Công Dụng 16 Hơi Thở - Quán Vô Thường - Ly Tham - Đoạn Diệt - Từ Bỏ
TINH HOA NIKĀYA 3
CÔNG DỤNG 16 HƠI THỞ
QUÁN VÔ THƯỜNG - LY THAM - ĐOẠN DIỆT - TỪ BỎ
–Thích Minh Thành–
Ni trưởng: Phương pháp ngồi thiền thì với cái ba điều kiện đó là rõ biết trước mặt, rồi cảm giác toàn thân, rồi nội tâm tỉnh giác thì cái phương pháp ngồi thiền như vậy với lại bài kinh tứ niệm xứ thì con nhớ trong niệm thân trước tiên là những hơi thở vô hơi, thở ra dài ngắn rồi cũng có cảm giác toàn thân, có an tịnh thân hành của tứ niệm xứ là như vậy. Như vậy thượng tọa đưa ra cái phương pháp hồi thiền như vậy có phải nằm trong thân?
Sư Phụ: Dạ thưa dạ đúng vậy ạ, từ ở trong phần niệm thân của thân hành niệm tứ niệm xứ rút gọn lại.
Ni trưởng: Vậy thì con được rõ điều đó, tức là biết rõ được ba cái pháp đó là nó nằm trong cái niệm thân của tứ niệm xứ. Dạ bạch thượng tọa, bây giờ con xin được hỏi một cái việc thứ hai nữa, trong cái thực hành có những lúc con không niệm được, con không có cái cảm giác toàn thân được mà con phải niệm. Tức là con vô là con phải niệm hơi thở, sau khi niệm hơi thở xong rồi an trú rồi con mới cảm giác toàn thân chứ con không có đi vô thẳng được cái cảm giác toàn thân. Như vậy thì nó là như thế nào, mong thượng tọa chỉ dạy.
Sư Phụ: Dạ thưa như vậy là đúng, thường thường mình thực tập là đầu tiên là cảm nhận hơi thở, kế đó là cảm nhận cơ thể, sau đó là cảm giác toàn thân. Đó là cái trình tự nó vậy, có điều đa số chúng ta thực tập thiền là quá đặt nặng về hơi thở, quá chú trọng cái hơi thở và thường thường dừng lại ở cái hơi thở. Các vị hướng dẫn thiền thường thường là cứ hơi thở vào biết vào, ra biết ra, ngắn biết ngắn, dài biết dài rồi cứ theo hơi thở suốt luôn, thậm chí là cả cái thời thiền. Nếu vị dừng lại tại đây thì quá là uổng vì cái pháp niệm hơi thở đó là một pháp rất là nhỏ, nó không có đủ để phá vỡ được và xuyên thủng được cái vô minh, tham ái, chấp thủ. Vì thế mình chỉ mượn cái sự an tịnh, lắng dịu, cảm nhận hơi thở lúc đầu để mình làm cho lắng dịu thân, cái hơi thở còn gọi là thân hành.
Thân hành là cái sự vận hành của thân, cái sự vận hành của thân này lấy hơi thở làm gốc cho nên trong kinh tạng Nikāya nói thân hành tức là hơi thở. Vì cái hơi thở nó là cái mạng căn, căn bản của sự sống, ngừng thở là chết cho nên mới lấy cái hơi thở làm cái phương tiện để làm lắng dịu cái thân. Mình dừng lại ở cái chỗ đó, mình không đi vào trong cái cảm giác thì như vậy mình chỉ dừng lại ở phần thân thôi, chính vì vậy mà mình đi vào trong cảm giác là mình đi vào tới cái thọ là cái gốc rễ của tâm. Chúng ta thấy cái tứ niệm xứ là tuyệt diệu tối thượng lắm, Đức Phật dạy tuần tự, thứ lớp giống như đi cái cửa rồi mới vô trong, từ từ mới đi vào ở trong chánh điện, cái hơi thở này làm cho an tịnh cái thân, thân hành, từ cái cảm giác này mới làm cho lắng dịu cái tâm hành.
Thân hành là những cái vận hành của thân, tâm hành là những cái hoạt động của tâm. Con nói trình tự chúng ta dễ thấy, khi thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng thì cái bài đó là cái bài thiền lệnh. Cái cảm giác hơi thở thì phần đó là phần điều thân, làm cho mình an tịnh, làm cho mình yên lặng, làm cho cái thân dễ chịu. Từ cái thân dễ chịu bắt đầu mới cảm nhận cái tâm, khi mình cảm nhận cái tâm mà mình có cái tâm đang như thế nào tức là cái thọ, cái tưởng, cái hành của mình, nói đơn giản là cái thọ. Coi cái thọ như thế nào, nếu nó còn dao động, nó chưa có được an tịnh thì mình làm cho cái cảm thọ này lắng xuống, dịu xuống, lặng xuống. Như vậy là về tâm, sau đó chẳng những cái thọ này an tịnh, lắng dịu mà còn làm cho cái thọ này dễ chịu, nhẹ nhàng.
Sau khi làm cho nó dễ chịu, nhẹ nhàng, ở đây là mười sáu hơi thở thì đức Phật làm cho hân hoan. Với tâm hân hoan tôi sẽ thở vô, với tâm hân hoan tôi sẽ thở ra, hít vào thở ra là một cái sự hân hoan, dễ chịu, sau khi làm cho thân an tịnh, tâm lắng dịu, thọ vui vẻ, hân hoan thì bây giờ bắt đầu từ từ mới đi vào cái tâm định tĩnh, làm cho cái tâm yên lại những cái những cái tưởng, những cái hành. Từ cái thọ lắng dịu này làm cho các hình bóng cũng lắng dịu, những cái suy nghĩ lắng dịu xuống. Khi làm cho nó lắng dịu xuống hết rồi, làm cho nó yên định, khi làm cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức này lắng dịu, yên định, định tĩnh thì tới phần "với tâm giải thoát tôi sẽ hít vào, với tâm giải thoát tôi sẽ thở ra", làm cho cái tâm của mình thoát ra khỏi cái thân và những cái thọ; tưởng; hành đó, không bị chi phối ở trong ngũ uẩn nữa.
Đây rất là sâu sắc vì trong mười sáu hơi thở đó thâm sâu lắm, nếu mình thực tập cái này cho nó nhuần nhuyễn thì tuyệt vời lắm. Đi vào trong cái nội tâm định tĩnh, sau khi định tĩnh thì cái tâm thoát ra, cái tuệ thoát ra, tức là mình được cái trí của ngũ uẩn, cái tuệ của ngũ uẩn đó. Mình không bị cái ngũ uẩn nó xâm chiếm, áp đảo, khống chế, làm chủ mà mình có một cái trí thoát ra ngũ uẩn để nhìn lại ngũ uẩn. Chính vì vậy mà mười sáu hơi thở không phải là đơn giản, rất là sâu sắc, tùy theo khả năng tu học của mình mà mình cảm nhận, có khi người ta cảm nhận chỉ có một, hai, ba, bốn hơi thở đầu thôi là đã làm thiền sư rồi đó, vài hơi thở đầu thôi là đã hướng dẫn thiền thậm chí là cả quốc tế chứ không phải bình thường đâu. Những hơi thở càng về sau là những thở về quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt, quán từ bỏ, những cái phép quán này nó vi diệu lắm.
Khi thoát ra nhìn lại thì mới nhìn thấy cái tính chất, tên tuổi, mặt mũi, tánh tình, bản chất của ngũ uẩn thì từ cái trí đó mới nhìn lại. Con đọc một cái đoạn ở trong giải thoát trí để chúng ta thấy nó có liên hệ với nhau rất là sâu sắc, đây là bài giải thoát trí của bậc đạo sư.
"Rồi với Tuệ từ tâm an tịnh,
Xoay lại nhìn lậu hoặc trong tâm,
Nhận ra các nhiễm ô ngầm,
Vẫn còn nhè nhẹ âm thầm trong tâm,
Tiếp tục quán sát năm thủ uẩn,
Quán với tâm chẳng ái, chẳng tham,
Độ ô nhiễm sẽ giảm dần,
Đến khi hết nhiễm, tâm thành sạch trong.
Dục nhiễm, hữu nhiễm, vô minh nhiễm,
Tâm tẩy trừ ba sự nhiễm này,
Khi ô nhiễm đã tẩy xong,
Thì tâm trong sạch như dòng nước trong.
Tẩy dục, hữu, vô minh hết sạch,
Tâm không thầm chấp bất cứ gì,
Khởi lên Trí biết rõ ràng:
“Tâm này trong sạch chẳng còn nhiễm ô”.
Tâm chẳng động trong khi nói nín,
Tâm chẳng lay trong lúc đứng đi,
Tâm không động nhiễm đêm ngày,
Nay là đời cuối, không còn tái sanh."
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Ni trưởng hay hỏi con về phần chỉ quán là cái này. "Rồi với tuệ từ tâm an tịnh", tâm an tịnh tức là chỉ, tuệ tức là quán, hai cái này kết hợp với nhau, từ cái tâm an tịnh đó có một cái tuệ rất là sâu sắc về ngũ uẩn.
"Rồi với Tuệ từ tâm an tịnh,
Xoay lại nhìn lậu hoặc trong tâm,
Nhận ra các nhiễm ô ngầm,
Vẫn còn nhè nhẹ âm thầm trong tâm,"
Đây là định tuệ đó, là chỉ quán, cái tuệ này không phải là cái tuệ bình thường mà là Thánh tuệ, thánh trí ngũ uẩn là cái trí đi ra ngũ uẩn để nhìn lại ngũ uẩn, giống như khi mình quán ba mươi hai thể trược thì cái trí đó đâu phải là cái thức bình thường đâu, nó nhìn trở lại cái sắc uẩn này, nhìn trở lại thọ; tưởng; hành; thức này. Nhìn lại coi cái nào còn dơ, cái nào còn cấu cái nào còn uế, cái nào còn nhiễm để nó rửa, nó tẩy, nó chùi, nó lau, nó quét, nó dọn vệ sinh, nó thanh lọc. Thành ra chúng ta thấy cái sự ngồi thiền của tứ niệm xứ là rất là thâm sâu và nó rất là tuần tự, có cái thứ lớp từng bước, từng bước rất là rõ ràng. Con nhắc lại đầu tiên là điều thân, trong cái điều thân có cái sự điều hòa hơi thở, cảm nhận hơi thở, lắng dịu hơi thở. Kế đó tới phần điều tâm là cảm nhận cảm thọ, làm cho cảm thọ lắng dịu, dễ chịu, tiếp tục làm cho các tưởng, các hành, những hình bóng lắng dịu xuống, những suy nghĩ lắng dịu xuống, làm cho tâm mình lắng dịu, các thọ; tưởng; hành lắng dịu. Sau khi lắng dịu làm cho hoan hỉ, hân hoan.
Chúng ta nhớ cái này là rất là quan trọng cho nên tại sao các vị thánh Tăng các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật mình đọc ở trong kinh thấy các ngài có khi thiền định hoặc là thuyết pháp sáng đêm. Thế Tôn nói giờ ta mỏi lưng, ngài Mục-kiền-liên và ngài A-nan trải cái y cho ta nằm xuống, các Tỳ-kheo đã vượt qua cơn buồn ngủ các ông tiếp tục nói pháp sáng đêm. Đức Phật nằm đó nghe, tiếp tục nói sáng đêm.
"Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggalàna:
-- Này Moggalàna, chúng Tỳ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggalàna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỳ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Mahà Moggalàna vâng đáp Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Ðộc, VI. Dục Lậu)
Nếu các ngài không có pháp lạc, pháp hỷ thì làm sao sáng đêm được? Mình thấy nhiều đoạn trong kinh là các ngài hoan hỉ ở trong pháp thậm chí các ngài trú trong thiền định dài lâu. Như vậy là có pháp hỷ, có thiền duyệt chính vậy cái sự tu hỷ này rất cần thiết, mình thiếu cái hỷ đó là cái tâm mình nó héo hon, nó gầy guột, nó suy dinh dưỡng, nó ốm yếu, tiều tụy, còn cái tâm đầy đủ pháp hỷ, đầy đủ cái thiền duyệt, đầy đủ cái sự bổ dưỡng ở trong cái pháp tu của mình thì cơ thể của mình tươi tắn và cái tâm thức của mình ngọt ngào, nó dạt dào lòng từ mẫn, lòng yêu thương và có nhiều sự hỷ lạc, bình an, bình ổn, bất cứ cái chuyện gì tới cũng nhẹ nhàng. Cho nên luôn luôn ở trong đó chúng ta có hỷ lạc, nhiều khi mình tu ngày mười tiếng mình cũng vẫn hoan hỉ, vẫn chịu bởi vì giống như mình được uống sữa tươi, được uống nước pháp, được ăn cơm giác ngộ, nằm chỏng Niết-bàn, ở nhà Như Lai mà sao mình không hoan hỉ được. Cho nên mình vui lắm.
Từ cái sự hoan hỉ đó mình cho nó lắng dịu xuống, bắt đầu định tĩnh, tâm yên, tâm định. Từ cái yên định đó thì bây giờ thoát ra khỏi cái ngũ uẩn, tập thoát ra, tập nhìn trở lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, nó trở thành đối tượng của trí tuệ. Còn nếu mình chưa có cái trí ngũ uẩn thì mình với ngũ uẩn là một thôi, đồng hóa mình với ngũ uẩn, mình nhận ngũ uẩn là mình, mình ở trong nó, nó xâm chiếm mình, nó làm chủ mình, nó điều khiển mình, nó dẫn dắt mình. Còn khi mình có cái trí rồi thì mình vượt ra nó và mình nhìn trở lại nó, quán chiếu trở lại nó cho nên chỉ hay là quán thì cũng là ở trong ngũ uẩn thôi, còn cái trí tuệ đó nó không thuộc về chỉ quán. Chỉ hay quán cũng là cái trạng thái của tâm thôi, còn cái tuệ là luôn luôn có mặt, luôn luôn được thấp sáng, luôn luôn được chói sáng, bừng sáng, chiếu sáng, rực sáng mà cái tuệ về ngũ uẩn đó là cái tuệ bất sanh bất tử, sống được cái tuệ đó là mới đạt được bất tử. Sau đó là bốn cái pháp xuyên suốt.
Ni trưởng: Thượng tọa cho con hỏi chỗ này, thượng tọa vừa nói lúc mình ngồi thiền mà cái cảm thọ mình biết nó là cảm thọ, nó không có dính tức là cái tâm nó đau, cái cảm thọ đau nhưng mà cái đó là cái cảm thọ đau chứ không phải là mình đau. Thì cái không phải mình đau đó là tuệ?
Sư Phụ: Dạ vâng, là cái trí, là cái tuệ của mình, còn nếu mình nhập cuộc với cảm thọ là mình sẽ bị cái đau đó chi phối. Rồi giờ có cái gì vui cái mình nhập cuộc với cái cảm thọ là mình bị cuốn trôi, có cái khó chịu cái mình nhập cuộc với cảm thọ thì mình bị thiêu đốt. Mình có cái trí về ngũ uẩn thì mình nhìn thọ đó chỉ là thọ cho nên bốn cái pháp quán này rất quan trọng, quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt và quán từ bỏ. Những cái pháp quán này mình thực tập thường xuyên mình có một cái sức mạnh khủng khiếp lắm, thánh lực, pháp lực, đạo lực, trí lực, tuệ lực, tính - tấn - niệm - định - tuệ, ngũ lực và làm cho mình có một cái sức mạnh của bậc thánh. Sức mạnh của bậc thánh không có gì ghê gớm hết, nó chết là chết à, chừng nào chết cũng được hết, đó là sức mạnh của bậc thánh thành ra quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt hay là hoại diệt cũng được, quán từ bỏ. Đây là tối hậu chiêu, muốn nhập lưu thì không thiếu cái này được, muốn dự lưu là không thiếu cái này được, cái đây là quyết định để nhập lưu, quyết định để dự lưu, quyết định để đi vào chánh tri kiến.
Nãy giờ là con chia sẻ cách để thực tập mười sáu hơi thở, công năng, tác dụng, cái diệu dụng của mười sáu hơi thở. Khi cái tâm mình đã có sự an tịnh, đã có một cái sự thoát ra ngũ uẩn, trong một cái trí đó mình nhìn lại ngũ uẩn, mỗi một cái thấy là mình đưa ngũ uẩn vô hết, sắc vô thường tức là cái cục thịt đang ngồi thiền đó, cái cục thịt này vô thường, những cái cảm giác đang có vô thường, hình bóng trong tâm này vô thường, suy nghĩ này vô thường, biến hoại, cái nhận thức này cũng là duyên sanh, vô thường. Dùng cái trí vô thường này soi vô trong cục thịt này, soi vô trong cái vũng nước đang ngồi đó, soi vô trong cái đốm lửa đang ngồi đó, nó tắt cái lửa là lạnh ngắt, cái vũng nước này rỉ chảy ra hay trục trặc thì nó cũng kết thúc đời sống, hay chỉ cần cơn gió đang thở hít vô hít ra chỉ là làn gió thôi chứ không có ai đang ngồi thiền hết, không có một con người nào ngồi thiền hết, chỉ là làn gió thôi.
Đó là quán tứ đại, khi mình quán tứ đại thì mình từ bỏ ta và của ta, ngay chỗ đó mình phá ngã luôn, đập vỡ cái sự chấp thủ vào trong sắc thủ uẩn này. Nó phá mạnh lắm, cái thánh trí này con ví dụ là bom nguyên tử phá banh hết, phá tan, phá sập, phá nát, phá không còn cái gì hết. Khi mình ngồi để mình quán là cái trí mình rực sáng mà mình chết ngay chỗ đó là thánh đệ tử thiên, lập tức đi thẳng lên luôn, hơn dự lưu thành bất lai luôn chứ không phải dừng lại chỗ dự lưu nữa. Nhất là lúc mình gần chết thì các vị thánh Tăng thời Đức Phật là ào ào vô từ sơ, nhị, tam, tứ mà nhất là bất lai với A-la-hán là nhiều lắm. Các vị Tỳ-kheo lúc sắp ra đi là các ngài triển khai tất cả những cái sức mạnh tri kiến mà các ngài có được từ cái giới đức thanh tịnh tới cái tâm thiền định, cộng với cái tri kiến lực mà các ngài đã có thì ngay lúc đó các ngài bất lai và A-la-hán nhiều lắm lúc gần chết, lúc sắp sửa mạng chung hơi thở cuối cùng.
Cho nên cái này cần phải được triển khai mà cái này phải được quán nhiều thật là nhiều và Đức Phật nói ở trong Tăng Chi Bộ kinh hoặc là Tương Ưng Bộ là quán những cái này là không có giới hạn, là đi, đứng, nằm, ngồi, suốt ngày, suốt đêm cũng được, không có giới hạn. Những cái phép quán này là không có giới hạn, cứ tác ý hoài, cứ năm ba phút tác ý, một hai phút tác ý, cứ rảnh tác ý, cứ bốn năm phút rảnh tác ý, cứ rảnh là tác ý lên "sắc này vô thường" giống như niệm Phật, giống như đọc thần chú vậy đó, giống như mình tụng chú vãng sanh, chú đại bi vậy đó. "Sắc này vô thường, những cảm giác này là cái thứ vô thường, cái thứ duyên sanh, ba cái hình bóng này là ám ảnh, là cái thứ tào lao, cái thứ giả dối, tất cả những cái suy nghĩ này là khổ đau thôi, là giết người, những cái nhận thức này là trò ảo thuật không có cái gì hết", trong kinh Đức Phật nói sắc giống như hòn bọt, thọ như bông bóng nước, hành giống như cây chuối, tưởng giống như rán mặt trời và thức giống như trò ảo thuật. Chúng ta dựa theo những bài kinh đó để mình quán.
Sắc này là cái thứ không đáng để cho mình tham, cảm giác này là thứ không đáng cho mình tham, tưởng này là thứ không đáng cho mình tham, cần phải lìa bỏ nó, suy nghĩ cũng vậy, nhận thức cũng vậy, là cái không đáng để tham. Sắc này là pháp đoạn diệt, thọ là pháp đoạn diệt, tưởng này là pháp đoạn diệt, bại hoại, hành này là pháp đoạn diệt, thức này là pháp đoạn diệt. Sắc này đáng phải từ bỏ, cảm giác này là đáng từ bỏ, hình bóng trong tâm này là đáng từ bỏ, những suy nghĩ này là đáng từ bỏ, nhận thức này là cái thứ cần phải từ bỏ. Đây là quán pháp trên pháp ở trong mười sáu hơi thở, cái này được triển khai liên tục, thường xuyên, bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào, bất cứ hoàn cảnh nào.
Ni trưởng: Thưa thượng tọa, khi nãy thượng tọa nói cái này là quán pháp trên pháp.
Sư Phụ: Dạ vâng.
Ni trưởng: Cái này mình đang quán về thân như vậy đồng thời nó cũng là quán pháp luôn?
Sư Phụ: Nãy giờ là con nói thân - thọ - tâm - pháp luôn rồi đó. Dạ là hết tứ niệm xứ luôn rồi, thật ra thì như hồi hôm con có chia sẻ thì tất cả mọi cái không có cái gì nhiều hết. Tất cả mọi cái này để đánh cái tâm tham ái của mình đối với ngũ uẩn thôi, chỉ cần đạt cái đó là thành công, ái tận giải thoát, làm mọi thứ là để cho mình đừng ham, đừng thích, đừng có khoái ngũ uẩn này nữa, mình rời xa nó, mình từ bỏ nó, mình thoát ra khỏi nó. Một người hướng tâm đến cái sự từ bỏ, thoát ra ngũ uẩn một cách mạnh mẽ là hướng dự lưu, một người xác quyết một trăm phần trăm là từ bỏ ngũ uẩn này thì nhập lưu rồi, sau đó là dọn dẹp những cái rác bẩn ở trong tâm cho đến cái ngày mà nó từ bỏ hoàn toàn là bất lai vô sanh. Trọng tâm của nó là nhiêu đó thôi tức là không ham, không thích, không khoái, không muốn tiếp tục, tái tạo, tái diễn, tái sanh cái sắc; thọ; tưởng; hành; thức này nữa. Đó là câu hỏi của Ni trưởng con chia sẻ một cách đầy đủ về mười sáu hơi thở, công năng, tác dụng, giá trị, lợi ích hiệu quả của phần mười sáu hơi thở cũng là tóm tắt bài kinh tứ niệm xứ, cũng là cái sự quán chiếu là quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp là nãy giờ đó.
Ni trưởng: Kính bạch thượng tọa vậy thì cái quán mười sáu pháp này có dính vô cái nãy con hỏi cái cảm giác toàn thân. Tức là trong cái lộ trình thượng tọa trình bày thì nãy giờ nói về quán hơi thở, từ cái quán hơi thở phát sinh ra những cái khác mà cái này chắc tụi con phải học nhiều lần chứ giờ chắc không có tiếp thu một cách trọn vẹn được đâu. Nhưng mà có khái niệm như vậy thì con muốn hỏi cái cảm giác toàn thân nó có ở trong nãy giờ không ạ?
Sư Phụ: Dạ có, cái phần quán thân đó ạ, con nhắc lại thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng, cảm nhận hơi thở là phần quán thân, điều thân. Tới cái phần quán thọ là cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, cảm giác toàn thân và an tịnh, lắng dịu là cái phần thọ, tới phần tâm là nãy giờ những cái phần làm cho tâm định tĩnh, làm cho tâm an định, làm cho tâm thoát ra sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là cái phần quán tâm. Từ cái trí tuệ bước ra khỏi ngũ uẩn để nhìn lại thì bắt đầu mới quán ngũ uẩn này là vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ là quán pháp.
Thành ra cái bài này nó sâu mà nó trùm chứ không phải là chỉ cái câu hỏi của Ni trưởng rất là ngắn gọn thôi, nhỏ nhưng mà con triển khai luôn để mình thấy cả cái lộ trình luôn. Nhiều khi mình học tứ niệm xứ nó mênh mông, bao la nên học hoài mà không thể nào nắm được nhưng mà ở đây tóm thâu lại hết pháp hành. Dạ con thỉnh quý Ni sư, quý sư cô có hỏi gì thêm không chứ con chia sẻ cái này thì nó hơi sâu sắc một chút, nó sâu sắc mà nó bao trùm luôn để mình nghe từ từ và mình thực hành từ từ, nhiều khi vô thường rồi con đâu còn về gặp được Ni trưởng đâu thành ra sẵn nói luôn.
Sư cô 1: Mô Phật kính bạch thượng tọa, hồi tối giờ thượng tọa giảng con nghe được là nếu mình muốn nhận cảm giác toàn thân, với cái cảm giác toàn thân thì mình vô ngồi thiền thì đầu tiên mình rõ biết rồi tới cái cảm giác toàn thân. Khi mình rõ biết rồi thượng tọa nói mình phải tác ý, cái này con hiểu vậy không biết đúng không, mình tác ý đưa vô cái cảm giác toàn thân. Khi mình cảm giác toàn thân từ đầu cho đến chân như vậy nội tâm mình mới tỉnh giác, khi nội tâm tỉnh giác thì mình mới biết được cái tên tuổi, cái mặt mũi, cái tánh tình, cái bản chất của ngũ uẩn này. Khi mình biết được cái tên tuổi, mặt mũi, bản chất của ngũ uẩn này là là vô thường, khi mình thấy được cái bản chất đó rồi nó qua tới chỗ vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ này không bạch thượng tọa?
Sư Phụ: Dạ đúng rồi, bản chất của nó là mấy cái này nè, là cái thứ mà cần phải từ bỏ, cần phải vứt bỏ, quăng bỏ, liệng bỏ i tại vì nó là cái đống khổ.
Sư cô 1: Mô Phật, con có cái thấy này, khi cảm giác toàn thân thì mình phải tác ý mình đưa vô cảm giác toàn thân chứ không phải là mình thực hành rồi mình rõ biết, từ cái rõ biết có cái gì trong tâm mình nổi cộm lên thì cái đó là cảm giác toàn thân, hay là mình phải tự mình phải tác ý rồi mình mới đưa vô để cảm giác toàn thân, con chưa rõ cái đó.
Sư Phụ: Tất cả sự tu mình đều phải có tầm, có tứ hết, là sự hướng tâm. Tầm đây là sự hướng tâm và tứ là mình an trú vào cái đối tượng mà mình hướng tâm. Thí dụ mình muốn cảm giác toàn thân thì phải có một cái tâm hướng về cái thân, chúng ta hiểu được cái này không? Giống như mình muốn đi vô trong giảng đường thì phải từ hướng ngoài mình đi vô chứ, thì nó phải hướng tới cái đối tượng của nó, như vậy mình quay trở về cái thân để mình cảm nhận cái thân thì cái đó gọi là tầm. Hướng tâm về đó cái, tâm mình phải hướng về đó chứ mình đi qua cái hướng khác thì mình đâu có cảm nhận được thân, nếu mình nhìn cảnh ngoài này kia thì làm sao cảm nhận được thân cho nên mình phải quay chở về, mình hướng về cái thân để mình cảm nhận cái thân. Sau khi mình quay trở về cái thân cảm nhận cái thân thì mình an trú trên cái pháp hành đó, gọi là tứ, là mình an trú trên đó, mình hướng về nó và mình an trú ở trên nó. Ví dụ con ong hướng về đóa hoa thì nó bay tới và khi tới nó đậu vô trong đó, cũng vậy cái tâm mình hướng về thân để cảm nhận thân và sau đó an trú ở trên cái cảm giác toàn thân đó. Chỗ này rất quan trọng.
Ni trưởng: Thượng tọa nói con nghe kịp cái chỗ tầm tứ tức là cái cảm giác toàn thân là khi mình hướng đến thân đó là tầm, mình nghe cái cảm giác của cái thân đó là tứ, rồi con nhớ hôm qua cái vụ như lý tác ý hai cái nó khớp làm sao thương thượng tọa?
Sư Phụ: Dạ vâng cái như lý tác ý là nó riêng, như lý tác Ý là mình nhắc nó phải quay trở về để cảm nhận cảm giác thân nha, nhớ là phải quay trở về và mình kêu nó. Sau khi mà mình đã có cái sự an trú trên cái cảm giác toàn thân rồi thì mình kêu cảm giác mình lắng dịu, dễ chịu, tầm, tứ rồi sau đó mình mới như lý tác ý. Mình kêu "Thôi cảm giác lắng dịu nha, đi chầm chậm thôi nha, làm từ từ nhẹ nhàng nha" hay là "cảm giác ngọt ngào, dễ chịu nha". Mình nhắc cái đó thì đó là mới tới như lý tác ý.
Sư cô 1: Mô Phật kính bạch thượng tọa vậy cái tầm tứ đó có giống như lý giác sát không?
Sư Phụ: Cái như lý giác sát này bao trùm khắp hết tất cả các thời điểm, lúc nào mình cũng nhìn hết, lúc nào mình cũng quay trở lại mình nhìn hết. Như lý giác sát giống như mình xem chừng, mình canh chừng, mình dòm chừng cái thân tâm của mình, lúc nào cũng phải có hết, tùy theo cái thời điểm. Thí dụ bây giờ mình đã quay trở lại cái sự an trú trong cái cảm giác toàn thân nhưng mà mình thấy lúc này nó có một cái tức tức, có cái bực bực, thì làm sao mình thấy được cái tức tức, cái bực bực, cái khó chịu đó, là do mình có giác sát nó mình mới thấy. Mình phải có nhìn nó mình mới biết, mình phải có ngó nó mình mới biết, mình phải có canh chừng, dòm chừng nó thường xuyên mình mới biết. Khi mình biết nó đang bực, đang khó chịu, đang sân thì mình tác ý kêu "đừng sân nữa, đừng có sân nữa, xả bỏ đi, buông bỏ đi. Đừng có giận nữa, đừng có khó chịu nữa, dễ chịu đi, nhẹ nhàng đi, tình thương đi".
Ngay trong như lý tác ý này mình cũng phải giác sát luôn, mình cũng phải quán coi nó nghe lời nó xả cái giận này ra, nó bỏ cái bực này ra, nó buông cái khó chịu này xuống là tốt và mình tiếp tục để ý nữa, dòm nữa coi nó diễn biến làm sao. Nếu như cái lúc mà nó nhẹ nhàng, nó tỉnh sáng, nó không có các cái thứ phiền não thì mình cứ để cho nó nhẹ nhàng thôi, mình không cần tác ý, cái lúc nào cần là mình tác ý. Vậy cái vấn đề cảm giác toàn thân tới nay chúng ta rõ được chưa ạ? Thành ra mình thấy vậy thì nói đơn giản nhưng mà trong đó nó nhiều cái khía cạnh, góc độ, phương diện ở trong cái cảm giác toàn thân.
Sư cô 2: Kính bạch thượng tọa, lúc cảm giác toàn thân là mình ghi nhận toàn thân mình từ đỉnh đầu xuống chân, mình ghi nhận cái cảm thọ đó, nhưng mà trong lúc mình ghi nhận cái cảm thọ đó giống như tối hôm qua con ghi nhận vậy thì con bị con mũi cắn ngứa, nó khó chịu lắm, nó khó chịu cái tay con nhưng mà lúc đó con nói cái này là cảm thọ nhưng mà nó cũng khó chịu. Lúc con vừa khó chịu như vậy thì con nghe tiếng xe cấp cứu nữa, hồi tối này cấp cứu chạy thì lúc đó con không có nhận cảm thọ mà con suy nghĩ tới "bệnh nặng… bệnh nặng" cái con trở lại cảm thọ rồi bệnh năng. Nó rối luôn chứ không phải là nó dễ dàng lắng dịu cảm thọ rồi tới như lý giác sát, con thấy một cái lộ trình chiến đấu tâm hay do tại con chưa có chưa có thần thục. Lúc đó con ghi nhận như vậy mà cảm thọ con tự dạy nó thôi chứ nó cũng khó chịu lắm, con chưa có thuần thục được, là chỉ ghi nhận cảm thọ thôi để bóc cái trí ra mà như lý giác sát nó rồi mới tác ý mới dạy dỗ nó là ngọt ngào, dạy dỗ nó là vô thường. Mấy cái này con thấy con chưa có dạy dỗ được.
Sư Phụ: Dạ như vậy là hay lắm rồi đó, vậy là giỏi lắm rồi đó tại vì nhìn được cái tâm mình như vậy là rất giỏi, tại ở đây phải học đầy đủ nhưng mà mình làm đơn giản lắm, nó dễ chứ không có khó. Bây giờ bị muỗi chích vô đang khó chịu rồi mình chưa giải quyết thì xe cấp cứu nó réo lên, nó hú lên thì mình chụp liền "chết nè, chết tới nơi rồi nè, khó chịu chút thì ăn nhằm gì. Bây giờ mình đang nằm trên xe cấp cứu đó, mình đang chuẩn bị tắt hơi đó, mình chuẩn bị là đối diện với tử thần đó, một chút muỗi chích này có gì đâu, xả bỏ cái cảm thọ này đi đừng có sân hận, đừng có khó chịu" rồi mình quán nghiệp quả nữa "chắc là đời trước mình cũng giết nó bây giờ mình tu nó chích mình chút xíu thôi".
Cái tác ý rất hay, tại sao mình tác ý được mà mình điểm trúng được ngay cái huyệt đó và mình mở được ngay cái gút đó được thì mình phải có cái vốn để mình như lý tác ý. Cái vốn đó là do mình nghe pháp nhiều thì tới lúc đó tự động mình biết "đời trước chắc là con cũng giết các vị cho nên đời này con tu là có vị chích con chút xíu. Thôi kệ cũng trả hoan hỉ", mình sân lên mình vỗ nó cái chát là xong, như vậy gọi là nghiệp cũ trả chưa xong rồi chồng thêm nợ mới nữa. Mình tác ý như vậy thì cái tâm sân, cái tâm bực bội của mình đỡ xuống một chút.
Sư cô 3: Thượng tọa nói con mới nhớ hồi xưa con ưa đập muỗi lắm, con quên hôm qua con không làm được chỗ đó nên khó chịu nhưng mà con kiềm thúc cái tâm không để khó chịu. Tại vì mình khó chịu là mình sai, con chỉ nghĩ vậy thôi khó chịu là mình sai, là không phải tu, lúc đó vừa vậy thì một cơn gió thổi mát lên, công nhận nó vừa khó chịu mà được gió thổi mát là dễ chịu liền. Con nói "trời ơi sao mau lẹ dữ vậy", tức là nó thay đổi cái tâm mình con không bắt kịp nó luôn, nó mau lẹ quá. Lúc đó vừa dễ chịu thì con tự nhiên suy nghĩ cái hôm ngồi ngoài chỗ thượng tọa, tự nhiên con đặt cái cảnh ở đó với cái cảnh ở đây, tự nhiên có cái so sánh nhớ lại cái cảnh ngồi ngoài trời ở Linh Quy rồi con tự nhiên suy nghĩ "vọng tưởng, kéo lại, kéo lại, kéo lại" thì nó dễ chịu, nó khó chịu cấp cứu. Nó liền liền cho nên con thấy là nó không dễ, lúc thượng tọa nói cảm giác toàn thân là đem tâm vô thân thì con cũng bắt được tâm chính xác nhưng tới lắng dịu, do cảm giác toàn thân rồi nó lắng dịu, nó ngọt ngào mới như lý giác sát rồi mới như lý tác ý để thọ; tưởng; hành thì lúc đó con hết biết làm gì, con nghe không có kịp. Hồi tối thượng tọa con nói con ghi nhận hết nhưng mà con không kịp của cái lộ trình tâm tu tập của con, cái từ ngữ thì con nhớ con ghi trong tập nhưng mà con chưa có làm kịp ở trong cái lúc con thực hành.
Sư Phụ: Thật ra mình học là học như vậy để mình biết nhưng mà khi mình làm nó đơn giản lắm, là nhận diện ngũ uẩn thôi, nhận diện ngũ uẩn rồi tác ý thôi. Nói đơn giản là có hai bước vậy thôi, nhận diện ngũ ẩn và tác ý thôi. Bây giờ con nhắc lại những cái hết sức là đơn giản để mình đừng có bị mấy cái chữ nghĩa này nó làm rối, bây giờ trong tâm mình đang có cảm giác gì, hình bóng gì, suy nghĩ gì, nếu mà có cái cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bất thiện thì mình từ bỏ nó, mình đuổi nó đi, không chấp nhận nó, đừng có tiếp tục theo, đừng có nuôi dưỡng nó, đừng có phát triển nó mà đánh đuổi nó. Còn nếu trong tâm mình có những cái suy nghĩ, những cái cảm giác, hình bóng thiện pháp thì mình cho nó phát triển lên, đừng đuổi nó mà cho nó phát triển lên.
Thí dụ mình ngồi nhớ cảnh Linh Quy thanh tịnh, nhẹ nhàng thì mình cho nó phát triển lên "an Tịnh quá, lắng dịu quá. Ở đây cũng giống như Linh Quy vậy". Mình không cần phải đuổi tại vì đó là thiện pháp, ở đây mình cũng tu, Linh Quy mình cũng tu, ở đây mình cũng an tịnh, lắng dịu, Linh Quy cũng an tịnh, lắng dịu thì như vậy cũng như nhau thôi. Cái quan trọng là mình an tịnh, lắng dịu chứ không phải quan trọng cái cảnh thì ngay lúc đó mình biết tác ý tự nhiên là mình cảm giác lạc thọ liền. Còn nếu mình không tác ý mình mệt, mình đuổi nó mệt lắm mà cái đó là thiện không cần đuổi, thành ra không phải cái gì mình cũng đuổi hết, nếu bất thiện thì đánh đuổi, là thiện pháp thì tăng trưởng, phát triển lên, nếu mà nó đơ đơ, trơ trơ là mình phải khởi quán lên, quán cái món nào mà mình thích. Giống như khi ăn mình chọn cái món vậy đó, mình thích ăn bún riêu, bánh canh, mình thích ăn xào gì đó thì bây giờ cũng vậy, cái món thích của mình là cái món tâm từ, hoặc là cái món vô thường, hay là cái món ruột của mình là tâm hỷ chẳng hạn, hay là tâm xả.
Mình lấy cái món ruột của mình ra mình tác ý cho nên món ruột là cái thứ nhất, thứ hai là coi trong con người mình cái nào nó nặng nhất, đang bị cái nào nặng nhất thì mình trị cái đó thôi, mình tập trung vào cái đó nhiều hơn chứ đâu có gì khó đâu. Chỉ cần nhận diện ngũ uẩn và như lý tác ý thôi chứ đâu có gì khó đâu, chia sẻ hết đủ mọi phương diện, cách thức rồi mình làm được cái nào thì mình làm chứ không có khó.
Sư cô 3: Kính bạch thượng tọa khi ra thực hành ở ngoài Linh Quy về thì con về cũng nhận diện ngũ uẩn mà ngũ uẩn giống như là đâu phải giờ nào mình cũng nhớ nhận diện ngũ uẩn hết. Có những lúc mình làm cũng siêng năng nhận diện lắm nhưng mà nãy giờ thượng tọa nói thì tự nhiên cái tâm con bị đơ đơ là con do con không có tác ý, nó nhận diện nhiều quá bị đơ đơ làm như cái kết quả không có đạt được thưa thượng tọa. Nhưng nhờ thượng tọa dạy thì con nhận ra đó là cái tâm đơ đơ do mình không tác ý. Mô Phật.
Sư Phụ: Dạ đúng, tác ý rất quan trọng, cực kỳ quan trọng cho nên bây giờ mình gặp nhau đừng có chào hỏi khỏe không mà hỏi "sư tỷ, ngũ uẩn bữa nay sao?", "sáng giờ ngũ uẩn thế nào?", tối gặp nhau hỏi "ngũ uẩn của hiền giả hôm nay sao rồi?". Gặp nhau cứ hỏi vậy đi chứ đâu có sao, rất là đẹp, đây là Tỳ-kheo thời Đức Phật đó, gặp cứ hỏi "hồi trưa em thấy ngũ uẩn chị thế nào?" thì khai thật ra hết. Như vậy mình cứ làm quen với vấn đề nhận diện ngũ uẩn và mình siêng năng chịu khó như lý tác ý sẽ thay đổi con người mình, thay đổi vận mạng mình luôn, cứ nhắc hoài, nhắc hoài, nhắc hoài, nhắc hoài.
Sư cô 2: Đối với nghiệp sân thì mình thường tác ý về cái sân nó là một cái tai hại, nó đọa địa ngục, nó thiêu đốt mình. Với cái lộ trình tác ý như vậy thì cũng phải có cảm giác toàn thân, nó phải qua cái lộ trình đó nhưng có khi nó cũng tự tác ý, tự nó nổi lên chứ không phải là mình phải đề ba nó, có lúc nó tự nổi lên, có lúc thì nó quên mất tiêu. Con nhớ thượng tọa nói tất cả các pháp lấy tác ý làm sanh khởi, con biết được chỗ đó, từ cái tác ý đó lấy cái niệm, tất cả các pháp cũng lấy niệm để tăng trưởng thì bây giờ tự nhiên con quên cái chỗ lấy niệm tăng trưởng, tức là lấy tác ý sanh khởi là con nhập tới đó rồi, giờ con quên cái chỗ tất cả các pháp lấy cái niệm tăng trưởng. Tức là từ cái chỗ tác ý đó mà cái niệm tăng trưởng giờ con quên, con thỉnh thượng tọa nói lại chỗ đó.
Sư Phụ: Dạ cái niệm là mình nhắc mình, không phải đợi tới cái lúc sân mình mới tác ý, không phải đợi tới lúc giận lên mới tác ý vì như thế sẽ không kịp, nó không nghe lời mà mình phải tác ý từ xa. Thí dụ như bây giờ mình đợi tới ngày mình đi thi mình mới học bài hay là học trước? Tất nhiên phải học trước, cũng vậy, mình đợi tới ra trận rồi mình mới luyện công hay sao? Đâu có được, phải tập dượt, thao dượt trước, phải không? Gọi là luyện binh ba năm dùng một giờ thôi, như vậy thì không phải đợi lúc nó nổi sân, nó khởi bản ngã lên mình mới tác ý mà cái lúc bình thường mình phải tác ý, mình phải quán thì tới cái lúc đụng chuyện, hữu sự mình kêu thì cái tâm mới nghe lời, nó mới có sức mạnh. Mình muốn tác ý thường xuyên gì thì lấy cái gì để thường thường tác ý, thường thường luyện binh? Phải có một cái niệm là nhớ, nhắc nó, nhắc nhớ vô thường, nghe tiếng xe cấp cứu ai nằm trên đó, mình nằm trên đó chứ không phải ai nằm hết đó, rồi xe cấp cứu này đi đến viện thì nhiều khả năng là nó đưa về lò thiêu, đi ra nghĩa địa.
Mình quán cái người nằm trên đó là mình rồi tất cả những diễn biến đó là mình, "bây giờ còn tham nữa không hả tâm? Còn tham không? Còn muốn sân nữa hay không? Còn muốn bản ngã nữa hay không?" thì nó bảo "dạ không, giờ chết tới nơi rồi tham, sân, si làm chi nữa". Mình càng quán lâu chừng nào, những cái mà mình tác ý, những cái mình niệm, những cái mình quán càng an trú vô pháp nhiều chừng nào thì cái sự tu tập của mình càng có công phu chừng đó, còn cái tâm trống không thì nó đâu có công phu, tâm trống không không quán gì hết, không tác ý gì hết, không niệm gì hết đợi đụng chuyện lúc đó mới quán thì không được, không có sức để mà quán.
Sư cô 2: Bạch thượng tọa cái quán đó cũng bước ra cái vô thường, ly tham này luôn nhưng khi nãy thượng tọa nói cái tâm mình nó lắng dịu rồi cái trí tách ra tức là nó đứng ra khỏi ngũ uẩn nhìn lại ngũ uẩn, cái đó sao nãy thượng tọa nói con cũng hiểu nữa. Còn cái lộ trình tu này khi mình nhắc nhắc, mình niệm niệm, mình nhắc nó vậy giống xe cấp cứu thì mình không còn sân, không ly tham gì nữa nhưng mà cái này là lúc đó cái trí mình có thánh trí chưa hay là nó quán, nó tốt, nó thiện pháp vậy thôi.
Sư Phụ: Dạ thật ra mình đang đi trên con đường thắng trí đó, tại vì nếu mà cái trí không thù thắng thì đâu có thấy ngũ uẩn, vừa nhận diện ngũ uẩn thôi là cái trí đó đã thù thắng rồi, chẳng qua là mình đạt được bao nhiêu phần thôi chứ còn cái đó là thượng nhân pháp, là thắng trí, là cái trí thù thắng, cái trí vi diệu, cái trí tối thượng, là trí tuệ của bậc thánh. Khi nhìn được ngũ uẩn cái bước đầu tiên thôi đã sử dụng thánh trí, tức là nó vừa đẻ đã là sư tử rồi, bây giờ nó mới đẻ ra nó là sư tử hay là đợi nó ba năm, năm năm nó mới là sư tử? Đẻ ra là sư tử rồi, đó là mình đang sử dụng cái trí huệ của bậc thánh, đang sử dụng trí thánh, lúc nào mình quên mất thì trở lại con mèo, lúc nào nhớ thì nó là con sư tử. Như vậy mình muốn làm mèo hay làm sư tử là do cái nhớ hay là quên, tức là thất niệm hay là chánh niệm, nói tiếng việt mình là nhớ hay là quên, nhớ nhận diện ngũ uẩn thì lúc đó mình sống trong trí mà quên nhận diện ngũ uẩn thì lúc đó mình sống ở trong tình, ở trong mê, ở trong chấp, ở trong vô minh.
Cho nên trong kinh Nikāya nói rằng thấy ngũ uẩn là thấy Phật, sống với thánh trí ngũ uẩn là đang sống với Phật, trú trong thánh trí ngũ uẩn là mình đang ở trong nhà Như Lai, ở chung các bậc hiền thánh, nhưng mà mình không ở với nó, quay trở lại mình ở với cái thường tình, ở với cái mê tình, ở với cái vô minh, ở với cái chấp thủ, hơn thua này kia là mình lúc đó phàm, còn mình nhớ được cái kia lúc đó không phải phàm.
Sư cô 2: Kính bạch thượng tọa như vậy thì thì mình thường tu, huân tập như vậy cho đến cái lúc mình bệnh sắp chết như thượng tọa nói lúc mình bệnh sắp chết người ta có cái trí để người ta quán sát mà cái thân ngũ uẩn này rồi cái vô thường, ly tham, đoạn diệt mới chứng thứ nhất, thứ nhị, thứ hai, thứ ba. Cái lúc mà mình bệnh tới sắp chết thì cái vốn mình phải có sẵn, mình mới làm được cái chỗ đó, các bậc thầy nhắc nhở mình thì mới làm được chứ nếu con thấy lúc đó mình không có cái vốn sẵn lại bị nghiệp chi phối mình, cái cơn đau mà cái ngũ uẩn mình nó sắp rã, không phải là mình bám víu cái ngũ uẩn, nó ở đâu sâu trong tâm nó bám víu chứ cái trí thức mình, tức là cái trí trên này không có bám víu, không có tiếc cái thân này muốn chết nhưng mà con không biết là lúc đó ở dưới đáy tâm còn nó còn bám víu thân ngũ uẩn không nhưng mà nó không có khởi lên cái trí nếu mình không có cái vốn sẵn.
Tức là con nói nếu mình không dự lưu đi, cái vốn đó là phải dự lưu chứ con nghĩ không dự lưu là nhắc thì không dễ gì mà mình nhập vô cái đó mình quán liền, nó trong suốt ra cái thân ngũ uẩn như một cái dòng nước trong được.
Sư Phụ: Dạ đúng vậy, bây giờ mỗi một cái ý niệm, mỗi một cái giờ là mình nhắc nè, mình tác ý là mình niệm nè, mỗi một cái ngày là mình tu như vậy, mỗi một tuần mình tu như vậy, mỗi một tháng là mình cứ tới tới, mình cứ tích lũy cái trí huệ đó rồi mỗi một cái quý ba tháng, rồi mỗi một năm, hai năm, ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, mười hai năm, mười ba năm, mười lăm năm, mười tám năm, hai mươi năm, tới lúc gần chết là lúc đó nó chín muồi hết rồi từ giã lên đường là nhập lưu luôn. Tức là nó phải được huân tập, tích lũy, tích tụ, tu tập, nhóm hợp cho tới nhuần nhuyễn, thuần thục, điêu luyện, nó chín muồi thì tới lúc đó nó được thôi, không cần lo, chỉ lo ngay bây giờ thôi, chỉ lo ngay bây giờ thôi chứ không cần lo tới chết. Ngay bây giờ nó có thì chút sau nó có, chút sau nó có thì chiều nay nó có, mà chiều có thì ngày mai cũng vậy, lúc nào cũng tu bây giờ thôi cho nên bậc đạo sư nói "tu không có nhiều thầy, tu ngay bây giờ thôi à, không có tu lâu".
Không có tu ba năm, năm năm, tám năm, mười năm, tu tới chết mà chỉ tu ngay bây giờ thôi tức là nhớ nhận diện ngũ uẩn, đừng chạy theo tham, sân, si, tu ngay lúc nào được ngay lúc đó, tuyệt vời ngay đó thành ra đừng có quên thực hành pháp, bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào thì tới cái lúc mình chết mình khỏe lắm, mình không còn lo gì nữa. Bây giờ mình lo, tới lúc chết mình không lo, bây giờ mình không lo tới lúc chết mình khổ lắm.
Ni trưởng: Kính bạch thượng tọa, các con xin phép được dừng lại tại đây tại vì cũng năm giờ rồi thì quý vị còn đi. Hôm này khi học xong thì xuống con chưa hỏi hết chúng nhưng mà hỏi được một vài vị và con biết con được nghe kết quả là cái buổi học hồi tối, còn sáng này thì chưa nghe kết quả tại vì mới học xong thì một kết quả rất là thù thắng. Con cũng không ngờ tại vì trong chúng con có những vị cũng rất là mới tu, thành thử ra những vị đó là coi như là có tiếp thu và cảm thấy rất là phấn khởi khi được học pháp và thấy rằng dễ hiểu, có nó dễ tu không con quên rồi nhưng mà dễ hiểu thì chắc chắn có rồi đó.
Vậy giờ đây cũng như là buổi học buổi sáng này cũng đã xong trong một ngày chứ không phải rằng chúng con sẽ xong luôn. Chúng con thành kính cảm ơn thượng tọa đã đem đến cái nguồn trí tuệ cho chư Ni chúng con để chúng con phát triển cái nguồn trí tuệ này để thành tựu một trí tuệ, bước đầu đó là trí tuệ của chánh tri kiến Tu-đà-hoàn và để rồi chúng con sẽ được một trí tuệ viên mãn đó là thánh quả A-la-hán và chúng con xin thành kính hết lòng tri ân, cảm niệm ân đức của thượng tọa. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tự và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.
CÔNG DỤNG 16 HƠI THỞ
QUÁN VÔ THƯỜNG - LY THAM - ĐOẠN DIỆT - TỪ BỎ
–Thích Minh Thành–
Ni trưởng: Phương pháp ngồi thiền thì với cái ba điều kiện đó là rõ biết trước mặt, rồi cảm giác toàn thân, rồi nội tâm tỉnh giác thì cái phương pháp ngồi thiền như vậy với lại bài kinh tứ niệm xứ thì con nhớ trong niệm thân trước tiên là những hơi thở vô hơi, thở ra dài ngắn rồi cũng có cảm giác toàn thân, có an tịnh thân hành của tứ niệm xứ là như vậy. Như vậy thượng tọa đưa ra cái phương pháp hồi thiền như vậy có phải nằm trong thân?
Sư Phụ: Dạ thưa dạ đúng vậy ạ, từ ở trong phần niệm thân của thân hành niệm tứ niệm xứ rút gọn lại.
Ni trưởng: Vậy thì con được rõ điều đó, tức là biết rõ được ba cái pháp đó là nó nằm trong cái niệm thân của tứ niệm xứ. Dạ bạch thượng tọa, bây giờ con xin được hỏi một cái việc thứ hai nữa, trong cái thực hành có những lúc con không niệm được, con không có cái cảm giác toàn thân được mà con phải niệm. Tức là con vô là con phải niệm hơi thở, sau khi niệm hơi thở xong rồi an trú rồi con mới cảm giác toàn thân chứ con không có đi vô thẳng được cái cảm giác toàn thân. Như vậy thì nó là như thế nào, mong thượng tọa chỉ dạy.
Sư Phụ: Dạ thưa như vậy là đúng, thường thường mình thực tập là đầu tiên là cảm nhận hơi thở, kế đó là cảm nhận cơ thể, sau đó là cảm giác toàn thân. Đó là cái trình tự nó vậy, có điều đa số chúng ta thực tập thiền là quá đặt nặng về hơi thở, quá chú trọng cái hơi thở và thường thường dừng lại ở cái hơi thở. Các vị hướng dẫn thiền thường thường là cứ hơi thở vào biết vào, ra biết ra, ngắn biết ngắn, dài biết dài rồi cứ theo hơi thở suốt luôn, thậm chí là cả cái thời thiền. Nếu vị dừng lại tại đây thì quá là uổng vì cái pháp niệm hơi thở đó là một pháp rất là nhỏ, nó không có đủ để phá vỡ được và xuyên thủng được cái vô minh, tham ái, chấp thủ. Vì thế mình chỉ mượn cái sự an tịnh, lắng dịu, cảm nhận hơi thở lúc đầu để mình làm cho lắng dịu thân, cái hơi thở còn gọi là thân hành.
Thân hành là cái sự vận hành của thân, cái sự vận hành của thân này lấy hơi thở làm gốc cho nên trong kinh tạng Nikāya nói thân hành tức là hơi thở. Vì cái hơi thở nó là cái mạng căn, căn bản của sự sống, ngừng thở là chết cho nên mới lấy cái hơi thở làm cái phương tiện để làm lắng dịu cái thân. Mình dừng lại ở cái chỗ đó, mình không đi vào trong cái cảm giác thì như vậy mình chỉ dừng lại ở phần thân thôi, chính vì vậy mà mình đi vào trong cảm giác là mình đi vào tới cái thọ là cái gốc rễ của tâm. Chúng ta thấy cái tứ niệm xứ là tuyệt diệu tối thượng lắm, Đức Phật dạy tuần tự, thứ lớp giống như đi cái cửa rồi mới vô trong, từ từ mới đi vào ở trong chánh điện, cái hơi thở này làm cho an tịnh cái thân, thân hành, từ cái cảm giác này mới làm cho lắng dịu cái tâm hành.
Thân hành là những cái vận hành của thân, tâm hành là những cái hoạt động của tâm. Con nói trình tự chúng ta dễ thấy, khi thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng thì cái bài đó là cái bài thiền lệnh. Cái cảm giác hơi thở thì phần đó là phần điều thân, làm cho mình an tịnh, làm cho mình yên lặng, làm cho cái thân dễ chịu. Từ cái thân dễ chịu bắt đầu mới cảm nhận cái tâm, khi mình cảm nhận cái tâm mà mình có cái tâm đang như thế nào tức là cái thọ, cái tưởng, cái hành của mình, nói đơn giản là cái thọ. Coi cái thọ như thế nào, nếu nó còn dao động, nó chưa có được an tịnh thì mình làm cho cái cảm thọ này lắng xuống, dịu xuống, lặng xuống. Như vậy là về tâm, sau đó chẳng những cái thọ này an tịnh, lắng dịu mà còn làm cho cái thọ này dễ chịu, nhẹ nhàng.
Sau khi làm cho nó dễ chịu, nhẹ nhàng, ở đây là mười sáu hơi thở thì đức Phật làm cho hân hoan. Với tâm hân hoan tôi sẽ thở vô, với tâm hân hoan tôi sẽ thở ra, hít vào thở ra là một cái sự hân hoan, dễ chịu, sau khi làm cho thân an tịnh, tâm lắng dịu, thọ vui vẻ, hân hoan thì bây giờ bắt đầu từ từ mới đi vào cái tâm định tĩnh, làm cho cái tâm yên lại những cái những cái tưởng, những cái hành. Từ cái thọ lắng dịu này làm cho các hình bóng cũng lắng dịu, những cái suy nghĩ lắng dịu xuống. Khi làm cho nó lắng dịu xuống hết rồi, làm cho nó yên định, khi làm cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức này lắng dịu, yên định, định tĩnh thì tới phần "với tâm giải thoát tôi sẽ hít vào, với tâm giải thoát tôi sẽ thở ra", làm cho cái tâm của mình thoát ra khỏi cái thân và những cái thọ; tưởng; hành đó, không bị chi phối ở trong ngũ uẩn nữa.
Đây rất là sâu sắc vì trong mười sáu hơi thở đó thâm sâu lắm, nếu mình thực tập cái này cho nó nhuần nhuyễn thì tuyệt vời lắm. Đi vào trong cái nội tâm định tĩnh, sau khi định tĩnh thì cái tâm thoát ra, cái tuệ thoát ra, tức là mình được cái trí của ngũ uẩn, cái tuệ của ngũ uẩn đó. Mình không bị cái ngũ uẩn nó xâm chiếm, áp đảo, khống chế, làm chủ mà mình có một cái trí thoát ra ngũ uẩn để nhìn lại ngũ uẩn. Chính vì vậy mà mười sáu hơi thở không phải là đơn giản, rất là sâu sắc, tùy theo khả năng tu học của mình mà mình cảm nhận, có khi người ta cảm nhận chỉ có một, hai, ba, bốn hơi thở đầu thôi là đã làm thiền sư rồi đó, vài hơi thở đầu thôi là đã hướng dẫn thiền thậm chí là cả quốc tế chứ không phải bình thường đâu. Những hơi thở càng về sau là những thở về quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt, quán từ bỏ, những cái phép quán này nó vi diệu lắm.
Khi thoát ra nhìn lại thì mới nhìn thấy cái tính chất, tên tuổi, mặt mũi, tánh tình, bản chất của ngũ uẩn thì từ cái trí đó mới nhìn lại. Con đọc một cái đoạn ở trong giải thoát trí để chúng ta thấy nó có liên hệ với nhau rất là sâu sắc, đây là bài giải thoát trí của bậc đạo sư.
"Rồi với Tuệ từ tâm an tịnh,
Xoay lại nhìn lậu hoặc trong tâm,
Nhận ra các nhiễm ô ngầm,
Vẫn còn nhè nhẹ âm thầm trong tâm,
Tiếp tục quán sát năm thủ uẩn,
Quán với tâm chẳng ái, chẳng tham,
Độ ô nhiễm sẽ giảm dần,
Đến khi hết nhiễm, tâm thành sạch trong.
Dục nhiễm, hữu nhiễm, vô minh nhiễm,
Tâm tẩy trừ ba sự nhiễm này,
Khi ô nhiễm đã tẩy xong,
Thì tâm trong sạch như dòng nước trong.
Tẩy dục, hữu, vô minh hết sạch,
Tâm không thầm chấp bất cứ gì,
Khởi lên Trí biết rõ ràng:
“Tâm này trong sạch chẳng còn nhiễm ô”.
Tâm chẳng động trong khi nói nín,
Tâm chẳng lay trong lúc đứng đi,
Tâm không động nhiễm đêm ngày,
Nay là đời cuối, không còn tái sanh."
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Ni trưởng hay hỏi con về phần chỉ quán là cái này. "Rồi với tuệ từ tâm an tịnh", tâm an tịnh tức là chỉ, tuệ tức là quán, hai cái này kết hợp với nhau, từ cái tâm an tịnh đó có một cái tuệ rất là sâu sắc về ngũ uẩn.
"Rồi với Tuệ từ tâm an tịnh,
Xoay lại nhìn lậu hoặc trong tâm,
Nhận ra các nhiễm ô ngầm,
Vẫn còn nhè nhẹ âm thầm trong tâm,"
Đây là định tuệ đó, là chỉ quán, cái tuệ này không phải là cái tuệ bình thường mà là Thánh tuệ, thánh trí ngũ uẩn là cái trí đi ra ngũ uẩn để nhìn lại ngũ uẩn, giống như khi mình quán ba mươi hai thể trược thì cái trí đó đâu phải là cái thức bình thường đâu, nó nhìn trở lại cái sắc uẩn này, nhìn trở lại thọ; tưởng; hành; thức này. Nhìn lại coi cái nào còn dơ, cái nào còn cấu cái nào còn uế, cái nào còn nhiễm để nó rửa, nó tẩy, nó chùi, nó lau, nó quét, nó dọn vệ sinh, nó thanh lọc. Thành ra chúng ta thấy cái sự ngồi thiền của tứ niệm xứ là rất là thâm sâu và nó rất là tuần tự, có cái thứ lớp từng bước, từng bước rất là rõ ràng. Con nhắc lại đầu tiên là điều thân, trong cái điều thân có cái sự điều hòa hơi thở, cảm nhận hơi thở, lắng dịu hơi thở. Kế đó tới phần điều tâm là cảm nhận cảm thọ, làm cho cảm thọ lắng dịu, dễ chịu, tiếp tục làm cho các tưởng, các hành, những hình bóng lắng dịu xuống, những suy nghĩ lắng dịu xuống, làm cho tâm mình lắng dịu, các thọ; tưởng; hành lắng dịu. Sau khi lắng dịu làm cho hoan hỉ, hân hoan.
Chúng ta nhớ cái này là rất là quan trọng cho nên tại sao các vị thánh Tăng các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật mình đọc ở trong kinh thấy các ngài có khi thiền định hoặc là thuyết pháp sáng đêm. Thế Tôn nói giờ ta mỏi lưng, ngài Mục-kiền-liên và ngài A-nan trải cái y cho ta nằm xuống, các Tỳ-kheo đã vượt qua cơn buồn ngủ các ông tiếp tục nói pháp sáng đêm. Đức Phật nằm đó nghe, tiếp tục nói sáng đêm.
"Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggalàna:
-- Này Moggalàna, chúng Tỳ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggalàna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỳ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Mahà Moggalàna vâng đáp Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Ðộc, VI. Dục Lậu)
Nếu các ngài không có pháp lạc, pháp hỷ thì làm sao sáng đêm được? Mình thấy nhiều đoạn trong kinh là các ngài hoan hỉ ở trong pháp thậm chí các ngài trú trong thiền định dài lâu. Như vậy là có pháp hỷ, có thiền duyệt chính vậy cái sự tu hỷ này rất cần thiết, mình thiếu cái hỷ đó là cái tâm mình nó héo hon, nó gầy guột, nó suy dinh dưỡng, nó ốm yếu, tiều tụy, còn cái tâm đầy đủ pháp hỷ, đầy đủ cái thiền duyệt, đầy đủ cái sự bổ dưỡng ở trong cái pháp tu của mình thì cơ thể của mình tươi tắn và cái tâm thức của mình ngọt ngào, nó dạt dào lòng từ mẫn, lòng yêu thương và có nhiều sự hỷ lạc, bình an, bình ổn, bất cứ cái chuyện gì tới cũng nhẹ nhàng. Cho nên luôn luôn ở trong đó chúng ta có hỷ lạc, nhiều khi mình tu ngày mười tiếng mình cũng vẫn hoan hỉ, vẫn chịu bởi vì giống như mình được uống sữa tươi, được uống nước pháp, được ăn cơm giác ngộ, nằm chỏng Niết-bàn, ở nhà Như Lai mà sao mình không hoan hỉ được. Cho nên mình vui lắm.
Từ cái sự hoan hỉ đó mình cho nó lắng dịu xuống, bắt đầu định tĩnh, tâm yên, tâm định. Từ cái yên định đó thì bây giờ thoát ra khỏi cái ngũ uẩn, tập thoát ra, tập nhìn trở lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, nó trở thành đối tượng của trí tuệ. Còn nếu mình chưa có cái trí ngũ uẩn thì mình với ngũ uẩn là một thôi, đồng hóa mình với ngũ uẩn, mình nhận ngũ uẩn là mình, mình ở trong nó, nó xâm chiếm mình, nó làm chủ mình, nó điều khiển mình, nó dẫn dắt mình. Còn khi mình có cái trí rồi thì mình vượt ra nó và mình nhìn trở lại nó, quán chiếu trở lại nó cho nên chỉ hay là quán thì cũng là ở trong ngũ uẩn thôi, còn cái trí tuệ đó nó không thuộc về chỉ quán. Chỉ hay quán cũng là cái trạng thái của tâm thôi, còn cái tuệ là luôn luôn có mặt, luôn luôn được thấp sáng, luôn luôn được chói sáng, bừng sáng, chiếu sáng, rực sáng mà cái tuệ về ngũ uẩn đó là cái tuệ bất sanh bất tử, sống được cái tuệ đó là mới đạt được bất tử. Sau đó là bốn cái pháp xuyên suốt.
Ni trưởng: Thượng tọa cho con hỏi chỗ này, thượng tọa vừa nói lúc mình ngồi thiền mà cái cảm thọ mình biết nó là cảm thọ, nó không có dính tức là cái tâm nó đau, cái cảm thọ đau nhưng mà cái đó là cái cảm thọ đau chứ không phải là mình đau. Thì cái không phải mình đau đó là tuệ?
Sư Phụ: Dạ vâng, là cái trí, là cái tuệ của mình, còn nếu mình nhập cuộc với cảm thọ là mình sẽ bị cái đau đó chi phối. Rồi giờ có cái gì vui cái mình nhập cuộc với cái cảm thọ là mình bị cuốn trôi, có cái khó chịu cái mình nhập cuộc với cảm thọ thì mình bị thiêu đốt. Mình có cái trí về ngũ uẩn thì mình nhìn thọ đó chỉ là thọ cho nên bốn cái pháp quán này rất quan trọng, quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt và quán từ bỏ. Những cái pháp quán này mình thực tập thường xuyên mình có một cái sức mạnh khủng khiếp lắm, thánh lực, pháp lực, đạo lực, trí lực, tuệ lực, tính - tấn - niệm - định - tuệ, ngũ lực và làm cho mình có một cái sức mạnh của bậc thánh. Sức mạnh của bậc thánh không có gì ghê gớm hết, nó chết là chết à, chừng nào chết cũng được hết, đó là sức mạnh của bậc thánh thành ra quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt hay là hoại diệt cũng được, quán từ bỏ. Đây là tối hậu chiêu, muốn nhập lưu thì không thiếu cái này được, muốn dự lưu là không thiếu cái này được, cái đây là quyết định để nhập lưu, quyết định để dự lưu, quyết định để đi vào chánh tri kiến.
Nãy giờ là con chia sẻ cách để thực tập mười sáu hơi thở, công năng, tác dụng, cái diệu dụng của mười sáu hơi thở. Khi cái tâm mình đã có sự an tịnh, đã có một cái sự thoát ra ngũ uẩn, trong một cái trí đó mình nhìn lại ngũ uẩn, mỗi một cái thấy là mình đưa ngũ uẩn vô hết, sắc vô thường tức là cái cục thịt đang ngồi thiền đó, cái cục thịt này vô thường, những cái cảm giác đang có vô thường, hình bóng trong tâm này vô thường, suy nghĩ này vô thường, biến hoại, cái nhận thức này cũng là duyên sanh, vô thường. Dùng cái trí vô thường này soi vô trong cục thịt này, soi vô trong cái vũng nước đang ngồi đó, soi vô trong cái đốm lửa đang ngồi đó, nó tắt cái lửa là lạnh ngắt, cái vũng nước này rỉ chảy ra hay trục trặc thì nó cũng kết thúc đời sống, hay chỉ cần cơn gió đang thở hít vô hít ra chỉ là làn gió thôi chứ không có ai đang ngồi thiền hết, không có một con người nào ngồi thiền hết, chỉ là làn gió thôi.
Đó là quán tứ đại, khi mình quán tứ đại thì mình từ bỏ ta và của ta, ngay chỗ đó mình phá ngã luôn, đập vỡ cái sự chấp thủ vào trong sắc thủ uẩn này. Nó phá mạnh lắm, cái thánh trí này con ví dụ là bom nguyên tử phá banh hết, phá tan, phá sập, phá nát, phá không còn cái gì hết. Khi mình ngồi để mình quán là cái trí mình rực sáng mà mình chết ngay chỗ đó là thánh đệ tử thiên, lập tức đi thẳng lên luôn, hơn dự lưu thành bất lai luôn chứ không phải dừng lại chỗ dự lưu nữa. Nhất là lúc mình gần chết thì các vị thánh Tăng thời Đức Phật là ào ào vô từ sơ, nhị, tam, tứ mà nhất là bất lai với A-la-hán là nhiều lắm. Các vị Tỳ-kheo lúc sắp ra đi là các ngài triển khai tất cả những cái sức mạnh tri kiến mà các ngài có được từ cái giới đức thanh tịnh tới cái tâm thiền định, cộng với cái tri kiến lực mà các ngài đã có thì ngay lúc đó các ngài bất lai và A-la-hán nhiều lắm lúc gần chết, lúc sắp sửa mạng chung hơi thở cuối cùng.
Cho nên cái này cần phải được triển khai mà cái này phải được quán nhiều thật là nhiều và Đức Phật nói ở trong Tăng Chi Bộ kinh hoặc là Tương Ưng Bộ là quán những cái này là không có giới hạn, là đi, đứng, nằm, ngồi, suốt ngày, suốt đêm cũng được, không có giới hạn. Những cái phép quán này là không có giới hạn, cứ tác ý hoài, cứ năm ba phút tác ý, một hai phút tác ý, cứ rảnh tác ý, cứ bốn năm phút rảnh tác ý, cứ rảnh là tác ý lên "sắc này vô thường" giống như niệm Phật, giống như đọc thần chú vậy đó, giống như mình tụng chú vãng sanh, chú đại bi vậy đó. "Sắc này vô thường, những cảm giác này là cái thứ vô thường, cái thứ duyên sanh, ba cái hình bóng này là ám ảnh, là cái thứ tào lao, cái thứ giả dối, tất cả những cái suy nghĩ này là khổ đau thôi, là giết người, những cái nhận thức này là trò ảo thuật không có cái gì hết", trong kinh Đức Phật nói sắc giống như hòn bọt, thọ như bông bóng nước, hành giống như cây chuối, tưởng giống như rán mặt trời và thức giống như trò ảo thuật. Chúng ta dựa theo những bài kinh đó để mình quán.
Sắc này là cái thứ không đáng để cho mình tham, cảm giác này là thứ không đáng cho mình tham, tưởng này là thứ không đáng cho mình tham, cần phải lìa bỏ nó, suy nghĩ cũng vậy, nhận thức cũng vậy, là cái không đáng để tham. Sắc này là pháp đoạn diệt, thọ là pháp đoạn diệt, tưởng này là pháp đoạn diệt, bại hoại, hành này là pháp đoạn diệt, thức này là pháp đoạn diệt. Sắc này đáng phải từ bỏ, cảm giác này là đáng từ bỏ, hình bóng trong tâm này là đáng từ bỏ, những suy nghĩ này là đáng từ bỏ, nhận thức này là cái thứ cần phải từ bỏ. Đây là quán pháp trên pháp ở trong mười sáu hơi thở, cái này được triển khai liên tục, thường xuyên, bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào, bất cứ hoàn cảnh nào.
Ni trưởng: Thưa thượng tọa, khi nãy thượng tọa nói cái này là quán pháp trên pháp.
Sư Phụ: Dạ vâng.
Ni trưởng: Cái này mình đang quán về thân như vậy đồng thời nó cũng là quán pháp luôn?
Sư Phụ: Nãy giờ là con nói thân - thọ - tâm - pháp luôn rồi đó. Dạ là hết tứ niệm xứ luôn rồi, thật ra thì như hồi hôm con có chia sẻ thì tất cả mọi cái không có cái gì nhiều hết. Tất cả mọi cái này để đánh cái tâm tham ái của mình đối với ngũ uẩn thôi, chỉ cần đạt cái đó là thành công, ái tận giải thoát, làm mọi thứ là để cho mình đừng ham, đừng thích, đừng có khoái ngũ uẩn này nữa, mình rời xa nó, mình từ bỏ nó, mình thoát ra khỏi nó. Một người hướng tâm đến cái sự từ bỏ, thoát ra ngũ uẩn một cách mạnh mẽ là hướng dự lưu, một người xác quyết một trăm phần trăm là từ bỏ ngũ uẩn này thì nhập lưu rồi, sau đó là dọn dẹp những cái rác bẩn ở trong tâm cho đến cái ngày mà nó từ bỏ hoàn toàn là bất lai vô sanh. Trọng tâm của nó là nhiêu đó thôi tức là không ham, không thích, không khoái, không muốn tiếp tục, tái tạo, tái diễn, tái sanh cái sắc; thọ; tưởng; hành; thức này nữa. Đó là câu hỏi của Ni trưởng con chia sẻ một cách đầy đủ về mười sáu hơi thở, công năng, tác dụng, giá trị, lợi ích hiệu quả của phần mười sáu hơi thở cũng là tóm tắt bài kinh tứ niệm xứ, cũng là cái sự quán chiếu là quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp là nãy giờ đó.
Ni trưởng: Kính bạch thượng tọa vậy thì cái quán mười sáu pháp này có dính vô cái nãy con hỏi cái cảm giác toàn thân. Tức là trong cái lộ trình thượng tọa trình bày thì nãy giờ nói về quán hơi thở, từ cái quán hơi thở phát sinh ra những cái khác mà cái này chắc tụi con phải học nhiều lần chứ giờ chắc không có tiếp thu một cách trọn vẹn được đâu. Nhưng mà có khái niệm như vậy thì con muốn hỏi cái cảm giác toàn thân nó có ở trong nãy giờ không ạ?
Sư Phụ: Dạ có, cái phần quán thân đó ạ, con nhắc lại thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng, cảm nhận hơi thở là phần quán thân, điều thân. Tới cái phần quán thọ là cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, cảm giác toàn thân và an tịnh, lắng dịu là cái phần thọ, tới phần tâm là nãy giờ những cái phần làm cho tâm định tĩnh, làm cho tâm an định, làm cho tâm thoát ra sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là cái phần quán tâm. Từ cái trí tuệ bước ra khỏi ngũ uẩn để nhìn lại thì bắt đầu mới quán ngũ uẩn này là vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ là quán pháp.
Thành ra cái bài này nó sâu mà nó trùm chứ không phải là chỉ cái câu hỏi của Ni trưởng rất là ngắn gọn thôi, nhỏ nhưng mà con triển khai luôn để mình thấy cả cái lộ trình luôn. Nhiều khi mình học tứ niệm xứ nó mênh mông, bao la nên học hoài mà không thể nào nắm được nhưng mà ở đây tóm thâu lại hết pháp hành. Dạ con thỉnh quý Ni sư, quý sư cô có hỏi gì thêm không chứ con chia sẻ cái này thì nó hơi sâu sắc một chút, nó sâu sắc mà nó bao trùm luôn để mình nghe từ từ và mình thực hành từ từ, nhiều khi vô thường rồi con đâu còn về gặp được Ni trưởng đâu thành ra sẵn nói luôn.
Sư cô 1: Mô Phật kính bạch thượng tọa, hồi tối giờ thượng tọa giảng con nghe được là nếu mình muốn nhận cảm giác toàn thân, với cái cảm giác toàn thân thì mình vô ngồi thiền thì đầu tiên mình rõ biết rồi tới cái cảm giác toàn thân. Khi mình rõ biết rồi thượng tọa nói mình phải tác ý, cái này con hiểu vậy không biết đúng không, mình tác ý đưa vô cái cảm giác toàn thân. Khi mình cảm giác toàn thân từ đầu cho đến chân như vậy nội tâm mình mới tỉnh giác, khi nội tâm tỉnh giác thì mình mới biết được cái tên tuổi, cái mặt mũi, cái tánh tình, cái bản chất của ngũ uẩn này. Khi mình biết được cái tên tuổi, mặt mũi, bản chất của ngũ uẩn này là là vô thường, khi mình thấy được cái bản chất đó rồi nó qua tới chỗ vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ này không bạch thượng tọa?
Sư Phụ: Dạ đúng rồi, bản chất của nó là mấy cái này nè, là cái thứ mà cần phải từ bỏ, cần phải vứt bỏ, quăng bỏ, liệng bỏ i tại vì nó là cái đống khổ.
Sư cô 1: Mô Phật, con có cái thấy này, khi cảm giác toàn thân thì mình phải tác ý mình đưa vô cảm giác toàn thân chứ không phải là mình thực hành rồi mình rõ biết, từ cái rõ biết có cái gì trong tâm mình nổi cộm lên thì cái đó là cảm giác toàn thân, hay là mình phải tự mình phải tác ý rồi mình mới đưa vô để cảm giác toàn thân, con chưa rõ cái đó.
Sư Phụ: Tất cả sự tu mình đều phải có tầm, có tứ hết, là sự hướng tâm. Tầm đây là sự hướng tâm và tứ là mình an trú vào cái đối tượng mà mình hướng tâm. Thí dụ mình muốn cảm giác toàn thân thì phải có một cái tâm hướng về cái thân, chúng ta hiểu được cái này không? Giống như mình muốn đi vô trong giảng đường thì phải từ hướng ngoài mình đi vô chứ, thì nó phải hướng tới cái đối tượng của nó, như vậy mình quay trở về cái thân để mình cảm nhận cái thân thì cái đó gọi là tầm. Hướng tâm về đó cái, tâm mình phải hướng về đó chứ mình đi qua cái hướng khác thì mình đâu có cảm nhận được thân, nếu mình nhìn cảnh ngoài này kia thì làm sao cảm nhận được thân cho nên mình phải quay chở về, mình hướng về cái thân để mình cảm nhận cái thân. Sau khi mình quay trở về cái thân cảm nhận cái thân thì mình an trú trên cái pháp hành đó, gọi là tứ, là mình an trú trên đó, mình hướng về nó và mình an trú ở trên nó. Ví dụ con ong hướng về đóa hoa thì nó bay tới và khi tới nó đậu vô trong đó, cũng vậy cái tâm mình hướng về thân để cảm nhận thân và sau đó an trú ở trên cái cảm giác toàn thân đó. Chỗ này rất quan trọng.
Ni trưởng: Thượng tọa nói con nghe kịp cái chỗ tầm tứ tức là cái cảm giác toàn thân là khi mình hướng đến thân đó là tầm, mình nghe cái cảm giác của cái thân đó là tứ, rồi con nhớ hôm qua cái vụ như lý tác ý hai cái nó khớp làm sao thương thượng tọa?
Sư Phụ: Dạ vâng cái như lý tác ý là nó riêng, như lý tác Ý là mình nhắc nó phải quay trở về để cảm nhận cảm giác thân nha, nhớ là phải quay trở về và mình kêu nó. Sau khi mà mình đã có cái sự an trú trên cái cảm giác toàn thân rồi thì mình kêu cảm giác mình lắng dịu, dễ chịu, tầm, tứ rồi sau đó mình mới như lý tác ý. Mình kêu "Thôi cảm giác lắng dịu nha, đi chầm chậm thôi nha, làm từ từ nhẹ nhàng nha" hay là "cảm giác ngọt ngào, dễ chịu nha". Mình nhắc cái đó thì đó là mới tới như lý tác ý.
Sư cô 1: Mô Phật kính bạch thượng tọa vậy cái tầm tứ đó có giống như lý giác sát không?
Sư Phụ: Cái như lý giác sát này bao trùm khắp hết tất cả các thời điểm, lúc nào mình cũng nhìn hết, lúc nào mình cũng quay trở lại mình nhìn hết. Như lý giác sát giống như mình xem chừng, mình canh chừng, mình dòm chừng cái thân tâm của mình, lúc nào cũng phải có hết, tùy theo cái thời điểm. Thí dụ bây giờ mình đã quay trở lại cái sự an trú trong cái cảm giác toàn thân nhưng mà mình thấy lúc này nó có một cái tức tức, có cái bực bực, thì làm sao mình thấy được cái tức tức, cái bực bực, cái khó chịu đó, là do mình có giác sát nó mình mới thấy. Mình phải có nhìn nó mình mới biết, mình phải có ngó nó mình mới biết, mình phải có canh chừng, dòm chừng nó thường xuyên mình mới biết. Khi mình biết nó đang bực, đang khó chịu, đang sân thì mình tác ý kêu "đừng sân nữa, đừng có sân nữa, xả bỏ đi, buông bỏ đi. Đừng có giận nữa, đừng có khó chịu nữa, dễ chịu đi, nhẹ nhàng đi, tình thương đi".
Ngay trong như lý tác ý này mình cũng phải giác sát luôn, mình cũng phải quán coi nó nghe lời nó xả cái giận này ra, nó bỏ cái bực này ra, nó buông cái khó chịu này xuống là tốt và mình tiếp tục để ý nữa, dòm nữa coi nó diễn biến làm sao. Nếu như cái lúc mà nó nhẹ nhàng, nó tỉnh sáng, nó không có các cái thứ phiền não thì mình cứ để cho nó nhẹ nhàng thôi, mình không cần tác ý, cái lúc nào cần là mình tác ý. Vậy cái vấn đề cảm giác toàn thân tới nay chúng ta rõ được chưa ạ? Thành ra mình thấy vậy thì nói đơn giản nhưng mà trong đó nó nhiều cái khía cạnh, góc độ, phương diện ở trong cái cảm giác toàn thân.
Sư cô 2: Kính bạch thượng tọa, lúc cảm giác toàn thân là mình ghi nhận toàn thân mình từ đỉnh đầu xuống chân, mình ghi nhận cái cảm thọ đó, nhưng mà trong lúc mình ghi nhận cái cảm thọ đó giống như tối hôm qua con ghi nhận vậy thì con bị con mũi cắn ngứa, nó khó chịu lắm, nó khó chịu cái tay con nhưng mà lúc đó con nói cái này là cảm thọ nhưng mà nó cũng khó chịu. Lúc con vừa khó chịu như vậy thì con nghe tiếng xe cấp cứu nữa, hồi tối này cấp cứu chạy thì lúc đó con không có nhận cảm thọ mà con suy nghĩ tới "bệnh nặng… bệnh nặng" cái con trở lại cảm thọ rồi bệnh năng. Nó rối luôn chứ không phải là nó dễ dàng lắng dịu cảm thọ rồi tới như lý giác sát, con thấy một cái lộ trình chiến đấu tâm hay do tại con chưa có chưa có thần thục. Lúc đó con ghi nhận như vậy mà cảm thọ con tự dạy nó thôi chứ nó cũng khó chịu lắm, con chưa có thuần thục được, là chỉ ghi nhận cảm thọ thôi để bóc cái trí ra mà như lý giác sát nó rồi mới tác ý mới dạy dỗ nó là ngọt ngào, dạy dỗ nó là vô thường. Mấy cái này con thấy con chưa có dạy dỗ được.
Sư Phụ: Dạ như vậy là hay lắm rồi đó, vậy là giỏi lắm rồi đó tại vì nhìn được cái tâm mình như vậy là rất giỏi, tại ở đây phải học đầy đủ nhưng mà mình làm đơn giản lắm, nó dễ chứ không có khó. Bây giờ bị muỗi chích vô đang khó chịu rồi mình chưa giải quyết thì xe cấp cứu nó réo lên, nó hú lên thì mình chụp liền "chết nè, chết tới nơi rồi nè, khó chịu chút thì ăn nhằm gì. Bây giờ mình đang nằm trên xe cấp cứu đó, mình đang chuẩn bị tắt hơi đó, mình chuẩn bị là đối diện với tử thần đó, một chút muỗi chích này có gì đâu, xả bỏ cái cảm thọ này đi đừng có sân hận, đừng có khó chịu" rồi mình quán nghiệp quả nữa "chắc là đời trước mình cũng giết nó bây giờ mình tu nó chích mình chút xíu thôi".
Cái tác ý rất hay, tại sao mình tác ý được mà mình điểm trúng được ngay cái huyệt đó và mình mở được ngay cái gút đó được thì mình phải có cái vốn để mình như lý tác ý. Cái vốn đó là do mình nghe pháp nhiều thì tới lúc đó tự động mình biết "đời trước chắc là con cũng giết các vị cho nên đời này con tu là có vị chích con chút xíu. Thôi kệ cũng trả hoan hỉ", mình sân lên mình vỗ nó cái chát là xong, như vậy gọi là nghiệp cũ trả chưa xong rồi chồng thêm nợ mới nữa. Mình tác ý như vậy thì cái tâm sân, cái tâm bực bội của mình đỡ xuống một chút.
Sư cô 3: Thượng tọa nói con mới nhớ hồi xưa con ưa đập muỗi lắm, con quên hôm qua con không làm được chỗ đó nên khó chịu nhưng mà con kiềm thúc cái tâm không để khó chịu. Tại vì mình khó chịu là mình sai, con chỉ nghĩ vậy thôi khó chịu là mình sai, là không phải tu, lúc đó vừa vậy thì một cơn gió thổi mát lên, công nhận nó vừa khó chịu mà được gió thổi mát là dễ chịu liền. Con nói "trời ơi sao mau lẹ dữ vậy", tức là nó thay đổi cái tâm mình con không bắt kịp nó luôn, nó mau lẹ quá. Lúc đó vừa dễ chịu thì con tự nhiên suy nghĩ cái hôm ngồi ngoài chỗ thượng tọa, tự nhiên con đặt cái cảnh ở đó với cái cảnh ở đây, tự nhiên có cái so sánh nhớ lại cái cảnh ngồi ngoài trời ở Linh Quy rồi con tự nhiên suy nghĩ "vọng tưởng, kéo lại, kéo lại, kéo lại" thì nó dễ chịu, nó khó chịu cấp cứu. Nó liền liền cho nên con thấy là nó không dễ, lúc thượng tọa nói cảm giác toàn thân là đem tâm vô thân thì con cũng bắt được tâm chính xác nhưng tới lắng dịu, do cảm giác toàn thân rồi nó lắng dịu, nó ngọt ngào mới như lý giác sát rồi mới như lý tác ý để thọ; tưởng; hành thì lúc đó con hết biết làm gì, con nghe không có kịp. Hồi tối thượng tọa con nói con ghi nhận hết nhưng mà con không kịp của cái lộ trình tâm tu tập của con, cái từ ngữ thì con nhớ con ghi trong tập nhưng mà con chưa có làm kịp ở trong cái lúc con thực hành.
Sư Phụ: Thật ra mình học là học như vậy để mình biết nhưng mà khi mình làm nó đơn giản lắm, là nhận diện ngũ uẩn thôi, nhận diện ngũ uẩn rồi tác ý thôi. Nói đơn giản là có hai bước vậy thôi, nhận diện ngũ ẩn và tác ý thôi. Bây giờ con nhắc lại những cái hết sức là đơn giản để mình đừng có bị mấy cái chữ nghĩa này nó làm rối, bây giờ trong tâm mình đang có cảm giác gì, hình bóng gì, suy nghĩ gì, nếu mà có cái cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bất thiện thì mình từ bỏ nó, mình đuổi nó đi, không chấp nhận nó, đừng có tiếp tục theo, đừng có nuôi dưỡng nó, đừng có phát triển nó mà đánh đuổi nó. Còn nếu trong tâm mình có những cái suy nghĩ, những cái cảm giác, hình bóng thiện pháp thì mình cho nó phát triển lên, đừng đuổi nó mà cho nó phát triển lên.
Thí dụ mình ngồi nhớ cảnh Linh Quy thanh tịnh, nhẹ nhàng thì mình cho nó phát triển lên "an Tịnh quá, lắng dịu quá. Ở đây cũng giống như Linh Quy vậy". Mình không cần phải đuổi tại vì đó là thiện pháp, ở đây mình cũng tu, Linh Quy mình cũng tu, ở đây mình cũng an tịnh, lắng dịu, Linh Quy cũng an tịnh, lắng dịu thì như vậy cũng như nhau thôi. Cái quan trọng là mình an tịnh, lắng dịu chứ không phải quan trọng cái cảnh thì ngay lúc đó mình biết tác ý tự nhiên là mình cảm giác lạc thọ liền. Còn nếu mình không tác ý mình mệt, mình đuổi nó mệt lắm mà cái đó là thiện không cần đuổi, thành ra không phải cái gì mình cũng đuổi hết, nếu bất thiện thì đánh đuổi, là thiện pháp thì tăng trưởng, phát triển lên, nếu mà nó đơ đơ, trơ trơ là mình phải khởi quán lên, quán cái món nào mà mình thích. Giống như khi ăn mình chọn cái món vậy đó, mình thích ăn bún riêu, bánh canh, mình thích ăn xào gì đó thì bây giờ cũng vậy, cái món thích của mình là cái món tâm từ, hoặc là cái món vô thường, hay là cái món ruột của mình là tâm hỷ chẳng hạn, hay là tâm xả.
Mình lấy cái món ruột của mình ra mình tác ý cho nên món ruột là cái thứ nhất, thứ hai là coi trong con người mình cái nào nó nặng nhất, đang bị cái nào nặng nhất thì mình trị cái đó thôi, mình tập trung vào cái đó nhiều hơn chứ đâu có gì khó đâu. Chỉ cần nhận diện ngũ uẩn và như lý tác ý thôi chứ đâu có gì khó đâu, chia sẻ hết đủ mọi phương diện, cách thức rồi mình làm được cái nào thì mình làm chứ không có khó.
Sư cô 3: Kính bạch thượng tọa khi ra thực hành ở ngoài Linh Quy về thì con về cũng nhận diện ngũ uẩn mà ngũ uẩn giống như là đâu phải giờ nào mình cũng nhớ nhận diện ngũ uẩn hết. Có những lúc mình làm cũng siêng năng nhận diện lắm nhưng mà nãy giờ thượng tọa nói thì tự nhiên cái tâm con bị đơ đơ là con do con không có tác ý, nó nhận diện nhiều quá bị đơ đơ làm như cái kết quả không có đạt được thưa thượng tọa. Nhưng nhờ thượng tọa dạy thì con nhận ra đó là cái tâm đơ đơ do mình không tác ý. Mô Phật.
Sư Phụ: Dạ đúng, tác ý rất quan trọng, cực kỳ quan trọng cho nên bây giờ mình gặp nhau đừng có chào hỏi khỏe không mà hỏi "sư tỷ, ngũ uẩn bữa nay sao?", "sáng giờ ngũ uẩn thế nào?", tối gặp nhau hỏi "ngũ uẩn của hiền giả hôm nay sao rồi?". Gặp nhau cứ hỏi vậy đi chứ đâu có sao, rất là đẹp, đây là Tỳ-kheo thời Đức Phật đó, gặp cứ hỏi "hồi trưa em thấy ngũ uẩn chị thế nào?" thì khai thật ra hết. Như vậy mình cứ làm quen với vấn đề nhận diện ngũ uẩn và mình siêng năng chịu khó như lý tác ý sẽ thay đổi con người mình, thay đổi vận mạng mình luôn, cứ nhắc hoài, nhắc hoài, nhắc hoài, nhắc hoài.
Sư cô 2: Đối với nghiệp sân thì mình thường tác ý về cái sân nó là một cái tai hại, nó đọa địa ngục, nó thiêu đốt mình. Với cái lộ trình tác ý như vậy thì cũng phải có cảm giác toàn thân, nó phải qua cái lộ trình đó nhưng có khi nó cũng tự tác ý, tự nó nổi lên chứ không phải là mình phải đề ba nó, có lúc nó tự nổi lên, có lúc thì nó quên mất tiêu. Con nhớ thượng tọa nói tất cả các pháp lấy tác ý làm sanh khởi, con biết được chỗ đó, từ cái tác ý đó lấy cái niệm, tất cả các pháp cũng lấy niệm để tăng trưởng thì bây giờ tự nhiên con quên cái chỗ lấy niệm tăng trưởng, tức là lấy tác ý sanh khởi là con nhập tới đó rồi, giờ con quên cái chỗ tất cả các pháp lấy cái niệm tăng trưởng. Tức là từ cái chỗ tác ý đó mà cái niệm tăng trưởng giờ con quên, con thỉnh thượng tọa nói lại chỗ đó.
Sư Phụ: Dạ cái niệm là mình nhắc mình, không phải đợi tới cái lúc sân mình mới tác ý, không phải đợi tới lúc giận lên mới tác ý vì như thế sẽ không kịp, nó không nghe lời mà mình phải tác ý từ xa. Thí dụ như bây giờ mình đợi tới ngày mình đi thi mình mới học bài hay là học trước? Tất nhiên phải học trước, cũng vậy, mình đợi tới ra trận rồi mình mới luyện công hay sao? Đâu có được, phải tập dượt, thao dượt trước, phải không? Gọi là luyện binh ba năm dùng một giờ thôi, như vậy thì không phải đợi lúc nó nổi sân, nó khởi bản ngã lên mình mới tác ý mà cái lúc bình thường mình phải tác ý, mình phải quán thì tới cái lúc đụng chuyện, hữu sự mình kêu thì cái tâm mới nghe lời, nó mới có sức mạnh. Mình muốn tác ý thường xuyên gì thì lấy cái gì để thường thường tác ý, thường thường luyện binh? Phải có một cái niệm là nhớ, nhắc nó, nhắc nhớ vô thường, nghe tiếng xe cấp cứu ai nằm trên đó, mình nằm trên đó chứ không phải ai nằm hết đó, rồi xe cấp cứu này đi đến viện thì nhiều khả năng là nó đưa về lò thiêu, đi ra nghĩa địa.
Mình quán cái người nằm trên đó là mình rồi tất cả những diễn biến đó là mình, "bây giờ còn tham nữa không hả tâm? Còn tham không? Còn muốn sân nữa hay không? Còn muốn bản ngã nữa hay không?" thì nó bảo "dạ không, giờ chết tới nơi rồi tham, sân, si làm chi nữa". Mình càng quán lâu chừng nào, những cái mà mình tác ý, những cái mình niệm, những cái mình quán càng an trú vô pháp nhiều chừng nào thì cái sự tu tập của mình càng có công phu chừng đó, còn cái tâm trống không thì nó đâu có công phu, tâm trống không không quán gì hết, không tác ý gì hết, không niệm gì hết đợi đụng chuyện lúc đó mới quán thì không được, không có sức để mà quán.
Sư cô 2: Bạch thượng tọa cái quán đó cũng bước ra cái vô thường, ly tham này luôn nhưng khi nãy thượng tọa nói cái tâm mình nó lắng dịu rồi cái trí tách ra tức là nó đứng ra khỏi ngũ uẩn nhìn lại ngũ uẩn, cái đó sao nãy thượng tọa nói con cũng hiểu nữa. Còn cái lộ trình tu này khi mình nhắc nhắc, mình niệm niệm, mình nhắc nó vậy giống xe cấp cứu thì mình không còn sân, không ly tham gì nữa nhưng mà cái này là lúc đó cái trí mình có thánh trí chưa hay là nó quán, nó tốt, nó thiện pháp vậy thôi.
Sư Phụ: Dạ thật ra mình đang đi trên con đường thắng trí đó, tại vì nếu mà cái trí không thù thắng thì đâu có thấy ngũ uẩn, vừa nhận diện ngũ uẩn thôi là cái trí đó đã thù thắng rồi, chẳng qua là mình đạt được bao nhiêu phần thôi chứ còn cái đó là thượng nhân pháp, là thắng trí, là cái trí thù thắng, cái trí vi diệu, cái trí tối thượng, là trí tuệ của bậc thánh. Khi nhìn được ngũ uẩn cái bước đầu tiên thôi đã sử dụng thánh trí, tức là nó vừa đẻ đã là sư tử rồi, bây giờ nó mới đẻ ra nó là sư tử hay là đợi nó ba năm, năm năm nó mới là sư tử? Đẻ ra là sư tử rồi, đó là mình đang sử dụng cái trí huệ của bậc thánh, đang sử dụng trí thánh, lúc nào mình quên mất thì trở lại con mèo, lúc nào nhớ thì nó là con sư tử. Như vậy mình muốn làm mèo hay làm sư tử là do cái nhớ hay là quên, tức là thất niệm hay là chánh niệm, nói tiếng việt mình là nhớ hay là quên, nhớ nhận diện ngũ uẩn thì lúc đó mình sống trong trí mà quên nhận diện ngũ uẩn thì lúc đó mình sống ở trong tình, ở trong mê, ở trong chấp, ở trong vô minh.
Cho nên trong kinh Nikāya nói rằng thấy ngũ uẩn là thấy Phật, sống với thánh trí ngũ uẩn là đang sống với Phật, trú trong thánh trí ngũ uẩn là mình đang ở trong nhà Như Lai, ở chung các bậc hiền thánh, nhưng mà mình không ở với nó, quay trở lại mình ở với cái thường tình, ở với cái mê tình, ở với cái vô minh, ở với cái chấp thủ, hơn thua này kia là mình lúc đó phàm, còn mình nhớ được cái kia lúc đó không phải phàm.
Sư cô 2: Kính bạch thượng tọa như vậy thì thì mình thường tu, huân tập như vậy cho đến cái lúc mình bệnh sắp chết như thượng tọa nói lúc mình bệnh sắp chết người ta có cái trí để người ta quán sát mà cái thân ngũ uẩn này rồi cái vô thường, ly tham, đoạn diệt mới chứng thứ nhất, thứ nhị, thứ hai, thứ ba. Cái lúc mà mình bệnh tới sắp chết thì cái vốn mình phải có sẵn, mình mới làm được cái chỗ đó, các bậc thầy nhắc nhở mình thì mới làm được chứ nếu con thấy lúc đó mình không có cái vốn sẵn lại bị nghiệp chi phối mình, cái cơn đau mà cái ngũ uẩn mình nó sắp rã, không phải là mình bám víu cái ngũ uẩn, nó ở đâu sâu trong tâm nó bám víu chứ cái trí thức mình, tức là cái trí trên này không có bám víu, không có tiếc cái thân này muốn chết nhưng mà con không biết là lúc đó ở dưới đáy tâm còn nó còn bám víu thân ngũ uẩn không nhưng mà nó không có khởi lên cái trí nếu mình không có cái vốn sẵn.
Tức là con nói nếu mình không dự lưu đi, cái vốn đó là phải dự lưu chứ con nghĩ không dự lưu là nhắc thì không dễ gì mà mình nhập vô cái đó mình quán liền, nó trong suốt ra cái thân ngũ uẩn như một cái dòng nước trong được.
Sư Phụ: Dạ đúng vậy, bây giờ mỗi một cái ý niệm, mỗi một cái giờ là mình nhắc nè, mình tác ý là mình niệm nè, mỗi một cái ngày là mình tu như vậy, mỗi một tuần mình tu như vậy, mỗi một tháng là mình cứ tới tới, mình cứ tích lũy cái trí huệ đó rồi mỗi một cái quý ba tháng, rồi mỗi một năm, hai năm, ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, mười hai năm, mười ba năm, mười lăm năm, mười tám năm, hai mươi năm, tới lúc gần chết là lúc đó nó chín muồi hết rồi từ giã lên đường là nhập lưu luôn. Tức là nó phải được huân tập, tích lũy, tích tụ, tu tập, nhóm hợp cho tới nhuần nhuyễn, thuần thục, điêu luyện, nó chín muồi thì tới lúc đó nó được thôi, không cần lo, chỉ lo ngay bây giờ thôi, chỉ lo ngay bây giờ thôi chứ không cần lo tới chết. Ngay bây giờ nó có thì chút sau nó có, chút sau nó có thì chiều nay nó có, mà chiều có thì ngày mai cũng vậy, lúc nào cũng tu bây giờ thôi cho nên bậc đạo sư nói "tu không có nhiều thầy, tu ngay bây giờ thôi à, không có tu lâu".
Không có tu ba năm, năm năm, tám năm, mười năm, tu tới chết mà chỉ tu ngay bây giờ thôi tức là nhớ nhận diện ngũ uẩn, đừng chạy theo tham, sân, si, tu ngay lúc nào được ngay lúc đó, tuyệt vời ngay đó thành ra đừng có quên thực hành pháp, bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào thì tới cái lúc mình chết mình khỏe lắm, mình không còn lo gì nữa. Bây giờ mình lo, tới lúc chết mình không lo, bây giờ mình không lo tới lúc chết mình khổ lắm.
Ni trưởng: Kính bạch thượng tọa, các con xin phép được dừng lại tại đây tại vì cũng năm giờ rồi thì quý vị còn đi. Hôm này khi học xong thì xuống con chưa hỏi hết chúng nhưng mà hỏi được một vài vị và con biết con được nghe kết quả là cái buổi học hồi tối, còn sáng này thì chưa nghe kết quả tại vì mới học xong thì một kết quả rất là thù thắng. Con cũng không ngờ tại vì trong chúng con có những vị cũng rất là mới tu, thành thử ra những vị đó là coi như là có tiếp thu và cảm thấy rất là phấn khởi khi được học pháp và thấy rằng dễ hiểu, có nó dễ tu không con quên rồi nhưng mà dễ hiểu thì chắc chắn có rồi đó.
Vậy giờ đây cũng như là buổi học buổi sáng này cũng đã xong trong một ngày chứ không phải rằng chúng con sẽ xong luôn. Chúng con thành kính cảm ơn thượng tọa đã đem đến cái nguồn trí tuệ cho chư Ni chúng con để chúng con phát triển cái nguồn trí tuệ này để thành tựu một trí tuệ, bước đầu đó là trí tuệ của chánh tri kiến Tu-đà-hoàn và để rồi chúng con sẽ được một trí tuệ viên mãn đó là thánh quả A-la-hán và chúng con xin thành kính hết lòng tri ân, cảm niệm ân đức của thượng tọa. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tự và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.