Con Đường Đoạn Tận Năm Hạ Phần Kiết Sử 1- Đại Kinh MALUNKYAPUTTA,Trung Bộ 64
NIKĀYA GIẢNG GIẢI
CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN NĂM HẠ PHẦN KIẾT SỬ 1
ĐẠI KINH MALUNKYAPUTTA, TRUNG BỘ 64
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, hôm nay chúng ta tìm hiểu bài kinh Trung Bộ thứ 64, Đại Kinh Malunkyaputta. Bài kinh này nói về con đường đưa đến đoạn diệt năm triền cái, về phần năm triền cái con đã có chia sẻ rất là nhiều ở trong trường Phật học thì chúng ta phải chịu khó nghe lại cái phần đó. Cái bài kinh này là tổng quát và những cái hình ảnh ví dụ rất là rõ ràng và làm cho chúng ta sáng ra rất là nhiều những cái vấn đề sâu sắc mà có thể trước nay mình chưa bao giờ hiểu.
Đầu tiên là Đức Phật gọi các vị Tỳ-kheo đang trả bài cho ngài, chúng ta có thấy cái đoạn đầu Đức Phật kêu trả bài không?
"Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo'. –'Bạch Thế Tôn'. Những vị Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có thọ trì năm hạ phần kiết sử do Ta giảng dạy không?
Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Malunkyaputta bạch Thế Tôn:
-- Con có thọ trì năm hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
các ông thọ trì năm hạ phần kiết sử do ta giảng dạy không? Các ông có tiếp nhận giữ gìn, thực hành năm cái thứ mà nó trói cột và sai khiến chúng sanh hay là không? Dạ bạch Thế Tôn con có. Ngài hỏi năm hạ phần kết sử như thế nào, ông nói coi thì vị Tỳ-kheo trả bài:
"-- Năm hạ phần kiết sử do Ta giảng dạy, này Malunkyaputta, Ông thọ trì như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, con thọ trì thân kiến là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn con thọ trì nghi là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì giới cấm thủ là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì dục tham là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì sân là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con thọ trì năm hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Cho nên những buổi trùng tuyên thánh điển thì giống y như chúng ta áp dụng ở trong kinh này chứ không phải tự nhiên con cho chúng ta trùng tuyên thánh điển. Đức Phật thường hay hỏi lại các vị Tỳ-kheo các pháp mà ngài đã dạy, có những lúc ngài hỏi ba lần trả lời không được ngài nói ngu si, ngài A-nan trả bài giùm. Chúng ta nghe kinh đi rồi chúng ta sẽ thấy Đức Phật quở trách thành ra cái phần văn rất quan trọng, bữa cuối khóa con có nhắc phần văn là phần nghe thuộc lòng nhớ mà mình nhớ không được thì làm sao mình thực hành được? Đó là cái bước đầu văn – tư - tu tức là mình phải thuộc lòng những cái định lý quan trọng trong cái pháp, cũng như mình đi học những cái công thức, những cái định lý là phải thuộc lòng.
Từ cái thuộc lòng đó rồi mình mới nhớ, nghĩ, suy tư, từ cái nhớ nghĩ, suy tư đó rồi mình thực hành thì mới ra kết quả đó gọi là văn – tư – tu. Thành ra cái đoạn đầu là Đức Phật trả bài, tới cái đoạn thứ hai là hình ảnh một đứa con ngây thơ đang nằm ngủ, hoặc là một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa, cái hình ảnh này là hết sức là thâm sâu. Đây là một cái đề tài thiền quán rất là lớn, học cái bài kinh này chúng ta sẽ sáng tỏ vấn đề tại sao ở đây mình tu tập như lý tác ý là nhắc nhở tâm, quở trách tâm, la rầy tâm, mắng chửi tâm là bài kinh này sẽ giải mã cho mình thấy tại sao.
"Này Malunkyaputta, có phải các tu sĩ ngoại đạo cật vấn Ông với ví dụ này về đứa con nít? Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngủ không có tự thân, thời đâu nó có thể khởi lên thân kiến? Thân kiến tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Tức là những người ngoại đạo đó cật vấn vị Tỳ-kheo này một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngủ hay đang nằm ngửa thì nó đâu có khởi lên thân kiến, nó đâu có biết cái gì đâu mà nó có phải kiến chấp về cái thân. Bây giờ đứ nít mới đẻ oa oa có bản ngã không? Bình thường người ta sẽ nói ở đứa con nít thì nó đâu có tham, sân, si, nó đâu có biết gì đâu mà tham, sân, si, nó đâu có biết gì đâu mà nó có cái tôi nhưng đối với trí tuệ Đức phật không phải vậy.
Cái nhìn vậy là cái nhìn của phàm phu vô minh, thường thường mình nhìn đứa con nít nó ngây thơ, nó hồn nhiên, nó đâu có dục, con nít thì biết gì mà ái dục, nó mới có hai ba tuổi biết gì đâu mà tham, nó có cái gì đâu mà cái bản ngã, cái tôi, cái ta. Sai hết trơn, đó là cái nhìn của phàm phu. Đức Phật dạy nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngủ thì nó đâu có nghĩ về tự thân của nó, nó đâu có nghĩ về cái tôi, cái ta, nó đâu có thể khởi lên cái kiến chấp về thân, ta, tôi, bản ngã được nhưng mà không, thân kiến tùy miên thật sự sống tiềm tàng ở trong nó.
Cái kiến chấp về tự thân, cái ý nghĩ về cái tôi là nó đi theo ở trong tâm thức một cách miên man, thật sự là đang sống tiềm tàng ở trong đứa con nít đó. Cái chỗ này chúng nổi da gà rợn người, cái bản ngã thật sự là to lớn, nó đang sống tiềm tàng ở trong đó vì vậy cho nên gặp duyên mới bung ra, lớn lên, nó mới tăng trưởng phát triển, nó mới biểu hiện ra thôi chứ thật sự nó đã có trong này rồi. Nếu mà nó không có chấp ngã, nó không có cái kiến chấp về thân, nó không có cái tôi, cái ta thì làm sao mà gặp chuyện nó biểu hiện ra? Làm sao lớn lên thì nó càng thể hiện ra một cách là rất là to lớn?
"Thân kiến tùy miên thực sự sống tiềm tàng ở trong nó", câu này là rợn người hết. Đây là lý do tại sao mình lạy sám hối diệt ngã, đây là lý do tại sao mình la, mình rầy cái tâm của mình thường xuyên, nhắc nhở phải an trú vô cái nùi giẻ rách, cái tấm chùi chân, phải an trú vào một cái tâm của cái người ăn xin, phải an trú vào cái bộ xương, an trú vào cái đống cát bụi, tro cốt. Nếu mình không có những cái phương pháp tác ý đó thì làm sao mình diệt được cái tôi mà nó ngủ ngầm, dùng cái từ tiếng Việt mình cho dễ hiểu. Đó là mới nói đến một đứa con nít đang nằm ngủ mà Đức Thế Tôn nói thật sự là cái tôi, cái ta, cái bản ngã, cái thân kiến sống tiềm tàng ở trong nó.
Câu này là cái đề mục thiền quán suốt đời từ đây cho đới khi mình chết cũng chính là cái câu mà bậc đạo sư nói ở trong Cửa Vào Bất Tử "lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động". Nếu bên trong không có bệnh thì làm gì nó hắt hơi, nhảy mũ? Nếu bên trong không có bệnh làm sao nó biểu hiện ra là cái triệu chứng của cái ung thư hay là ung thư giai đoạn cuối? Thật sự là cái mầm móng ung thư đã tiềm tàng sống ở trong người đó chẳng qua bây giờ biểu hiện ra ngoài thôi, cái giai đoạn cuối thôi nhưng mà khi thật sự nó đang sống tiềm tàng ở trong người đó mà người đó không thấy không biết và ai thấy ai biết? Bác sĩ chuyên ngành.
Chúng ta thấy Thế Tôn là bậc y vương là vậy đó, y vương là vua thầy thuốc, là thánh trí tuệ là vậy đó, là ngài nhìn nó không phải giống như cái nhìn của mình. Cái nhìn của mình ở đứa trẻ nằm ngủ nó dễ thương quá, nó có gì đâu mà có bản ngã, đây là lý do tại sao mà mình phải như lý tác ý thường xuyên mà con nhắc hoài, bậc đạo sư dạy chúng ta tác ý mạnh. Ngày hôm qua chúng ta nghe tác ý có thấm không ạ? Vậy phải mở nghe lại, nếu mình không có tác ý, không có nhắc tâm mình, không có dạy cái tâm của mình, không có thường xuyên la rầy, quở trách cái tâm của mình thì cái tâm này không dạy được, tâm này không giáo dục được, không quản giáo được, không thể trị cái tâm này được, không thể huấn luyện cái tâm này được.
Cái sự nhắc nhớ, dạy dỗ cái tâm đó là như lý tác ý, dạy nó quay về diệt thân kiến cho nên phía sau Đức Thế Tôn nói con đường nào là con đường đưa đến đoạn diệt thân kiến các ông hãy tu tập con đường ấy. Con đường đoạn diệt thân kiến là cái gì?
Giới tử 1: Dạ con xin thưa sư phụ và thưa toàn thể các thầy, các cô và các vị hiền trí. Theo con con đường diệt thân kiến là con đường quán ba mươi hai thể trược và quán chín giai đoạn tử thi, con xin hết ạ.
Sư Phụ: Còn gì nữa không?
Giới tử 1: Dạ quán bất tịnh ạ.
Sư Phụ: Rồi còn gì nữa không?
Giới tử 1: Dạ hằng ngày phải chửi mắng cái thân này và thấy được cái thân này là vô thường, vô ngã và tất cả mọi cái rồi đều bị biến hoại, bị hủy diệt.
Sư Phụ: Còn gì nữa không? Con mới nói thức thì đó.
Giới tử 1: Dạ luôn luôn nhớ là phải diệt cái bản ngã, phải cho tất cả đều là vô thường và hằng ngày phải quán ngũ uẩn ạ.
Sư Phụ: Rồi, ai nói tiếp những pháp hành nào, con đường nào, đạo lộ nào diệt thân kiến?
Giới tử Hiền Nguyệt: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính thưa sư phụ con xin trả bài theo cách hiểu con muốn diệt thân kiến thì con phải quán niệm hơi thở. Quán hơi thở này nó mong manh, nó nhỏ bé, nếu thở vào mà không thở ra thì sẽ châm dứt cuộc đời, cách thứ hai là niệm oai nghi là lúc nào mình cũng phải trú vào trong oai nghi của mình đi, đứng, nằm, ngồi trong chánh niệm, cái thứ ba là quán hành động, mình làm cái gì phải biết mình đang làm cái đấy. Cái thứ tư là quán tứ đại, trong cái thân thể mình có đất, nước, gió, lửa thì nó là tứ đại, nó sẽ là vô thường và nó sẽ bị hoại diệt bất cứ lúc nào. Cái thứ năm là quán ba mươi hai thể trược, trong cái thân thể này là nó bất tịnh, nó bẩn thỉu, nó nhơ nhuốc cho nên ta không nên tham đắm vào nó. Cái thứ sáu là quán chín giai đoạn của tử thi.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay! Nhưng mà nhớ là không phải là cái cách hiểu của con, đây là thánh trí của Phật, nhớ nha. Đó là sáu pháp của Đức Phật hướng dẫn chứ không phải cách hiểu của con, nhớ nha.
Giới tử Hiền Nguyệt: dạ.
Giới tử 3: Kính thưa sư phụ con đường đưa đến phá thân kiến là gồm có niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi và niệm xác chết. Con xin hết.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay! Rồi còn ai nói nữa, chưa có hết, còn nhiều pháp lắm.
Giới tử 4: Kính bạch trên sư phụ quán về phá thân kiến là quán về tâm từ, tâm buông xả, tâm chấp thủ, tâm chấp ngã, quán về cảm thọ lạc, quán khổ, quán mũi tên, bất khổ bất lạc, quán vô thường. Dạ con xin hết.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay! Còn nhiều lắm, còn rất là nhiều, chút xíu xuống Đức Phật nói tổng quát hết. Thành ra ở đây chúng ta thấy cái gì, nhắc cái này để cho quý vị nhớ thiệt kỹ, cái này quan trọng lắm.
"Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Tất cả pháp đó đều là phá thân kiến hết, quán sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, là khổ, là bệnh hoạn, là cục bướu, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh chướng, là kẻ thù, là phá hoại, là trống không, là vô ngã. Tâm vị này giải thoát khỏi các pháp ấy tức là giải thoát ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, như vậy cái pháp quán rõ ràng vậy mà sao mình tu mấy chục năm, hai chục năm, ba chục năm, ở trong chùa tới chết mình không biết. Mình cứ tụng hai thời là xong rồi đó, chúng ta thấy không, suốt ngày, giờ nào, phút nào cũng phải nhớ ngũ uẩn này là vô thường, là khổ, là bệnh hoạn, là cục bướu, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh chướng, là kẻ thù, là cái thứ phá hoại, đồ phá hoại, phá gia chi tử. Năm đứa con sắc; thọ; tưởng; hành; thức là cái đồ phá gia chi tử. Mình thấy nó là cái kẻ phá gia chi tử hay là thấy nó là con cưng? Thấy nó là phá gia chi tử hay là nghịch tử, hay là thấy nó là đích tử?
Nó là cái đồ phá hoại, thấy nó là kẻ thù, sắc này là kẻ thù, nó hại mình. Ở Đà Lạt mới ngày hôm qua đất ở trên đồi sạt xuống, ông chồng kéo hai đứa con nhỏ ra kịp, bà vợ ra không kịp chết trong nhà luôn, là cô giáo ở Lâm Đồng. Sắc là giết người mà, hôm qua có một chú Phật tử gửi cho con hình ảnh mà con chưa dám gửi cho đại chúng, cái cặp đôi này ở quận 12 vô quán trà ở Sài Gòn thì cậu này đâm cô kia không biết bao nhiêu nhát dao, đỏ hết người máu lai láng rồi tự đâm vô cổ mình, đâm vô bụng mình rồi ngã xuống chết. Chấn động Sài Gòn hết, dục này là kẻ giết người, ái này là kẻ giết người, sân hận này là kẻ giết người, những thọ; tưởng; hành; thức này là kẻ giết người.
Nói qua nói lại một hồi, tôi ta, hơn thua, đúng sai một hồi là đả thương nhau bằng vũ khí miệng lưỡi rồi đâm nhau, rồi chém nhau, rồi giết nhau, rồi sát hại, tàn sát lẫn nhau. Những cái này là mình không bao giờ quên, không bao giờ được quên, thường xuyên phải nhắc đi nhắc lại, nhắc tới nhắc lui, an trú hoài như vậy mới phá được cái tâm hôn mê, mới dẹp được cái thân kiến, mới đập vỡ được cái bản ngã, mới đánh đổ được cái tôi và mới nghiền nát được những cái ta ở trong những cái cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình. Còn nếu mà mình tu mà không tác ý, không quán chiếu gì hết, mình không làm cho mình sanh khởi lên một cái trí tuệ để mình đánh phá thân kiến tùy miên ở bên trong tâm thức của mình, một cái tôi to lớn nó ngủ ngầm, nó cứng chắc phía dưới, cái từ Đức Phật nói là nó rất là kiên cố, cứng chắc. Đức Phật nói:
"…sống với tâm bị triền phược bởi thân kiến, bị chi phối bởi thân kiến, và không như thật tuệ tri sự xuất ly thân kiến đã khởi lên. Thân kiến này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử" (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Tức là cái ý nghĩ về tôi, về ta, về tao, về mi cứng chắc như tường đồng vách sắt, bất khả xâm phạm, chỉ cần ai nói gì một câu thôi mà chưa nói nữa, chỉ cần nhìn cái ánh mắt thôi là ta không để cho yên, ai dám đụng tới ta người ấy đau khổ trong đó, người đó sầu, bi, khổ, ưu, não trong đó, người đó phải chịu đựng những cái ngọn lửa hừng hực, sân hận, nhiệt não thiêu đốt ở trong đó. Tại sao dự lưu, nhập lưu thánh quả? Chỉ cần phá thân kiến thôi thì hoài nghi, giới cấm thủ hết là nhập lưu thánh quả. Dễ hay khó? Khó cũng phải làm, nhất trí không? Nỗ lực làm là không khó, ngày nào mình cũng nghe hết, ngày nào mình cũng quán hết, ngày nào mình cũng thiền quán ầm ầm.
Thở có khó không? Ăn cơm có khó không? Uống nước có khó không? Đi ngủ có khó không? Vậy tu sao khó? Bây giờ tác ý ngược lại không khó, nhất quyết phải làm được, nhất quyết phải phá thân kiến được, xác quyết phải đập nó, xác quyết phải giết nó, diệt nó. Cái chỗ này chỗ chúng ta giải mã ra được những cái mà trước nay mình chưa vô Nikāya mình không hiểu, một đứa trẻ ngây thơ, hồn nhiên, dễ thương như vậy làm sao nó có tham dục, làm sao nó có sân hận, làm sao nó lại có bản ngã nhưng mà đụng vô đi thì biết. Lấy mất cục kẹo của nó đi, giật cái bình cái bình sữa của nó đi, nó la lên cho mà coi, nó giãy giụa lên cho mà coi.
Chỗ này chúng ta mới thấy cái thánh trí của Đức Phật cho nên cái sự tu học mà kêu cứ ngồi im re đi để nó tự sanh tự diệt, mình không có cần xen vô gì hết trơn thì cái sự học này hết sức nguy hiểm. Nhà dơ như vậy, hôi như vậy, chuột chết như vậy, tắc kè chết như vậy, gián chết như vậy, mèo chết như vậy, ỉa đầy hết bốc mùi hôi thối như vậy mà cứ ngồi yên thì tự rộng nó sạch hả? Thành ra cái sự tu học chúng ta phải coi kỹ, bây giờ con thưa mình nỗ lực muốn gần chết đây nè, từ đây tới hơi thở cuối cùng tới chết không biết có phá nổi thân kiến không nữa chứ đừng có nói chi ngồi yên không tác ý gì hết, cứ ngồi thở vô thở ra là xong.
Thành ra cái chỗ này hết sức là có cái sự suy tư, động não, đây là lời Thánh ngôn lượng mà, thánh điển y cứ mà. Cho nên ngày nào, giờ nào mình cũng lo sợ, mình quay trở vô mình coi cái thân kiến của mình coi bây giờ có giảm hay chưa hay là nó đang tăng. Thí dụ như có người nào đó đụng chạm tới mình thì lúc đó mình coi liền thọ; tưởng; hành thực sự nó giảm hơn hồi xưa hay nó đang tăng, mà tăng hay giảm gì mình cũng đập đầu nó hết trơn, nó chưa hết là phải trị nó, chừng nào nó hết rồi thì thôi, hết rồi thì đâu còn vấn đề gì nữa. Mình thấy nó sanh khởi lên là mình thấy xấu hổ, mình thấy nhục nhã, mình thấy buồn đau, mình thấy ê chề, não nề, gớm ghê, chán chê, tủi thân, tủi phận, tủi nhục, tủi hờn, tủi hổ. Đó là cái từ của tầm quý đó.
Tại sao mình tu như vậy tới giờ này mà cái tôi của mình, cái ta của mình, cái bản ngã của mình nó còn như vậy? Đi lạy người ta đi, đắp y quỳ xuống lạy dưới chân người ta đi, mà lạy dưới chân người đó không nổi thì bữa sám hối cứ đi ra lạy, không có đợi tới cái ngày sám hối. Tới cái ngày tu mà bữa đó có sân với ai, khó chịu với ai, bản ngã với ai đó là vừa tu xong ra quỳ ngay chính giữa "bạch chư tôn đức, chư hiền trí ngày hôm nay con có khởi cái bản ngã, thân kiến. Con thấy nhục nhã, con xin trình bày ra, phát lồ ra và con xả cái thân kiến ngu này ra. Xin chư tôn đức, chư hiền trí chứng minh cho con" rồi lạy xuống. Đó là đức hạnh cao đẹp, hiền thiện, cao quý của một người tu, cố gắng làm được cái này tuyệt vời lắm.
Cái này bây giờ không có chỗ nào đâu, phải giữ gìn cái đặc sản của đạo tràng Nikāya này, được không? Bất cứ đừng có đợi tới ngày sám hối mà hôm nào nổi sân với ai, khó chịu, bực bội với ai, bản ngã, hơn thua với ai là trưa đó, tối đó, bất cứ cái giờ tu xong ra quỳ ngay giữa dập đầu xuống, và nếu còn cái tâm hiền thiện đẹp nữa là quỳ thỉnh cái vị mà mình sân ra "dạ thưa tôn giả, bậc tôn đức xin ra chứng minh cho cái bản ngã ngu si, thân kiến này của con được tan vỡ, con lạy dưới chân ngài". Lấy cái trán đặt lên cái chân của vị đó, "cho con đặt đầu dưới chân của người đặng con xả cái bản ngã ngu si, cái thân kiến tồi bại, cái ta ngu dại này, cho con diệt tận hoàn toàn". Đây là đức hạnh, đó là diệu hạnh, là đệ tử của Thế Tôn, trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn, chân chánh hạnh là đệ tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là đệ tử của Thế Tôn là bốn đôi tám chúng, đệ tử Thế Tôn là đáng được chấp tay, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được đảnh lễ, là ruộng phước vô thượng ở trên đời là những đức hạnh như vậy.
Còn kẻ vô văn phàm phu là có lỗi nhưng người ta chỉ lỗi thì không nhận lỗi còn sân hận nữa, cái đó là không biết tu, là cái mù lòa mà mình là được sáng mắt rồi, mình được nhìn thấy cái tâm mình rồi mà, mình không có thể trở lại kẻ mù được. Mình đã được Đức Thế Tôn, các bậc thánh hiền, bậc đạo sư đem thần dược, diệu dược, thánh dược, Phật dược, pháp dược trị cho mình sáng một mắt lên rồi, mình không thể trở lại cái kiếp mù lòa được. Phải quỳ lạy, lạy ngay trong bếp, lạy ngay trong ni xá, lạy ngay ở trong tăng xá chứ không phải đợi tới thiền đường mới lạy được.
Ngay vườn rau mà nổi sân, bản ngã là quỳ xuống ngay vườn rau lạy từng cái cọng rau ở dưới đó, lạy ngay vườn rau muống, ngay vườn rau lang, lạy ngay tại chỗ đó thì chỗ đó sau này mọc lên những đóa hoa bất tử. Sau này những cái chỗ đó xây tháp mà thờ tại chỗ này những hiền giả, những hiền trí, những bậc thánh hạnh đã thực hành lễ lạy ở đây. Lúc đó thầy Pháp Nghĩa với con ở bên Cô Phong Đảnh, thỉnh bậc đạo sư lên thăm trên đó con muốn cúng dường cái chỗ đó cho ngài, khi xuống về ngài chào, ngài quỳ ngày lại thầy Pháp Nghĩa ở ngay cái ven đường, ở đầu đường Cô Phong Đảnh là cái chỗ mà sau này nếu đủ duyên con sẽ xây tháp chỗ đó. Ngài là sư phụ của con mà ngài lạy đệ tử của con vì trong ngài đâu có tôi, đâu có ta gì đâu, chính những cái đó con mới tâm phục khẩu phục chứ con cứng đầu lắm không, phải dễ nghe đâu.
Cho nên mình cố gắng học những cái gì ngài dạy là ngài đã thực chứng, đã thành tựu. Ngài dạy mình đặt đầu mình dưới chân của người cho con xả cái bản ngã ngu si này, đó là những đức hạnh, là đạo hạnh, là thánh hạnh mà chỉ có thực hành những pháp như vậy mới phá được cái thân kiến, đâu phải nói cái miệng rồi lên nghe không và trả bài không đâu, phải thực hành. Chúng ta thấy khi mình quỳ đối diện nhau rồi lạy với nhau như vậy mình thấy đẹp không? Phải thường lạy.
Con nhớ ba mươi mấy năm trước khi con còn là chú tiểu trong chùa, có bà già tám mươi tuổi ăn trầu hai cái hàm răng đen thui, nói chuyện rung rung, tay chân cũng vậy, con mắt thì mờ lắm, tới giờ con còn nhớ cái hình ảnh lúc còn chú tiểu "tôi nói cho thầy nghe lúc tôi đi vô chùa tôi thấy mấy ông thầy quỳ lạy với nhau, tôi không biết đang làm cái gì á. Hai ông quỳ vầy nè rồi lạy với nhau. Tôi không biết tu cái đạo gì vậy thầy". Lúc đó mình là chú tiểu mới vô chùa đâu có biết cái gì "ủa sao hai người quỳ lạy với nhau?", cũng không biết tu cái đạo gì, sau này mình mới biết là cái ngày tự tứ đối thú, ngày đối thú an cư kiết hạ.
Đối là đối diện, thú là cái đầu, tức là hai cái đầu đối diện để lạy với nhau nhưng khi con đi vào rồi thực hành những cái pháp đó con cũng thấy đây là cái nghi thức thôi, làm cho xong qua rồi thôi. Đến khi vào dòng pháp Nikāya mà bậc đạo sư dạy mình lạy cái này đó thì con mới thấy là tuyệt vời, vi diệu, cao đẹp, thanh cao, cao thượng, thánh thiện. Hãy giữ gìn cái nếp nhà Nikāya cao quý này, cái đặc sản tối thượng của Linh Quy Pháp Ấn, cái độc đáo, độc nhất trong đạo tràng Nikāya này. Hãy thường xuyên thực hành cái pháp này, ngày nào mà đại chúng còn thực hành cái pháp này ngày đó đại chúng mình còn hiền thiện, ngày đó đại chúng mình còn những bậc hiền giả, những bậc hiền trí, sẽ có ra những bậc hiền thánh. Ngày nào cái pháp này mất đại chúng không còn hiền thiện nữa, không còn hiền trí nữa, sẽ không còn các vị hiền thánh nữa.
Mọi người có thấy hoan hỉ không? Chịu làm không? Cho nên mỗi bữa mình sám hối diệt ngã tới cái đoạn quỳ xuống là đối diện với nhau lạy, sau này lấy cái đó làm cái nghi thức chung luôn chứ không có đứng đọc không. Tới lúc quỳ xuống lạy bạn đồng tu, lạy kẻ dưới mình là quỳ vô lạy và phải lạy cho chân thành, lạy cho tha thiết, lạy cho thật sự là ngọt ngào, thật sự là thấm đẫm, dạt dào một cái tâm khát khao muốn đập vỡ cái tôi này, một cái tâm biết ơn, một cái tâm cung kính. trong cái lạy đó đầy đủ các pháp chứ không phải lạy hình thức đánh cái bong rồi gõ cái keng đứng ra liền. Không phải, lạy chậm cho người ta quán chiếu.
Người đánh khánh cũng rất quan trọng tùy theo cái mình để ý. Cái người đánh khánh là cái người phải thực hành pháp, nếu cái người đánh khánh có thực hành pháp một cách nghiêm túc cái đó gọi là người diệt chúng tức là người cầm những cái pháp khí là rất quan trọng. Nếu người đó có thực hành, có một sự chánh niệm tỉnh giác phù hợp thì cả chúng được lợi lạc, còn nếu người đó không thực hành pháp mà cái tâm không có sự chánh niệm tỉnh giác có khi là đại chúng không được có lợi ích nhiều, mất lợi ích. Ví dụ như lúc đó là lúc cần phải chạm cái đầu xuống để mình quán chiếu, chôn vùi cái bản ngã thì phải để cho cái thời gian dài một chút để người ta thiền quán, thế mà mới chạm đầu xuống mình đánh keng liền thì mất cái giờ thiền quán đi mà lúc đó là cái lúc quán chiếu rất là sâu sắc, dào dạt cái cảm thọ, lúc đó là lúc thực hành pháp.
Thành ra cái chữ vi diệu ở trong đạo tràng chúng ta là lý thuyết thực hành song song, phải lạy nhau bất cứ từ trên xuống dưới. Và nếu có vị nào chỉ lỗi con thì con sẵn sàng quỳ xuống con lạy liền, con đã từng làm nhiều lần lạy một cách ngọt ngào, lạy một cách can tâm tình nguyện, lạy một cách thiết tha, chân thành. Tất cả chúng ta đều vậy hết từ trên xuống dưới, từ các ni sư cho đến người cư sĩ, không phải nói rằng giờ tôi ni sư rồi, giờ tôi Tỳ-kheo rồi, tôi là sư cô rồi tôi không lạy nữa, càng phải lạy nhiều hơn mấy người kia nữa, càng thấp càng cao, càng nhỏ càng lớn.
Mình thấy trong mình có cái gì không hài lòng, có cái gì hơn thua là kiếm người đó lạy, nếu mình còn chưa có xả hết hoàn toàn được mình kiếm cái chỗ vắng mình lạy nhau cũng được. Nhưng trong đạo tràng Nikāya là không có mắc cỡ, không có xấu hổ, lạy đó là đẹp mà xấu hổ gì, lạy đó là vinh hạnh, vinh quang, vinh dự, vinh hiển cho dòng tộc của mình có một đứa con đi tu như vậy, tu đúng chánh pháp như vậy. Tìm đâu ra những pháp hành như vậy trong cái thời kỳ này? Tìm đâu ra những hình ảnh như vậy trong hiện tại của Phật giáo? Tìm đâu ra những cái sự chân thành, biết ơn, cung kính, khiêm hạ, khiêm cung như vậy? Tìm đâu ra? Chúng ta có thấy mình đang hạnh phúc với cái pháp hành tối thượng này không?
Và nhớ là khi chúng ta hướng dẫn các cái vị mới xong là nhớ phải quỳ lên lạy diệt ngã. Cái đó còn thực hành không? Phải nhớ thực hành cái đó, đó là thánh sản của bậc đạo sư truyền lại không được quên, mình lạy cho họ cũng là tu cho mình và cũng giúp cho họ tu tập. Đó là cái bài thực hành, nãy giờ mình nói là lý thuyết tới cuối đó là mình thực hành cho thấy cái pháp hành cho nên ghê gớm là cái sự ngủ ngầm. Đức Thế Tôn nói thật sự là cái tôi ta này nó ngủ ngầm ở trong đứa con nít đó, cái dục tham này nó ngủ ngầm ở trong cái đứa trẻ thơ đang nằm ngửa đó, cái sân hận đó nó ngủ ngầm, cái hoài nghi, những cái giới cấm thủ nó đang ngủ ngầm ở trong đó. Chính vì vậy tới lúc đủ duyên thì nó biểu hiện ra, nó thể hiện ra, nó hành động, lời nói, cái cách cư xử thôi.
Bây giờ nếu như không có cái mầm móng ngủ ngầm của rắn độc thì làm sao đời sau mình đọa vào rắn hổ mang được? Nhưng kẻ vô văn phàm phu đâu có biết, chính vì vậy mà khi họ chết rồi họ đi đâu họ đâu có biết, còn bậc trí tuệ, bậc thánh thì nhìn ra sẽ thấy được cũng như Thế Tôn nhìn Đề-bà-đạt-đa nói Đề-bà-đạt-đa chắc chắn đọa địa ngục hay là ngài nhìn thấy những chúng sanh ngài biết. Trong những cái bản kinh chúng ta đã học rồi, đi xuống đóng phân hay là đi xuống hố than hừng, hay đi đến bóng cây hay đi đến tòa lâu đài Đức Phật nhìn thấy hết ở trong lục đạo đó, cái thú hướng của người đó, những cái hành nghiệp của người đó thì dẫn người đó đi đến con đường đó và đi đến cái chỗ đó.
Thành ra cái chữ ngủ ngầm này là ghê gớm, cái chữ tùy miên này là đi theo mình miên man, lúc nào nó cũng có trong đó mà mình không thấy. Cái này mới giải mã được cái chữ mù lòa, con mắt này là mù lòa, lỗ tai này là mù lòa, lỗ mũi này mù lòa, cái miệng này mù lòa, cái thân này mù lòa, cái tâm thức này là mù lòa.
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi... "(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Hồi xưa con học lúc mà gặp bậc đạo sư con đọc con nói "ủa mù gì? Sao mù? Mắt mình thấy mà sao nói mù?". Sắc này là mù lòa, mình không hiểu, tới chừng ngài giảng ra, ngài chỉ ra một cái rồi là nước mắt mình tràn ra hết, đúng thật sự sắc mù lòa, cảm giác này là mù lòa. Đâm chén với nhau đó, hình bóng trong tâm là mù lòa, suy nghĩ là mù lòa, nhận thức là mù lòa cho nên những hình bóng ám ảnh nó làm cho mình khổ mà mình cứ nuôi dưỡng nó, mình vẫn cất giữ nó, mình rất quý nó trong khi nó làm cho mình đau khổ có phải mù không?
Nếu mà cái người sáng mắt biết rằng đây là cái con rắn hổ mang chúa mà nó nằm ở trên cái giường mình, mình dám nằm ngủ chung nó không? Chỉ có người mù mới không biết thì rõ ràng là chúng sanh đang nuôi ba con rắn hổ mang chúa, còn nếu ở đây là năm con, thêm hai con nữa. Như vậy mà không thấy không biết gì hết thì Đức Phật gọi là vô minh, trong khi cái thân này làm cho mình khổ, nó bắt mình phải cung phụng nó đủ điều hết, cơm áo gạo tiền cũng muốn chết rồi, lao tâm khổ tứ, nhức đầu nhức óc còn thêm sanh, già, bệnh, chết là nó hành mình, chưa hết còn tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, hơn thua, đố kỵ, ganh tỵ đủ thứ hết trơn.
Như vậy đó mà mình vẫn nuôi những cái thứ làm cho mình khổ đau, mình nuôi mà cái tôi là cái này chính là cái gốc của tất cả cái khổ là kẻ thù. Nó hại mình, nó giết mình, nó là kẻ địch, kẻ sát nhân, kẻ giết người nhưng mà mình lại cưng nó, mình nuôi cho nó lớn, mình yêu thương nó, mình chiều chuộng nó thì như vậy là khôn quá ha. Cho nên mới gọi là vô minh mà cứ tưởng là thông minh, vì nuôi dưỡng cái thân kiến, nuôi dưỡng cái tôi, cái ta, từng suy nghĩ là nuôi nó mới chết đó. Cho nó ăn mập thây lên, cho nó mạnh khỏe lên Đặng nó đi kiếm chuyện gây sự với người ta, có không? Nói một hai câu là cự, nhìn thấy là bực bội, nghe cái thôi, đọc cái tin nhắn thôi là sân si lên. Trời đất ơi! Ngu hết chỗ nói cho nên "thương mình sao ngu quá" là toàn tập dài lắm, giờ tới bốn năm buổi rồi mà chưa hết nữa, làm chắc phải vài chục buổi.
Phải thương cái ngu này, thương cái vô minh của mình, thương cái mù lòa của mình, thương cái si ám của mình là cái thứ khổ mà mình lại cất giữ, mình nuôi nó, mình cho nó ăn rồi mình vuốt ve nó, mình nâng niu nó dữ lắm mà cái bản ngã ác độc, này cái thân kiến ngu si này. Một chút cũng không hài lòng, chút cũng không vừa lòng, chút cũng bắt, bẻ một chút cũng khó chịu, bực bội mà với ai? Với cha mẹ của mình, với chồng con của mình, với anh chị em của mình, với thầy, huynh đệ, tỷ muội của mình. Thiệt là đáng thương làm sao mà mình không có quán những cái này thì làm sao? Phải quán nó là kẻ thù, kẻ địch, kẻ giặc, bất hạnh, là khổ đau, là tai họa, phải quán của nó là tai nạn, khổ nạn, khốn nạn, hiểm nạn, nguy nan, là những cái ý nghĩ về cái tôi, cái ta này là phải đánh nó bầm dập, đánh cho nó bành thây áo vũ, truy sát nó, diệt tận nó, làm cho nó không còn có thể sanh khỏi trở lại trong tương lai.
An trú một cái nội tâm hiền thiện, hiền hòa, hiền kính, hiền từ, hiền nhân, hiền đức, hiền trí. bất cứ gặp cái hoàn cảnh nào. Ta chẳng là ai trên cuộc đời này, ta chỉ là cái đống tro tàn, cát bụi, khói mây, chẳng có ta nào ở đây cả, nếu có ta thì cái ta này là khói mây, là cát bụi, là nắm tro, là hũ cốt, là đống phân, là cái nùi giẻ rách, là bộ xương, chẳng có ai ở đây cả. An trú những cái hình bóng này là nó hiện hoài ở trong tâm, khi nhớ về mình lập tức hiện lên cái nùi giẻ rách, lập tức hiện lên hình bóng của bộ xương, lập tức hiện lên một cái đống bầy nhầy gan, ruột, phèo, phổi văng tứ tung, lập tức hiện ra cái hình của một cái huyệt, cái mộ, cái hòm, hiện ra hình của cái lò hỏa táng.
Ngày hôm qua con đã nhắc gặp tất cả những cái ngọn lửa là phải quán đây là lửa lò thiêu cho chính mình, những cái giọt nước mưa là những dòng nước mắt. Mình đau khổ vì cái tôi, cái ta, cái hơn, cái thua này, cái nhân, cái ngã, cái bỉ thử, cao thấp này. An trú cái tâm như vậy, đạp ở trên mỗi cái miếng đất này là đạp trên những cái tro cốt, hài cốt của quá khứ vô thỉ kiếp của mình luân hồi. Nhìn thấy dòng sông là nhìn thấy nước mắt, nhìn thấy đại dương là nhìn thấy những giọt lệ, nhìn thấy bất cứ màu đỏ ở đâu đó là huyết lệ trong vô thỉ luân hồi này. Nhắc cái tâm rằng "tâm ơi là tâm, tâm ơi tỉnh đi tâm, phải nhớ nha tâm, đừng bao giờ quên nha tâm, phải diệt tận cái thân kiến này, đánh phá hoàn toàn cái, tôi cái ta này không bao giờ còn một cái gì nữa trong này hết, diệt tận không thể sanh khởi trở lại trong tương lai".
Tu như vậy mà không tiến bộ, tu như vậy mà không thành tựu, tu như vậy mà không phá được thân kiến thì chặt cái đầu của con đây nè, con đưa cái đầu ra cho chặt. Tu như vậy mà tâm không hiền thiện, tu như vậy mà tâm không khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhã, khiêm tốn, khiêm nhường thì con cúi xuống đây để cho quý vị đập lên trăm ngàn trượng, đao gậy gì cũng được hết. Phải thường xuyên an trú nhắc nhở tâm mình liên tục vì nó ngủ ngầm, vì nó ngấm ngầm hoạt động bên trong mà tại sao mình không chịu nhìn. Mình nhìn ra ngoài hoài, mình nhìn người ta, cứ nhìn người này, người kia, người nọ, đúng sai chuyện của người ta để làm gì? Bắt bẻ người này, bắt bẻ người kia, khó chịu người này, bực bội người kia để làm cái gì? Để được cái gì? Trời ơi được cái gì? Để tăng thêm cái bản ngã, để lớn thêm cái ngã kiến, để bồi đắp cho cái vô minh, để cho nó phừng phựt những ngọn lửa sân hận lên, để nuôi dưỡng cái vô minh này sao?
Phải nhớ rằng là cái sự ngấm ngầm của thân kiến, cái sự ngấm ngầm của cái bản ngã, sự ngấm ngầm của cái tôi này là phải canh nó 24/24. Phải canh chừng nó, nếu không nó sẽ giết mình chết, nó sẽ ám sát mình, nó ám hại mình, từ một cái sự ám ảnh nó sẽ đi đến cái ám hại, từ ám hại nó đi đến ám sát, ám ảnh cái hình bóng tự ngã trong cái tưởng uẩn đó. Nó ám hại mình ở trong những cái sân hận, hơn thua, đúng sai, cao thấp, phải quấy, nhân ngã bỉ thử, tốt xấu, ta mi. Nó ám hại mình, từ ám hại mình đi đến ám sát mình luôn, nó giết mình chết ở trong vòng luân hồi sanh tử này.
Mình chết cái trí tuệ, chết cái tâm hiền, tâm từ của mình, chết cái tuệ giác, cái thánh trí của mình. Mình bị chết, mình bị mất cho nên bài sám hối diệt ngã có cái chữ bậc đạo sư dùng từ "ám hại" là rất là sâu sắc. Nó hại mình mà nó ở trong cái lờ mờ tối đó, nó âm thầm hại mình, mình không biết gọi là ám hại, không biết nó đang hại mình. Hôm qua chúng ta đã nghe bài "Xảo Trá Của Tâm" cho nên mình tu cái này lần lần trí tuệ của mình sáng ra, cái sự chánh niệm và tỉnh giác của mình nó sâu sắc nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ. Mình thấy được cái bản ngã nó hoạt động, dục, tham, ái, sân si hoạt động, những cái nguyên nhân của khổ nó vận hành như thế nào, nó cơ cấu như thế nào, nó tổ chức như thế nào, cái guồng máy như thế nào, cái hệ thống điều hành của nó như thế nào mình sẽ phát giác phát hiện ra thì mình mới nhiếp phục, chế ngự, đánh phá vào đó hằng ngày là nó hoạt động 24/24, trừ cái lúc mình được nghe pháp, được tác ý ,được thiền quán.
Buông ra là nó trở lại, thậm chí ngay lúc nghe pháp nó vẫn hoạt động chứ không phải là không. Nếu mình không có khéo léo thì khi nghe nhiều khi cũng sân hận, khó chịu trong nữa, nó chống đói cho nên nhìn ra rồi con thưa với chư tôn, chư hiền là ngán lắm, nó nhàm chán vô cùng, nó ớn, mình muốn lẹ lẹ đi rồi xong mình sẽ từ giã, vĩnh biệt luân hồi, không phải là tạm biệt nữa mà vĩnh biệt luân hồi, ngán quá trời quá đất rồi, sợ quá rồi, khổ đủ rồi. Mình bị nó ám hại, mình bị nó ám sát, sáng bị ám sát, trưa bị ám sát, chiều bị ám sát chứ không phải là mới đây bị ám sát đâu, đâu phải bên nửa vòng trái đất đâu mà nó ám sát mình bất cứ mọi lúc mọi nơi. Nhiều khi đang ngồi thì nó cũng ám sát mình luôn, con ma hôn trầm nó giết mình chết, ngồi đó mình chết không biết trời biết đất, ngồi đó nhắm mắt hả họng ra, ngồi thiền mà nhắm mắt hả họng.
Nó giết mình chết, giết cái tỉnh giác ở trong mình, nó giết cái chánh niệm ở trong mình, nó giết cái sáng tỏa trong mình, nó giết cái tuệ quán trong mình. Nghĩ rằng "thôi đừng tác ý, tác ý mệt lắm" rồi xong, đó là ý hành giết người, "đừng đi tu nữa ở dưới đi cho nó khỏe". Nó giết người, "quán hoài thấy căng quá à", nếu đang thiền quán mà đứt gân máu là lên trên luôn chịu không? Đi chơi, đi tắm biển, xe đụng này này kia mới sợ chứ đang tu thánh trí mà chết thì quá là tốt lành chứ, chết như vậy là tuyệt vời lắm, nằm mơ còn chưa được. Vô tu cứ sợ chết, ra ngoài ăn chơi rồi quậy, đánh lộn mà không sợ chết, vô tu thì sợ chết, ngồi chút tê chân, "chết rồi chắc gãy chân luôn quá". Tu một chút là sợ à, đi bộ du lịch bao nhêu cây số vẫn thấy khỏe re mà vô ngồi thiền chút sợ "đau chân chết, bệnh à".
Nó ác không? Cái ý hành nó ác không? Nó xúi mình cho nên mình mới thấy được Đức Phật dùng cái hình ảnh cái đứa trẻ, đứa con nít ngây thơ đó nằm ngủ hay là nằm ngửa thì cái này là sâu sắc lắm.
"Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ, đang nằm ngửa không có các pháp, thời từ đâu nó có thể khởi lên nghi hoặc đối với các pháp? Nghi tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Nghi ngờ nhân quả, nghi ngờ nghiệp báo, nghi ngờ điều thiện, không biết mình làm vầy mình có được gì không, mình bố thí, cúng dường mình có được cái gì không, mình tu vầy rồi cuối cùng mình được cái gì. Nó nghi ngờ, rồi giờ mình tập bỏ hết ngũ uẩn rồi sao, mình sao nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự, do dự. Vì sao? vì cái sự chánh tín, chánh kiến chưa có đầy đủ cho nên đó là lý do tại sao mình nghe pháp hằng ngày, mình tác ý, quán chiếu, mình nghe hoài, mình tụng hoài, mình niệm, mình học thuộc lòng hoài. Cái đó học rồi cứ nhắc hoài, nhắc hoài, chừng nào hết nghi là không nhắc nữa, trong kinh nói từ dự lưu cho đến A-la-hán đều tác ý như vậy hết, ngũ uẩn này là kẻ giết người, là hổ hố than hừng, là kẻ giặc, là cướp, là bất hạnh, là tai hoạn, là ung nhọt, là bệnh nặng, là trống không, là vô ngã.
"Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
-- Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
-- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác." (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Tới bậc thánh A-la-hán vẫn tác ý như vậy, khi các ngài tác ý các ngài hoan hỉ lắm thành ra không phải dự lưu xong rồi là không tác ý nữa mà càng tác ý nhiều hơn khi chưa dự lưu nữa. Bây giờ chưa dự lưu mà muốn không tác ý là xong rồi, không chịu tác ý thì đi tát người, lo tác vô cái ý trong này chứ đừng tát ở ngoài rồi bị ở ngoài tác. Bây giờ chịu tác ở trong này hay là bị tát ở ngoài? Phải tác ở trong cái ý, chữ này nó nhiều nghĩa vừa Hán Việt mà vừa tiếng Việt luôn, tác vô cái ý vô cái tâm ý của mình, tác vô cái thọ; tưởng; hành thức này thậm chí mình thấy có những người đó giận quá vì làm sai thì người ta tát vô mặt cái bóp để tỉnh.
Đó là tác vô sắc, tác vô thọ, tác vô tưởng, tác vô hành, tác vô thức. Phải đánh đó thành ra hình ảnh đứa trẻ con nít ngây thơ này đang nằm ngửa là cái đề mục thiền quán suốt đời chúng ta không được quên.
"Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa không có giới, thời từ đâu nó có thể khởi lên giới cấm thủ trong các giới? Giới cấm thủ tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Thế nào là giới cấm thủ? Là giữ những cái điều mà nó không có đúng với nhân quả, với nghiệp báo, với sự thật, với chánh pháp. Thí dụ như không được mặc đồ màu gì đó, đi lại xem trúng sao gì đó là không được mặc cái đồ đó, phải mặc cái đồ màu khác, không được quét nhà, mà quét nhà phải quét vô, mùng một tết đừng quét ra, rồi mùng 8- 23 mấy ngày gì đó không được đi, nhiều lắm. Ví dụ người ta bệnh vậy lại nói "ủa bệnh nặng quá vậy" thì cái này không được nói nha, bác sĩ nói là còn không bao lâu nữa cũng không được nói, cái này không có tốt.
Đây là giới cấm thủ đó, tức là mình giữ những cái điều mà mình chấp vô trong đó, không được nói mấy cái lời đó, bệnh gần chết mà cũng không được nói chết. Cái này chúng ta thấy có nhiều không? Nhiều lắm, vô minh, tà kiến, tâm bám chặt, tâm nắm chắc, chấp giữ những cái điều mà nó phi lý, nó không đúng sự thật, không đúng nhân quả, không đúng nghiệp báo, rất là nhiều, nhiều lắm. Hễ làm cái gì rồi là làm y chang như vậy, xưa bày nay làm không được thay đổi, biết cái đó sai rồi cũng không được thay đổi, giữ hoài vậy đó. May sao con cũng nhẹ cái này cho nên con mới vô Nikāya được, chứ không giờ này sao vô đây được, xưa bày nay làm, người ta sao mình vậy, trăm năm, ngàn năm không thay đổi. Đó là giới cấm thủ.
Tụng mà không biết cái gì hết trơn mà cũng tụng, tụng vậy nó mới linh, không cho ai biết gì hết là linh, còn kêu đoạn tham, sân, si thì không chịu "này dễ ợt, con biết hết trơn". Con biết hết trơn mà tham, sân, si con là tổ sân, kêu đoạn trừ bản ngã đi thì "bản ngã có gì đâu đoạn", nói sự thật, nói chánh pháp thì không chịu nghe mà thích nghe cái tầm bậy tầm bạ, mê tín dị đoan, tà kiến thì thích. Mình nói lại đây cầu đi linh dữ lắm là rần rần lên liền, xách giỏ chạy liền, những cái đó mê tín, tà kiến, giới cấm thủ cho nên trí tuệ không phải dễ đâu, phần lớn chúng sanh là sống trong tà kiến, phần lớn, rất là lớn, nhiều như là đại địa mà được chánh kiến chỉ giống như đất ở trong móng tay thôi. Chánh kiến là trong Nikāya này nè, là căn cứ theo cái này để mà nhìn, căn cứ theo cái này để mà nghĩ, căn cứ theo cái này để mà quán sát, căn cứ theo những lời thánh ngôn lượng của Đức Phật để ứng xử, hành xử, để tu tập thì cái đó mới gọi là chánh kiến.
Chúng ta thấy bây giờ hiếm không? Hiếm có lắm, đâu phải dễ.
"Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa không có những dục, thời từ đâu nó có thể khởi lên lòng dục tham trong các dục? Dục tham, tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Nhiều khi nói cái này con đau xót, con thấy có những người rất là hiền thiện ở dưới quê lên thành phố tu, lúc đầu mới lên rất là hiền lành, chân chất, cung kính, dễ thương. Ở một thời gian biến đổi tới lúc con đau lòng lắm, con không có nói người đời mà người xuất gia, vẻ hiền thiện của ngày xưa, sự chân chất, hiền từ không còn nữa. Người đời cũng vậy, nhiều khi ở dưới quê chân chất, hiền lành rồi đi lên giao tiếp, rồi trải đời, vào những thành phố lớn rồi bắt đầu học những mánh khóe, những dối trá, những thủ đoạn, từ lòng tham sanh khởi, lòng dục sanh khởi, cái dục vọng càng ngày càng lớn lên thì phải làm đủ thứ kiểu cách để chiếm đoạt, để đạt được những cái tham muốn đó không từ bất cứ những cái điều xấu xa, tội lỗi gì.
Đó là cái lòng ham, lòng muốn, lòng dục nó ngủ ngầm trong con người đó chứ đâu phải không có. Bây giờ nếu mình tu từ đầu mình không có hướng dẫn một cái pháp tu chân chánh để cho người ta nhìn thấy được những dục, những tham để nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận thì khi đủ duyên, gặp duyên thì nó sẽ bùng phát ra, nó xâm chiếm, nó áp đảo và nó dẫn dắt người này cả cuộc đời đi vào trong cái tà đạo, đi vào đi lạc lối, lầm đường. Rất là xót xa mà chính tự thân mình cũng phải hết sức là cẩn trọng, con chứng kiến rất là nhiều, tự thân mình là mình luôn luôn lo sợ, đối với mọi người ở trong chùa nhiều chục năm rồi con nhìn thấy thương lắm.
Ngày nào mới vô chùa còn cư sĩ hết sức là hiền lành, cung kính, chân chất, ở trong chùa một thời gian được đắp chiếc y, được thọ giới lên rồi sau này là thật sự là mỗi khi nhìn thấy con thật sự, nhiều khi chỉ biết cúi đầu xuống, không dám góp ý nữa, bản ngã tăng trưởng, sân hận, cao thấp, ta đây được nuôi lớn theo những năm tháng ở trong chùa. Những cái này là phải hết sức là nghiêm cẩn, nghiêm khắc và cẩn trọng nhìn lại cái tâm của mình, không có được xem thường. Phải hết sức là nghiêm khắc, thường xuyên quán chiếu và tác ý nếu không mình sẽ bị biến chất, biến dạng, biến đổi.
Con chưa có nói cái gì cao siêu, chỉ nói một cái người tu với một cái tâm hiền thiện, thành thật, biết kính trọng. Đó là cũng khó tìm được ở đời rồi chứ đừng nói chi mà thành tựu chánh tr kiến là vạn nan, thiên nan, nhiều khi trong khóa tu khác, ra hết kháo tu nhiều khi khác. Chúng ta thấy cái tâm mình không? Ở đây khác, vừa xuống núi rồi khác, mình phải nhìn thấy được khi mình khỏe thì tâm mình khác, khi mình bệnh thì tâm mình khác, khi mình được khích lệ, khuyến khích những pháp thực hành liên tục thì nó khác, khi buông ra chút rồi nó khác. Con nói thiệt chỉ cần nghỉ tu một ngày thôi, không có thời khóa thôi chúng ta sẽ thấy cái tâm mình, đừng nói ngày nghỉ một thời thôi lại là nó khác cho nên mình buông pháp ra là mình chết đó.
Giờ này mình là những đứa trẻ thơ ở trong giáo pháp ,luôn luôn phải cầm cái bình sữa được mẹ chăm sóc, chỉ cần rời ra khỏi vòng tay của mẹ thôi bất cứ lúc nào mình cũng thể gặp nguy hiểm, Mẹ đây chính là thánh pháp, là chánh pháp là những thời khóa tu học của chúng ta cho nên phải nhớ hai cái chữ tùy miên, phải nhớ hai cái chữ ngủ ngầm, phải nhớ hai cái chữ ngấm ngầm đang hoạt động, lắng nghe kinh, nghe pháp, nghe tâm, nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động. Nhiếp phục lòng dục, lòng tham, lòng ái đối với những cái món ăn đừng có suốt ngày ở dưới bếp, rần rần ở dưới đó, cái tâm mượn cớ "con cúng dường" rồi xuống bày ra đủ thứ hết, nhiều khi bỏ cái đồ ăn của người ta, cúng chưa thấy bao nhiêu phước mà bỏ rất là tội còn hơn nữa. Nhiều khi cái tâm hơn thua muốn nấu phải ngon hơn người kia, tâm đó là cái tâm gì?
Hãy nhìn cho nó sâu sắc, hãy nhiếp phục lòng dục, lòng tham, bản ngã, nhiếp phục sự buông lung phóng dật, an trú vào pháp, nếu không cái sự ngủ ngầm sẽ giết chết dần, chết mòn cái pháp thân của mình mà mình không có biết. Học được chút, hiểu được chút là có khi mình lại ảo tưởng tới rồi, mình giỏi rồi, mình hay rồi thì những cái đó nó giết mình chết, nó sẽ giết mình chết, giết mình chết. Mình phải nhận diện thật là sâu sắc, phải đề phòng và canh chừng nó, kẻ thù của mình đang ngấm ngầm hoạt động trong tim mình đó, trong cảm giác của mình, trong suy nghĩ của mình, trong cái hình bóng, trong tâm nhận thức. Phải nhận diện ra được những kẻ thù, những kẻ giặc cướp, những nhà đại ảo thuật đang trú ẩn ở bên trong con người của mình. Phải nhìn xem thật là kỹ, đừng có để nó qua mặt, đừng để cái lậu hoặc nó rơi, nó lọt, nó lừa, nó gạt, nó xảo trá, nó gian ngụy, mình nghe theo lời nó rồi nó dẫn mình đi.
Cho nên hình ảnh cái đứa trẻ, đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa này phải nhớ khắc cốt ghi tâm cho đến chết cũng không quên.
"Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa không có các loài hữu tình, thời từ đâu nó có thể khởi lên lòng sân đối với các loài hữu tình? Sân tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Nếu nó đang nằm ngửa ngây thơ mà nó không có những cái cảm giác khó chịu, bực bội tiềm tàng ở trong nó thì do đâu mà nó khởi lên được cái lòng sân hận đối với những người khác, đối với những chúng sanh? Do sân tùy miên thật sự sống tiềm tàng ở trong nó, đó là lý do tại sao chúng ta tác ý tâm từ, tâm hiền hoài hoài để mình gội rửa những cái cảm thọ bực bội, khó chịu, sân hận ngấm ngầm hoạt động ở bên trong, khi đủ duyên mới bùng phát ra ngoài. Vừa rồi có rất nhiều những chỗ mà bị bình ga thậm chí là cái bếp ga nhỏ thôi nhưng mà chết hết mấy mạng người. Bà mẹ đưa ba bốn đứa con sáu tuổi, bốn tuổi, bảy tuổi, tám tuổi đi lên Đà Lạt thăm bà ngoại đi làm mướn ở một cái chòi ở phía sau cái nhà của người ta. Buổi sáng mẹ mới đi nấu đồ ăn sáng vừa xong thì đi ra mua sữa khóa chìa khóa lại nhưng quên tắt bếp gas, sau đó thì phừng phựt lên cháy mà người ta không mở cửa được, không đập cửa được. Khi nó bùng phát lên, nó cháy hết rồi thì đập cửa ra được ba đứa nhỏ chết hết, bà mẹ xỉu lên xỉu xuống, té lên té xuống.
Chúng ta thấy không, chỉ quên tắt cái bếp ga thôi, cũng vậy mình chỉ cần quên chánh niệm thôi thì nó phựt cái lửa sân hận ra với những người ở gần chung mình khi mình tiếp xúc, xúc sanh thọ, sân nó nằm trong thọ. Mình quên lúc đó không có an trú tâm từ, mình không có thực hành tâm hiền thì khi mình tiếp xúc một cái là nó phừng lên liền ngay lập tức thôi, là nó đốt cháy liền chứ đâu có cái chuyện gì lớn đâu. Đã vậy còn bóp cái chìa khóa cửa lại thì chúng ta thấy bà mẹ nghĩ bảo vệ đứa con thôi nhưng mà giờ giết hại đứa con thì cũng vậy, cái tâm mê này nó bị phong tỏa, nó bị nhốt ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, nó vừa bị nhốt mà nó vừa bị đốt mà nó chết cái trí tuệ, chết cái tâm từ ở trong cái ngũ uẩn này.
Chúng ta có thấy mình đang bị nhốt không? Có thấy mình đang bị cháy không? Nhiều khi nói "dạ con ngồi đây mát mà" nhưng mà nó tiềm tàng, nó tùy miên nằm trong đó cho nên ai đụng tới cái thì nó phừng ra, nó phựt ra, nó cháy ra, nó nổ ra. Có một số chỗ bình gas nổ lên chết người ta mấy mạng người, bao nhiêu người banh cái nhà luôn thì như vậy nó tiềm tàng, nó ngấm ngầm, nó tùy miên ở bên trong cái cảm thọ này, trong những hình bóng suy tư, nhận thức này, nói đơn giản là trong cảm thọ này. Và chúng ta không có hướng vào cảm thọ tác ý thường xuyên an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, thường xuyên an trú cái cảm giác hiền thiện, từ hòa, lòng thương yêu thì chúng ta làm sao hóa giải được cái ngấm ngầm ở trong vì thế đợi tới sân lúc đó mình tu sao kịp. Lúc mà tôi giận lên rồi, nó sân hận thì lúc đó kêu trải tâm từ thì trải gì được giống như nó bùng lên, nó cháy hết cái nhà này rồi thì mình đem có một thùng nước lên tạt thì thấm thía gì đâu.
Cho nên cái chỗ ghê gớm là cái chữ tùy miên, sân tùy miên thật sự sống tiềm tàng ở trong cái đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa đó cho nên chính cái chỗ này mà mình nhớ cái hình ảnh người ta nói nhìn xa xa mới đẹp, rước về ở chung trời đất ơi. Mọi người thấy không? Thấy rõ chưa? Nhìn xa xa dễ thương quá, hiền quá, đẹp quá, trời nói chuyện sao lịch sự, dễ thương, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, đến khi rước về thì ông nội, bà nội ơi, trời đất ơi nó hành, về nó mới nhe nanh ra, nó mới đưa cái móng vuốt ra.
Đây là bạch cốt tinh, thôi bạch cốt tưởng đi đừng có bạch cốt tinh, nhớ bạch cốt tưởng không? An trú vô bạch cốt tưởng là quán tưởng cái bộ xương trắng chứ đừng có đi theo bạch cốt tinh. Cái tâm mình cũng là bạch cốt tưởng mà nó cũng là bạch cốt tinh, nếu mình không tu thì nó thành bạch cốt tinh mà nếu mình tu thì là bạch cốt tưởng. Bây giờ muốn cái nào? Muốn tinh hay tưởng? Không tu là nó đưa móng vuốt ra cho nên lúc mình quên an trú cái tâm hiền là lúc đó nó liếc, nó háy, nó nguýt, nó trừng, nó trợn, có không?
Đừng có nói chi ở ngoài ngay cái thời pháp luôn là nhìn thấy, mấy người không tu mình thấy rõ ràng lắm, nhìn thấy là mình sợ, mô Phật. Đó mới là cái ánh nhìn, rồi nó đưa ra cái móng tay của nó ra, trong Tây Du Kí nó đưa cái móng tay của nó ra cho nên mình nhớ an trú bạch cốt tưởng, đừng có để cho bạch cốt tinh dẫn mình đi, bất cứ lúc nào nó cũng có thể xuất hiện, ma nhập, tâm dục, tâm ái, tâm sân, tâm hận, tâm hơn, tâm thua, tâm cao, tâm thấp, tâm đúng, tâm sai, tâm phải, tâm quấy nó nhập vô rồi mê hết trơn, không biết gì nữa hết, pháp gì bay mất tiêu hết trơn, mất pháp hết. Lúc đó thấy chình ình một đống cái tôi, cái tôi này phải bự hơn cái tôi kia mới được, cái tôi kia nhỏ mà sao dám khinh thường cái tôi này, cái tôi này bự mà. Trời đất ơi!
Nó ngấm ngầm mà mình không nhìn ra cái ngấm ngầm này thì mình chết với nó thôi. Chết tức, chết tưởi, chết bờ, chết bụi, chết nhục, chết nhã, chết cay, chết đắng, chết hèn, chết mọn, chết cho banh xác, chết cho tan tành, chết bất đắc kỳ tử, chết hoạnh tử, chết yểu, chết già, chết trẻ, chết bé, chết lớn, chết vì bất cứ kiểu nào, nó chết trăm ngàn thứ kiểu, nó chết với cái tâm không phòng hộ, tâm không bảo vệ, tâm không chánh niệm tỉnh giác thì mình chết ngay lập tức. Nó nhập vô rồi không còn thầy, không còn huynh đệ, tỷ muội gì hết trơn, không còn ni sư gì nữa hết, con ma sân nó nhập rồi, con ma bản ngã nó nhập vô rồi. Nó nhập vô rồi là không còn thấy ngũ uẩn nữa mà chỉ thấy đại uẩn, một uẩn to bự, chình ình một đống.
Mỗi ngày có bị ma nhập không? Sao tu mà để cho ma nó nhập? Mình phải dòm hoài, coi hoài, để ý cái tâm hoài cho nên người chân tu thật học là không có thời giờ rảnh. Con mà nghe người này, người kia, người nọ vậy vậy là con buồn lắm, tại sao vậy? Tại sao không ráng nhìn lại, khổ quá rồi mà, phải ráng, phải cố gắng thật là nhiều nhìn lại mình, luôn luôn phải cố gắng phải nhìn lại mình thường xuyên mỗi giờ, mỗi phút, mọi ý niệm. Phải nhắc mình hoài "tâm ơi tâm, tội lắm tâm. Tâm ơi tâm, thương lắm tâm. Tâm ơi tâm, khổ lắm tâm. Tâm ơi tâm, vừa rồi tâm. Tâm ơi tâm, chán chưa tâm? tâm ơi là tâm, những giọt mưa là những dòng nước mắt của tâm đó, từng giọt, từng giọt là những giọt lệ tận cùng thương đau trong vòng luân hồi sanh tử này".
Cứ rảnh là nhắc hoài, nhắc riết từ từ nó thấm, khi nó thấm rồi thì nó không còn muốn hơn thua với ai hết, không còn muốn cao thấp với ai bất cứ trên cuộc đời này. Nó hiền ngoan, nó dễ thương, nó ngọt ngào, từ ái, lúc nào cũng cúi đầu, lúc nào cũng khiêm nhường, lúc nào tâm cũng yêu thương dạt dào rồi chúng ta sẽ thấy được cái phép màu xuất hiện. Khi mình thường xuyên hướng vào bên trong tác ý, mình cứ an trú vào pháp, mình cứ làm cho nó tăng trưởng quảng đại những cái trí tuệ này, những sự thật này, những tình thương này, những sự nhắc nhở, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ, quản giáo cái tâm này rồi thì chúng ta sẽ thấy một phép màu xuất hiện.
Cuộc đời ta sẽ đổi đời, sẽ thay đổi vận mạng, sẽ trở thành một con người mới, một sinh mạng mới, một cuộc sống mới, một tương lai mới trên cuộc đời này và chúng ta không còn ở nhà nữa, chúng ta lên núi ở. Chúng ta không còn ở trong cái căn nhà lửa nữa mà chúng ta ở cái chỗ thanh lương, thanh cao, thanh tịnh, thanh thoát tự tại. Chúng ta không còn muốn phải nhà vô cái đống lửa nữa, rơi vào cái hố than hừng nữa mà chúng ta thấy rồi, thấy cái sự tịch tịnh, cái sự trong mát, cái sự thanh lương, cái sự an lạc, cái sự cao quý, cao đẹp, tuyệt dịu tối thượng này. Đây là tịch tịnh, đây là vi diệu tức là sự an chỉ tất cả hành, là sự xả ly tất cả sanh y, là ái diệt, vô tham, chấm dứt Niết-bàn.
Hay lắm quý vị ơi, tuyệt vời lắm, vi diệu lắm, ráng tu đừng có lu bu, ráng mà tu. Đây là tịch tịnh, sau khi giải thoát tâm khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức tập trung tâm vào bất tử giới, tập trung tâm vào cái sự bất tử là cái sự an tịnh hết sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, sự an tịnh hết những cái ham muốn, những cái nóng giận, những cái hơn thua, sân si, bản ngã, cao thấp, đúng sai, phải quấy của cuộc đời này. Mình chán ngán, cái tâm mình hoàn toàn mát lạnh, nó không còn một chút xíu mầm móng, một tí xíu muốn hơn với bất cứ một ai trên cuộc đời nữa, tâm hoàn toàn an tịnh, vắng lặng, tịch tịnh thì đây là vi diệu tức là sự an chỉ tất cả các hành. An là yên, chỉ là dừng, cái chỗ nhiệm màu, cái chỗ vi diệu, cái chỗ tịch tịnh là yên lặng và dừng lại tất cả mọi tham, sân, si, dục ái, vô minh, hơn thua, bản ngã, đúng sai, cao thấp, phải quấy, tốt xấu, nhân ngã bỉ thử của cuộc đời này, dừng một cách hoàn toàn thì chỗ đó là chỗ vi diệu, tịch tịnh, là chỗ tối thượng, tối thắng, là chỗ cư trú của tất cả thánh hiền, là căn nhà của Đức Như Lai, là sự xả ly tất cả sanh y, là buông xuống, dục xuống, quăng xuống, liệng xuống tất cả những cái gì làm cho mình phải tái sanh trong vòng luân hồi sanh tử này.
Không còn ham bất cứ một cái gì ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này nữa hết, sự xả ly tất cả sanh y, ái diệt, không yêu thích bất cứ cái gì, chấm dứt hoàn toàn sự khao khát, thèm muốn, đói khát, khát ái, dứt hoàn toàn, lặng hoàn toàn, tịch tịnh hoàn toàn, vô tham, không muốn nữa. Đó là sự đoạn diệt, Niết-bàn
"Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc" (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
An trú vững chắc ở chỗ cái tâm tịch tịnh đó thì vị này sẽ đoạn tận tất cả các lậu hoặc. Thấy tên giặc nào là bắn tên đó, thấy tên nào là nã tên đó, thấy tên nào là diệt tên đó, cứ ngồi canh chừng hoài đặng giết giặc suốt ngày suốt đêm, gặp đâu giết đó, thấy gì diệt nấy. Đánh tan hoang hết, tan tành hết, tan vỡ hết, an trú vững chắc ngay chỗ đó, an trú vững chắc ở đấy, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Lúc đầu là những cái thô, sau lần lần đến những cái tế, vị này phát hiện ra những cái ngấm ngầm phá diệt hết.
Rồi với Tuệ từ tâm an tịnh,
Xoay lại nhìn lậu hoặc trong tâm,
Nhận ra các nhiễm ô ngầm,
Vẫn còn nhè nhẹ âm thầm trong tâm,
Tiếp tục quán sát năm thủ uẩn,
Quán với tâm chẳng ái, chẳng tham,
Độ ô nhiễm sẽ giảm dần,
Đến khi hết nhiễm, tâm thành sạch trong.
Dục nhiễm, hữu nhiễm, vô minh nhiễm,
Tâm tẩy trừ ba sự nhiễm này,
Khi ô nhiễm đã tẩy xong,
Thì tâm trong sạch như dòng nước trong.
Tẩy dục, hữu, vô minh hết sạch,
Tâm không thầm chấp bất cứ gì,
Khởi lên Trí biết rõ ràng:
“Tâm này trong sạch chẳng còn nhiễm ô”.
Tâm chẳng động trong khi nói nín,
Tâm chẳng lay trong lúc đứng đi,
Tâm không động nhiễm đêm ngày,
Nay là đời cuối, không còn tái sanh.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
"Sau khi giải thoát tâm khỏi các pháp ấy, vị ấy tập trung tâm vào bất tử giới (Amatadhatu) và nghĩ rằng: 'Ðây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả sanh y, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn'. Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thời do sự tham pháp, hỷ pháp của mình, thời do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui đời này nữa." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Vị ấy được hóa sanh hóa sanh lên cõi Tịnh Cư Thiên, các cõi trời bất hoàn của bậc thánh tam quả, vị này nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui lại đời này nữa.
"Này Ananda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.
Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Vì thường quán như vậy nên vị này Giải Thoát tâm mình ra khỏi ngũ uẩn, khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm ra khỏi các pháp ấy vị ấy tập trung vào cảnh giới của bất tử, đây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ sự dừng lại tất cả sự vận hành ở trong ngũ uẩn, sự xả ly tất cả tham ái vào ở trong sanh y này, ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, cái câu này phải làm cái bản thật là lớn treo lên đây để cho mọi người nhớ để quán năm uẩn này là vô thường, là bệnh hoạn, là cục bướu, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh chướng, là kẻ địch, kẻ thù, như là phá hoại, là trống rỗng, là vô ngã.
Đây là những cái đề mục lớn của thiền quán, hôm nay con chỉ nói tổng quát thôi, bài kinh này rất là hay chúng ta về cố gắng đọc, nghe, chiêm nghiệm, viết bài pháp đàm và nhớ kỹ hình ảnh đứa trẻ ngây thơ nằm ngửa là sự ngủ ngầm của năm triền cái tùy miên. Đừng bao giờ quên mình đang bị tai họa, đang phải chịu những cái tai nạn, đang còn ở trong cái phạm trù hết sức là nguy hiểm, không có an toàn, đừng bao giờ quên để mình tác ý tu tập. Mình quên cái này cái là mình sống lại với buông lung liền, vô minh, tham ái liền, sân hận liền. Có vị nào có muốn chia sẻ gì không? Mưa gió rồi chúng ta tăng ca tu học đi, các vị mới có muốn đi ra ngoài thì ra.
Giới tử 1: Dạ con kính đảnh lễ trên Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, dạ con kính đảnh lễ trên sư phụ bậc ân nhân tôn kính, dạ con kính đảnh lễ trên quý Ni Sư, quý thầy, quý sư cô và các bậc hiền trí. Dạ sáng nay con nghe bài giảng của sư phụ cảm thọ trong con rất là hoan hỉ, rất ngỡ ngàng và rất biết ơn. Tưởng con nhớ đến trong gia đình cha mẹ và các anh chị bên chồng và hiện tại đứa con gái con cũng là giáo viên nhưng chưa bao giờ con được những lời dạy quý báu, vàng ngọc như thế này. Nhờ sự trợ duyên của người nhà, nay con được ở tại ngôi nhà hiền thiện, thân thương của Linh Quy Pháp Ấn, của các bậc hiền thánh đã chỉ dạy và tận tình, ân cần giúp đỡ con.
Ngũ uẩn con lâu nay vì vô minh, không hiểu biết thấu đáo những sự thật của cuộc đời, vì cái vô minh, bản ngã nó che đậy. Khi con ngồi nghe pháp ý hành con khởi lên "sau bài giảng pháp sư phụ con sẽ mạnh dạn đứng lên nói những lời tận đáy lòng con chân thành và biết ơn". Nhưng khi con khởi lên thì con cũng thấy cái tâm chống đối, mắc cỡ, lo sợ, nhúc nhác sẽ không đứng dậy nhưng con tác ý quyết định con đứng dạy và trước ngôi tam bảo, sư phụ, các quý thầy, quý sư cô chứng minh cho lòng thành của con.
Điều thứ nhất là con muốn sám hối Ni Sư vì đã qua một tuần lễ nay con rất là xấu hổ vì khi sư phụ đã cho sám hối, nhưng trong những quá trình con trình bày sám hối thì sau đó con về chiêm nghiệm lại thì con thấy có cái bản ngã của con. Tại sao khi sám hối không chỉ cái lỗi của mình mà lại nói những lời nói không tốt đẹp thì nay trước tam bảo, sư phụ, quý thầy, quý chư ni, quý sư cô và các bạn hiền trí cho con thành tâm đứng lên lễ lạy sám hối Ni Sư.
Nguyện con từ nay đến mạng chung luôn an trú với tâm hiền thiện, khiêm cung.
Nguyện con từ nay đến mạng chung chôn vùi bản ngã này vào lòng đất ngay tại chỗ này, không bao giờ sanh khởi trở lại trong tương lai.
Nguyện con từ nay đến mạng chung luôn sống trong tâm biết ơn, nhớ ơn, cung kính đối với tất cả.
Đây là những hình ảnh tốt đẹp, tươi đẹp và cao đẹp của một người tu. Đây là những hình ảnh cao quý, cao thượng, thanh cao của thánh đệ tử. Đây là những pháp hành vi diệu, diệu hạnh của người con Phật chân chánh.
Giới tử 1: Dạ con kính trên sư phụ, trên quý thầy, quý ni sư, quý sư cô và các bậc hiền trí, trong quá trình con sống và tu tập nơi ngôi nhà hiền thiện, từ bi của Linh Quy Pháp Ấn nếu trong quá trình con học hỏi còn non kém không hiểu biết thì con mong sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô và các bậc hiền trí chỉ dạy và tha thứ những cái lỗi lầm. Đôi lúc ngũ uẩn này trong vô minh không thấy biết thì mong gia đình - ngôi nhà hiền thiện giúp đỡ con. Con xin thành tâm sám hối những lỗi lầm, nếu con có tạo nên vô tình hay cố ý mà trong vô minh con không thấy biết dạ.
Sư Phụ:
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.
CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN NĂM HẠ PHẦN KIẾT SỬ 1
ĐẠI KINH MALUNKYAPUTTA, TRUNG BỘ 64
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, hôm nay chúng ta tìm hiểu bài kinh Trung Bộ thứ 64, Đại Kinh Malunkyaputta. Bài kinh này nói về con đường đưa đến đoạn diệt năm triền cái, về phần năm triền cái con đã có chia sẻ rất là nhiều ở trong trường Phật học thì chúng ta phải chịu khó nghe lại cái phần đó. Cái bài kinh này là tổng quát và những cái hình ảnh ví dụ rất là rõ ràng và làm cho chúng ta sáng ra rất là nhiều những cái vấn đề sâu sắc mà có thể trước nay mình chưa bao giờ hiểu.
Đầu tiên là Đức Phật gọi các vị Tỳ-kheo đang trả bài cho ngài, chúng ta có thấy cái đoạn đầu Đức Phật kêu trả bài không?
"Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo'. –'Bạch Thế Tôn'. Những vị Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có thọ trì năm hạ phần kiết sử do Ta giảng dạy không?
Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Malunkyaputta bạch Thế Tôn:
-- Con có thọ trì năm hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
các ông thọ trì năm hạ phần kiết sử do ta giảng dạy không? Các ông có tiếp nhận giữ gìn, thực hành năm cái thứ mà nó trói cột và sai khiến chúng sanh hay là không? Dạ bạch Thế Tôn con có. Ngài hỏi năm hạ phần kết sử như thế nào, ông nói coi thì vị Tỳ-kheo trả bài:
"-- Năm hạ phần kiết sử do Ta giảng dạy, này Malunkyaputta, Ông thọ trì như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, con thọ trì thân kiến là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn con thọ trì nghi là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì giới cấm thủ là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì dục tham là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì sân là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con thọ trì năm hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Cho nên những buổi trùng tuyên thánh điển thì giống y như chúng ta áp dụng ở trong kinh này chứ không phải tự nhiên con cho chúng ta trùng tuyên thánh điển. Đức Phật thường hay hỏi lại các vị Tỳ-kheo các pháp mà ngài đã dạy, có những lúc ngài hỏi ba lần trả lời không được ngài nói ngu si, ngài A-nan trả bài giùm. Chúng ta nghe kinh đi rồi chúng ta sẽ thấy Đức Phật quở trách thành ra cái phần văn rất quan trọng, bữa cuối khóa con có nhắc phần văn là phần nghe thuộc lòng nhớ mà mình nhớ không được thì làm sao mình thực hành được? Đó là cái bước đầu văn – tư - tu tức là mình phải thuộc lòng những cái định lý quan trọng trong cái pháp, cũng như mình đi học những cái công thức, những cái định lý là phải thuộc lòng.
Từ cái thuộc lòng đó rồi mình mới nhớ, nghĩ, suy tư, từ cái nhớ nghĩ, suy tư đó rồi mình thực hành thì mới ra kết quả đó gọi là văn – tư – tu. Thành ra cái đoạn đầu là Đức Phật trả bài, tới cái đoạn thứ hai là hình ảnh một đứa con ngây thơ đang nằm ngủ, hoặc là một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa, cái hình ảnh này là hết sức là thâm sâu. Đây là một cái đề tài thiền quán rất là lớn, học cái bài kinh này chúng ta sẽ sáng tỏ vấn đề tại sao ở đây mình tu tập như lý tác ý là nhắc nhở tâm, quở trách tâm, la rầy tâm, mắng chửi tâm là bài kinh này sẽ giải mã cho mình thấy tại sao.
"Này Malunkyaputta, có phải các tu sĩ ngoại đạo cật vấn Ông với ví dụ này về đứa con nít? Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngủ không có tự thân, thời đâu nó có thể khởi lên thân kiến? Thân kiến tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Tức là những người ngoại đạo đó cật vấn vị Tỳ-kheo này một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngủ hay đang nằm ngửa thì nó đâu có khởi lên thân kiến, nó đâu có biết cái gì đâu mà nó có phải kiến chấp về cái thân. Bây giờ đứ nít mới đẻ oa oa có bản ngã không? Bình thường người ta sẽ nói ở đứa con nít thì nó đâu có tham, sân, si, nó đâu có biết gì đâu mà tham, sân, si, nó đâu có biết gì đâu mà nó có cái tôi nhưng đối với trí tuệ Đức phật không phải vậy.
Cái nhìn vậy là cái nhìn của phàm phu vô minh, thường thường mình nhìn đứa con nít nó ngây thơ, nó hồn nhiên, nó đâu có dục, con nít thì biết gì mà ái dục, nó mới có hai ba tuổi biết gì đâu mà tham, nó có cái gì đâu mà cái bản ngã, cái tôi, cái ta. Sai hết trơn, đó là cái nhìn của phàm phu. Đức Phật dạy nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngủ thì nó đâu có nghĩ về tự thân của nó, nó đâu có nghĩ về cái tôi, cái ta, nó đâu có thể khởi lên cái kiến chấp về thân, ta, tôi, bản ngã được nhưng mà không, thân kiến tùy miên thật sự sống tiềm tàng ở trong nó.
Cái kiến chấp về tự thân, cái ý nghĩ về cái tôi là nó đi theo ở trong tâm thức một cách miên man, thật sự là đang sống tiềm tàng ở trong đứa con nít đó. Cái chỗ này chúng nổi da gà rợn người, cái bản ngã thật sự là to lớn, nó đang sống tiềm tàng ở trong đó vì vậy cho nên gặp duyên mới bung ra, lớn lên, nó mới tăng trưởng phát triển, nó mới biểu hiện ra thôi chứ thật sự nó đã có trong này rồi. Nếu mà nó không có chấp ngã, nó không có cái kiến chấp về thân, nó không có cái tôi, cái ta thì làm sao mà gặp chuyện nó biểu hiện ra? Làm sao lớn lên thì nó càng thể hiện ra một cách là rất là to lớn?
"Thân kiến tùy miên thực sự sống tiềm tàng ở trong nó", câu này là rợn người hết. Đây là lý do tại sao mình lạy sám hối diệt ngã, đây là lý do tại sao mình la, mình rầy cái tâm của mình thường xuyên, nhắc nhở phải an trú vô cái nùi giẻ rách, cái tấm chùi chân, phải an trú vào một cái tâm của cái người ăn xin, phải an trú vào cái bộ xương, an trú vào cái đống cát bụi, tro cốt. Nếu mình không có những cái phương pháp tác ý đó thì làm sao mình diệt được cái tôi mà nó ngủ ngầm, dùng cái từ tiếng Việt mình cho dễ hiểu. Đó là mới nói đến một đứa con nít đang nằm ngủ mà Đức Thế Tôn nói thật sự là cái tôi, cái ta, cái bản ngã, cái thân kiến sống tiềm tàng ở trong nó.
Câu này là cái đề mục thiền quán suốt đời từ đây cho đới khi mình chết cũng chính là cái câu mà bậc đạo sư nói ở trong Cửa Vào Bất Tử "lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động". Nếu bên trong không có bệnh thì làm gì nó hắt hơi, nhảy mũ? Nếu bên trong không có bệnh làm sao nó biểu hiện ra là cái triệu chứng của cái ung thư hay là ung thư giai đoạn cuối? Thật sự là cái mầm móng ung thư đã tiềm tàng sống ở trong người đó chẳng qua bây giờ biểu hiện ra ngoài thôi, cái giai đoạn cuối thôi nhưng mà khi thật sự nó đang sống tiềm tàng ở trong người đó mà người đó không thấy không biết và ai thấy ai biết? Bác sĩ chuyên ngành.
Chúng ta thấy Thế Tôn là bậc y vương là vậy đó, y vương là vua thầy thuốc, là thánh trí tuệ là vậy đó, là ngài nhìn nó không phải giống như cái nhìn của mình. Cái nhìn của mình ở đứa trẻ nằm ngủ nó dễ thương quá, nó có gì đâu mà có bản ngã, đây là lý do tại sao mà mình phải như lý tác ý thường xuyên mà con nhắc hoài, bậc đạo sư dạy chúng ta tác ý mạnh. Ngày hôm qua chúng ta nghe tác ý có thấm không ạ? Vậy phải mở nghe lại, nếu mình không có tác ý, không có nhắc tâm mình, không có dạy cái tâm của mình, không có thường xuyên la rầy, quở trách cái tâm của mình thì cái tâm này không dạy được, tâm này không giáo dục được, không quản giáo được, không thể trị cái tâm này được, không thể huấn luyện cái tâm này được.
Cái sự nhắc nhớ, dạy dỗ cái tâm đó là như lý tác ý, dạy nó quay về diệt thân kiến cho nên phía sau Đức Thế Tôn nói con đường nào là con đường đưa đến đoạn diệt thân kiến các ông hãy tu tập con đường ấy. Con đường đoạn diệt thân kiến là cái gì?
Giới tử 1: Dạ con xin thưa sư phụ và thưa toàn thể các thầy, các cô và các vị hiền trí. Theo con con đường diệt thân kiến là con đường quán ba mươi hai thể trược và quán chín giai đoạn tử thi, con xin hết ạ.
Sư Phụ: Còn gì nữa không?
Giới tử 1: Dạ quán bất tịnh ạ.
Sư Phụ: Rồi còn gì nữa không?
Giới tử 1: Dạ hằng ngày phải chửi mắng cái thân này và thấy được cái thân này là vô thường, vô ngã và tất cả mọi cái rồi đều bị biến hoại, bị hủy diệt.
Sư Phụ: Còn gì nữa không? Con mới nói thức thì đó.
Giới tử 1: Dạ luôn luôn nhớ là phải diệt cái bản ngã, phải cho tất cả đều là vô thường và hằng ngày phải quán ngũ uẩn ạ.
Sư Phụ: Rồi, ai nói tiếp những pháp hành nào, con đường nào, đạo lộ nào diệt thân kiến?
Giới tử Hiền Nguyệt: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính thưa sư phụ con xin trả bài theo cách hiểu con muốn diệt thân kiến thì con phải quán niệm hơi thở. Quán hơi thở này nó mong manh, nó nhỏ bé, nếu thở vào mà không thở ra thì sẽ châm dứt cuộc đời, cách thứ hai là niệm oai nghi là lúc nào mình cũng phải trú vào trong oai nghi của mình đi, đứng, nằm, ngồi trong chánh niệm, cái thứ ba là quán hành động, mình làm cái gì phải biết mình đang làm cái đấy. Cái thứ tư là quán tứ đại, trong cái thân thể mình có đất, nước, gió, lửa thì nó là tứ đại, nó sẽ là vô thường và nó sẽ bị hoại diệt bất cứ lúc nào. Cái thứ năm là quán ba mươi hai thể trược, trong cái thân thể này là nó bất tịnh, nó bẩn thỉu, nó nhơ nhuốc cho nên ta không nên tham đắm vào nó. Cái thứ sáu là quán chín giai đoạn của tử thi.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay! Nhưng mà nhớ là không phải là cái cách hiểu của con, đây là thánh trí của Phật, nhớ nha. Đó là sáu pháp của Đức Phật hướng dẫn chứ không phải cách hiểu của con, nhớ nha.
Giới tử Hiền Nguyệt: dạ.
Giới tử 3: Kính thưa sư phụ con đường đưa đến phá thân kiến là gồm có niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi và niệm xác chết. Con xin hết.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay! Rồi còn ai nói nữa, chưa có hết, còn nhiều pháp lắm.
Giới tử 4: Kính bạch trên sư phụ quán về phá thân kiến là quán về tâm từ, tâm buông xả, tâm chấp thủ, tâm chấp ngã, quán về cảm thọ lạc, quán khổ, quán mũi tên, bất khổ bất lạc, quán vô thường. Dạ con xin hết.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay! Còn nhiều lắm, còn rất là nhiều, chút xíu xuống Đức Phật nói tổng quát hết. Thành ra ở đây chúng ta thấy cái gì, nhắc cái này để cho quý vị nhớ thiệt kỹ, cái này quan trọng lắm.
"Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Tất cả pháp đó đều là phá thân kiến hết, quán sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, là khổ, là bệnh hoạn, là cục bướu, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh chướng, là kẻ thù, là phá hoại, là trống không, là vô ngã. Tâm vị này giải thoát khỏi các pháp ấy tức là giải thoát ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, như vậy cái pháp quán rõ ràng vậy mà sao mình tu mấy chục năm, hai chục năm, ba chục năm, ở trong chùa tới chết mình không biết. Mình cứ tụng hai thời là xong rồi đó, chúng ta thấy không, suốt ngày, giờ nào, phút nào cũng phải nhớ ngũ uẩn này là vô thường, là khổ, là bệnh hoạn, là cục bướu, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh chướng, là kẻ thù, là cái thứ phá hoại, đồ phá hoại, phá gia chi tử. Năm đứa con sắc; thọ; tưởng; hành; thức là cái đồ phá gia chi tử. Mình thấy nó là cái kẻ phá gia chi tử hay là thấy nó là con cưng? Thấy nó là phá gia chi tử hay là nghịch tử, hay là thấy nó là đích tử?
Nó là cái đồ phá hoại, thấy nó là kẻ thù, sắc này là kẻ thù, nó hại mình. Ở Đà Lạt mới ngày hôm qua đất ở trên đồi sạt xuống, ông chồng kéo hai đứa con nhỏ ra kịp, bà vợ ra không kịp chết trong nhà luôn, là cô giáo ở Lâm Đồng. Sắc là giết người mà, hôm qua có một chú Phật tử gửi cho con hình ảnh mà con chưa dám gửi cho đại chúng, cái cặp đôi này ở quận 12 vô quán trà ở Sài Gòn thì cậu này đâm cô kia không biết bao nhiêu nhát dao, đỏ hết người máu lai láng rồi tự đâm vô cổ mình, đâm vô bụng mình rồi ngã xuống chết. Chấn động Sài Gòn hết, dục này là kẻ giết người, ái này là kẻ giết người, sân hận này là kẻ giết người, những thọ; tưởng; hành; thức này là kẻ giết người.
Nói qua nói lại một hồi, tôi ta, hơn thua, đúng sai một hồi là đả thương nhau bằng vũ khí miệng lưỡi rồi đâm nhau, rồi chém nhau, rồi giết nhau, rồi sát hại, tàn sát lẫn nhau. Những cái này là mình không bao giờ quên, không bao giờ được quên, thường xuyên phải nhắc đi nhắc lại, nhắc tới nhắc lui, an trú hoài như vậy mới phá được cái tâm hôn mê, mới dẹp được cái thân kiến, mới đập vỡ được cái bản ngã, mới đánh đổ được cái tôi và mới nghiền nát được những cái ta ở trong những cái cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình. Còn nếu mà mình tu mà không tác ý, không quán chiếu gì hết, mình không làm cho mình sanh khởi lên một cái trí tuệ để mình đánh phá thân kiến tùy miên ở bên trong tâm thức của mình, một cái tôi to lớn nó ngủ ngầm, nó cứng chắc phía dưới, cái từ Đức Phật nói là nó rất là kiên cố, cứng chắc. Đức Phật nói:
"…sống với tâm bị triền phược bởi thân kiến, bị chi phối bởi thân kiến, và không như thật tuệ tri sự xuất ly thân kiến đã khởi lên. Thân kiến này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử" (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Tức là cái ý nghĩ về tôi, về ta, về tao, về mi cứng chắc như tường đồng vách sắt, bất khả xâm phạm, chỉ cần ai nói gì một câu thôi mà chưa nói nữa, chỉ cần nhìn cái ánh mắt thôi là ta không để cho yên, ai dám đụng tới ta người ấy đau khổ trong đó, người đó sầu, bi, khổ, ưu, não trong đó, người đó phải chịu đựng những cái ngọn lửa hừng hực, sân hận, nhiệt não thiêu đốt ở trong đó. Tại sao dự lưu, nhập lưu thánh quả? Chỉ cần phá thân kiến thôi thì hoài nghi, giới cấm thủ hết là nhập lưu thánh quả. Dễ hay khó? Khó cũng phải làm, nhất trí không? Nỗ lực làm là không khó, ngày nào mình cũng nghe hết, ngày nào mình cũng quán hết, ngày nào mình cũng thiền quán ầm ầm.
Thở có khó không? Ăn cơm có khó không? Uống nước có khó không? Đi ngủ có khó không? Vậy tu sao khó? Bây giờ tác ý ngược lại không khó, nhất quyết phải làm được, nhất quyết phải phá thân kiến được, xác quyết phải đập nó, xác quyết phải giết nó, diệt nó. Cái chỗ này chỗ chúng ta giải mã ra được những cái mà trước nay mình chưa vô Nikāya mình không hiểu, một đứa trẻ ngây thơ, hồn nhiên, dễ thương như vậy làm sao nó có tham dục, làm sao nó có sân hận, làm sao nó lại có bản ngã nhưng mà đụng vô đi thì biết. Lấy mất cục kẹo của nó đi, giật cái bình cái bình sữa của nó đi, nó la lên cho mà coi, nó giãy giụa lên cho mà coi.
Chỗ này chúng ta mới thấy cái thánh trí của Đức Phật cho nên cái sự tu học mà kêu cứ ngồi im re đi để nó tự sanh tự diệt, mình không có cần xen vô gì hết trơn thì cái sự học này hết sức nguy hiểm. Nhà dơ như vậy, hôi như vậy, chuột chết như vậy, tắc kè chết như vậy, gián chết như vậy, mèo chết như vậy, ỉa đầy hết bốc mùi hôi thối như vậy mà cứ ngồi yên thì tự rộng nó sạch hả? Thành ra cái sự tu học chúng ta phải coi kỹ, bây giờ con thưa mình nỗ lực muốn gần chết đây nè, từ đây tới hơi thở cuối cùng tới chết không biết có phá nổi thân kiến không nữa chứ đừng có nói chi ngồi yên không tác ý gì hết, cứ ngồi thở vô thở ra là xong.
Thành ra cái chỗ này hết sức là có cái sự suy tư, động não, đây là lời Thánh ngôn lượng mà, thánh điển y cứ mà. Cho nên ngày nào, giờ nào mình cũng lo sợ, mình quay trở vô mình coi cái thân kiến của mình coi bây giờ có giảm hay chưa hay là nó đang tăng. Thí dụ như có người nào đó đụng chạm tới mình thì lúc đó mình coi liền thọ; tưởng; hành thực sự nó giảm hơn hồi xưa hay nó đang tăng, mà tăng hay giảm gì mình cũng đập đầu nó hết trơn, nó chưa hết là phải trị nó, chừng nào nó hết rồi thì thôi, hết rồi thì đâu còn vấn đề gì nữa. Mình thấy nó sanh khởi lên là mình thấy xấu hổ, mình thấy nhục nhã, mình thấy buồn đau, mình thấy ê chề, não nề, gớm ghê, chán chê, tủi thân, tủi phận, tủi nhục, tủi hờn, tủi hổ. Đó là cái từ của tầm quý đó.
Tại sao mình tu như vậy tới giờ này mà cái tôi của mình, cái ta của mình, cái bản ngã của mình nó còn như vậy? Đi lạy người ta đi, đắp y quỳ xuống lạy dưới chân người ta đi, mà lạy dưới chân người đó không nổi thì bữa sám hối cứ đi ra lạy, không có đợi tới cái ngày sám hối. Tới cái ngày tu mà bữa đó có sân với ai, khó chịu với ai, bản ngã với ai đó là vừa tu xong ra quỳ ngay chính giữa "bạch chư tôn đức, chư hiền trí ngày hôm nay con có khởi cái bản ngã, thân kiến. Con thấy nhục nhã, con xin trình bày ra, phát lồ ra và con xả cái thân kiến ngu này ra. Xin chư tôn đức, chư hiền trí chứng minh cho con" rồi lạy xuống. Đó là đức hạnh cao đẹp, hiền thiện, cao quý của một người tu, cố gắng làm được cái này tuyệt vời lắm.
Cái này bây giờ không có chỗ nào đâu, phải giữ gìn cái đặc sản của đạo tràng Nikāya này, được không? Bất cứ đừng có đợi tới ngày sám hối mà hôm nào nổi sân với ai, khó chịu, bực bội với ai, bản ngã, hơn thua với ai là trưa đó, tối đó, bất cứ cái giờ tu xong ra quỳ ngay giữa dập đầu xuống, và nếu còn cái tâm hiền thiện đẹp nữa là quỳ thỉnh cái vị mà mình sân ra "dạ thưa tôn giả, bậc tôn đức xin ra chứng minh cho cái bản ngã ngu si, thân kiến này của con được tan vỡ, con lạy dưới chân ngài". Lấy cái trán đặt lên cái chân của vị đó, "cho con đặt đầu dưới chân của người đặng con xả cái bản ngã ngu si, cái thân kiến tồi bại, cái ta ngu dại này, cho con diệt tận hoàn toàn". Đây là đức hạnh, đó là diệu hạnh, là đệ tử của Thế Tôn, trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn, chân chánh hạnh là đệ tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là đệ tử của Thế Tôn là bốn đôi tám chúng, đệ tử Thế Tôn là đáng được chấp tay, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được đảnh lễ, là ruộng phước vô thượng ở trên đời là những đức hạnh như vậy.
Còn kẻ vô văn phàm phu là có lỗi nhưng người ta chỉ lỗi thì không nhận lỗi còn sân hận nữa, cái đó là không biết tu, là cái mù lòa mà mình là được sáng mắt rồi, mình được nhìn thấy cái tâm mình rồi mà, mình không có thể trở lại kẻ mù được. Mình đã được Đức Thế Tôn, các bậc thánh hiền, bậc đạo sư đem thần dược, diệu dược, thánh dược, Phật dược, pháp dược trị cho mình sáng một mắt lên rồi, mình không thể trở lại cái kiếp mù lòa được. Phải quỳ lạy, lạy ngay trong bếp, lạy ngay trong ni xá, lạy ngay ở trong tăng xá chứ không phải đợi tới thiền đường mới lạy được.
Ngay vườn rau mà nổi sân, bản ngã là quỳ xuống ngay vườn rau lạy từng cái cọng rau ở dưới đó, lạy ngay vườn rau muống, ngay vườn rau lang, lạy ngay tại chỗ đó thì chỗ đó sau này mọc lên những đóa hoa bất tử. Sau này những cái chỗ đó xây tháp mà thờ tại chỗ này những hiền giả, những hiền trí, những bậc thánh hạnh đã thực hành lễ lạy ở đây. Lúc đó thầy Pháp Nghĩa với con ở bên Cô Phong Đảnh, thỉnh bậc đạo sư lên thăm trên đó con muốn cúng dường cái chỗ đó cho ngài, khi xuống về ngài chào, ngài quỳ ngày lại thầy Pháp Nghĩa ở ngay cái ven đường, ở đầu đường Cô Phong Đảnh là cái chỗ mà sau này nếu đủ duyên con sẽ xây tháp chỗ đó. Ngài là sư phụ của con mà ngài lạy đệ tử của con vì trong ngài đâu có tôi, đâu có ta gì đâu, chính những cái đó con mới tâm phục khẩu phục chứ con cứng đầu lắm không, phải dễ nghe đâu.
Cho nên mình cố gắng học những cái gì ngài dạy là ngài đã thực chứng, đã thành tựu. Ngài dạy mình đặt đầu mình dưới chân của người cho con xả cái bản ngã ngu si này, đó là những đức hạnh, là đạo hạnh, là thánh hạnh mà chỉ có thực hành những pháp như vậy mới phá được cái thân kiến, đâu phải nói cái miệng rồi lên nghe không và trả bài không đâu, phải thực hành. Chúng ta thấy khi mình quỳ đối diện nhau rồi lạy với nhau như vậy mình thấy đẹp không? Phải thường lạy.
Con nhớ ba mươi mấy năm trước khi con còn là chú tiểu trong chùa, có bà già tám mươi tuổi ăn trầu hai cái hàm răng đen thui, nói chuyện rung rung, tay chân cũng vậy, con mắt thì mờ lắm, tới giờ con còn nhớ cái hình ảnh lúc còn chú tiểu "tôi nói cho thầy nghe lúc tôi đi vô chùa tôi thấy mấy ông thầy quỳ lạy với nhau, tôi không biết đang làm cái gì á. Hai ông quỳ vầy nè rồi lạy với nhau. Tôi không biết tu cái đạo gì vậy thầy". Lúc đó mình là chú tiểu mới vô chùa đâu có biết cái gì "ủa sao hai người quỳ lạy với nhau?", cũng không biết tu cái đạo gì, sau này mình mới biết là cái ngày tự tứ đối thú, ngày đối thú an cư kiết hạ.
Đối là đối diện, thú là cái đầu, tức là hai cái đầu đối diện để lạy với nhau nhưng khi con đi vào rồi thực hành những cái pháp đó con cũng thấy đây là cái nghi thức thôi, làm cho xong qua rồi thôi. Đến khi vào dòng pháp Nikāya mà bậc đạo sư dạy mình lạy cái này đó thì con mới thấy là tuyệt vời, vi diệu, cao đẹp, thanh cao, cao thượng, thánh thiện. Hãy giữ gìn cái nếp nhà Nikāya cao quý này, cái đặc sản tối thượng của Linh Quy Pháp Ấn, cái độc đáo, độc nhất trong đạo tràng Nikāya này. Hãy thường xuyên thực hành cái pháp này, ngày nào mà đại chúng còn thực hành cái pháp này ngày đó đại chúng mình còn hiền thiện, ngày đó đại chúng mình còn những bậc hiền giả, những bậc hiền trí, sẽ có ra những bậc hiền thánh. Ngày nào cái pháp này mất đại chúng không còn hiền thiện nữa, không còn hiền trí nữa, sẽ không còn các vị hiền thánh nữa.
Mọi người có thấy hoan hỉ không? Chịu làm không? Cho nên mỗi bữa mình sám hối diệt ngã tới cái đoạn quỳ xuống là đối diện với nhau lạy, sau này lấy cái đó làm cái nghi thức chung luôn chứ không có đứng đọc không. Tới lúc quỳ xuống lạy bạn đồng tu, lạy kẻ dưới mình là quỳ vô lạy và phải lạy cho chân thành, lạy cho tha thiết, lạy cho thật sự là ngọt ngào, thật sự là thấm đẫm, dạt dào một cái tâm khát khao muốn đập vỡ cái tôi này, một cái tâm biết ơn, một cái tâm cung kính. trong cái lạy đó đầy đủ các pháp chứ không phải lạy hình thức đánh cái bong rồi gõ cái keng đứng ra liền. Không phải, lạy chậm cho người ta quán chiếu.
Người đánh khánh cũng rất quan trọng tùy theo cái mình để ý. Cái người đánh khánh là cái người phải thực hành pháp, nếu cái người đánh khánh có thực hành pháp một cách nghiêm túc cái đó gọi là người diệt chúng tức là người cầm những cái pháp khí là rất quan trọng. Nếu người đó có thực hành, có một sự chánh niệm tỉnh giác phù hợp thì cả chúng được lợi lạc, còn nếu người đó không thực hành pháp mà cái tâm không có sự chánh niệm tỉnh giác có khi là đại chúng không được có lợi ích nhiều, mất lợi ích. Ví dụ như lúc đó là lúc cần phải chạm cái đầu xuống để mình quán chiếu, chôn vùi cái bản ngã thì phải để cho cái thời gian dài một chút để người ta thiền quán, thế mà mới chạm đầu xuống mình đánh keng liền thì mất cái giờ thiền quán đi mà lúc đó là cái lúc quán chiếu rất là sâu sắc, dào dạt cái cảm thọ, lúc đó là lúc thực hành pháp.
Thành ra cái chữ vi diệu ở trong đạo tràng chúng ta là lý thuyết thực hành song song, phải lạy nhau bất cứ từ trên xuống dưới. Và nếu có vị nào chỉ lỗi con thì con sẵn sàng quỳ xuống con lạy liền, con đã từng làm nhiều lần lạy một cách ngọt ngào, lạy một cách can tâm tình nguyện, lạy một cách thiết tha, chân thành. Tất cả chúng ta đều vậy hết từ trên xuống dưới, từ các ni sư cho đến người cư sĩ, không phải nói rằng giờ tôi ni sư rồi, giờ tôi Tỳ-kheo rồi, tôi là sư cô rồi tôi không lạy nữa, càng phải lạy nhiều hơn mấy người kia nữa, càng thấp càng cao, càng nhỏ càng lớn.
Mình thấy trong mình có cái gì không hài lòng, có cái gì hơn thua là kiếm người đó lạy, nếu mình còn chưa có xả hết hoàn toàn được mình kiếm cái chỗ vắng mình lạy nhau cũng được. Nhưng trong đạo tràng Nikāya là không có mắc cỡ, không có xấu hổ, lạy đó là đẹp mà xấu hổ gì, lạy đó là vinh hạnh, vinh quang, vinh dự, vinh hiển cho dòng tộc của mình có một đứa con đi tu như vậy, tu đúng chánh pháp như vậy. Tìm đâu ra những pháp hành như vậy trong cái thời kỳ này? Tìm đâu ra những hình ảnh như vậy trong hiện tại của Phật giáo? Tìm đâu ra những cái sự chân thành, biết ơn, cung kính, khiêm hạ, khiêm cung như vậy? Tìm đâu ra? Chúng ta có thấy mình đang hạnh phúc với cái pháp hành tối thượng này không?
Và nhớ là khi chúng ta hướng dẫn các cái vị mới xong là nhớ phải quỳ lên lạy diệt ngã. Cái đó còn thực hành không? Phải nhớ thực hành cái đó, đó là thánh sản của bậc đạo sư truyền lại không được quên, mình lạy cho họ cũng là tu cho mình và cũng giúp cho họ tu tập. Đó là cái bài thực hành, nãy giờ mình nói là lý thuyết tới cuối đó là mình thực hành cho thấy cái pháp hành cho nên ghê gớm là cái sự ngủ ngầm. Đức Thế Tôn nói thật sự là cái tôi ta này nó ngủ ngầm ở trong đứa con nít đó, cái dục tham này nó ngủ ngầm ở trong cái đứa trẻ thơ đang nằm ngửa đó, cái sân hận đó nó ngủ ngầm, cái hoài nghi, những cái giới cấm thủ nó đang ngủ ngầm ở trong đó. Chính vì vậy tới lúc đủ duyên thì nó biểu hiện ra, nó thể hiện ra, nó hành động, lời nói, cái cách cư xử thôi.
Bây giờ nếu như không có cái mầm móng ngủ ngầm của rắn độc thì làm sao đời sau mình đọa vào rắn hổ mang được? Nhưng kẻ vô văn phàm phu đâu có biết, chính vì vậy mà khi họ chết rồi họ đi đâu họ đâu có biết, còn bậc trí tuệ, bậc thánh thì nhìn ra sẽ thấy được cũng như Thế Tôn nhìn Đề-bà-đạt-đa nói Đề-bà-đạt-đa chắc chắn đọa địa ngục hay là ngài nhìn thấy những chúng sanh ngài biết. Trong những cái bản kinh chúng ta đã học rồi, đi xuống đóng phân hay là đi xuống hố than hừng, hay đi đến bóng cây hay đi đến tòa lâu đài Đức Phật nhìn thấy hết ở trong lục đạo đó, cái thú hướng của người đó, những cái hành nghiệp của người đó thì dẫn người đó đi đến con đường đó và đi đến cái chỗ đó.
Thành ra cái chữ ngủ ngầm này là ghê gớm, cái chữ tùy miên này là đi theo mình miên man, lúc nào nó cũng có trong đó mà mình không thấy. Cái này mới giải mã được cái chữ mù lòa, con mắt này là mù lòa, lỗ tai này là mù lòa, lỗ mũi này mù lòa, cái miệng này mù lòa, cái thân này mù lòa, cái tâm thức này là mù lòa.
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi... "(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Hồi xưa con học lúc mà gặp bậc đạo sư con đọc con nói "ủa mù gì? Sao mù? Mắt mình thấy mà sao nói mù?". Sắc này là mù lòa, mình không hiểu, tới chừng ngài giảng ra, ngài chỉ ra một cái rồi là nước mắt mình tràn ra hết, đúng thật sự sắc mù lòa, cảm giác này là mù lòa. Đâm chén với nhau đó, hình bóng trong tâm là mù lòa, suy nghĩ là mù lòa, nhận thức là mù lòa cho nên những hình bóng ám ảnh nó làm cho mình khổ mà mình cứ nuôi dưỡng nó, mình vẫn cất giữ nó, mình rất quý nó trong khi nó làm cho mình đau khổ có phải mù không?
Nếu mà cái người sáng mắt biết rằng đây là cái con rắn hổ mang chúa mà nó nằm ở trên cái giường mình, mình dám nằm ngủ chung nó không? Chỉ có người mù mới không biết thì rõ ràng là chúng sanh đang nuôi ba con rắn hổ mang chúa, còn nếu ở đây là năm con, thêm hai con nữa. Như vậy mà không thấy không biết gì hết thì Đức Phật gọi là vô minh, trong khi cái thân này làm cho mình khổ, nó bắt mình phải cung phụng nó đủ điều hết, cơm áo gạo tiền cũng muốn chết rồi, lao tâm khổ tứ, nhức đầu nhức óc còn thêm sanh, già, bệnh, chết là nó hành mình, chưa hết còn tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, hơn thua, đố kỵ, ganh tỵ đủ thứ hết trơn.
Như vậy đó mà mình vẫn nuôi những cái thứ làm cho mình khổ đau, mình nuôi mà cái tôi là cái này chính là cái gốc của tất cả cái khổ là kẻ thù. Nó hại mình, nó giết mình, nó là kẻ địch, kẻ sát nhân, kẻ giết người nhưng mà mình lại cưng nó, mình nuôi cho nó lớn, mình yêu thương nó, mình chiều chuộng nó thì như vậy là khôn quá ha. Cho nên mới gọi là vô minh mà cứ tưởng là thông minh, vì nuôi dưỡng cái thân kiến, nuôi dưỡng cái tôi, cái ta, từng suy nghĩ là nuôi nó mới chết đó. Cho nó ăn mập thây lên, cho nó mạnh khỏe lên Đặng nó đi kiếm chuyện gây sự với người ta, có không? Nói một hai câu là cự, nhìn thấy là bực bội, nghe cái thôi, đọc cái tin nhắn thôi là sân si lên. Trời đất ơi! Ngu hết chỗ nói cho nên "thương mình sao ngu quá" là toàn tập dài lắm, giờ tới bốn năm buổi rồi mà chưa hết nữa, làm chắc phải vài chục buổi.
Phải thương cái ngu này, thương cái vô minh của mình, thương cái mù lòa của mình, thương cái si ám của mình là cái thứ khổ mà mình lại cất giữ, mình nuôi nó, mình cho nó ăn rồi mình vuốt ve nó, mình nâng niu nó dữ lắm mà cái bản ngã ác độc, này cái thân kiến ngu si này. Một chút cũng không hài lòng, chút cũng không vừa lòng, chút cũng bắt, bẻ một chút cũng khó chịu, bực bội mà với ai? Với cha mẹ của mình, với chồng con của mình, với anh chị em của mình, với thầy, huynh đệ, tỷ muội của mình. Thiệt là đáng thương làm sao mà mình không có quán những cái này thì làm sao? Phải quán nó là kẻ thù, kẻ địch, kẻ giặc, bất hạnh, là khổ đau, là tai họa, phải quán của nó là tai nạn, khổ nạn, khốn nạn, hiểm nạn, nguy nan, là những cái ý nghĩ về cái tôi, cái ta này là phải đánh nó bầm dập, đánh cho nó bành thây áo vũ, truy sát nó, diệt tận nó, làm cho nó không còn có thể sanh khỏi trở lại trong tương lai.
An trú một cái nội tâm hiền thiện, hiền hòa, hiền kính, hiền từ, hiền nhân, hiền đức, hiền trí. bất cứ gặp cái hoàn cảnh nào. Ta chẳng là ai trên cuộc đời này, ta chỉ là cái đống tro tàn, cát bụi, khói mây, chẳng có ta nào ở đây cả, nếu có ta thì cái ta này là khói mây, là cát bụi, là nắm tro, là hũ cốt, là đống phân, là cái nùi giẻ rách, là bộ xương, chẳng có ai ở đây cả. An trú những cái hình bóng này là nó hiện hoài ở trong tâm, khi nhớ về mình lập tức hiện lên cái nùi giẻ rách, lập tức hiện lên hình bóng của bộ xương, lập tức hiện lên một cái đống bầy nhầy gan, ruột, phèo, phổi văng tứ tung, lập tức hiện ra cái hình của một cái huyệt, cái mộ, cái hòm, hiện ra hình của cái lò hỏa táng.
Ngày hôm qua con đã nhắc gặp tất cả những cái ngọn lửa là phải quán đây là lửa lò thiêu cho chính mình, những cái giọt nước mưa là những dòng nước mắt. Mình đau khổ vì cái tôi, cái ta, cái hơn, cái thua này, cái nhân, cái ngã, cái bỉ thử, cao thấp này. An trú cái tâm như vậy, đạp ở trên mỗi cái miếng đất này là đạp trên những cái tro cốt, hài cốt của quá khứ vô thỉ kiếp của mình luân hồi. Nhìn thấy dòng sông là nhìn thấy nước mắt, nhìn thấy đại dương là nhìn thấy những giọt lệ, nhìn thấy bất cứ màu đỏ ở đâu đó là huyết lệ trong vô thỉ luân hồi này. Nhắc cái tâm rằng "tâm ơi là tâm, tâm ơi tỉnh đi tâm, phải nhớ nha tâm, đừng bao giờ quên nha tâm, phải diệt tận cái thân kiến này, đánh phá hoàn toàn cái, tôi cái ta này không bao giờ còn một cái gì nữa trong này hết, diệt tận không thể sanh khởi trở lại trong tương lai".
Tu như vậy mà không tiến bộ, tu như vậy mà không thành tựu, tu như vậy mà không phá được thân kiến thì chặt cái đầu của con đây nè, con đưa cái đầu ra cho chặt. Tu như vậy mà tâm không hiền thiện, tu như vậy mà tâm không khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhã, khiêm tốn, khiêm nhường thì con cúi xuống đây để cho quý vị đập lên trăm ngàn trượng, đao gậy gì cũng được hết. Phải thường xuyên an trú nhắc nhở tâm mình liên tục vì nó ngủ ngầm, vì nó ngấm ngầm hoạt động bên trong mà tại sao mình không chịu nhìn. Mình nhìn ra ngoài hoài, mình nhìn người ta, cứ nhìn người này, người kia, người nọ, đúng sai chuyện của người ta để làm gì? Bắt bẻ người này, bắt bẻ người kia, khó chịu người này, bực bội người kia để làm cái gì? Để được cái gì? Trời ơi được cái gì? Để tăng thêm cái bản ngã, để lớn thêm cái ngã kiến, để bồi đắp cho cái vô minh, để cho nó phừng phựt những ngọn lửa sân hận lên, để nuôi dưỡng cái vô minh này sao?
Phải nhớ rằng là cái sự ngấm ngầm của thân kiến, cái sự ngấm ngầm của cái bản ngã, sự ngấm ngầm của cái tôi này là phải canh nó 24/24. Phải canh chừng nó, nếu không nó sẽ giết mình chết, nó sẽ ám sát mình, nó ám hại mình, từ một cái sự ám ảnh nó sẽ đi đến cái ám hại, từ ám hại nó đi đến ám sát, ám ảnh cái hình bóng tự ngã trong cái tưởng uẩn đó. Nó ám hại mình ở trong những cái sân hận, hơn thua, đúng sai, cao thấp, phải quấy, nhân ngã bỉ thử, tốt xấu, ta mi. Nó ám hại mình, từ ám hại mình đi đến ám sát mình luôn, nó giết mình chết ở trong vòng luân hồi sanh tử này.
Mình chết cái trí tuệ, chết cái tâm hiền, tâm từ của mình, chết cái tuệ giác, cái thánh trí của mình. Mình bị chết, mình bị mất cho nên bài sám hối diệt ngã có cái chữ bậc đạo sư dùng từ "ám hại" là rất là sâu sắc. Nó hại mình mà nó ở trong cái lờ mờ tối đó, nó âm thầm hại mình, mình không biết gọi là ám hại, không biết nó đang hại mình. Hôm qua chúng ta đã nghe bài "Xảo Trá Của Tâm" cho nên mình tu cái này lần lần trí tuệ của mình sáng ra, cái sự chánh niệm và tỉnh giác của mình nó sâu sắc nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ. Mình thấy được cái bản ngã nó hoạt động, dục, tham, ái, sân si hoạt động, những cái nguyên nhân của khổ nó vận hành như thế nào, nó cơ cấu như thế nào, nó tổ chức như thế nào, cái guồng máy như thế nào, cái hệ thống điều hành của nó như thế nào mình sẽ phát giác phát hiện ra thì mình mới nhiếp phục, chế ngự, đánh phá vào đó hằng ngày là nó hoạt động 24/24, trừ cái lúc mình được nghe pháp, được tác ý ,được thiền quán.
Buông ra là nó trở lại, thậm chí ngay lúc nghe pháp nó vẫn hoạt động chứ không phải là không. Nếu mình không có khéo léo thì khi nghe nhiều khi cũng sân hận, khó chịu trong nữa, nó chống đói cho nên nhìn ra rồi con thưa với chư tôn, chư hiền là ngán lắm, nó nhàm chán vô cùng, nó ớn, mình muốn lẹ lẹ đi rồi xong mình sẽ từ giã, vĩnh biệt luân hồi, không phải là tạm biệt nữa mà vĩnh biệt luân hồi, ngán quá trời quá đất rồi, sợ quá rồi, khổ đủ rồi. Mình bị nó ám hại, mình bị nó ám sát, sáng bị ám sát, trưa bị ám sát, chiều bị ám sát chứ không phải là mới đây bị ám sát đâu, đâu phải bên nửa vòng trái đất đâu mà nó ám sát mình bất cứ mọi lúc mọi nơi. Nhiều khi đang ngồi thì nó cũng ám sát mình luôn, con ma hôn trầm nó giết mình chết, ngồi đó mình chết không biết trời biết đất, ngồi đó nhắm mắt hả họng ra, ngồi thiền mà nhắm mắt hả họng.
Nó giết mình chết, giết cái tỉnh giác ở trong mình, nó giết cái chánh niệm ở trong mình, nó giết cái sáng tỏa trong mình, nó giết cái tuệ quán trong mình. Nghĩ rằng "thôi đừng tác ý, tác ý mệt lắm" rồi xong, đó là ý hành giết người, "đừng đi tu nữa ở dưới đi cho nó khỏe". Nó giết người, "quán hoài thấy căng quá à", nếu đang thiền quán mà đứt gân máu là lên trên luôn chịu không? Đi chơi, đi tắm biển, xe đụng này này kia mới sợ chứ đang tu thánh trí mà chết thì quá là tốt lành chứ, chết như vậy là tuyệt vời lắm, nằm mơ còn chưa được. Vô tu cứ sợ chết, ra ngoài ăn chơi rồi quậy, đánh lộn mà không sợ chết, vô tu thì sợ chết, ngồi chút tê chân, "chết rồi chắc gãy chân luôn quá". Tu một chút là sợ à, đi bộ du lịch bao nhêu cây số vẫn thấy khỏe re mà vô ngồi thiền chút sợ "đau chân chết, bệnh à".
Nó ác không? Cái ý hành nó ác không? Nó xúi mình cho nên mình mới thấy được Đức Phật dùng cái hình ảnh cái đứa trẻ, đứa con nít ngây thơ đó nằm ngủ hay là nằm ngửa thì cái này là sâu sắc lắm.
"Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ, đang nằm ngửa không có các pháp, thời từ đâu nó có thể khởi lên nghi hoặc đối với các pháp? Nghi tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Nghi ngờ nhân quả, nghi ngờ nghiệp báo, nghi ngờ điều thiện, không biết mình làm vầy mình có được gì không, mình bố thí, cúng dường mình có được cái gì không, mình tu vầy rồi cuối cùng mình được cái gì. Nó nghi ngờ, rồi giờ mình tập bỏ hết ngũ uẩn rồi sao, mình sao nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự, do dự. Vì sao? vì cái sự chánh tín, chánh kiến chưa có đầy đủ cho nên đó là lý do tại sao mình nghe pháp hằng ngày, mình tác ý, quán chiếu, mình nghe hoài, mình tụng hoài, mình niệm, mình học thuộc lòng hoài. Cái đó học rồi cứ nhắc hoài, nhắc hoài, chừng nào hết nghi là không nhắc nữa, trong kinh nói từ dự lưu cho đến A-la-hán đều tác ý như vậy hết, ngũ uẩn này là kẻ giết người, là hổ hố than hừng, là kẻ giặc, là cướp, là bất hạnh, là tai hoạn, là ung nhọt, là bệnh nặng, là trống không, là vô ngã.
"Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
-- Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
-- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác." (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Tới bậc thánh A-la-hán vẫn tác ý như vậy, khi các ngài tác ý các ngài hoan hỉ lắm thành ra không phải dự lưu xong rồi là không tác ý nữa mà càng tác ý nhiều hơn khi chưa dự lưu nữa. Bây giờ chưa dự lưu mà muốn không tác ý là xong rồi, không chịu tác ý thì đi tát người, lo tác vô cái ý trong này chứ đừng tát ở ngoài rồi bị ở ngoài tác. Bây giờ chịu tác ở trong này hay là bị tát ở ngoài? Phải tác ở trong cái ý, chữ này nó nhiều nghĩa vừa Hán Việt mà vừa tiếng Việt luôn, tác vô cái ý vô cái tâm ý của mình, tác vô cái thọ; tưởng; hành thức này thậm chí mình thấy có những người đó giận quá vì làm sai thì người ta tát vô mặt cái bóp để tỉnh.
Đó là tác vô sắc, tác vô thọ, tác vô tưởng, tác vô hành, tác vô thức. Phải đánh đó thành ra hình ảnh đứa trẻ con nít ngây thơ này đang nằm ngửa là cái đề mục thiền quán suốt đời chúng ta không được quên.
"Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa không có giới, thời từ đâu nó có thể khởi lên giới cấm thủ trong các giới? Giới cấm thủ tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Thế nào là giới cấm thủ? Là giữ những cái điều mà nó không có đúng với nhân quả, với nghiệp báo, với sự thật, với chánh pháp. Thí dụ như không được mặc đồ màu gì đó, đi lại xem trúng sao gì đó là không được mặc cái đồ đó, phải mặc cái đồ màu khác, không được quét nhà, mà quét nhà phải quét vô, mùng một tết đừng quét ra, rồi mùng 8- 23 mấy ngày gì đó không được đi, nhiều lắm. Ví dụ người ta bệnh vậy lại nói "ủa bệnh nặng quá vậy" thì cái này không được nói nha, bác sĩ nói là còn không bao lâu nữa cũng không được nói, cái này không có tốt.
Đây là giới cấm thủ đó, tức là mình giữ những cái điều mà mình chấp vô trong đó, không được nói mấy cái lời đó, bệnh gần chết mà cũng không được nói chết. Cái này chúng ta thấy có nhiều không? Nhiều lắm, vô minh, tà kiến, tâm bám chặt, tâm nắm chắc, chấp giữ những cái điều mà nó phi lý, nó không đúng sự thật, không đúng nhân quả, không đúng nghiệp báo, rất là nhiều, nhiều lắm. Hễ làm cái gì rồi là làm y chang như vậy, xưa bày nay làm không được thay đổi, biết cái đó sai rồi cũng không được thay đổi, giữ hoài vậy đó. May sao con cũng nhẹ cái này cho nên con mới vô Nikāya được, chứ không giờ này sao vô đây được, xưa bày nay làm, người ta sao mình vậy, trăm năm, ngàn năm không thay đổi. Đó là giới cấm thủ.
Tụng mà không biết cái gì hết trơn mà cũng tụng, tụng vậy nó mới linh, không cho ai biết gì hết là linh, còn kêu đoạn tham, sân, si thì không chịu "này dễ ợt, con biết hết trơn". Con biết hết trơn mà tham, sân, si con là tổ sân, kêu đoạn trừ bản ngã đi thì "bản ngã có gì đâu đoạn", nói sự thật, nói chánh pháp thì không chịu nghe mà thích nghe cái tầm bậy tầm bạ, mê tín dị đoan, tà kiến thì thích. Mình nói lại đây cầu đi linh dữ lắm là rần rần lên liền, xách giỏ chạy liền, những cái đó mê tín, tà kiến, giới cấm thủ cho nên trí tuệ không phải dễ đâu, phần lớn chúng sanh là sống trong tà kiến, phần lớn, rất là lớn, nhiều như là đại địa mà được chánh kiến chỉ giống như đất ở trong móng tay thôi. Chánh kiến là trong Nikāya này nè, là căn cứ theo cái này để mà nhìn, căn cứ theo cái này để mà nghĩ, căn cứ theo cái này để mà quán sát, căn cứ theo những lời thánh ngôn lượng của Đức Phật để ứng xử, hành xử, để tu tập thì cái đó mới gọi là chánh kiến.
Chúng ta thấy bây giờ hiếm không? Hiếm có lắm, đâu phải dễ.
"Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa không có những dục, thời từ đâu nó có thể khởi lên lòng dục tham trong các dục? Dục tham, tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Nhiều khi nói cái này con đau xót, con thấy có những người rất là hiền thiện ở dưới quê lên thành phố tu, lúc đầu mới lên rất là hiền lành, chân chất, cung kính, dễ thương. Ở một thời gian biến đổi tới lúc con đau lòng lắm, con không có nói người đời mà người xuất gia, vẻ hiền thiện của ngày xưa, sự chân chất, hiền từ không còn nữa. Người đời cũng vậy, nhiều khi ở dưới quê chân chất, hiền lành rồi đi lên giao tiếp, rồi trải đời, vào những thành phố lớn rồi bắt đầu học những mánh khóe, những dối trá, những thủ đoạn, từ lòng tham sanh khởi, lòng dục sanh khởi, cái dục vọng càng ngày càng lớn lên thì phải làm đủ thứ kiểu cách để chiếm đoạt, để đạt được những cái tham muốn đó không từ bất cứ những cái điều xấu xa, tội lỗi gì.
Đó là cái lòng ham, lòng muốn, lòng dục nó ngủ ngầm trong con người đó chứ đâu phải không có. Bây giờ nếu mình tu từ đầu mình không có hướng dẫn một cái pháp tu chân chánh để cho người ta nhìn thấy được những dục, những tham để nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận thì khi đủ duyên, gặp duyên thì nó sẽ bùng phát ra, nó xâm chiếm, nó áp đảo và nó dẫn dắt người này cả cuộc đời đi vào trong cái tà đạo, đi vào đi lạc lối, lầm đường. Rất là xót xa mà chính tự thân mình cũng phải hết sức là cẩn trọng, con chứng kiến rất là nhiều, tự thân mình là mình luôn luôn lo sợ, đối với mọi người ở trong chùa nhiều chục năm rồi con nhìn thấy thương lắm.
Ngày nào mới vô chùa còn cư sĩ hết sức là hiền lành, cung kính, chân chất, ở trong chùa một thời gian được đắp chiếc y, được thọ giới lên rồi sau này là thật sự là mỗi khi nhìn thấy con thật sự, nhiều khi chỉ biết cúi đầu xuống, không dám góp ý nữa, bản ngã tăng trưởng, sân hận, cao thấp, ta đây được nuôi lớn theo những năm tháng ở trong chùa. Những cái này là phải hết sức là nghiêm cẩn, nghiêm khắc và cẩn trọng nhìn lại cái tâm của mình, không có được xem thường. Phải hết sức là nghiêm khắc, thường xuyên quán chiếu và tác ý nếu không mình sẽ bị biến chất, biến dạng, biến đổi.
Con chưa có nói cái gì cao siêu, chỉ nói một cái người tu với một cái tâm hiền thiện, thành thật, biết kính trọng. Đó là cũng khó tìm được ở đời rồi chứ đừng nói chi mà thành tựu chánh tr kiến là vạn nan, thiên nan, nhiều khi trong khóa tu khác, ra hết kháo tu nhiều khi khác. Chúng ta thấy cái tâm mình không? Ở đây khác, vừa xuống núi rồi khác, mình phải nhìn thấy được khi mình khỏe thì tâm mình khác, khi mình bệnh thì tâm mình khác, khi mình được khích lệ, khuyến khích những pháp thực hành liên tục thì nó khác, khi buông ra chút rồi nó khác. Con nói thiệt chỉ cần nghỉ tu một ngày thôi, không có thời khóa thôi chúng ta sẽ thấy cái tâm mình, đừng nói ngày nghỉ một thời thôi lại là nó khác cho nên mình buông pháp ra là mình chết đó.
Giờ này mình là những đứa trẻ thơ ở trong giáo pháp ,luôn luôn phải cầm cái bình sữa được mẹ chăm sóc, chỉ cần rời ra khỏi vòng tay của mẹ thôi bất cứ lúc nào mình cũng thể gặp nguy hiểm, Mẹ đây chính là thánh pháp, là chánh pháp là những thời khóa tu học của chúng ta cho nên phải nhớ hai cái chữ tùy miên, phải nhớ hai cái chữ ngủ ngầm, phải nhớ hai cái chữ ngấm ngầm đang hoạt động, lắng nghe kinh, nghe pháp, nghe tâm, nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động. Nhiếp phục lòng dục, lòng tham, lòng ái đối với những cái món ăn đừng có suốt ngày ở dưới bếp, rần rần ở dưới đó, cái tâm mượn cớ "con cúng dường" rồi xuống bày ra đủ thứ hết, nhiều khi bỏ cái đồ ăn của người ta, cúng chưa thấy bao nhiêu phước mà bỏ rất là tội còn hơn nữa. Nhiều khi cái tâm hơn thua muốn nấu phải ngon hơn người kia, tâm đó là cái tâm gì?
Hãy nhìn cho nó sâu sắc, hãy nhiếp phục lòng dục, lòng tham, bản ngã, nhiếp phục sự buông lung phóng dật, an trú vào pháp, nếu không cái sự ngủ ngầm sẽ giết chết dần, chết mòn cái pháp thân của mình mà mình không có biết. Học được chút, hiểu được chút là có khi mình lại ảo tưởng tới rồi, mình giỏi rồi, mình hay rồi thì những cái đó nó giết mình chết, nó sẽ giết mình chết, giết mình chết. Mình phải nhận diện thật là sâu sắc, phải đề phòng và canh chừng nó, kẻ thù của mình đang ngấm ngầm hoạt động trong tim mình đó, trong cảm giác của mình, trong suy nghĩ của mình, trong cái hình bóng, trong tâm nhận thức. Phải nhận diện ra được những kẻ thù, những kẻ giặc cướp, những nhà đại ảo thuật đang trú ẩn ở bên trong con người của mình. Phải nhìn xem thật là kỹ, đừng có để nó qua mặt, đừng để cái lậu hoặc nó rơi, nó lọt, nó lừa, nó gạt, nó xảo trá, nó gian ngụy, mình nghe theo lời nó rồi nó dẫn mình đi.
Cho nên hình ảnh cái đứa trẻ, đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa này phải nhớ khắc cốt ghi tâm cho đến chết cũng không quên.
"Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa không có các loài hữu tình, thời từ đâu nó có thể khởi lên lòng sân đối với các loài hữu tình? Sân tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Nếu nó đang nằm ngửa ngây thơ mà nó không có những cái cảm giác khó chịu, bực bội tiềm tàng ở trong nó thì do đâu mà nó khởi lên được cái lòng sân hận đối với những người khác, đối với những chúng sanh? Do sân tùy miên thật sự sống tiềm tàng ở trong nó, đó là lý do tại sao chúng ta tác ý tâm từ, tâm hiền hoài hoài để mình gội rửa những cái cảm thọ bực bội, khó chịu, sân hận ngấm ngầm hoạt động ở bên trong, khi đủ duyên mới bùng phát ra ngoài. Vừa rồi có rất nhiều những chỗ mà bị bình ga thậm chí là cái bếp ga nhỏ thôi nhưng mà chết hết mấy mạng người. Bà mẹ đưa ba bốn đứa con sáu tuổi, bốn tuổi, bảy tuổi, tám tuổi đi lên Đà Lạt thăm bà ngoại đi làm mướn ở một cái chòi ở phía sau cái nhà của người ta. Buổi sáng mẹ mới đi nấu đồ ăn sáng vừa xong thì đi ra mua sữa khóa chìa khóa lại nhưng quên tắt bếp gas, sau đó thì phừng phựt lên cháy mà người ta không mở cửa được, không đập cửa được. Khi nó bùng phát lên, nó cháy hết rồi thì đập cửa ra được ba đứa nhỏ chết hết, bà mẹ xỉu lên xỉu xuống, té lên té xuống.
Chúng ta thấy không, chỉ quên tắt cái bếp ga thôi, cũng vậy mình chỉ cần quên chánh niệm thôi thì nó phựt cái lửa sân hận ra với những người ở gần chung mình khi mình tiếp xúc, xúc sanh thọ, sân nó nằm trong thọ. Mình quên lúc đó không có an trú tâm từ, mình không có thực hành tâm hiền thì khi mình tiếp xúc một cái là nó phừng lên liền ngay lập tức thôi, là nó đốt cháy liền chứ đâu có cái chuyện gì lớn đâu. Đã vậy còn bóp cái chìa khóa cửa lại thì chúng ta thấy bà mẹ nghĩ bảo vệ đứa con thôi nhưng mà giờ giết hại đứa con thì cũng vậy, cái tâm mê này nó bị phong tỏa, nó bị nhốt ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, nó vừa bị nhốt mà nó vừa bị đốt mà nó chết cái trí tuệ, chết cái tâm từ ở trong cái ngũ uẩn này.
Chúng ta có thấy mình đang bị nhốt không? Có thấy mình đang bị cháy không? Nhiều khi nói "dạ con ngồi đây mát mà" nhưng mà nó tiềm tàng, nó tùy miên nằm trong đó cho nên ai đụng tới cái thì nó phừng ra, nó phựt ra, nó cháy ra, nó nổ ra. Có một số chỗ bình gas nổ lên chết người ta mấy mạng người, bao nhiêu người banh cái nhà luôn thì như vậy nó tiềm tàng, nó ngấm ngầm, nó tùy miên ở bên trong cái cảm thọ này, trong những hình bóng suy tư, nhận thức này, nói đơn giản là trong cảm thọ này. Và chúng ta không có hướng vào cảm thọ tác ý thường xuyên an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, thường xuyên an trú cái cảm giác hiền thiện, từ hòa, lòng thương yêu thì chúng ta làm sao hóa giải được cái ngấm ngầm ở trong vì thế đợi tới sân lúc đó mình tu sao kịp. Lúc mà tôi giận lên rồi, nó sân hận thì lúc đó kêu trải tâm từ thì trải gì được giống như nó bùng lên, nó cháy hết cái nhà này rồi thì mình đem có một thùng nước lên tạt thì thấm thía gì đâu.
Cho nên cái chỗ ghê gớm là cái chữ tùy miên, sân tùy miên thật sự sống tiềm tàng ở trong cái đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa đó cho nên chính cái chỗ này mà mình nhớ cái hình ảnh người ta nói nhìn xa xa mới đẹp, rước về ở chung trời đất ơi. Mọi người thấy không? Thấy rõ chưa? Nhìn xa xa dễ thương quá, hiền quá, đẹp quá, trời nói chuyện sao lịch sự, dễ thương, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, đến khi rước về thì ông nội, bà nội ơi, trời đất ơi nó hành, về nó mới nhe nanh ra, nó mới đưa cái móng vuốt ra.
Đây là bạch cốt tinh, thôi bạch cốt tưởng đi đừng có bạch cốt tinh, nhớ bạch cốt tưởng không? An trú vô bạch cốt tưởng là quán tưởng cái bộ xương trắng chứ đừng có đi theo bạch cốt tinh. Cái tâm mình cũng là bạch cốt tưởng mà nó cũng là bạch cốt tinh, nếu mình không tu thì nó thành bạch cốt tinh mà nếu mình tu thì là bạch cốt tưởng. Bây giờ muốn cái nào? Muốn tinh hay tưởng? Không tu là nó đưa móng vuốt ra cho nên lúc mình quên an trú cái tâm hiền là lúc đó nó liếc, nó háy, nó nguýt, nó trừng, nó trợn, có không?
Đừng có nói chi ở ngoài ngay cái thời pháp luôn là nhìn thấy, mấy người không tu mình thấy rõ ràng lắm, nhìn thấy là mình sợ, mô Phật. Đó mới là cái ánh nhìn, rồi nó đưa ra cái móng tay của nó ra, trong Tây Du Kí nó đưa cái móng tay của nó ra cho nên mình nhớ an trú bạch cốt tưởng, đừng có để cho bạch cốt tinh dẫn mình đi, bất cứ lúc nào nó cũng có thể xuất hiện, ma nhập, tâm dục, tâm ái, tâm sân, tâm hận, tâm hơn, tâm thua, tâm cao, tâm thấp, tâm đúng, tâm sai, tâm phải, tâm quấy nó nhập vô rồi mê hết trơn, không biết gì nữa hết, pháp gì bay mất tiêu hết trơn, mất pháp hết. Lúc đó thấy chình ình một đống cái tôi, cái tôi này phải bự hơn cái tôi kia mới được, cái tôi kia nhỏ mà sao dám khinh thường cái tôi này, cái tôi này bự mà. Trời đất ơi!
Nó ngấm ngầm mà mình không nhìn ra cái ngấm ngầm này thì mình chết với nó thôi. Chết tức, chết tưởi, chết bờ, chết bụi, chết nhục, chết nhã, chết cay, chết đắng, chết hèn, chết mọn, chết cho banh xác, chết cho tan tành, chết bất đắc kỳ tử, chết hoạnh tử, chết yểu, chết già, chết trẻ, chết bé, chết lớn, chết vì bất cứ kiểu nào, nó chết trăm ngàn thứ kiểu, nó chết với cái tâm không phòng hộ, tâm không bảo vệ, tâm không chánh niệm tỉnh giác thì mình chết ngay lập tức. Nó nhập vô rồi không còn thầy, không còn huynh đệ, tỷ muội gì hết trơn, không còn ni sư gì nữa hết, con ma sân nó nhập rồi, con ma bản ngã nó nhập vô rồi. Nó nhập vô rồi là không còn thấy ngũ uẩn nữa mà chỉ thấy đại uẩn, một uẩn to bự, chình ình một đống.
Mỗi ngày có bị ma nhập không? Sao tu mà để cho ma nó nhập? Mình phải dòm hoài, coi hoài, để ý cái tâm hoài cho nên người chân tu thật học là không có thời giờ rảnh. Con mà nghe người này, người kia, người nọ vậy vậy là con buồn lắm, tại sao vậy? Tại sao không ráng nhìn lại, khổ quá rồi mà, phải ráng, phải cố gắng thật là nhiều nhìn lại mình, luôn luôn phải cố gắng phải nhìn lại mình thường xuyên mỗi giờ, mỗi phút, mọi ý niệm. Phải nhắc mình hoài "tâm ơi tâm, tội lắm tâm. Tâm ơi tâm, thương lắm tâm. Tâm ơi tâm, khổ lắm tâm. Tâm ơi tâm, vừa rồi tâm. Tâm ơi tâm, chán chưa tâm? tâm ơi là tâm, những giọt mưa là những dòng nước mắt của tâm đó, từng giọt, từng giọt là những giọt lệ tận cùng thương đau trong vòng luân hồi sanh tử này".
Cứ rảnh là nhắc hoài, nhắc riết từ từ nó thấm, khi nó thấm rồi thì nó không còn muốn hơn thua với ai hết, không còn muốn cao thấp với ai bất cứ trên cuộc đời này. Nó hiền ngoan, nó dễ thương, nó ngọt ngào, từ ái, lúc nào cũng cúi đầu, lúc nào cũng khiêm nhường, lúc nào tâm cũng yêu thương dạt dào rồi chúng ta sẽ thấy được cái phép màu xuất hiện. Khi mình thường xuyên hướng vào bên trong tác ý, mình cứ an trú vào pháp, mình cứ làm cho nó tăng trưởng quảng đại những cái trí tuệ này, những sự thật này, những tình thương này, những sự nhắc nhở, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ, quản giáo cái tâm này rồi thì chúng ta sẽ thấy một phép màu xuất hiện.
Cuộc đời ta sẽ đổi đời, sẽ thay đổi vận mạng, sẽ trở thành một con người mới, một sinh mạng mới, một cuộc sống mới, một tương lai mới trên cuộc đời này và chúng ta không còn ở nhà nữa, chúng ta lên núi ở. Chúng ta không còn ở trong cái căn nhà lửa nữa mà chúng ta ở cái chỗ thanh lương, thanh cao, thanh tịnh, thanh thoát tự tại. Chúng ta không còn muốn phải nhà vô cái đống lửa nữa, rơi vào cái hố than hừng nữa mà chúng ta thấy rồi, thấy cái sự tịch tịnh, cái sự trong mát, cái sự thanh lương, cái sự an lạc, cái sự cao quý, cao đẹp, tuyệt dịu tối thượng này. Đây là tịch tịnh, đây là vi diệu tức là sự an chỉ tất cả hành, là sự xả ly tất cả sanh y, là ái diệt, vô tham, chấm dứt Niết-bàn.
Hay lắm quý vị ơi, tuyệt vời lắm, vi diệu lắm, ráng tu đừng có lu bu, ráng mà tu. Đây là tịch tịnh, sau khi giải thoát tâm khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức tập trung tâm vào bất tử giới, tập trung tâm vào cái sự bất tử là cái sự an tịnh hết sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, sự an tịnh hết những cái ham muốn, những cái nóng giận, những cái hơn thua, sân si, bản ngã, cao thấp, đúng sai, phải quấy của cuộc đời này. Mình chán ngán, cái tâm mình hoàn toàn mát lạnh, nó không còn một chút xíu mầm móng, một tí xíu muốn hơn với bất cứ một ai trên cuộc đời nữa, tâm hoàn toàn an tịnh, vắng lặng, tịch tịnh thì đây là vi diệu tức là sự an chỉ tất cả các hành. An là yên, chỉ là dừng, cái chỗ nhiệm màu, cái chỗ vi diệu, cái chỗ tịch tịnh là yên lặng và dừng lại tất cả mọi tham, sân, si, dục ái, vô minh, hơn thua, bản ngã, đúng sai, cao thấp, phải quấy, tốt xấu, nhân ngã bỉ thử của cuộc đời này, dừng một cách hoàn toàn thì chỗ đó là chỗ vi diệu, tịch tịnh, là chỗ tối thượng, tối thắng, là chỗ cư trú của tất cả thánh hiền, là căn nhà của Đức Như Lai, là sự xả ly tất cả sanh y, là buông xuống, dục xuống, quăng xuống, liệng xuống tất cả những cái gì làm cho mình phải tái sanh trong vòng luân hồi sanh tử này.
Không còn ham bất cứ một cái gì ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này nữa hết, sự xả ly tất cả sanh y, ái diệt, không yêu thích bất cứ cái gì, chấm dứt hoàn toàn sự khao khát, thèm muốn, đói khát, khát ái, dứt hoàn toàn, lặng hoàn toàn, tịch tịnh hoàn toàn, vô tham, không muốn nữa. Đó là sự đoạn diệt, Niết-bàn
"Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc" (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
An trú vững chắc ở chỗ cái tâm tịch tịnh đó thì vị này sẽ đoạn tận tất cả các lậu hoặc. Thấy tên giặc nào là bắn tên đó, thấy tên nào là nã tên đó, thấy tên nào là diệt tên đó, cứ ngồi canh chừng hoài đặng giết giặc suốt ngày suốt đêm, gặp đâu giết đó, thấy gì diệt nấy. Đánh tan hoang hết, tan tành hết, tan vỡ hết, an trú vững chắc ngay chỗ đó, an trú vững chắc ở đấy, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Lúc đầu là những cái thô, sau lần lần đến những cái tế, vị này phát hiện ra những cái ngấm ngầm phá diệt hết.
Rồi với Tuệ từ tâm an tịnh,
Xoay lại nhìn lậu hoặc trong tâm,
Nhận ra các nhiễm ô ngầm,
Vẫn còn nhè nhẹ âm thầm trong tâm,
Tiếp tục quán sát năm thủ uẩn,
Quán với tâm chẳng ái, chẳng tham,
Độ ô nhiễm sẽ giảm dần,
Đến khi hết nhiễm, tâm thành sạch trong.
Dục nhiễm, hữu nhiễm, vô minh nhiễm,
Tâm tẩy trừ ba sự nhiễm này,
Khi ô nhiễm đã tẩy xong,
Thì tâm trong sạch như dòng nước trong.
Tẩy dục, hữu, vô minh hết sạch,
Tâm không thầm chấp bất cứ gì,
Khởi lên Trí biết rõ ràng:
“Tâm này trong sạch chẳng còn nhiễm ô”.
Tâm chẳng động trong khi nói nín,
Tâm chẳng lay trong lúc đứng đi,
Tâm không động nhiễm đêm ngày,
Nay là đời cuối, không còn tái sanh.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
"Sau khi giải thoát tâm khỏi các pháp ấy, vị ấy tập trung tâm vào bất tử giới (Amatadhatu) và nghĩ rằng: 'Ðây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả sanh y, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn'. Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thời do sự tham pháp, hỷ pháp của mình, thời do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui đời này nữa." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Vị ấy được hóa sanh hóa sanh lên cõi Tịnh Cư Thiên, các cõi trời bất hoàn của bậc thánh tam quả, vị này nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui lại đời này nữa.
"Này Ananda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.
Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy." (Trung Bộ Kinh, 64. Ðại kinh Malunkyaputta)
Vì thường quán như vậy nên vị này Giải Thoát tâm mình ra khỏi ngũ uẩn, khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm ra khỏi các pháp ấy vị ấy tập trung vào cảnh giới của bất tử, đây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ sự dừng lại tất cả sự vận hành ở trong ngũ uẩn, sự xả ly tất cả tham ái vào ở trong sanh y này, ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, cái câu này phải làm cái bản thật là lớn treo lên đây để cho mọi người nhớ để quán năm uẩn này là vô thường, là bệnh hoạn, là cục bướu, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh chướng, là kẻ địch, kẻ thù, như là phá hoại, là trống rỗng, là vô ngã.
Đây là những cái đề mục lớn của thiền quán, hôm nay con chỉ nói tổng quát thôi, bài kinh này rất là hay chúng ta về cố gắng đọc, nghe, chiêm nghiệm, viết bài pháp đàm và nhớ kỹ hình ảnh đứa trẻ ngây thơ nằm ngửa là sự ngủ ngầm của năm triền cái tùy miên. Đừng bao giờ quên mình đang bị tai họa, đang phải chịu những cái tai nạn, đang còn ở trong cái phạm trù hết sức là nguy hiểm, không có an toàn, đừng bao giờ quên để mình tác ý tu tập. Mình quên cái này cái là mình sống lại với buông lung liền, vô minh, tham ái liền, sân hận liền. Có vị nào có muốn chia sẻ gì không? Mưa gió rồi chúng ta tăng ca tu học đi, các vị mới có muốn đi ra ngoài thì ra.
Giới tử 1: Dạ con kính đảnh lễ trên Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, dạ con kính đảnh lễ trên sư phụ bậc ân nhân tôn kính, dạ con kính đảnh lễ trên quý Ni Sư, quý thầy, quý sư cô và các bậc hiền trí. Dạ sáng nay con nghe bài giảng của sư phụ cảm thọ trong con rất là hoan hỉ, rất ngỡ ngàng và rất biết ơn. Tưởng con nhớ đến trong gia đình cha mẹ và các anh chị bên chồng và hiện tại đứa con gái con cũng là giáo viên nhưng chưa bao giờ con được những lời dạy quý báu, vàng ngọc như thế này. Nhờ sự trợ duyên của người nhà, nay con được ở tại ngôi nhà hiền thiện, thân thương của Linh Quy Pháp Ấn, của các bậc hiền thánh đã chỉ dạy và tận tình, ân cần giúp đỡ con.
Ngũ uẩn con lâu nay vì vô minh, không hiểu biết thấu đáo những sự thật của cuộc đời, vì cái vô minh, bản ngã nó che đậy. Khi con ngồi nghe pháp ý hành con khởi lên "sau bài giảng pháp sư phụ con sẽ mạnh dạn đứng lên nói những lời tận đáy lòng con chân thành và biết ơn". Nhưng khi con khởi lên thì con cũng thấy cái tâm chống đối, mắc cỡ, lo sợ, nhúc nhác sẽ không đứng dậy nhưng con tác ý quyết định con đứng dạy và trước ngôi tam bảo, sư phụ, các quý thầy, quý sư cô chứng minh cho lòng thành của con.
Điều thứ nhất là con muốn sám hối Ni Sư vì đã qua một tuần lễ nay con rất là xấu hổ vì khi sư phụ đã cho sám hối, nhưng trong những quá trình con trình bày sám hối thì sau đó con về chiêm nghiệm lại thì con thấy có cái bản ngã của con. Tại sao khi sám hối không chỉ cái lỗi của mình mà lại nói những lời nói không tốt đẹp thì nay trước tam bảo, sư phụ, quý thầy, quý chư ni, quý sư cô và các bạn hiền trí cho con thành tâm đứng lên lễ lạy sám hối Ni Sư.
Nguyện con từ nay đến mạng chung luôn an trú với tâm hiền thiện, khiêm cung.
Nguyện con từ nay đến mạng chung chôn vùi bản ngã này vào lòng đất ngay tại chỗ này, không bao giờ sanh khởi trở lại trong tương lai.
Nguyện con từ nay đến mạng chung luôn sống trong tâm biết ơn, nhớ ơn, cung kính đối với tất cả.
Đây là những hình ảnh tốt đẹp, tươi đẹp và cao đẹp của một người tu. Đây là những hình ảnh cao quý, cao thượng, thanh cao của thánh đệ tử. Đây là những pháp hành vi diệu, diệu hạnh của người con Phật chân chánh.
Giới tử 1: Dạ con kính trên sư phụ, trên quý thầy, quý ni sư, quý sư cô và các bậc hiền trí, trong quá trình con sống và tu tập nơi ngôi nhà hiền thiện, từ bi của Linh Quy Pháp Ấn nếu trong quá trình con học hỏi còn non kém không hiểu biết thì con mong sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô và các bậc hiền trí chỉ dạy và tha thứ những cái lỗi lầm. Đôi lúc ngũ uẩn này trong vô minh không thấy biết thì mong gia đình - ngôi nhà hiền thiện giúp đỡ con. Con xin thành tâm sám hối những lỗi lầm, nếu con có tạo nên vô tình hay cố ý mà trong vô minh con không thấy biết dạ.
Sư Phụ:
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.