Con Đường Đoạn Tận Năm Hạ Phần Kiết Sử 2- Đại Kinh MALUNKYAPUTTA, Trung Bộ 64
NIKĀYA GIẢNG GIẢI
CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN NĂM HẠ PHẦN KIẾT SỬ 2
ĐẠI KINH MALUNKYAPUTTA, TRUNG BỘ 64
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm bài kinh sáng nay con đường đoạn tận năm hạ phần kiết sử. Hình ảnh đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa nhưng năm hạ phần kiết sử thật sự đang sống tiềm tàng ở trong nó, thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân. Nó vẫn luôn luôn ngủ ngầm, nó luôn ẩn mình, nó đang sống tiềm tàng, tiềm ẩn, tùy miên, ngủ ngầm dầu cho đó là một cái đứa trẻ thơ. Hình ảnh này mới giải mã ra được cái dòng luân hồi sanh tử vô tận này, mới giải mã ra được:
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Cái sự nắm giữ một cái tâm hôn mê nắm chặt vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là khủng khiếp, là khủng khiếp, là không thể nào trình bày một cách rõ ràng, đầy đủ được cái tâm chấp thủ nắm chặt, nắm chắc, nắm cứng, nắm giữ một cách hết sức là cứng, là chắc, là chặt, là siết, là buộc, là ràng, là hệ, là lụy vào ở trong cái thân kiến này, cái tôi, cái ta, cái bản ngã, cái kiến chấp về thân này. Sáng nay khi con xuống thầy Huệ có đến thăm thầy Pháp An, thầy trình bày thêm một cái ví dụ cũng rất là sáng, chứng tỏ là thầy Pháp An hiểu rất là tốt. Thầy nói những cái tảng băng ngầm ở Bắc Cực trải qua hàng ngàn, hàng vạn năm thậm chí hàng triệu năm nhưng mà khi nó tan chảy ra thì những cái virus các nhà khoa học nói là nó có khả năng ra gây ra những cái dịch bệnh. Những cái virus, vi khuẩn đó đã tồn tại, nó đã nằm yên ở đó hàng ngàn, hàng vạn năm, thậm chí là hàng triệu, nhiều triệu năm thì đó là cái trạng thái ngủ ngầm huống hồ chi một cái tâm thức từ vô thỉ này là khủng khiếp lắm.
Khi mà nói ra như vậy nếu người không có học thì đâu có tin, người ta đâu thể tưởng tượng được tự nhiên ở trong băng cả vạn năm trước rồi bây giờ tan chảy ra rồi những cái những cái virus, vi khuẩn, những cái siêu vi có thể làm cho dịch bệnh cả toàn cầu. Đó là trạng thái ngủ ngầm của vi khuẩn, virus, siêu vi, còn cực kỳ vi tế hơn nữa, siêu vi của siêu vi là cái tâm chấp thủ, ngu si, vô minh và khát ái ở trong năm thủ uẩn này. Cho nên làm sao mà một con người phàm phu mù lòa, mắt mù, tai mù, miệng mù, mũi mù, thân mù, tâm mù làm sao nhìn thấy được? Làm sao mà thấy, mà biết được, mà thấu, mà suốt được, mà nhìn ra được? Cả một cái dòng luân hồi sống chết, chết sống, sanh ra rồi chết, chết rồi sanh ra, sanh ra rồi chết, cứ sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh, sống sống chết chết, chết chết sống sống, lăn qua lộn lại, quay vòng như vậy.
Cứ quay hoài một cái vòng tròn như vậy, kiến bò miệng chén như vậy, giống như một cái vòng quay cái bánh xe luân hồi, bánh xe lục đạo luân hồi quay vòng vòng địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la, người, trời. Cứ quay vòng vòng trong này qua như vậy thì nó tích tụ vô trong này là bao nhiêu những cái thọ, bao nhiêu những cái tưởng, bao nhiêu những cái hành, bao nhiêu những cái thức, mà những cái sắc; thọ; tưởng; hành; thức đó đều là ở trong hôn mê, trong cái chấp thủ, trong một cái tự ngã thì chúng ta có thể tưởng tượng nổi hai cái chữ tùy miên này khủng khiếp tới cỡ nào không mà chúng ta nói là Tiếng Việt là ngủ ngầm.
Mình đừng có nói đâu xa, bây giờ mình mới có mười mấy, hai mươi tuổi, ba mươi tuổi, bốn mươi, năm mươi tuổi thôi thì mình ngồi thiền lại thì trong tâm bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu suy nghĩ, bao nhiêu những cái hình bóng, những cái cảm giác mà mình đã từng trải qua rồi bao nhiêu những nhận thức. Mình ngồi là có khi ngồi thiền không được, bung chân chạy ra, khủng khiếp vậy đó, đó là cái trạng thái ngủ ngầm ở bên trong của các lậu hoặc, nhiều khi rồi mình ở trên núi vì mình tách biệt hết những cái duyên xúc, thậm chí vô trong thất một mình luôn nhưng nó vẫn quậy mình không? Dục có quậy mình không? Ái có quậy mình không? Tham nó có quậy mình không? Những hình ảnh ám ảnh về dục như dục tưởng, dục tư, dục tầm, dục tứ và có nhiều người không chịu nổi phải phá thất đi ra, hoặc ở trong đó nhưng mà ở dưới một cái trạng thái là qua ngày đoạn tháng, thoải mái ăn ngủ tự do không có thời khóa gì hết, muốn ngủ là ngủ, muốn thức là thức
Thành ra không phải đơn giản, ngày xưa thời Đức Phật còn tại thế những cái vị độc cư là những vị thành tựu chánh tri kiến và những vị đã nhìn thấy cái đạo lộ thì người ta ở người ta tu người ta mới càng ngày càng tiến, không có lùi còn mình chưa chánh kiến mà mình đi ở một mình là vô minh nó dẫn mình đi. Mình sẽ sống ở trong hôn mê, ở trong dục, ở trong ái, ở trong buông lung phóng dật, muốn làm gì thì làm, chính như vậy phải cần đại chúng, còn những người mà con không nói tới thì thôi, con thấy không nói được là con để cho tự do, muốn làm gì thì làm. Thành ra cái tuệ giác của bậc thánh thâm sâu vô lượng nhiều khi mình mới học được một chút, mình hiểu một chút, mình sám hối bản ngã được chút thì tưởng được cái bản ngã của mình nó cũng hạ xuống nhiều rồi, thật ra chưa có gì hết trơn.
Giống như cái cây cổ thụ ngàn năm mà mình lấy cây cuốc lại quẹt quẹt mấy cọng cỏ đó, còn chưa chạm tới cái rễ nhỏ chứ đừng nói chi rễ cái mà mình đã tưởng rằng mình hay ho rồi, mình giỏi giang rồi cho nên bậc đạo sư nói rằng cái dục nó dữ dằn nhưng mà không có khó để mà nhiếp phục. Tuy nhiên cái bản ngã đó ngủ ngầm mà nó cực kỳ thâm độc, ngài dùng cái từ là nó thâm độc, nó rất là ác độc cho nên chư thiên ly dục nhiều lắm, các tầng trời sắc giới, vô sắc giới đâu có còn dục nữa nhưng mà bản ngã người ta không thấy, không thấy bản ngã, không phá được thân kiến, không nhìn ra được tâm chấp thủ vào trong ngũ uẩn. Cho nên dầu cho đạt tới phía sau này tứ thiền bất định, đạt cho đến tứ thiền, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi tưởng xứ là tới định tối cao của vô sắc giới nhưng mà vẫn trầm luân.
Đương nhiên các vị đó phải ly dục, ly tham, ly ác bất thiện pháp rồi mới chứng được các cái tầng cao nhất là cái định của vô sắc giới nhưng mà người ta không phá được cái bản ngã, không diệt được cái thân kiến. Chính vì vậy mà Đức Thế Tôn dẫn liệt họ là ngoại học phàm phu, dù cho đạt được tứ thiền bát định, chứng được tám tầng thiền luôn nhưng không thấy ngũ uẩn, không diệt thân kiến thì vẫn là phàm phu thiên. Thành ra bây giờ mình học mới có chút, mình nhận diện được chút là xong rồi thôi, vậy là uổng cái công mình được nhận diện ngũ uẩn, uổng cái công bậc đạo sư soạn ra cái sám hối diệt ngã. Cho nên cái bản ngã này phải tới A-la-hán mới hết cái vi tế, khủng khiếp vậy đó, còn cái dục tới sơ thiền là được rồi, là ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú sơ thiền.
Bây giờ cái dục mà chúng ta còn chưa diệt nổi nữa chứ đừng nói chi tới cái ngã. Dục thì còn dục thô tế nữa cho nên cái công trình chúng ta còn nhiều lắm, dài lắm, xa lắm, không phải đơn giản như mình nghĩ đâu. Mình coi cái ưa thích đâu ai dạy ai đâu, cái dục ái nam nữ có ai dạy ai đâu, cái sân có ai dạy ai không, bản ngã đâu có ai dạy ai tự động ở trong nó biết, câu sanh phiền não là sanh ra rồi nó đi chung. Cho nên Đức Thế Tôn mới cảm thán vô thỉ là luân hồi này, không thể nêu rõ cái khởi điểm đầu tiên của chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. Khi ngài nói cái bài kệ thành đạo:
"Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng không gặp
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh"
(Kinh Pháp Cú 11, Phẩm Già, kệ 153)
"Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Đòn tay ngươi bị gãy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong"
(Kinh Pháp Cú 11- Phẩm Già, kệ 154)
Khi ngài chứng ngộ ngài nhìn ra được cái vô minh và cái tham ái này, cái kẻ làm nhà này thì ngài cảm thán và ngài không muốn đi thuyết pháp vì chúng sanh ưa ái dục, khoái ái dục, thích ái dục, ham ở trong ái dục mà bây giờ ta nói cái pháp ly dục, tịch tịnh thì ta nói mà họ không hiểu, họ không muốn tu thì thiệt là khổ nhọc cho ta, thiệt là mệt mỏi cho ta, thiệt là phiền tối cho ta.
"Rồi Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: 'Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới cảm nhận! Còn quần chúng này ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó thấy định lý này, tức là y duyên tánh duyên khởi pháp. Thật khó thấy định lý này, tức là tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được từ bỏ, ái tận, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, như vậy thật mệt mỏi cho Ta, như vậy thật bực phiền cho Ta'." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Thỉnh Cầu)
Chúng ta bây giờ con mắt mình nhìn một cái là dục, ái, tham sanh khởi liền mà mình không biết, mình không nhận diện mình không biết. Bây giờ con nói một vụ đơn giản là mình chưng cái bình hoa, trong khi mình chưng bình hoa đó dục, tham, ái vận hành như thế nào, ai lại nói một câu xấu thử coi. Như vậy thì cái tham, hay cái sân, hay cái bản ngã đó đâu phải đợi tới người ta nói mới có, mà nó đang ngủ ngầm trong này mà vì mình không có hướng tập trung tâm ý để nhiếp phục, chế ngự, diệt tận bên trong cho nên chạm tới thì nó bật ra liền, nó tung ra liền, nó bốc lên liền, nó phình lên liền, nó trương lên liền thì cái đó thô quá.
Bình thường mình đâu có tập trung tâm ý hướng tâm vào để nhiếp phục, để chế ngự, để đoạn tận, đoạn giảm các cái lậu hoặc cho nên khi chạm duyên xúc cảnh một cái là nó tung ra, nó bung, ra xì ra, phựt lên. Đó là cái trạng thái ngủ ngầm của thân kiến, của sân, của dục tham. Nấu cơm cũng vậy, người ta khen nấu ngon cái thì làm bỏ mạng cũng được, mà chê một cái rồi "ai làm gì làm đi, tôi không nấu nữa". Vậy là tu cái gì? Cái này rõ ràng là có một tự ngã đang làm chứ không phải là thánh đệ tử. Bữa nào con chê thử coi còn ai nấu cơm không? Phải tập nghe chê và tập nghe lời chỉ trích, tập nghe sự sát phạt, những cái đó là bài tập, là cơ hội để mình thi.
Mình cứ muốn được cái ngọt ngào, êm ái, vuốt ve đưa mình lên. Mình muốn cái đó là mình dục cái đó, mình ái cái đó, mình khoái cái đó rồi ngược lại cái đó thì mình đau khổ, mình sân hận. Vì thế trong đó rõ ràng phải có một cái tự ngã thì nó mới có dục, có tham, có ái, có sân, có hận, có hơn, có thua, có cao, có thấp, có bằng cho nên trạng thái ngủ ngầm này là khủng khiếp, là rung sợ, là lo sợ, là sợ hãi. Ngồi một mình, trầm tư một mình ở bên khóm trúc, ở dưới gốc cây, ở trên tảng đá, ngồi suy tư, cứ ưu tư, khắc khoải, cứ trăn trở, cứ lo lắng bây giờ làm sao, bây giờ làm cách nào, bây giờ nó còn mạnh như vậy, nó còn thô như vậy, nó còn nhiều như vậy.
Thật là đau xót cho ta!
Thật là bất an bất hạnh cho ta!
Thật là tai hại cho ta!
Ta còn ở trong một cái phạm trù hết sức là nguy hiểm, hết sức là bất an, trước sau gì ta cũng gặp nạn trong thân này, ta gặp nạn ở trong những cái lời nói, ta gặp nạn trong những cái ánh mắt, ta gặp nạn ở trong những cái cử chỉ, hành vi của người khác, ta gặp nạn ở trong cái lời vô lời ra, lời qua tiếng lại, ta gặp tai họa trong những cái tin tức vỉa hè, những cái lời nói vu vơ không đâu mà ta nghe cái rồi là ta điên cuồng lên, điên loạn lên, khùng điên lên, cuốn hút vô. Vậy thì ta tu cái gì? Ta được cái gì? Ngày qua tháng lại ta ở trong chùa ta đã được cái gì?
Cứ thao thức, cứ trăn trở, cứ ưu tư, cứ buồn dào dạt chiêm nghiệm. Dù cho cái món ngon cỡ nào đi nữa rồi cũng không có khoái, không có thích, ngủ không yên, thức giấc nửa đêm, thao thức, trăn trở, ưu tư phải làm sao, phải tìm đủ mọi cách. Chúng ta đã vận dụng tứ thần túc chưa? Phải muốn diệt cái bản ngã, nỗ lực diệt cái bản ngã, tập trung tâm ý diệt cái bản ngã và tìm đủ mọi cái phương pháp tác chiến để tiêu diệt cái bản ngã, thân kiến. Mình vận dụng tứ thần túc, tứ như ý túc để phá thân kiến, nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận cái bản ngã, ta phải làm sao đây trong khi ta nhìn thấy cái bóng của gương mặt mình ta lại có cái sắc ái, sắc tưởng ái trong đó, yêu thích trong đó. Ta phải làm sao đây khi ta nhìn thấy cái bàn tay của ta, cái cánh tay, cái bàn chân của ta, ta để còn cái ý là thích rồi hoan hỉ, ta còn thưởng thức cái sắc này, cái vị ngọt của sắc này, ta chưa thấy được cái sắc này nó là vô thường, nó là đau khổ, nó là ung nhọt, nó là mũi tên, nó là hố than hừng, nó là kẻ giết ta.
Ta không có nhận thức sâu sác được rằng cái thân xác này đang làm hại ta, ta đang gặp nạn ở trong cái thân này. Ngày đêm thao thức, trăn trở, nhắc nhớ bất cứ giờ nào, nơi nào, chỗ nào, phút nào, giây nào, thấy gì, nghe gì, ngửi gì, nếm gì, tiếp xúc cái gì, nhận thức cái gì, suy nghĩ cái gì thì đều đưa cái sánh trí vô ngã vô phá hết cái chỗ đồn trú, hang ổ, xào huyệt của thân kiến, của cái tôi, cái ta đó. Đánh đuổi những cái suy nghĩ về tôi, về ta, những cái cảm giác về tôi, về ta, hình bóng về tôi, về ta, nhận thức về tôi, về ta đều bị cái thánh trí, cái ngọn đèn thánh trí soi chiếu vô trong những cái ngóc ngách, những cái hang, những cái kẹt, những cái xó đều bị soi chiếu vô và đánh phá tới tấp không nương tay, không nhượng bộ, không thương tình. Chúng ta làm liên tục liên tục ngày đêm, năm tháng, nhiều năm, ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, mười lăm năm, mười tám năm, hai mươi năm, ba mươi năm mình đánh cho tới lúc mình nằm ở trên giường bệnh lấy những hơi lên cuối cùng.
Cái hơi cuối cũng chính là cái lúc tự ngã, cái thân kiến diệt tận hoàn toàn, một là nhập lưu, hai là bất lai, ba là bậc A-la-hán vô sanh. Được không? Tức là mình phải muốn "ta muốn diệt mi, ta không muốn sống chung với mi, mi là kẻ thù lớn nhất trong vòng luân hồi vô thỉ kiếp này chứ không phải mới một đời này", cái suy nghĩ về tự ngã, cái hình bóng ảo tưởng về tự ngã, cái cảm giác của một cái tôi, cái nhận thức của một cái ta là chúng ta nã đạn nó, truy sát nó, dùng hết tâm lực của mình, tập trung tâm ý vào để nhìn ngó nó, theo dõi nó, đánh phá nó, tìm đủ mọi cách.
Ở bên ngoài nhìn thấy mình êm ru vậy mà bên trong mình là dũng sĩ, mình là chiến sĩ thậm chí liệt sĩ cũng không sợ, được không? Liệt sĩ cũng không sợ luôn, có chết cũng không sợ luôn, chết đi rồi thì mãi mãi không bao giờ còn chết nữa, còn sống thì sẽ chết hoài hoài thì sống làm gì? Thà chết một lần đi vĩnh viễn không bao giờ chết nữa, tức là đạt được vô sanh, cứ đi ra, đi vô, đi tới đi lui, cứ ngồi, ăn, thức, ngủ, làm việc, cứ ưu tư hoài cái thứ này là độc ác, độc còn ở trong người mình, cái chất độc này chưa có giải hết. Đức Phật ví dụ có anh chàng bị trúng mũi tên độc, nó bắn trúng vô tim mà độc phát tác ở trong này mà không lo, lo ai bắn tôi, nam hay nữ, già hay trẻ, mập hay ốm, đen hay trắng, nhà ở đâu, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo, người đó tại sao bắn, bắn bằng lại thuốc độc gì, mũi tên gì.
Cứ tìm hết cái đó rồi thì chết không biết là mấy đời luôn. Cần gì phải đi tìm ai bắn, giờ mình nghe tiếng ai chửi, ai nói nặng gì đó mình không lo quay vô mình coi cái sân, cái bản ngã của mình mà cứ tìm ra cái người đó nói tôi câu đó, rồi suy nghĩ theo cái câu đó, tìm hiểu con người đó tại sao nói vậy. Có phải mình đang tìm hiểu giống như anh chàng bị bắn tên khi nãy không? Khôn quá ha, mình lo quay vô, mình đau buồn, mình xót thương, lòng bi mẫn của mình đây nè "ta tội nghiệp cho cái tâm này quá, tại sao ngươi được học thánh pháp tới giờ này ngươi nhớ bài kinh cái cưa hay không? Người ta chặt ngươi từng khúc ngươi cũng không được khởi cái tâm sân hận thì ngươi mới làm đúng theo lời Phật dạy mà sao người ta nói mới có mấy câu mà ngươi làm cái gì ở đây? Ngươi sân hận ở đây, ngươi phừng phựt đốt cháy ở đây".
Thành ra người có để tâm tu học thì ưu tư lắm, lúc nào cũng trầm tư mặc tưởng, dào dào ưu tư, ngồi trầm ngâm, lo buồn cho nên chư tổ mới ví dụ việc lớn chưa có sáng giống như đưa đám ma của mẹ. Mẹ mình chết nằm để quan tài đó, mình ngồi kế bên này thì mình có vui, có cười, có ăn, có chơi, có giỡn hớt, buông lung phóng dật được không? Buồn hoài, cứ thao thức buồn hoài, lo cái bản ngã này chưa diệt, cái thân kiến chưa tiêu, cái dục, cái ái còn hoạt động rất nhiều, cái sân hận đang còn thiêu đốt ở bên trong này.
Giờ ta phải làm sao? Ta phải làm sao đây? Ta phải vận dụng tất cả những cái khả năng của ta có thể được, dùng tâm từ, từ tâm giải thoát trị tâm sân hoài hoài, tưới lên hoài, tắm hoài, ngâm mình hoài ở trong từ vô lượng tâm, an trú cái tâm hiền, diệt những cái sự dao động, trạo cử, lăng xăng, phóng dật. Quán vô thường để trị cái tham vật chất, quán bất tịnh để trị cái tâm tham dục đối với thân xác, quán sự biến hoại, sự huỷ hoại, sự hoại diệt, sự tàn hoại, sự tiêu vong, sự diệt vong để tâm không còn lưu luyến, không còn ham thích đối với bất cứ vật gì ở trên đời. Như vậy làm hoài, làm hoài, làm hoài thì mới phá được cái ngủ ngầm ở trong chứ giờ ngồi êm ru thì làm sao?
Thật sự mình ngồi để nó lắng xuống là để mình nhìn thấy nó, để mình diệt chứ không phải là mình thích yên tịnh. Không phải, không phải. Mình ngồi yên là được cái gì? Mình ngồi để cho nó lắng xuống để mình nhìn rõ cái bộ mặt của cái kẻ sát nhân, mình tìm ra được nguyên nhân gì làm cho mình khổ, mình truy lùng, truy tìm và truy sát cái thân kiến bản ngã này, cái kẻ thù giấu mặt không tên mà nó đeo bám mình như âm hồn bất tán. Nó đi theo mình từ vô thỉ kiếp tới nay như là cô hồn, như là ma trơi mà mình không nhìn thấy nó, bây giờ mình có nhận diện được ngũ uẩn rồi mình mới thấy nó mà mình mới thấy cái thô phù ở ngoài thôi, còn muốn phá cái ngầm ý ở bên trong thì phải tác ý và phải quán.
Cho nên hình ảnh đứa con nít nằm ngửa ngây thơ như vậy mà bên trong nó Thế Tôn gọi là thật sự là nó sống tiềm tàng năm cái hạ phần kiết sử bên trong đó. Nó tích lũy, nó chất chứa từ bao nhiêu đời, ngàn vạn, tỷ kiếp, vô thỉ kiếp tới trong này thì mình có thể tưởng tượng một cái bản ngã còn lớn hơn cả cái bầu trời, lớn hơn cả cái địa cầu, cái tôi của mình hơn trái đất. Bậc đạo sư nói cái ta của mình, cái bản ngã của mình lớn hơn cả trời đất, khủng khiếp như vậy, rõ ràng khoa học chứng minh chúng ta nhìn thấy bây giờ người ta đòi chinh phục các cái địa cầu khác, các cái hành tinh khác rồi dành với nhau ngôi sao gì đó. Thật khủng khiếp mà phải nhìn thấy và phải rùng rợn, phải ê chề lắm, gớm ghê, chán chê, não nề, ngao ngán, ớn lạnh, nhàm chán, từ bỏ, từ bỏ. Chúng phải có một cái suy nghĩ như vậy, có nhận thức như vậy, có những cái cảm giác như vậy, sự ưu tư như vậy.
"Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời, Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời để Thế Tôn thuyết giảng năm hạ phần kiết sử. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì.
-- Vậy Ananda, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:
-- Ở đây, này Ananda, có kẻ vô văn phàm phu, không đến yết kiến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đến yết kiến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, sống với tâm bị triền phược bởi thân kiến, bị chi phối bởi thân kiến, và không như thật tuệ tri sự xuất ly thân kiến đã khởi lên. Thân kiến này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử." (Trung Bộ Kinh, 64. Đại Kinh Malunkyaputta)
Mình may mắn vô cùng luôn, mình là những cái kẻ vô văn Phàm phu mà được yết kiến bậc thánh, được học pháp của bậc thánh, yết kiến bậc chân nhân, được gặp bậc chân nhân, được học pháp bậc chân nhân chứ bây giờ không có bậc chân nhân thì sao đi tìm cũng như mình đã từng tì m bao nhiêu năm trời, may mắn mình gặp được bậc đạo sư là bậc chân nhân, là bậc chánh kiến. Còn nếu không mình đi tìm gặp người tà kiến thì chỉ cho mình cái gì? Là giả nhân chứ không phải chân nhân thì làm sao chỉ cho mình được cái chân pháp, cái chánh pháp? Cho nên mình gặp mình yết kiến được thì nó sẽ khác, bây giờ nói cái người chưa gặp, chưa Học, chưa hiểu, chưa tu cái chánh pháp để phá thân kiến, để dẹp bản ngã, để trừ vô minh thì vị ấy sống với tâm bị truyền phược bởi thân kiến.
Truyền là trói, phược là cột. Cái tâm bị trói cột bởi cái nhìn sai lầm về thân, chữ trói cột này là thiền quán. Bây giờ mình tưởng tượng hình ảnh một người bị buộc trói vô cái cây cột, nhúc nhích cục cựa chỉ vậy thôi chứ làm sao thoát ra được, buộc tay, buộc chân hết trơn rồi, nhúc nhích, rục rịch, la hét cái gì cũng ở ngay trong cái cây cột với cái sợi dây đó thôi. Đức Phật ví dụ cho chúng ta hình ảnh con chó bị buộc vô cây cột, nó có đi, nó đứng, nó có sủa, nó có làm gì, nó chạy vòng vòng cây cột đó thôi.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Cái cột ngũ uẩn đó, cái cột thân kiến đó, cái cột cái tôi, cái ta đó, dục cái ái đó, nó đi ra không được, đâu có đi ra được. Bây giờ mình có nhúc nhích, cục kịch, rục rịch, có la, có hét, có nói có cái gì đi nữa thì toàn là nhận thức, suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, tư tưởng đều ở trong cái nhìn sai lầm về thân, bị triền phược bởi thân kiến, bị chi phối bởi thân kiến và không có biết đúng sự thật về cái sự thoát ra khỏi thân kiến. Bị cột bởi sợi dây, bị trói bởi sợi dây, bị siết bởi sợi dây, bị buộc ở trong cái sợi dây và không có cái cách nào để thoát ra khỏi cái sợi dây của cây cột đó. Như vậy nếu một người không nhận diện ngũ uẩn, không quán chiếu cảm thọ, không nhiếp phục, chế ngự cái bản ngã, không có tác ý để đánh phá được cái sự chấp thủ ở trong năm uẩn thì người đó thấy cái gì, nghe cái gì, ngửi, nếm, tiếp xúc, suy nghĩ, nhận thức cái gì, cảm thọ cái gì đều ở trong một tự ngã chính là thân kiến. Chỗ này là hết sức là sâu sắc.
Hằng ngày mình đều sống trong vô minh, trong bản ngã à trừ khi nào mình nghe pháp và mình tác ý. Thí dụ mình ôm bình bát đi ăn nếu mình không quán pháp thì có phải "tôi đi khất thực" không? Bữa nay được cái món này có vừa ý hay không vừa ý. Đi làm việc thì có phải "tôi đi làm" không? Thấy chưa, rồi đi tu có phải không "tôi đang ngồi thiền" không? Như vậy là tâm bị truyền phược bởi thân kiến chính vì vậy mà chúng ta mới thực tập:
Dạ cái đống bọt nước này kính thưa chư tôn, chư hiền.
Cái nùi giẻ này kính thưa đại chúng.
Đó là chúng ta nhắc nhở, lúc đó là "cái bộ xương này ập đầu xuống xin lạy, cái kẻ ăn mài này xin đảnh lễ tất cả chư tôn đức", đó là cái tâm trong thời điểm đó an trú vô pháp để nó ra khỏi cái sự trói cột của cái kiến chấp về thân, của cái tôi. Và khi một vị sống với cái tâm bị trói cột bởi thân kiến, bị chi phối bởi thân kiến và không có biết đúng sự thật cái cách để thoát ra khỏi thân kiến thì thân kiến của vị ấy kiên cố, cứng chắc, lúc sáng con là tường đồng vách sắt "đụng vô cái là biết tay tôi". Chúng ta thấy khủng khiếp không? Không được nhiếp phục và trở thành một hạ phần kiết sự không được thâu lại, không đè nó xuống, không áp đảo nó, không đánh cho nó gục ngã xuống thì nó làm ông chủ, nó ra lệnh cho mình, nó sai khiến mình thì gọi là sai xử đó. Kiết là nó trói cột, nó vừa vừa trói mà nó vừa sai khiến, mình nghe lệnh nó răm rắp, nghe lệnh cái bản ngã răm rắp, nó nói một cái hoặc ho một cái thôi là mình chạy có cờ.
Cho nên chỉ cần khởi lên cái rồi không còn thầy trò, huynh đệ gì nữa hết, cha con, mẹ con, anh em không còn gì nữa hết. Khủng khiếp không? nó khởi lên cái tôi, cái ta đó, nó khởi lên đưa nhau ra tòa, chửi nhau, đánh nhau, thậm chí giết nhau. Bây giờ con hỏi ví dụ quý vị mẹ chia cho cái đất mặt tiền cho con trai, còn con gái thì chia cho ở trong hẻm thì cô này bực mình, cô tức giận nên đem xăng tới đốt nhà mẹ và cái xăng nó phựt, nó lan ra cháy cô rồi cháy mẹ cô luôn. Trước đó bản thân của cô đó, bản thân của mẹ cô đó rồi bản thân người trên gia đình có suy nghĩ trước rằng cái sự kiện đó xảy ra vậy không? Chính bản thân của người làm việc đó có nghĩ rằng họ sẽ làm vậy không?
Như vậy thì ở đâu nó biểu hiện ra vậy? Đây là cái câu Đức Phật giải mã trên đây, thật sự là cái bản ngã sống tiềm tàng ở trong con người đó, cái sân hận là nó ngấm ngầm, nó ngủ ngầm, nó tiềm tàng, nó tùy miên ở trong con người đó. Cái dục tham, tham cái nhà mặt tiền, không muốn cái nhà ở trong hẻm, không muốn đất ở trong hẻm thì cái dục, cái tham đó, cái sân, cái tôi, cái ta đó vẫn sống tiềm tàng, ngủ ngầm ở trong tự thân của con người đó nhưng mà người đó đâu có biết. Con xin thưa với tất cả chúng ta ngồi đây không biết ngày mai, chiều nay, tuần sau, tháng sau, năm sau, càng không biết cái gì nó xảy ra, mình không biết nó vận hành theo nghiệp, theo nhân quả, theo vô minh, nghiệp và nhân quả. Và cái sức mà nó bung ra, cái quả dị thục của nghiệp là một trong tứ bất khả tư nghì, là không tưởng tượng được, không ngờ được, nói tiếng Việt là không ngờ được, không tưởng tượng được, không biết trước được cái gì hết.
"Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?
Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.
Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.
Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII). Không Thể Nghĩ Ðược)
Tại vì nó nằm trong này, nó tiềm tàng trong này, trong này nó có chất cháy, chất nổ, nó có những cái gì ở trong này mình không biết mà đợi tới lúc nó xúc duyên rồi nó bung ra, nó nổ ra. Nếu biết trước hết thì đâu có tai nạn máy bay, đâu có tai nạn hàng không, đâu có tai nạn giao thông, nếu biết hết trơn là đâu có tai nạn lao động, nếu biết hết trơn là đâu có ung thư, nếu biết hết trơn thì đời này không có cái gì có tai nạn vì biết trước nên chặn hết trơn rồi. Vì tất cả nó đến là bất ngờ, là bất trắc, là bất thường, là bất định, bất thình lên thì như vậy mình mới tu. Mọi người có thấy quý sự tu không?
Bây giờ mình nhiếp phục, mình chế ngự nó, mình diệt nó, từ từ nó an trú tâm hiền, khiêm cung, khiêm hạ mà lỡ tới lúc ở trong thân tâm còn tồn động mà nó vừa tính bung ra thì bị cái nội lực này ém xuống, nhiếp phục, chế ngự, dụng công phu. Nhiếp phục, chế ngự là vậy, hạ hỏa xuống, không cho bốc lên, hạ xuống, còn không thì nó phừng lên, nó bốc lên, nó cháy lên, nó nổ lên. Đó là công phu của sự tu và giống như bình thường mình thấy như không thấy tu, không thấy lợi ích gì hết, tu sao ngày nào cũng vậy hết nhưng mà hữu sự nó sẽ cứu mình, có tai họa nó bảo vệ mình đó.
"Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?
Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...
... Lưỡi... Thân...
Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Nếu biết phòng hộ, biết chế ngự, biết bảo vệ sáu cái xúc xứ này tức là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này thì các ông sẽ được lợi lạc, hạnh phúc, an lạc dài lâu. Nếu lúc nào mình cũng trú tâm hiền, tâm từ mà rủi như có ai gặp cái món nợ cũ, bà chủ nợ cũ là những oan gia trái chủ trong trăm kiếp tới là quánh lộn nhau, chém nhau, giết với nhau, còn giờ tu tâm hiền cũng bực bội, sân lên nhưng mà nó bị cái sự nhiếp phục, chế ngự đè xuống, đủ sức để mình nhiếp phục, chế ngự nó. Như vậy là mình nhờ cái định, nhờ cái tuệ, nhờ cái giới giải nguy cho mình, cứu khổ mình, đưa mình ra khỏi cái tai nạn, hiểm họa mà mình không biết.
Mình không biết rằng mỗi giây, mỗi phút chúng ta có mặt ở trong thiền đường này rất quý, không có một cái gì ở trên thế gian này có thể sánh nổi. Vì chính là nó đi làm để nhiếp phục, chế ngự những cái thứ mà nó tồn động vô thỉ kiếp cho đến nay ở trong đó. Thí dụ đúng ra chiều nay mình sẽ có một trận cãi lộn sôi nổi, đúng ra một tuần sau mình sẽ bị cái tai nạn nhân quả là mình bị giết chết vì nói qua nói lại sân hận nhưng mà nhờ mình tu tâm hiền, nhờ mình tu tâm từ, nhờ mình biết sám mối oan gia trái chủ, nhờ mình an trú vô một cái sự an tịnh, lắng dịu nên lúc nhân quả tới, mấy người chủ nợ oan gia tới thì tự nhiên mình hiểu được cái cái khổ, mình có cái tâm thương và mình cũng hiểu được cái nhân quả "tới rồi nè, thôi tới rồi đây dạ con xin trả, con chấp nhận trả cho ngài, ngài có chửi, có mắng con gì cũng được hết, không sao hết, con trả".
Như vậy thì chuyện lớn biến thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không, chuyện dữ biến thành lành. Còn nếu như mình không có sự nhiếp phục, chế ngự tu học cái này, không có cái sự đánh gục cái bản ngã để nhiếp phục cái thân kiến, để hạ thấp cái tôi xuống thì tới lúc đó ăn thua chung đủ, tám lạng nửa cân, bánh sáp đi thì bánh quy lại thì lúc đó bùng nổ, mà bùng nổ không phải chỉ là cái món nợ cũ đâu mà nó tiền lời tiền lãi trăm khiếp lận, nó nhân lên. Tới lúc này là nó cộng sổ hết, nó tính một lần một thôi, hốt hụi chót, nó đánh một trận này rồi xong hết tu luôn. Thành ra nghiệp như hình với bóng theo bén gót ta, nó theo sát mình bén gót chờ thời để nó ra tay, cái câu này nghe hơi rợn người rồi, nghe hơi rung.
Tất cả những nghiệp quả của mình từ vô thỉ kiếp đến nay đều nằm đó, không phải là nó bỏ qua, không phải là xong vì xong là mình đi rồi, xong là bất lai không còn trở lại. Nó chưa xong thì nó nằm đó chờ đủ duyên chín mùi, quả dị thục của nghiệp, vị là nó biến đổi và thục là nó chín mùi giống như trái cây vậy đó. Từ cái trái màu xanh biến ra hườm hườm, từ hườm hườm rồi nó vàng, từ từ mới chín đỏ ra thì cái đó gọi là quả dị thục của nghiệp. Khi nó chín thì không biết cái quả này là lựu đạn hay là sầu riêng, hay quả bom bông nguyên tử. Trời đất ơi! Như vậy người ngu, người vô minh thì họ không biết gì hết, tới đầu thì tính tới đó, "ngày mai chẳng biết ra sao nữa mà có ra sao cũng chẳng sao" là theo cái kiểu đó đó.
Còn người trí Đức Phật dạy là lo nhìn về bản chất của cái sự thật mà cái tầm nhìn là tầm nhìn thế kỷ, tầm nhìn ngàn năm, tầm nhìn tới vô thỉ kiếp để hóa giải hết tất cả những dây mơ rễ má, bao nhiêu cái nợ nần là giải quyết một lần sạch hết. Chịu không? Lần một giải quyết hết, chậm nhất là bảy đời, nhanh nhất một kiếp người này thôi giải quyết xong hết cho nên chúng ta mới thấy bậc đạo sư trước khi đi là trả lần một, dồn hết để trả. Người ta không biết thì nghĩ sao mà tu mà bệnh vậy, trả lần một là xong hết, bất lai rồi đâu còn trở lại đời này nữa. Giờ mình muốn trở lại nữa không? Chắc là không muốn không?
Không muốn thì phải nỗ lực tu, dồn sức vô đánh mấy cái ngấm ngầm lựu đạn ở trong đó, bom nguyên tử ở trong đó, chất độc ở trong đó, tẩy rửa ngày đêm cho nên mình nhìn ra được mấy cái này sợ lắm, thiệt sự sợ lắm. Mình cũng không muốn bất cứ hơn thua với bất cứ một cái gì ở trên cuộc đời này nữa, mình chỉ lo hơn thua với cái thứ ác độc ở trong này, mình phải dành phần chiến thắng nó, chỉ chiến thắng với mình thôi, không nhìn ra ngoài, càng nhìn ra là mình càng khổ, Bậc đạo sư dạy là việc diệt dục, diệt bản ngã, diệt tâm hướng ngoại là tối quan trọng của người tu. Diệt dục, diệt bản ngã, diệt tâm hướng ngoại thành công là nhập lưu cho nên mình không thấy được cái sự sống tiềm tàng ở trong đó, nó ngủ ngầm ở bên trong là uổng công tu lắm.
Đừng có thấy ngồi êm ru đó mà tưởng đâu ngon, đụng vô đi rồi biết mặt, thấy vậy mà không phải vậy. Chừng nào đụng vô mà vẫn êm ru thì lúc đó tu chắc cũng kha khá cho nên mình càng biết rồi mình càng sợ vì điếc đâu có sợ súng, mấy người điếc thì lựu đạn quăng tùm lum, súng nổ ầm ầm vậy mà cứ sấn tới vì có biết gì đâu sợ. Mù đâu có thấy vực thẳm mà cái người thấy đường la lên, kêu lên thì không tin "tôi có thấy gì đâu, tôi có thấy vực thẳm đâu, tôi nghe mùi thơm mà" rồi đi tới là rơi xuống. Nhiều khi mình thấy cũng không dám nói nữa, nói có chừng à, không phải dễ, thật sự là khó lắm cho đến lúc cái tâm mình nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, dễ bảo, dễ nghe, dễ học pháp thánh hiền thì mới có thể hướng dẫn được một cách sâu sắc, mới có thể trút hết được những cái pháp cho mình.
"Vị ấy sống với tâm bị nghi hoặc triền phược, bị nghi hoặc chi phối, và không như thật tuệ tri sự xuất ly nghi hoặc đã khởi lên. Nghi hoặc này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị giới cấm thủ triền phược, bị giới cấm thủ chi phối và không như thật tuệ tri sự xuất ly giới cấm thủ đã khởi lên. Giới cấm thủ này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị dục tham triền phược, bị dục tham chi phối và không như thật biết sự xuất ly dục tham đã khởi lên, dục tham này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị sân triền phược, bị sân chi phối và không như thật tuệ tri, sự xuất ly sân đã khởi lên. Sân này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử.
Và này Ananda, có vị Ða văn Thánh đệ tử, đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đến yết kiến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, sống với tâm không bị thân kiến triền phược, không bị thân kiến chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly dục tham đã khởi lên. Thân kiến này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị này sống với tâm không bị nghi hoặc triền phược, không bị nghi hoặc chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly nghi hoặc đã khởi lên. Nghi hoặc này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị ấy sống với tâm không bị giới cấm thủ triền phược, không bị giới cấm thủ chi phối và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly giới cấm thủ đã khởi lên, giới cấm thủ của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị này sống với tâm không bị dục tham triền phược, không bị dục tham chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly dục tham đã khởi lên. Dục tham này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị này sống với tâm không bị sân triền phược, không bị sân chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly sân đã khởi lên. Sân này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ." (Trung Bộ Kinh, 64. Đại Kinh Malunkyaputta)
Ở đây nói cái trạng thái tùy miên ngủ ngầm của cái kiến chấp về thân của cái bản ngã được đoạn trừ là nói ở bên trong. Cái này diệt cỏ tận gốc đó, con nói cái thí dụ hết sức đơn giản mình đi vô tu năm năm, mười năm, mười lăm năm, hai mươi năm, hai mươi lăm năm, ba mươi năm thì nào giờ người ta quen ta kêu mình bằng thầy, bằng sư phụ bằng thượng tọa, bằng đại sư này kia nọ nghe quen rồi. Bữa nay có ông lại kêu "thằng này, mày đang làm gì vậy mày?", thầy Pháp Tâm bất ngờ có người nào lại kêu bằng "thằng" thì lúc đó ngũ uẩn sao? Lúc đó có bình thường không? Mình đặt cái trường hợp thử vậy đó, khó chịu liền mà đó là mới có kêu cái danh từ thôi chứ đừng nói chi họ chửi nặng thêm nữa, rồi họ đánh. Chúng ta nhớ ngài Phú-lâu-na không ạ?
"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Punna đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh. Sau một thời gian, Tôn giả Punna mệnh chung." (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Mình tới không biết mình được quả nữa? Quả a la hán ngoài chợ lớn. Các ngài nói là các ngài thực chứng, cái tâm ngài nói thật chứ không có mồm mép như mình đâu. Mình nói hay lắm, nhiều khi mình nói còn hay hơn mấy ngài nữa nhưng mà đụng tới chuyện thì khác trời vực, còn các ngài nói là các ngài nói thật, trực hạnh mà đệ tử Thế Tôn mà, chân chánh hạnh mà, nói sao làm vậy, làm sao nói vậy. Còn mình thì mồm mép, mình lẻo mép lắm, mình nói hay lắm, ngụy biệ,n quanh co, xảo biện rồi hoa từ, mỹ ngữ dữ lắm. Đó là gì? Các ngài phá từ ở bên trong cái thân kiến hết rồi, cái thân kiến ngủ ngầm ở trong nó hết rồi thì mới nói ra được vậy.
Chút xíu con có một cái pháp, giảng xong rồi, chia sẻ xong rồi con có cái pháp giúp cho quý vị phá thân kiến, được không? Chết cũng không sợ, chết cũng không ngán, xem thường cái sinh mạng này, xả quý cầu bần, xả thân cầu đạo, xả bản ngã để đi vào cái trí vô ngã. Cho nên cái vị gọi là Đa Văn Thánh đệ tử đoạn tận tùy miên là cái ngủ ngầm ở trong tâm về bản ngã, về thân kiến, về nghi ngờ, về giới cấm thủ, về dục tham, về sân hận thì vị này không có bị chi phối, vị này như thật tuệ tri cái sự xuất ly, thoát ra khỏi năm cái hạ phần kiết sử này, đoạn trừ được cái tùy miên, cái ngủ ngầm, cái ngấm ngầm ở bên trong. Đó là chính lời Đức Phật định nghĩa Đa văn Thánh đệ tử của ngài là phải vậy đó, cái này là tiêu chuẩn của Đa văn Thánh đệ tử tức là Phật tử đó. Mình chưa được thì nghe cái này là mình thấy xấu hổ, hổ thẹn.
"Này Ananda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu không thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, nhưng năm hạ phần kiết sử được biết rõ, hay được thấy rõ, hay được đoạn trừ, sự tình như vậy không xảy ra. Ví như, này Ananda, đối với một cây lớn đứng thẳng có lõi cây, nếu người ấy không đẽo vỏ trong, không đẽo giác cây, nhưng vẫn có thể đẽo được lõi cây, sự tình này không xảy ra.
Cũng vậy, này Ananda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu không thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, nhưng năm hạ phần kiết sử sẽ được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn trừ, sự tình như vậy không xảy ra. Và này Ananda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, thời năm hạ phần kiết sử sẽ được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn trừ, sự tình như vậy xảy ra.
Ví như, này Ananda, đối với một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, nếu người ấy sau khi đẽo vỏ trong, sau khi đẽo giác cây, thời sẽ đẽo được lõi cây, sự tình này xảy ra. Cũng vậy, này Ananda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu thực hành con đường ấy, đạo lộ ấy, thời năm hạ phần kiết sử sẽ được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn diệt, sự tình như vậy xảy ra." (Trung Bộ Kinh, 64. Đại Kinh Malunkyaputta)
Đức Phật nhấn mạnh, lập tới lập lui nhiều lần. Ý đức Phật nói như thế nào? Tất cả mọi việc làm đều phải đúng cái cách thức, cái phương pháp, cái thứ tự, cái tuần tự, cái lộ trình của nó. Phải đi đúng cái con đường đó, thực hành đúng cái phương pháp đó, làm đúng cái cách đó thì mới có cái kết quả như vậy, không thể nào không làm đúng cách, không có đi theo cái tuần tự, cái thứ tự đó mà có được cái kết quả như vậy. Tu chánh đạo được đạt chánh quả là đây nè.
Mình nấu cơm thì phải đổ nước vô vo gạo rồi mình mới bắt lên, bây giờ mình không đổ nước vô mình bắt lên nó ra cơm không quý vị? Đó là không theo tuần tự, không theo lộ trình, không theo đúng cách đó. Bây giờ con đường từ Sài Gòn lên đây thì phải đi qua Dầu Giây rồi đi qua Tân Phú madagui, đi qua Bảo Lộc rồi mới đi lên tới trên này nhưng giờ mình không đi con đường này, mình đi ngược lại thì có tới đây không? Nếu không theo lộ trình thì là sự tình như vậy không thể xảy ra tức là không thể đến Linh Quy Pháp Ấn, phải đi đúng cái lộ trình của nó. Cũng vậy, cái pháp thực hành để phá thân kiến Đức Phật đã dạy hồi sáng chúng ta có nhắc, tứ niệm xứ, quán thân như thế nào, quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi, quán bộ xương như thế nào, quán cát bụi như thế nào, quán bọt như thế nào.
Nếu mình không quán những cái pháp quán đó mà mình đòi phá thân kiến, mình đòi nhập lưu thì nhập lưu được không? Mình phải làm đúng cái quy trình đó, làm đúng cái phương pháp, đúng cái cách thức đó thì có cái kết quả đó. Bây giờ mình không làm cái đó thì làm sao có kết quả cũng như Đức Phật ví dụ mình muốn lấy cái lõi cây mà mình không có đẽo cái vỏ trong, không có đẽo giác cây làm sao mình được cái lõi cây? Mình làm đúng quy trình thì mình sẽ được.
"Này Ananda, ví như sông Hằng, nước đầy tràn, con quạ có thể uống được. Rồi một người ốm yếu đi đến và nghĩ như sau: 'Sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của ta, ta sẽ đến bờ bên kia an toàn'. Nhưng người ấy không thể sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của người ấy, đến được bờ bên kia an toàn. Cũng vậy, này Ananda, bất cứ ai, khi được giảng pháp để đoạn trừ thân kiến, nếu tâm của vị ấy không thích thú, không hoan hỉ, không có định tĩnh, không có giải thoát, thời vị ấy cần phải được xem là giống người ốm yếu kia.
Này Ananda, ví như sông Hằng, nước lớn, đầy tràn, con quạ có thể uống được. Rồi một người lực sĩ đi đến và nghĩ như sau: 'Sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của ta, ta sẽ đến bờ bên kia an toàn'. Người ấy có thể sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng với tay của người ấy, đến được bờ bên kia an toàn. Cũng vậy, này Ananda, bất cứ ai, khi được giảng pháp để được đoạn trừ thân kiến, nếu tâm của vị ấy thích thú, hoan hỉ, có định tĩnh, có giải thoát, thời vị ấy được xem là giống như người lực sĩ kia" (Trung Bộ Kinh, 64. Đại Kinh Malunkyaputta)
Bây giờ mình là người ốm yếu hay là lực sĩ ạ? Chắc không bao nhiêu phần trăm là lực sĩ? Hay là một chút thì làm xì ke, chút thì làm lực sĩ, hay làm lực sĩ luôn? Khi mình nói về bất tịnh, ba mươi hai thể trược, chín đoạn tử thi. nói về tứ đại. nói về phân, nước tiểu, nói về bộ xương, nói về cát bụi thì người ta nghe không thích là không có hoan hỉ thì người đó là kẻ ốm yếu, bệnh hoạn ở trong pháp. Vì người sao? Vì người này cái tâm nặng về cái thân kiến, về cái tôi, ta, về cái chấp thủ cho nên đối trước sự thật, đối trước thánh trí nhưng người này không hoan hỉ, không chấp nhận. Cái này nhiều không ạ? Nhiều lắm, đó là lý do tại sao con đường lên núi chúng ta rất khó đi, con để cho khó đi vậy đó.
Những người thật sự cầu học mới có mặt ở đây, người thật sự tha thiết cầu giải thoát mới đến đây. Đây không phải học nói cho vui, không phải học để nghiên cứu kiến thức Phật học mà học để thực hành, để thấy khổ, để diệt khổ, để thoát ra khỏi khổ đau. Học về sự thật, nói sự thật, chiêm nghiệm sự thật, sống với sự thật để thể nhập vào sự thật của đời sống này, sự thật của thân tâm này, sự thật của thế gian này, sự thật của thế giới này, sự thật của dòng luân hồi sanh tử đầy nước mắt và máu này cần phải được thấy, cần phải được biết, cần phải được thấu, cần phải được liễu tri, tuệ tri, thắng tri.
Cho nên một người ốm yếu muốn lội qua, cắt ngang dòng sông Hằng để tới bờ bên kia thì không thể được, phải là một lực sĩ, một người mạnh mẽ. Cho nên Đức Thế Tôn nói rằng khi được nghe giảng về đoạn trừ thân kiến, phá chấp ngã, đập vỡ cái tôi mà nếu tâm vị ấy không có thích thú, không hoan hỉ, không có định tĩnh, không có giải thoát thì cái định tĩnh rất quan trọng. Định tĩnh là tập trung tâm ý, là lắng cái tâm, lặng cái tâm, tập trung cái tâm để nghe, người này không có nghe một cách hời hợt, không phải nghe một cách qua loa, nghe cho có nghe mà không có để tâm, xuống hỏi không biết gì hết trơn, nói là lên cũng có lên học mà hỏi bữa nay học kinh gì, nói về cái pháp gì "dạ quên hết trơn thì như vậy tâm không định tĩnh, không tập trung tâm ý lắng tai nghe pháp, không tiếp được, không thọ trì được cái pháp thì nghe cũng như không.
Tâm không định tĩnh thì vẫn xem là ốm yếu dù cho có mặt chứ không phải nói là không có mặt, vắng mặt đâu, dù cho có mặt nhưng vẫn là người ốm yếu, không có khả năng lội qua được bờ bên kia. Vì sao? Vì tâm không định tĩnh, không có giải thoát. Tại sao nghe pháp mà tâm không có giải thoát là sao? Là cái tâm mình lúc đó không có cởi mở, chỗ này không phải dễ hiểu, tâm mình không có cởi mở để mình tiếp nhận cái mới, cái thánh trí huệ của Phật. Chúng ta thấy có những cái vị học đó là "tôi học vậy à, giảng cái gì giảng tôi cũng học vậy thôi à, tôi lên tôi mượn chỗ thôi, mượn cái cảnh đẹp, không gian dễ chịu tôi hành cái pháp của tôi thôi à".
Thì đó là tâm không giải thoát đó, cái tâm chấp thủ vào trong những cái pháp học, pháp hành đã từng được học mà không có cởi mở, không có mở lòng để đón nhận những cái mới, những cái chân thật, những cái chân trí, những cái thánh trí tuệ, thánh sự thật thì như vậy vẫn là người ốm yếu không lội qua bờ bên kia được chứ không phải có mặt là được ngon đâu, chưa chắc. Ngồi nghe pháp mà ngủ gục, ngồi cũng nghe mà nghe cho có nghe, xuống hỏi rồi nói chung chung cũng vậy thôi, bữa nào cũng vậy là ốm yếu, không có khả năng lội qua bờ bên kia. Phải trả bài thường xuyên mới được, khóa tu này con kêu nộp bài mà không có được mấy người, đếm trên đầu ngón tay, cả trăm mấy chục người dự khóa tu mà kêu nộp bài thì chỉ được có mấy bài thôi.
Càng ngày sự tu học càng kém, giờ này mà có mấy người nộp đếm trên đầu ngón tay, một trăm mấy chục người gần hai trăm người dự khóa tu tức là cái lời nói của con không có giá trị gì hết, chắc nói cũng như không khí vậy thôi "tôi muốn làm tôi làm, không làm thôi, ông nói cứ nói đi". Vi tế lắm, không chỉ là không có thấy mà chỉ nhiều quá thì cũng khổ, không có nộp bài gì hết, kêu mấy lần luôn, tâm xem thường, tâm không có cung kính pháp, không có tôn trọng vị hướng dẫn thì làm sao tiến bộ? Mãi mãi là kẻ ốm yếu, gầy mòn.
Giờ mình coi lúc mình nghe pháp thì tâm mình có thích thú không? Sáng giờ mình có thích thú không? Có hoan hỉ không? Có định tĩnh không? Đừng vội vỗ tay lấy lòng, cái tâm mình có cởi mở ra để đón nhận không?
"Nhật nguyệt tuy minh nan chiếu phúc bồn chi hạ
Đao kiếm tuy khoái, bất trảm vô tội chi nhân".
Ánh sáng của mặt trời, mặt trăng phổ quát hết nhưng mà cái chậu úp xuống thì không chiếu vô được. Cái ánh sáng mặt trời thì quang minh như vậy mà mình đóng cửa lại hết, mình kéo màn lại thì sao ánh sáng chiếu vô được? Đó gọi là cái tâm không có giải thoát, đó là không có cởi mở. Cái tâm phải mở ra để đón nhận cái ánh sáng của mặt trời chiếu vô, cái chậu mình mở lên để mình hứng đón lấy cái ánh nắng để cho nó khô ráo những cái nước phiền não ẩm ướt thì đó gọi là tâm có giải thoát, cái tâm cởi mở để đón nhận, chấp nhận học pháp.
Cái chỗ này mới chỗ đặc biệt, sau này tứ thiền bát định của Đức Phật nói ra để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử thì mỗi một tầng thiền đều có khả năng đoạn tận các lậu hoặc và chứng thánh quả hết. Tại vì cái này được đứng ở trên cái sự tu tập phá trừ thân kiến cho nên tám tầng thiền này, tứ thiền bát định này đều đi vào thánh quả được hết. Khi nãy chúng ta nói là tứ thiền bát định của ngoại đạo, của phàm phu ngoại học là vì họ không thành tựu chánh tri kiến về thánh trí ngũ uẩn cho nên họ đắc được tứ thiền bát định nhưng vẫn là cái định của p hàm phu sanh lên các cái cảnh giới cao của sắc giới và vô sắc giới, cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc giới chư thiên nhưng không đi vào thánh quả được, vẫn là phàm phu thiên thôi. Còn ở đây Đức Phật dạy:
"Và này Ananda, thế nào là con đường, thế nào là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử? Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo do viễn ly các sanh y (Upadhiviveka), do đoạn trừ các bất thiện pháp, do làm cho an tịnh thân thô ác hành một cách toàn diện, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm khỏi các pháp ấy, vị ấy tập trung tâm vào bất tử giới (Amatadhatu) và nghĩ rằng: 'Ðây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả sanh y, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn'. Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thời do sự tham pháp, hỷ pháp của mình, thời do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui đời này nữa. Này Ananda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử. (Trung Bộ Kinh, 64. Đại Kinh Malunkyaputta)
Cái chỗ bất tử này, cái chỗ an tịnh hết ngũ uẩn này, cái chỗ xả ly hết sắc; thọ; tưởng; hành; thức này thật là tịch tịnh, thật là vắng lặng, đây thật là nhiệm màu, vi diệu tức là sự yên dừng tất cả sự vận hành của ngũ uẩn. Sự dừng lại hết tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, đây thật là cái chỗ vắng lặng, thanh tịnh, nhiệm màu, vi diệu, sự xả ly tất cả những chỗ dựa của tái sanh, từ bỏ hết tất cả sanh y, cái chỗ dựa vào để cho nó tái sanh, bỏ hết sự xả ly, tất cả sanh y, ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn.
Sâu sắc lắm, tối thượng thánh tuệ nằm chỗ này, tối thượng tịch tịnh nằm ở đây, thượng nhân pháp là ở đây, là cảnh giới của bậc thánh trí. Đây là tu sơ thiền mà chứng quả A-la-hán, còn những bài kinh chúng ta sẽ học ở trong cái chuyên đề của dự lưu thánh quả, giữ năm giới vẫn có thể chứng thánh quả. Lúc trước con nghe bậc đạo sư nói con hơi ngờ vực một chút "ủa sao là đơn giản dữ vậy?" bây giờ đọc ra thì rõ ràng là như vậy. Người cư sĩ chỉ cần giữ đầy đủ năm giới vẫn có khả năng nhập lưu thánh quả cho tới các cái thánh quả cao hơn luôn, miễn sao phá được thân kiến. Thành ra càng học mình càng thấy thích thú, hoan hỉ, vui sướng, hạnh phúc, phấn khởi trong sự tu học.
Chúng ta đi thiền hành, trong khi đi thiền hành chúng ta quán niệm những cái pháp nãy giờ được học, chiêm nghiệm lại. Chúng ta thả lỏng cái tay mình xuống, thả lỏng đi một cách an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng thư thế và suy niệm những pháp nãy giờ được học.
Mời các chư hiền chia sẻ cảm thọ chúng ta qua bài kinh Đức Phật đã hướng dẫn cho chúng ta lộ trình đoạn tận năm hạ phần kiết sử.
Phật tử 1: Bộ xương con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ân đức sư phụ, chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền thiện và trí tuệ. Con thật là hạnh phúc hạnh phúc vô cùng suốt từ sáng tới giờ không chỉ có trong cái thời nghe pháp, con cảm thấy mình không chỉ là lực sĩ trong thời nghe pháp mà từ sáng tới giờ rất là nhiều hạnh phúc. Đức Thế Tôn ngài đã lang thang bao nhiêu kiếp sống nhưng mà ngài tìm và ngài không gặp phước duyên gì. Chúng con được giờ đây được gặp giáo pháp và được học như vậy, con thấy là thật là quý báu và ngài lang thang còn chúng con thì được đi từng bước đi chánh niệm nhưng con phải nhớ rằng con đang đi trong lò luyện vàng và đi trong lò luyện vàng thì con phải đi như thế nào.
Phải đi như là một con bò cái, từng cái bước chân giơ lên là đang bước đi tới gần cái lò mổ, từng cái bước chân giơ lên là cái mạng sống đang bị ngắn dần, dù là đang được hạnh phúc ở trong lò luyện vàng nhưng mà phải thật sự là trân quý từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây. Bởi vì trí tuệ của chúng con rất là yếu ớt, nếu mà yếu ớt như một kẻ già yếu thì không thể nào vượt qua cái dòng sông sanh tử luân hồi đầy khổ đau, đầy nghiệt ngã. Phải cố gắng nuôi dưỡng trong mình để trở thành một lực sĩ và phải giữ cái điều đó cho nó lâu dài và con thật sự là chấn động khi sư phụ nhắc tới nhân quả nghiệp báo ngày hôm nay thật sự là chấn động.
Con nghĩ tới ngài Ngộ Đạt Quốc Sư, ngài tu hành giới đức trang nghiêm, thanh tịnh như vậy mà còn bị như vậy huống hồ gì chúng con nghiệp có thể quật bất cứ bất cứ lúc nào. Cho nên được ngồi học những cái thời khóa tu học thì thật là quý báu, con phải nhắc mình là luôn trân quý cái điều này và sáng nay con muốn giống như thấy rất là vui. Con muốn nói lên như là Euréka… Euréka… Euréka, con có thể trả lời cho mình được cái câu hỏi tại sao người thân có thể muốn dùng roi nhau để quất nhau. Một chị họ của con la lên "đưa roi ra đây tao quất cho một trận", người em trai của cô 12:00 trưa rất là nắng tự nhiên leo lên xe Honda ngồi dựng ở trong nhà mà cái miệng rồ lên giống như là đang rồ ga vậy đó và mặc ba bốn cái áo lên, giọng nói thì eo éo eo éo thay đổi hoàn toàn.
Cô chị nghĩ là người em này chắc là bị ma nhập, sau một hồi thì người em mới nói lên "con đã về đây mấy ngày rồi mà không ai nhận ra con hết, mọi người đã quên ngày giỗ của con" và cháu bé này chết khi cháu mới có sáu tháng và mọi người trong gia đình rất là thương tiếc cháu. Cháu rất là quý người cậu này và cháu cũng nói là cháu quý người cậu này vậy mà khi cái sắc thân thay đổi thì không có nhận ra nhau nữa mà còn đòi roi dâu để quất. Điều này khiến cho con thấm thía lời dạy của Đức Thế Tôn cái ngũ uẩn là ung nhọt, là kẻ thù, là mũi tên.
Hồi trước đây con cứ ngạc nhiên, con hỏi hoài "tại sao mà một đứa bé chết khi sáu tháng tuổi, nó không hề biết nói sao mà khi nó nhập về nó lại biết nói là nó rất là quý cậu và nó nói tên của cậu", một đứa bé sáu tháng tuổi không hề biết nói mà mọi người chơi đùa với nó như vậy thì con nghĩ là làm sao mà nó biết, nó nhớ được hết mà nó khi nhập về lại nói ra rõ ràng mọi thứ rành mạch như vậy. Con lại liên hệ đến lời dạy là cái sự tùy miên, cái sự đi theo miên man của thân kiến, vô minh đi theo miên man thì chúng ta phải miên mật trong sự tu hành.
Khi đến nhà bếp sáng nay thì con nhớ lời sư phụ dặn là khi nhớ lửa thì phải nhớ lửa lò thiêu, sáng nay con không thấy có một tí lửa nào hết vì các cô đi xuống đây tu tập, con chỉ thấy một cái nắm tro tàn vậy là con nghĩ "mọi người đi nhận tro của người thân, còn con tự đi nhận tro cho của tự thân". Con thấy thật là hạnh phúc khi mình áp dụng pháp, khi mình nhớ nghĩ tới cái chết, nhớ nghĩ tới cái từng cái bước chân của con bò, thấy là cái chết đến gần thì mình thấy mình sống thật là ý nghĩa, sống thật là sâu sắc. Con thật là biết ơn Đức Thế Tôn, biết ơn sư phụ cùng toàn thể đại chúng.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Giới tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên pháp nhãn thù thắng của bậc đạo sư, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý Tăng Ni cùng các sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí, con xin nhận diện ngũ uẩn của con. Thưa sư phụ và tất cả các bậc Tăng Ni cùng sư cô cùng tất cả các hiền trí sáng nay con được nghe sư phụ giảng bài pháp về thân kiến đến bây giờ con vẫn thấy là tâm con rất là hoan hỉ và con thấy rất là hạnh phúc khi con được nghe bài pháp này. Tưởng có con tưởng đến sư phụ giảng có những cháu bé nhỏ vẫn còn nằm ở trên giường thì làm sao có tự ngã, có kiến chấp nhưng con nghĩ ở đây là có bởi vì sao, con nhìn thấy ví dụ như những đứa nhỏ mới sinh ra khi được bú mẹ thì hai tay nó vẫn bu, nó vẫn giữ chặt cái bầu vú của mẹ nó. Cái này thì con thấy thể hiện tham ngon ngọt, nó kiến chấp.
Cái thứ hai nữa là ví dụ như nó muốn mẹ nó bế, hay một muốn ăn, hay muốn ngủ nó cũng khóc giẫy lên để nó đòi hỏi những cái gì nó cần thiết. Khi nó được thì nó lại kiến chấp vào đó, con thấy sự kiến chấp này là nó thu thập từ vô thỉ kiếp, hàng ngàn kiếp của chúng ta đã luân hồi và chúng ta đã tham đắm vào, nhập vào thức của chúng ta cho nên là khi chúng ta mất đi, chúng ta đầu thay lại thì chúng ta vẫn giữ nguyên những cái kiến chấp ấy. Khi còn nhỏ tuổi thì nó phát triển ít nhưng càng trưởng thành bao nhiêu thì con thấy nó lại lớn mạnh cái kiến chấp đó cho nên dẫn ta đến một sự rất là đau khổ vì kiến chấp đó, vì thế chúng ta quên hết đi những cái xấu hổ, tàm quý cho nên là dễ đến là chúng ta đả thương nhau bằng miệng, đả thương nhau bằng gậy, đả thương nhau bằng kiếm, đả thương nhau bằng dao vô cùng khổ.
Ở đây con thấy Đức Thế Tôn đã để lại cho chúng ta rất nhiều các pháp để chúng ta thực tập và tu hành qua lời thuyết giảng của sư phụ rất là cặn kẽ. Ở đây con thấy cái sự nhìn nhận là rất là kém cỏi của con thì con cũng cứ mạnh bạo nói lên cho tất cả đạo tràng. Nếu không đúng thì xin sư phụ, quý Tăng Ni và sư cô và tất cả các vị hiền trí hãy dạy bảo cho con thêm thì con thấy ở đây nhất thiết là chúng ta phải tu tâm hiền. Bởi vì con nghĩ tâm hiền này dễ thông cảm lắm, nó dễ thương mọi người và nó cũng thương mình, nhưng khi có một cái sự tranh chấp gì đó thì cái tâm hiền này dễ nhường nhịn, dễ thông cảm lắm, dễ thương lắm cho nên cái tâm hiền này nhất định con phải tu bằng được cái tâm hiền này thì nó cũng giải quyết được rất là nhiều, cái kiến chấp thân, đấy là điều thứ nhất.
Điều thứ hai là Đức Phật đã để lại cho chúng ta nhất thiết phải giữ giới, nếu chúng ta không giữ được giới thì chúng ta cũng không thể nhập được pháp để tu. Bởi vì khi chúng ta thấy sợ bị phạm giới cho nên là chúng ta sẽ luôn luôn chánh niệm để khống chế cái sự trạo hối thì nó sẽ không có giữ được giới. Cái thứ ba là con thấy ở đây nhất thiết chúng ta phải nhận diện biết thế nào là ngũ uẩn và nhận diện ngũ uẩn thật sâu sắc. Bao giờ ngũ uẩn đó cũng nhắc nhở bên mình là có ngũ uẩn, chấp ngã vào ngũ uẩn này thì chúng ta sẽ phải đi tái sanh. Chúng ta phải biết nhận diện ngũ uẩn, cái nữa là chúng ta phải quán tiêu diệt năm triền cái thực sự là phải hết, thật sự phải hết được tham, sân, si vì năm pháp này là năm pháp ngăn che những cái pháp của chúng ta cho nên là phải diệt tận năm triền cái.
Chúng ta phải biết quán sáu nội ngoại xứ để trừ diệt hết tất cả những cái kiến chấp trong và ngoài thân của chúng ta. Cái nữa là chúng ta phải quán thọ; tưởng; hành hằng giờ, hằng ngày bởi vì con thấy cái thọ; tưởng; hành này nếu chúng ta không phát hiện ra nó, không nhận diện trong nội tâm thì nó vận hành thông suốt cả ngày lẫn đêm, không lúc nào ngần ngừng nghỉ và nó dẫn chúng ta đi tái sanh. Con thấy ở đây chúng ta phải luôn luôn giữ lại oai nghi và hành động vì oai nghi, hành động đấy giúp chúng ta lúc nào chúng ta cũng chánh niệm, bởi vì chúng ta sợ không giữ được cho nên chúng ta phải chánh niệm thì ngay cái chánh niệm này nó cũng giúp chúng ta rất là nhiều.
Chúng ta ra ngoài đối duyên xúc cảnh thì chúng ta chỉ nhìn thấy lỗi của mình chứ đừng nhìn thấy lỗi của người, luôn luôn xoay gương để quán chiếu lại thân tâm của mình. Con thấy là nhất thiết chúng ta phải quán tứ niệm xứ, quán ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn của tử thi hoặc là một thân vứt đỏ ra ngoài nghĩa địa thì cái này tất cả chúng ta ai cũng biết quán cả, mà còn quán thâm sâu nữa là khác nhưng con thì mới tập thôi, con cũng chỉ biết là nghĩ sao con nói vậy. Vậy thì tất cả nếu phá được thân kiến này thì con nghĩ là không phải đơn giản, rất là khó mà phải xuyên suốt tất cả những pháp đấy, tám pháp đấy và còn tùy pháp để tu hành thì mới có thể diệt được cái chấp kiến chấp này.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Giới tử 1: Mô Phật, con chỉ biết như vậy, con xin cảm ơn tất cả sư phụ, quý Tăng Ni cùng tất cả các sư cô, các bậc hiền trí đã lắng nghe con và con xin sám hối nếu con nói có điều gì không đúng và sai xin sư phụ, xin các quý Tăng Ni và tất cả các vị hiền trí hãy dạy bảo cho con thêm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ cùng chư tôn hiền đức và các vị hiền trí trong đạo tràng ở nơi đây ạ. Trong lúc ngồi ở đây thì con xin nhận diện ngũ uẩn khi con nhớ lại lời giảng của sư phụ vừa rồi. Sư phụ nói về con đường để chứng đắc thì con chỉ nhớ được cái ý là mình phá được thân kiến là mình sẽ chứng dự lưu thì cảm xúc của con, cái cảm thọ của con lúc đó là và ngay cả lúc ngồi thiền ở đây thì con cảm thấy rất là ưu tư, rất là lo lắng, rất là buồn phiền và cảm thấy rất xấu hổ. Vì nghe như sư phụ nói thì nghe thật là dễ dàng nhưng cái thân kiến của con thì con tự thấy là nó lớn lao, nó to lớn, con chấp thủ vào cái thân xác này, con chấp thủ vào những cái cảm thọ của mình, cái ngũ uẩn của mình quá lớn lao và đặc biệt là cái ngã của con quá lớn đi, nó to lớn không thể tưởng tượng nổi.
Con đường để mình phá cái thân kiến này nó dai dẳng và nó đen tối như thế nào, con cảm thấy rất là lo lắng. Cái tưởng của con nhớ đến những buổi học của khóa tu này, con nhớ đến những cái pháp hành mà sư phụ đã dạy, con nhớ, con tự nhắc mình để phá được cái bản ngã này thì phải dùng rất là nhiều pháp. Con tự nhớ lời sư phụ nhắc hôm trước đó là cái vấn đề to lớn nhất của mình là cái gì thì mình phải mình phải dùng hết sức lực để công phá nó. Con cũng tự thấy bản ngã của con hiện tại là cái vấn đề lớn nhất và con phải dùng bao nhiêu cái pháp để có thể công phá nó đây. Bây giờ con nhớ cái tưởng của con còn nhớ đến cái lỗi của con từ hôm phát biểu trình pháp trong buổi tổng kết khóa con biết là bây giờ con xin sám hối thì nó không có đúng với cái câu hỏi của sư phụ lắm nhưng mà mong sư phụ thương tưởng cho con sám hối. Đây coi như đây là một cái pháp hành của con đang thực hành để con có thể phần nào hạ thấp cái ngã của mình.
Hôm tổng kết khóa thì con có mắc những lỗi sau đó là con đã trình phát trong một cái bản ngã rất là tự cao, rất là cao, kiêu căng, trong khi mọi người, trong khi sư phụ, các chư tôn, các chư vị hiền trí lo lắng cho khóa học, lo lắng chuẩn bị cho mọi người những bài giảng, những bữa ăn, chỗ ngủ nghỉ thì con với một cái người rất là mới mẻ trong dòng pháp này, chưa biết nhiều, chưa hiểu nhiều nhưng mà rất là lại kiêu căng là ta đây đã học được cái này, học được cái kia. Con cảm thấy rất là xấu hổ và khi sư phụ đánh chuông tại vì con trả lời dài dòng thì con còn cố gắng thúc giục bản thân nói cho xong cái phần mình đã chuẩn bị.
Con thực sự rất là xấu hổ, thực sự rất là nhục nhã về cái bản ngã đó và về cái sự chống đối của con. Con xin sư phụ và tất cả các chư tôn, các vị hiền trí cho con sám hối lỗi lầm này, chứng minh cho cái lòng thành của con để con có thể tiến tu tại vì con rất là sợ hãi, từ cái hôm đó đến nay là con luôn sống trong sợ hãi, luôn sống trong cái sự tàm quý của mình là tại sao mình có thể ngu ngốc và ngu si đến như vậy, tại sao mình có thể phát biểu một cách dại khờ đến như vậy. Con còn sợ hãi là nếu bây giờ mình không có nghiêm túc thực hành những cái pháp mà sư phụ đã giảng thì cái ngã của con bao giờ con mới có thể nhiếp phục được, cho nên là những cái hôm rồi là con rất là cố gắng tìm kiếm một cái duyên để con có thể sám hối trước sư phụ và đại chúng thì mong sư phụ chư tôn và các vị hiền trí ở đây thương tưởng, từ bi chỉ bảo cho con để con có thể tiếp tục học tập, học pháp và hành pháp để con đường tu tập của con rộng mở hơn.
Con xin các vị hãy bao dung và hãy thương tưởng cho con. Con xin đảnh lễ chư vị, đảnh lễ sư phụ ba lạy để thể hiện lòng thành kính của con ạ. Dạ đây cũng là một trong những cái bước đầu tiên mà con cố gắng thực sự nhiếp phục.
Sư Phụ: Rồi cô đứng lên cô lễ đi.
Phật tử 2: Dạ.
Sư Phụ: Lại cái bản ngã của mình đó.
Nguyện cho con luôn luôn sống với tâm hiền kính.
Nguyện cho con chôn vùi cái bản ngã này ở tại nơi này.
Nguyện cho con luôn sống trong lòng cung kính, biết ơn, khiêm cung, khiêm hạ, từ ái đối với tất cả.
Lành thay! Lành thay!
Giới tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch chư tôn đức Tăng Ni và tất cả các bậc hiền trí con xin trình pháp cái thọ của con trong suốt ngày hôm nay thì con thấy rất là hoan hỉ, rất là xúc động vì con biết là con đã đi đúng đường, gặp được đúng sư phụ trong khi con bao nhiêu năm tìm kiếm lang thang cái môi trường tu và tìm sư phụ thì nay con đã gặp được rồi mà con vui nữa. Sư phụ đã chỉ cho con biết rõ cái đạo lộ, cái đường đi phải hành như thế nào, phải làm những cái gì trước, cái gì sau, phải làm thế nào, con đã gặp được bậc chân nhân và gặp được đúng thánh pháp nhưng mà con lại còn có cái lo lắng của con là luôn luôn khởi lên "mày già rồi, mày sắp chết rồi". Cứ mỗi một ngày qua đi là đến gần cái chết một ngày cho nên bây giờ không thể phá được thân kiến, con nghĩ là cái khó nhất là phá thân kiến mà nếu phá được thân kiến thì bốn cái còn lại thì cũng dễ thôi vì cái dục và giới cấm thủ.
Sư Phụ: Đừng có nghĩ là khó. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, mình nghĩ là khó thì mình sẽ không làm được.
Giới tử 2: Tại vì con rất vô minh ạ.
Sư Phụ: Nữa, cãi nữa. Đức Phật đã làm được, các bậc hiền thánh làm được, bậc đạo sư làm được thì mình làm được. Mình loại bỏ cái ý nghĩ khó ra.
Giới tử 2: Dạ theo con thì con cứ muốn làm sao để tìm những cái gì để có lòng tin bất động đối với Phật – Pháp - Tăng và nhận diện ngũ uẩn là nó vừa cái sức của con thì có thể con có thể cố gắng thực hiện được cho chắc ăn, còn nếu cái đạo lộ này con biết là đường đi như vậy nhưng mà đối với con là thời gian còn ngắn quá và cái sức của con biết ngắn.
Sư Phụ: Sao cô biết ngắn?
Giới tử 2: Dạ con già rồi ạ.
Sư Phụ: Chết chưa đến, tập thực hành chỉ ngay bây giờ thôi.
Giới tử 2: Dạ.
Sư Phụ: Nhiều khi con chết trước cô đó.
Giới tử 2: Con nhiều vô minh lắm, vô minh của con sâu dày lắm ạ. Con ngu muội, con vô minh sâu dày, con biết là con vô minh có khi ngồi thiền quán thì con ngủ gật, học bài thì học nhanh thuộc nhưng con lại quên ngay nên con nhiều tập khí xấu xa. Con biết là đối với mọi người ở đây thì rất là dễ nhưng với con thì quá khó nên con cũng sẽ cố gắng từng ngày từng giờ một, lúc nào con cũng mang cái là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ra con dọa con nhưng mà được lúc bấy giờ xong lại quên ngay. Có khi nó lại vẫn còn tham ăn, tham ngủ rồi tham nhiều thứ lắm, vẫn chưa rũ bỏ được ạ.
Con không biết làm như thế nào thì con chỉ biết rất là biết ơn là khi tuổi xế chiều gặp được sư phụ, gặp được môi trường tu, con cứ nói đây là cái trường tuyển Phật. Con thấy ai cũng chăm học cho nên một cái sức học lan tỏa rồi là mọi người, nhất là cái khóa tu vừa rồi các bà già cũng rất là hỏi, truy bài nhau, cái sức học rất là tuyệt vời cho nên môi trường này rất là thích hợp để cho chúng con thực hành những cái pháp này. Nhưng chỉ có điều là có làm được hay không thôi ạ, con sẽ cố gắng nghe lời sư phụ từ nay là con cứ cố gắng, cái quán của con thì còn kém lắm và cái nhận diện ngũ uẩn của con cũng vẫn còn kém. Dạ con xin cảm ơn ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Kém thì từ từ nó sẽ tốt, mình cứ kiên trì từ từ nó được, cô thử tập nghĩ ngược lại cái suy nghĩ của mình đi.
Giới tử Trí Vũ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni Sư cùng tất cả chư vị hiền trí. Thật sự là cái cảm thọ của con suốt từ sáng tới giờ là một cảm thọ thật là hoan hỉ và rất là thỏa mãn đối với những lời dạy và những lời giảng của sư phụ qua bài kinh sáng nay trong kinh Trung Bộ. Cũng như chiều nay khi con chiêm nghiệm lại thì con cũng có nghe về bài thân kiến của bậc đạo sư, đó là bài kinh Tiểu Phương Quảng mà bậc đạo sư đã giảng dạy và kết hợp với bài kinh sáng nay của sư phụ giảng dạy thì con một lần nữa hiểu một cách sâu sắc hơn về thân kiến, đặc biệt là con đường đi đến đoạn tận thân kiến.
Trước đây thì con chưa có tu tập, chưa có sự hiểu biết về thân kiến thì chúng con sống trong vô minh, sống trong si ám, sống trong sự đảo ngược về cái nhìn, cái thấy về thân này. Con cứ cho rằng cái thân này là xinh đẹp, là thường còn và con thường chấp thủ vào cái thân này, khi ai động đến thân này thì con lập tức có những cái phản kháng, có những cái tức tối khi ai nói về cái thân này mà không như ý của con. Khi sư phụ giảng về con đường đưa đến đoạn tận thân kiến thì con rất là hoan hỉ, rất là vui vì giờ đây con đã thấy đúng như sự thật, thấy đúng về thân kiến đó là ung nhọt, đó là sự rỉ chảy của chín lỗ, đó là sự thấy sai lầm về thân và trong kinh Đức Phật có ví dụ về một đứa bé khi nằm ở đó thì sao nó lại có tham, có sân, có si ở trong đó.
Con cũng tự hỏi rằng tại sao một đứa bé nhỏ như vậy chưa có sự nhận thức, khi nó còn nhỏ như vậy mình động tới nó hay mình dành giật đồ chơi với nó thì nó lại khóc lên. Khi nó lớn lên đối duyên xúc cảnh tập khí sâu dày như chúng con thì chúng con đang nuôi dưỡng tham, sân, si càng ngày càng một lớn lên thì con nghĩ rằng cái tham, cái sân, cái si đã ngấm ngầm ở bên trong từ vô thỉ kiếp cho tới nay, những thọ; tưởng; hành thức vẫn nằm ở đó. Khi chúng con chưa đoạn trừ được thân kiến thì nó vẫn nằm ở đó, vẫn ngấm ngầm hoạt động ở trong đó và chỉ cần đối duyên xúc cảnh hay là chạm tới thôi thì ngay lập tức nó sẽ phản kháng, nó sẽ bung ra.
Con mới hiểu được rằng con đường đi đến đoạn tận thân kiến đó là chúng ta cần phải học và hành theo trong kinh tứ niệm xứ đó là quán ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi, quán xát chết và đặc biệt hơn là nhìn nhận ngũ uẩn, nhìn sâu vào những cảm thọ ngấm ngầm bên trong là những cái bản ngã. Con thấy cái bản ngã này thật là khủng khiếp, khi chúng ta đã chứng tới A-la-hán thì mới hết cái bản ngã bên trong thì con thấy rằng cái bản ngã này thật là vi tế, nhỏ nhiệm. Nếu chúng ta không thường xuyên quán chiếu, không thường xuyên tác ý, không thường xuyên nhìn nhận vào cảm thọ thì chúng ta sẽ không thấy được cái bản ngã này. Một lần nữa con rất là biết ơn trên sư phụ, biết ơn trên Đức Thế Tôn, biết ơn trên bậc đạo sư đã khai mở, đã chỉ đường, đã cho con thấy một đạo lộ, một con đường rõ ràng và khi chúng con đã xác quyết tu tập trên con đường này thì chúng con như là những người dũng sĩ.
Khi con nhìn lên tất cả đại chúng ở đây thì con thấy mọi người như là những người lực sĩ, dũng sĩ đang đi công phá vô minh, đang đi diệt bản ngã.
Sư Phụ: Ngồi đây là dũng sĩ không đó, chiến sĩ không đó.
Giới tử Trí Vũ: Đang đi đánh phá thân kiến và khi chúng con đã phá được thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ thì chúng con xác quyết có thể thành tựu được trí tuệ đạt tới cánh đầu tiên, đó là chánh tri kiến để mở ra cánh cửa bất tử và đó là những lời chiêm nghiệm của con, những dòng cảm thọ, những suy nghĩ của con. Con xin biết ơn trên sư phụ, quý thầy, quý Ni Sư cùng tất cả các bậc hiền trí, trong khi con trình pháp có gì sai thì con xin sám hối và mong sư phụ, quý thầy, quý Ni Sư cùng tất cả các bậc hiền trí chỉ dạy thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Thầy có muốn chia sẻ không?
Sư thầy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, cung kính bái bạch trên bậc đạo sư tôn kính, kính bạch trên chư tôn đức Tăng Ni và toàn thể chư vị hiền trí. Con cảm thấy mình thật là may mắn vì tiếp nhận được giáo pháp thánh trí của Đức Phật và con đang tran trở là tiếp nhận được thánh trí ngũ uẩn nhưng sự nhận diện chưa được thuần thục, rõ ràng. Con đang trăn trở là danh tánh của cái tên giặc mà nó đã chiến thắng mình trong vô lượng kiếp, nó dẫn mình vào trong luân hồi sanh tử khổ vô lượng kiếp, đó là thân kiến và bản ngã.
Con được trên thầy dẫn trong kinh, trích trong kinh và giảng giải ra mà thấy được cái danh cái tánh nhưng mà cái tướng trạng nhìn trực tiếp thì sao khó quá. Nó còn trù tượng quá, giống như đánh giặc mà nhìn không rõ ràng thì đánh thắng là một điều vô cùng khó khăn mà giặc này rất là mạnh, nó đã chiến thắng mình liên tục, mình chưa thắng lại nó trận nào. Con kính bạch trên thầy có thể chỉ dạy thêm về cách nhận diện cái bản ngã và thân kiến cho nó rõ ràng hơn và con đường tu tập là con được nghe tứ niệm xứ, quán về tứ đại, ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi thì cái này con cũng còn rất là mới mẻ và cũng chưa thực tập nhưng sau đó con sẽ từ từ tìm hiểu.
Và thật đáng sợ khi nghe bài kinh sáng giờ, qua hình ảnh đứa bé đang ngủ thì con cảm nhận rằng con cũng chính là đứa bé đó và cái tiềm ẩn sâu dày như tường đồng vách sắc, đó là năm cái hạ phần kiết sử: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Cái quan trọng là bản ngã bên trong và lúc sớm thầy có nhấn mạnh là phá được cái bản ngã, cái tham dục và cái sự hướng ngoại. Con thấy mấp mé được cái danh tánh của những cái nguyên nhân làm cho mình luân hồi sinh tử nhiều đời nhiều kiếp nhưng nhìn nhận về bản ngã, thân kiến thì còn quá khó.
Đó là có những cái trăn trở của con và con cũng xin thành kính tri ân trên bậc đạo sư tôn kính những ngày qua đã chỉ dạy tận tình cho con cũng như toàn thể đạo tràng và chư tôn đức thầy Thiện Huệ cũng như thầy Pháp Tâm, thầy Pháp Lực và cái hạnh tu của đạo tràng cũng như những việc chia sẻ của những vị phát biểu toàn là những bài học thực tế, toàn là những bài học để cho con học từng cái đi, cái đứng và suốt thời gian qua những quý cô, quý chú công phu, công quả ở nhà bếp đã tạo thuận duyên để cho con an ổn tu học trong những ngày qua. Con xin thành kính tri ân trên thầy và toàn thể, trong những ngày qua nếu như con có điều gì sơ suất thì xin cũng hoan hỉ cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Dạ thưa thầy mới vừa học thực tập pháp này, thời gian cũng còn ngắn, từ từ mình sẽ hiểu thêm nhưng căn bản quan trọng nhất là nhận diện ngũ uẩn, thực hành ba pháp, nhìn thấy được tham, sân, si, biết cách nhiếp phục, chế ngự, tu tập tâm hiền. Cái căn bản đó trước rồi lần lần, từ từ nhận diện học thêm chứ cũng không có vội, muốn để hiểu rõ, kỹ về bản ngã đó, hành tướng, sự hoạt động, guồng máy vận hành thì con mời thầy nghe những bài giảng giải sám hối diệt ngã. Trong đó bậc đạo sư có chỉ rất là rõ và con cũng có nhiều cái ví dụ ở trong đời sống thường nhật, chúng ta cứ đi dần dần từng bước chậm mà chắc, vững, rồi lần lần cũng sẽ đến đích.
Chúng ta chở chân và đứng lên trải tâm từ, trời mưa mà mình được ngồi tu có hạnh phúc không? Bây giờ không tu là đang làm gì ở dưới? Giờ này nếu không ngồi đây tu ở dưới làm gì? Học bài được là tốt.
Tâm hiền này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm hiền này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.
CON ĐƯỜNG ĐOẠN TẬN NĂM HẠ PHẦN KIẾT SỬ 2
ĐẠI KINH MALUNKYAPUTTA, TRUNG BỘ 64
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm bài kinh sáng nay con đường đoạn tận năm hạ phần kiết sử. Hình ảnh đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa nhưng năm hạ phần kiết sử thật sự đang sống tiềm tàng ở trong nó, thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân. Nó vẫn luôn luôn ngủ ngầm, nó luôn ẩn mình, nó đang sống tiềm tàng, tiềm ẩn, tùy miên, ngủ ngầm dầu cho đó là một cái đứa trẻ thơ. Hình ảnh này mới giải mã ra được cái dòng luân hồi sanh tử vô tận này, mới giải mã ra được:
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Cái sự nắm giữ một cái tâm hôn mê nắm chặt vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là khủng khiếp, là khủng khiếp, là không thể nào trình bày một cách rõ ràng, đầy đủ được cái tâm chấp thủ nắm chặt, nắm chắc, nắm cứng, nắm giữ một cách hết sức là cứng, là chắc, là chặt, là siết, là buộc, là ràng, là hệ, là lụy vào ở trong cái thân kiến này, cái tôi, cái ta, cái bản ngã, cái kiến chấp về thân này. Sáng nay khi con xuống thầy Huệ có đến thăm thầy Pháp An, thầy trình bày thêm một cái ví dụ cũng rất là sáng, chứng tỏ là thầy Pháp An hiểu rất là tốt. Thầy nói những cái tảng băng ngầm ở Bắc Cực trải qua hàng ngàn, hàng vạn năm thậm chí hàng triệu năm nhưng mà khi nó tan chảy ra thì những cái virus các nhà khoa học nói là nó có khả năng ra gây ra những cái dịch bệnh. Những cái virus, vi khuẩn đó đã tồn tại, nó đã nằm yên ở đó hàng ngàn, hàng vạn năm, thậm chí là hàng triệu, nhiều triệu năm thì đó là cái trạng thái ngủ ngầm huống hồ chi một cái tâm thức từ vô thỉ này là khủng khiếp lắm.
Khi mà nói ra như vậy nếu người không có học thì đâu có tin, người ta đâu thể tưởng tượng được tự nhiên ở trong băng cả vạn năm trước rồi bây giờ tan chảy ra rồi những cái những cái virus, vi khuẩn, những cái siêu vi có thể làm cho dịch bệnh cả toàn cầu. Đó là trạng thái ngủ ngầm của vi khuẩn, virus, siêu vi, còn cực kỳ vi tế hơn nữa, siêu vi của siêu vi là cái tâm chấp thủ, ngu si, vô minh và khát ái ở trong năm thủ uẩn này. Cho nên làm sao mà một con người phàm phu mù lòa, mắt mù, tai mù, miệng mù, mũi mù, thân mù, tâm mù làm sao nhìn thấy được? Làm sao mà thấy, mà biết được, mà thấu, mà suốt được, mà nhìn ra được? Cả một cái dòng luân hồi sống chết, chết sống, sanh ra rồi chết, chết rồi sanh ra, sanh ra rồi chết, cứ sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh, sống sống chết chết, chết chết sống sống, lăn qua lộn lại, quay vòng như vậy.
Cứ quay hoài một cái vòng tròn như vậy, kiến bò miệng chén như vậy, giống như một cái vòng quay cái bánh xe luân hồi, bánh xe lục đạo luân hồi quay vòng vòng địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la, người, trời. Cứ quay vòng vòng trong này qua như vậy thì nó tích tụ vô trong này là bao nhiêu những cái thọ, bao nhiêu những cái tưởng, bao nhiêu những cái hành, bao nhiêu những cái thức, mà những cái sắc; thọ; tưởng; hành; thức đó đều là ở trong hôn mê, trong cái chấp thủ, trong một cái tự ngã thì chúng ta có thể tưởng tượng nổi hai cái chữ tùy miên này khủng khiếp tới cỡ nào không mà chúng ta nói là Tiếng Việt là ngủ ngầm.
Mình đừng có nói đâu xa, bây giờ mình mới có mười mấy, hai mươi tuổi, ba mươi tuổi, bốn mươi, năm mươi tuổi thôi thì mình ngồi thiền lại thì trong tâm bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu suy nghĩ, bao nhiêu những cái hình bóng, những cái cảm giác mà mình đã từng trải qua rồi bao nhiêu những nhận thức. Mình ngồi là có khi ngồi thiền không được, bung chân chạy ra, khủng khiếp vậy đó, đó là cái trạng thái ngủ ngầm ở bên trong của các lậu hoặc, nhiều khi rồi mình ở trên núi vì mình tách biệt hết những cái duyên xúc, thậm chí vô trong thất một mình luôn nhưng nó vẫn quậy mình không? Dục có quậy mình không? Ái có quậy mình không? Tham nó có quậy mình không? Những hình ảnh ám ảnh về dục như dục tưởng, dục tư, dục tầm, dục tứ và có nhiều người không chịu nổi phải phá thất đi ra, hoặc ở trong đó nhưng mà ở dưới một cái trạng thái là qua ngày đoạn tháng, thoải mái ăn ngủ tự do không có thời khóa gì hết, muốn ngủ là ngủ, muốn thức là thức
Thành ra không phải đơn giản, ngày xưa thời Đức Phật còn tại thế những cái vị độc cư là những vị thành tựu chánh tri kiến và những vị đã nhìn thấy cái đạo lộ thì người ta ở người ta tu người ta mới càng ngày càng tiến, không có lùi còn mình chưa chánh kiến mà mình đi ở một mình là vô minh nó dẫn mình đi. Mình sẽ sống ở trong hôn mê, ở trong dục, ở trong ái, ở trong buông lung phóng dật, muốn làm gì thì làm, chính như vậy phải cần đại chúng, còn những người mà con không nói tới thì thôi, con thấy không nói được là con để cho tự do, muốn làm gì thì làm. Thành ra cái tuệ giác của bậc thánh thâm sâu vô lượng nhiều khi mình mới học được một chút, mình hiểu một chút, mình sám hối bản ngã được chút thì tưởng được cái bản ngã của mình nó cũng hạ xuống nhiều rồi, thật ra chưa có gì hết trơn.
Giống như cái cây cổ thụ ngàn năm mà mình lấy cây cuốc lại quẹt quẹt mấy cọng cỏ đó, còn chưa chạm tới cái rễ nhỏ chứ đừng nói chi rễ cái mà mình đã tưởng rằng mình hay ho rồi, mình giỏi giang rồi cho nên bậc đạo sư nói rằng cái dục nó dữ dằn nhưng mà không có khó để mà nhiếp phục. Tuy nhiên cái bản ngã đó ngủ ngầm mà nó cực kỳ thâm độc, ngài dùng cái từ là nó thâm độc, nó rất là ác độc cho nên chư thiên ly dục nhiều lắm, các tầng trời sắc giới, vô sắc giới đâu có còn dục nữa nhưng mà bản ngã người ta không thấy, không thấy bản ngã, không phá được thân kiến, không nhìn ra được tâm chấp thủ vào trong ngũ uẩn. Cho nên dầu cho đạt tới phía sau này tứ thiền bất định, đạt cho đến tứ thiền, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi tưởng xứ là tới định tối cao của vô sắc giới nhưng mà vẫn trầm luân.
Đương nhiên các vị đó phải ly dục, ly tham, ly ác bất thiện pháp rồi mới chứng được các cái tầng cao nhất là cái định của vô sắc giới nhưng mà người ta không phá được cái bản ngã, không diệt được cái thân kiến. Chính vì vậy mà Đức Thế Tôn dẫn liệt họ là ngoại học phàm phu, dù cho đạt được tứ thiền bát định, chứng được tám tầng thiền luôn nhưng không thấy ngũ uẩn, không diệt thân kiến thì vẫn là phàm phu thiên. Thành ra bây giờ mình học mới có chút, mình nhận diện được chút là xong rồi thôi, vậy là uổng cái công mình được nhận diện ngũ uẩn, uổng cái công bậc đạo sư soạn ra cái sám hối diệt ngã. Cho nên cái bản ngã này phải tới A-la-hán mới hết cái vi tế, khủng khiếp vậy đó, còn cái dục tới sơ thiền là được rồi, là ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú sơ thiền.
Bây giờ cái dục mà chúng ta còn chưa diệt nổi nữa chứ đừng nói chi tới cái ngã. Dục thì còn dục thô tế nữa cho nên cái công trình chúng ta còn nhiều lắm, dài lắm, xa lắm, không phải đơn giản như mình nghĩ đâu. Mình coi cái ưa thích đâu ai dạy ai đâu, cái dục ái nam nữ có ai dạy ai đâu, cái sân có ai dạy ai không, bản ngã đâu có ai dạy ai tự động ở trong nó biết, câu sanh phiền não là sanh ra rồi nó đi chung. Cho nên Đức Thế Tôn mới cảm thán vô thỉ là luân hồi này, không thể nêu rõ cái khởi điểm đầu tiên của chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. Khi ngài nói cái bài kệ thành đạo:
"Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng không gặp
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh"
(Kinh Pháp Cú 11, Phẩm Già, kệ 153)
"Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Đòn tay ngươi bị gãy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong"
(Kinh Pháp Cú 11- Phẩm Già, kệ 154)
Khi ngài chứng ngộ ngài nhìn ra được cái vô minh và cái tham ái này, cái kẻ làm nhà này thì ngài cảm thán và ngài không muốn đi thuyết pháp vì chúng sanh ưa ái dục, khoái ái dục, thích ái dục, ham ở trong ái dục mà bây giờ ta nói cái pháp ly dục, tịch tịnh thì ta nói mà họ không hiểu, họ không muốn tu thì thiệt là khổ nhọc cho ta, thiệt là mệt mỏi cho ta, thiệt là phiền tối cho ta.
"Rồi Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: 'Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới cảm nhận! Còn quần chúng này ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó thấy định lý này, tức là y duyên tánh duyên khởi pháp. Thật khó thấy định lý này, tức là tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được từ bỏ, ái tận, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, như vậy thật mệt mỏi cho Ta, như vậy thật bực phiền cho Ta'." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Thỉnh Cầu)
Chúng ta bây giờ con mắt mình nhìn một cái là dục, ái, tham sanh khởi liền mà mình không biết, mình không nhận diện mình không biết. Bây giờ con nói một vụ đơn giản là mình chưng cái bình hoa, trong khi mình chưng bình hoa đó dục, tham, ái vận hành như thế nào, ai lại nói một câu xấu thử coi. Như vậy thì cái tham, hay cái sân, hay cái bản ngã đó đâu phải đợi tới người ta nói mới có, mà nó đang ngủ ngầm trong này mà vì mình không có hướng tập trung tâm ý để nhiếp phục, chế ngự, diệt tận bên trong cho nên chạm tới thì nó bật ra liền, nó tung ra liền, nó bốc lên liền, nó phình lên liền, nó trương lên liền thì cái đó thô quá.
Bình thường mình đâu có tập trung tâm ý hướng tâm vào để nhiếp phục, để chế ngự, để đoạn tận, đoạn giảm các cái lậu hoặc cho nên khi chạm duyên xúc cảnh một cái là nó tung ra, nó bung, ra xì ra, phựt lên. Đó là cái trạng thái ngủ ngầm của thân kiến, của sân, của dục tham. Nấu cơm cũng vậy, người ta khen nấu ngon cái thì làm bỏ mạng cũng được, mà chê một cái rồi "ai làm gì làm đi, tôi không nấu nữa". Vậy là tu cái gì? Cái này rõ ràng là có một tự ngã đang làm chứ không phải là thánh đệ tử. Bữa nào con chê thử coi còn ai nấu cơm không? Phải tập nghe chê và tập nghe lời chỉ trích, tập nghe sự sát phạt, những cái đó là bài tập, là cơ hội để mình thi.
Mình cứ muốn được cái ngọt ngào, êm ái, vuốt ve đưa mình lên. Mình muốn cái đó là mình dục cái đó, mình ái cái đó, mình khoái cái đó rồi ngược lại cái đó thì mình đau khổ, mình sân hận. Vì thế trong đó rõ ràng phải có một cái tự ngã thì nó mới có dục, có tham, có ái, có sân, có hận, có hơn, có thua, có cao, có thấp, có bằng cho nên trạng thái ngủ ngầm này là khủng khiếp, là rung sợ, là lo sợ, là sợ hãi. Ngồi một mình, trầm tư một mình ở bên khóm trúc, ở dưới gốc cây, ở trên tảng đá, ngồi suy tư, cứ ưu tư, khắc khoải, cứ trăn trở, cứ lo lắng bây giờ làm sao, bây giờ làm cách nào, bây giờ nó còn mạnh như vậy, nó còn thô như vậy, nó còn nhiều như vậy.
Thật là đau xót cho ta!
Thật là bất an bất hạnh cho ta!
Thật là tai hại cho ta!
Ta còn ở trong một cái phạm trù hết sức là nguy hiểm, hết sức là bất an, trước sau gì ta cũng gặp nạn trong thân này, ta gặp nạn ở trong những cái lời nói, ta gặp nạn trong những cái ánh mắt, ta gặp nạn ở trong những cái cử chỉ, hành vi của người khác, ta gặp nạn ở trong cái lời vô lời ra, lời qua tiếng lại, ta gặp tai họa trong những cái tin tức vỉa hè, những cái lời nói vu vơ không đâu mà ta nghe cái rồi là ta điên cuồng lên, điên loạn lên, khùng điên lên, cuốn hút vô. Vậy thì ta tu cái gì? Ta được cái gì? Ngày qua tháng lại ta ở trong chùa ta đã được cái gì?
Cứ thao thức, cứ trăn trở, cứ ưu tư, cứ buồn dào dạt chiêm nghiệm. Dù cho cái món ngon cỡ nào đi nữa rồi cũng không có khoái, không có thích, ngủ không yên, thức giấc nửa đêm, thao thức, trăn trở, ưu tư phải làm sao, phải tìm đủ mọi cách. Chúng ta đã vận dụng tứ thần túc chưa? Phải muốn diệt cái bản ngã, nỗ lực diệt cái bản ngã, tập trung tâm ý diệt cái bản ngã và tìm đủ mọi cái phương pháp tác chiến để tiêu diệt cái bản ngã, thân kiến. Mình vận dụng tứ thần túc, tứ như ý túc để phá thân kiến, nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận cái bản ngã, ta phải làm sao đây trong khi ta nhìn thấy cái bóng của gương mặt mình ta lại có cái sắc ái, sắc tưởng ái trong đó, yêu thích trong đó. Ta phải làm sao đây khi ta nhìn thấy cái bàn tay của ta, cái cánh tay, cái bàn chân của ta, ta để còn cái ý là thích rồi hoan hỉ, ta còn thưởng thức cái sắc này, cái vị ngọt của sắc này, ta chưa thấy được cái sắc này nó là vô thường, nó là đau khổ, nó là ung nhọt, nó là mũi tên, nó là hố than hừng, nó là kẻ giết ta.
Ta không có nhận thức sâu sác được rằng cái thân xác này đang làm hại ta, ta đang gặp nạn ở trong cái thân này. Ngày đêm thao thức, trăn trở, nhắc nhớ bất cứ giờ nào, nơi nào, chỗ nào, phút nào, giây nào, thấy gì, nghe gì, ngửi gì, nếm gì, tiếp xúc cái gì, nhận thức cái gì, suy nghĩ cái gì thì đều đưa cái sánh trí vô ngã vô phá hết cái chỗ đồn trú, hang ổ, xào huyệt của thân kiến, của cái tôi, cái ta đó. Đánh đuổi những cái suy nghĩ về tôi, về ta, những cái cảm giác về tôi, về ta, hình bóng về tôi, về ta, nhận thức về tôi, về ta đều bị cái thánh trí, cái ngọn đèn thánh trí soi chiếu vô trong những cái ngóc ngách, những cái hang, những cái kẹt, những cái xó đều bị soi chiếu vô và đánh phá tới tấp không nương tay, không nhượng bộ, không thương tình. Chúng ta làm liên tục liên tục ngày đêm, năm tháng, nhiều năm, ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, mười lăm năm, mười tám năm, hai mươi năm, ba mươi năm mình đánh cho tới lúc mình nằm ở trên giường bệnh lấy những hơi lên cuối cùng.
Cái hơi cuối cũng chính là cái lúc tự ngã, cái thân kiến diệt tận hoàn toàn, một là nhập lưu, hai là bất lai, ba là bậc A-la-hán vô sanh. Được không? Tức là mình phải muốn "ta muốn diệt mi, ta không muốn sống chung với mi, mi là kẻ thù lớn nhất trong vòng luân hồi vô thỉ kiếp này chứ không phải mới một đời này", cái suy nghĩ về tự ngã, cái hình bóng ảo tưởng về tự ngã, cái cảm giác của một cái tôi, cái nhận thức của một cái ta là chúng ta nã đạn nó, truy sát nó, dùng hết tâm lực của mình, tập trung tâm ý vào để nhìn ngó nó, theo dõi nó, đánh phá nó, tìm đủ mọi cách.
Ở bên ngoài nhìn thấy mình êm ru vậy mà bên trong mình là dũng sĩ, mình là chiến sĩ thậm chí liệt sĩ cũng không sợ, được không? Liệt sĩ cũng không sợ luôn, có chết cũng không sợ luôn, chết đi rồi thì mãi mãi không bao giờ còn chết nữa, còn sống thì sẽ chết hoài hoài thì sống làm gì? Thà chết một lần đi vĩnh viễn không bao giờ chết nữa, tức là đạt được vô sanh, cứ đi ra, đi vô, đi tới đi lui, cứ ngồi, ăn, thức, ngủ, làm việc, cứ ưu tư hoài cái thứ này là độc ác, độc còn ở trong người mình, cái chất độc này chưa có giải hết. Đức Phật ví dụ có anh chàng bị trúng mũi tên độc, nó bắn trúng vô tim mà độc phát tác ở trong này mà không lo, lo ai bắn tôi, nam hay nữ, già hay trẻ, mập hay ốm, đen hay trắng, nhà ở đâu, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo, người đó tại sao bắn, bắn bằng lại thuốc độc gì, mũi tên gì.
Cứ tìm hết cái đó rồi thì chết không biết là mấy đời luôn. Cần gì phải đi tìm ai bắn, giờ mình nghe tiếng ai chửi, ai nói nặng gì đó mình không lo quay vô mình coi cái sân, cái bản ngã của mình mà cứ tìm ra cái người đó nói tôi câu đó, rồi suy nghĩ theo cái câu đó, tìm hiểu con người đó tại sao nói vậy. Có phải mình đang tìm hiểu giống như anh chàng bị bắn tên khi nãy không? Khôn quá ha, mình lo quay vô, mình đau buồn, mình xót thương, lòng bi mẫn của mình đây nè "ta tội nghiệp cho cái tâm này quá, tại sao ngươi được học thánh pháp tới giờ này ngươi nhớ bài kinh cái cưa hay không? Người ta chặt ngươi từng khúc ngươi cũng không được khởi cái tâm sân hận thì ngươi mới làm đúng theo lời Phật dạy mà sao người ta nói mới có mấy câu mà ngươi làm cái gì ở đây? Ngươi sân hận ở đây, ngươi phừng phựt đốt cháy ở đây".
Thành ra người có để tâm tu học thì ưu tư lắm, lúc nào cũng trầm tư mặc tưởng, dào dào ưu tư, ngồi trầm ngâm, lo buồn cho nên chư tổ mới ví dụ việc lớn chưa có sáng giống như đưa đám ma của mẹ. Mẹ mình chết nằm để quan tài đó, mình ngồi kế bên này thì mình có vui, có cười, có ăn, có chơi, có giỡn hớt, buông lung phóng dật được không? Buồn hoài, cứ thao thức buồn hoài, lo cái bản ngã này chưa diệt, cái thân kiến chưa tiêu, cái dục, cái ái còn hoạt động rất nhiều, cái sân hận đang còn thiêu đốt ở bên trong này.
Giờ ta phải làm sao? Ta phải làm sao đây? Ta phải vận dụng tất cả những cái khả năng của ta có thể được, dùng tâm từ, từ tâm giải thoát trị tâm sân hoài hoài, tưới lên hoài, tắm hoài, ngâm mình hoài ở trong từ vô lượng tâm, an trú cái tâm hiền, diệt những cái sự dao động, trạo cử, lăng xăng, phóng dật. Quán vô thường để trị cái tham vật chất, quán bất tịnh để trị cái tâm tham dục đối với thân xác, quán sự biến hoại, sự huỷ hoại, sự hoại diệt, sự tàn hoại, sự tiêu vong, sự diệt vong để tâm không còn lưu luyến, không còn ham thích đối với bất cứ vật gì ở trên đời. Như vậy làm hoài, làm hoài, làm hoài thì mới phá được cái ngủ ngầm ở trong chứ giờ ngồi êm ru thì làm sao?
Thật sự mình ngồi để nó lắng xuống là để mình nhìn thấy nó, để mình diệt chứ không phải là mình thích yên tịnh. Không phải, không phải. Mình ngồi yên là được cái gì? Mình ngồi để cho nó lắng xuống để mình nhìn rõ cái bộ mặt của cái kẻ sát nhân, mình tìm ra được nguyên nhân gì làm cho mình khổ, mình truy lùng, truy tìm và truy sát cái thân kiến bản ngã này, cái kẻ thù giấu mặt không tên mà nó đeo bám mình như âm hồn bất tán. Nó đi theo mình từ vô thỉ kiếp tới nay như là cô hồn, như là ma trơi mà mình không nhìn thấy nó, bây giờ mình có nhận diện được ngũ uẩn rồi mình mới thấy nó mà mình mới thấy cái thô phù ở ngoài thôi, còn muốn phá cái ngầm ý ở bên trong thì phải tác ý và phải quán.
Cho nên hình ảnh đứa con nít nằm ngửa ngây thơ như vậy mà bên trong nó Thế Tôn gọi là thật sự là nó sống tiềm tàng năm cái hạ phần kiết sử bên trong đó. Nó tích lũy, nó chất chứa từ bao nhiêu đời, ngàn vạn, tỷ kiếp, vô thỉ kiếp tới trong này thì mình có thể tưởng tượng một cái bản ngã còn lớn hơn cả cái bầu trời, lớn hơn cả cái địa cầu, cái tôi của mình hơn trái đất. Bậc đạo sư nói cái ta của mình, cái bản ngã của mình lớn hơn cả trời đất, khủng khiếp như vậy, rõ ràng khoa học chứng minh chúng ta nhìn thấy bây giờ người ta đòi chinh phục các cái địa cầu khác, các cái hành tinh khác rồi dành với nhau ngôi sao gì đó. Thật khủng khiếp mà phải nhìn thấy và phải rùng rợn, phải ê chề lắm, gớm ghê, chán chê, não nề, ngao ngán, ớn lạnh, nhàm chán, từ bỏ, từ bỏ. Chúng phải có một cái suy nghĩ như vậy, có nhận thức như vậy, có những cái cảm giác như vậy, sự ưu tư như vậy.
"Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời, Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời để Thế Tôn thuyết giảng năm hạ phần kiết sử. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì.
-- Vậy Ananda, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:
-- Ở đây, này Ananda, có kẻ vô văn phàm phu, không đến yết kiến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đến yết kiến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, sống với tâm bị triền phược bởi thân kiến, bị chi phối bởi thân kiến, và không như thật tuệ tri sự xuất ly thân kiến đã khởi lên. Thân kiến này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử." (Trung Bộ Kinh, 64. Đại Kinh Malunkyaputta)
Mình may mắn vô cùng luôn, mình là những cái kẻ vô văn Phàm phu mà được yết kiến bậc thánh, được học pháp của bậc thánh, yết kiến bậc chân nhân, được gặp bậc chân nhân, được học pháp bậc chân nhân chứ bây giờ không có bậc chân nhân thì sao đi tìm cũng như mình đã từng tì m bao nhiêu năm trời, may mắn mình gặp được bậc đạo sư là bậc chân nhân, là bậc chánh kiến. Còn nếu không mình đi tìm gặp người tà kiến thì chỉ cho mình cái gì? Là giả nhân chứ không phải chân nhân thì làm sao chỉ cho mình được cái chân pháp, cái chánh pháp? Cho nên mình gặp mình yết kiến được thì nó sẽ khác, bây giờ nói cái người chưa gặp, chưa Học, chưa hiểu, chưa tu cái chánh pháp để phá thân kiến, để dẹp bản ngã, để trừ vô minh thì vị ấy sống với tâm bị truyền phược bởi thân kiến.
Truyền là trói, phược là cột. Cái tâm bị trói cột bởi cái nhìn sai lầm về thân, chữ trói cột này là thiền quán. Bây giờ mình tưởng tượng hình ảnh một người bị buộc trói vô cái cây cột, nhúc nhích cục cựa chỉ vậy thôi chứ làm sao thoát ra được, buộc tay, buộc chân hết trơn rồi, nhúc nhích, rục rịch, la hét cái gì cũng ở ngay trong cái cây cột với cái sợi dây đó thôi. Đức Phật ví dụ cho chúng ta hình ảnh con chó bị buộc vô cây cột, nó có đi, nó đứng, nó có sủa, nó có làm gì, nó chạy vòng vòng cây cột đó thôi.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Cái cột ngũ uẩn đó, cái cột thân kiến đó, cái cột cái tôi, cái ta đó, dục cái ái đó, nó đi ra không được, đâu có đi ra được. Bây giờ mình có nhúc nhích, cục kịch, rục rịch, có la, có hét, có nói có cái gì đi nữa thì toàn là nhận thức, suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, tư tưởng đều ở trong cái nhìn sai lầm về thân, bị triền phược bởi thân kiến, bị chi phối bởi thân kiến và không có biết đúng sự thật về cái sự thoát ra khỏi thân kiến. Bị cột bởi sợi dây, bị trói bởi sợi dây, bị siết bởi sợi dây, bị buộc ở trong cái sợi dây và không có cái cách nào để thoát ra khỏi cái sợi dây của cây cột đó. Như vậy nếu một người không nhận diện ngũ uẩn, không quán chiếu cảm thọ, không nhiếp phục, chế ngự cái bản ngã, không có tác ý để đánh phá được cái sự chấp thủ ở trong năm uẩn thì người đó thấy cái gì, nghe cái gì, ngửi, nếm, tiếp xúc, suy nghĩ, nhận thức cái gì, cảm thọ cái gì đều ở trong một tự ngã chính là thân kiến. Chỗ này là hết sức là sâu sắc.
Hằng ngày mình đều sống trong vô minh, trong bản ngã à trừ khi nào mình nghe pháp và mình tác ý. Thí dụ mình ôm bình bát đi ăn nếu mình không quán pháp thì có phải "tôi đi khất thực" không? Bữa nay được cái món này có vừa ý hay không vừa ý. Đi làm việc thì có phải "tôi đi làm" không? Thấy chưa, rồi đi tu có phải không "tôi đang ngồi thiền" không? Như vậy là tâm bị truyền phược bởi thân kiến chính vì vậy mà chúng ta mới thực tập:
Dạ cái đống bọt nước này kính thưa chư tôn, chư hiền.
Cái nùi giẻ này kính thưa đại chúng.
Đó là chúng ta nhắc nhở, lúc đó là "cái bộ xương này ập đầu xuống xin lạy, cái kẻ ăn mài này xin đảnh lễ tất cả chư tôn đức", đó là cái tâm trong thời điểm đó an trú vô pháp để nó ra khỏi cái sự trói cột của cái kiến chấp về thân, của cái tôi. Và khi một vị sống với cái tâm bị trói cột bởi thân kiến, bị chi phối bởi thân kiến và không có biết đúng sự thật cái cách để thoát ra khỏi thân kiến thì thân kiến của vị ấy kiên cố, cứng chắc, lúc sáng con là tường đồng vách sắt "đụng vô cái là biết tay tôi". Chúng ta thấy khủng khiếp không? Không được nhiếp phục và trở thành một hạ phần kiết sự không được thâu lại, không đè nó xuống, không áp đảo nó, không đánh cho nó gục ngã xuống thì nó làm ông chủ, nó ra lệnh cho mình, nó sai khiến mình thì gọi là sai xử đó. Kiết là nó trói cột, nó vừa vừa trói mà nó vừa sai khiến, mình nghe lệnh nó răm rắp, nghe lệnh cái bản ngã răm rắp, nó nói một cái hoặc ho một cái thôi là mình chạy có cờ.
Cho nên chỉ cần khởi lên cái rồi không còn thầy trò, huynh đệ gì nữa hết, cha con, mẹ con, anh em không còn gì nữa hết. Khủng khiếp không? nó khởi lên cái tôi, cái ta đó, nó khởi lên đưa nhau ra tòa, chửi nhau, đánh nhau, thậm chí giết nhau. Bây giờ con hỏi ví dụ quý vị mẹ chia cho cái đất mặt tiền cho con trai, còn con gái thì chia cho ở trong hẻm thì cô này bực mình, cô tức giận nên đem xăng tới đốt nhà mẹ và cái xăng nó phựt, nó lan ra cháy cô rồi cháy mẹ cô luôn. Trước đó bản thân của cô đó, bản thân của mẹ cô đó rồi bản thân người trên gia đình có suy nghĩ trước rằng cái sự kiện đó xảy ra vậy không? Chính bản thân của người làm việc đó có nghĩ rằng họ sẽ làm vậy không?
Như vậy thì ở đâu nó biểu hiện ra vậy? Đây là cái câu Đức Phật giải mã trên đây, thật sự là cái bản ngã sống tiềm tàng ở trong con người đó, cái sân hận là nó ngấm ngầm, nó ngủ ngầm, nó tiềm tàng, nó tùy miên ở trong con người đó. Cái dục tham, tham cái nhà mặt tiền, không muốn cái nhà ở trong hẻm, không muốn đất ở trong hẻm thì cái dục, cái tham đó, cái sân, cái tôi, cái ta đó vẫn sống tiềm tàng, ngủ ngầm ở trong tự thân của con người đó nhưng mà người đó đâu có biết. Con xin thưa với tất cả chúng ta ngồi đây không biết ngày mai, chiều nay, tuần sau, tháng sau, năm sau, càng không biết cái gì nó xảy ra, mình không biết nó vận hành theo nghiệp, theo nhân quả, theo vô minh, nghiệp và nhân quả. Và cái sức mà nó bung ra, cái quả dị thục của nghiệp là một trong tứ bất khả tư nghì, là không tưởng tượng được, không ngờ được, nói tiếng Việt là không ngờ được, không tưởng tượng được, không biết trước được cái gì hết.
"Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?
Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.
Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.
Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII). Không Thể Nghĩ Ðược)
Tại vì nó nằm trong này, nó tiềm tàng trong này, trong này nó có chất cháy, chất nổ, nó có những cái gì ở trong này mình không biết mà đợi tới lúc nó xúc duyên rồi nó bung ra, nó nổ ra. Nếu biết trước hết thì đâu có tai nạn máy bay, đâu có tai nạn hàng không, đâu có tai nạn giao thông, nếu biết hết trơn là đâu có tai nạn lao động, nếu biết hết trơn là đâu có ung thư, nếu biết hết trơn thì đời này không có cái gì có tai nạn vì biết trước nên chặn hết trơn rồi. Vì tất cả nó đến là bất ngờ, là bất trắc, là bất thường, là bất định, bất thình lên thì như vậy mình mới tu. Mọi người có thấy quý sự tu không?
Bây giờ mình nhiếp phục, mình chế ngự nó, mình diệt nó, từ từ nó an trú tâm hiền, khiêm cung, khiêm hạ mà lỡ tới lúc ở trong thân tâm còn tồn động mà nó vừa tính bung ra thì bị cái nội lực này ém xuống, nhiếp phục, chế ngự, dụng công phu. Nhiếp phục, chế ngự là vậy, hạ hỏa xuống, không cho bốc lên, hạ xuống, còn không thì nó phừng lên, nó bốc lên, nó cháy lên, nó nổ lên. Đó là công phu của sự tu và giống như bình thường mình thấy như không thấy tu, không thấy lợi ích gì hết, tu sao ngày nào cũng vậy hết nhưng mà hữu sự nó sẽ cứu mình, có tai họa nó bảo vệ mình đó.
"Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?
Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...
... Lưỡi... Thân...
Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Nếu biết phòng hộ, biết chế ngự, biết bảo vệ sáu cái xúc xứ này tức là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này thì các ông sẽ được lợi lạc, hạnh phúc, an lạc dài lâu. Nếu lúc nào mình cũng trú tâm hiền, tâm từ mà rủi như có ai gặp cái món nợ cũ, bà chủ nợ cũ là những oan gia trái chủ trong trăm kiếp tới là quánh lộn nhau, chém nhau, giết với nhau, còn giờ tu tâm hiền cũng bực bội, sân lên nhưng mà nó bị cái sự nhiếp phục, chế ngự đè xuống, đủ sức để mình nhiếp phục, chế ngự nó. Như vậy là mình nhờ cái định, nhờ cái tuệ, nhờ cái giới giải nguy cho mình, cứu khổ mình, đưa mình ra khỏi cái tai nạn, hiểm họa mà mình không biết.
Mình không biết rằng mỗi giây, mỗi phút chúng ta có mặt ở trong thiền đường này rất quý, không có một cái gì ở trên thế gian này có thể sánh nổi. Vì chính là nó đi làm để nhiếp phục, chế ngự những cái thứ mà nó tồn động vô thỉ kiếp cho đến nay ở trong đó. Thí dụ đúng ra chiều nay mình sẽ có một trận cãi lộn sôi nổi, đúng ra một tuần sau mình sẽ bị cái tai nạn nhân quả là mình bị giết chết vì nói qua nói lại sân hận nhưng mà nhờ mình tu tâm hiền, nhờ mình tu tâm từ, nhờ mình biết sám mối oan gia trái chủ, nhờ mình an trú vô một cái sự an tịnh, lắng dịu nên lúc nhân quả tới, mấy người chủ nợ oan gia tới thì tự nhiên mình hiểu được cái cái khổ, mình có cái tâm thương và mình cũng hiểu được cái nhân quả "tới rồi nè, thôi tới rồi đây dạ con xin trả, con chấp nhận trả cho ngài, ngài có chửi, có mắng con gì cũng được hết, không sao hết, con trả".
Như vậy thì chuyện lớn biến thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không, chuyện dữ biến thành lành. Còn nếu như mình không có sự nhiếp phục, chế ngự tu học cái này, không có cái sự đánh gục cái bản ngã để nhiếp phục cái thân kiến, để hạ thấp cái tôi xuống thì tới lúc đó ăn thua chung đủ, tám lạng nửa cân, bánh sáp đi thì bánh quy lại thì lúc đó bùng nổ, mà bùng nổ không phải chỉ là cái món nợ cũ đâu mà nó tiền lời tiền lãi trăm khiếp lận, nó nhân lên. Tới lúc này là nó cộng sổ hết, nó tính một lần một thôi, hốt hụi chót, nó đánh một trận này rồi xong hết tu luôn. Thành ra nghiệp như hình với bóng theo bén gót ta, nó theo sát mình bén gót chờ thời để nó ra tay, cái câu này nghe hơi rợn người rồi, nghe hơi rung.
Tất cả những nghiệp quả của mình từ vô thỉ kiếp đến nay đều nằm đó, không phải là nó bỏ qua, không phải là xong vì xong là mình đi rồi, xong là bất lai không còn trở lại. Nó chưa xong thì nó nằm đó chờ đủ duyên chín mùi, quả dị thục của nghiệp, vị là nó biến đổi và thục là nó chín mùi giống như trái cây vậy đó. Từ cái trái màu xanh biến ra hườm hườm, từ hườm hườm rồi nó vàng, từ từ mới chín đỏ ra thì cái đó gọi là quả dị thục của nghiệp. Khi nó chín thì không biết cái quả này là lựu đạn hay là sầu riêng, hay quả bom bông nguyên tử. Trời đất ơi! Như vậy người ngu, người vô minh thì họ không biết gì hết, tới đầu thì tính tới đó, "ngày mai chẳng biết ra sao nữa mà có ra sao cũng chẳng sao" là theo cái kiểu đó đó.
Còn người trí Đức Phật dạy là lo nhìn về bản chất của cái sự thật mà cái tầm nhìn là tầm nhìn thế kỷ, tầm nhìn ngàn năm, tầm nhìn tới vô thỉ kiếp để hóa giải hết tất cả những dây mơ rễ má, bao nhiêu cái nợ nần là giải quyết một lần sạch hết. Chịu không? Lần một giải quyết hết, chậm nhất là bảy đời, nhanh nhất một kiếp người này thôi giải quyết xong hết cho nên chúng ta mới thấy bậc đạo sư trước khi đi là trả lần một, dồn hết để trả. Người ta không biết thì nghĩ sao mà tu mà bệnh vậy, trả lần một là xong hết, bất lai rồi đâu còn trở lại đời này nữa. Giờ mình muốn trở lại nữa không? Chắc là không muốn không?
Không muốn thì phải nỗ lực tu, dồn sức vô đánh mấy cái ngấm ngầm lựu đạn ở trong đó, bom nguyên tử ở trong đó, chất độc ở trong đó, tẩy rửa ngày đêm cho nên mình nhìn ra được mấy cái này sợ lắm, thiệt sự sợ lắm. Mình cũng không muốn bất cứ hơn thua với bất cứ một cái gì ở trên cuộc đời này nữa, mình chỉ lo hơn thua với cái thứ ác độc ở trong này, mình phải dành phần chiến thắng nó, chỉ chiến thắng với mình thôi, không nhìn ra ngoài, càng nhìn ra là mình càng khổ, Bậc đạo sư dạy là việc diệt dục, diệt bản ngã, diệt tâm hướng ngoại là tối quan trọng của người tu. Diệt dục, diệt bản ngã, diệt tâm hướng ngoại thành công là nhập lưu cho nên mình không thấy được cái sự sống tiềm tàng ở trong đó, nó ngủ ngầm ở bên trong là uổng công tu lắm.
Đừng có thấy ngồi êm ru đó mà tưởng đâu ngon, đụng vô đi rồi biết mặt, thấy vậy mà không phải vậy. Chừng nào đụng vô mà vẫn êm ru thì lúc đó tu chắc cũng kha khá cho nên mình càng biết rồi mình càng sợ vì điếc đâu có sợ súng, mấy người điếc thì lựu đạn quăng tùm lum, súng nổ ầm ầm vậy mà cứ sấn tới vì có biết gì đâu sợ. Mù đâu có thấy vực thẳm mà cái người thấy đường la lên, kêu lên thì không tin "tôi có thấy gì đâu, tôi có thấy vực thẳm đâu, tôi nghe mùi thơm mà" rồi đi tới là rơi xuống. Nhiều khi mình thấy cũng không dám nói nữa, nói có chừng à, không phải dễ, thật sự là khó lắm cho đến lúc cái tâm mình nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, dễ bảo, dễ nghe, dễ học pháp thánh hiền thì mới có thể hướng dẫn được một cách sâu sắc, mới có thể trút hết được những cái pháp cho mình.
"Vị ấy sống với tâm bị nghi hoặc triền phược, bị nghi hoặc chi phối, và không như thật tuệ tri sự xuất ly nghi hoặc đã khởi lên. Nghi hoặc này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị giới cấm thủ triền phược, bị giới cấm thủ chi phối và không như thật tuệ tri sự xuất ly giới cấm thủ đã khởi lên. Giới cấm thủ này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị dục tham triền phược, bị dục tham chi phối và không như thật biết sự xuất ly dục tham đã khởi lên, dục tham này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị sân triền phược, bị sân chi phối và không như thật tuệ tri, sự xuất ly sân đã khởi lên. Sân này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử.
Và này Ananda, có vị Ða văn Thánh đệ tử, đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đến yết kiến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, sống với tâm không bị thân kiến triền phược, không bị thân kiến chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly dục tham đã khởi lên. Thân kiến này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị này sống với tâm không bị nghi hoặc triền phược, không bị nghi hoặc chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly nghi hoặc đã khởi lên. Nghi hoặc này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị ấy sống với tâm không bị giới cấm thủ triền phược, không bị giới cấm thủ chi phối và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly giới cấm thủ đã khởi lên, giới cấm thủ của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị này sống với tâm không bị dục tham triền phược, không bị dục tham chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly dục tham đã khởi lên. Dục tham này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị này sống với tâm không bị sân triền phược, không bị sân chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly sân đã khởi lên. Sân này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ." (Trung Bộ Kinh, 64. Đại Kinh Malunkyaputta)
Ở đây nói cái trạng thái tùy miên ngủ ngầm của cái kiến chấp về thân của cái bản ngã được đoạn trừ là nói ở bên trong. Cái này diệt cỏ tận gốc đó, con nói cái thí dụ hết sức đơn giản mình đi vô tu năm năm, mười năm, mười lăm năm, hai mươi năm, hai mươi lăm năm, ba mươi năm thì nào giờ người ta quen ta kêu mình bằng thầy, bằng sư phụ bằng thượng tọa, bằng đại sư này kia nọ nghe quen rồi. Bữa nay có ông lại kêu "thằng này, mày đang làm gì vậy mày?", thầy Pháp Tâm bất ngờ có người nào lại kêu bằng "thằng" thì lúc đó ngũ uẩn sao? Lúc đó có bình thường không? Mình đặt cái trường hợp thử vậy đó, khó chịu liền mà đó là mới có kêu cái danh từ thôi chứ đừng nói chi họ chửi nặng thêm nữa, rồi họ đánh. Chúng ta nhớ ngài Phú-lâu-na không ạ?
"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Punna đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh. Sau một thời gian, Tôn giả Punna mệnh chung." (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Mình tới không biết mình được quả nữa? Quả a la hán ngoài chợ lớn. Các ngài nói là các ngài thực chứng, cái tâm ngài nói thật chứ không có mồm mép như mình đâu. Mình nói hay lắm, nhiều khi mình nói còn hay hơn mấy ngài nữa nhưng mà đụng tới chuyện thì khác trời vực, còn các ngài nói là các ngài nói thật, trực hạnh mà đệ tử Thế Tôn mà, chân chánh hạnh mà, nói sao làm vậy, làm sao nói vậy. Còn mình thì mồm mép, mình lẻo mép lắm, mình nói hay lắm, ngụy biệ,n quanh co, xảo biện rồi hoa từ, mỹ ngữ dữ lắm. Đó là gì? Các ngài phá từ ở bên trong cái thân kiến hết rồi, cái thân kiến ngủ ngầm ở trong nó hết rồi thì mới nói ra được vậy.
Chút xíu con có một cái pháp, giảng xong rồi, chia sẻ xong rồi con có cái pháp giúp cho quý vị phá thân kiến, được không? Chết cũng không sợ, chết cũng không ngán, xem thường cái sinh mạng này, xả quý cầu bần, xả thân cầu đạo, xả bản ngã để đi vào cái trí vô ngã. Cho nên cái vị gọi là Đa Văn Thánh đệ tử đoạn tận tùy miên là cái ngủ ngầm ở trong tâm về bản ngã, về thân kiến, về nghi ngờ, về giới cấm thủ, về dục tham, về sân hận thì vị này không có bị chi phối, vị này như thật tuệ tri cái sự xuất ly, thoát ra khỏi năm cái hạ phần kiết sử này, đoạn trừ được cái tùy miên, cái ngủ ngầm, cái ngấm ngầm ở bên trong. Đó là chính lời Đức Phật định nghĩa Đa văn Thánh đệ tử của ngài là phải vậy đó, cái này là tiêu chuẩn của Đa văn Thánh đệ tử tức là Phật tử đó. Mình chưa được thì nghe cái này là mình thấy xấu hổ, hổ thẹn.
"Này Ananda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu không thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, nhưng năm hạ phần kiết sử được biết rõ, hay được thấy rõ, hay được đoạn trừ, sự tình như vậy không xảy ra. Ví như, này Ananda, đối với một cây lớn đứng thẳng có lõi cây, nếu người ấy không đẽo vỏ trong, không đẽo giác cây, nhưng vẫn có thể đẽo được lõi cây, sự tình này không xảy ra.
Cũng vậy, này Ananda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu không thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, nhưng năm hạ phần kiết sử sẽ được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn trừ, sự tình như vậy không xảy ra. Và này Ananda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, thời năm hạ phần kiết sử sẽ được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn trừ, sự tình như vậy xảy ra.
Ví như, này Ananda, đối với một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, nếu người ấy sau khi đẽo vỏ trong, sau khi đẽo giác cây, thời sẽ đẽo được lõi cây, sự tình này xảy ra. Cũng vậy, này Ananda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu thực hành con đường ấy, đạo lộ ấy, thời năm hạ phần kiết sử sẽ được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn diệt, sự tình như vậy xảy ra." (Trung Bộ Kinh, 64. Đại Kinh Malunkyaputta)
Đức Phật nhấn mạnh, lập tới lập lui nhiều lần. Ý đức Phật nói như thế nào? Tất cả mọi việc làm đều phải đúng cái cách thức, cái phương pháp, cái thứ tự, cái tuần tự, cái lộ trình của nó. Phải đi đúng cái con đường đó, thực hành đúng cái phương pháp đó, làm đúng cái cách đó thì mới có cái kết quả như vậy, không thể nào không làm đúng cách, không có đi theo cái tuần tự, cái thứ tự đó mà có được cái kết quả như vậy. Tu chánh đạo được đạt chánh quả là đây nè.
Mình nấu cơm thì phải đổ nước vô vo gạo rồi mình mới bắt lên, bây giờ mình không đổ nước vô mình bắt lên nó ra cơm không quý vị? Đó là không theo tuần tự, không theo lộ trình, không theo đúng cách đó. Bây giờ con đường từ Sài Gòn lên đây thì phải đi qua Dầu Giây rồi đi qua Tân Phú madagui, đi qua Bảo Lộc rồi mới đi lên tới trên này nhưng giờ mình không đi con đường này, mình đi ngược lại thì có tới đây không? Nếu không theo lộ trình thì là sự tình như vậy không thể xảy ra tức là không thể đến Linh Quy Pháp Ấn, phải đi đúng cái lộ trình của nó. Cũng vậy, cái pháp thực hành để phá thân kiến Đức Phật đã dạy hồi sáng chúng ta có nhắc, tứ niệm xứ, quán thân như thế nào, quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi, quán bộ xương như thế nào, quán cát bụi như thế nào, quán bọt như thế nào.
Nếu mình không quán những cái pháp quán đó mà mình đòi phá thân kiến, mình đòi nhập lưu thì nhập lưu được không? Mình phải làm đúng cái quy trình đó, làm đúng cái phương pháp, đúng cái cách thức đó thì có cái kết quả đó. Bây giờ mình không làm cái đó thì làm sao có kết quả cũng như Đức Phật ví dụ mình muốn lấy cái lõi cây mà mình không có đẽo cái vỏ trong, không có đẽo giác cây làm sao mình được cái lõi cây? Mình làm đúng quy trình thì mình sẽ được.
"Này Ananda, ví như sông Hằng, nước đầy tràn, con quạ có thể uống được. Rồi một người ốm yếu đi đến và nghĩ như sau: 'Sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của ta, ta sẽ đến bờ bên kia an toàn'. Nhưng người ấy không thể sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của người ấy, đến được bờ bên kia an toàn. Cũng vậy, này Ananda, bất cứ ai, khi được giảng pháp để đoạn trừ thân kiến, nếu tâm của vị ấy không thích thú, không hoan hỉ, không có định tĩnh, không có giải thoát, thời vị ấy cần phải được xem là giống người ốm yếu kia.
Này Ananda, ví như sông Hằng, nước lớn, đầy tràn, con quạ có thể uống được. Rồi một người lực sĩ đi đến và nghĩ như sau: 'Sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của ta, ta sẽ đến bờ bên kia an toàn'. Người ấy có thể sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng với tay của người ấy, đến được bờ bên kia an toàn. Cũng vậy, này Ananda, bất cứ ai, khi được giảng pháp để được đoạn trừ thân kiến, nếu tâm của vị ấy thích thú, hoan hỉ, có định tĩnh, có giải thoát, thời vị ấy được xem là giống như người lực sĩ kia" (Trung Bộ Kinh, 64. Đại Kinh Malunkyaputta)
Bây giờ mình là người ốm yếu hay là lực sĩ ạ? Chắc không bao nhiêu phần trăm là lực sĩ? Hay là một chút thì làm xì ke, chút thì làm lực sĩ, hay làm lực sĩ luôn? Khi mình nói về bất tịnh, ba mươi hai thể trược, chín đoạn tử thi. nói về tứ đại. nói về phân, nước tiểu, nói về bộ xương, nói về cát bụi thì người ta nghe không thích là không có hoan hỉ thì người đó là kẻ ốm yếu, bệnh hoạn ở trong pháp. Vì người sao? Vì người này cái tâm nặng về cái thân kiến, về cái tôi, ta, về cái chấp thủ cho nên đối trước sự thật, đối trước thánh trí nhưng người này không hoan hỉ, không chấp nhận. Cái này nhiều không ạ? Nhiều lắm, đó là lý do tại sao con đường lên núi chúng ta rất khó đi, con để cho khó đi vậy đó.
Những người thật sự cầu học mới có mặt ở đây, người thật sự tha thiết cầu giải thoát mới đến đây. Đây không phải học nói cho vui, không phải học để nghiên cứu kiến thức Phật học mà học để thực hành, để thấy khổ, để diệt khổ, để thoát ra khỏi khổ đau. Học về sự thật, nói sự thật, chiêm nghiệm sự thật, sống với sự thật để thể nhập vào sự thật của đời sống này, sự thật của thân tâm này, sự thật của thế gian này, sự thật của thế giới này, sự thật của dòng luân hồi sanh tử đầy nước mắt và máu này cần phải được thấy, cần phải được biết, cần phải được thấu, cần phải được liễu tri, tuệ tri, thắng tri.
Cho nên một người ốm yếu muốn lội qua, cắt ngang dòng sông Hằng để tới bờ bên kia thì không thể được, phải là một lực sĩ, một người mạnh mẽ. Cho nên Đức Thế Tôn nói rằng khi được nghe giảng về đoạn trừ thân kiến, phá chấp ngã, đập vỡ cái tôi mà nếu tâm vị ấy không có thích thú, không hoan hỉ, không có định tĩnh, không có giải thoát thì cái định tĩnh rất quan trọng. Định tĩnh là tập trung tâm ý, là lắng cái tâm, lặng cái tâm, tập trung cái tâm để nghe, người này không có nghe một cách hời hợt, không phải nghe một cách qua loa, nghe cho có nghe mà không có để tâm, xuống hỏi không biết gì hết trơn, nói là lên cũng có lên học mà hỏi bữa nay học kinh gì, nói về cái pháp gì "dạ quên hết trơn thì như vậy tâm không định tĩnh, không tập trung tâm ý lắng tai nghe pháp, không tiếp được, không thọ trì được cái pháp thì nghe cũng như không.
Tâm không định tĩnh thì vẫn xem là ốm yếu dù cho có mặt chứ không phải nói là không có mặt, vắng mặt đâu, dù cho có mặt nhưng vẫn là người ốm yếu, không có khả năng lội qua được bờ bên kia. Vì sao? Vì tâm không định tĩnh, không có giải thoát. Tại sao nghe pháp mà tâm không có giải thoát là sao? Là cái tâm mình lúc đó không có cởi mở, chỗ này không phải dễ hiểu, tâm mình không có cởi mở để mình tiếp nhận cái mới, cái thánh trí huệ của Phật. Chúng ta thấy có những cái vị học đó là "tôi học vậy à, giảng cái gì giảng tôi cũng học vậy thôi à, tôi lên tôi mượn chỗ thôi, mượn cái cảnh đẹp, không gian dễ chịu tôi hành cái pháp của tôi thôi à".
Thì đó là tâm không giải thoát đó, cái tâm chấp thủ vào trong những cái pháp học, pháp hành đã từng được học mà không có cởi mở, không có mở lòng để đón nhận những cái mới, những cái chân thật, những cái chân trí, những cái thánh trí tuệ, thánh sự thật thì như vậy vẫn là người ốm yếu không lội qua bờ bên kia được chứ không phải có mặt là được ngon đâu, chưa chắc. Ngồi nghe pháp mà ngủ gục, ngồi cũng nghe mà nghe cho có nghe, xuống hỏi rồi nói chung chung cũng vậy thôi, bữa nào cũng vậy là ốm yếu, không có khả năng lội qua bờ bên kia. Phải trả bài thường xuyên mới được, khóa tu này con kêu nộp bài mà không có được mấy người, đếm trên đầu ngón tay, cả trăm mấy chục người dự khóa tu mà kêu nộp bài thì chỉ được có mấy bài thôi.
Càng ngày sự tu học càng kém, giờ này mà có mấy người nộp đếm trên đầu ngón tay, một trăm mấy chục người gần hai trăm người dự khóa tu tức là cái lời nói của con không có giá trị gì hết, chắc nói cũng như không khí vậy thôi "tôi muốn làm tôi làm, không làm thôi, ông nói cứ nói đi". Vi tế lắm, không chỉ là không có thấy mà chỉ nhiều quá thì cũng khổ, không có nộp bài gì hết, kêu mấy lần luôn, tâm xem thường, tâm không có cung kính pháp, không có tôn trọng vị hướng dẫn thì làm sao tiến bộ? Mãi mãi là kẻ ốm yếu, gầy mòn.
Giờ mình coi lúc mình nghe pháp thì tâm mình có thích thú không? Sáng giờ mình có thích thú không? Có hoan hỉ không? Có định tĩnh không? Đừng vội vỗ tay lấy lòng, cái tâm mình có cởi mở ra để đón nhận không?
"Nhật nguyệt tuy minh nan chiếu phúc bồn chi hạ
Đao kiếm tuy khoái, bất trảm vô tội chi nhân".
Ánh sáng của mặt trời, mặt trăng phổ quát hết nhưng mà cái chậu úp xuống thì không chiếu vô được. Cái ánh sáng mặt trời thì quang minh như vậy mà mình đóng cửa lại hết, mình kéo màn lại thì sao ánh sáng chiếu vô được? Đó gọi là cái tâm không có giải thoát, đó là không có cởi mở. Cái tâm phải mở ra để đón nhận cái ánh sáng của mặt trời chiếu vô, cái chậu mình mở lên để mình hứng đón lấy cái ánh nắng để cho nó khô ráo những cái nước phiền não ẩm ướt thì đó gọi là tâm có giải thoát, cái tâm cởi mở để đón nhận, chấp nhận học pháp.
Cái chỗ này mới chỗ đặc biệt, sau này tứ thiền bát định của Đức Phật nói ra để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử thì mỗi một tầng thiền đều có khả năng đoạn tận các lậu hoặc và chứng thánh quả hết. Tại vì cái này được đứng ở trên cái sự tu tập phá trừ thân kiến cho nên tám tầng thiền này, tứ thiền bát định này đều đi vào thánh quả được hết. Khi nãy chúng ta nói là tứ thiền bát định của ngoại đạo, của phàm phu ngoại học là vì họ không thành tựu chánh tri kiến về thánh trí ngũ uẩn cho nên họ đắc được tứ thiền bát định nhưng vẫn là cái định của p hàm phu sanh lên các cái cảnh giới cao của sắc giới và vô sắc giới, cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc giới chư thiên nhưng không đi vào thánh quả được, vẫn là phàm phu thiên thôi. Còn ở đây Đức Phật dạy:
"Và này Ananda, thế nào là con đường, thế nào là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử? Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo do viễn ly các sanh y (Upadhiviveka), do đoạn trừ các bất thiện pháp, do làm cho an tịnh thân thô ác hành một cách toàn diện, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm khỏi các pháp ấy, vị ấy tập trung tâm vào bất tử giới (Amatadhatu) và nghĩ rằng: 'Ðây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả sanh y, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn'. Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thời do sự tham pháp, hỷ pháp của mình, thời do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui đời này nữa. Này Ananda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử. (Trung Bộ Kinh, 64. Đại Kinh Malunkyaputta)
Cái chỗ bất tử này, cái chỗ an tịnh hết ngũ uẩn này, cái chỗ xả ly hết sắc; thọ; tưởng; hành; thức này thật là tịch tịnh, thật là vắng lặng, đây thật là nhiệm màu, vi diệu tức là sự yên dừng tất cả sự vận hành của ngũ uẩn. Sự dừng lại hết tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, đây thật là cái chỗ vắng lặng, thanh tịnh, nhiệm màu, vi diệu, sự xả ly tất cả những chỗ dựa của tái sanh, từ bỏ hết tất cả sanh y, cái chỗ dựa vào để cho nó tái sanh, bỏ hết sự xả ly, tất cả sanh y, ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn.
Sâu sắc lắm, tối thượng thánh tuệ nằm chỗ này, tối thượng tịch tịnh nằm ở đây, thượng nhân pháp là ở đây, là cảnh giới của bậc thánh trí. Đây là tu sơ thiền mà chứng quả A-la-hán, còn những bài kinh chúng ta sẽ học ở trong cái chuyên đề của dự lưu thánh quả, giữ năm giới vẫn có thể chứng thánh quả. Lúc trước con nghe bậc đạo sư nói con hơi ngờ vực một chút "ủa sao là đơn giản dữ vậy?" bây giờ đọc ra thì rõ ràng là như vậy. Người cư sĩ chỉ cần giữ đầy đủ năm giới vẫn có khả năng nhập lưu thánh quả cho tới các cái thánh quả cao hơn luôn, miễn sao phá được thân kiến. Thành ra càng học mình càng thấy thích thú, hoan hỉ, vui sướng, hạnh phúc, phấn khởi trong sự tu học.
Chúng ta đi thiền hành, trong khi đi thiền hành chúng ta quán niệm những cái pháp nãy giờ được học, chiêm nghiệm lại. Chúng ta thả lỏng cái tay mình xuống, thả lỏng đi một cách an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng thư thế và suy niệm những pháp nãy giờ được học.
Mời các chư hiền chia sẻ cảm thọ chúng ta qua bài kinh Đức Phật đã hướng dẫn cho chúng ta lộ trình đoạn tận năm hạ phần kiết sử.
Phật tử 1: Bộ xương con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ân đức sư phụ, chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền thiện và trí tuệ. Con thật là hạnh phúc hạnh phúc vô cùng suốt từ sáng tới giờ không chỉ có trong cái thời nghe pháp, con cảm thấy mình không chỉ là lực sĩ trong thời nghe pháp mà từ sáng tới giờ rất là nhiều hạnh phúc. Đức Thế Tôn ngài đã lang thang bao nhiêu kiếp sống nhưng mà ngài tìm và ngài không gặp phước duyên gì. Chúng con được giờ đây được gặp giáo pháp và được học như vậy, con thấy là thật là quý báu và ngài lang thang còn chúng con thì được đi từng bước đi chánh niệm nhưng con phải nhớ rằng con đang đi trong lò luyện vàng và đi trong lò luyện vàng thì con phải đi như thế nào.
Phải đi như là một con bò cái, từng cái bước chân giơ lên là đang bước đi tới gần cái lò mổ, từng cái bước chân giơ lên là cái mạng sống đang bị ngắn dần, dù là đang được hạnh phúc ở trong lò luyện vàng nhưng mà phải thật sự là trân quý từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây. Bởi vì trí tuệ của chúng con rất là yếu ớt, nếu mà yếu ớt như một kẻ già yếu thì không thể nào vượt qua cái dòng sông sanh tử luân hồi đầy khổ đau, đầy nghiệt ngã. Phải cố gắng nuôi dưỡng trong mình để trở thành một lực sĩ và phải giữ cái điều đó cho nó lâu dài và con thật sự là chấn động khi sư phụ nhắc tới nhân quả nghiệp báo ngày hôm nay thật sự là chấn động.
Con nghĩ tới ngài Ngộ Đạt Quốc Sư, ngài tu hành giới đức trang nghiêm, thanh tịnh như vậy mà còn bị như vậy huống hồ gì chúng con nghiệp có thể quật bất cứ bất cứ lúc nào. Cho nên được ngồi học những cái thời khóa tu học thì thật là quý báu, con phải nhắc mình là luôn trân quý cái điều này và sáng nay con muốn giống như thấy rất là vui. Con muốn nói lên như là Euréka… Euréka… Euréka, con có thể trả lời cho mình được cái câu hỏi tại sao người thân có thể muốn dùng roi nhau để quất nhau. Một chị họ của con la lên "đưa roi ra đây tao quất cho một trận", người em trai của cô 12:00 trưa rất là nắng tự nhiên leo lên xe Honda ngồi dựng ở trong nhà mà cái miệng rồ lên giống như là đang rồ ga vậy đó và mặc ba bốn cái áo lên, giọng nói thì eo éo eo éo thay đổi hoàn toàn.
Cô chị nghĩ là người em này chắc là bị ma nhập, sau một hồi thì người em mới nói lên "con đã về đây mấy ngày rồi mà không ai nhận ra con hết, mọi người đã quên ngày giỗ của con" và cháu bé này chết khi cháu mới có sáu tháng và mọi người trong gia đình rất là thương tiếc cháu. Cháu rất là quý người cậu này và cháu cũng nói là cháu quý người cậu này vậy mà khi cái sắc thân thay đổi thì không có nhận ra nhau nữa mà còn đòi roi dâu để quất. Điều này khiến cho con thấm thía lời dạy của Đức Thế Tôn cái ngũ uẩn là ung nhọt, là kẻ thù, là mũi tên.
Hồi trước đây con cứ ngạc nhiên, con hỏi hoài "tại sao mà một đứa bé chết khi sáu tháng tuổi, nó không hề biết nói sao mà khi nó nhập về nó lại biết nói là nó rất là quý cậu và nó nói tên của cậu", một đứa bé sáu tháng tuổi không hề biết nói mà mọi người chơi đùa với nó như vậy thì con nghĩ là làm sao mà nó biết, nó nhớ được hết mà nó khi nhập về lại nói ra rõ ràng mọi thứ rành mạch như vậy. Con lại liên hệ đến lời dạy là cái sự tùy miên, cái sự đi theo miên man của thân kiến, vô minh đi theo miên man thì chúng ta phải miên mật trong sự tu hành.
Khi đến nhà bếp sáng nay thì con nhớ lời sư phụ dặn là khi nhớ lửa thì phải nhớ lửa lò thiêu, sáng nay con không thấy có một tí lửa nào hết vì các cô đi xuống đây tu tập, con chỉ thấy một cái nắm tro tàn vậy là con nghĩ "mọi người đi nhận tro của người thân, còn con tự đi nhận tro cho của tự thân". Con thấy thật là hạnh phúc khi mình áp dụng pháp, khi mình nhớ nghĩ tới cái chết, nhớ nghĩ tới cái từng cái bước chân của con bò, thấy là cái chết đến gần thì mình thấy mình sống thật là ý nghĩa, sống thật là sâu sắc. Con thật là biết ơn Đức Thế Tôn, biết ơn sư phụ cùng toàn thể đại chúng.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Giới tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên pháp nhãn thù thắng của bậc đạo sư, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý Tăng Ni cùng các sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí, con xin nhận diện ngũ uẩn của con. Thưa sư phụ và tất cả các bậc Tăng Ni cùng sư cô cùng tất cả các hiền trí sáng nay con được nghe sư phụ giảng bài pháp về thân kiến đến bây giờ con vẫn thấy là tâm con rất là hoan hỉ và con thấy rất là hạnh phúc khi con được nghe bài pháp này. Tưởng có con tưởng đến sư phụ giảng có những cháu bé nhỏ vẫn còn nằm ở trên giường thì làm sao có tự ngã, có kiến chấp nhưng con nghĩ ở đây là có bởi vì sao, con nhìn thấy ví dụ như những đứa nhỏ mới sinh ra khi được bú mẹ thì hai tay nó vẫn bu, nó vẫn giữ chặt cái bầu vú của mẹ nó. Cái này thì con thấy thể hiện tham ngon ngọt, nó kiến chấp.
Cái thứ hai nữa là ví dụ như nó muốn mẹ nó bế, hay một muốn ăn, hay muốn ngủ nó cũng khóc giẫy lên để nó đòi hỏi những cái gì nó cần thiết. Khi nó được thì nó lại kiến chấp vào đó, con thấy sự kiến chấp này là nó thu thập từ vô thỉ kiếp, hàng ngàn kiếp của chúng ta đã luân hồi và chúng ta đã tham đắm vào, nhập vào thức của chúng ta cho nên là khi chúng ta mất đi, chúng ta đầu thay lại thì chúng ta vẫn giữ nguyên những cái kiến chấp ấy. Khi còn nhỏ tuổi thì nó phát triển ít nhưng càng trưởng thành bao nhiêu thì con thấy nó lại lớn mạnh cái kiến chấp đó cho nên dẫn ta đến một sự rất là đau khổ vì kiến chấp đó, vì thế chúng ta quên hết đi những cái xấu hổ, tàm quý cho nên là dễ đến là chúng ta đả thương nhau bằng miệng, đả thương nhau bằng gậy, đả thương nhau bằng kiếm, đả thương nhau bằng dao vô cùng khổ.
Ở đây con thấy Đức Thế Tôn đã để lại cho chúng ta rất nhiều các pháp để chúng ta thực tập và tu hành qua lời thuyết giảng của sư phụ rất là cặn kẽ. Ở đây con thấy cái sự nhìn nhận là rất là kém cỏi của con thì con cũng cứ mạnh bạo nói lên cho tất cả đạo tràng. Nếu không đúng thì xin sư phụ, quý Tăng Ni và sư cô và tất cả các vị hiền trí hãy dạy bảo cho con thêm thì con thấy ở đây nhất thiết là chúng ta phải tu tâm hiền. Bởi vì con nghĩ tâm hiền này dễ thông cảm lắm, nó dễ thương mọi người và nó cũng thương mình, nhưng khi có một cái sự tranh chấp gì đó thì cái tâm hiền này dễ nhường nhịn, dễ thông cảm lắm, dễ thương lắm cho nên cái tâm hiền này nhất định con phải tu bằng được cái tâm hiền này thì nó cũng giải quyết được rất là nhiều, cái kiến chấp thân, đấy là điều thứ nhất.
Điều thứ hai là Đức Phật đã để lại cho chúng ta nhất thiết phải giữ giới, nếu chúng ta không giữ được giới thì chúng ta cũng không thể nhập được pháp để tu. Bởi vì khi chúng ta thấy sợ bị phạm giới cho nên là chúng ta sẽ luôn luôn chánh niệm để khống chế cái sự trạo hối thì nó sẽ không có giữ được giới. Cái thứ ba là con thấy ở đây nhất thiết chúng ta phải nhận diện biết thế nào là ngũ uẩn và nhận diện ngũ uẩn thật sâu sắc. Bao giờ ngũ uẩn đó cũng nhắc nhở bên mình là có ngũ uẩn, chấp ngã vào ngũ uẩn này thì chúng ta sẽ phải đi tái sanh. Chúng ta phải biết nhận diện ngũ uẩn, cái nữa là chúng ta phải quán tiêu diệt năm triền cái thực sự là phải hết, thật sự phải hết được tham, sân, si vì năm pháp này là năm pháp ngăn che những cái pháp của chúng ta cho nên là phải diệt tận năm triền cái.
Chúng ta phải biết quán sáu nội ngoại xứ để trừ diệt hết tất cả những cái kiến chấp trong và ngoài thân của chúng ta. Cái nữa là chúng ta phải quán thọ; tưởng; hành hằng giờ, hằng ngày bởi vì con thấy cái thọ; tưởng; hành này nếu chúng ta không phát hiện ra nó, không nhận diện trong nội tâm thì nó vận hành thông suốt cả ngày lẫn đêm, không lúc nào ngần ngừng nghỉ và nó dẫn chúng ta đi tái sanh. Con thấy ở đây chúng ta phải luôn luôn giữ lại oai nghi và hành động vì oai nghi, hành động đấy giúp chúng ta lúc nào chúng ta cũng chánh niệm, bởi vì chúng ta sợ không giữ được cho nên chúng ta phải chánh niệm thì ngay cái chánh niệm này nó cũng giúp chúng ta rất là nhiều.
Chúng ta ra ngoài đối duyên xúc cảnh thì chúng ta chỉ nhìn thấy lỗi của mình chứ đừng nhìn thấy lỗi của người, luôn luôn xoay gương để quán chiếu lại thân tâm của mình. Con thấy là nhất thiết chúng ta phải quán tứ niệm xứ, quán ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn của tử thi hoặc là một thân vứt đỏ ra ngoài nghĩa địa thì cái này tất cả chúng ta ai cũng biết quán cả, mà còn quán thâm sâu nữa là khác nhưng con thì mới tập thôi, con cũng chỉ biết là nghĩ sao con nói vậy. Vậy thì tất cả nếu phá được thân kiến này thì con nghĩ là không phải đơn giản, rất là khó mà phải xuyên suốt tất cả những pháp đấy, tám pháp đấy và còn tùy pháp để tu hành thì mới có thể diệt được cái chấp kiến chấp này.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Giới tử 1: Mô Phật, con chỉ biết như vậy, con xin cảm ơn tất cả sư phụ, quý Tăng Ni cùng tất cả các sư cô, các bậc hiền trí đã lắng nghe con và con xin sám hối nếu con nói có điều gì không đúng và sai xin sư phụ, xin các quý Tăng Ni và tất cả các vị hiền trí hãy dạy bảo cho con thêm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ cùng chư tôn hiền đức và các vị hiền trí trong đạo tràng ở nơi đây ạ. Trong lúc ngồi ở đây thì con xin nhận diện ngũ uẩn khi con nhớ lại lời giảng của sư phụ vừa rồi. Sư phụ nói về con đường để chứng đắc thì con chỉ nhớ được cái ý là mình phá được thân kiến là mình sẽ chứng dự lưu thì cảm xúc của con, cái cảm thọ của con lúc đó là và ngay cả lúc ngồi thiền ở đây thì con cảm thấy rất là ưu tư, rất là lo lắng, rất là buồn phiền và cảm thấy rất xấu hổ. Vì nghe như sư phụ nói thì nghe thật là dễ dàng nhưng cái thân kiến của con thì con tự thấy là nó lớn lao, nó to lớn, con chấp thủ vào cái thân xác này, con chấp thủ vào những cái cảm thọ của mình, cái ngũ uẩn của mình quá lớn lao và đặc biệt là cái ngã của con quá lớn đi, nó to lớn không thể tưởng tượng nổi.
Con đường để mình phá cái thân kiến này nó dai dẳng và nó đen tối như thế nào, con cảm thấy rất là lo lắng. Cái tưởng của con nhớ đến những buổi học của khóa tu này, con nhớ đến những cái pháp hành mà sư phụ đã dạy, con nhớ, con tự nhắc mình để phá được cái bản ngã này thì phải dùng rất là nhiều pháp. Con tự nhớ lời sư phụ nhắc hôm trước đó là cái vấn đề to lớn nhất của mình là cái gì thì mình phải mình phải dùng hết sức lực để công phá nó. Con cũng tự thấy bản ngã của con hiện tại là cái vấn đề lớn nhất và con phải dùng bao nhiêu cái pháp để có thể công phá nó đây. Bây giờ con nhớ cái tưởng của con còn nhớ đến cái lỗi của con từ hôm phát biểu trình pháp trong buổi tổng kết khóa con biết là bây giờ con xin sám hối thì nó không có đúng với cái câu hỏi của sư phụ lắm nhưng mà mong sư phụ thương tưởng cho con sám hối. Đây coi như đây là một cái pháp hành của con đang thực hành để con có thể phần nào hạ thấp cái ngã của mình.
Hôm tổng kết khóa thì con có mắc những lỗi sau đó là con đã trình phát trong một cái bản ngã rất là tự cao, rất là cao, kiêu căng, trong khi mọi người, trong khi sư phụ, các chư tôn, các chư vị hiền trí lo lắng cho khóa học, lo lắng chuẩn bị cho mọi người những bài giảng, những bữa ăn, chỗ ngủ nghỉ thì con với một cái người rất là mới mẻ trong dòng pháp này, chưa biết nhiều, chưa hiểu nhiều nhưng mà rất là lại kiêu căng là ta đây đã học được cái này, học được cái kia. Con cảm thấy rất là xấu hổ và khi sư phụ đánh chuông tại vì con trả lời dài dòng thì con còn cố gắng thúc giục bản thân nói cho xong cái phần mình đã chuẩn bị.
Con thực sự rất là xấu hổ, thực sự rất là nhục nhã về cái bản ngã đó và về cái sự chống đối của con. Con xin sư phụ và tất cả các chư tôn, các vị hiền trí cho con sám hối lỗi lầm này, chứng minh cho cái lòng thành của con để con có thể tiến tu tại vì con rất là sợ hãi, từ cái hôm đó đến nay là con luôn sống trong sợ hãi, luôn sống trong cái sự tàm quý của mình là tại sao mình có thể ngu ngốc và ngu si đến như vậy, tại sao mình có thể phát biểu một cách dại khờ đến như vậy. Con còn sợ hãi là nếu bây giờ mình không có nghiêm túc thực hành những cái pháp mà sư phụ đã giảng thì cái ngã của con bao giờ con mới có thể nhiếp phục được, cho nên là những cái hôm rồi là con rất là cố gắng tìm kiếm một cái duyên để con có thể sám hối trước sư phụ và đại chúng thì mong sư phụ chư tôn và các vị hiền trí ở đây thương tưởng, từ bi chỉ bảo cho con để con có thể tiếp tục học tập, học pháp và hành pháp để con đường tu tập của con rộng mở hơn.
Con xin các vị hãy bao dung và hãy thương tưởng cho con. Con xin đảnh lễ chư vị, đảnh lễ sư phụ ba lạy để thể hiện lòng thành kính của con ạ. Dạ đây cũng là một trong những cái bước đầu tiên mà con cố gắng thực sự nhiếp phục.
Sư Phụ: Rồi cô đứng lên cô lễ đi.
Phật tử 2: Dạ.
Sư Phụ: Lại cái bản ngã của mình đó.
Nguyện cho con luôn luôn sống với tâm hiền kính.
Nguyện cho con chôn vùi cái bản ngã này ở tại nơi này.
Nguyện cho con luôn sống trong lòng cung kính, biết ơn, khiêm cung, khiêm hạ, từ ái đối với tất cả.
Lành thay! Lành thay!
Giới tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch chư tôn đức Tăng Ni và tất cả các bậc hiền trí con xin trình pháp cái thọ của con trong suốt ngày hôm nay thì con thấy rất là hoan hỉ, rất là xúc động vì con biết là con đã đi đúng đường, gặp được đúng sư phụ trong khi con bao nhiêu năm tìm kiếm lang thang cái môi trường tu và tìm sư phụ thì nay con đã gặp được rồi mà con vui nữa. Sư phụ đã chỉ cho con biết rõ cái đạo lộ, cái đường đi phải hành như thế nào, phải làm những cái gì trước, cái gì sau, phải làm thế nào, con đã gặp được bậc chân nhân và gặp được đúng thánh pháp nhưng mà con lại còn có cái lo lắng của con là luôn luôn khởi lên "mày già rồi, mày sắp chết rồi". Cứ mỗi một ngày qua đi là đến gần cái chết một ngày cho nên bây giờ không thể phá được thân kiến, con nghĩ là cái khó nhất là phá thân kiến mà nếu phá được thân kiến thì bốn cái còn lại thì cũng dễ thôi vì cái dục và giới cấm thủ.
Sư Phụ: Đừng có nghĩ là khó. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, mình nghĩ là khó thì mình sẽ không làm được.
Giới tử 2: Tại vì con rất vô minh ạ.
Sư Phụ: Nữa, cãi nữa. Đức Phật đã làm được, các bậc hiền thánh làm được, bậc đạo sư làm được thì mình làm được. Mình loại bỏ cái ý nghĩ khó ra.
Giới tử 2: Dạ theo con thì con cứ muốn làm sao để tìm những cái gì để có lòng tin bất động đối với Phật – Pháp - Tăng và nhận diện ngũ uẩn là nó vừa cái sức của con thì có thể con có thể cố gắng thực hiện được cho chắc ăn, còn nếu cái đạo lộ này con biết là đường đi như vậy nhưng mà đối với con là thời gian còn ngắn quá và cái sức của con biết ngắn.
Sư Phụ: Sao cô biết ngắn?
Giới tử 2: Dạ con già rồi ạ.
Sư Phụ: Chết chưa đến, tập thực hành chỉ ngay bây giờ thôi.
Giới tử 2: Dạ.
Sư Phụ: Nhiều khi con chết trước cô đó.
Giới tử 2: Con nhiều vô minh lắm, vô minh của con sâu dày lắm ạ. Con ngu muội, con vô minh sâu dày, con biết là con vô minh có khi ngồi thiền quán thì con ngủ gật, học bài thì học nhanh thuộc nhưng con lại quên ngay nên con nhiều tập khí xấu xa. Con biết là đối với mọi người ở đây thì rất là dễ nhưng với con thì quá khó nên con cũng sẽ cố gắng từng ngày từng giờ một, lúc nào con cũng mang cái là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ra con dọa con nhưng mà được lúc bấy giờ xong lại quên ngay. Có khi nó lại vẫn còn tham ăn, tham ngủ rồi tham nhiều thứ lắm, vẫn chưa rũ bỏ được ạ.
Con không biết làm như thế nào thì con chỉ biết rất là biết ơn là khi tuổi xế chiều gặp được sư phụ, gặp được môi trường tu, con cứ nói đây là cái trường tuyển Phật. Con thấy ai cũng chăm học cho nên một cái sức học lan tỏa rồi là mọi người, nhất là cái khóa tu vừa rồi các bà già cũng rất là hỏi, truy bài nhau, cái sức học rất là tuyệt vời cho nên môi trường này rất là thích hợp để cho chúng con thực hành những cái pháp này. Nhưng chỉ có điều là có làm được hay không thôi ạ, con sẽ cố gắng nghe lời sư phụ từ nay là con cứ cố gắng, cái quán của con thì còn kém lắm và cái nhận diện ngũ uẩn của con cũng vẫn còn kém. Dạ con xin cảm ơn ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Kém thì từ từ nó sẽ tốt, mình cứ kiên trì từ từ nó được, cô thử tập nghĩ ngược lại cái suy nghĩ của mình đi.
Giới tử Trí Vũ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni Sư cùng tất cả chư vị hiền trí. Thật sự là cái cảm thọ của con suốt từ sáng tới giờ là một cảm thọ thật là hoan hỉ và rất là thỏa mãn đối với những lời dạy và những lời giảng của sư phụ qua bài kinh sáng nay trong kinh Trung Bộ. Cũng như chiều nay khi con chiêm nghiệm lại thì con cũng có nghe về bài thân kiến của bậc đạo sư, đó là bài kinh Tiểu Phương Quảng mà bậc đạo sư đã giảng dạy và kết hợp với bài kinh sáng nay của sư phụ giảng dạy thì con một lần nữa hiểu một cách sâu sắc hơn về thân kiến, đặc biệt là con đường đi đến đoạn tận thân kiến.
Trước đây thì con chưa có tu tập, chưa có sự hiểu biết về thân kiến thì chúng con sống trong vô minh, sống trong si ám, sống trong sự đảo ngược về cái nhìn, cái thấy về thân này. Con cứ cho rằng cái thân này là xinh đẹp, là thường còn và con thường chấp thủ vào cái thân này, khi ai động đến thân này thì con lập tức có những cái phản kháng, có những cái tức tối khi ai nói về cái thân này mà không như ý của con. Khi sư phụ giảng về con đường đưa đến đoạn tận thân kiến thì con rất là hoan hỉ, rất là vui vì giờ đây con đã thấy đúng như sự thật, thấy đúng về thân kiến đó là ung nhọt, đó là sự rỉ chảy của chín lỗ, đó là sự thấy sai lầm về thân và trong kinh Đức Phật có ví dụ về một đứa bé khi nằm ở đó thì sao nó lại có tham, có sân, có si ở trong đó.
Con cũng tự hỏi rằng tại sao một đứa bé nhỏ như vậy chưa có sự nhận thức, khi nó còn nhỏ như vậy mình động tới nó hay mình dành giật đồ chơi với nó thì nó lại khóc lên. Khi nó lớn lên đối duyên xúc cảnh tập khí sâu dày như chúng con thì chúng con đang nuôi dưỡng tham, sân, si càng ngày càng một lớn lên thì con nghĩ rằng cái tham, cái sân, cái si đã ngấm ngầm ở bên trong từ vô thỉ kiếp cho tới nay, những thọ; tưởng; hành thức vẫn nằm ở đó. Khi chúng con chưa đoạn trừ được thân kiến thì nó vẫn nằm ở đó, vẫn ngấm ngầm hoạt động ở trong đó và chỉ cần đối duyên xúc cảnh hay là chạm tới thôi thì ngay lập tức nó sẽ phản kháng, nó sẽ bung ra.
Con mới hiểu được rằng con đường đi đến đoạn tận thân kiến đó là chúng ta cần phải học và hành theo trong kinh tứ niệm xứ đó là quán ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi, quán xát chết và đặc biệt hơn là nhìn nhận ngũ uẩn, nhìn sâu vào những cảm thọ ngấm ngầm bên trong là những cái bản ngã. Con thấy cái bản ngã này thật là khủng khiếp, khi chúng ta đã chứng tới A-la-hán thì mới hết cái bản ngã bên trong thì con thấy rằng cái bản ngã này thật là vi tế, nhỏ nhiệm. Nếu chúng ta không thường xuyên quán chiếu, không thường xuyên tác ý, không thường xuyên nhìn nhận vào cảm thọ thì chúng ta sẽ không thấy được cái bản ngã này. Một lần nữa con rất là biết ơn trên sư phụ, biết ơn trên Đức Thế Tôn, biết ơn trên bậc đạo sư đã khai mở, đã chỉ đường, đã cho con thấy một đạo lộ, một con đường rõ ràng và khi chúng con đã xác quyết tu tập trên con đường này thì chúng con như là những người dũng sĩ.
Khi con nhìn lên tất cả đại chúng ở đây thì con thấy mọi người như là những người lực sĩ, dũng sĩ đang đi công phá vô minh, đang đi diệt bản ngã.
Sư Phụ: Ngồi đây là dũng sĩ không đó, chiến sĩ không đó.
Giới tử Trí Vũ: Đang đi đánh phá thân kiến và khi chúng con đã phá được thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ thì chúng con xác quyết có thể thành tựu được trí tuệ đạt tới cánh đầu tiên, đó là chánh tri kiến để mở ra cánh cửa bất tử và đó là những lời chiêm nghiệm của con, những dòng cảm thọ, những suy nghĩ của con. Con xin biết ơn trên sư phụ, quý thầy, quý Ni Sư cùng tất cả các bậc hiền trí, trong khi con trình pháp có gì sai thì con xin sám hối và mong sư phụ, quý thầy, quý Ni Sư cùng tất cả các bậc hiền trí chỉ dạy thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Thầy có muốn chia sẻ không?
Sư thầy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, cung kính bái bạch trên bậc đạo sư tôn kính, kính bạch trên chư tôn đức Tăng Ni và toàn thể chư vị hiền trí. Con cảm thấy mình thật là may mắn vì tiếp nhận được giáo pháp thánh trí của Đức Phật và con đang tran trở là tiếp nhận được thánh trí ngũ uẩn nhưng sự nhận diện chưa được thuần thục, rõ ràng. Con đang trăn trở là danh tánh của cái tên giặc mà nó đã chiến thắng mình trong vô lượng kiếp, nó dẫn mình vào trong luân hồi sanh tử khổ vô lượng kiếp, đó là thân kiến và bản ngã.
Con được trên thầy dẫn trong kinh, trích trong kinh và giảng giải ra mà thấy được cái danh cái tánh nhưng mà cái tướng trạng nhìn trực tiếp thì sao khó quá. Nó còn trù tượng quá, giống như đánh giặc mà nhìn không rõ ràng thì đánh thắng là một điều vô cùng khó khăn mà giặc này rất là mạnh, nó đã chiến thắng mình liên tục, mình chưa thắng lại nó trận nào. Con kính bạch trên thầy có thể chỉ dạy thêm về cách nhận diện cái bản ngã và thân kiến cho nó rõ ràng hơn và con đường tu tập là con được nghe tứ niệm xứ, quán về tứ đại, ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi thì cái này con cũng còn rất là mới mẻ và cũng chưa thực tập nhưng sau đó con sẽ từ từ tìm hiểu.
Và thật đáng sợ khi nghe bài kinh sáng giờ, qua hình ảnh đứa bé đang ngủ thì con cảm nhận rằng con cũng chính là đứa bé đó và cái tiềm ẩn sâu dày như tường đồng vách sắc, đó là năm cái hạ phần kiết sử: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Cái quan trọng là bản ngã bên trong và lúc sớm thầy có nhấn mạnh là phá được cái bản ngã, cái tham dục và cái sự hướng ngoại. Con thấy mấp mé được cái danh tánh của những cái nguyên nhân làm cho mình luân hồi sinh tử nhiều đời nhiều kiếp nhưng nhìn nhận về bản ngã, thân kiến thì còn quá khó.
Đó là có những cái trăn trở của con và con cũng xin thành kính tri ân trên bậc đạo sư tôn kính những ngày qua đã chỉ dạy tận tình cho con cũng như toàn thể đạo tràng và chư tôn đức thầy Thiện Huệ cũng như thầy Pháp Tâm, thầy Pháp Lực và cái hạnh tu của đạo tràng cũng như những việc chia sẻ của những vị phát biểu toàn là những bài học thực tế, toàn là những bài học để cho con học từng cái đi, cái đứng và suốt thời gian qua những quý cô, quý chú công phu, công quả ở nhà bếp đã tạo thuận duyên để cho con an ổn tu học trong những ngày qua. Con xin thành kính tri ân trên thầy và toàn thể, trong những ngày qua nếu như con có điều gì sơ suất thì xin cũng hoan hỉ cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Dạ thưa thầy mới vừa học thực tập pháp này, thời gian cũng còn ngắn, từ từ mình sẽ hiểu thêm nhưng căn bản quan trọng nhất là nhận diện ngũ uẩn, thực hành ba pháp, nhìn thấy được tham, sân, si, biết cách nhiếp phục, chế ngự, tu tập tâm hiền. Cái căn bản đó trước rồi lần lần, từ từ nhận diện học thêm chứ cũng không có vội, muốn để hiểu rõ, kỹ về bản ngã đó, hành tướng, sự hoạt động, guồng máy vận hành thì con mời thầy nghe những bài giảng giải sám hối diệt ngã. Trong đó bậc đạo sư có chỉ rất là rõ và con cũng có nhiều cái ví dụ ở trong đời sống thường nhật, chúng ta cứ đi dần dần từng bước chậm mà chắc, vững, rồi lần lần cũng sẽ đến đích.
Chúng ta chở chân và đứng lên trải tâm từ, trời mưa mà mình được ngồi tu có hạnh phúc không? Bây giờ không tu là đang làm gì ở dưới? Giờ này nếu không ngồi đây tu ở dưới làm gì? Học bài được là tốt.
Tâm hiền này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm hiền này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.