Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Con Đường Đưa Đến Cõi Người - Cõi Trời - Cõi Thánh

2026-03-18 06:54:25
TINH HOA NIKĀYA

CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN CÕI NGƯỜI - CÕI TRỜI - CÕI THÁNH

–Thích Minh Thành–

Sư Phụ: Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, toàn bộ giáo pháp của Đức Phật chúng ta có thể chia ra làm ba con đường. Đường thứ nhất gọi là nhân đạo, con đường thứ hai gọi là thiên đạo và con đường thứ ba gọi là thánh đạo, đây là ba đạo lộ của sự tu tập mà tất cả chúng ta phải nắm thật là vững, nhân đạo, thiên đạo và thánh đạo. Nhân đạo thì cái căn bản chúng ta biết là tam quy và ngũ giới, thiên đạo là thập thiện và thánh đạo là tứ thánh đế và bát chánh đạo, chúng ta nói ngắn gọn là vậy. Trong rất là nhiều bản kinh Đức Thế Tôn cho chúng ta tự mình sẽ đưa mình đi theo những cái con đường mà do cái tâm thức của mình nó hướng tới, do chính cái suy nghĩ, lời nói, hành động của mình nó dẫn mình đi vào các cái con đường đó.

Trong cái thiên nhãn của Đức Phật thấy có sáu thế giới, sáu loài chúng sanh còn gọi là lục đạo luân hồi, đầu tiên là trời, người, A-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục Trong ba cõi ác cộng với một đường A-tu-la nữa, có khi gọi là tứ ác thú, bốn cái thế giới, bốn cái loại chúng sanh đau khổ, hạ đẳng, hạ liệt, thấp kém mà không ai muốn đi vào trong đó. Địa ngục là vô dáng ở trong cái khóc than, kêu gào thảm thiết và quằn hoại, ngạ quỷ là vất vưởng, đói khát, khao khát, bốc cháy, thiêu đốt như cái hình ảnh mà hôm qua chúng ta được nghe ở trong Tương Ưng Lakkhana là những cái bộ xương lơ lửng trong hư không và phải chịu những cái mũi tên ghim vào, những cái hòn than lửa, mưa bằng than lửa đốt quằn hoại, đau khổ hay là những con quạ, con diều hâu, con kên kên nó rỉa, nó ngoạm lấy từng miếng da, từ cái thớ thịt hay là còn nhiều ở trong đọa xứ mà chúng ta được học trong cái chuyên đề về Đức Thế Tôn.

Khi Đức Thế Tôn ra đời thì quý vị biết rằng cái ánh sáng của ngài vượt hơn cả mặt trời, mặt trăng, ánh hào quang của ngài chiếu hết tất cả những hang cùng ngõ hẻm, những cái động núi mà đi sâu vào trong các tầng bậc của các thế giới, không phải một địa cầu này mà nhiều hành tinh khác là có những cái đọa xứ. Đọa xứ là cái chỗ ở của những chúng sanh sa đọa mãi mãi trong đó không có ánh sáng, cho đến khi Đức Thế Tôn xuất hiện thì ánh hào quang chiếu vào trong cái chỗ đọa xứ đó thì những chúng sanh trong đó mới biết cũng có những chúng sanh khác sống ở đây, họ nghĩ rằng có một mình họ quằn hoại đau khổ trong cái bóng đêm không có ánh sáng, vĩnh viễn và mãi mãi không có ánh sáng. Chỉ có lúc Thế Tôn ra đời, chuyển pháp luân, nhập Niết-bàn, những cái giai đoạn đặc biệt thì lúc đó ánh đại hào quang của Đức Phật, bậc chánh giác mới chiếu vào trong đó.

Như vậy thì trong địa ngục, trong ngạ quỷ, trong cái súc sanh, trong các đọa xứ, trong các cái cõi của A-tu-la, quỷ thần đau khổ và con người thì Đức Phật tán dương hai cái cõi là nhân thiên. Chúng ta thường nghe câu nói "ta vì lợi ích cho hữu tình, vì lợi ích cho chúng sanh, vì lợi ích, vì thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người", như vậy đối tượng thuyết pháp của Đức Phật là nhân loại và thiên giới. Chúng ta đọc ở trong tạng kinh sẽ thấy Đức Phật nói pháp cho loài người và cho loài trời và đối tượng quan trọng chính yếu là nhân loại của chúng ta. Chính vì vậy mà trong sáu nẻo luân hồi đó thì tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở nơi thế giới của loài người, nhân loại. Chúng ta thấy mình hạnh phúc không? Tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện là chỉ xuất hiện ở nhân loại thôi và loài người là đối tượng chính yếu để Chư Phật tuyên thuyết vô thượng pháp luân, như vậy thường thường trong kinh ca ngợi hai loài chúng sanh tức là nhân giới và thiên giới. Hôm nay chúng ta nói nhân đạo, thiên đạo, thánh đạo. Cái nhân đạo thì trong Tăng Chi Bộ kinh tập IV, bài kinh Sợ Hãi Hận Thù có nói:

"Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:

- Này Gia chủ, khi nào năm sợ hãi hận thù của vị Thánh đệ tử được chỉ tức, thời vị ấy thành tựu được bốn Dự lưu phần. Nếu vị ấy muốn, có thể tuyên bố về ngã đối với tự ngã: 'Ðịa ngục đối với ta được đoạn tận, loài bàng sanh đối với ta được đoạn tận, cõi ngạ quỷ đối với ta được đoạn tận, cõi dữ, ác thú, đọa xứ đối với ta được đoạn tận. Ta là vị Dự lưu, không còn thối đọa, chắc chắn đạt đến Chánh giác'." (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình, (VII). Sợ Hãi Hận Thù (1))

Thế Tôn nói với cư sĩ Cấp-cô-độc khi nào một người Phật tử, một người đệ tử Phật đoạn hẳn năm sợ hãi và hận thù thì người này thành tựu bốn dự lưu phần là lòng tin bất động đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng và đầy đủ các giới gọi là bốn phần giúp cho mình tham dự vào dòng thánh, gọi là bốn dự lưu phần.

"Thế nào là năm sợ hãi hận thù được chỉ tức?

Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do sát sanh, vì duyên sát sanh, đưa đến trong hiện tại; sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Từ bỏ sát sanh, sợ hãi hận thù không đưa đến trong hiện tại, sợ hãi hận thù không đưa đến trong tương lai, kể cả không có tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ... Ðối với vị từ bỏ sát sanh, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục." (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình, (VII). Sợ Hãi Hận Thù (1))

Năm giới là năm cái điều đưa cho mình đi đến bình an và yêu thương, không còn sự lo sợ và thù hận. Tại sao mình sợ cái này, mình sợ cái kia, mình sợ cái nọ? Tại sao mình có hận người này, oán người khác và thù người kia? Tại vì mình còn sát sanh, mình còn trộm cắp, mình còn tà dâm, mình còn nói dối, mình còn sử dụng những chất say xưa nghiện ngập thì mình còn lo lắng, sợ hãi và hận thù, tâm mình khổ và lo lắng, bất an. Bây giờ con nói những cái từ cái thô cái tế rồi chúng ta sẽ thấy, mình giết người cái tâm mình được an không? Có những người họ giết người rồi trốn ở trong rừng nhưng mà thời gian họ không chịu đựng được cái tòa án lương tâm làm cho họ ray rứt phải đi ra đầu thú, đó là sợ hãi. Mình trộm cắp có lo sợ không? Bất an, sợ người ta phát giác, phát hiện ra. Ngoại tình, tà dâm có lo sợ không ạ? Có hận thù không? Luôn luôn nơm nớp lo sợ người ta phát hiện, làm cái chuyện bất chánh, làm cái chuyện gian tà, xấu hổ, nhục nhã và khi người ta biết được thì người ta oán, người ta hận, người ta thù.

Mình lừa dối, dối gạt người khác, lừa gạt người khác có sợ không? Có lo lắng không? Khi người ta biết mình dối gạt như vậy thì người ta sẽ hận thù. Rồi nhậu nhẹt, say xỉn, những cái chất nghiện ngập thì bao nhiêu là lo lắng, bao nhiêu là bệnh tật, bao nhiêu là bất an và gây ra bao nhiêu là cái tai họa. Thành ra Đức Thế Tôn nói một người từ bỏ được giết hại chúng sanh có sự sống, có tình thức, từ bỏ được sự lấy của không cho, từ bỏ được sự tà hạnh trong các dục, tà dâm, từ bỏ nói láo, từ bỏ nhậu nhẹt, say sưa, nghiện ngập, một cái người từ bỏ hoàn toàn đầy đủ năm giới này thì người này không còn sợ hãi cái gì nữa hết, ở đâu cũng được bình an hết, cái tâm nó yên, mình quay lại nghĩ mình không có lỗi lầm gì hết nên mình đâu có sợ. Còn một người đi vô cái chỗ đông sợ sệt, sợ hãi là tại vì họ có những cái lỗi lầm cho nên người giữ được giới người đó là vô úy, họ đi đến hội chúng nào, đi đến chỗ đông nào, đi đến những cái đại hội nào lòng họ bình an, tâm họ tĩnh lặng, họ tự tin, mạnh mẽ vì họ không có làm điều xấu xa, không có làm điều tội lỗi, không có làm điều mờ ám, bất chánh, bất minh.

Thế Tôn đi tất cả các chúng hội đạt được tứ vô sở uý thành tựu được mười lực, mười sức mạnh của Như Lai lực, ngài đầy đủ các giới, tâm ngài bình an, không có sợ hãi, không có hận thù với ai và không ai hận thù ngài. Cũng vậy, một người từ bỏ được năm cái điều bất thiện, thành tựu được năm cái giới hạnh thì cái người này Thế Tôn gọi là thành tựu được bốn dự lưu phần, vị ấy có thể tuyên bố ta từ nay về sau không bao giờ đọa địa ngục, ta từ nay không bao giờ đọa vô loài ngạ quỷ, vĩnh viễn và mặt mãi mãi không bao giờ đọa vào loài súc sanh. Tuyên bố dõng dạt như vậy ở trước hội chúng, tuyệt vời không? Vĩnh viễn không bao giờ rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đối với một người thành tựu năm giới, giữ gìn được năm giới, từ bỏ được năm ác và bất thiện pháp và người này thành tựu được lòng tin bất động đối với Thế Tôn, thành tựu được lòng tin bất động đối với chánh pháp, thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng, đầy đủ các giới đã thọ thì người này chứng quả dự lưu, tham dự vào dòng chảy của các bậc hiền thánh.

Chúng ta có cố gắng giữ năm giới không ạ? Cố gắng nhiều không? Mình cố gắng giữ được năm giới như vậy tâm mình lúc nào cũng bình an hết, mình ở một mình không có sợ, mình ngồi thiền nhẹ nhàng lắm, hỷ lạc lắm. Còn sở dĩ mình ngồi thiền không được là vì bên trong này đó có nhiều trạo hối tức là những sự ray rứt, nó bức rứt, nó lo lắng, nó sợ hãi. Mình đối diện với nội tâm của mình nhất là mình nhận diện ngũ uẩn, mình nhìn lại những cái hình bóng mà sai lầm, lỗi lầm nó hiện ra, nó như một cuộn phim chiếu lại cho mình thấy và lúc đó làm mình ray rứt, mình khó chịu, mình nhức nhói, nó giày vò, nó giày xéo tâm can của mình. Nếu mình là một người con bất hiếu khi mình nhớ lại là tâm mình có bình an không? Mình ray rứt. Nếu mình ăn cắp, ăn trộm dù chuyện đó hai mươi năm trước nhưng mà mình nhớ lại là lúc đó tâm mình bất an, lo lắng. Tà dâm cũng vậy, nói dối, lừa gạt người ta cũng vậy, sát sanh cũng vậy, mình ngồi nhớ lại mình đã giết hại như vậy, mình đã sát hại chúng sanh như vậy, mình đã làm khổ đau cho người khác như vậy thì lúc đó cái tâm mình lo lắng, bất an, đó gọi là trạo hối, là ray rứt ở trong lòng.

Chính vì vậy mà năm cái giới này là tuyệt đối, tuyệt đối, tuyệt đối quan trọng, thánh phàm là từ năm giới này, giữ được năm giới là đủ cộng với cái tịnh tín bất động, niềm tin của mình đối với tam bảo mình đủ sức để nhập lưu, để dự lưu, để thành tựu chánh tri kiến, thành tựu cái thấy biết của bậc thánh và đưa mình ra khỏi sanh tử, vượt thoát dòng luân hồi, đi đến bến bờ bên kia của Niết-bàn, đáo bỉ ngạn. chúng ta thấy cái giá trị tối thượng của năm giới chưa? Cho nên ngày nào mình cũng phải nhắc giới, nhớ giới, tụng giới, kiểm điểm cái giới gọi là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm thiên. Đây gọi là lục niệm, cái này rất quan trọng cho một người cư sĩ tu tập hay là người xuất gia đều phải thực hành lục niệm tức là sáu cái sự nhớ nghĩ. Nhớ Phật, nhớ Pháp, nhớ Tăng, nhớ bố thí, nhớ giới và nhớ thiên là chư thiên các cõi trời nhờ tu tập.

Mình phải thường nhớ Phật, nhớ Pháp, nhớ Tăng và kiểm điểm các giới của mình, gọi là bốn dự lưu phần cộng thêm hai cái niệm thì, niệm thiên nữa thì ra lục niệm. Đây là những cái pháp tu của người cư sĩ và những cái pháp tu của người xuất gia, nói chung là pháp tu của thánh đệ tử, mấy hôm nay chúng ta đã lạy trí đức Như Lai rồi, là mười đức hiệu của Đức Phật thì gọi là niệm Phật, Thế Tôn là bậc Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn thì những cái đức hạnh đó mình nhớ như vậy khi mình nhớ về Phật thì lúc đó cái tâm mình lìa tham. Cái tâm lúc đó nhớ Phật chứ đâu có nghĩ đi trộm đồ của ai, đi tham muốn cái gì đâu, khi nhớ Phật cái tâm lìa tham, khi nhớ những cái đức hạnh từ bi của Phật thì cái tâm nó lìa sân, không có giận ai, khi nhớ về Đức Phật là bậc đại trí tuệ, bậc phá vô minh, bậc diệt tận bản ngã thì lúc đó đập vỡ cái si mê.

Như vậy khi mình niệm Phật là mình lìa tham, sân, si, tuyệt vời không? Nhớ cái đức của Phật, nhớ cái hạnh của Phật, nhớ cuộc đời của Phật, nhớ cái trí tuệ của Phật, nhớ những cái sự đóng góp vĩ đại của Đức Phật thì ngay lúc đó tâm mình lìa tham, sân, si và tâm lúc đó được hân hoan, được tịnh tín, tâm mình vui lên. Mình nhớ Phật mình vui mà mình nhớ Phật như vậy cái lòng tin mình tăng trưởng lên, nhớ Phật thì lúc đó cái bản ngã của nó hạ thấp xuống, cái tâm cung kính tăng trưởng lên. Đó là những cái lợi ích thiết thực không khi mình niệm Phật? Không phải mình chỉ niệm "Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật… Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật… Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật" rồi mắt nhìn cái này, nhìn cái kia, nhìn coi ai làm gì, cái đó không phải, chỉ niệm cái miệng chứ cái tâm không có niệm, cái trí không có niệm.

Ở đây mình niệm "Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin đem hết lòng thành kính quay về nương tựa với đấng đại giác ngộ, bậc đã thấu suốt hoàn toàn sự thật về thân, về tâm, về thế giới, về sự khổ đau và con đường diệt khổ", chúng ta niệm pháp bảo. Sáng nay chúng ta ngồi trước chánh điện chiêm nghiệm về cái khổ này từ đâu, tại sao mình khổ, cách diệt khổ là sáng nay chúng ta niệm pháp đó. Trong khi chúng ta nhớ pháp nghĩ pháp, suy tư về pháp, quán chiếu về pháp, an trú ở trong pháp thì lúc đó cái tâm mình lìa tham, sân, si, vô minh, bản ngã dục ái. Tâm đó là cái tâm cao thượng, tâm cao đẹp, tâm thanh cao, tâm thánh thiện khi mình an trú vào pháp, mình nhớ nghĩ đến ngài A-nan, ngài Ca-diếp, nhớ nghĩ đến ngài Mục-kiền-liên, ngài Xá-lợi-phất.

Mình nhớ những cái đức hạnh của các vị hiền thánh, khi mình nhớ tới đối tượng làm cho tâm mình hướng thượng, các ngài tu như vậy đó, các ngài trí tuệ như vậy, từ bi như vậy, công đức như vậy, đức hạnh cao thượng như vậy, trong khi mình thấp bé như vậy thì mình phải ráng hướng lên, mình ráng đi lên, mình ráng tăng trưởng phát triển lên. Lúc đó mình niệm như vậy thì cái tâm mình hướng thượng, quý vị thấy cái công năng không? Đó là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, mình phải kiểm điểm, kiểm tra, kiểm kê, kiểm toán, kiểm soát lại mình trong mỗi ngày hoặc là mỗi giờ, trong một cái suy nghĩ đó, trong cái lời nói, hành động đó phải kiểm tra coi cái này có sai phạm gì không, mình có nói dối không, có nói quá sự thật không, có nói cái lời đâm thọc, nói lời ác độc, nói lời thêu dệt, nói cái lời phù phiếm, vô ích không. Mình có nói lời chân thành, chân thật, mình có nói lời từ ái, có nói lời đúng lúc, đúng thời, mình có nói cái lời tận trái tim của mình với một cái sự hiểu thương hay không. Mình nói như hoa, như mật hay là mình nói như phân?

Vì thế cần kiểm điểm, kiểm tra, kiểm kê, kiểm toán, soi xét, mình đừng có đừng có lo soi người ta, lo soi mình, lỗi của người thì mình xem xét giống như sàn để lấy trấu ở trong gạo, còn lỗi của mình thì mình giấu giống như kẻ gian giấu bài.

"Dễ thay thấy lỗi người,

Lỗi mình thấy mới khó.

Lỗi người ta phanh tìm,

Như sàng trấu trong gạo,

Còn lỗi mình, che đậy,

Như kẻ gian giấu bài".

(Kinh Pháp Cú 18 – Phẩm Cấu Uế, kệ 252)

Đức Phật nói có trúng? Lỗi của người là sàn ra để kiếm trấu ở trong gạo, còn lỗi của mình thì che đậy giống như kẻ gian giấu bài. Cái này ngược lại, người tu là nhớ kỹ suốt cả một cuộc đời tìm cái lỗi của mình, lúc nào cũng nhìn lại lỗi của mình hết. Mình nhớ năm khiêm hai khéo không? Khiêm cung, khiêm tốn, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm nhã và khéo xét lỗi mình, khéo hộ trì căn. Hai cái này rất quan trọng, không phải mình cứ lo nhìn lỗi của người mà mình phải khéo xét lỗi mình, bất cứ chuyện gì xảy ra đều quay trở lại nhìn cái lỗi mình trước thì mình mới giải quyết được vấn đề, còn nếu mình hướng ngoại nhìn cái sai của người thì mãi mãi không giải quyết được vấn đề. Giữa hai người sống chung trong gia đình, vợ chồng, cha mẹ, anh chị em mà có chuyện gì xảy ra mình nhìn người kia có lỗi không mà không thấy lỗi mình thì cuối cùng có giải quyết được vấn đề không? Nếu mình nhìn lại thấy "cái này mẹ thấy mẹ có bản ngã nè, mẹ xin lỗi con". Đẹp không? Hoặc là "vợ thấy cái này là vợ có lỗi, cái tôi của vợ lớn quá, thôi vợ xin lỗi chồng", "chồng thấy cái này chồng sai nè, chồng nổi nóng lắm nè, chồng hay sân nè, thôi chồng xin lỗi vợ". Gia đình vậy hạnh phúc không?

Đó là suốt đời đi tìm lỗi chính mình là khéo xét lỗi mình, còn giờ hễ nói ra là "tôi lỗi hồi nào? Cái đó là tại ông hết trơn á? rồi có giải quyết được câu chuyện không? Lỗi càng thêm lỗi, sai càng thêm sai, sân càng thêm sân mà mình đi theo cái nào nhiều hơn? Mình nhận lỗi hay là mình đổ lỗi? Xin lỗi hay là chối lỗi? Hay là ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm? Cái bản ngã là ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm giống như con lươn vậy đó, nó không có ngay thẳng, nói ra là tại, bị, đó là ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm. Vì thế đạo làm người ở đây là rất quan trọng ở chỗ khéo xét lỗi mình, khi mình cứ nhìn hoài, mình dòm hoài, mình ngó hoài, mình canh chừng hoài, mình có điều chỉnh mình hoài thì mình có hoàn thiện không? Từ từ mình phải hoàn thiện chứ, còn nếu mình nhìn người ta thì không có đi đến đâu hết, chỉ tăng thêm phiền não. Cho nên cộng thêm hai cái phần nữa là niệm thí và niệm thiên, Đức Phật dạy rất kỹ cái này.

Mình kiểm tra lại cái tâm, trừ bỏ cái tâm xan tham, keo kiệt, bủn xỉn, hoan hỉ bố thí, vui vẻ bố thí, ưa thích bố thí, rộng rãi bố thí, vui sướng và hạnh phúc trong việc bố thí rồi mình nhớ các cõi trời, đức hạnh của các cõi trời. Bây giờ chúng ta đi qua bên phần thiên đạo, trước khi đi qua thiên đạo con nhấn mạnh lại con người là có đạo đức, có nghĩa tình, cái này là cái hết sức quan trọng, hiếu thảo với cha mẹ là đứng đầu, nghĩa tình với chồng vợ là tiếp theo, ân đức với bà con cô bác, kiến họ, dòng họ, thân tộc của mình và mình biết ơn đối với những người có ơn trong cuộc đời của mình. Đây là cái nền tảng căn bản quan trọng quyết định để một con người được làm một con người thật sự, nếu thiếu những cái này đời sau không được làm người, không đủ tiêu chuẩn để làm người, giống như mình đi thi không đủ điểm nên Thế Tôn nhấn mạnh bốn cái chữ biết ơn và nhớ ơn. Bốn chữ này thôi mà Đức Thế Tôn liệt vào hy hữu, hiếm có, khó gặp, báu vật ở trên thế gian.

Đức Phật so sánh một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện ở cuộc đời là hy hữu, hiếm có, khó gặp, một bậc tuyên thuyết đúng chánh pháp của Đức Phật là khó gặp, khó tìm, khó cầu, bậc thực hành giáo pháp là khó gặp, hy hữu, khó tìm và người biết ơn và nhớ ơn là cái người hy hữu, hiếm có, khó gặp, khó tìm và trong cái khóa tu này chúng ta đang thực tập cái tâm biết ơn và nhớ ơn, báo ơn và đền ơn là chúng ta cũng là những người đang đi trên con đường gọi là hiếm có, khó tìm, hy hữu.

"Sự xuất hiện của ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là ba?

Này các Tỳ-kheo, sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, khó tìm được ở đời. Người có thể thuyết pháp và luật do Như Lai tuyên thuyết, khó tìm được ở đời. Người tri ân, người biết ơn, khó tìm được ở đời. Sự xuất hiện của ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, khó tìm được ở đời." (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, XII. Phẩm Ðọa Xứ, Khó Tìm Ðược)

Làm sao phải luôn luôn sống với cái tâm biết ơn và nhớ ơn này vì nó quý lắm, đẹp lắm mà chúng ta đã nhắc từ hồi đầu khóa tu tới bây giờ. Tiếp theo Đức Phật dạy về cái đường lối đi tu tập sanh thiên giới tức là chúng sanh cao cấp, đầy đủ bảy cái điều này đó thì các vị trời được sanh lên thiên giới hoặc là làm vua trời.

Này các Tỳ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.

Thế nào là bảy cấm giới túc?

'Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng cha mẹ. Cho đến trọn đời, tôi kính trọng bậc gia trưởng. Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu hòa. Cho đến trọn đời, tôi không nói lời hai lưỡi. Cho đến trọn đời, với tâm ly cấu uế và xan tham, tôi sống trong gia đình với tâm bố thí, với tay sạch sẽ, hoan hỉ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí. Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thật. Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ, nếu tôi có phẫn nộ, tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ ấy'.

Này các Tỳ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)

Nhờ giữ gìn bảy cái giới này đầy đủ mà cái vị này được làm Đế-thích là thiên chủ của ba mươi ba cung điện ở tầng trời tam thập tam thiên, đó là trọn đời hiếu dưỡng cha mẹ, nhớ chữ hiếu dưỡng hai cái khác nhau. Hiếu thảo mà phải nuôi dưỡng, phụng dưỡng nữa, đó là cái giới thứ nhất của Đế-thích vua trời cai quản ba mươi ba cung điện ở tam thập tam thiên, thường thường vua coi một cung điện thôi mà vị vua này coi ba mươi ba cung, tam thập tam thiên là thiên chủ Đế-thích, vua trời. Ngài tu trọn đời hiếu dưỡng cha mẹ, trọn đời kính trọng bậc gia trưởng, người lớn ở trong gia đình, trọn đời nói lời nhu hòa, chúng ta thấy những cái này ngay cả người xuất gia cũng phải để ý rất nhiều đó, trọn đời nói lời nhu hòa, trọn đời không có nói lời hai lưỡi, không có ở đây nói vầy mà qua kia nói khác, không có nói lời đâm thọc, không có dối, đâm, độc, nhảm.

Ở trong bài vô thượng Phật đạo của mình là không nói dối, không đâm thọc, không nói lời ác độc, không nói lời nhảm nhí, phù phiếm. Cho đến trọn đời với tâm ly cấu uế và xan tham, lìa những cái ô nhiễm, cái nhơ bẩn, từ bỏ cái tham lam, keo kiệt, bủn xỉn. Tôi sống trong gia đình với tâm bố thí, với bàn tay sạch sẽ, hoan hỉ thí xã, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối các vật bố thí, khi cho mà cái tâm hạnh phúc, sung sướng, vui vẻ, hoan hỉ, nhiệt tình. Cho đến trọn đời tôi nói lời chân thật và cho đến trọn đời tôi không có phẫn nộ, nếu như có tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ ấy, nhanh chóng là hết tức giận liền.

"Ai hiếu dưỡng cha mẹ,

Kính trọng bậc gia trưởng,

Nói những lời nhu hòa,

Từ bỏ lời hai lưỡi,

Chế ngự lòng xan tham,

Là con người chân thực,

Nhiếp phục được phẫn nộ,

Với con người như vậy,

Chư Thiên tam thập tam,

Gọi là bậc Chơn nhơn." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, II. Phẩm Thứ Hai, III. Chư Thiên)

Chúng ta đứng lên đảnh lễ các thiện pháp, bốn dự lưu phần.

Thầy Thiện Huệ:

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Phật, ngài là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chánh pháp, pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng, diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với thánh giới, giới được các bậc thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định.

Sư Phụ: Chúng ta đã đi qua phần nhân đạo tổng quát, chúng ta bước qua thiên đạo trong bảy cấm giới túc rồi, một cái pháp tu rất là quan trọng của chư thiên nữa là tứ vô lượng, tâm ly dục và tứ vô lượng tâm. Cái tâm của chư thiên rất là thiện tâm, rất là thiện lành, từ bỏ thân ba, miệng bốn, ý ba. Thân ba nghiệp là sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Miệng bốn là nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác, mình thường học là nói lời thêu dệt, ở trong tạng Nikāya là nói dối, đâm, độc, nhảm, nói dối, nói ác độc, nói đâm thọc và nói nhảm nhí. Ý ba là tham, sân, si.

Chư thiên tu thập thiện, từ bỏ được mười điều bất thiện, thành tựu mười điều thiện. Từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ đâm thọc, từ bỏ nói ác độc, từ bỏ là nói phù phiếm, từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si hoặc là tà kiến. Chánh kiến của chữ thiên là nhân quả nghiệp báo chứ chưa phải là thánh tri kiến của bát chánh đạo, nếu vị nào tu được chánh kiến của bát chánh đạo thì vị đó trở thành thánh đệ tử thiên. Chư thiên ở đây đó chia làm hai dạng chư thiên là phàm phu thiên và thánh đệ tử thiên. Phàm phu thiên là chưa có thành tựu được chánh kiến ở trong bát chánh đạo cho nên hưởng phước thôi, khi các vị này hết phước thì phần lớn thường rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ví dụ mình sanh ra làm con của đại gia giàu nhất nước Việt Nam, hoặc là con của đại gia giàu nhất thế giới mình có lại đây dự khóa tu không? Tại sao vậy? Vì bận hưởng thụ dục lạc, bận ăn, bận chơi, bận hưởng thụ, đó là nói cái người thôi thì huống hồ chi chư thiên có thần thông quảng đại, ý sanh thân, tùy tâm muốn cái gì được cái nấy thì các ngài hưởng cái phước của mình, vui với cái phước của mình, thỏa mãn ở trong cái phước của mình thậm chí có các vị chư thiên nghĩ rằng cõi trời là Niết-bàn rồi cho nên một số người có quan niệm rất là sai lầm là cầu sanh cái cõi này cõi kia là bất diệt thì không phải.

Cái đó là thiên giới, là cái phước báu của chư thiên, tuổi thọ cực kỳ lâu nhưng vẫn nằm ở trong sanh tử, sanh diệt. Có sanh là có diệt, không thể nói có một cái cõi có hình có tướng này kia mà không diệt, cái đó là cảnh giới của chư thiên và cảnh giới của chư thiên phước làm ra cho nên hết phước thì cũng tan mất, biến mất vì đó là hữu vi, hữu lậu, hữu hình, hữu hoại. Chỉ có Niết-bàn vô tướng thì cái đó mới bất diệt, thánh đệ tử thiên thì khác, thánh đệ tử thiên sẽ không có bị đọa ở thiên giới xuống nhân giới. Thánh đệ tử Thiên là các vị chư thiên này là đệ tử của Đức Phật thì các vị này sẽ từ ở thiên giới đi thẳng tới Niết-bàn luôn để chứng thánh quả A-la-hán, không còn rơi xuống trở lại, gọi là thánh đệ tử thiên. Thánh đệ tử thiên không có đọa lạc nữa, không có thối chuyển nữa, cái phước người ta có sẵn rồi mà còn có trí tuệ nữa thì các vị này là chỉ có đi lên, gọi là tiến thẳng chánh giác không có rơi xuống, không có thối đọa.

Mình muốn được như vậy thì trước mắt phải giữ được năm giới, bốn dự lưu phần, tu hành lục niệm là những cái căn bản đã nói ở trên. Thiên đạo là sự thực tập sự ly dục mười giới, bảy giới cấm hoặc mình nói là thập thiện ly dục và tứ vô lượng tâm. Tại sao mình phải tu tập cái ly dục mới lên các cái tầng trời? Bây giờ nếu mà mình thích cái căn nhà của mình thì mình có muốn rời xa căn nhà không ạ? Mình thích thì làm sao mình rời được, phải không? Mình sẽ ở đó, nếu mình thích cái thân xác thịt, xương, máu như vậy mà có điều kiện thì chắc chắn là mình cũng sẽ có cái hơn nữa tại mình có điều kiện mà.

Bây giờ quý vị có tiền mà quý vị thích chiếc xe thì chiếc xe này hư rồi quý vị làm sao ạ? Mua chiếc khác, cũng vậy, tại vì cái tâm yêu, cái tâm thích, cái tâm muốn, cái tâm khoái đó mà hễ cái tâm thích, tâm muốn, tâm yêu, tâm thích, tâm khoái đó tương ứng với cái cảnh giới nào thì nó sẽ có ra cái thân ở trong cái cảnh giới đó, Cho nên con người là còn ái dục của nam nữ giao hợp, còn chư thiên các cõi cao cấp hơn là không có, các tầng giới chư thiên là chỉ cần nắm tay hoặc là ánh mắt nhìn, thậm chí các tầng chư thiên cao hơn nữa là không có ái dục, không có dâm dục, không có cái tâm dục. Các tầng vô sắc giới là thanh tịnh, nếu cái tâm dục còn nặng thì sanh lên chư thiên không được mà phải ở dưới cái cõi dục để tìm cái dục. Chính vì vậy bước đầu tiên chư thiên tập ly dục cho nên cái sơ thiền là ly sanh hỷ lạc địa, là ly dục, ly ác, ly bất thiện pháp, chứng và trú sơ thiền, có tầm có tứ.

Ly dục ở đây không phải nam nữ không mà là sắc dục, thanh dục, hương dục, vị dục và xúc dục. Cái tâm lìa từ từ, nó bớt, không có nặng nề về các cái dục đó, cái tâm nó nhẹ cho nên mới bay lên được, còn cái tâm nặng thì chìm xuống. Đức Phật có ví dụ giống như cái hồ nước thì có mấy cái người này đem nguyên một cái tảng đá thảy xuống dưới hồ nước rồi quỳ xung quanh cái hồ nước đó cầu nguyện sáng, trưa, chiều, tối khuya, trăm ngàn người nói "đá ơi đá, nổi lên đi đá ơi, ta lạy ngươi làm ơn ngươi nổi giùm ta đi". Cầu sáng, cầu trưa, chiều, tối cầu hoài, nguyện hoài đá nổi không? Tại sao không nổi? Vì nặng cho nên nó chìm xuống rồi giờ có người đổ dầu xuống rồi cũng quỳ xung quanh cầu nguyện "dầu ơi chìm xuống đi, ngươi hãy chìm xuống đi", cầu hoài, sáng cầu nguyện, trưa cầu nguyện, chiều cầu nguyện, tối cầu nguyện thì dầu có chìm xuống không? Nó vẫn không chìm tại vì nó nhẹ cho nên nó nổi.

"-- Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: 'Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn! Hãy trôi vào bờ, này tảng đá lớn!' Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, tảng đá lớn ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, có thể trồi lên, hay nổi lên, hay trôi dạt vào bờ không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, người nào sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: 'Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!' Nhưng người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

-- Ví như, này Thôn trưởng, có người nhận chìm một ghè sữa đông (sappi) hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu rồi đập bể ghè ấy. Ở đây, ghè ấy trở thành từng miếng vụn, hay từng mảnh vụn và chìm xuống nước. Còn sữa đông hay dầu thời nổi lên trên. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: 'Hãy chìm xuống, này sữa đông và dầu! Hãy chìm sâu xuống, này sữa đông và dầu. Hãy chìm xuống tận đáy, này sữa đông và dầu!'. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, sữa đông ấy, dầu ấy, có do nhân cầu khẩn của đám quần chúng đông đảo ấy, do nhân tán dương, do nhân chấp tay đi cùng khắp của quần chúng đông đảo ấy nên bị chìm xuống, hay chìm sâu xuống, hay đi xuống tận đáy không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân, theo chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: 'Mong rằng người này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!' Nhưng người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. (Tương Ưng Bộ, Tập VI – Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết)

Quý vị muốn nổi hay chìm? Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm, muốn cái nào? Nổi hay chìm? Do cái tâm lìa những cái dục của thế gian rồi vị này tu tập từ, bi, hỷ, xả, tu tập bốn tâm vô lượng, cái nào cũng vô lượng tâm hết. Cái tâm rộng lớn mà hôm qua chúng ta đã thực tập, cái từ, bi, hỷ, xả của chúng ta là có chánh tri kiến ở trong đó. Tập cái tâm thương rộng lớn, cái tâm trắc ẩn rộng lớn chứ không phải là cái ái thông thường, người nào thương mình thì mình mới thương, cái người không thương mình là mình ghét. Không phải vậy, cái tâm thương, cái tâm xót rộng lớn vô lượng cho nên cái người ở cõi trời xuống, hay là cái người ở dưới đi lên gặp biết không? Có đoán ra được không?

Cái người hiền hậu, phúc đức, cái tâm người ta hiền lương lắm dù người ta hết cái phước phải xuống đây thì mình nhìn thấy họ vẫn sáng sủa, hiền thiện, cái tâm từ ái. Nhiều khi ở dưới mới đi lên gặp cái mặt thấy ớn rồi, dữ dằn, hung dữ, hung hăng, dữ tợn do phần con nhiều hơn phần người, nói mấy câu thôi, cái ánh mắt nhìn thôi hoặc có hành động chút thôi là có thể chém giết, đâm, vô tù ra khám, án mạng, tử hình, chung thân thì rất sợ cho nên mình tu được tứ vô lượng tâm này là tuyệt vời lắm. Tâm thương, tâm xót, tâm mừng, tâm buông vô lượng, thương xót cùng khắp, vui mừng khi làm các thiện pháp, khi tu học và làm xong buông xả không có chấp thủ, không có nắm chặt, không có nắm giữ.

Từ cái chỗ này tiến lên thánh đạo. Nhân đạo lên thiên đạo giờ lên thánh đạo, cái thánh đạo này tuyệt diệu lắm, cái này tối thượng lắm. Bây giờ con hỏi quý vị một người khố rách áo ôm, cơm không đủ no, áo không đủ ấm, lang thang, lê thê lết thết ở ngoài đường, họ rất là khổ, đói lạnh, cơ hàn, thiếu thốn, không có nơi dung thân, không có tình cảm, tình thương của gia đình thì họ khổ, vậy người quyền uy, đứng nhất hạng có khổ không? Có lo lắng không? Có sợ mất ghế không? Có sống ở trong cái sự đề phòng không? Rồi một người xấu đau xấu đớn, xấu không dám nhìn gương là họ khổ đã đành rồi, một người hết sức là đẹp, hoa hậu hoàn vũ của quốc tế thì có khổ không? Bao nhiêu người đeo đuổi, bao nhiêu người để ý thậm chí có khi bị hãm hại nữa.

Một cái thân của con giòi ở trong cái đống phân thì nó thúi tha, nó bẩn thỉu, nó nhơ nhớt, nó nhỏ nhoi, một cái tấm thân cũng đầy dục ái, đầy bản ngã "ta cũng là con giòi mà ta đẹp hơn mi đó, mày đói còn tao có đống phân bự, ngươi không có cái gì ngươi ăn hết". Con giòi cũng có cái bản ngã của con giòi, cái thân chư thiên đi nữa cũng có tham, sân, si, bản ngã, như vậy nhìn lại chung tất cả ở trong mọi sự hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Đẹp, xấu, giàu, nghèo, hèn hạ hay là cao quý, thân con giòi ở trong đống phân hay là thân thiên giới thì tất cả cũng sanh, già, bệnh, chết, tham, sân, si, dục ái, khao khát, đói khát, thèm khát, khát ái, đầy vô minh, đầy bản ngã, đầy chấp thủ, đầy sầu, bi, khổ, ưu, não.

Như vậy tóm lại năm thủ uẩn đều khổ đau, đó là cặp mắt của thánh, đây mới gọi là tri kiến của bậc thánh, là thánh tri kiến cho nên cái nhìn của thánh đạo mới tối thượng là vậy đó. Nó soi vô cái bản chất, cái bản tánh, cái tánh chất của tất cả các pháp, hễ cái tâm còn nắm giữ ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, cái tâm còn vô minh, còn cái sự đói khát, thèm khát, khao khát, khát ái, còn đầy rẫy những cái hơn thua, ta đây, bản ngã thì cái tâm này dầu cho hiện hữu ở hình thái nào đều trong khổ đau. Đây là chỗ thâm sâu chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra đời mới chỉ ra được cái này thôi, đây gọi là thánh đạo.

Một đứa bé mồ côi nó có cái khổ của nó và một đứa bé con của đại gia giàu nhất hành tinh này nó vẫn có cái khổ của nó, đâu phải đứa con nhà giàu nhất sướng hết hoàn toàn đâu, nó khổ cái khác, nó cũng đầy rẫy những ham muốn, những thèm khát, cũng đau khổ trong cái tình cảm, đau khổ trong cái gia đình, nó đau khổ vì cái bản ngã, cái tôi của nó khi ai xúc chạm tới và nó đầy rẩy ở bên trong đó là tham, sân, si, dục ái, sầu, bi, khổ, ưu, não, đầy bất an, đầy lo lắng. Nó cũng có cái thân, có tim thì bệnh tim, có phổi thì bệnh phổi, có ruột thì bệnh đường ruột, có con mắt thì bệnh mắt, có cái lỗ tai thì bệnh tai, có mũi, có họng, thì có bệnh viện mắt, tai, mũi, họng, rồi ung thư, tai biến, đột quỵ đủ thứ kiểu hết, rồi nó cũng phải trải qua sanh, già, bệnh, chết. Nó mang một cái thân đẹp cỡ nào thì nó cũng đi ị ra một đống phân như nhau, bên trong tâm là những cái cảm giác khao khát, thèm khát, đói khát, khát ái, nó vẫn bất thỏa mãn hoài, nó cứ đòi hỏi hoài, nhiều khi càng có điều kiện nhiều chừng nào cái tham càng dữ dằn chừng đó.

Đó là bản chất của khổ, đây là cái chỗ mà thâm sâu nhất thánh trí tuệ gọi là chánh tri kiến, thánh tri kiến, là thấy biết của bậc thánh. Đó là chỗ cao thượng của Đức Phật và các bậc thánh hiền, các bậc thánh đệ tử khi bước đầu tu tập là các ngài đi thẳng vô cái chỗ thấy biết đó và các ngài hướng đến sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xuất ly tức là giải thoát. Các ngài nhàm chán cái thân này vì có thân là có bệnh, chỉ mới ngồi chút thôi là đau nhức rồi bây giờ ngồi đủ thứ kiểu hết trơn, người ngồi kiểu Nhật, người ngồi kiểu Ấn Độ, người ngồi kiểu Việt Nam, người ngồi kiểu Tây vì nó đau quá rồi biết sao giờ, có thân nó khổ vậy đó. Mọi người thấy rõ chưa? Lúc đầu thì vô ngồi đàng hoàng, một hồi quẹo qua ngồi chồm hổm lên, một hồi lại quẹo qua ngồi kiểu Nhật Bản, ngồi đủ kiểu, đó là nó chứng minh cái khổ.

Nóng chút nó cũng khổ, lạnh chút nó cũng bệnh, đói chút cái bụng nó kêu ọt ọt, no quá có khi bị trúng thực, cái gì cũng có vấn đề trong hết mà tất cả mọi vấn đề nằm ở cái vấn đề là có thân. Bây giờ con hỏi quý vị cái thận là từ ở đâu mà cắt cái mật? Ung thư gan, ung thư phổi, ung thư ruột rồi huyết áp cao, tai biến, đột quỵ, đủ thứ hết, tất cả những cái này là từ cái thân mà cái thân này tại sao có? Là tại vì nó tái sanh cho nên tất cả các bậc thánh là các ngài tu là muốn vượt thoát khỏi sanh tử. Mọi người thấy rõ chỗ này chưa? Mình còn đam mê sanh, mình khoái sanh, mình thích sanh, mình muốn sanh là mình còn thích khổ, mình muốn khổ, mình ham khổ, mình khoái khổ, mình chụp vô đúng một cái thân ung thư tùm lum, ung nhọt, ung hạch, ung bướu, Đức Phật nói cái thân này là cái ung nhọt chín lỗ, nó chảy ra cái gì là hôi dơ, hôi hám, nó chảy ra tanh hôi, nó chảy ra bất tịnh, nó chảy ra nhòm gớm.

"Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy. Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này." (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V). Một Ung Nhọt)

Cái miệng chảy ra cái gì? Nước miếng, cái lỗ mũi này chảy ra cứt mũi, cái lỗ tai này nó ra cứt ráy, con mắt này chảy ra ghèn, chảy ra nước đái, phân, cứt, không có cái gì sạch sẽ hết. Trong này nhìn thì có một cái lớp da như vậy, phủ ngoài là một lớp da trơn láng nhưng mà chỉ cần rọc một đường rồi banh ra là hoảng hốt chạy hết, không còn ai ở đây hết. Phủ ngoài là một lớp da trơn láng che đậy vô vàn thứ nhớp nhơ nhưng mà cái sự thật này bị che lấp rất kỹ, rất kín, rất khéo và tất cả chúng sanh là mù lòa, bị che đậy cho nên Thế Tôn là phơi bài những cái gì bị che kín là đó, đem đèn sáng và trong bóng tối để cho ai có mắt có thể nhìn thấy được các sắc, chỉ đường cho người lạc hướng.

Chúng ta vì vô minh, vì ngu si, vì mù lòa, vì khát ái, chấp thủ vô đây rồi cho đây là tôi, là của tôi, ai đụng vô tôi thì biết tay tôi, không ai chạm tới cái bản ngã của tôi là tôi hận, tôi thù, tôi phải xử lý họ tôi mới hả dạ, còn không thôi là tôi ăn không ngon ngủ không yên, tối nằm chiêm bao tức quá xá tức vì dám đụng chạm tới tôi, khinh khi tôi hả, khinh thường tôi hả, coi tôi không ra gì hết. Như thế là một cái chuỗi dài dài bất tận, hết thân này tới thân kia, cái dòng sanh tử nó cứ tiếp nối, tái tục, tái sanh, tái tạo, tái diễn, tái khổ, tái sầu, tái già, tái bệnh, tái chết rồi tái làm thây ma. Vì thế cái sự tu của các bậc thánh là chấm dứt tái sanh, liễu sanh thoát tử, ra khỏi dòng sống chết, không còn một thân con giòi nữa, không còn làm cái thân con trâu, con gà, con vịt, con heo, con chó, con bò, không còn thân cùi, ghẻ lở, què quặc, lê lết, bại liệt, ung hạch, ung thư, ung bướu, ung nhọt, không còn tất cả những cái thân đầy bệnh tật, bất tịnh, tai ương nữa, đạt được cái thân kim cang bất diệt, bất tử, tâm bất động giải thoát.

Đó là cái chỗ tối thượng, tối cao, tối tôn, tối diệu, quý nhất mà Đức Thế Tôn bậc thầy của chư thiên và loài người, bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác duy nhất, độc nhất vô nhị, không một ai ngang hàng, không một ai ngang tầm, không một ai sánh bằng, không có người thứ hai, một bậc độc tôn, tối tôn, tối thượng giữa tất cả các loài hai chân, bốn chân, nhiều chân, giữa tất cả các loài hữu tình, một vị chúng sanh duy nhất tìm ra con đường thoát khỏi lục đạo, tứ sanh, ngũ thú, cửu hữu, chỉ cho chúng ta một con đường bất tử. Cảm ơn Đức Phật không? Niệm Phật lên, ân đức của Phật là vô lượng, là vô biên, là vô cùng, là vô tận, không có bất cứ một chúng sanh nào trong mười ngàn thế giới này, ở trong tam thiên đại thiên thế giới này, trong tam giới, tứ sanh, ngũ thú, lục đạo mà có thể xưng tán hết công đức của Phật. Chúng ta cùng nhau đứng lên chắp tay hướng về thánh tượng của Đức Phật, là bậc duy nhất, là bậc độc nhất, là bậc tối cao giữa tất cả các loài hai chân, bốn chân, nhiều chân, là một chúng sanh duy nhất không có người ngang hàng, không có người ngang bằng, không có người so sánh, không có người xứng tầm.

Là bậc cả thế gian tôn kính, cả thế giới tôn thờ, cả lịch sử tôn trọng, là bậc khai nhân thiên nhãn mục, mở mắt cho người trời, là bậc chỉ ra con đường để làm được một con người hiền thiện, không rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Là bậc chỉ ra thiên đạo, đạo lộ của chư thiên là cảnh giới cao thượng, thanh cao, cao đẹp, phước lành, phước đức, phước lạc, phước báo, là bậc phạm thiên ta bà chủ cúi lạy dưới chân của ngài. Là bậc mà tất cả các vua trời, thiên chủ Đế-thích, phạm thiên, tứ đại thiên vương tất cả đều chấp tay cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng. Một chúng sanh không có si ám, chúng sanh duy nhất, một chúng sanh với lòng đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, một chúng sanh ở giữa các chúng sanh xuyên thủng và phá vỡ khối vô minh uẩn to lớn. Ngài bẻ gãy ngọn cờ kiêu mạn, tẩy sạch tham sân, diệt tận bản ngã, chứng nhập ngũ uẩn thánh trí, viên mãn đời sống ly tham, tâm từ bỏ hoàn toàn, sắc; thọ; tưởng; hành; thức.

Ngài là mặt trời thánh tuệ giữa thế gian hôn ám trường dạ vô minh, là bậc đại đạo sư đưa đường dẫn lối, chỉ điểm, khai thị, tuyên thuyết về đạo lộ diệt khổ. Là bậc pháp chủ, bậc pháp nhãn, là bậc pháp bổn, là bậc chủ của pháp, là con mắt của pháp, là cốt lõi của pháp, là cội gốc của pháp, là bậc chứng đạt viên mãn pháp tánh. Bậc khai thị pháp, tuyên thuyết pháp, mở bài pháp, là bậc truyền trao thánh pháp, đã sau 2600 năm và giá trị của thánh pháp vẫn là bất hoại, bất diệt, bất tử, vẫn chiếu sáng nơi này, vẫn chói sáng nơi này, vẫn bừng sáng và rực sáng tại thế gian này.

"Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ." (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)

Hình hài này là tật bệnh, là bệnh hoạn, là ốm đau, là suy lão, là biến hoại, là bại hoại, là hoại diệt, là diệt vong, là tử vong. Cảm giác này là duyên sanh, là vô thường, là khổ đau, phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ.

"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)

Những hình bóng này, những ám ảnh vọng tưởng này, hư tưởng, huyễn tưởng, ảo tưởng, mộng tưởng, điên đảo tưởng này giết hại chúng ta. Những suy nghĩ này, những lời nói lầm thầm này hoặc thô hoặc tế, hoặc thắng hoặc liệt, hoặc xa hoặc gần, quá khứ, hiện tại, vị lai chớ có coi nó là ta, là của ta, là tự ngã của ta. Thức này, sự rõ biết này là trò ảo thuật, là đại ảo thuật gia, cả thế gian này, cả thế giới này là một kịch trường vĩ đại, là những vở tuồng, là những màn kịch, là những vở kịch của lòng khao khát, ham muốn, dục vọng, là những vở kịch, những tuồng kịch của những tâm thức đầy sân hận, hơn thua, khẩu tranh, cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh, đầy nước mắt, đầy máu, đầy máu lửa.

Tâm thức này là những vở kịch nhỏ, thân xác này là những con rối để dục vọng sai khiến, để bản ngã điều khiển, đời sống này là một tuồng kịch lớn, thế giới này là một vở kịch vĩ đại dối lừa, dối gạt, dối trá, giả dối. Vở kịch của vô thường, vở kịch của khổ đau, vở kịch của vô ngã, trống rỗng, trống không, kết thúc vở kịch này là bằng nước mắt, bằng sự chết chóc và diệt vong. Thế Tôn ơi! Ngài là bậc đại tỉnh thức, ngài là bậc đại giác ngộ, ngài đã hoàn toàn tỉnh cơn đại mộng, ngài đã hoàn toàn thoát ra khỏi kịch trường vĩ đại của thế gian này, còn chúng con vẫn còn là những con rối, vẫn còn đóng những tuồng kịch sầu, bi, khổ, ưu, não. Chúng con hôm nay được ngài lay tỉnh, được ngài đánh tỉnh, kêu tỉnh, thức tỉnh, chúng con giờ này thật sự là thức tỉnh, thật sự là tỉnh giấc, tỉnh mộng, tỉnh táo, tỉnh ra. Chúng con chợt tỉnh cơn mê, cơn đại mộng này, tuồng mê dài này con đã được tỉnh ra.

Con nguyện từ nay cho đến mạng chung đi theo con đường tỉnh thức mãi mãi. Đức Thế Tôn ơi con nguyện từ nay cho đến mạng chung con sẽ không bị tâm thức này lừa gạt nữa để nhìn thấy được ngũ uẩn. Lúc nào con cũng phải ghi nhớ để hiểu rõ được nhân quả nghiệp báo. Đức Thế Tôn ơi nguyện từ nay cho đến mạng chung con luôn sống trong tâm hiền thiện, từ, bi, hỷ, xả, khiêm cung, nhúng nhường, khiêm hạ, từ ái. Đức Thế Tôn ơi con cảm ơn thánh pháp của ngài nhiều lắm, con như người lạc đường đã được ngài chỉ lối và nay đã thấy được hướng đi đúng đắn, chánh đạo. Đức Thế Tôn ơi con cảm ơn chúng Tăng nhiều lắm, cảm ơn các bậc thánh hiền, cảm ơn bậc đạo sư khai mở thánh trí ngũ uẩn cho con nhìn thấy được thân tâm đầy ô nhiễm này, cấu nhiễm này. Con nguyện từ nay cho đến hơi thở cuối cùng thanh lọc, tẩy sạch những cấu nhiễm của thân tâm. Đức Thế Tôn ơi con nguyện từ nay cho đến hơi thở cuối cùng luôn tìm lỗi của chính mình, đầy đủ các giới hạnh, đức hạnh của một người tu.

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm biết này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.