như vậy có đẹp không? Tu là phải vậy đó, đó là cái đức hạnh quan trọng nhất của người đệ tử Phật, đó là trực hạnh. Khi mình thấy cái này, thấy cái kia rồi xin xỏ thì có người nói:
Sao chị tu mà tham quá vậy?
Dạ cái này là nỗi đau của em, nó nhức nhói dữ lắm, nó gặp gì nó cũng tham.
Ra chợ mua đồ xong lượm mấy trái nữa "cho tôi thêm đi", cái miệng vừa nói tay bóc bỏ, chưa biết người ta có đồng ý hay không là bóc lụm bỏ vô trước rồi, giờ không lẽ người ta giật lại, người ta chỉ vô nói tham thì phải "dạ… dạ… đúng cái bệnh của em, em ráng cố gắng tu pháp ly tham, em cũng đang cố gắng chị thông cảm", được không? Đẹp không? Hiền không? Dễ thương không? Đó gọi là hiền giả, hiền trí, đó gọi là thánh đệ tử, đó gọi là Phật tử chân chánh. Trong kinh sách hay kể câu chuyện có hai anh chàng đứng nói chuyện kể nhau nghe có một người tánh tình rất tốt, hàng xóm hay bất cứ chỗ nào có chuyện là có mặt anh giúp đỡ hết mình, nhiệt tình lắm nhưng có tật nóng tánh dữ lắm, hay nổi sân, nổi quạo dữ lắm, đúng lúc anh chàng đó đi ngang nghe nói mình vậy thì túm cổ áo người kia hỏi "tôi giận hồi nào?", "tôi nóng hồi nào?".
Có giống mình không? Đừng lắc đầu vội, thiền quán kỹ rồi trả lời, mình trối lia trối lịa, ngụy biện biện quanh co giấu lỗi lầm, bản ngã chình ình vậy đó nhưng mà mình đâu có biết đâu, chỉ cho còn không thấy chứ đừng nói không chỉ, chỉ có thấy còn bị giận. Bình thường còn kêu sư phụ, được chỉ lỗi là hết kêu sư phụ, bỏ đi liền bởi vậy con lúc nào cũng "dạ, mô Phật, con đang tập làm con, tập làm trò", vậy thì mới có người về ở đông vậy nè. Nhất trí không? Cho nên thực sự mình tu cái tâm hiền và tu cái sự khiêm cung hay lắm, đẹp lắm. Hồi nãy con nhìn tuy là con không có mặt ở trên thiền đường nhưng mà không có thời nào mà con không có mặt hết, con quan sát từ xa và con thấy chúng ta lạy với nhau là con hả dạ, thấy mát ruột, nó sung sướng, hạnh phúc dữ lắm, thỏa mãn dữ lắm. Những chiếc y vàng, những cái đầu tròn, những cái nghĩa cử chấp tay quỳ mọp xuống lạy với nhau như vậy thì thật sự bây giờ là hiếm… hiếm… hiếm có, hy hữu khó gặp ở trên đời.
Chúng ta có thấy mình đang đẹp và hạnh phúc không? Ngay cái lúc đó chúng ta phải thấy mình rất là hạnh phúc, mình rất là sung sướng, mình rất là phước báo, mình rất là công đức, mình rất là hy hữu, mình rất là hiếm có ở trong mười tỷ người này. Nếu mình không tu, mình không được cạo tóc, mình không được ở trong đạo tràng Nikāya này mình có quỳ lạy ai không? Có lạy người ngang hàng với mình không? Có lạy người thấp hơn mình không? Cha mẹ mình lạy nhưng mà chờ lên bàn thờ mới lạy cho nên trên đây chúng ta sẽ có thiền biết ơn cho quý vị lạy cha mẹ trước, mai mốt lên bàn thờ rồi lúc đó mình không có hối hận. Ở đây là chúng con phải tập làm con hết, tập làm học trò hết, chịu không? Tất cả là phải xưng "con" với nhau hết, xưng "con" hết, bảy mươi tuổi, tám mươi tuổi cũng phải xưng "con", vậy đó mới diệt cái bản ngã được. Trước tất cả mọi người mình đều chỉ là một đứa con nít, ở trong thánh pháp này mình chỉ là một đứa trẻ thôi thì mình mới học được cái đạo lý diệu huyền thâm sâu, thánh trí diệt ngã, nếu còn một cái tôi, một cái ta cao ngạo, vênh váo, hống hách, kiêu căng, ngã mạn thì không thể học được cái thánh pháp diệt ngã, vô ngã này.
Cho nên thật sự khi chúng ta cúi đầu xuống, chúng ta quỳ mọp xuống, chúng ta lạy với nhau là đẹp và phải biết tác ý chứ không phải lạy máy móc, thấy đánh chuông là lạy. Chúng ta phải biết tác ý trong tâm, cái tâm này thật là dễ thương, cái hình ảnh này thật là đẹp, cái cảm thọ này thật là ngọt ngào và những cái hình ảnh này là hình ảnh đẹp nhất mà cả một kiếp người này mình chưa từng có được. Những cái sự việc mà chúng ta đang thực tập trong cái khóa tu này, những cái trải nghiệm này không những trong một kiếp người khó được mà trong vô lượng, vô số, vô biên trong vòng luân hồi sanh tử này mình chưa từng được trải nghiệm. Mình phải sanh khởi lên được một cái sự hân hoan, thích thú, sung sướng, hoan hỉ, hỷ lạc, phấn khởi, yêu thích khi mình thực tập những cái pháp tối thượng như vậy.
Hiện tại giờ có thấy trong tim nó hạnh phúc không? Mình sẽ thấy được những điều mình chưa từng thấy, mình nghe được những điều mình chưa từng nghe, mình học những điều mình chưa từng học, mình hiểu những điều mình chưa từng hiểu và mình sẽ làm những điều chưa từng làm mình trải nghiệm, những điều mà vô lượng, vô số, vô biên kiếp vừa qua mình chưa từng được trải nghiệm. Đây gọi là thấy vô thượng, nghe vô thượng, kiến vô thượng, văn vô thượng, học tập vô thượng, lợi đắc vô thượng, phụng sự vô thượng trong sáu pháp vô thượng mà trong kinh Đức Phật đã nói. Mình phải làm được những cái việc trong thánh pháp này, mình đừng có sống với một cái tôi, một cái ta, một cái sự tự thị, tự cao, tự phụ, tự đắc, chính cái đó là kẻ thù của mình, cái thứ nó ám hại mình vô lượng vô biên kiếp.
"Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp vô thượng này. Thế nào là sáu?
Thấy vô thượng.
Nghe vô thượng.
Lợi đắc vô thượng.
Học tập vô thượng.
Phục vụ vô thượng.
Tùy niệm vô thượng.
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X). Trên Tất Cả)
Chúng ta phải tập khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã rồi từ từ tùy theo thời gian và nhân duyên chúng ta sẽ được học chín pháp an trú tâm của thánh của bậc tướng quân chánh pháp đại thánh tăng Xá-lợi-phất - Sariputta là học cái hạnh nùi giẻ rách, cái tấm chùi chân. An trú tâm như là một cái nùi giẻ rách để cho người ta dậm lên, dẫm lên, chà lên thì như vậy mình được sạch, cái người chà được sạch cái chân và cái nùi giẻ đó làm được cái công năng của nó. Phải tập như vậy mỗi khi nghe góp ý, mỗi khi nghe hướng dẫn, mỗi khi nghe chỉ trích những cái sai quấy, những cái tập nghiệp của mình, những cái vô minh, những cái chấp ngã, những cái tham, sân, si, dục ái của mình, mình phải cúi đầu xuống, mình phải đem cả một con tim, cả một cái khối óc, bằng tất cả tấm lòng của mình mà mình hứng cái thánh trí tuệ đó từ ở trong những cái lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì mình được lợi ích, lợi lạc, lợi đắc trong hiện tại và nhiều kiếp tương lai về sau.
Hãy diệt cho được cái tâm chống đối, cái tâm ngã mạn. Hãy tập cho được cái đức tánh tâm hồn khiêm cung, khiêm hạ, lời nói khiêm nhường, khiêm tốn. Hãy tập thật nhiều trong cái khóa tu này, hãy tập thật là nhiều, nói chuyện với tất cả các bạn đồng tu hay người thấp hơn mình vẫn xưng con và vẫn phải chấp tay cúi đầu. Đó là nét đẹp tuyệt vời của một người tu, của một thánh đệ tử, của một hiền giả, hiền trí, hiền nhân, hiền thiện, hiền đức ở trong cái dòng họ giác ngộ Sakya Thích-ca này là sống với nhau như vậy, là sống với nhau đẹp vậy, thương như vậy, nghĩa tình như vậy, chân thành như vậy, kính trọng tôn trọng, trân quý với nhau như vậy. Hạnh phúc không? Ấm áp không? Chúng ta ứng dụng được cái này trong vòng nửa tháng này rồi sau đó quý vị trở về nhà rồi quý vị mới thấy quý vị được đổi đời, thay đổi vận mệnh và những người trong gia đình quý vị cũng sẽ cảm nhận, cảm động và cảm hóa.
Hãy thực hành thật là đẹp những cái đức hạnh hiền thiện, cao quý, thanh cao, cao thượng, thánh thiện này. Hãy thực tập, đừng có sợ, phải nhiếp phục các cái cảm thọ chống đối, hãy chế ngự những cái suy nghĩ không có chấp nhận học pháp, hãy cho nó chấp nhận học pháp, hãy cho cái tâm dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo, dễ học pháp thánh hiền, hãy cho cái tâm nó mở cái cửa ra phải bằng tất cả tấm lòng mà đón nhận thánh trí tuệ tối thượng này để làm thay đổi cuộc đời, thay đổi vận mạng, thay đổi kiếp người, thay đổi nhân sinh của mình, thay đổi cái nhìn của mình, thay đổi cái quan điểm của mình, thay đổi tư duy, thay đổi nhận thức, thay đổi cảm thọ, thay đổi cả một cái kiếp sống của mình, cả một cái trí tuệ của mình là cái thánh trí tuệ tối thượng này sẽ làm cho mình thay đổi.
Trong bốn - năm ngày nay đổi nhiều chưa? Cạo cái đầu có đổi chưa? Đắp cái y có đổi chưa? Tu tâm hiền thấy đổi chưa? Lạy diệt ngã có đổi chưa? Trải tâm từ thấy có rưng rưng rơi lệ chưa? Ấm áp, ngọt ngào không? Lan tỏa không? Đó là phép màu của chánh pháp, pháp do Như Lai khéo thuyết là thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, có khả năng hướng thượng, không có thời gian, được người trí tự mình giác hiểu. Mọi người cảm thọ được pháp chưa? Cảm nhận được chưa? Cảm ngộ được chưa? Bắt đầu cảm động rồi phải không, rồi sẽ đi đến cảm hóa thân tâm của mình cho nên mình phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại của cái bản ngã và mình phải thấy được những cái đạo lộ, cái con đường để đưa mình trong cái sự thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, siêng đúng, làm đúng, quán đúng, định đúng để diệt cái bản ngã ám hại mình.
Phải thấy đúng về cái sự nguy hiểm và tác hại của cái bản ngã, thấy được cái vị ngọt của nó, nó ngọt có một chút thôi nhưng cái vị đắng của nó, cái sự nguy hiểm và tác hại của nó là khủng khiếp lắm. Mình cần phải nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận và thoát ra khỏi nó. Tại sao mà có cái bản ngã này? Vì không nhìn thấy được cái tâm mê, không nhìn thấy được cái tâm mà nó nắm chặt trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, cho rằng cái đó là tôi. Do không nhìn thấy cái đó, không thấy được cái tâm mê, không phát giác được tâm mê, không phát hiện được tâm mê, không có trí tuệ về tâm mê, không nhận thức về tâm mê, không thấy rõ được cái guồng máy hoạt động, cái cơ cấu vận hành, cái hệ điều hành của cái tâm mê vô minh, khát ái này, không nhìn thấy, không biết cho nên mình có một cái bản ngã to lớn. Từ cái bản ngã đó tham dục sanh khởi, sân si, nóng giận thiêu đốt, nó nhận chìm mình xuống một cái đầm lầy của tham dục, càng ngày càng lún sâu rồi nó thiêu đốt mình ở trong những cái ngọn lửa của sân hận, làm cho mình cháy đen, cháy đỏ hết, làm cho mình chết không thấy xác trong vòng luân hồi sanh tử này.
Nó làm cho tâm mình mờ tối giống như ở trong đêm đen trường dạ, hôn ám, hắc ám. Nó ám hại mình ở trong cái bóng đêm đó, trong cái bóng tối đó, trong cái si mê, trong cái vô minh đó nếu như mình không nhận diện năm uẩn, cho nên trong khóa tu chúng ta phải liên tục liên tục và liên tục nhận diện sắc; thọ; tưởng; hành; thức bất cứ mọi lúc, mọi nơi và cố gắng an trú thực hành ba pháp, cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác.
Bất cứ mọi lúc mọi nơi phải thực hành cái này, thực hành đi rồi mình sẽ thấy được cái ngũ uẩn, thấy được cái tâm mê ở trong ngũ uẩn, thấy được những cái cấu nhiễm ở trong tâm mê và thấy được khổ, thấy được nguyên nhân của khổ, thấy được sự chấm dứt khổ và con đường ra khỏi khổ đau ở trong cái thánh trí ngũ uẩn ngay ở trong cái khóa tu này, không phải đợi đâu xa hết. Ngay trong hai tuần lễ này chúng ta sẽ thấy được Tứ Thánh đế, thấy bằng con mắt tâm của mình, thấy bằng cái trí tuệ tự tâm của mình chứ không phải đợi đến mở kinh ra mới thấy nữa, mình sẽ đọc được những cái mầm móng của khổ đau ở trong suy nghĩ của mình.
Có nghĩ giận không? Có nghĩ cái tôi không khi mình khó chịu với người kế bên ở chung? Có nghĩ hơn thua, đúng sai, cao thấp không? Phải thấy ra được cái mầm móng ở trong cái suy nghĩ, trong cái cảm giác, trong cái hình bóng, trong cái nhận thức. Tập từ từ nhận ra, lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động, đừng có nghe những âm thanh ở bên ngoài trừ khi nghe pháp, hãy lắng nghe cái âm thanh ở trong tâm, cái lời nói thầm ở trong tâm coi nó nói cái gì, thiện hay là bất thiện, nó đi tới cái bản ngã hay nó đi đến cái sự lìa ngã, nó đưa đến cái tham hay nó đi đến ly tham, nó đưa đến cái sân hay là nó lìa sân, nó đưa đến cái trí tuệ để thấy rõ được thân tâm ngũ uẩn này vô thường, khổ, vô ngã hay là nó nghĩ rằng vui, thích thú, hoan hỉ, hấp dẫn. Nếu mà nó nghĩ rằng hôm nay như vầy, ngày mai như vầy, tháng sau như vầy, năm sau như vầy thì phải dẹp cái suy nghĩ đó, phá cái suy nghĩ đó, đây là tâm mê, không cho nó tiếp tục nghĩ vậy nữa.
Ngày mai cũng có thể là đời sau, tuần sau cũng có thể là kiếp khác của chúng ta nhưng mà không biết lúc đó có còn được cái gương mặt này hay không, mặt người hay là mặt thú chỉ trong tích tắc thôi. Vừa tắt hơi thở là có thể đổi thành cái mặt của một con chó, một con heo, con giòi, con ma, một con rắn, tích tắc mình không biết được mặt người hay là mặt thú, chỉ trong tích tắc thôi là đi vào trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Hằng ngày mình nhìn trên tin tức đâm với nhau, chém với nhau, giết với nhau, hại với nhau vì một ánh mắt, vì một lời nói, vì một cái đèn xanh đèn đỏ, vì một cái va quẹt nhỏ thậm chí là giết lầm, đánh lầm. Tất cả những cái đó sau khi nhắm mắt rồi mặt thú còn không có được nữa, phải đi vào trong địa ngục.
Khủng khiếp lắm quý vị ơi, thường ngày phải lấy ba cái chủ đề lớn làm đề tài thiền quán là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Niệm những cái này để mình nhớ cái cảnh khổ ở trong địa ngục, mình nhớ cái cảnh vất vơ vất vưởng, quằn quại đau đớn ở trong cái cảnh của ngạ quỷ, quỷ đói, cô hồn đó. Mình nhớ cái cảnh khổ của những con vật ăn nhau, nó nuốt nhau, nó xé xác nhau, ăn tươi nuốt sống nhau, khát máu với nhau, mình nhớ cái cảnh đó rồi mình sợ để mình lo tu. Trong lúc mà mình ngồi thiền mà ngủ gục thì mở mười tám tầng địa ngục ra, trong tâm mình triển khai thiền quán mười tám tầng địa ngục "cho mày xuống đây mày ngủ, mày xuống đây mày ngủ đi, tao cho mày thấy mười tám tầng địa ngục, tao đày mày xuống mười tám tầng địa ngục cho mày ngủ nha". Lúc đó nó chạy mất dép hết, hai mắt sáng quắc hết, nhất trí không?
Hình ảnh thứ hai là cho nhìn thấy con heo Trư Bát Giới "mày chỉ ăn với ngủ thôi sướng lắm, người ta cân ký bán ở đó một ngàn kiếp, vô lượng kiếp để mày làm con heo này cho mày ngủ". Tác ý mạnh vậy đó thì mình mới có một cái lực tinh tấn lực, dũng mãnh lực, mãnh hổ lực, tượng vương lực, sư vương lực, voi chúa lực. Tu là phải sức mạnh thì lúc đó đánh tan hết, con ma ngủ chạy mất chép hết, nó chạy có cờ hết, hai con mắt sáng quắc lên giống như Tôn Ngộ Không nhốt bốn mươi chín ngày trong lò bát quái nhìn đâu là tia lửa nó xẹt tới đó, hai mắt như sao băng, như hai ngọn đèn pha. Đó gọi là đặt niệm trước mặt, chánh niệm trước mặt, sáng tỏ trước mặt chứ ngồi thiền mà hai con mắt lờ đờ thì chết rồi, có cái thiền bản vỗ cái chát vô cho tỉnh.
Các vị phải đi giám thiền giùm con ạ, phải đi giám thiền, dắt cái thiền bản đi theo giúp cho các vị tỉnh. Nhớ là cái người đánh là đánh bằng tâm từ, đánh nhẹ lắm nhưng mà nó kêu cái chát là tim đập thình thịch giống như trên trời mới lọt xuống vậy, giúp cho mình tỉnh là vì tình thương, vì từ tâm, bằng tất cả tấm lòng mà đánh để cho mình tỉnh. Tâm này là cái tâm hôn mê, không những là nó nhắm mắt nó ngủ mà nó mở mắt vẫn chiêm bao, chết vậy đó, đừng có tưởng đâu nhắm mắt mới ngủ, nó mở sờ sờ con mắt đó mà nó vẫn mộng mơ, nó mơ huyền mờ rồi nó mơ sắc mớ. Nhiều khi lên trình pháp nói tiểu sử đời cô lựu, con ngồi cũng hết biết luôn cho nên cái tâm mình nó phải tỉnh để lắng nghe cái những cái ngấm ngầm đang hoạt động.
Lúc đó cái tâm nó vận hành như thế nào, cảm thọ lúc đó thế nào, cái tưởng lúc đó thế nào, cái hành nó suy nghĩ thế nào mình trình bày ngay lúc đó cái đó gọi là trình pháp. Không có lên kể nhà con có mấy đứa con, chồng con bao nhiêu tuổi rồi con đang làm ăn cái gì, lúc con mười sáu tuổi con vậy, rồi con qua ba mươi tuổi là vậy, lên bốn mươi tuổi là vậy, nói một hồi cái rồi xong, mọi người hết tu. Nhớ kỹ đó cái tâm hôn mê nó vậy đó, mở mắt nhưng vẫn chiêm bao cho nên học càng sâu rồi chúng ta mới càng thấy hay lắm, thú vị lắm, vi diệu lắm, giải mã hết tất cả những bí mật trên cuộc đời này. Thánh trì ngũ uẩn giải mã hết, phơi bài tất cả những cái gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy được các sắc, chỉ đường cho người lạc hướng.
Chúng ta bị đi lạc từ vô thỉ kiếp cho đến nay và ngày giờ này chúng ta được gặp Đức Thế Tôn chỉ đường, gặp bậc đạo sư chỉ dẫn, chúng ta hạnh phúc không? Cho nên mình nhớ là khi mình bị đánh mạnh vô cái bản ngã, đánh mạnh vô cái dục tham, đánh vô cái sân này, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mình phải nhớ rằng "vui nha tâm, vui nha, mừng nha tâm, cái này là thương đó nha, thương mới nói chứ không ai tự nhiên mắt mớ gì đi nói địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đâu nha. Thương đó, thương đó nha, nhớ thương nhe". Ngay cái đó mình phải tác ý lên, mình phải biết rằng mình được lợi ích vì thánh trí mà lời thật thì mất lòng, thẳng mực tàu thì đau lòng gỗ, thuốc đắng thì nó giã tật.
Học sự thật là phải chịu cái lời thật, phải chịu cái thuốc đắng, thậm chí là nó phải nhói con tim, nó đau, nước mắt nó trào ra cho nên các vị khi trình pháp đừng có kiềm lại nha, khóc cứ để cho nó khóc, khóc rất tốt, khóc là thọ được pháp. Vì đâu phải dễ mà mình nghe pháp mà mình cảm động, mình chỉ cảm động với những cái bi kịch, hoặc hài kịch ở ngoài đời, còn mình rất khó cảm thọ, cảm động được với pháp cho nên khi cảm động được với pháp thì nắm mắt nó lên trình pháp liền, giờ cảm thọ con đang như vậy, như vậy. Mình cứ nói, nếu nó có trào ra cứ để cho nó tại vì cái lúc nó trào ra như vậy là lúc nó đang rửa cái tâm dơ, những dòng nước mắt đó chính là thánh thủy rửa tâm dơ thành ra quý vị khóc đừng có đừng có giấu, đừng có sợ, đừng có kiềm cứ để cho nó tuôn trào ra không sao hết.
Những dòng nước mắt đó đang rửa một cái nội tâm cấu uế, những dòng nước mắt đang tẩy, đang thanh lọc và những dòng nước mắt đó là những dòng nước mắt của hạnh phúc vì chạm tới sự thật, vì nhìn ra được sự thật, vì xúc động, vì cảm động, vì chấn động trước một cái sự thật mà vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp tới giờ mình chưa từng nghe, chưa từng thấy, chưa từng hiểu, chưa từng học mà bây giờ mình thấy ra mình quá xúc động, chấn động, cảm động, kinh động cho nên Đức Phật gọi là thủ chuyển, sự chấp thủ ở trong năm uẩn này nó bị rung chuyển, nó bị chuyển động thì lúc đó cái tâm mình giống như địa chấn vậy đó.
Nó rung người lên hết, nó nổi da gà lên, nổi gai óc hết thì lúc đó là những cái lúc pháp đang được thấm vô, nó đang thọ nhận, nó làm cho sự các chấp thủ rung chuyển ở bên trong thì cái đó rất là tốt, cứ để cho nó bày tỏ những cái cảm xúc đó ra, những cái hạnh phúc đó ra những cái cảm nhận đó ra những cái cảm động đó được trình bày ra, được bài tỏ, được chia sẻ. Như vậy chính những cái thánh trí đánh mạnh vào bên trong thì những cái hôn mê, vô minh, bản ngã, chấp thủ, dục ái này mới có một sự rung chuyển, nó mới có một sự lay chuyển, động chuyển, nó có một sự vỡ ra, phá vỡ và xuyên thủng. Đức Phật dùng cái từ đó, sau khi được nhìn thấy cái bản ngã, sau được nhìn thấy những cái sân hận này, những cái si mê, vô minh này, những cái tham dục này là nguyên nhân của khổ, sau khi mình nhận diện ngũ uẩn bắt đầu mình sẽ thấy cho nên sau những cái thời tu thời học về đừng có nói chuyện gì nhiều hết, cứ quay vô nhìn nhận diện tâm và ghi chép ra ghi.
Thấy cái gì là ghi liền vô cuốn tập "Nhật Ký Tu Học" để bữa nào tiện, bữa nào chia sẻ cảm xúc mình đem cái đó ra mình trình bày, hoặc là mình đem về nhà để dành làm bảo bối của mình, là hành trang của mình, là kỷ niệm quý báu của mình, là tư lương hiếm có ở trong sự tu hành của mình. Biết đâu đời này, kiếp này mình còn lần thứ hai lên trên núi này nữa hay không, rất là khó, hơn nữa vô thường không nói trước được điều gì hết cho nên hãy cố gắng trân quý, trân trọng, trân kính từng giây từng phút, từng thời từng khắc trong sự tu tất cả các thời khóa rồi sau đó trở về tiếp tục.
Thí dụ khi nãy là hành trì cái pháp sám hối diệt ngã thì khi xả ra rồi vẫn tiếp tục an trú trong cái pháp sám hối diệt ngã đó, đừng có đi ra rồi xả luôn cái cảm thọ đó là rất uổng. Nhớ kỹ nha, cũng như đưa cho mình cục kim cương, đưa mình cục vàng rồi người ta đi là mình bỏ hả? Đâu có bỏ, đem vô cất kỹ chứ trong khi cái này quý còn hơn kim cương nữa, nó là vô thượng pháp bảo là phải thọ trì pháp, phải hành trì pháp, phải an trú pháp, phải nắm giữ pháp và đem về tiếp tục cái pháp đó suy tư. Nếu có cảm giác là lập tức viết liền, có cuốn sổ nhỏ cần thiết là mình viết ra ngay tại chỗ, hoặc về tới cái lưu phòng là mình viết ra liền cái cảm thọ bên này quá tuyệt vời, bữa nay mình hiểu ra được những cái điều nó đặc biệt quá, nó sâu sắc quá, cái trí tuệ mình nó sáng ra thêm.
Trước giờ mình chưa có thấy, chưa có hiểu, chưa cảm nhận mà được cái điều đó, mình viết ra liền để chút nó quên, cái tâm hôn mê nó quên nhanh lắm, nó quên rất nhanh rồi xong mình ôn tới ôn lui, nhắc đi nhắc lại, mình đồ tới đồ lui và mình khắc sâu cái trí tuệ đó ở bên trong cảm thọ của mình, làm cho nó không mất thì có lợi ích cho mình, rất là nhiều lợi lạc cho mình rất là nhiều không những ở ngay hiện tại mà còn tương lai nữa. Khi mình sau này bất cứ ở đâu, bất cứ gặp ai, bất cứ sống ở nơi nào, lúc nào mình đều có thể vận dụng được cái bảo bối vô giá của mình, kim cương thánh trí, những cái tuệ giác mà mình đã được bậc vô thượng Chánh Đẳng truyền trao cho mình rất là quý báu. Như vậy mình ý thức sâu sắc được cái bản ngã này nó hại mình rồi mình cố gắng thực tập tâm hiền, mình cố gắng thực hành sự khiêm cung, khiêm hạ, mình an trú tâm như cái tấm chùi chân, như nùi giẻ rách và nhất là một kẻ ăn xin ôm bình bát.
Nhớ kỹ cái hình bóng đó và phải viết một bài ngắn về buổi đi khất thực đó, chúng ta sẽ có thêm mấy buổi nữa. Phải nhớ cái hình ảnh khất thực đó, mình phải an trú tâm làm một kẻ ăn xin của bậc thánh, của bậc hiền trí, hiền nhân, hiền đức, hiền từ để mình dẹp cái kiêu ngạo, cái tự cao tự đại trong tâm của mình và chính những giây phút đó là giây phút mình thành tựu được những đức hạnh hiền thiện, cao thượng, thanh cao, thánh thiện trong cuộc đời của mình, trong sự trải nghiệm tối thượng ở nơi viễn ly, ở nơi xa vắng, ở nơi non thiêng và thánh pháp này.
./.
CHÚNG TA ĐANG BỊ ÁM HẠI!
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức và kính thưa chư vị hiền trí, nếu mình không có học chánh pháp, mình không gặp bậc chân nhân, không thân cận bậc chân nhân, không nghe pháp bậc chân nhân, không thuần thục pháp bậc chân nhân, không tu tập pháp bậc chân nhân thì mình thấy cuộc đời này là một màu hồng. Mình rất là an toàn và vững chắc, mình hơn người khác, mình giỏi, mình tài ba, đó là cái nhìn của người chưa học chánh pháp. Khi chúng ta được gặp bậc thánh, nghe pháp bậc thánh, tu tập pháp bậc thánh, thuần thục pháp bậc thánh thì chúng ta sẽ thấy khác, bậc thánh đây là chỉ cho Đức Phật và các bậc hiền thánh thì mình sẽ thấy rằng chúng ta đang bị ám hại.
Tất cả chúng ta là đang bị ám hại. Cái gì hại và tại sao lại là ám hại? Có một cái thứ hại mình rất là khủng khiếp mà nó ở trong cái bóng tối, trong cái âm thầm mà tất cả chúng sanh không thấy, không biết. Cái thứ hại mình mà ở trong bóng đêm, ở trong bóng tối, ở trong sự u ám đã làm cho mình đau khổ, làm cho người khổ đau, làm cho những người thân thương nhất của mình sầu, bi, ưu, não và khắp chúng sanh hữu tình đều ràng rụa nước mắt chia ly, chia xa, tan vỡ, đổ bể, tan nát mà mình không biết cái đó là một thứ ám hại rất khủng khiếp.
Chúng ta có muốn biết thứ ám hại này là cái gì không? chúng ta vừa rồi mới lạy sám mối diệt ngã chính là chúng ta đang bắt đầu thức tỉnh, đánh thức cái tâm hôn mê của mình. Chúng ta đang thực tập đánh thức một cái nội tâm hôn mê, si mê, ngu mê, chụp thuốc mê, say mê gọi tắt là tâm mê, như vậy cái tâm của mình bị hôn mê, đam mê, say mê, ngu mê, si mê từ vô thỉ kiếp, nó không có nhìn thấy, không có nhận biết. Không thấy, không biết là gọi là vô minh, vô minh tức là không có sáng, là không thấy, không biết, không nhìn, không rõ được. Không thấy, không biết, không nhìn không rõ được cái gì? Không thấy, không biết, không nhìn, không rõ, không phát giác, không phát hiện, không nhận ra được mình đang sống với một cái nội tâm hôn. Nội tâm hôn mê là nội tâm như thế nào? Là một cái tâm mà luôn luôn nắm chặt vào trong các sắc, nói đơn giản dễ hiểu là nó nắm chặt vào trong cái hình hài này, đồ đạc này, cái cảnh vật này, nó cứ cho rằng hình này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, đồ vật này là của tôi, là của ta, là của tao, những cái cảnh vật này là mình, là của mình.
Đó là cái tâm hôn mê nó nắm chặt vào trong sắc, trong các cái sắc pháp. Cái tâm hôn mê tiếp tục nắm chặt vào trong các cảm giác, vui nó cũng nói là tôi vui, buồn cũng nói là tôi buồn, trơ trơ, đơ đơ, thường thường nó cũng nói là tôi thấy bình thường. Đây là một cái khía cạnh hôn mê thứ hai của tâm và nó luôn nắm chặt vào ở bên trong những cái cảm giác này và cho cảm giác này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, tôi vui quá, tôi buồn quá, tôi thấy thường thường thôi và bất cứ một cảm giác nào sanh khởi lên nó đều nắm chặt vô cảm giác đó hết và cho đó là tôi đang sướng hay tôi đang khổ. Đó là cái khía cạnh hôn mê thứ hai của tâm, nắm chặt vào trong sắc, nắm chặt vào trong thọ.
Bây giờ trong tâm có hình bóng gì sanh khởi lên, hình bóng trong tâm là tưởng, bất cứ hình bóng nào sanh khởi lên thì nó đều chụp liền cái hình bóng đó và cho là tôi tưởng, hình bóng đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Chẳng như mình ngồi ở đây nhưng mà cái hình bóng căn nhà hiện ra, cái đó là nhà của tôi đó nhưng đó chỉ là cái hình bóng trong tâm, mình vẫn nắm chặt vô cái hình bóng đó cho cái đó là tôi, là của tôi, cái hình bóng đó nó ám ảnh mình. Ám ảnh cái nhà rồi còn ám ảnh người không? Chẳng những ám ảnh người thương mà nó còn ám ảnh người ghét cũng ám ảnh luôn, như vậy đó gọi là tưởng thủ uẩn tức là cái tâm luôn nắm chặt những hình bóng bên trong, tâm đó là một cái khía cạnh thứ ba của cái tâm mê.
Bây giờ có một suy nghĩ nào nổi lên là ai nghĩ? Tôi nghĩ cái suy nghĩ nàylà của tôi, suy nghĩ đó chính là tôi đó, tôi là cái suy nghĩ đó, suy nghĩ đó nó ở trong tôi và tôi ở trong cái suy nghĩ đó, suy nghĩ đó là tôi. Khi nó nghĩ rồi thì ai nói nghĩ sai, nghĩ trật, nghĩ bậy thì lúc đó sân giận lên, ai khen suy nghĩ này thông minh, giỏi quá vậy thì tham, khoái, thích, bản ngã, hỉnh lỗ mũi lớn lên. Như vậy mỗi một cái suy nghĩ đó đều nắm chặt vô hết, nó cho rằng suy nghĩ này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, tôi đang suy nghĩ như vậy, cái suy nghĩ này ở trong tôi, tôi ở trong cái suy nghĩ này, suy nghĩ này là tôi. Như vậy đó là cái khía cạnh thứ tư của tâm mê, tưởng thủ uẩn, sự nắm chặt vào trong các cái hình bóng, sự nắm chặt vào trong các suy nghĩ, sự nắm chặt vào trong các cái cảm giác, sự nắm chặt vào trong các sắc.
Cái sau cùng là thức uẩn, thức thủ uẩn là cái tâm hôn mê này nắm chặt vào trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết và nó cho rằng tôi biết, cái biết là của tôi, tôi là cái biết đó nhưng mà các cái pháp thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này là pháp duyên sanh. Bây giờ ở nhà có người đang nói lời thương mình, hoặc có người đang chửi mình trong khi mình đang ở đây thì mình có biết thương hay giận không? Tại sao? Vì nó nằm ngoài giới vức của cái lỗ tai, như vậy cái lời nói sở dĩ nó được nghe và nó có cảm xúc, cảm thọ, thương hay ghét, vừa lòng hay là nghịch ý, dễ chịu hay là khó chịu, tham hay là sân thì chỉ là pháp duyên sanh, nó ở trong một cái giới vức vừa phải cho nó cảm nhận được. Nếu người ta chửi mình mà cách xa chừng mấy trăm thước là mình đâu có nghe nhưng nếu điện thoại thì mình nghe rồi mình sân, như vậy cái nghe của mình, cái thấy hay là cái ngửi, cái nếm, cái xúc, cái biết ở bên trong luôn là pháp duyên sanh.
Cái tâm hôn mê này nắm chặt vào trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết trong sáu cái thức này, sự rõ biết này. Cái hậu quả của nó là như thế nào? Là nó có một cái tôi rất là to tướng, ví dụ một nắm tay là cái tôi cứng chắc, to tướng và giữ chặt, nắm chặt và khi nó nói ra là nó nói rất mạnh, rất to, vỗ ngực xưng tên đây gọi là ngã luận thủ, sự nắm chặt. Khi mà nó nói chuyện về cái tôi nó luôn luôn có một cái sự nắm chặt về cái tôi của mình gọi là ngã luận thủ, hay là bản ngã, hay là chấp ngã, hay là tự ngã và như vậy đây là bản ngã đang hiện hữu trên cuộc đời này. Một cái bản ngã to lớn đang có mặt trên cuộc đời này, một cái tôi siêu to khổng lồ, nó đang ngự trị, đang áp đảo, đang xâm chiếm, đang điều khiển, đang chỉ huy toàn bộ. Chỉ huy toàn bộ cái gì? Chỉ huy toàn bộ một cái khối thịt mấy chục ký này, chỉ huy toàn bộ tất cả những cái cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng, suy tư, nhận thức này, đó là tổng tư lệnh, là bộ chỉ huy.
Từ một cái tôi này mà nó có ra sân hận khi mà ai không vừa lòng nó, nó có ra yêu thích, yêu thương khi ai vừa lòng nó và nó có một cái sự đơ đơ, trơ trơ, thường thường, đều đều khi cũng không không thương mà cũng không ghét. Từ sâu thẩm bên trong là một cái tôi và tất cả chúng sanh đều mù lòa trước cái tôi này, không thấy, không biết, chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện mới chỉ ra được bản ngã là cái gì thì nãy giờ chúng ta đã học, trí thứ nhất bản ngã là tâm nắm chặt vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức và cái tâm nắm chặt và sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là một cái tâm phiền não và khổ đau, nó luôn luôn ở trong cái trạng thái buồn đau và sầu khổ.
Vì sao vậy? Vì bản chất của sắc pháp này là biến đổi, nó biến hoại, nó tiêu tan, nó hủy hoại, nó hoại diệt mà bây giờ nó muốn một cái tôi là một cái phải cứng chắc, phải có một cái lõi cây, phải thường hằng, bất biến, phải được tự chủ, làm chủ nhưng nó không được cái đó thì nó đau khổ. Bởi vì sắc là vô thường, sắc là duyên sanh, sắc là vô ngã, trống rỗng, trống không, sắc là biến hoại, huỷ hoại, hoại diệt, tiêu ma, tan rã thì làm sao nó mong muốn cái sắc này nó tốt tươi, mong muốn cái sắc này được thường còn. Chúng ta thấy không, mất mạng nhưng mà mạng mình không có mất, nhất trí không? Đó là pháp duyên sanh, trước mắt cho thấy luôn chứ không phải đợi tới trong kinh mới thấy đâu, cho nên Đức Thế Tôn nói "các hành vô thường, thị sanh diệt pháp" tức là cái sự vận hành của sắc, sự vận hành của các cảm thọ, sự vận hành của những hình bóng trong tâm, sự vận hành của các suy nghĩ và sự vận hành của nhận thức này luôn luôn đổi dời, nó đổi thay, nó biến đổi, nó biến hóa, nó biến huyễn, nó biến diệt.
Nhưng cái tâm mê này nó ngu, nó muốn là không có biến đổi, nó muốn nó phải vậy hoài, tốt hoài cho nên nó bị đau khổ. Đó là một cái tâm hôn mê và nó lại nghĩ lầm thêm một cái thứ hai nữa là nó có một cái tôi rất là rắn chắc, đó là cái mê thứ hai, cái ngu thứ hai, cái vô minh thứ hai và cái thứ ba nữa là nó nghĩ rằng là cái tôi này là sướng lắm, vui lắm, đẹp lắm, tài năng, hay, giỏi lắm, hơn người ta lắm, tức là vô thường nó chấp là thường, vô ngã nó chấp là ngã, khổ mà nó chấp là vui và cái sự nhơ nhớp, bất tịnh mà nó cho là sạch sẽ, là đam mê, đó là tâm điên đảo, tưởng điên đảo và kiến điên đảo, nó vừa mù mà nó lại vừa điên, cái này bệnh nặng dữ. Vừa mù không thấy mà nó lại vừa điên nữa, mù tức là vô minh mà điên tức là điên đảo, nó vô minh mà lại nghĩ mình thông minh, ai mà nói vô minh là nó sân lên liền, nói thông minh thì được "tôi thông minh lắm", tôi thông minh dữ lắm mà tôi không ngờ tôi lại là vô minh, rất là vô minh, đại vô minh, cực kỳ vô minh. Vì không thấy, không biết sự thật về mình cho nên gọi là vô minh.
Cho nên học Phật là học chính mình, thấy chính mình, hiểu chính mình, biết về chính mình, đó gọi là tự giác tức là giác ngộ tự thân mình, thấy biết chính mình. Cái chữ giác ngộ của đạo Phật là vậy đó, là thấy biết được tự thân của mình, mà thấy biết tự thân của mình là thấy ngũ uẩn, mình thấy thêm cái tâm mê ở trong ngũ uẩn, sau đó là mình thấy được cái tâm mê này nó vận hành, nó hoạt động, nó sai khiến, nó xâm chiếm, áp đảo và nó điều khiển hết tất cả thân tâm của chính mình, của anh chị em, cha mẹ, dòng họ, cô bác, cậu chú, gì, hữu tình vạn loại, muôn loài chúng sanh điều là một con rối, là một cái bộ máy được ở bên trong này là tổng tư lệnh và bộ chỉ hủy trong đây tức là cái tâm vô minh và khát ái bị điều khiển bởi bản ngã nhưng mà không ai biết gì hết. Cho nên mới gọi là bị ám hại bị hại nhưng mà hại ở trong một cái bóng đêm, không nhìn thấy được cho nên bây giờ mình nhìn ra cái sự nguy hại của bản ngã ác độc này.
Mẹ con có thể không nhìn nhau, cha con không nhìn mặt nhau, chưa kể là thưa kiện nhau thậm chí là sát hại lẫn nhau, vợ chồng tan rã, đổ bể, đổ vỡ, anh em, huynh đệ tương tàn, thầy trò không còn nghĩa tình gì nữa hết, tri âm, tri kỷ bạn bè mấy chục năm nhưng vừa đụng tới cái tôi của nhau thôi, chạm tới cái lợi ích, tới cái tiền, tới cái danh dự gì đó là lúc đó tất cả là chia ly, tất cả là tan nát, tất cả là đổ bể hết. Như vậy để cho chúng ta thấy giải mã được sự đau khổ trên cuộc đời, khi đụng tới cái tôi là không còn gì hết, không còn mẹ con, cha con, vợ chồng, anh em, chị em gì nữa. Tại sao trong gia đình cự cãi với nhau? Tại sao vợ chồng nói chuyện mấy tiếng là cự, là cãi? Có cái tôi không? Tại sao con mẹ con, cha con có thể là đi đến những cái tình cảnh đáng tiếc hoặc là không thể tưởng tượng được? Có phải vì cái tôi không? Rồi huynh đệ hay là ngay cả trong gia đình có khi trở thành như kẻ thù thì chúng ta thấy đó là cái sự nguy hiểm, là tác hại của cái bản ngã, của sự chấp ngã, của một cái tự ngã của một cái tâm kiêu ngạo, ngạo mạn, tự cao, tự đại, tự thị, tự tôn và như thế là tất cả chúng sanh bị ám hại, bị làm hại, bị sát hại, bị giết hại, bị hãm hại, bị mưu hại.
Thế gian gục ngã vì bản ngã, cả thế gian này gục ngã ở trước cái bản ngã của mình chứ không phải ai làm cho mình khổ hết. Không phải là cái người kia nói câu đó làm cho mình khổ mà vì cái bản ngã mình cao, mình không chịu, thậm chí người ta nói sai không nói đi, nói đúng sự thật vẫn giận, không chấp nhận "sao nói tôi vậy? Sao lại dám khinh thường tôi vậy? Chê tôi sao không lựa chỗ vắng không có người chê mà lựa ngay chỗ đông chê tôi?". Rất nhiều trường hợp như vậy, học kinh đi rồi mình sẽ thấy, vào trong kinh rồi mình sẽ thấy, vì cái bản ngã này nó âm thầm, nó giết hại, nó làm cho vợ chồng chia ly, cha con, mẹ con không nhìn mặt nhau, huynh đệ tương tàn, thầy trò không còn nghĩa tình, bạn bè đổ vỡ hết, đừng nói chi là đồng nghiệp, đồng đạo, đồng tu đều bị hết, vào chùa rồi cũng bị cái bản ngã hành hạ, cũng bị nó làm cho đau khổ. Đừng nói chi còn tóc, hết tóc rồi vẫn bị nó ám hại từng trong ý nghĩ, từng trong cái tưởng, từng trong cái suy tư, nhận thức luôn luôn nghĩ có một cái tôi và cái của tôi bên trong.
Nhưng mà thật sự cái tôi là cái gì? Bị xe đụng thành một đống bầy nhầy đó thì cái tôi nào? Bây giờ răng còn dính trong người thì nói "răng của tôi", lỡ đụng rớt răng ra thì đó là răng của ai? Rồi trở thành nắm tro tàn thì nắm tro đó là của ai? Sắc nó chỉ là tứ đại và nó chỉ là cái pháp duyên sanh kết hợp, lắp ráp, đủ duyên thì nó hình thành, nó vận hành như vậy, hết duyên là tan. Nó không có là của ai hết, nó không có một cái tự ngã nhưng vì cái tâm hôn mê này, cái tâm chấp thủ này, cái tâm nắm chặt này, cái tâm mù lòa này thì nó mới làm hang, làm ổ, làm tổ ở trong cái đống thịt máu này.
Cái tâm hôn mê này nó làm hang, làm ổ, làm tổ, làm xào huyệt, căn cứ địa ở trong cái đống máu mủ này, xương da này rồi sau đó nó hơn, nó thua, nó cao, nó thấp, nó nhân ngã, nó bỉ thử, nó tôi ta, nó ganh tỵ, nó đố kỵ, nó đầy rẫy những tham dục, sân hận, si mê, đầy rẫy những hơn thua, tranh đấu và sau khi nó giành giật suốt bảy chục năm thì được một nắm tro tàn, nó dành được một cái mồ hoang, nó chiếm được một cái chỗ ngồi ở trên đầu tủ, ở trên nóc tủ, ở trên bàn thờ. Nó giật cho tận cùng cả một cuộc đời của nó, nó giật từ trẻ cho đến già và cuối cùng nó giật được một hủ cốt, đó là sự vô minh và ngu si, là sự hôn mê. Nhưng đâu phải chỉ một nắm cho tàn đó, một hũ cốt đó, một nấm mồ đó, một cái quan tài đó, một cái huyệt đó đâu, nó đem theo vô số những ác nghiệp, nào là dối trá, lộc lừa, gian xảo, mưu mô, nào là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, những lời ác độc, đâm bị thóc thọc bị gạo, những lời thêu dệt, những lời nói chua cay, ghim gút, tạo ra vô số những cái ác nghiệp, kể không có hết đâu.
Mình đọc vô kinh Nikāya rồi mình sẽ thấy dối trá, lừa đảo, kiêu mạn, ngạo mạn, ngã mạn, quá mạn, đủ thứ là những cái nghiệp của cái tâm hôn mê này nó tạo ra, Đừng nói chi nó dối trá với người ngoài đường ngay người trong nhà nó có dối trá không? Ngay với người thân thương nhất nó có dối trá không? Đừng nói chi ngay người thân thương mà chính tự thân nó, nó có dối trá không? Khi mình nhận diện ngũ uẩn mình sẽ thấy cái tâm thức này là một sự dối trán khủng khiếp, một sự lộc lừa tinh ranh và rất là xảo quyệt, chính mình mà mình còn nhận diện cái sự dối trá đó ở trong những cái ý hành đó.
Đã quyết định hết ở nhà lên tu, lên tới đây tự nhiên tâm muốn thối lui, thấy chưa? Thấy ghê không? Vô pháp đánh ầm âm như Như Lai Thần Chưởng rồi quyết định cạo đầu, đó là ăn cơm có canh tu hành có bạn khích lệ, khuyến khích, an trú, áp đặt, hướng dẫn kéo mình lên. Thành ra rất là cần trong cái sự tu học, ăn cơm có canh tu hành có bạn, nhờ vậy mới kéo mình đi lên kéo, nếu không mình sẽ bị cái tâm xảo quyệt, xảo trá, ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm là cái bản chất của bản ngã. Rõ ràng làm sai mà người ta nói sai là "đâu có đâu, tại cái ông kia chứ đâu phải tôi", "tại cô kia kìa", rõ ràng bắt tại trận nhưng mà "đâu có đâu, tại cái cô kia đó", "tại cái ông kia", đó là ngụy biện rồi quanh co giống như con lươn trườn uốn. Đức Phật ví dụ trong kinh do vì cái tâm quanh co cộng với ác nghiệp đời sau sanh ra thành rắn, thành lươn, thành những con vật bò sát.
Tâm không có ngay thẳng, không có trực hạnh, không có chân chánh hạnh cho nên người tu tâm hiền hay lắm, tu chân nhân hay lắm, có sao nói vậy, sai là nhận sai liền. Thí dụ giờ mình đang phừng phựt lên thì có người nói:
Sao chị tu về sân như vậy?
Dạ em xin lỗi, em thấy em xấu hổ quá, cũng đang tập, cái sân của em còn bự lắm. Em cảm ơn.
Như vậy có đẹp không? Tu là phải vậy đó, đó là cái đức hạnh quan trọng nhất của người đệ tử Phật, đó là trực hạnh. Khi mình thấy cái này, thấy cái kia rồi xin xỏ thì có người nói:
Sao chị tu mà tham quá vậy?
Dạ cái này là nỗi đau của em, nó nhức nhói dữ lắm, nó gặp gì nó cũng tham.
Ra chợ mua đồ xong lượm mấy trái nữa "cho tôi thêm đi", cái miệng vừa nói tay bóc bỏ, chưa biết người ta có đồng ý hay không là bóc lụm bỏ vô trước rồi, giờ không lẽ người ta giật lại, người ta chỉ vô nói tham thì phải "dạ… dạ… đúng cái bệnh của em, em ráng cố gắng tu pháp ly tham, em cũng đang cố gắng chị thông cảm", được không? Đẹp không? Hiền không? Dễ thương không? Đó gọi là hiền giả, hiền trí, đó gọi là thánh đệ tử, đó gọi là Phật tử chân chánh. Trong kinh sách hay kể câu chuyện có hai anh chàng đứng nói chuyện kể nhau nghe có một người tánh tình rất tốt, hàng xóm hay bất cứ chỗ nào có chuyện là có mặt anh giúp đỡ hết mình, nhiệt tình lắm nhưng có tật nóng tánh dữ lắm, hay nổi sân, nổi quạo dữ lắm, đúng lúc anh chàng đó đi ngang nghe nói mình vậy thì túm cổ áo người kia hỏi "tôi giận hồi nào?", "tôi nóng hồi nào?".
Có giống mình không? Đừng lắc đầu vội, thiền quán kỹ rồi trả lời, mình trối lia trối lịa, ngụy biện biện quanh co giấu lỗi lầm, bản ngã chình ình vậy đó nhưng mà mình đâu có biết đâu, chỉ cho còn không thấy chứ đừng nói không chỉ, chỉ có thấy còn bị giận. Bình thường còn kêu sư phụ, được chỉ lỗi là hết kêu sư phụ, bỏ đi liền bởi vậy con lúc nào cũng "dạ, mô Phật, con đang tập làm con, tập làm trò", vậy thì mới có người về ở đông vậy nè. Nhất trí không? Cho nên thực sự mình tu cái tâm hiền và tu cái sự khiêm cung hay lắm, đẹp lắm. Hồi nãy con nhìn tuy là con không có mặt ở trên thiền đường nhưng mà không có thời nào mà con không có mặt hết, con quan sát từ xa và con thấy chúng ta lạy với nhau là con hả dạ, thấy mát ruột, nó sung sướng, hạnh phúc dữ lắm, thỏa mãn dữ lắm. Những chiếc y vàng, những cái đầu tròn, những cái nghĩa cử chấp tay quỳ mọp xuống lạy với nhau như vậy thì thật sự bây giờ là hiếm… hiếm… hiếm có, hy hữu khó gặp ở trên đời.
Chúng ta có thấy mình đang đẹp và hạnh phúc không? Ngay cái lúc đó chúng ta phải thấy mình rất là hạnh phúc, mình rất là sung sướng, mình rất là phước báo, mình rất là công đức, mình rất là hy hữu, mình rất là hiếm có ở trong mười tỷ người này. Nếu mình không tu, mình không được cạo tóc, mình không được ở trong đạo tràng Nikāya này mình có quỳ lạy ai không? Có lạy người ngang hàng với mình không? Có lạy người thấp hơn mình không? Cha mẹ mình lạy nhưng mà chờ lên bàn thờ mới lạy cho nên trên đây chúng ta sẽ có thiền biết ơn cho quý vị lạy cha mẹ trước, mai mốt lên bàn thờ rồi lúc đó mình không có hối hận. Ở đây là chúng con phải tập làm con hết, tập làm học trò hết, chịu không? Tất cả là phải xưng "con" với nhau hết, xưng "con" hết, bảy mươi tuổi, tám mươi tuổi cũng phải xưng "con", vậy đó mới diệt cái bản ngã được. Trước tất cả mọi người mình đều chỉ là một đứa con nít, ở trong thánh pháp này mình chỉ là một đứa trẻ thôi thì mình mới học được cái đạo lý diệu huyền thâm sâu, thánh trí diệt ngã, nếu còn một cái tôi, một cái ta cao ngạo, vênh váo, hống hách, kiêu căng, ngã mạn thì không thể học được cái thánh pháp diệt ngã, vô ngã này.
Cho nên thật sự khi chúng ta cúi đầu xuống, chúng ta quỳ mọp xuống, chúng ta lạy với nhau là đẹp và phải biết tác ý chứ không phải lạy máy móc, thấy đánh chuông là lạy. Chúng ta phải biết tác ý trong tâm, cái tâm này thật là dễ thương, cái hình ảnh này thật là đẹp, cái cảm thọ này thật là ngọt ngào và những cái hình ảnh này là hình ảnh đẹp nhất mà cả một kiếp người này mình chưa từng có được. Những cái sự việc mà chúng ta đang thực tập trong cái khóa tu này, những cái trải nghiệm này không những trong một kiếp người khó được mà trong vô lượng, vô số, vô biên trong vòng luân hồi sanh tử này mình chưa từng được trải nghiệm. Mình phải sanh khởi lên được một cái sự hân hoan, thích thú, sung sướng, hoan hỉ, hỷ lạc, phấn khởi, yêu thích khi mình thực tập những cái pháp tối thượng như vậy.
Hiện tại giờ có thấy trong tim nó hạnh phúc không? Mình sẽ thấy được những điều mình chưa từng thấy, mình nghe được những điều mình chưa từng nghe, mình học những điều mình chưa từng học, mình hiểu những điều mình chưa từng hiểu và mình sẽ làm những điều chưa từng làm mình trải nghiệm, những điều mà vô lượng, vô số, vô biên kiếp vừa qua mình chưa từng được trải nghiệm. Đây gọi là thấy vô thượng, nghe vô thượng, kiến vô thượng, văn vô thượng, học tập vô thượng, lợi đắc vô thượng, phụng sự vô thượng trong sáu pháp vô thượng mà trong kinh Đức Phật đã nói. Mình phải làm được những cái việc trong thánh pháp này, mình đừng có sống với một cái tôi, một cái ta, một cái sự tự thị, tự cao, tự phụ, tự đắc, chính cái đó là kẻ thù của mình, cái thứ nó ám hại mình vô lượng vô biên kiếp.
"Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp vô thượng này. Thế nào là sáu?
Thấy vô thượng.
Nghe vô thượng.
Lợi đắc vô thượng.
Học tập vô thượng.
Phục vụ vô thượng.
Tùy niệm vô thượng.
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X). Trên Tất Cả)
Chúng ta phải tập khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã rồi từ từ tùy theo thời gian và nhân duyên chúng ta sẽ được học chín pháp an trú tâm của thánh của bậc tướng quân chánh pháp đại thánh tăng Xá-lợi-phất - Sariputta là học cái hạnh nùi giẻ rách, cái tấm chùi chân. An trú tâm như là một cái nùi giẻ rách để cho người ta dậm lên, dẫm lên, chà lên thì như vậy mình được sạch, cái người chà được sạch cái chân và cái nùi giẻ đó làm được cái công năng của nó. Phải tập như vậy mỗi khi nghe góp ý, mỗi khi nghe hướng dẫn, mỗi khi nghe chỉ trích những cái sai quấy, những cái tập nghiệp của mình, những cái vô minh, những cái chấp ngã, những cái tham, sân, si, dục ái của mình, mình phải cúi đầu xuống, mình phải đem cả một con tim, cả một cái khối óc, bằng tất cả tấm lòng của mình mà mình hứng cái thánh trí tuệ đó từ ở trong những cái lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì mình được lợi ích, lợi lạc, lợi đắc trong hiện tại và nhiều kiếp tương lai về sau.
Hãy diệt cho được cái tâm chống đối, cái tâm ngã mạn. Hãy tập cho được cái đức tánh tâm hồn khiêm cung, khiêm hạ, lời nói khiêm nhường, khiêm tốn. Hãy tập thật nhiều trong cái khóa tu này, hãy tập thật là nhiều, nói chuyện với tất cả các bạn đồng tu hay người thấp hơn mình vẫn xưng con và vẫn phải chấp tay cúi đầu. Đó là nét đẹp tuyệt vời của một người tu, của một thánh đệ tử, của một hiền giả, hiền trí, hiền nhân, hiền thiện, hiền đức ở trong cái dòng họ giác ngộ Sakya Thích-ca này là sống với nhau như vậy, là sống với nhau đẹp vậy, thương như vậy, nghĩa tình như vậy, chân thành như vậy, kính trọng tôn trọng, trân quý với nhau như vậy. Hạnh phúc không? Ấm áp không? Chúng ta ứng dụng được cái này trong vòng nửa tháng này rồi sau đó quý vị trở về nhà rồi quý vị mới thấy quý vị được đổi đời, thay đổi vận mệnh và những người trong gia đình quý vị cũng sẽ cảm nhận, cảm động và cảm hóa.
Hãy thực hành thật là đẹp những cái đức hạnh hiền thiện, cao quý, thanh cao, cao thượng, thánh thiện này. Hãy thực tập, đừng có sợ, phải nhiếp phục các cái cảm thọ chống đối, hãy chế ngự những cái suy nghĩ không có chấp nhận học pháp, hãy cho nó chấp nhận học pháp, hãy cho cái tâm dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo, dễ học pháp thánh hiền, hãy cho cái tâm nó mở cái cửa ra phải bằng tất cả tấm lòng mà đón nhận thánh trí tuệ tối thượng này để làm thay đổi cuộc đời, thay đổi vận mạng, thay đổi kiếp người, thay đổi nhân sinh của mình, thay đổi cái nhìn của mình, thay đổi cái quan điểm của mình, thay đổi tư duy, thay đổi nhận thức, thay đổi cảm thọ, thay đổi cả một cái kiếp sống của mình, cả một cái trí tuệ của mình là cái thánh trí tuệ tối thượng này sẽ làm cho mình thay đổi.
Trong bốn - năm ngày nay đổi nhiều chưa? Cạo cái đầu có đổi chưa? Đắp cái y có đổi chưa? Tu tâm hiền thấy đổi chưa? Lạy diệt ngã có đổi chưa? Trải tâm từ thấy có rưng rưng rơi lệ chưa? Ấm áp, ngọt ngào không? Lan tỏa không? Đó là phép màu của chánh pháp, pháp do Như Lai khéo thuyết là thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, có khả năng hướng thượng, không có thời gian, được người trí tự mình giác hiểu. Mọi người cảm thọ được pháp chưa? Cảm nhận được chưa? Cảm ngộ được chưa? Bắt đầu cảm động rồi phải không, rồi sẽ đi đến cảm hóa thân tâm của mình cho nên mình phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại của cái bản ngã và mình phải thấy được những cái đạo lộ, cái con đường để đưa mình trong cái sự thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, siêng đúng, làm đúng, quán đúng, định đúng để diệt cái bản ngã ám hại mình.
Phải thấy đúng về cái sự nguy hiểm và tác hại của cái bản ngã, thấy được cái vị ngọt của nó, nó ngọt có một chút thôi nhưng cái vị đắng của nó, cái sự nguy hiểm và tác hại của nó là khủng khiếp lắm. Mình cần phải nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận và thoát ra khỏi nó. Tại sao mà có cái bản ngã này? Vì không nhìn thấy được cái tâm mê, không nhìn thấy được cái tâm mà nó nắm chặt trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, cho rằng cái đó là tôi. Do không nhìn thấy cái đó, không thấy được cái tâm mê, không phát giác được tâm mê, không phát hiện được tâm mê, không có trí tuệ về tâm mê, không nhận thức về tâm mê, không thấy rõ được cái guồng máy hoạt động, cái cơ cấu vận hành, cái hệ điều hành của cái tâm mê vô minh, khát ái này, không nhìn thấy, không biết cho nên mình có một cái bản ngã to lớn. Từ cái bản ngã đó tham dục sanh khởi, sân si, nóng giận thiêu đốt, nó nhận chìm mình xuống một cái đầm lầy của tham dục, càng ngày càng lún sâu rồi nó thiêu đốt mình ở trong những cái ngọn lửa của sân hận, làm cho mình cháy đen, cháy đỏ hết, làm cho mình chết không thấy xác trong vòng luân hồi sanh tử này.
Nó làm cho tâm mình mờ tối giống như ở trong đêm đen trường dạ, hôn ám, hắc ám. Nó ám hại mình ở trong cái bóng đêm đó, trong cái bóng tối đó, trong cái si mê, trong cái vô minh đó nếu như mình không nhận diện năm uẩn, cho nên trong khóa tu chúng ta phải liên tục liên tục và liên tục nhận diện sắc; thọ; tưởng; hành; thức bất cứ mọi lúc, mọi nơi và cố gắng an trú thực hành ba pháp, cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác.
Bất cứ mọi lúc mọi nơi phải thực hành cái này, thực hành đi rồi mình sẽ thấy được cái ngũ uẩn, thấy được cái tâm mê ở trong ngũ uẩn, thấy được những cái cấu nhiễm ở trong tâm mê và thấy được khổ, thấy được nguyên nhân của khổ, thấy được sự chấm dứt khổ và con đường ra khỏi khổ đau ở trong cái thánh trí ngũ uẩn ngay ở trong cái khóa tu này, không phải đợi đâu xa hết. Ngay trong hai tuần lễ này chúng ta sẽ thấy được Tứ Thánh đế, thấy bằng con mắt tâm của mình, thấy bằng cái trí tuệ tự tâm của mình chứ không phải đợi đến mở kinh ra mới thấy nữa, mình sẽ đọc được những cái mầm móng của khổ đau ở trong suy nghĩ của mình.
Có nghĩ giận không? Có nghĩ cái tôi không khi mình khó chịu với người kế bên ở chung? Có nghĩ hơn thua, đúng sai, cao thấp không? Phải thấy ra được cái mầm móng ở trong cái suy nghĩ, trong cái cảm giác, trong cái hình bóng, trong cái nhận thức. Tập từ từ nhận ra, lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động, đừng có nghe những âm thanh ở bên ngoài trừ khi nghe pháp, hãy lắng nghe cái âm thanh ở trong tâm, cái lời nói thầm ở trong tâm coi nó nói cái gì, thiện hay là bất thiện, nó đi tới cái bản ngã hay nó đi đến cái sự lìa ngã, nó đưa đến cái tham hay nó đi đến ly tham, nó đưa đến cái sân hay là nó lìa sân, nó đưa đến cái trí tuệ để thấy rõ được thân tâm ngũ uẩn này vô thường, khổ, vô ngã hay là nó nghĩ rằng vui, thích thú, hoan hỉ, hấp dẫn. Nếu mà nó nghĩ rằng hôm nay như vầy, ngày mai như vầy, tháng sau như vầy, năm sau như vầy thì phải dẹp cái suy nghĩ đó, phá cái suy nghĩ đó, đây là tâm mê, không cho nó tiếp tục nghĩ vậy nữa.
Ngày mai cũng có thể là đời sau, tuần sau cũng có thể là kiếp khác của chúng ta nhưng mà không biết lúc đó có còn được cái gương mặt này hay không, mặt người hay là mặt thú chỉ trong tích tắc thôi. Vừa tắt hơi thở là có thể đổi thành cái mặt của một con chó, một con heo, con giòi, con ma, một con rắn, tích tắc mình không biết được mặt người hay là mặt thú, chỉ trong tích tắc thôi là đi vào trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Hằng ngày mình nhìn trên tin tức đâm với nhau, chém với nhau, giết với nhau, hại với nhau vì một ánh mắt, vì một lời nói, vì một cái đèn xanh đèn đỏ, vì một cái va quẹt nhỏ thậm chí là giết lầm, đánh lầm. Tất cả những cái đó sau khi nhắm mắt rồi mặt thú còn không có được nữa, phải đi vào trong địa ngục.
Khủng khiếp lắm quý vị ơi, thường ngày phải lấy ba cái chủ đề lớn làm đề tài thiền quán là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Niệm những cái này để mình nhớ cái cảnh khổ ở trong địa ngục, mình nhớ cái cảnh vất vơ vất vưởng, quằn quại đau đớn ở trong cái cảnh của ngạ quỷ, quỷ đói, cô hồn đó. Mình nhớ cái cảnh khổ của những con vật ăn nhau, nó nuốt nhau, nó xé xác nhau, ăn tươi nuốt sống nhau, khát máu với nhau, mình nhớ cái cảnh đó rồi mình sợ để mình lo tu. Trong lúc mà mình ngồi thiền mà ngủ gục thì mở mười tám tầng địa ngục ra, trong tâm mình triển khai thiền quán mười tám tầng địa ngục "cho mày xuống đây mày ngủ, mày xuống đây mày ngủ đi, tao cho mày thấy mười tám tầng địa ngục, tao đày mày xuống mười tám tầng địa ngục cho mày ngủ nha". Lúc đó nó chạy mất dép hết, hai mắt sáng quắc hết, nhất trí không?
Hình ảnh thứ hai là cho nhìn thấy con heo Trư Bát Giới "mày chỉ ăn với ngủ thôi sướng lắm, người ta cân ký bán ở đó một ngàn kiếp, vô lượng kiếp để mày làm con heo này cho mày ngủ". Tác ý mạnh vậy đó thì mình mới có một cái lực tinh tấn lực, dũng mãnh lực, mãnh hổ lực, tượng vương lực, sư vương lực, voi chúa lực. Tu là phải sức mạnh thì lúc đó đánh tan hết, con ma ngủ chạy mất chép hết, nó chạy có cờ hết, hai con mắt sáng quắc lên giống như Tôn Ngộ Không nhốt bốn mươi chín ngày trong lò bát quái nhìn đâu là tia lửa nó xẹt tới đó, hai mắt như sao băng, như hai ngọn đèn pha. Đó gọi là đặt niệm trước mặt, chánh niệm trước mặt, sáng tỏ trước mặt chứ ngồi thiền mà hai con mắt lờ đờ thì chết rồi, có cái thiền bản vỗ cái chát vô cho tỉnh.
Các vị phải đi giám thiền giùm con ạ, phải đi giám thiền, dắt cái thiền bản đi theo giúp cho các vị tỉnh. Nhớ là cái người đánh là đánh bằng tâm từ, đánh nhẹ lắm nhưng mà nó kêu cái chát là tim đập thình thịch giống như trên trời mới lọt xuống vậy, giúp cho mình tỉnh là vì tình thương, vì từ tâm, bằng tất cả tấm lòng mà đánh để cho mình tỉnh. Tâm này là cái tâm hôn mê, không những là nó nhắm mắt nó ngủ mà nó mở mắt vẫn chiêm bao, chết vậy đó, đừng có tưởng đâu nhắm mắt mới ngủ, nó mở sờ sờ con mắt đó mà nó vẫn mộng mơ, nó mơ huyền mờ rồi nó mơ sắc mớ. Nhiều khi lên trình pháp nói tiểu sử đời cô lựu, con ngồi cũng hết biết luôn cho nên cái tâm mình nó phải tỉnh để lắng nghe cái những cái ngấm ngầm đang hoạt động.
Lúc đó cái tâm nó vận hành như thế nào, cảm thọ lúc đó thế nào, cái tưởng lúc đó thế nào, cái hành nó suy nghĩ thế nào mình trình bày ngay lúc đó cái đó gọi là trình pháp. Không có lên kể nhà con có mấy đứa con, chồng con bao nhiêu tuổi rồi con đang làm ăn cái gì, lúc con mười sáu tuổi con vậy, rồi con qua ba mươi tuổi là vậy, lên bốn mươi tuổi là vậy, nói một hồi cái rồi xong, mọi người hết tu. Nhớ kỹ đó cái tâm hôn mê nó vậy đó, mở mắt nhưng vẫn chiêm bao cho nên học càng sâu rồi chúng ta mới càng thấy hay lắm, thú vị lắm, vi diệu lắm, giải mã hết tất cả những bí mật trên cuộc đời này. Thánh trì ngũ uẩn giải mã hết, phơi bài tất cả những cái gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy được các sắc, chỉ đường cho người lạc hướng.
Chúng ta bị đi lạc từ vô thỉ kiếp cho đến nay và ngày giờ này chúng ta được gặp Đức Thế Tôn chỉ đường, gặp bậc đạo sư chỉ dẫn, chúng ta hạnh phúc không? Cho nên mình nhớ là khi mình bị đánh mạnh vô cái bản ngã, đánh mạnh vô cái dục tham, đánh vô cái sân này, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mình phải nhớ rằng "vui nha tâm, vui nha, mừng nha tâm, cái này là thương đó nha, thương mới nói chứ không ai tự nhiên mắt mớ gì đi nói địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đâu nha. Thương đó, thương đó nha, nhớ thương nhe". Ngay cái đó mình phải tác ý lên, mình phải biết rằng mình được lợi ích vì thánh trí mà lời thật thì mất lòng, thẳng mực tàu thì đau lòng gỗ, thuốc đắng thì nó giã tật.
Học sự thật là phải chịu cái lời thật, phải chịu cái thuốc đắng, thậm chí là nó phải nhói con tim, nó đau, nước mắt nó trào ra cho nên các vị khi trình pháp đừng có kiềm lại nha, khóc cứ để cho nó khóc, khóc rất tốt, khóc là thọ được pháp. Vì đâu phải dễ mà mình nghe pháp mà mình cảm động, mình chỉ cảm động với những cái bi kịch, hoặc hài kịch ở ngoài đời, còn mình rất khó cảm thọ, cảm động được với pháp cho nên khi cảm động được với pháp thì nắm mắt nó lên trình pháp liền, giờ cảm thọ con đang như vậy, như vậy. Mình cứ nói, nếu nó có trào ra cứ để cho nó tại vì cái lúc nó trào ra như vậy là lúc nó đang rửa cái tâm dơ, những dòng nước mắt đó chính là thánh thủy rửa tâm dơ thành ra quý vị khóc đừng có đừng có giấu, đừng có sợ, đừng có kiềm cứ để cho nó tuôn trào ra không sao hết.
Những dòng nước mắt đó đang rửa một cái nội tâm cấu uế, những dòng nước mắt đang tẩy, đang thanh lọc và những dòng nước mắt đó là những dòng nước mắt của hạnh phúc vì chạm tới sự thật, vì nhìn ra được sự thật, vì xúc động, vì cảm động, vì chấn động trước một cái sự thật mà vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp tới giờ mình chưa từng nghe, chưa từng thấy, chưa từng hiểu, chưa từng học mà bây giờ mình thấy ra mình quá xúc động, chấn động, cảm động, kinh động cho nên Đức Phật gọi là thủ chuyển, sự chấp thủ ở trong năm uẩn này nó bị rung chuyển, nó bị chuyển động thì lúc đó cái tâm mình giống như địa chấn vậy đó.
Nó rung người lên hết, nó nổi da gà lên, nổi gai óc hết thì lúc đó là những cái lúc pháp đang được thấm vô, nó đang thọ nhận, nó làm cho sự các chấp thủ rung chuyển ở bên trong thì cái đó rất là tốt, cứ để cho nó bày tỏ những cái cảm xúc đó ra, những cái hạnh phúc đó ra những cái cảm nhận đó ra những cái cảm động đó được trình bày ra, được bài tỏ, được chia sẻ. Như vậy chính những cái thánh trí đánh mạnh vào bên trong thì những cái hôn mê, vô minh, bản ngã, chấp thủ, dục ái này mới có một sự rung chuyển, nó mới có một sự lay chuyển, động chuyển, nó có một sự vỡ ra, phá vỡ và xuyên thủng. Đức Phật dùng cái từ đó, sau khi được nhìn thấy cái bản ngã, sau được nhìn thấy những cái sân hận này, những cái si mê, vô minh này, những cái tham dục này là nguyên nhân của khổ, sau khi mình nhận diện ngũ uẩn bắt đầu mình sẽ thấy cho nên sau những cái thời tu thời học về đừng có nói chuyện gì nhiều hết, cứ quay vô nhìn nhận diện tâm và ghi chép ra ghi.
Thấy cái gì là ghi liền vô cuốn tập "Nhật Ký Tu Học" để bữa nào tiện, bữa nào chia sẻ cảm xúc mình đem cái đó ra mình trình bày, hoặc là mình đem về nhà để dành làm bảo bối của mình, là hành trang của mình, là kỷ niệm quý báu của mình, là tư lương hiếm có ở trong sự tu hành của mình. Biết đâu đời này, kiếp này mình còn lần thứ hai lên trên núi này nữa hay không, rất là khó, hơn nữa vô thường không nói trước được điều gì hết cho nên hãy cố gắng trân quý, trân trọng, trân kính từng giây từng phút, từng thời từng khắc trong sự tu tất cả các thời khóa rồi sau đó trở về tiếp tục.
Thí dụ khi nãy là hành trì cái pháp sám hối diệt ngã thì khi xả ra rồi vẫn tiếp tục an trú trong cái pháp sám hối diệt ngã đó, đừng có đi ra rồi xả luôn cái cảm thọ đó là rất uổng. Nhớ kỹ nha, cũng như đưa cho mình cục kim cương, đưa mình cục vàng rồi người ta đi là mình bỏ hả? Đâu có bỏ, đem vô cất kỹ chứ trong khi cái này quý còn hơn kim cương nữa, nó là vô thượng pháp bảo là phải thọ trì pháp, phải hành trì pháp, phải an trú pháp, phải nắm giữ pháp và đem về tiếp tục cái pháp đó suy tư. Nếu có cảm giác là lập tức viết liền, có cuốn sổ nhỏ cần thiết là mình viết ra ngay tại chỗ, hoặc về tới cái lưu phòng là mình viết ra liền cái cảm thọ bên này quá tuyệt vời, bữa nay mình hiểu ra được những cái điều nó đặc biệt quá, nó sâu sắc quá, cái trí tuệ mình nó sáng ra thêm.
Trước giờ mình chưa có thấy, chưa có hiểu, chưa cảm nhận mà được cái điều đó, mình viết ra liền để chút nó quên, cái tâm hôn mê nó quên nhanh lắm, nó quên rất nhanh rồi xong mình ôn tới ôn lui, nhắc đi nhắc lại, mình đồ tới đồ lui và mình khắc sâu cái trí tuệ đó ở bên trong cảm thọ của mình, làm cho nó không mất thì có lợi ích cho mình, rất là nhiều lợi lạc cho mình rất là nhiều không những ở ngay hiện tại mà còn tương lai nữa. Khi mình sau này bất cứ ở đâu, bất cứ gặp ai, bất cứ sống ở nơi nào, lúc nào mình đều có thể vận dụng được cái bảo bối vô giá của mình, kim cương thánh trí, những cái tuệ giác mà mình đã được bậc vô thượng Chánh Đẳng truyền trao cho mình rất là quý báu. Như vậy mình ý thức sâu sắc được cái bản ngã này nó hại mình rồi mình cố gắng thực tập tâm hiền, mình cố gắng thực hành sự khiêm cung, khiêm hạ, mình an trú tâm như cái tấm chùi chân, như nùi giẻ rách và nhất là một kẻ ăn xin ôm bình bát.
Nhớ kỹ cái hình bóng đó và phải viết một bài ngắn về buổi đi khất thực đó, chúng ta sẽ có thêm mấy buổi nữa. Phải nhớ cái hình ảnh khất thực đó, mình phải an trú tâm làm một kẻ ăn xin của bậc thánh, của bậc hiền trí, hiền nhân, hiền đức, hiền từ để mình dẹp cái kiêu ngạo, cái tự cao tự đại trong tâm của mình và chính những giây phút đó là giây phút mình thành tựu được những đức hạnh hiền thiện, cao thượng, thanh cao, thánh thiện trong cuộc đời của mình, trong sự trải nghiệm tối thượng ở nơi viễn ly, ở nơi xa vắng, ở nơi non thiêng và thánh pháp này.
./.