Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Công Năng Cảm Giác Toàn Thân

2026-03-18 06:54:25
TINH HOA NIKĀYA 2

CÔNG NĂNG CẢM GIÁC TOÀN THÂN

–Thích Minh Thành–

Sư Phụ: Con kính bạch trên Ni trưởng, con kính bạch trên chư tôn đức Tăng Ni, vừa rồi chúng ta cùng nhau thực tập hiện tại lạc trú, tức là đem tâm của mình trở về thân, an trú trong giây phút hiện tại, xa lìa ngũ dục và năm triền cái để cảm nhận được hương vị, cảm nhận được đạo vị, pháp vị, thiền vị, hương vị của sự viễn ly, sự rời xa các dục, cảm nhận được hương vị của sự lìa sanh, cảm nhận được hương vị của một thân tâm an tịnh, lắng dịu không có trạo cử, cảm nhận hương vị một nội tâm tỉnh táo, tỉnh sáng, tỉnh giác, tỉnh thức, không có lờ mờ, không có vật vờ, không có hôn trầm, không có đơ đơ, trơ trơ. Chúng ta cảm nhận được sự sáng suốt, quả quyết ở trong cái trí không có nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự đối với pháp. Đây là thiền vị, là thiền duyệt. Thiền duyệt là niềm vui ở trong sự thiền tập, thiền vị là cái hương vị ở trong thiền định mà Thế Tôn trong kinh tạng Nikāya gọi là viễn ly lạc, chánh giác lạc, siêu thế lạc và Niết-bàn lạc.

Bốn cái niềm vui này người xuất gia nếu không nếm được thì mình sẽ không có tu được, vì mình quen với cái dục lạc của thế gian mà nếu như mình bỏ cái dục lạc mà mình vô tu không nếm được cái hương vị của pháp lạc thì mình sẽ tu học trong một trạng thái bất khổ bất lạc, đơ đơ, trơ trơ, vô vị lạt lẽo, lạc lỏng, nhợt nhạt, tẻ nhạt, mình không tìm được cái niềm hạnh phúc ở trong đời sống phạm hạnh. Chính vì vậy con vừa rồi cũng có thưa bạch với Ni trưởng tại vì chúng ta lâu lắm mới gặp được và con sẽ cúng dường pháp lên chư tôn đức những cái gì rất là cốt lõi và cần thiết ở trong đời sống của người xuất gia, cái pháp cốt lõi, quan trọng, cần thiết đó chính là cái niềm hạnh phúc trong sự tu.

Tại sao mà chúng ta ưa ngồi thiền, thích ngồi thiền, muốn ngồi thiền, khoái ngồi thiền, yêu ngồi thiền, ham ngồi thiền, thú vị, hứng vị, đạo vị, pháp vị ở trong cái thiền vị vì chúng ta có được thưởng thức ở trong cái thiền. Nếu mình ngồi mà mình thấy không có cái gì hết trơn, muỗi cắn, đau lưng rồi tê chân, mệt thì riết rồi mình sẽ chán thiền, mình bỏ thiền. Cho nên hôm nay con cúng dường pháp, thuốc bổ nội tâm chư tôn đức có hoan hỉ không? Dạ hay là thuốc bổ ở trong cái nội tâm của mình, mình phải có những cái này giống như mỗi ngày mình ăn mấy cử, mình uống mấy lần thì cũng vậy, cái pháp thân của mình cần có cái sự nuôi dưỡng thì chính những cái thiền này là nuôi dưỡng cho cái thân pháp, cái thân trí tuệ, cái thân giác ngộ của mình. Vì thế trong kinh tạng Nikāya Đức Phật nói nhiều niềm vui lắm nhưng mà bốn cái niềm vui Đức Phật thường nói là viễn ly lạc, chánh giác lạc, siêu thế lạc và Niết-bàn lạc.

Chúng ta ngồi thiền hồi nãy là niềm vui của sự viễn ly tức là mình rời xa những cái thú vui, những cái dục thấp kém, thấp hèn, hèn hạ của thế gian, mình rời xa năm triền cái: Dục tham, sân, Trạo cử, hôn trầm thùy miên và cái nghi ngờ, tâm mình được hoan hỉ, mình được hân hoan, mình được vui sướng, mình được phấn khởi. Khi nãy chúng ta có thấy hoan hỉ không? Mình có thấy phấn khởi, nhẹ nhàng, thoải mái không? Cái đó chính là thức ăn của pháp thân, thức ăn của tâm, thức ăn của giới, thức ăn của định, thức ăn của tuệ, thức ăn giải thoát và thức ăn của sự thấy biết và giải thoát. Cái này rất quan trọng, giống như mỗi ngày mình cần ăn cơm, mình cần uống nước thì mỗi ngày mình cũng cần có thức ăn ở trong cái tâm tu học của mình. Đây là những cái mà khi mà Đức Thế Tôn còn tại thế thì chư thánh Tăng, các chư vị Tỳ-kheo, những bậc xuất gia là thường xuyên thực hành tâm hỷ, thực hành hiện tại lạc trú, thực hành sơ thiền và sống an trú trong đó.

Vừa rồi chúng ta thực tập vừa có tâm hỷ vừa có hiện tại lạc trú vừa có sơ thiền và nhị thiền, tức là những cái niềm hỷ lạc, hoan hỉ, hạnh phúc, phấn khởi, vui sướng, thấm thía, hứng thú, thú vị ở trong sự tu học. Cái này rất cần thiết, cần và phải có trong sự tu của chúng ta, khi mình có được cái này thì ở một mình vui lắm, khi mình có được cái sự thiền này rồi nhiều khi chung quanh người kia sân với mình nhưng mà cái tâm mình nó vẫn mát chịu Tại vì cái tâm mình là một cái tâm bổ dưỡng, một tâm khỏe mạnh, một tâm sung mãn các thiện pháp, các cảm thọ hỷ lạc ở trong thiền, hoan hỉ trong sự tu và nó tràn ngập những cái niềm vui trong tâm cho nên mình ít có bức xúc, bực bội, cọc cằn, cau có, còn người tu không có cái này thì người này dễ bức xúc, dễ bực bội, dễ cọc cằn, dễ quạu quọ, dễ cau có, dễ sân hận là vì người này cái tâm bị suy dinh dưỡng.

Tâm bị suy dinh dưỡng vì nó không được nuôi bằng cái chất bổ dưỡng cho nên mới gọi là pháp nhũ là vậy đó, tức là sữa pháp, không thôi gọi là gì pháp thủy tức là cái nước pháp, gọi là pháp lạc, pháp vị.

"Pháp thí, thắng mọi thí!

Pháp vị, thắng mọi vị!

Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!

Ái diệt, dứt mọi khổ!"

(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 354)

Cái niềm vui của pháp thì không có bất cứ một cái niềm vui nào có thể so sánh được gọi là pháp hỷ thắng mọi hỷ, cái hương vị của pháp là không có bất cứ hương vị nào trên thế gian này có thể so sánh được cho nên gọi là pháp vị thắng mọi vị. Cái niềm vui của pháp là không có bất cứ một cái niềm vui nào thế gian có thể so sánh được, cái sự bố thí pháp thắng mọi sự bố thí gọi là pháp thí thắng mọi thứ thí và ái diệt thắng mọi khổ. Tất cả sự tu học này của mình là không phải để cho mình tham ái, cái vui này là để cho mình đi đến chỗ đoạn ái để mình vui lên để mình tu, mình vui lên để mình rời xa, mình vui lên để mình thoát ra, mình vui lên để mình từ bỏ chứ không phải mình vui rồi mình ham thích cái thân. Mình càng bỏ nhiều chừng nào mình càng vui chừng đó, mình càng buông nhiều chừng nào mình càng hạnh phúc chừng đó, mình càng phá được cái thân kiến nhiều chừng nào thì mình càng thấy hoan hỉ chừng đó.

Đây là cái điều mà con nói rằng là hết sức là quan trọng ở trong sự tu, các thầy Tỳ-kheo hỏi ngài Xá-lợi-phất trong pháp và luật này cái gì là khó thì ngài Xá-lợi-phất nói xuất gia là khó, rồi các thầy Tỳ-kheo hỏi tiếp sau khi xuất gia thì cái gì là khó thì ngài trả lời là vui trong đời sống phạm hạnh đó là khó, thỏa mãn ở trong cái đời sống ly dục, hoan hỉ ở trong đời sống viễn ly, hạnh phúc ở trong đời sống từ bỏ là khó nhưng được cái này là được cái hy hữu, được cái khó ở trong cái khó. Cho nên cái người tu mà tu đúng pháp thì người này tràn đầy hỷ lạc trong thân tâm, không có bức xúc, khó chịu, bực bội, cau có, cọc cằn, gắt gỏng, nếu còn bức xúc, khó chịu, bực bội, cau có, cọc cằn, ghim gút thì người này thiếu tâm hỷ, thiếu phần hiện tại lạc trú này, thiếu cái phần tu tập về sơ thiền và nhị thiền.

"-- Này Hiền giả Sàriputta, trong Pháp luật này, cái gì là khó làm?

-- Xuất gia, này Hiền giả, là điều khó làm trong Pháp luật này.

-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, cái gì là khó làm?

-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, hoan hỉ (abhirati) là điều khó làm.

-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỉ, cái gì là khó làm?

-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỉ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp.

-- Có lâu không, này Hiền giả, một người đã thực hành đúng pháp và tùy pháp có thể thành vị A-la-hán?

-- Không lâu, này Hiền giả". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, XVI. Khó Làm)

Chúng ta để ý cái lộ trình tu này rất quan trọng, hồi xưa bất cứ lúc nào, bất cứ ai lại gần sư phụ của con giống như đang ở ngoài nắng hạn tới được tàn cây bóng mát phủ rợp bóng, cái cảm thọ của ngài lan ra như vậy, lúc nào trên gương mặt của ngài cũng như nở hoa giống như gương mặt biết cười. Tại vì ở trong ngài là tràn đầy hỷ lạc của sơ thiền, của nhị thiền thành ra cái này cái rất cần thiết cho chúng ta hoan hỉ. Dạ đó là cái phần con chia sẻ một chút để chúng ta thấy cái nguyên do, cái cách thực hành cũng như là cái mục đích, cái công năng, cái tác dụng của buổi thực tập vừa rồi của chúng ta hiện tại lạc trú, ly sanh hỷ lạc, xa lìa năm triền cái.

Giờ này con kính mời trên Ni trưởng và chư tôn đức có muốn hỏi gì về vấn đề tu học con xin mời. Mô Phật.

Ni trưởng: Mô Phật, xin đại chúng có muốn hỏi, có muốn tìm hiểu trong cái thời thiền vừa rồi mà thượng tọa hướng dẫn, trong đại chúng của mình có ý kiến gì mà mình chưa có thông hiểu để bạch thượng tọa chỉ dạy cho.

Mô Phật, kính bạch thượng tọa như nãy giờ thượng tọa trình bày thì con thấy con chưa có nắm được rõ, thí dụ cái phương pháp hành thiền nó cụ thể giống thượng tọa hướng dẫn cho tụi con ngồi thiền. Con nói thiệt nếu hồi chiều không có thượng tọa hướng dẫn thì đúng là bữa nay tụi con bị lu bu, tụi con rất là bị lu bu rồi bị dao động, con cũng cảm nhận như vậy đó. Nhưng mà qua những sự hướng dẫn của thượng tọa con lắng tâm theo dõi, con nghe những gì thượng tọa trình bày và cái sự trình bày đó có một phần chứ nó chưa phải là trọn vẹn đối chiếu qua chính con. Thí dụ thượng tọa nói những cái giai đoạn hôn trầm thì con thấy con không có hôn trầm nhưng mà chưa có tỉnh, nó chưa sáng nhưng mà hỏi hôn trầm thì nó không có hôn trầm. Rồi có bị tham dục chi phối không, nó không bị tham dục chi phối, nó có bị sân chi phối không, nó không có bị sân chi phối tức là năm triền cái không bị chi phối nhưng mà hỏi rằng trong cái giai đoạn đó cái tâm của con được định tĩnh chưa, sáng suốt chưa thì nó chưa.

Thành ra kết quả của nó là cái năm triền cái lắng nhưng mà hỏi có cái niềm vui thì cũng có vui nhưng mà nó không phải quá vui, nó không có phải là quá vui. Tại vì nó chưa lắng nên đâu có vui được, cái tâm chưa lắng thì không thể nào vui được, những cái mà nãy giờ thượng tòa trình bày con xin thượng tọa chỉ dạy cho tụi con, trong một cái pháp hộ của tụi con tại đây thì có những vị mới tu, có những vị có quá trình tu rồi nhiều thứ bậc. Thí dụ như mới học thì học chưa rõ nhưng mà học nhiều lần thì nó sẽ rõ, thành ra con nghĩ rằng cũng không cần phải bắt buộc phải đi đi từ thấp tới cao gì hết, những gì mà nãy giờ thượng tọa trình bày thì nếu những vị nào tiếp thu nhanh sẽ thực tập một cách tốt hơn, còn những vị chưa thì từ từ con nghĩ rằng cũng không có trở ngại gì. Cách thiền nà nãy giờ thượng tọa trình bày hiện tại lạc trú để vào sơ thiền thì nếu đọa vào sơ thiền thì cái này có phải thiền chỉ không thưa thượng tọa.

Cái thiền mà hồi nãy giờ thượng tọa trình bài nằm ở trong cái dạng nào, con còn đang lập lờ chỗ đó tức là con lập lời giữa quán với chỉ. Thành ra con muốn thượng tọa trình bày cho tụi con rõ, tụi con nắm thật vững để trong cái sự thực tập của con sẽ có những cái kết quả rất là thù thắng, mà cái thù thắng đó là cái hỷ như thượng tọa vừa trình bày là sự an lạc nội tâm, mà sự an lạc nội tâm phải dễ để có, không phải là trong một cái giây phút hay là một thời thiền mà nó cần có một cái quá trình. Con muốn thượng tọa chia sẻ. chỉ dạy cho tụi con đi từ từ như thế nào để đi vào cái thiền như nãy về trường hợp và thượng tọa trình bày.

Nãy giờ con nghe con có một cái thắc mắc nữa là cái thiền mà thượng tòa trình bày thuộc về sơ thiền ở giai đoạn của sơ thiền không? Bây giờ con hỏi tới mức độ vậy đi rồi từ từ cái con còn khám phá nữa, rồi qua thiền quán nó như thế nào. Tức là bây giờ nó giống như bị lộn xộn giữa cái đó, tới chừng nhận diện năm uẩn mà không có cái này thì nhận diện năm uẩn cũng không ra nữa, con muốn thượng tọa chia sẻ điểm thứ nhất có thể đó là những cái trải nghiệm của thượng tọa. Thượng tọa sẽ chia sẻ cho tụi con để tụi con đi chứ nãy giờ làm như nó chưa được thông, đó là những cái mà con còn ưu tư. Kính thỉnh thượng tọa trước tiên cũng như là con được học mà cả đại chúng cũng được học. Mô Phật.

Sư Phụ: Dạ thưa kỳ rồi con đã có chia sẻ với chư tôn đức về thực hành ba pháp và nhận diện ngũ uẩn rất là kỹ. Lần trước con nhớ bài trước là con chỉ từ đầu là thực hành ba pháp và nhận diện ngũ uẩn, thành ra cái bài hôm nay là cái bài tiếp theo không thể nào bây giờ cứ trở về chỉ bài đầu hoài được cho nên mình phải chịu khó nắm vững được cái thực hành ba pháp. Giờ con nhắc sơ lại tức là lúc nào mình cũng rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác, cái này rất quan trọng, lần trước con có ó chỉ rất kỹ bây giờ cũng phải nhắc lại tại vì cái này quan trọng lắm, bất cứ mình tu tới lúc nào cũng thực hành ba pháp này, nếu không có ba pháp này thì mình không có chỉ quán gì được hết và một điều con xin thưa là chúng ta đừng có quan trọng phân biệt cái chỉ riêng, quán riêng.

Bây giờ khi mình kêu cái thân tâm mình an tịnh, lắng dịu thì lúc đó là chỉ phải không ạ? Mình làm cho tất cả toàn thân của mình lắng xuống, dịu xuống cái đó là chỉ nhưng khi lắng dịu mình nhìn rõ trong này có hình bóng gì không, đang có suy nghĩ gì thì cái đó là quán, rồi mình kêu nó lìa dục thì được hạnh phúc, nhẹ nhàng phải thì cái đó là quán. Thành ra lúc nào mình thiền cũng có chỉ quán song vận hết, đồng thời hết giống như ăn cơm có canh vậy đó, hai cái này sẽ đi chung với nhau và có khi nhiều cái này hoặc là ít cái kia, hay là ít cái kia nhiều cái này chứ không có một cái là chỉ không và cái quán không.

Tạm như vậy thôi, thí dụ như lúc đó mình tác ý nhiều thì gọi là thiền quán, còn mình an tịnh, lắng dịu nhiều thì gọi là thiền chỉ chứ cũng không có nên phân biệt rành rõ là cái này chỉ không, hay là cái này là quán không, mà hai cái lúc nào cũng song song, nó bổ túc cho nhau.

Ni trưởng: Có lúc con có thắc mắc mà con có dự định có dịp mà đủ duyên con sẽ hỏi lại thượng tọa ba cái là an trú chánh niệm trước mặt, rồi lắng dịu rõ biết trước mặt rồi cái nữa là an tịnh, lắng dịu cảm giác toàn thân.

Sư Phụ: Ba cái này là cực kỳ quan trọng, nếu mà mình đốt giai đoạn đi qua là mình sẽ không thực hành được, cái này là cái nền móng của tịnh xá này, cái nền móng này mà mình nắm bên này thật là vững mình và cái bài mà con giới thiệu là cái bài cảm giác toàn thân. Con mong rằng chúng ta nghe ít nhất cũng phải một chục lần, thực tập ngay tại chỗ và trả bài với nhau, pháp đàm với nhau luôn, có cái gì thắc mắc là hỏi liền cái bài này, cái tựa của nó là Cảm Giác Toàn Thân, có nhiều bài lắm với cái tựa là hiệu quả, công năng, tác dụng của cảm giác toàn thân. Ở trong kinh tứ niệm xứ hay là nhiều bản kinh thì có khi Đức Phật dùng từ đặt niệm trước mặt, hoặc là chánh niệm trước mặt, hoặc là rõ biết ở trước mặt thì nó cũng giống nhau thôi.

Cái này rất là quan trọng, con thưa là rất quan trọng mà đa số mình ngồi nhắm mắt không à, nhắm mắt là thất bại liền tại vì thiền là phải tỉnh đúng không? Thiền là giác, thiền tỉnh hay thiền mê? Bây giờ mình vô ngồi mà nó còn thua lúc ở ngoài nữa thì thôi rồi, coi như cái ngồi của mình bỏ sông bỏ biển hết, thành ra ngồi hoài ba tháng, ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, mười lăm năm, ngồi hai mươi năm, hai mươi lăm năm mà tuệ không phát, không có khai triển được trí tuệ là vì mình vô đó là mình thiền mê, thiền chìm, thiền lủng, mình nhắm lại là xong rồi. Khi mình nhắm mắt lại thứ nhất cái tâm mình sẽ lờ mờ, chắc chắn nó sẽ lờ mờ, mình nhắm mắt lại có thấy gì nữa đâu cho nên mình không có rõ biết cái hiện thực ở ngay tại chỗ của mình.

Bây giờ con ngồi đây mà nhắm là con đâu còn thấy ai nữa đâu, khi nhắm lại như vậy là lờ mờ. Thứ hai là nó chìm vô tưởng uẩn, những hình bóng sẽ hiện ra, nếu nó không hôn trầm thì nó sẽ lọt qua bên cái tưởng rất là nhiều, lúc đó nó không thấy được phía trước cái trần cảnh. Như vậy vừa lờ mờ, đi vô tưởng, rơi vào ở trong tưởng hoặc là hôn trầm, hoặc là đi tới ngủ gục luôn là coi như cái này thất bại rồi, từ cái chỗ gởi xe là đánh rớt, rớt từ cái vòng gởi xe không vô chùa được. Cho nên cái này rất quan trọng, cái cảm giác toàn thân này cực kỳ quan trọng, cảm giác toàn thân này là đem tâm trở về thân, đem cái tâm lang thang, cái tâm đi chơi, cái tâm du lịch, cái tâm hướng ngoại trở về thân.

Cái này cực kỳ quan trọng đem cái tâm này trở về cái thân, tức là mình phải cảm ở chỗ trung tâm của tất cả cảm giác là ở lồng ngực, kế đó mình mới cảm nhận cái vai, cái cổ, cái mặt, mắt, miệng, mũi. Nhiều khi mình tu mình tưởng đâu có gì nó xa đâu nhưng mà thật sự là không có xa, ngay cái thân mình thôi, cả thế giới là ngay thân mình. Thế Tôn đã nói ngay trong cái thân một thước tám này ngài tuyên bố về sự thành lập thế giới và sự diệt tận của thế giới, ngay trong cái thân một thước tám này ta tuyên bố sự thật về khổ và con đường diệt khổ, ngay trong thân một thước tám này thôi chứ không ở ngoài thân.

"Tại chỗ nào, bạch Thế Tôn, không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), chúng con có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới không?

- Này Hiền giả, Ta tuyên bố rằng: 'Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới'. Nhưng này Hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, Ta tuyên bố về thế giới, về thế giới tập khởi, về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (V). Rohitassa (1))

Thành ra mình tưởng là mình đi đâu, mình đi làm gì ở đâu nhưng chỉ cần quay về cái thân này thôi. Khi quay về thân này thì cảm nhận từng bộ phận trên cơ thể, từ đôi vai rồi cái xương sống, từ lưng, bụng, chân, ống chân, bàn chân, mông của mình, gót chân, từng cái, từng cái mình cảm nhận hết. Tới đây là bao gồm mười sáu hơi thở luôn, nói đơn giản nhưng nó là rất là sâu sắc và rất là quan trọng, rất là thiết yếu, rất là cần thiết, không thể thiếu là khi mình quay như vậy mình cảm nhận hết, Đức Phật còn gọi là đảnh tóc, từ đảnh tóc cho đến gót chân. Đảnh tóc không phải là từ da đầu mà từ cái đuôi của cọng tóc, Đức Phật dùng cái từ mà chưa có ai trên thế giới này dùng, tức là quán về thân thành niệm mà quán từ đảnh tóc cho tới dưới gót chân là không có sót cái chỗ nào hết, từng chỗ, từng chỗ mình để ý coi cái trạng thái hiện tại, cái cảm thọ trong thân như thế nào.

Mình đi qua cửa hải quan kiểm soát ẽ được người ta lấy cái cây rà hết toàn cơ thể, có gì lạ là kêu tít tít báo động, đó chính là cái gì rà soát lại coi nó có đang giận ai không, nếu có bực bội là chỗ lồng ngực hơi tức tức, nó hơi nóng, có hỏa khí bốc lên thì đương nhiên ở trong cái tức tức này, ở trong cái nóng nóng, ở trong cái bốc hỏa này có hình ảnh của người đó, nó có suy nghĩ về người đó tức là thọ; tưởng; hành thì mình biết "cái này không được à, cái tức tức này là có vấn đề, cái chỗ này phải làm cho nó hết tức nè, làm cho nó hạ hỏa xuống, giải nhiệt nè". Ngay chỗ đó mình trải cái tâm từ, ngay chỗ đó mình dùng mọi cách để làm cho cái cảm giác nó lắng dịu, thành ra cái cảm giác toàn thân hết sức là quan trọng, là không có đi chơi nữa mà về chùa để chăm sóc tinh xá, dọn từ chánh điện mà xuống tới với nhà bếp, vô trong toilet rồi mấy cái hốc, mấy cái kẹt, mấy cái cây, mấy cái kho, chỗ nào cũng nhìn hết, chỗ nào có vấn đề là quét liền, dọn liền, làm sạch sẽ liền. Như vậy thì cái tinh xa của mình tươm tất không? Sạch sẽ không? Gọn gàng không?

Đó là cái công năng của cảm giác toàn thân nói bảy ngày bảy đêm cũng chưa hết nữa, chúng ta làm đi rồi chúng ta sẽ cảm nhận được cái hiệu quả của nó. Thí dụ bây giờ mình quay về cảm giác toàn thân thì mình thấy cái thân bây giờ đang hơi khó chịu, nó nóng một chút thí mình tác ý liền "thân nóng mà tâm không có nóng, thời tiết nó nóng chứ tâm mình đâu nóng. Bây giờ mình đang có pháp thủy mà, mình đang có sự mát mẻ, thanh lương của pháp", mình từ bỏ cái cảm giác khó chịu ở ngoài thân hay là ngoài hoàn cảnh, mình đưa cái tâm mình đi vào trong cái dòng pháp thủy, vào trong cái sự dễ chịu của pháp thì có thể là mình sẽ không có bị cái nhiệt độ, cái thời tiết bên ngoài thậm chí mình sâu sắc là mình không bị cái cảm thọ của thân ảnh hưởng tới cảm thọ tâm luôn. Lúc đó mình kêu an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, đang được tu tập hạnh phúc thì quý vị thấy nó sẽ không bị chi phối của cảnh, không bị chi phối của thân và nó an trú cái tâm này vào trong cái pháp ngay cái lúc mình cảm giác toàn thân.

Cho nên người thực tập được cảm giác toàn thân sẽ có được định tâm trên thân và cái định tâm trên thân này rất là đặc biệt. Cái định nó có cái chỗ, nó có một sự vững chãi, vững trú, vững chắc, vững mạnh, còn nếu không thì định ở đâu? Tâm không có chỗ để an trú rồi làm sao nó định? Nó quay về cảm giác toàn thân thì cái định này rất là vững chắc, vững như bàn thạch cho nên khi trú được ở trong cảm giác toàn thân mà có một sự định rồi, thậm chí là như con đi ra Nha Trang có khóa tu vừa rồi thì con cũng không biết chương trình trước, các vị này mới đưa đi đến nghĩa trang công viên hoa hồng, ở đó là tới hơn mười sáu ngàn thai nhi. Con đến đó trải từ vô lượng tâm để sám hối oan gia trái chủ thế cho các vị đó để trải cái tâm từ giải tỏa cái tâm uất hận, tức tưởi, oan ức mạng chung.

Khi con trải cái từ vô lượng tâm về cùng khắp mười phương thì lúc đó có một cô té cái ạch xuống ngất xỉu vì xúc động. Cô cũng bị có phá thai thì lúc đó cô xúc động té xuống nhưng mà cái đặc biệt của chúng con là bao nhiêu người đứng đó mà vẫn nhẹ nhàng, vẫn trú ở trong tâm từ, sau đó có một vị đến nhẹ nhàng rồi đỡ cô vô chứ không có dao động, không có náo động, không có bấn loạn, không có loạn động, không có hoảng loạn. Nếu bình thường mình đang đứng hay đang ngồi mà có người té ạch xống xỉu mình có dao động không? Khi mình có thực tập cảm giác toàn thân, có trú vô cái pháp như vậy thì lúc đó mình có định, có sự an tịnh, có sự lắng dịu và con cũng bất ngờ, sau đó con khen ở trong chúng, chỉ có vài vị xuất gia thôi còn bao nhiêu là cư sĩ hết, lâu lâu họ mới về Linh Quy tu và đặc biệt là ngày nào họ cũng nghe pháp và thực tập.

Như vậy té cái bịch xuống giống như là cái bao gạo rớt cái bịch xuống, như trái mít rớt cái bịch vậy đó nhưng mọi người vẫn an tịnh, lắng dịu vì trải từ vô lượng tâm, chỉ có một người đi lên đỡ rồi đi vô ngồi hết. Cũng như hôm qua này con thỉnh quý thầy, quý sư cô về gia đình cô con mới vừa, lúc đó trải tâm từ cho cô mà khi cô ra đi ở nhà cũng không ai biết hết, nó nhẹ tới cái mức độ vậy, cô cứ thở nhẹ dần dần xuống, không phải một người mà mấy người trong gia đình, một là sống lại khỏe luôn, hai là coi như mãn phần ra đi nhẹ nhàng. Như vậy mình có sự thực tập an tịnh, lắng dịu này tuyệt vời lắm, thật sự mình tu cho tới cuối cùng cứu cánh phạm hạnh là cũng chữ an tịnh, lắng dịu. Như Lai là bậc an tịnh, thuyết pháp để cho chúng sanh đạt đến cảnh giới của an tịnh, muốn được an tịnh thì phải là an tịnh ở cảm giác toàn thân chứ không phải nói định là nói không không, nói tưởng tượng mà nó có cái chỗ rõ ràng để cho mình an định là định tâm ở trên thân cho nên rất vững chắc rất, là vững mạnh. Vì thế cứ thực tập cảm giác toàn thân này và con mong rằng cả chư tôn đức chịu khó nghe cái bài nào mà có chữ "cảm giác" thì nghe hết đi, nghe tới nghe lui, có bài nào chấm thì cứ mở bày đó lên rồi nghe thực tập tại chỗ: Công năng của cảm giác toàn thân, hiệu quả cảm giác toàn thân, tác dụng của cảm giác toàn thân và cái cách để thực hành cảm giác toàn thân con chia sẻ rất nhiều cả chục bài.

Khi thực tập được mình sẽ thấy cuộc sống mình nó nhẹ nhàng, bệnh mình có nặng cũng giảm thành nhẹ mà nhẹ thì thành hết bệnh. Cảm giác toàn thân này bao gồm tâm hiền ở trong đó, nó có tâm hiền trong đây nên khi mình thực hành an tịnh, lắng dịu thì lần lần sẽ hiền ra, bước đi của mình cũng nhẹ hơn lúc trước tại vì mình có để ý cái cảm giác của mình, lời nói của mình cũng từ hòa hơn, nó kiểm tra cái khẩu khí của mình, ở trong cảm thọ của mình cũng tập quen một cái cảm thọ ngọt ngào, dễ chịu, từ ở trong ruột ngọt ra chứ không phải ngọt ở ngoài miệng không. Ngoài miệng nhiều khi nó ngọt như mà trong ruột nó đắng chất, còn cái này mình thực tập từ trong ruột ngọt ra cho nên khi nó ngọt rồi là nó ngọt thật chứ nó không có ngọt giả.

Thành ra từ cái cách bước đi của mình, từ cái mở cửa, từ cái để cái dép, từ lời nói, cử chỉ, hành động, thậm chí cái ánh nhìn của mình cho đến sâu sắc vô trong suy nghĩ, cảm Thọ vì tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ mà bây giờ mình tu rồi mình đi về cái cảm thọ này cho nên cái cảm thọ này một khi đã hiền hòa rồi thì tất cả mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý và sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều hiền hòa, lắng dịu hết. Một người thực tập được cái này thì tất cả người ở chung đều cảm nhận được, người ở gần đều thay đổi hết, có rất nhiều các vị cư sĩ ở trong đạo tràng Nikāya thực tập cái này là mẹ con bất hòa trở thành hiếu thảo, có vợ chồng không nói chuyện với nhau, bất ổn với nhau năm chục năm trong khóa tu bên Melbourne của Úc con hướng dẫn ba ngày thì cái bà vợ này sụp xuống lạy ông chồng, mà ông chồng hoảng luôn, ông nói cái này là lạ quá trong năm chục năm nay, cái chuyện gì đây "Dạ em xin quỳ xuống em lại em xin lỗi anh" rồi ông cũng quỳ xuống luôn, hai người ôm nhau khóc và thay đổi gia đình.

Có nhiều trường hợp như vậy chứ không phải là một, trong nước, ngoài nước và khi thực tập cái cảm giác toàn thân, nhất là tâm hiền này làm cho người này đổi đời bởi vì nó thay đổi không phải chỉ ngoài cái miệng, không phải chỉ là thay đổi cử chỉ ở bên ngoài để tạo dáng, làm màu mà nó thay đổi sâu thẳm ở trong cái cảm thọ. Khi đã thay đổi vô tới trong cảm thọ mà cái cảm thọ ngọt ngào, cái cảm thọ biết ơn, cái cảm thọ yêu thương, thấu hiểu cái nỗi khổ, mình học chánh kiến hiểu cái khổ này quá xá rồi không lẽ mình làm khổ cho nhau. Cho nên từ cái cảm thọ này sanh khởi ra những cái suy nghĩ, những cái nhận thức, những cái lời nói, những cái hành động, những cử chỉ chân thành, chân thật, ngọt ngào, yêu thương, cảm thông, tha thứ, hiền hòa, biết ơn và người thân cảm nhận được, những vị xuất gia thì tuyệt vời rồi. Con thấy các vị ở trên Linh Quy lúc mới về khác, ở một thời gian sẽ khác, Ở càng lâu thì càng dễ thương ra và từ có mấy người giờ lên bảy mươi người, đỡ là con không có tiếng nào la rầy gì hết, rất khỏe vì ai cũng thực hành tâm hiền, ai cũng thực hành tâm biết ơn, ai cũng thực hành diệt ngã khiêm cung, khiêm hạ cho nên con khỏe re.

Trên Linh Quy khoảng sáu mươi, bảy mươi người mà giống như không có ai, nhẹ như vậy, nếu ai cũng thực hành tâm hiền là êm ru, nhẹ nhàng, hòa kính, lâu lâu có gì chạm nhẹ chút thì quỳ xuống xin lỗi nhau, sám hối diệt ngã với nhau, như vậy là rất nhẹ khỏe. Trở lại vấn đề cái cảm giác toàn thân này quan trọng, bất cứ lúc nào, không phải chỉ có lúc ngồi thiền nhưng mà vì lúc ngồi thiền mình tập dễ cho nên mình sẽ tập từ lúc ngồi thiền trước, tại cái lúc đó mình tỉnh nhất, mình tập trung tâm ý hết mức và mình chỉ làm một việc đó thôi. Từ lúc mình ngồi thiền rồi bắt đầu mình vận dụng lúc bước đi, lúc ăn cơm, lúc nói chuyện, lúc làm việc, quét nhà, rửa chén, mình để cái chén phải nhẹ, để cái đũa, cái muỗng cũng nhẹ vì nhiều khi vào quán ăn mà người phục vụ để tô chén xuống cái đùng thì hết muốn ăn, không biết món ngon cỡ nào mà thấy cái cách này là đang sân giận.

Như vậy từ ở trong cái ngồi thiền mà thực tập cho đến khi ra ngoài mình càng nhớ nhiều chừng nào càng tốt, rồi những cái sinh hoạt mình cứ đưa cảm giác toàn thân và mình cứ hướng vào trong tâm kêu an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Mình niệm giống như niệm Phật nhưng không phải chỉ niệm ngoài môi mà mình niệm là mình làm cho mình tác ý lên một cái pháp lệnh, mình ra lệnh, ra một cái pháp lệnh là là mình hướng vô cái chỗ trung tâm của tất cả cảm giác, lập tức khi mình kêu lên giống như một người có quyền lực, cái người làm chủ kêu lên một cái là răm rắp phải làm theo. Bây giờ làm chủ tâm, làm chủ cảm thọ thì mình kêu an tịnh là lập tức cảm thọ có sự an tịnh, mình kêu lắng dịu là cảm thọ lắng xuống.

Lúc đầu con học được sư phụ hướng dẫn thì con không hiểu cái chữ ngọt ngào là gì, con thấy tâm mà ngọt ngào gì nhưng mà tu rồi mình sẽ thấy ngọt ngào, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, từ từ nó sẽ ngọt ngào, nó hiền hòa rồi mình thực hành tâm từ nữa thì dạt dào lắm. Không những ngọt ngào mà còn dạt dào nữa, còn thấm đẫm, thấm đượm, thấm nhuần, thấm gội, thấm thía, thẩm thấu, mình ở trong đó rồi mình sẽ cảm nhận. Mình hướng vào nội tâm đưa ra cái pháp lệnh "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu nha" là lập tức mình có cái cảm giác đó sanh khởi chứ không phải mình chỉ nói ngoài môi hay là mình chỉ tưởng suy nghĩ lên mà nó có thọ sanh khởi lên. Mình nhắc hoài vậy đó, cứ kêu "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào nha, đừng có khó chịu nha, đừng có quạu nha, trời đang nực nóng nha, đừng có sân nha", cứ nhắc hoài thì tự nhiên từ từ nó ở trong người mình luôn, giống như lúc đầu mình học bài kinh Pháp Cú, cái bài kinh đó là của Đức Phật, bài kinh đó là của trong kinh nhưng khi mình thuộc lòng rồi mình muốn đọc ở chỗ nào là đọc, bất cứ ngồi đâu mình nhớ lại thì nó trở thành của mình và mình thực hành được như trong đó rồi mình chứng pháp, mình đắc pháp, mình thể nhập vào pháp mình sống ở trong pháp.

Thành ra cái cảm giác toàn thân này quan trọng, mỗi một bước đi mình niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương", mình muốn xài mấy từ cũng được, bốn từ, năm từ, ba từ cũng được. Mình đưa tay lên trái tim và niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương", các ngài có thấy nó hơi dễ chịu không ạ? Đức Phật nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng, cái này là bài kinh Cội Rễ Của Sự Vật, bài kinh siêu khủng lắm, bài kinh là trí vũ trụ.

"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)

Mình muốn cái pháp gì thì cứ tác ý lên là nó sẽ có cái pháp đó trong người mình, cũng giống mình muốn trồng bông vạn thọ thì mình phải đi kiếm bông rồi mình trồng mới nó có ra bông vạn thọ. Vì thế đầu tiên mình phải có cái tác ý trước, mình khởi lên cái ý nghĩ đó, hoặc là mình muốn bữa nay nấu cháo ăn có phải là tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi không, nó khởi lên cái ý đó rồi mình tiếp tục thực hiện theo cái ý đó thì nó sanh khởi ra cái pháp đó. Bây giờ mình không muốn ở nhà, không muốn lập gia đình có chồng có con vì "mệt lắm, tôi đi tu cho giải thoát", phải muốn thì bây giờ mới ngồi đây. Mọi người nhất trí không?

Cho nên tất cả pháp tác ý làm sanh khởi, những cái câu này là định lý chứng ngộ của Đức Phật rất quan trọng, mình phải vận dụng vì cái này là khẩu quyết, là định lý, là những cái định luật của tâm. Cứ tác ý cái đó hoài, thí dụ mình muốn tu tâm hiền mình tác ý tâm hiền hoài, mình muốn tâm từ mình tác ý tâm từ hoài, mình muốn tu tâm hỷ, mình vui mình tác ý hoài, hay là mình muốn tu tâm xả thì cái pháp đó nó sẽ có trong người, mình tác ý làm sanh khởi. Mình nhắc hoài, cứ năm – ba phút là mình nhắc, mình niệm thì khi nhắc như vậy cái pháp này sẽ lớn mạnh trong tâm, mình tăng thượng. Giống như mình trồng cây mà bỏ không thèm tưới gì hết thì vài bữa nó khô héo, ngược lại ngày nào cũng tưới, cũng bón phân là tùy theo nó phân loại gì, nó tưới như thế nào, mình làm đúng mà đều đều hoài thì cái cây này sẽ lớn mạnh. Cũng vậy tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng, cứ nhớ niệm cái pháp đó, niệm lên, niệm lên, niệm lên, nhắc lên, nhắc lên, nhớ, nhớ, nhớ, thì cái pháp nó sẽ lớn mạnh lên trong tâm mình.

Bây giờ mình tu quán bất tịnh thì cứ nhắc "cái thân này là nhơ, cái thân này là hôi, cái thân này là nước tiểu, là phân đó, nhìn thấy không? Mồ hôi nó ra nè, ke nè, nước mắt, nước mũi, nước miếng nè, cức ráy nè nhìn thấy không?". Cứ nhắc hoài thì cái trí bất tịnh sanh khởi trong mình, mình niệm hoài thì nó tăng thượng và khi nó tăng thượng rồi nó lớn mạnh, nó sẽ an trú tức là trong tâm mình có cái pháp đó, có cái trí huệ đó. Khi nó có an trú trong đây rồi lần lần mình sẽ thể nhập, mình chứng nhập và chứng đạt cái pháp. Ví dụ bây giờ mình tu diệt ngã, mình thấy cái bản ngã mình lớn quá, hay hơn thua lắm, hay cao thấp, hay đúng sai lắm, bây giờ mình tác ý gì diệt ngã, cứ để ý và nhắc hoài "cái bản ngã này xấu hổ nha, bản ngã này tội lỗi nha, cái bản ngã này là tâm bất an, bản ngã này kiếm chuyện hoài, cái bản ngã này là ác độc, bản ngã này là ngu si nè, cái bản ngã này gây ra tội lỗi nè, cái bản ngã này cần phải diệt trừ, tan biến, diệt tận hoàn toàn".

Cứ tác ý hoài, nhắc hoài, để ý hoài thì từ từ trong tâm mình sanh khởi lên được cái trí diệt ngã, mà mình niệm nó hoài thì cái tuệ của diệt ngã tăng thượng lên, mình sẽ an trú vào trong đó, mình thể nhập vào cái trí vô ngã. Mình nhớ là muốn tu cái pháp gì thì cứ tác ý về nó hoài, nhắc hoài thì nó sẽ sanh khởi lớn mạnh, an trú, thể nhập và chứng đạt cái pháp đó luôn không bao giờ mất. Cho nên người ta đi học mới thành tài, sáng, trưa, chiều, tối cứ xem sách thuốc hoài, cứ học riết mười năm, hai mươi năm rồi làm bác sĩ giỏi nhất cả nước, thậm chí giỏi nhất thế giới nữa vì lúc nào người ta cũng nhớ cái đó, nhớ cái đó hoài, rồi nghĩ cái đó hoài, tìm mọi cách để làm cho bằng được, chuyên chú như vậy thì cái đó vận dụng luôn tứ như ý túc.

Đó là muốn, nỗ lực để thực hiện là dục như ý túc, rồi tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc, tư duy như ý túc. Mình muốn, mình cố gắng, mình tập trung tâm ý để tâm vào nó và mình suy nghĩ mọi cách để làm cho bằng được nó thì nó thành công thôi, nó đâu có khác gì với tứ như ý túc đâu. Mình có muốn giải thoát không? Muốn diệt tham, sân, si không? Muốn phá banh cái bản ngã này không? Có muốn phá tan bản ngã này không? Muốn dẹp thân kiến để vào dự lưu không? Muốn thì phải làm tới luôn, khi mình đã có chánh kiến, mình học đủ rồi mình vận dụng một pháp thì nó sẽ quán thông với tất cả các pháp trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Thí dụ như mình nhìn thấy cái cảm thọ đang bực người kia, lúc đó mình có nhận diện ngũ uẩn không? Có nhận diện mới thấy rồi lúc đó mình có sự đối trị không? Khi mình đã thấy cái này là khổ tập, nguyên nhân của khổ thì mình có tìm cách dập nó không? Đó là mình đang đi trên thánh đạo, là thực hiện con đường diệt khổ, cái phương pháp diệt khổ, cái cách thức đập tan cái khổ này, đó là tứ thánh thế đó, nó có đầy đủ hết trơn, nó quán thông với nó liên thông, nó tương tác, tương thành, tương trợ, nó hỗ trợ và nó làm thành cho nhau hết, dung thông quán triệt.

Nội tâm tỉnh giác là mình luôn luôn quay vô để nhìn thọ; tưởng; hành, hơn nhau là chỗ này. Cái người tu hoài mà không được cái gì hết là người hướng ngoại, cứ nhìn bắt lỗi người này, bắt phải người kia rồi người đó đúng sai, phải quấy là người này tu không được. Phải khéo xét lỗi mình, khéo hộ trì căn, năm khiêm và hai khéo gồm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã là năm khiêm, hai khéo là khéo xét lỗi mình và khéo phần hộ căn. Năm khiêm và hai khéo là thanh quy ở trong đạo tràng Nikāya, luôn luôn lúc nào mình cũng quay trở về coi tâm đang có hình bóng gì đây, đang có cảm giác gì đây, dễ chịu hay khó chịu, bản ngã hay là khiêm hạ, hỷ lạc trong pháp tu hay buồn chán đây, buông lung phóng dật hay là đang hộ trì các căn, thu nhiếp các căn, đang có suy nghĩ cái gì đây, thiện hay là bất thiện, ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy hay là đang suy nghĩ tham, sân, si, nếu có là xử lý liền.

Cái bài con mới chia sẻ trong khóa tu là cách xử lý tham, sân, si. Cứ nhìn hoài coi đang có cảm giác gì đây, hình bóng gì đây, đang có suy nghĩ gì đây, nhìn vô hoài, chăm chăm niệm đạo ngày đêm liên tục, liên tục, liên tục, chăm chú, chuyên tâm, nhất tâm hành đạo, nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác. Đó là nội tâm tỉnh giác tức là nhìn thấy được thọ; tưởng; hành, quay vô nhìn thọ; tưởng; hành của mình chứ không phải nhìn của người ta, nhìn người ta là không tu được. Thí dụ như mình bực lên mà mình cứ nhìn cái người kia hoài thì bực thêm nữa, không có giải quyết được vấn đề mà phải nhìn vô mình, cái bực này là sai, cái sân này là sai, cái nổi nóng này là nó trật, là mình tìm cách làm cho cái này lắng dịu xuống, nó mát dịu xuống rồi xong. Còn nếu mình nhìn người kia là bực hoài, thức ăn của sân là chướng ngại tướng, chướng tai gai mắt, thức ăn của tham là tịnh tướng, là đẹp, hấp dẫn, là thức ăn của tham dục, tham ái, thức ăn của si là dã dượi, hôn trầm, buồn ngủ, thụ động, biếng nhác, ăn no là thức ăn của si.

Mỗi cái đều có thức ăn và có cách phá nó hết có cách phá nó hết, ở trong Nikāya là tuyệt diệu ở chỗ Đức Phật đưa ra hết tất cả những cái chướng ngại của tâm và Đức Phật giải thích sự sanh khởi, tập khởi và sự đoạn diệt của nó, tại sao nó sanh, làm thế nào cho nó diệt và khi nó tồn tại, nó vận hành như thế nào Đức Phật trình bài hết. Cái này là tối thượng thánh trí, gọi là trình bày sự tập khởi và diệt tận của năm thủ uẩn, sự sanh khởi và sự diệt tận của các lậu hoặc, sự sanh khởi và sự diệt tận của các loại phiền não đều được bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác trình bày một cách đầy đủ tất cả mọi phương diện, khí cạnh, góc độ và tất cả mọi phương pháp xử lý nó, giải quyết nó, nhiếp phục, chế ngự và diệt tận một cách hoàn toàn, không còn có thể sanh khởi trở lại trong tương lai. Đó là thánh pháp Nikāya tối thượng, như vậy là con trình bày tổng quát chúng ta thấy rằng ba pháp công năng, tác dụng, hiệu quả, lợi ích tại sao lúc nào cũng phải rõ biết trước mặt, tại sao mình phải quay trở về cảm giác toàn thân, vì sao mình phải luôn luôn coi lại thọ; tưởng; hành bên trong. Đó là lý do thực hành ba pháp, mục đích của thực hành ba pháp và khi thực hành như thế nào là con đã trình bày cho chúng ta đầu, đuôi, giữa, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đó là trình bày công năng, tác dụng, hiệu quả, lợi ích, tại sao, mục đích của sự thực hành ba pháp.

Ni trưởng: Bạch thượng tọa, lúc đầu thượng tọa nói ba cái pháp đó con còn thắc mắc con tính hỏi thì thượng tọa giải một hồi giờ con nắm rồi. Tức là có những lúc mình không có cảm giác được toàn thân, không phải lúc nào mình cũng cảm giác toàn thân được mà cũng không phải lúc nào mình cũng nội tâm tỉnh giác được hết. Đừng nói tới bình thường, trong cái thời thiền của mình con cũng không cảm giác được toàn thân, có những thời điểm như vậy, bây giờ thượng tọa nói cái chỗ tác ý thì con sực nhớ đúng. Khi cái cảm giác toàn thân đó mình phải có như lý tác ý tức là như lý tác ý cái cảm giác của mình từ trên đỉnh đầu cho tới bàn chân, nó làm cho tác ý sanh khởi thì lúc bấy giờ mình mới cảm giác được toàn thân đó. Thật sự là bữa nay thượng tọa lên bảng con nắm mới rõ, mấy hôm trước thượng tọa nói bằng lời con nắm không có kỹ.

Sư Phụ: Trong hai cái pháp mà Đức Phật dạy mình đó là như lý giác sát và như lý tác ý thì hai cái này rất quan trọng. Như lý giác sát tức là sự nhận diện ngũ uẩn, như lý là đúng như vậy, nó như thế nào mình nhìn thấy đúng như vậy, mình phải tỉnh giác quán sát nó đúng như thực trạng của nó. Tức là mình tỉnh giác mình quán sát cái ngũ uẩn này nó đang có giận hay là không có giận, nó đang có tham hay là không có tham, nó đang có si không, nó đang có hôn trầm không, nó đang có bản ngã không, nó đang có hơn thua không, nó đang có ta đây không. Nếu có là lập tức mình có cái xử lý liền chứ đâu có phải chỉ quan sát không thôi, thí dụ nó đang tham vì vật chất thì tác ý "cái đồ vô thường, cái đồ bại hoại này tham làm gì, cái thứ tan nát, huỷ hoại, hoại diệt, ung nhọt này ham làm cái gì". Nhắc liền, nó khởi lên một cái là mình đối trị nó liền, như vậy mình mới đánh giặc chứ, như vậy mới gọi là sát tặc chứ bây giờ nó khởi lên mình kệ nó, nó khởi thì tự động nó diệt thì đâu có được.

Mình đang nằm ngủ mà thấy rắn hổ mang bò kế bên mình thì kệ nó, cứ nằm ngủ rồi một hồi nó bò ra hay sao? Như vậy phiền não là con rắn hổ mang, phiền não là thuốc độc mà mình muốn nhìn thấy được con rắn thì mình phải nhìn ngó, mình quán sát trước khi lên giường ngủ, trước khi mình vô phòng phải để ý. Thành ra cái như lý giác sát này rất quan trọng, sau khi như lý giác sát mới tới như lý tác ý. Như lý giác sát tức là mình dòm ngó một cách cẩn thận, chu đáo, chỉn chu, chính xác mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của căn nhà tâm linh của mình chứ không phải mình dòm ẩu vì sợ dây mà tưởng rắn rồi la làng lên cuối cùng lại không có gì hết trơn. Thành ra cái tỉnh giác quán sát, cái nhìn ngó này phải cho tinh anh, tinh vi, phải nhìn cho nó kỹ, cho nó chính xác thì cái nhìn kỹ, chính xác gọi là chánh kiến.

Chúng ta nó liên hệ với nhau hết trơn, nhìn đúng, thấy đúng về cái vấn đề đó, nó liên hệ hết. Tác ý tức là nghĩ đúng đó là chánh tư duy, cái nghĩ đúng này là tự mình tác động, mình chủ động, mình nhiệt tình để cho mình nghĩ đúng, sau khi mình thấy cái đó là sai, cái đó là có lỗi, cái đó là xấu xa thì mình phải xấu hổ, tàm quý, sợ hãi và đánh đuổi ra khỏi thân tâm của mình. Mình muốn đánh đuổi ra khỏi thân tâm thì mình phải có sự chủ động cầm cái chỗ quét nó ra, chứ còn mình để hồi gió thổi nó cũng bay, khỏi quét thì có được không? Bây giờ chẳng những quét mà còn lau, chẳng những lau mà nó chưa hết là cũng phải chà, kiếm những cái bàn chải cứng chà, nếu chà mà nó không hết thì lấy thuốc tẩy, những cái lậu hoặc cần phải nhiều lớp như vậy.

Thành ra trong Nikāya Đức Phật dạy mình rất là nhiệt tâm lắm, tinh cần, nỗ lực lắm chứ không phải tu thụ động, tu mà cứ ngồi yên để nó tự nhiên là không phải. Ngược lại phải nỗ lực lắm, nhiệt tâm lắm, năng động lắm, Đức Phật gọi giống như sống như lửa cháy đầu, cầu chứng cảnh bất động, lửa mà nó cháy trên đầu thì người có tóc còn đỡ, còn không có tóc thì chạm tới da liền, vô tới sọ liền cho nên hai cái pháp này quan trọng. Vì thế phải nhìn cho kỹ, nhìn đúng, nhìn chính xác, nhìn cho sâu sắc rồi sau đó mới dùng cái sự tác ý đánh đuổi, đánh dạt nó ra. Thí dụ đi mình bực bội với người sư huynh, sư đệ mình, sư tỷ, sư muội thì mình nói "bực cái gì cái tâm mê này, cái tâm sân này mày bệnh ngàn năm rồi sao mà bệnh hoài. Ngu vừa phải thôi chứ còn chỗ nào cho ta ngu nữa hay không, mày tu bao nhiêu năm mà cứ sân hoài, kiếm chuyện hoài vậy?".

Mình rầy nó đủ thức cách mình đuổi nó ra "hiền giùm cái đi, hiền giùm cái đi, cái tâm hiền này hiền giùm cái, chịu thua giùm cái. Mày cứ hơn vô lượng vô biên kiếp mà cứ phàm phu mãi mãi, mày đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh bây giờ, mày thua cái đi để thể nhập cái tâm hiền trí coi - dạ, dạ em chịu". Vậy là từ từ đi vào, mình dạy cái tâm, huấn luyện tâm, giáo dục tâm, dạy dỗ tâm, quản giáo tâm, quản lý tâm, trách phạt tâm, rầy la tâm, quở trách tâm thậm chí là mắng chửi tâm luôn. Đó là pháp tu của Nikāya cho nên Đức Phật gọi là tự mình đi đến mình, tự mình chỉ trích mình, đó là trong kinh từ Pháp Cú cho đến Trung Bộ luôn, tự mình đi đến mình, tự mình chỉ trích mình.

"Tự mình chỉ trích mình,

Tự mình dò xét mình,

Tỳ-kheo tự phòng hộ

Chánh niệm, trú an lạc"

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-Kheo, kệ 379)

Đó là như lý tác ý thành ra cái như lý tác ý là nó quyết định bảy mươi, tám mươi phần trăm, như lý tác ý cũng là thiền quán cũng là tuệ lực, tinh tấn lực, cũng là chánh tư duy, chánh tri kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm chứ không phải là vô niệm. Thành ra cái như lý átc ý này là cực kỳ, cực kỳ, cực kỳ quan trọng, là nó thành tựu được tuệ quán, nó thể nhập vào cái trí tuệ của dự lưu hay không là cái này, mà muốn có cái này thì phải nhìn thấy rồi kế đó mình xử lý, mà muốn nhìn thấy được cái này thì phải quay trở về cảm giác toàn thân. Nó có từng bước, từng bước rõ ràng, đầu tiên là gọi tâm đừng có đi chơi nữa, không có đi lang thang nữa mà về chùa nhìn kĩ chánh điện, nhìn kỹ nhà bếp, nhìn kỹ toilet coi chỗ nào dơ, nếu dơ nhiều quá thì quét dọn, hốt rác, lau chùi, tẩy rửa, cứ nhắc nhở phải siêng lên, nỗ lực lên, phải cố gắng lên, chùa to bự lắm mà sức mình có chút xíu là phải ráng lên, phải nỗ lực lên.

Cái tâm hôn mê này nhiều đời nhiều kiếp lắm, cái tâm chấp thủ này vô thỉ kiếp cho tới nay rồi mà tu chơi chơi sao được tâm, phải nỗ lực lên tâm, quyết chí lên tâm, phải dùng sinh mạng này để chiến đấu với nó. Mình cứ kêu hoài để có sức mạnh, từ tín căn biến thành tín lực, ngũ căn biến thành ngũ lực, tin vào ngũ uẩn, tin vào cái sự nhận diện ngũ uẩn, tin vào cái như lý tác ý cho nên khi tin đủ rồi biến cái tin thành sức mạnh và dùng cái sức mạnh để đánh phá thì đi đến thành công thôi. Đây là liên hệ đến ngũ căn, ngũ lực luôn, nãy giờ là vòng vòng gần hết ba mươi bảy phẩm trợ đạo, chỉ có trong thực hành ba pháp thôi là nó bao gồm, nó nhất quán, nó câu thông, nó liên hệ, nó hỗ trợ, nó tương tác, tương thành, tương thông, tương quán với nhau. Mình tu vầy mình thấy hạnh phúc lắm, vui lắm.

Ni trưởng: Con nắm được cái này thưa thượng tọa, điểm thứ nhất mà con tác động được là cái định tâm trên thân, để mình thực hiện được cảm giác toàn thân đó là định tâm trên thân, một cái con nắm. Cái thứ hai khi mình không có nhận ra được cái cảm giác toàn thân của mình thì mình phải tác ý mình nhắc, chính cái đó con bị rồi thì con biết mà nếu không có tấm bảng này con không nhận ra. Tức là cái này con có trải qua mà trả ít thôi, con chưa đã nhiều nên nó chưa phải là một cái một cái thành quả của con. Khi đã thường có tác ý rồi thì mình sẽ cảm nhận được cảm giác toàn thân tức là mình sẽ nghe được cái cảm giác toàn thân nhờ tác ý, tác ý sanh khởi rồi nuôi cho nó phát triển mạnh lên, tác ý thường xuyên tức là niệm. Cái niệm đó làm cho tăng thượng cái cảm giác toàn thân, con nắm cái đó rất là rõ.

Con cảm thấy con phát hiện thượng tọa đưa qua thiền quán, đưa qua tuệ lực, đưa qua thấy đúng, đưa qua cái chánh tri kiến, cái chỗ đó con mới khám phá ra nhưng mà con nắm nó chưa vững. Cái nữa là nội tâm tỉnh giác con nắm chưa vững bằng cái cảm giác toàn thân tức là mình thấy được, mình tỉnh giác thấy được thọ; tưởng; hành, cái đó con mới nắm được mà nắm chưa có mạnh bằng cái cảm giác toàn thân. Cái nội tâm tỉnh giác con nắm ra được nhưng mà bây giờ cái cảm giác toàn thân là tự con làm được, tự con tu được nhưng mà cái nội tâm tỉnh giác đưa qua thọ; tưởng; hành con chưa nắm một cách vững chắc. Thêm cái nữa cái rồi thượng tọa đưa qua như lý giác sát, như lý tác ý, cái chỗ đó con nắm chưa có rõ nhưng mà con tâm đắc tại vì đây là cái nhược của con. Tức là cái từ cái Như lý tác ý này làm cho mình thấy đúng, con mới có hí nó thôi chứ con chưa thấy nó một cách rõ ràng mà con thấy cái chỗ này nó quá hay, từ thấy đúng đưa tới chánh kiến rồi đưa đến nghĩ đúng tức là chánh tư duy mà nó đưa qua cái thiền quán, đưa qua cái thiền lực.

Chỉ qua hai bài giảng của thượng tọa ở Thường Chiếu là chúng con mê vì con khám phá ra nó quá chi ly, nó đưa vào cái nội tâm của mình chỉ có năm uẩn thôi. Đầu tiên nhận diện ngũ uẩn thấy đâu có khó gì đâu, dễ nhưng mà nếu không có nền tảng đó thì nó không qua những cái chi tiết, nó đưa ra một cái thế giới nội tâm quá cực kỳ luôn mà nó quá sâu, nó quá chi ly mà nó rất là mê luôn. Mình khám phá ra chính mình, bình thường không như vậy, con thấy chính mình là thức sai mà chết mộng. Hiện giờ mình cũng vẫn còn đang thức mà đã sai rồi, còn chết thì nó đã mộng rồi tức là mình không có quản lý mình một cách trọn vẹn, mình không có quản lý năm uẩn của mình một cách không trọn vẹn, con thấy đương nhiên là đưa vô cái quả A-la-hán là nó phải vậy thôi tại vì nó quá chi ly, càng thấy chi ly thì mình quản lý con người của mình, quản lý thân tâm của mình một cách rất là đầy đủ.

Hôm nay con còn té ra cái nữa thì nó cũng đưa vô, tức là nó vòng vòng cũng vô bao nhiêu đó thôi, dùng cái câu là "buông ra muôn trượng, gom thời có một câu". Con sẽ chiêm nghiệm lại cái như lý giác sát rồi con sẽ chiêm nghiệm lại như lý tác ý để con thấy nó là gì mà thượng tọa cho nó là chánh kiến, đây là một cái mở mắt thôi, mở cái kiến thức của con thôi nhưng mà con chưa chạm được nó. Thành thử ra cái đó con sẽ tính sau, bây giờ con nắm được cái chỗ là con nhận được, con tu được ở cái cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác thì nắm nhưng chưa được thuần thục tại vì cái chỗ này hồi nào giờ con nghĩ cái nội tâm tỉnh giác của con chưa nhận ra cái vụ thọ; tưởng; hành là như thế nào, con nắm chưa có vững chắc.

Hôm nay chỉ có bấy nhiêu đó thôi, chỉ là cái cảm giác toàn thân mà con bước vào cái lãnh vực của cảm giác toàn thân thì con bước qua nội tâm tỉnh giác cũng không phải là nó xa, nhưng mà nó chắc con còn phải được hai thông nữa con mới nắm một cách vững chắc. Hiện giờ cái mục tiêu của con phải có chánh tri kiến mà bây giờ thượng tọa đưa qua thêm cái như lý giác sát rồi cái như lý tác ý, từ cái như lý giác sát này cho mình có chánh kiến là một cái mở mắt mới của con nhưng mà con chưa thấy được nó. Đó là một cái chủ đề mà con phải chiêm nghiệm đến nó, nếu còn thời gian thượng tọa nói thêm, con muốn trình bày những cái mà con đã tiếp thu được để từ đó thượng tọa sẽ hướng dẫn cho tụi con nắm chắc hơn.

Sư Phụ: Dạ con cảm ơn những lời chia sẻ của Ni trưởng rất là chân thành, nhận diện rõ cái sự cảm nhận, nắm bắt của mình ở trong cái pháp, rất là tuyệt vời. Con nhấn mạnh lại cái điểm mà Ni trưởng vừa nêu ra là khi mình học chánh kiến là mình học ở trên lý thuyết, thí dụ như chánh kiến là biết về ngũ uẩn, biết về tứ thánh đế, biết về khổ - tập - diệt - đạo hay còn phân ra là chánh kiến hữu lậu, chánh kiến vô lậu nữa. Chánh kiến hữu lậu là biết nhân quả nghiệp báo, chánh kiến vô lậu là thấy được tứ thánh đế thì cái đó mình học chung chung nhưng khi mình thực hành thì nó sẽ có một cái trình tự, khi mình đi vào pháp hành đơn giản lắm. Mình học thì mình phải biết được nhiều như vậy để mình củng cố niềm tin vững chắc, mình không nghi ngờ nhưng khi vô thực hành đơn giản lắm.

Khi mình học nhận diện ngũ uẩn thì mình học "thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức" vậy là xong rồi, thấy đơn giản quá, dễ quá nhưng Đức Phật phải tìm trong bao nhiêu ngàn vạn kiếp mới ra được cái bí quyết, cái định lý, cái sự chứng ngộ đó. Mặc dù mình mới học chánh kiến nhưng sau khi học phải thực hành, con lấy những cái từ đơn giản nhất để Ni trưởng, quý chư tôn đức dễ nắm vững. Đầu tiên mình phải biết tên tuổi của nó, sau đó phải biết mặt mũi, kế đó phải biết tánh tình, cuối cùng là biết về bản chất của nó. Mình biết tên là mình biết ngũ uẩn, mình biết mặt nó là mình nhận diện tức là không phải mình chỉ biết ở trên ngôn ngữ, trên tri thức, trên từ ngữ mà mình phải nhìn thấy được cái thọ nó ra sao, cái tưởng trong tâm mình ra sao, cái hành ra sao, cái thức ra sao, đó là mình nó biết được mặt mũi của nó.

Khi mình thường thường quay lại nhận diện thường xuyên thì bắt đầu mình biết cái tánh tình của nó vì mình ở chung với hắn rồi. Mình sẽ biết hắn này cái tánh tình sao, mà cái tánh của nó là tham, sân, si, bản ngã, vô minh, dục ái, đây là tánh tình của hắn, tánh tình của ngũ uẩn là vậy đó. Cái thói quen của nó, cái tập khí của nó, cái tập tánh của nó, cái tập quán của nó là nó lúc nào nó cũng muốn cái này, muốn cái kia, thích cái nọ, khái cái khác, đụng vô là nó giận, cái tâm nó trong cái lờ mờ, ở trong cái si mê không thấy rõ năm uẩn, nó cứ cho nó là tự ngã, tôi, của tôi, tự ngã của tôi và nó chình ình một đống. Cái bản ngã là cái tánh tình của nó, đi vòng vòng có nhiêu đây thôi, một ngàn năm, một tỷ năm, một triệu năm, một vạn năm thì nó cũng nhiêu đây thôi.

Nãy giờ là mình thấy ba cái khía cạnh của chánh kiến, khi mình mới vừa nghe trí về ngũ uẩn là mình thành tựu được cái văn huệ. Sau khi bắt đầu mình tập nhận diện. mình thực hành từ từ thì mình mới thấy được cái thằng này nó tham lam lắm, nó dễ sân hận lắm, nó lúc nào cũng ta đây là mình thành tựu cái tư huệ là do mình chiêm nghiệm, mình quán sát, mình quán chiếu, mình nhìn ngó, mình theo dõi thì thành tựu được cái tư huệ. Ba cái này là văn với tư nè, rồi bây giờ mình thấy cái bản chất của nó là trống rỗng, trống không, vô thường, vô ngã, biến hoại, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt, ung nhọt, mũi tên, hố than hừng rồi con rắn độc, là kẻ giết người thì cái này mình đánh phá vô đây là tu huệ. Muốn đánh phá cái này là mình vẫn dùng như lý tác ý và thiền quán chứ làm cách nào mình phá nó?

Cái này mình biết được cái bản chất của nó là vô thường, khổ, không, vô ngã, biến hoại, huỷ hoại, hoại diệt, ung nhọt, hố than hừng, mũi tên, rắn độc, kẻ giết người, người lạ, bất hạnh, tai ương… có nhiều cái từ lắm trong kinh Vị Giữ Giới là quán từ lúc mới tu cho đến thành A-la-hán luôn.

"-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)

Mình thấy được cái bản chất của ngũ uẩn, đây là bốn khía cạnh của chánh tri kiến. Nhiều khi mình mới tới giai đoạn này là mình tưởng tôi biết chánh kiến rồi, mình nhìn nhận diện sơ sơ ngũ uẩn thì cho rằng tôi cũng biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tôi cũng thấy nó rồi, mình tưởng là mình đạt chánh kiến rồi hoặc là mình mới biết nó tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã thì nghĩ là mình thấy rồi đó, mình biết rồi nhưng mà mình chưa có đi vô tới đây, mình chưa có đánh phá, diệt tận nó thì cái chánh kiến của mình chưa viên mãn. Cái chỗ này nó bao gồm luôn cả bảy thánh đạo phía sau là để đi đánh phá cái này thôi, thấy đúng rồi nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, làm đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng là để dập tan mấy thứ ác độc này.

Thứ nhất học được cái cách, thứ hai quay trở lại dòm, thứ ba quét dọn vệ sinh sạch sẽ rồi xong, thấy được một cách rõ ràng là dự lưu. Chỉ mới thấy rõ một cách tuyệt đối, xác quyết một trăm phần trăm ngũ uẩn này là khổ, đầy tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, xác quyết một trăm phần trăm những thứ này khổ rồi quét dọn, lau chùi, tẩy rửa thì đây là nhất lai là dọn được ít, còn dọn được một mớ là bất lai, dọn sạch hết thì vô sanh. Vì vậy vấn đề ở đây là phải xác quyết một trăm phần trăm ngũ uẩn này là khổ, tất cả những dục ái, tham, sân, si, bản ngã này chắc chắn một triệu phần xác quyết tuyệt đối luôn nó là nguyên nhân của khổ, không có gì khác nữa. Mình tu tất cả mọi cái mình đánh phá, mình nhiếp phục, chế ngự, diệt tận, tẩy sạch hoàn toàn dục ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã là như vậy, là mình đi đến là Niết-bàn, đi đến sự hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh, sạch sẽ, thanh lương, mát mẻ, tâm vô sự. Từ chánh kiến đi luôn tới là chánh định cho đến chánh trí và chánh giải thoát, thập thánh đạo luôn, đầy đủ hết nhưng cuối cùng nói đơn giản là biết được tên tuổi của nó, mặt mũi của nó, tánh tình của nó và bản chất của nó để rồi từ bỏ nó.

Nói tắt là vậy, nếu không phải nói là nhàm chán, yểm ly, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn, một dãy dài như vậy là thánh pháp ấn. Cái đạo lộ bắt buộc phải vậy, khi nó thấy được bản chất là cái đồ giả dối, cái đồ ung nhọt, cái đồ đau khổ, bất hạnh, tai họa, không thích nữa, nó ngán quá, chán quá, nản quá rồi, ê chề, não nề, gớm ghê, chán chê thì chạy lẹ, chạy nhanh, chạy xa, chạy mau, thoát ra. Đó là thành tựu theo thánh trí sanh diệt, thánh thể nhập.

Ni trưởng: Kính bạch thượng tọa, sẵn đi vô tám đạo, cái chánh kiến giải nghĩa như vậy là thấy được rồi, như vậy thì còn bảy cái thánh đạo có hỗ trợ để cho nó quét sạch tham, sân, si mà con chưa có sáng tỏ cái công năng của bảy cái đạo. Tức là bây giờ đã có chánh kiến rồi, đã thấy được cái tánh tình của nó, cái bản chất cái tham dục, tham ái, cái sân si coi như là nó chắc chắn như vậy rồi, đoạn trừ bằng bảy cái đó thì tư duy, ngữ, nghiệp, mạng rồi tinh tấn, niệm, định thì cái công năng của nó, con chưa thấy được cái giá trị, công năng của nó đó.

Sư Phụ: Khi mình thấy đúng nó là cái thứ vô thường, tan hoại, giả dối, bệnh tật, ốm đau, mũi tên, người lạ, ung nhọt, hố than hừng, là sự bất hạnh, kẻ giết người thì đương nhiên mình phải tìm đủ mọi cách để mình thoát ra khỏi nó. Và khi mình suy nghĩ mọi cách để mình thoát ra thì mình cũng vẫn nói những cái lời để đưa đến sự thoát ra đó, mình nỗ lực làm mọi cách hết và cuộc sống của mình như thế nào và mình phải tập trung tâm ý quán sát làm sao để cho mình ra mau, ra nhanh, ra lẹ. Khi cái quán này thấm thía tận cùng rồi thì cái tâm sẽ an tịnh, lắng dịu, tới đây cũng về chữ an tịnh. An tịnh là không còn tham ái đối với ngũ uẩn, từ cái thấy này sẽ dẫn đến những cái nghĩ, cái nói, cái hành động, cuộc sống của mình và cái sự nỗ lực của mình thì quán này là cũng là như lý tác ý. Cái nghĩ này cũng là tác ý thôi, ở đây con nhấn mạnh để nói rộng quá rồi mình sẽ mông lung.

Phải từ cái thấy này bắt đầu dẫn tới tác ý là nó cứ đi tới, mình cứ nghĩ hoài, mình nói phải nói cái đó chứ không nói gì khác, mình làm cái gì cũng hướng về cái sự lìa khổ đó hết, cuộc sống này mình phải thực hành thì Đức Phật nói là nghĩ là từ bỏ dục, hại, sân, nói lời không dối, đâm, độc, nhảm, làm mà không sát, trộm, và đạo dâm, sống siêng năng, năm nghề nên tránh là đối với cư sĩ, đối với người tu mình ở trong kinh Sa-môn quả rất là kỹ, sống đúng là như thế nào, chánh mạng này như thế nào, rồi siêng hành trì, chế đoạn tu trì, quán sát nhìn thân - thọ - tâm – pháp, định tâm theo cách bốn cái tầng thiền.

Đức Phật dạy từng cái, từng cái luôn, thấy đúng là thấy biết về năm uẩn. Nghĩ đúng là nghĩ sao để lìa bỏ dục, hại, sanh là tham, sân, si. Nói đúng là không nói lời dối, đâm, độc, nhảm, không nói dối trá, không nói lời đâm thọc, không nói lời ác độc, không nói lời nhảm nhí. Làm đúng là từ bỏ sát, trộm, dâm. Sống đúng là năm nghề nên tránh là nói về cư sĩ là tránh buôn bán người, bán thuốc độc, bán vũ khí, bán rượu, bán thịt. Siêng đúng là chế đoạn tu trì. Quán đúng là quán nhìn thân – thọ – tâm – pháp và định tâm tuần tự theo bốn thiền.

Tất cả bảy cái phía sau này là từ cái thấy đúng cho đến cái quán đúng này là tư trợ của định, là tư cụ của định để nó bổ sung, nó dẫn đưa đến cái nội tâm an tịnh không còn tham ái, chấp thủ. Cho nên nhiều khi mình mới vô tu là nhảy vô muốn định liền, thành ra ngồi hoài mấy chục năm không định được tại vì mình không có mấy cái này tư trợ của thiền định, của thánh chánh định. Cái định của bậc thánh không phải là cái ép để cho nó định, ngồi yên cho nó định mà cái định của bậc thánh là do thấy đúng cái vấn đề và cái tâm mình từ bỏ thì cái đó tự động mới an tịnh. Bây giờ biết rằng đó là một cái một cái xác chó chết, người chết, rắn chết mà chồng lên cổ của mình thì ớn quá, quăng qua liền, lẹ nhanh thì nó phải nhận thức được cái điều đó, nó phải có con mắt, nó phải có cái lỗ mũi để nó nhìn thấy mà nó cảm nhận cái mùi hôi thúi đó thì nó quăng liệng. Như vậy những cái này nó đưa đến cho một cái sự từ bỏ, quăng bỏ, liệng bỏ, giục bỏ, vứt bỏ, cuối cùng nó đi đến thánh chánh định.

Thành ra thật sự nói là bát thánh đạo nhưng mà chỉ cần vô đây là bất thối chuyển, thẳng tiến tới chánh giác, chỉ cần nhập lưu là những cái kia tự động nó đầy đủ. Nhưng mà muốn có được cái nhập lưu này phải hỗ trợ những cái này hết, phải làm đúng về giới - định - huệ tư trợ, hỗ trợ, yểm trợ cho mình.

Ni trưởng: Mô Phật con khái niệm được tức là sáng tỏ đó nhưng mà quá sáng thì chưa tại vì mới có khái niệm thưa thượng tọa. Tức là nó sẽ hỗ trợ cho chánh kiến mà hồi nào giờ trong kinh thì nói cái chánh kiến rất là quan trọng, chánh kiến đi hàng đầu trong bài kinh 40 rồi mấy cái kia nó hỗ trợ nhưng mà kinh dạy vậy nhưng mà con không nắm được cái yếu lý của nó. Bữa nay thì bây giờ con khái niệm được nhưng mà là sáng tỏ hoàn toàn thì không sáng tỏ được, nếu mà con cứ như lý tác ý hoài và niệm thường xuyên thì con sẽ rất là sáng tỏ. Mô Phật.

Sư Phụ:

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tự và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo./.