Diệu Dụng Của Thánh Quả Bất Lai
TINH HOA THÁNH ĐIỂN NIKĀYA 8
DIỆU DỤNG CỦA THÁNH QUẢ BẤT LAI
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức, kính thưa chư vị hiền trí nam nữ Phật tử, hôm nay chúng ta tìm hiểu chủ đề rất là đặc biệt "Diệu Dụng Của Thánh Quả Bất Lai" để cho chúng ta trong sự tu học có sự hướng thượng, có sự mở rộng thêm cái tầm mắt, mở rộng thêm thấy nghe, cảm nhận và nhận thức về con đường tu học của từ cư sĩ cho đến xuất gia, cũng như để chúng ta thấy được một cái tương lai rất là xán lạn, rực rỡ của người tu hành đúng chánh pháp. Ở trong phân loại kinh tạng Nikāya gồm có bốn bài kinh, tùy theo thời gian trong cái phần này chúng ta sẽ thấy ít nhất là hai vị cư sĩ chứng thánh quả bất lai. Mình xem cái vị chứng được thánh quả bất lai thì lúc đó cái cách của các ngài sống như thế nào, ngài cư xử như thế nào, cách hành xử của ngài như thế nào.
" Như vầy tôi nghe:
Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahàmoggallàna đang du hành ở Dakkhinàgiri, cùng với đại chúng Tỳ-kheo. Lúc bấy giờ, nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda thức dậy trước khi mặt trời mọc, và đọc lớn tiếng bài 'Pàràyana' (Con đường đưa đến bờ bên kia). Lúc bấy giờ, Ðại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) đang đi từ phương Bắc đến phương Nam vì một vài công việc. Ðại vương Vessavana nghe nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda, sau khi lớn tiếng đọc xong bài Pàràyana, liền đứng lại, chờ đợi cho bài được đọc xong" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Chúng ta thường hay nghe Tứ Đại Thiên Vương thì cái vị Tỳ-sa-môn Thiên Vương là cái vị đứng đầu ở trong bốn vị thiên vương để hộ trì thế giới, vị này có tên là đa văn vì cái vị này rất là thích nghe Phật pháp chính vì vậy ngài đang đi từ phương Bắc đi đến Phương Nam vì công việc của ngài thì ngài nghe nữ cư sĩ là mẹ của Nanda đọc bài kinh này, ngài dừng lại nghe, ngài đợi cho đến đọc xong hết cái bài kinh. Sáng nào chúng ta cũng đọc hết trơn, chắc mấy ngài cũng có ghé nhiều, bởi vậy con nói nhất là chúng ta tu học chánh pháp có những cái điều mình không có thể tưởng tượng được, mình học kinh nhiều đi rồi mình sẽ thấy cái lợi ích bất khả tư nghì. Nhiều khi mình chỉ nhìn thấy trước mắt sao tu hoài sao chưa có thấy nhưng mà thật sự nếu mà mình thấy kỹ, mình có sự quán chiếu sẽ thấy nhiều cái lợi ích lắm, như chúng ta đọc kinh thánh điển Nikāya hằng ngày như vậy thì nhân thiên phổ lợi, chẳng những mình được lợi lạc mà còn rất nhiều các cái chư vị sơn thần, địa thần, phong thần, thổ thần, thọ thần, vân thần, hư không thần, ngay cả đây là tứ đại thiên vương cũng dừng lại nghe hết cái bài kinh.
"Và nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, sau khi lớn tiếng đọc xong bài Pàràyana, liền im lặng. Rồi Ðại vương Vessavana biết được nữ cư sĩ, mẹ của Nanda đã đọc xong bài kệ, liền hết sức hoan hỉ và nói:
- Lành thay, này Chị! Lành thay, này Chị!
- Ngài là ai, hỡi vị có bộ mặt hiền?
- Này Chị, ta là anh của Chị, Ðại vương Vessavana!
- Lành thay, hỡi vị có bộ mặt hiền! Hãy lấy pháp môn được tôi nói đến hôm qua, làm quà tặng đón khách cho Ngài.
- Lành thay, này Chị! Phải, pháp môn này hãy là quà tặng đón khách của tôi! Ngày mai, chúng Tỳ-kheo, với Sàriputta và Moggallàna là các vị cầm đầu, sẽ đến Velukantaka, nhưng chưa ăn sáng. Sau khi Chị mời chúng Tỳ-kheo dùng xong, hãy tuyên bố chính ta đã cúng dường" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Quà của các bậc thánh chính là pháp bảo, phàm phu mình cứ thích ăn bánh, ăn kẹo, thích mấy cái tờ giấy, mấy cái món đồ vô thường, hư ảo đó, còn cái bậc thánh quý trọng pháp. Đây là cái món quà quý giá mà chị dành cho tôi, mà cô dành cho tôi, mà bà dành cho tôi thì mẹ của Nanda cũng xác nhận "đúng rồi cái quý báu nhất của tôi đó, tôi tụng mỗi ngày đó, đây là pháp hành, pháp tu của tôi đó". Sau đó vị Tỳ-sa-môn thiên vương này mới báo tin ngày mai tôn giả Xá-lợi-phất và tôn giả Mục-kiền-liên làm thượng thủ dẫn đoàn thánh chúng Tỳ-kheo đến vùng đất này nhưng mà chưa có ăn sáng cho nên sau khi chị mời chúng Tỳ-kheo dùng xong hãy tuyên bố chính ta đã cúng dường, thay thế giùm ta đi cúng dường bữa thức ăn sáng cho thánh chúng và trong đó ngài Xá-lợi-phất và ngài Mục-kiền-liên liên dẫn đoàn, làm trưởng đoàn là bậc thượng thủ.
"Rồi cư sĩ, mẹ của Nanda, sau khi đêm ấy đã mãn, liền cho sửa soạn tại nhà của mình các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm. Rồi chúng Tăng, với Sàriputta và Moggallàna là vị cầm đầu đi đến Velukantaka nhưng chưa ăn sáng. Rồi nữ cư sĩ, mẹ của Nanda bảo một người đi, nói rằng:
- Này Bạn, hãy đi đến khu vườn và báo thời giờ cho chúng Tỳ-kheo: 'Ðã đến giờ, thưa các Tôn giả! Tại nhà của mẹ Nanda, các món ăn đã được sửa soạn'.
- Thưa vâng, thưa nữ cư sĩ.
Người ấy vâng đáp nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, đi đến khu vườn và báo thời giờ cho chúng Tỳ-kheo:
- Ðã đến giờ, thưa các Tôn giả! Tại nhà của mẹ Nanda, các món ăn đã được sửa soạn.
Rồi chúng Tỳ-kheo, với Sàriputta mà Mahàmoggallàna là vị cầm đầu, vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi đến trú xứ của nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, sau khi đến, ngồi xuống trên các chỗ đã soạn sẵn. Rồi nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, mời chúng Tỳ-kheo với Sàriputta và Moggallàna là vị cầm đầu, với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, và làm chúng Tỳ-kheo được thỏa mãn. Rồi nữ cư sĩ, mẹ của Nanda thấy Tôn giả Sàriputta ăn đã xong, tay đã rút lui khỏi bình bát, liền ngồi xuống một bên. Tôn giả Sàriputta nói với cư sĩ, mẹ của Nanda đang ngồi một bên:
- Này Mẹ của Nanda, ai bảo cho Bà biết chúng Tỳ-kheo sẽ đi tới nhà?
- Ở đây, thưa Tôn giả, con thức dậy trước khi trời sáng, đọc lớn tiếng bài kệ Pàràyana rồi im lặng. Rồi thưa Tôn giả, Ðại vương Vessavana sau khi biết được con đã đọc xong, liền hết sức hoan hỉ và nói:
- 'Lành thay, này Chị! Lành thay, này Chị!'
- 'Ngài là ai, hỡi vị có bộ mặt hiền?'
- 'Này Chị, ta là anh của Chị, Ðại vương Vessavana!'
- 'Lành thay, hỡi vị có bộ mặt hiền! Hãy lấy pháp môn được tôi nói đến hôm qua, làm quà tặng đón khách cho Ngài.'
- 'Lành thay, này Chị! Phải, pháp môn này hãy là quà tặng đón khách của tôi! Ngày mai, chúng Tỳ-kheo, với Sàriputta và Moggallàna là các vị cầm đầu, sẽ đến Velukantaka, nhưng chưa ăn sáng. Sau khi Chị mời chúng Tỳ-kheo dùng xong, hãy tuyên bố chính ta đã cúng dường.'
Thưa Tôn giả, mong rằng mọi công đức của buổi cúng dường này sẽ đem lại an lạc cho đại vương Vessavana!" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Tức là hồi hướng công đức cúng dường cho ngài Tỳ-sa-môn thiên vương là vua trời cúng dường chư Tăng. Mình nghĩ là làm trời là có phước quá rồi, thiên nhân thôi là đã phước báo rất nhiều rồi nhưng mà cái này là thiên vương, trời cũng có người và vua nha. Cái người bình thường ở cõi trời thì gọi là thiên nhân, cái vị đứng đầu gọi là thiên vương hoặc là thiên chủ, như vậy thì vua trời thiên vương cũng vẫn còn làm công đức vậy mà nhiều khi mình mới được chút thì nói chắc mình cũng đủ phước rồi đó, thấy không? Lâu lâu cũng phải học những cái bài kinh này để cho mình hướng thượng, lâu lâu mình cũng phải đi thăm các tứ đại thiên vương, thăm các bậc thánh quả, thánh nhân để mình thấy.
"- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà có thể nói chuyện, mặt tận mặt với một Thiên tử có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy.
- Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, Nanda, đứa con độc nhất của con, khả ái, khả ý, vì một lý do gì đó, bị các vua dùng sức mạnh bắt giữ và đoạn mạng sống. Thưa Tôn giả, trong khi đứa trẻ bị bắt giữ hay đang bị bắt giữ, khi bị trói hay đang bị trói, khi bị giết hay đang bị giết, con rõ biết tâm của con không có đổi khác.
- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà đã có thể làm cho tâm khởi thanh tịnh như vậy" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Cái này nếu mình nhìn về thế gian thì người ta sẽ không có hiểu, người ta không có chấp nhận nhưng đây là cái tâm của bậc thánh, tham ái đã dứt, tâm đã bất động, không có khổ. Tại vì sao vậy? Các ngài đã thể nhập vào sự vô thường, có sanh thì có tử và có nghiệp thì có quả, có vay thì có trả cho nên các ngài đã thấy biết một cách thấu đáo, tường tận, rành mạch căn nguyên, đầu đuôi, gốc ngọn hết thì tâm các ngài bình thản chứ. Chúng sanh mình là mù lòa, không thấy không biết cho nên khi cái những cái oan trái nó đến thì lúc đó mình đối trị thẳng tay, rồi cái nghiệp cũ chưa giả xong mà chồng thêm nghiệp mới, còn các ngài đó là thấu suốt nhân quả, phá vỡ vô minh, thấy rõ được sanh tử, giải mã hết tất cả những cái nhân quả, những cái nghiệp báo, những cái trả vay trên cuộc đời ngài, tâm các ngài bất động. Đó là cái sự hiếm có, hy hữu thứ nhất của một cái bậc bất lai thánh quả, thánh quả thứ ba.
"- Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, người chồng của con, khi mạng chung, sanh vào sanh loại Dạ-xoa, và vị ấy hiện lên trước mặt con, với một tự ngã như lúc trước. Nhưng thưa Tôn giả, con rõ biết, không vì nhân duyên ấy, tâm của con có đổi khác.
- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Người dã có thể làm cho tâm khởi thanh tịnh như vậy" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Dạ-xoa ở đây nhiều cái cấp độ lắm, có khi là thần, "vị ấy hiện ra trước mặt con với một tự ngã như lúc trước" tức là hiện ra y như cái dáng cũ của đời trước nhưng tâm của cô này bất động không thay đổi. Người chồng chết rồi, qua đời rồi, mạng chung rồi và bây giờ hiện ra một cái hình tướng y như lúc còn sống nhưng tâm của bà không có thay đổi đó là sự kiện gọi là vi diệu. Đầu tiên là con một kế đây là chồng, toàn đối đầu với sanh tử mà tâm bình thản, an nhiên, bất động cũng như nãy chúng ta đã nói là thấu rõ nhân quả, sanh tử, nghiệp báo. Thí dụ chúng ta chưng bình bông tới bảy ngày, tám ngày lúc nó tàn, nó héo mình bưng xuống đi đổ mình có khóc không? Sao không khóc? Tại mình quá hiểu quá rõ rồi, nó tươi thì nó phải héo, nó nở thì phải tàn, nó xanh rồi nó phải vàng thì mình bưng đi đổ một cách bình thản, cái thân mạng của người thân mình hoặc là của mình lúc đem đi vào trong cái hòm cũng giống y như lúc mình đem cái bông mình đổ ra thùng rác, mình vứt vào thùng rác thì lúc đó mình đau khổ quằn quại tại vì mình thấy cái bông khác, còn cái thân mình là khác.
Mình nghĩ thân mình là thiệt, nó là thường, nó là bền, nó là vậy hoài, còn các ngài nhìn y như cái bông, cái hoa héo hồi nãy đem đổ thùng rác. Các ngài thấu suốt hết các căn nguyên, nguồn cội, sanh diệt, héo tàn, tươi hay là khô, các pháp, tâm các ngài rất là bình thản, thản nhiên.
"- Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác. Thưa Tôn giả, khi còn là thiếu nữ, được đưa đến cho chồng con, con rõ biết con không có một tâm vi phạm đối với chồng con, huống nữa là về thân!
- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà đã có thể làm cho tâm khởi thanh tịnh như vậy." (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Cái này nhiều cái pháp sâu xa đó, mình tìm hiểu thêm ở trong lịch sử, có khả năng là ngài đã chứng quả trước khi ngài đi lấy chồng. Bậc đạo sư dạy cho chồng ngài cái cách ly dục.
"- Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Thưa Tôn giả, khi con tự chấp nhận là một nữ cư sĩ, con rõ biết con chưa từng vi phạm một học pháp nào" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Qua đây chúng ta thấy giới của các bậc thánh rất thanh tịnh, cư sĩ có thể chứng tới quả thứ ba thì tất cả cái giới con rõ biết là con chưa có từng vi phạm một cái học pháp nào. Cái học pháp ở đây nó rộng hơn giới nữa, giới của người cư sĩ thì đơn giản chỉ năm giới hoặc là tám giới thôi, nhưng mà ở đây dùng cái từ là học pháp thì rộng hơn giới nữa. Thí dụ như là thu nhiếp sáu căn, phòng hộ sáu căn chẳng hạn, thấy sợ hãi trong các lõi nhỏ nhặt và chấp nhận các học pháp, thì cái vị này là một nữ cư sĩ nhưng mà không có vi phạm một học pháp nào hết.
"- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, nếu con muốn, con có thể ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, không tầm không tứ; làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, con chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm; ly hỷ, con trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, con chứng đạt và an trú Thiền thứ ba; đoạn lạc và đoạn khổ, chấm dứt các hỷ ưu đã cảm thọ trước, con chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Chúng ta thấy nữ cư sĩ đó bởi vậy mình xuất gia và mình nghe này mình thấy hổ thẹn quá, xấu hổ quá, đó là cư sĩ thời Đức Phật, gọi là thánh cư sĩ. Mình giờ tu sĩ kiếm cái số một thôi cũng khó nữa chứ đừng nói tới cái số hai, số ba, số bốn cho nên cái quý báu là cái thánh tr kiến, chánh tri kiến thì dẫn các thiền này trở thành thánh chánh định, nếu không có thánh tri kiến thì dù cho đạt được tứ thiền vẫn là phàm phu thiền.
"- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda!
- Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, năm hạ phần kiết sử được Thế Tôn thuyết giảng, con thấy rõ không còn pháp nào ở nơi con chưa được đoạn tận" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Năm hạ phần kiết sử thì đầu tiên là thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân. Năm cái này con rõ biết không còn ở trong con một chút nào hết, không còn một pháp nào ở nơi con mà chưa được đoạn tận, đây là quả bất lai của một vị nữa cư sĩ thời Đức Phật. Bây giờ mình phá được cái thân khiến thì hoài nghi với cấm thủ đi theo, cho nên mình không có tinh cần, tinh tấn, không có tác ý, không có thiền quán nhiều là không có đi tới đâu. Phải phá nhiều lắm, trong mỗi cái suy nghĩ, mỗi cái cảm thọ, mỗi cái hình bóng, mỗi cái nhận thức là không có bỏ qua, không có phớt qua, mức độ tu của các ngài mà cư sĩ tu như vậy là biết bao nhiêu sự nỗ lực. Ở đây chỉ nói thành quả thôi, còn những nỗ lực của các ngài là biết bao nhiêu mà nói.
"- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda!
Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi với một pháp thoại, nói lên cho nữ cư sĩ mẹ của Nanda, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi." (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Đây là chín vi diệu của nữ cư sĩ chứng quả bất lai. Sau đây tới nam cư sĩ cũng rất đặc biệt, thường các vị tu tập mà đạt tới như vậy là các vị sẽ đầy đủ tín, giới, tàm, quý, văn, thí và tuệ rất là nhiều, đây là những cái pháp căn bản.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Alavì, tại điện Phật Aggàlava. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, Hatthaka, người xứ Alavì thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có. Hãy thọ trì như vậy. Thế nào là bảy?
Có lòng tin, này các Tỷ kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có giới, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng xấu hổ, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng sợ hãi, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; nghe nhiều, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có bố thí, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có trí tuệ, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (III). Hatthaka, Người Alavì (1))
Có lòng tin đối với Phật – Pháp - Tăng và giữ được các giới của người cư sĩ đó gọi là bốn dự lưu phần, bốn cái phần giúp cho mình tham dự vào dòng chảy của trí tuệ, tham dự vào dòng thánh, tham dự vào dòng họ Giác Ngộ. Những từ ngữ Phật giáo nguyên thủy gọi là chuyển tộc tức là mình từ một cái dòng họ Trần, họ Nguyễn, họ gì đó nhưng mà khi mình vào trong pháp thì mình sẽ thay đổi cái dòng họ, đi vào cái dòng họ Giác Ngộ, gọi là chuyển tộc giống như mình vô đổi cái pháp danh đó, ở ngoài thì mình thế danh, bây giờ mình vô là pháp danh. Nếu mình tu đúng cái pháp danh đó thì mình chuyển tộc, con tạm chia ra mấy cấp độ, thứ nhất là thay gia đổi thịt, thứ hai là thay xương đổi cốt và thứ ba là siêu phàm nhập thánh là ba cái giai đoạn.
Nghĩa là mình tu là mình phải có sự chuyển đổi, có sự thay đổi, có sự biến đổi chứ không phải tu cứ y chang vậy hoài, ba tháng sau gặp cũng vậy, tám tháng sau gặp cũng vậy, năm sau gặp cũng vậy, ba năm sau, bảy năm sau gặp lại cũng tham, sân, si, bản ngã y vậy thì không có chuyển tộc gì hết, không có chuyển nghiệp gì hết, không có chuyển tâm gì hết, cứ y chang vậy hoài thôi. Thành ra tu là phải chuyển mà muốn chuyển thì phải có xấu hổ và sợ hãi, nhận thức sâu sắc về những cái sai lầm, những cái tập nghiệp, tập khí của mình, những cái dở, những cái xấu, những cái thói hư tật xấu, tập khí, thói quen mà chính mình nhận diện ngũ uẩn mình thấy rõ. Từ cái chỗ mình xấu hổ, mình sợ hãi mới có cái sự thay đổi tức là sám hối đó, nữa tháng mình sám hối một lần đó là mình làm sạch, làm mới, làm đẹp.
Cái chữ sám hối đó rất hay, nếu mình hiểu được cái ý nghĩa mà mình được sám hối, mình được phát lồ, mình được bày tỏ ra là một cái may mắn, một hạnh phúc, một cái vẻ đẹp, một cái nét đẹp, một cái nết đẹp, mà sám hối đó chính là cái sự làm đẹp cho người tu. Ngược lại mình trơ trơ không thấy mình lỗi lầm gì hết trơn, mà có lỗi chỉ lỗi là mình lại không nhận lỗi, thậm chí mình sân hận với người chỉ lỗi thì cái đó không có đẹp gì hết, cũng không có tâm hiền gì hết, cũng không có tâm hướng thượng, không có cái tâm tăng thượng, không có cái tâm cầu tiến. Cho nên người tu cả một cuộc đời là đi tìm lỗi của mình để điều chỉnh cái lỗi, sửa cái lỗi, chỉnh cái lỗi để cho nó bớt cái lỗi, giảm cái lỗi, hết cái lỗi và cuối cùng hoàn thiện.
Vì thế hai cái pháp tàm quý rất quan trọng mà muốn thực hiện được những cái điều đó thì làm sao để mình biết là mình có lỗi, đó là phải nghe nhiều mới biết cái nào là đúng, cái nào là sai, cái nào là chánh, cái nào là tà, cái nào là phải, cái nào là quấy, cái nào là trí, cái nào là thức, cái nào mê, cái nào là giác thì phải nghe nhiều. Đó là nói bên trong, từ cái nghe nhiều đó mình có được trí tuệ, phước tuệ song tu thì mình phải có cái sự bố thí ở phía bên ngoài để nó hỗ trợ cho cái phước của mình để cho mình thuận tiện, thuận lợi về sức khỏe, về dung sắc, về những cái vật dụng sinh hoạt nhu yếu là nhờ cái có phước thì mình mới có được những cái đó. Từ cái phước ở bên ngoài và cái tuệ ở bên trong thì như vậy đó là bảy cái pháp còn gọi là thất thánh tài tức là bảy tài sản của bậc thánh.
"Thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì. Hãy thọ trì như vậy. Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Thiên Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.
Rồi một Tỳ-kheo đắp y vào buổi sáng, cầm bát y, đi đến trú xá của gia chủ Hatthaka người Alavì; sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Hatthaka người Alavì, đi đến Tỳ-kheo ấy, sau khi đến, đảnh lễ Tỳ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Tỳ-kheo ấy nói với Hatthaka, người xứ Alavì, đang ngồi xuống một bên:
- Thưa Hiền giả, Thế Tôn đã nói Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có. Thế nào là bảy? 'Có lòng tin, này các Tỳ-kheo là Hatthaka, người xứ Alavì ... có giữ giới ... có lòng xấu hổ ... có lòng sợ hãi ... nghe nhiều ... có bố thí ... có trí tuệ, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka, người xứ Alavì '. Thưa Hiền giả, Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này như Thế Tôn đã nói.
- Thưa Tôn giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng?
- Thưa Hiền giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
- Lành thay, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
Rồi Tỳ-kheo ấy, sau khi nhận đồ ăn khất thực tại trú xứ của Hatthaka, người xứ Alavì, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tỳ-kheo ấy, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Hatthaka, người Alavì; sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, bạch Thế Tôn, rồi con nói với Hatthaka, người xứ Alavì đang ngồi một bên: - "- Thưa Hiền giả, Thế Tôn đã nói Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này. Thế nào là bảy? 'Có lòng tin, này các Tỳ-kheo là Hatthaka, người xứ Alavì ... có giữ giới ... có lòng xấu hổ ... có lòng sợ hãi ... nghe nhiều ... có bố thí ... có trí tuệ, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka, người xứ Alavì '. Hiền giả thành tựu bảy pháp này, thưa Hiền giả, như Thế Tôn đã nói! ". Khi nghe nói như vậy, bạch Thế Tôn, Hatthaka người xứ Alavì nói với con:
- 'Thưa Tôn giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng?'
- Thưa Hiền giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
- Lành thay, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, thiện nam tử này là ít dục. Vị ấy không muốn các thiện pháp của mình được người khác biết đến. Do vậy, này Tỳ-kheo, hãy thọ trì rằng, Hatthaka người xứ Alavì, có thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này, tức là ít dục." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (III). Hatthaka, Người Alavì (1))
Tức là cái vị thánh cư sĩ này không có thể hiện mà cái câu nói này nó thâm sâu lắm, mình học cái bài thiền quán thân trống rỗng không ai trong đó chính là cái trí vô ngã cho nên Đức Phật khen thêm một pháp đó nữa, là cái pháp không muốn các thiện pháp của mình được người khác biết đến. Không có thể hiện, không có phô trương, không có khoe khoan mà đây là pháp của bậc chân nhân, trong bài kinh Chân Nhân Đức Phật nói bậc chân nhân dầu cho được người khác khen ngợi mà vị này còn không có muốn.
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, bậc Chân nhân là Người, nếu không được hỏi, vẫn nói lên lời không tán thán về mình; còn nói gì nếu được hỏi!
Nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị ấy nói lên lời không tán thán về mình, đầy đủ và toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỳ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, bậc Chân nhân dầu có được hỏi cũng không nói lên lời tán thán về mình; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nếu được hỏi và phải trả lời, dè dặt và ngập ngừng, vị ấy nói lên lời tán thán về mình, không đầy đủ; không toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỳ-kheo, vị này là bậc Chân nhân" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (III). Bậc Chân Nhân)
Qua đây chúng ta thấy được tám pháp vi diệu của cư sĩ chứng bất lai. Sau đây là bài kinh về một vị cư sĩ tên là Ugga, tiếng Hán Việt gọi là Úc Già Trưởng Giả, bên Hán tạng kêu bằng Úc Già, ở bên đây là Ugga.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- 'Này các Tỳ-kheo!'.
- 'Bạch Thế Tôn'. Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỳ-kheo, gia chủ Ugga, người Vesàli, thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có. Các Thầy hãy thọ trì như vậy.
Rồi một Tỳ-kheo đắp y vào buổi sáng, cầm bát y, đi đến trú xá của gia chủ Ugga người Vesàli; sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Ugga người Vesàli, đi đến Tỳ-kheo ấy, sau khi đến, đảnh lễ Tỳ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Tỳ-kheo ấy nói với gia chủ Ugga, người Vesàli, đang ngồi xuống một bên:
- Này gia chủ, Thế Tôn có nói rằng: 'Gia chủ Ugga người Vesàli này, thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có'. Này gia chủ, thế nào là tám pháp vi diệu chưa từng có ấy, mà Thế Tôn nói gia chủ là người được thành tựu?
- Thưa Tôn giả, tôi không biết Thế Tôn đã nói tôi thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có là gì. Nhưng thưa Tôn giả, tôi có tám pháp vi diệu chưa từng có này, hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.
- Vâng, này gia chủ, Tỳ-kheo ấy vâng đáp gia chủ Ugga người Vesàli.
Gia chủ Ugga người Vesàli nói như sau:
- Thưa Tôn giả, khi tôi lần đầu tiên chỉ từ xa thấy Thế Tôn thôi, thưa Tôn giả, chỉ thấy Thế Tôn thôi, tâm tôi được tịnh tín. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu thứ nhất, được có ở nơi tôi" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Lần đầu tiên thấy cái dáng Đức Phật từ xa thôi là tịnh tín bất động, khởi lòng tin một cách vững chắc liền. Khi nhìn thấy ba mươi hai tướng hải, nhìn thấy tượng Phật thôi là mình đã khởi cái tâm cung kính, khởi một cái tâm thành kính, tôn trọng huống chi là thấy được sắc thân thật của ngài. Bài kinh sau đó là ổng nói mới vừa gặp Đức Phật lần đầu tiên là ông bỏ rượu luôn, không uống rượu luôn, có nhiều bà vợ tâm sự với con là chồng nghiền rượu nhưng không hiểu sao lên đây rồi là về bỏ rượu luôn, có những vị sát sanh tức là ăn mặn nhưng sau khi dự khóa tu ở đây về là ăn chay trường luôn. Cái này rất đáng xưng tán, những cái đó là những cái tấm gương, tức là gặp Phật hay là tiếp xúc với chánh pháp sẽ có cái diệu dụng như vậy, đó là cái vi diệu pháp thứ nhất.
Vị Úc Già Trưởng Giả nói rằng tôi không biết Thế Tôn nói tám pháp đó là cái gì nhưng mà ở trong tôi có tám pháp này. Cho nên cái chánh ngữ khi học rồi mình mới thấy không phải dễ mà nói đâu, thường thường mình nói một hồi sẽ rơi vào nói láo, nói thêu dệt nhiều lắm. Thế Tôn nói là chắc chắn là trúng rồi nhưng mà ngài nói "tôi không biết Thế Tôn muốn nói cái pháp nào nhưng hiện tại ở trong ở trong tôi là có tám cái pháp này". Cái pháp thứ nhất là lần đầu tiên chỉ từ xa thấy Thế Tôn thôi, chỉ thấy thế tôn thôi, nhấn mạnh một lần nữa là tâm được tịnh tín, lòng tin trong sạch, với tâm tịnh tín ấy tôi hầu hạ Thế Tôn và Thế Tôn thuyết pháp thuận thứ cho tôi. Cái này là trình tự thuyết pháp của Chư Phật con đã có giải thích, ở đây thì nói phớt qua thôi, đầu tiên Đức Phật sẽ nói về bố thí, quả báo, cái phước của sự bố thí, Đức Phật sẽ nói về giới, về công đức của sự giữ giới, sau đó Đức Phật thuyết về cái sự phúc lạc của các cõi trời là thầy vui quá rồi nhưng sau đó Đức Phật nói sự nguy hại, hạ liệt và nhiễm ô của các dục, sự lợi ích của viễn ly.
"Rồi thưa Tôn giả, với tâm tịnh tín ấy, tôi hầu hạ Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp thuận thứ cho tôi, như thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi Trời, nói đến sự nguy hại, hạ liệt, nhiễm ô của các dục và sự lợi ích của viễn ly.
Khi Thế Tôn biết tôi tâm đã sẵn sàng, tâm đã nhu thuận, tâm không triền cái, tâm được phấn khởi, tâm được hoan hỉ, Thế Tôn mới thuyết những pháp được chư Phật tán dương đề cao: 'Khổ, Tập, Diệt, Ðạo'. Cũng như một tấm vải thuần bạch, các chấm đen được gột rửa, rất dễ thấm màu nhuộm. Cũng vậy, chính tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên nơi tôi: 'Phàm pháp gì được tập khởi, tất cả Pháp ấy đều bị đoạn diệt'. Rồi thưa Tôn giả, khi tôi thấy pháp, đạt pháp, biết pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ được vượt qua, do dự trù diệt, đạt được vô sở úy, không ý cứ người khác đối với pháp bậc Ðạo sư. Tại đấy, tôi quy y Phật, quy y Pháp và chúng Tăng, tôi thọ lãnh năm học pháp về Phạm hạnh. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ hai, được có ở nơi tôi" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Thế Tôn thuyết về bốn sự thật của khổ, bốn sự thật của đời sống, bốn sự thật của luân hồi sanh tử, bốn sự thật của kiếp nhân sinh. Vị Úc Già này chứng quả Nhập Lưu trước khi quy y tam bảo, Đức Phật thuyết pháp thuận thứ như vậy thì khi ông nghe tới Tứ Thánh đế rồi thì ngay lúc đó là pháp nhãn thanh tịnh, con mắt pháp được trong sáng, con mắt mù từ vô thỉ kiếp được sáng ra gọi là sáng con mắt ra, tỏ con mắt ra, mở con mắt ra và trí sanh, minh sanh, quang sanh, tuệ sanh, thấy được Khổ Thánh Trí, thấy được ngũ uẩn là khổ và ngay lúc đó là thể nhập chánh tri kiến. Một người đã thấy pháp, thành tựu chánh tr kiến rồi thì người đó sẽ không cần phải dựa vào một cái người khác, trừ những cái bậc thành tựu ở trong pháp chứ, còn nếu người thông thường thì làm sao mà dựa được.
Tức là người này có thể tự đi bằng đôi chân của mình để đến Niết-bàn, một cái vị Nhập Lưu, một vị thành tựu chánh tri kiến đã thấy rõ cái đạo lộ, đó là pháp vi diệu thứ hai. Cái chỗ này hơi độc đáo, vị này có tới bốn người vợ.
"Thưa Tôn giả, tôi có bốn vợ đều còn trẻ tuổi. Rồi tôi đi đến các người vợ ấy; sau khi đến, tôi nói với các người vợ ấy như sau: 'Này các vị, tôi đã thọ lãnh năm học pháp về Phạm hạnh. Ai muốn, hãy hưởng thọ tài sản ở chỗ này, hay làm các công đức, hay đi đến gia đình bà con của mình, hay ai có ưng ý người đàn ông nào, tôi sẽ cho các vị'. Ðược nói như vậy, thưa Tôn giả, người vợ lớn của tôi nói với tôi: 'Thưa gia chủ Ugga, hãy cho tôi người đàn ông tên này'. Rồi thưa Tôn giả, tôi cho mời người ấy lại, với tay trái tôi cầm người vợ, với tay phải tôi cầm bình nước, rồi tôi rửa sạch người ấy. Thưa Tôn giả, từ khi bỏ người vợ trẻ, tâm tôi không có một chút đổi khác. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ ba, được có ở nới tôi." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Do vị trưởng giả này đã chứng tới thánh quả thứ ba đâu có còn dục nữa, như vậy coi như là từ bỏ những người vợ còn trẻ.
"Thưa Tôn giả, có những tài sản ở trong gia đình tôi, chúng được phân chia giữa những người có giới và những người tốt lành. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ tư, được có ở với tôi" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Tức là ông đem tài sản của ông cúng dường cho các vị có giới đức và những cái người thiện lành. Ông ấy phân chia để bố thí, không có tiếc của, không có giữ của, không có bủn xỉn đối với tài sản của mình. Chữ "gia chủ" ở đây là giống như đại gia bây giờ vậy đó, sự bố thí, sự cúng dường rất là hoan hỉ, đó là pháp thứ tư.
"Khi tôi hầu hạ một Tỳ-kheo, tôi hầu hạ rất cẩn thận, không phải không cẩn thận. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ năm, được có ở với tôi" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Nếu có một vị Tỳ-kheo đi đến nhà khất thực thì ông ấy bưng cơm, dâng nước, ngài quỳ rửa chân… Ngài hầu hạ rất cẩn thận chứ không phải không cẩn thận cho nên khi chúng ta có cơ hội phục vụ chúng Tăng, các Tăng Ni, các vị trưởng thượng là cơ hội rất quý báu, rất tốt cho mình. Nếu mình làm với tâm cung kính, tôn trọng thì đó là cơ hội quý báu rất lớn cho mình chứ không phải dễ, nhất là với những vị tu đúng chánh pháp.
"Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả ấy thuyết pháp cho tôi, tôi nghe hết sức cẩn thận, không phải không cẩn thận. Nếu Tôn giả ấy không thuyết pháp cho tôi, thời tôi thuyết pháp cho vị ấy. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ sáu, được có ở nơi tôi" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Nếu vị Tỳ-kheo đi đến khất thực hoặc là đi gặp mà cái vị đó có thuyết pháp thì vị cư sĩ Úc Già này nghe hết sức là cẩn thận, không phải là nghe không cẩn thận, nghe một cách cung kính. Bậc thánh là vậy đó, bậc thánh ta sanh ra từ pháp mà cho nên người ta cung kính pháp tuyệt đối, rồi cái chỗ đặc biệt là nếu tôn giả ấy không thuyết pháp cho tôi thì tôi thuyết pháp cho vị ấy, thầy không thuyết cho con thì con thuyết cho thầy vì ông này là thánh quả thứ ba mà. Nhiều khi cái vị thầy đó chưa chắc thánh quả bằng ngài nữa nhưng có khi có những cái vị Tỳ-kheo đa văn không chứng thánh quả nhưng mà pháp các ngài thông thạo lắm giống như bây giờ có những vị tam tạng pháp sư là chưa chắc gì các cái vị thành tựu, chứng đắc, cái tri kiến về Phật học và bằng các vị đó nhưng đương nhiên cái vị thánh là nắm được cái lõi, cái pháp hành, cái sự chứng đắc thì nó khác, còn cái người kia là nghiên cứu về chữ nghĩa văn chương, về tri thức, chẳng hạn như thuộc lòng như mấy vị pháp sư.
"Thật không phải là vi diệu, thưa Tôn giả, chư Thiên sau khi đến, bảo tôi: 'Này gia chủ, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng!'. Khi được nói vậy, thưa Tôn giả, tôi nói với chư Thiên ấy như sau: 'Dầu cho chư Thiên các người có nói như vậy hay không nói như vậy, pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng'. Thưa Tôn giả, tuy vậy tâm tôi không có tự hào về nhân duyên ấy, nghĩa là: 'Chư Thiên đến với ta, ta cùng nói chuyện với chư Thiên'. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ bảy, được có ở nơi tôi." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Tức là Thế Tôn mà thuyết pháp chỗ nào thì chư thiên lại báo cho ngài, nói chuyện với ngài. Ngài cùng giao thiệp, giao du với chư thiên nhưng mà ngài không có không có tự hào, không có thấy mình hơn người khác, mình là ngon lành.
"Thưa Tôn giả, năm hạ phần kiết sử này được Thế Tôn thuyết giảng, tôi thấy rõ không có một pháp nào không được đoạn tận ở nơi tôi. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ tám, được có ở nơi tôi.
Thưa Tôn giả, tám pháp vi diệu chưa từng có này có mặt. Nhưng tôi không biết Thế Tôn đã nói tôi thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này.
Rồi Tỳ-kheo ấy, sau khi nhận đồ ăn khất thực tại trú xứ của gia chủ Ugga, người Vesàli, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tỳ-kheo ấy, sau khi ăn xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy đem tất cả câu chuyện nói với gia chủ Ugga người Vesàli thuật lại với Thế Tôn.
- Lành thay, lành thay! này Tỳ-kheo, gia chủ Ugga người Vesàli nếu có trả lời một cách chơn chánh, có thể trả lời như vậy. Này Tỳ-kheo, Ta đã nói gia chủ Ugga người Vesàli thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này. Này Tỳ-kheo, hãy thọ trì rằng gia chủ Ugga, người Vesàli, được thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Đức Phật ấn chứng những cái lời của ngài Úc Già nói là đúng sự thật như vậy, chính Đức Phật ấn chứng. Trong một cái bài kinh khác thì ông Úc Già nói đó từ đằng xa lần đầu tiên nhìn thấy Thế Tôn thì tâm được tịnh tín và say rượu được đoạn tận.
"- Thưa Tôn giả, khi tôi còn vui chơi ở rừng Nàga, lần đầu tiên, tôi thấy Thế Tôn từ đằng xa. Chỉ thấy Thế Tôn thôi, thưa Tôn giả, tâm tôi được tịnh tín, và say rượu được đoạn tận" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (II). Ugga Người Hatthigama)
Như vậy thì có cái khả năng ông này đang say xỉn thì gặp Thế Tôn là tỉnh rượu ngay lập tức, có cái chỗ nói thêm phần cúng dường chúng Tăng.
"Thật không phải là vi diệu, thưa Tôn giả, khi tôi mời chúng Tăng, chư Thiên đến và bảo tôi: 'Này gia chủ, Tỳ-kheo này là vị câu phần giải thoát; Tỳ-kheo này là vị Tuệ giải thoát; Tỳ-kheo này là vị Thân chứng; Tỳ-kheo này là vị Kiến chí; Tỳ-kheo này là vị Tín giải thoát; Tỳ-kheo này là vị Tùy pháp hành; Tỳ-kheo này là vị Tùy tín hành; vị này giữ giới, theo thiện pháp; vị này phá giới, theo ác pháp'. Nhưng khi tôi cúng dường chúng Tăng, tôi không cảm thấy có tâm như vậy khởi lên: 'Vị này tôi cúng ít' hay 'Vị này tôi cúng nhiều'. Nhưng thưa Tôn giả, tôi cúng với tâm bình đẳng. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ sáu, được có ở tôi.
Thưa Tôn giả, nếu tôi mệnh chung trước Thế Tôn, đây không có gì là vi diệu, nếu Thế Tôn nói về tôi như sau: 'Không có một kiết sử nào, do kiết sử ấy, gia chủ Ugga người làng Hatthigàma có thể trở lui lại đời này'. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ tám được có ở nơi tôi" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (II). Ugga Người Hatthigama)
Tức là vị này thành tựu thánh quả bất Lai, như vậy chỉ cần chúng ta đọc lại kinh thôi cũng là công đức vô lượng vô biên, chỉ cần đọc lại thôi huống hồ chi được hiểu, huống hồ chi được thực hành, thọ trì, huống hồ chi được thể nhập những cái trí tuệ, được thành tựu những cái kết quả tối thượng như vậy. Buổi tối hôm nay với một cái tâm là con cũng mong muốn chúng ta thấy được những cái tấm gương sáng của các bậc thánh cư sĩ, cũng như thấy được cái thành quả tu học thiết thực, hiện tại, cái tâm của các ngài bất động khi chồng chết, khi con chết, cái tâm được xả ly với dục ái, với tham ái ở đời. Một cái tâm hết sức là chân thành, khiêm hạ, cung kính, một cái tâm hết sức là thanh tịnh, là siêu thoát để chúng ta có một tấm gương để chúng ta soi, có một cái nơi để chúng ta hướng tới, có thêm cái lòng tin tịnh tín bất động, tịnh tín tăng thượng, tịnh tín mạnh mẽ, kiên trú, vững trú, vững chắc ở trên con đường thực hành chánh pháp.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo
./.
DIỆU DỤNG CỦA THÁNH QUẢ BẤT LAI
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức, kính thưa chư vị hiền trí nam nữ Phật tử, hôm nay chúng ta tìm hiểu chủ đề rất là đặc biệt "Diệu Dụng Của Thánh Quả Bất Lai" để cho chúng ta trong sự tu học có sự hướng thượng, có sự mở rộng thêm cái tầm mắt, mở rộng thêm thấy nghe, cảm nhận và nhận thức về con đường tu học của từ cư sĩ cho đến xuất gia, cũng như để chúng ta thấy được một cái tương lai rất là xán lạn, rực rỡ của người tu hành đúng chánh pháp. Ở trong phân loại kinh tạng Nikāya gồm có bốn bài kinh, tùy theo thời gian trong cái phần này chúng ta sẽ thấy ít nhất là hai vị cư sĩ chứng thánh quả bất lai. Mình xem cái vị chứng được thánh quả bất lai thì lúc đó cái cách của các ngài sống như thế nào, ngài cư xử như thế nào, cách hành xử của ngài như thế nào.
" Như vầy tôi nghe:
Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahàmoggallàna đang du hành ở Dakkhinàgiri, cùng với đại chúng Tỳ-kheo. Lúc bấy giờ, nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda thức dậy trước khi mặt trời mọc, và đọc lớn tiếng bài 'Pàràyana' (Con đường đưa đến bờ bên kia). Lúc bấy giờ, Ðại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) đang đi từ phương Bắc đến phương Nam vì một vài công việc. Ðại vương Vessavana nghe nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda, sau khi lớn tiếng đọc xong bài Pàràyana, liền đứng lại, chờ đợi cho bài được đọc xong" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Chúng ta thường hay nghe Tứ Đại Thiên Vương thì cái vị Tỳ-sa-môn Thiên Vương là cái vị đứng đầu ở trong bốn vị thiên vương để hộ trì thế giới, vị này có tên là đa văn vì cái vị này rất là thích nghe Phật pháp chính vì vậy ngài đang đi từ phương Bắc đi đến Phương Nam vì công việc của ngài thì ngài nghe nữ cư sĩ là mẹ của Nanda đọc bài kinh này, ngài dừng lại nghe, ngài đợi cho đến đọc xong hết cái bài kinh. Sáng nào chúng ta cũng đọc hết trơn, chắc mấy ngài cũng có ghé nhiều, bởi vậy con nói nhất là chúng ta tu học chánh pháp có những cái điều mình không có thể tưởng tượng được, mình học kinh nhiều đi rồi mình sẽ thấy cái lợi ích bất khả tư nghì. Nhiều khi mình chỉ nhìn thấy trước mắt sao tu hoài sao chưa có thấy nhưng mà thật sự nếu mà mình thấy kỹ, mình có sự quán chiếu sẽ thấy nhiều cái lợi ích lắm, như chúng ta đọc kinh thánh điển Nikāya hằng ngày như vậy thì nhân thiên phổ lợi, chẳng những mình được lợi lạc mà còn rất nhiều các cái chư vị sơn thần, địa thần, phong thần, thổ thần, thọ thần, vân thần, hư không thần, ngay cả đây là tứ đại thiên vương cũng dừng lại nghe hết cái bài kinh.
"Và nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, sau khi lớn tiếng đọc xong bài Pàràyana, liền im lặng. Rồi Ðại vương Vessavana biết được nữ cư sĩ, mẹ của Nanda đã đọc xong bài kệ, liền hết sức hoan hỉ và nói:
- Lành thay, này Chị! Lành thay, này Chị!
- Ngài là ai, hỡi vị có bộ mặt hiền?
- Này Chị, ta là anh của Chị, Ðại vương Vessavana!
- Lành thay, hỡi vị có bộ mặt hiền! Hãy lấy pháp môn được tôi nói đến hôm qua, làm quà tặng đón khách cho Ngài.
- Lành thay, này Chị! Phải, pháp môn này hãy là quà tặng đón khách của tôi! Ngày mai, chúng Tỳ-kheo, với Sàriputta và Moggallàna là các vị cầm đầu, sẽ đến Velukantaka, nhưng chưa ăn sáng. Sau khi Chị mời chúng Tỳ-kheo dùng xong, hãy tuyên bố chính ta đã cúng dường" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Quà của các bậc thánh chính là pháp bảo, phàm phu mình cứ thích ăn bánh, ăn kẹo, thích mấy cái tờ giấy, mấy cái món đồ vô thường, hư ảo đó, còn cái bậc thánh quý trọng pháp. Đây là cái món quà quý giá mà chị dành cho tôi, mà cô dành cho tôi, mà bà dành cho tôi thì mẹ của Nanda cũng xác nhận "đúng rồi cái quý báu nhất của tôi đó, tôi tụng mỗi ngày đó, đây là pháp hành, pháp tu của tôi đó". Sau đó vị Tỳ-sa-môn thiên vương này mới báo tin ngày mai tôn giả Xá-lợi-phất và tôn giả Mục-kiền-liên làm thượng thủ dẫn đoàn thánh chúng Tỳ-kheo đến vùng đất này nhưng mà chưa có ăn sáng cho nên sau khi chị mời chúng Tỳ-kheo dùng xong hãy tuyên bố chính ta đã cúng dường, thay thế giùm ta đi cúng dường bữa thức ăn sáng cho thánh chúng và trong đó ngài Xá-lợi-phất và ngài Mục-kiền-liên liên dẫn đoàn, làm trưởng đoàn là bậc thượng thủ.
"Rồi cư sĩ, mẹ của Nanda, sau khi đêm ấy đã mãn, liền cho sửa soạn tại nhà của mình các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm. Rồi chúng Tăng, với Sàriputta và Moggallàna là vị cầm đầu đi đến Velukantaka nhưng chưa ăn sáng. Rồi nữ cư sĩ, mẹ của Nanda bảo một người đi, nói rằng:
- Này Bạn, hãy đi đến khu vườn và báo thời giờ cho chúng Tỳ-kheo: 'Ðã đến giờ, thưa các Tôn giả! Tại nhà của mẹ Nanda, các món ăn đã được sửa soạn'.
- Thưa vâng, thưa nữ cư sĩ.
Người ấy vâng đáp nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, đi đến khu vườn và báo thời giờ cho chúng Tỳ-kheo:
- Ðã đến giờ, thưa các Tôn giả! Tại nhà của mẹ Nanda, các món ăn đã được sửa soạn.
Rồi chúng Tỳ-kheo, với Sàriputta mà Mahàmoggallàna là vị cầm đầu, vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi đến trú xứ của nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, sau khi đến, ngồi xuống trên các chỗ đã soạn sẵn. Rồi nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, mời chúng Tỳ-kheo với Sàriputta và Moggallàna là vị cầm đầu, với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, và làm chúng Tỳ-kheo được thỏa mãn. Rồi nữ cư sĩ, mẹ của Nanda thấy Tôn giả Sàriputta ăn đã xong, tay đã rút lui khỏi bình bát, liền ngồi xuống một bên. Tôn giả Sàriputta nói với cư sĩ, mẹ của Nanda đang ngồi một bên:
- Này Mẹ của Nanda, ai bảo cho Bà biết chúng Tỳ-kheo sẽ đi tới nhà?
- Ở đây, thưa Tôn giả, con thức dậy trước khi trời sáng, đọc lớn tiếng bài kệ Pàràyana rồi im lặng. Rồi thưa Tôn giả, Ðại vương Vessavana sau khi biết được con đã đọc xong, liền hết sức hoan hỉ và nói:
- 'Lành thay, này Chị! Lành thay, này Chị!'
- 'Ngài là ai, hỡi vị có bộ mặt hiền?'
- 'Này Chị, ta là anh của Chị, Ðại vương Vessavana!'
- 'Lành thay, hỡi vị có bộ mặt hiền! Hãy lấy pháp môn được tôi nói đến hôm qua, làm quà tặng đón khách cho Ngài.'
- 'Lành thay, này Chị! Phải, pháp môn này hãy là quà tặng đón khách của tôi! Ngày mai, chúng Tỳ-kheo, với Sàriputta và Moggallàna là các vị cầm đầu, sẽ đến Velukantaka, nhưng chưa ăn sáng. Sau khi Chị mời chúng Tỳ-kheo dùng xong, hãy tuyên bố chính ta đã cúng dường.'
Thưa Tôn giả, mong rằng mọi công đức của buổi cúng dường này sẽ đem lại an lạc cho đại vương Vessavana!" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Tức là hồi hướng công đức cúng dường cho ngài Tỳ-sa-môn thiên vương là vua trời cúng dường chư Tăng. Mình nghĩ là làm trời là có phước quá rồi, thiên nhân thôi là đã phước báo rất nhiều rồi nhưng mà cái này là thiên vương, trời cũng có người và vua nha. Cái người bình thường ở cõi trời thì gọi là thiên nhân, cái vị đứng đầu gọi là thiên vương hoặc là thiên chủ, như vậy thì vua trời thiên vương cũng vẫn còn làm công đức vậy mà nhiều khi mình mới được chút thì nói chắc mình cũng đủ phước rồi đó, thấy không? Lâu lâu cũng phải học những cái bài kinh này để cho mình hướng thượng, lâu lâu mình cũng phải đi thăm các tứ đại thiên vương, thăm các bậc thánh quả, thánh nhân để mình thấy.
"- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà có thể nói chuyện, mặt tận mặt với một Thiên tử có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy.
- Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, Nanda, đứa con độc nhất của con, khả ái, khả ý, vì một lý do gì đó, bị các vua dùng sức mạnh bắt giữ và đoạn mạng sống. Thưa Tôn giả, trong khi đứa trẻ bị bắt giữ hay đang bị bắt giữ, khi bị trói hay đang bị trói, khi bị giết hay đang bị giết, con rõ biết tâm của con không có đổi khác.
- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà đã có thể làm cho tâm khởi thanh tịnh như vậy" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Cái này nếu mình nhìn về thế gian thì người ta sẽ không có hiểu, người ta không có chấp nhận nhưng đây là cái tâm của bậc thánh, tham ái đã dứt, tâm đã bất động, không có khổ. Tại vì sao vậy? Các ngài đã thể nhập vào sự vô thường, có sanh thì có tử và có nghiệp thì có quả, có vay thì có trả cho nên các ngài đã thấy biết một cách thấu đáo, tường tận, rành mạch căn nguyên, đầu đuôi, gốc ngọn hết thì tâm các ngài bình thản chứ. Chúng sanh mình là mù lòa, không thấy không biết cho nên khi cái những cái oan trái nó đến thì lúc đó mình đối trị thẳng tay, rồi cái nghiệp cũ chưa giả xong mà chồng thêm nghiệp mới, còn các ngài đó là thấu suốt nhân quả, phá vỡ vô minh, thấy rõ được sanh tử, giải mã hết tất cả những cái nhân quả, những cái nghiệp báo, những cái trả vay trên cuộc đời ngài, tâm các ngài bất động. Đó là cái sự hiếm có, hy hữu thứ nhất của một cái bậc bất lai thánh quả, thánh quả thứ ba.
"- Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, người chồng của con, khi mạng chung, sanh vào sanh loại Dạ-xoa, và vị ấy hiện lên trước mặt con, với một tự ngã như lúc trước. Nhưng thưa Tôn giả, con rõ biết, không vì nhân duyên ấy, tâm của con có đổi khác.
- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Người dã có thể làm cho tâm khởi thanh tịnh như vậy" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Dạ-xoa ở đây nhiều cái cấp độ lắm, có khi là thần, "vị ấy hiện ra trước mặt con với một tự ngã như lúc trước" tức là hiện ra y như cái dáng cũ của đời trước nhưng tâm của cô này bất động không thay đổi. Người chồng chết rồi, qua đời rồi, mạng chung rồi và bây giờ hiện ra một cái hình tướng y như lúc còn sống nhưng tâm của bà không có thay đổi đó là sự kiện gọi là vi diệu. Đầu tiên là con một kế đây là chồng, toàn đối đầu với sanh tử mà tâm bình thản, an nhiên, bất động cũng như nãy chúng ta đã nói là thấu rõ nhân quả, sanh tử, nghiệp báo. Thí dụ chúng ta chưng bình bông tới bảy ngày, tám ngày lúc nó tàn, nó héo mình bưng xuống đi đổ mình có khóc không? Sao không khóc? Tại mình quá hiểu quá rõ rồi, nó tươi thì nó phải héo, nó nở thì phải tàn, nó xanh rồi nó phải vàng thì mình bưng đi đổ một cách bình thản, cái thân mạng của người thân mình hoặc là của mình lúc đem đi vào trong cái hòm cũng giống y như lúc mình đem cái bông mình đổ ra thùng rác, mình vứt vào thùng rác thì lúc đó mình đau khổ quằn quại tại vì mình thấy cái bông khác, còn cái thân mình là khác.
Mình nghĩ thân mình là thiệt, nó là thường, nó là bền, nó là vậy hoài, còn các ngài nhìn y như cái bông, cái hoa héo hồi nãy đem đổ thùng rác. Các ngài thấu suốt hết các căn nguyên, nguồn cội, sanh diệt, héo tàn, tươi hay là khô, các pháp, tâm các ngài rất là bình thản, thản nhiên.
"- Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác. Thưa Tôn giả, khi còn là thiếu nữ, được đưa đến cho chồng con, con rõ biết con không có một tâm vi phạm đối với chồng con, huống nữa là về thân!
- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà đã có thể làm cho tâm khởi thanh tịnh như vậy." (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Cái này nhiều cái pháp sâu xa đó, mình tìm hiểu thêm ở trong lịch sử, có khả năng là ngài đã chứng quả trước khi ngài đi lấy chồng. Bậc đạo sư dạy cho chồng ngài cái cách ly dục.
"- Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Thưa Tôn giả, khi con tự chấp nhận là một nữ cư sĩ, con rõ biết con chưa từng vi phạm một học pháp nào" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Qua đây chúng ta thấy giới của các bậc thánh rất thanh tịnh, cư sĩ có thể chứng tới quả thứ ba thì tất cả cái giới con rõ biết là con chưa có từng vi phạm một cái học pháp nào. Cái học pháp ở đây nó rộng hơn giới nữa, giới của người cư sĩ thì đơn giản chỉ năm giới hoặc là tám giới thôi, nhưng mà ở đây dùng cái từ là học pháp thì rộng hơn giới nữa. Thí dụ như là thu nhiếp sáu căn, phòng hộ sáu căn chẳng hạn, thấy sợ hãi trong các lõi nhỏ nhặt và chấp nhận các học pháp, thì cái vị này là một nữ cư sĩ nhưng mà không có vi phạm một học pháp nào hết.
"- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, nếu con muốn, con có thể ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, không tầm không tứ; làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, con chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm; ly hỷ, con trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, con chứng đạt và an trú Thiền thứ ba; đoạn lạc và đoạn khổ, chấm dứt các hỷ ưu đã cảm thọ trước, con chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Chúng ta thấy nữ cư sĩ đó bởi vậy mình xuất gia và mình nghe này mình thấy hổ thẹn quá, xấu hổ quá, đó là cư sĩ thời Đức Phật, gọi là thánh cư sĩ. Mình giờ tu sĩ kiếm cái số một thôi cũng khó nữa chứ đừng nói tới cái số hai, số ba, số bốn cho nên cái quý báu là cái thánh tr kiến, chánh tri kiến thì dẫn các thiền này trở thành thánh chánh định, nếu không có thánh tri kiến thì dù cho đạt được tứ thiền vẫn là phàm phu thiền.
"- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda!
- Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, năm hạ phần kiết sử được Thế Tôn thuyết giảng, con thấy rõ không còn pháp nào ở nơi con chưa được đoạn tận" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Năm hạ phần kiết sử thì đầu tiên là thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân. Năm cái này con rõ biết không còn ở trong con một chút nào hết, không còn một pháp nào ở nơi con mà chưa được đoạn tận, đây là quả bất lai của một vị nữa cư sĩ thời Đức Phật. Bây giờ mình phá được cái thân khiến thì hoài nghi với cấm thủ đi theo, cho nên mình không có tinh cần, tinh tấn, không có tác ý, không có thiền quán nhiều là không có đi tới đâu. Phải phá nhiều lắm, trong mỗi cái suy nghĩ, mỗi cái cảm thọ, mỗi cái hình bóng, mỗi cái nhận thức là không có bỏ qua, không có phớt qua, mức độ tu của các ngài mà cư sĩ tu như vậy là biết bao nhiêu sự nỗ lực. Ở đây chỉ nói thành quả thôi, còn những nỗ lực của các ngài là biết bao nhiêu mà nói.
"- Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda!
Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi với một pháp thoại, nói lên cho nữ cư sĩ mẹ của Nanda, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi." (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, (X). V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, Mẹ Của Nanda)
Đây là chín vi diệu của nữ cư sĩ chứng quả bất lai. Sau đây tới nam cư sĩ cũng rất đặc biệt, thường các vị tu tập mà đạt tới như vậy là các vị sẽ đầy đủ tín, giới, tàm, quý, văn, thí và tuệ rất là nhiều, đây là những cái pháp căn bản.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Alavì, tại điện Phật Aggàlava. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, Hatthaka, người xứ Alavì thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có. Hãy thọ trì như vậy. Thế nào là bảy?
Có lòng tin, này các Tỷ kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có giới, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng xấu hổ, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng sợ hãi, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; nghe nhiều, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có bố thí, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có trí tuệ, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (III). Hatthaka, Người Alavì (1))
Có lòng tin đối với Phật – Pháp - Tăng và giữ được các giới của người cư sĩ đó gọi là bốn dự lưu phần, bốn cái phần giúp cho mình tham dự vào dòng chảy của trí tuệ, tham dự vào dòng thánh, tham dự vào dòng họ Giác Ngộ. Những từ ngữ Phật giáo nguyên thủy gọi là chuyển tộc tức là mình từ một cái dòng họ Trần, họ Nguyễn, họ gì đó nhưng mà khi mình vào trong pháp thì mình sẽ thay đổi cái dòng họ, đi vào cái dòng họ Giác Ngộ, gọi là chuyển tộc giống như mình vô đổi cái pháp danh đó, ở ngoài thì mình thế danh, bây giờ mình vô là pháp danh. Nếu mình tu đúng cái pháp danh đó thì mình chuyển tộc, con tạm chia ra mấy cấp độ, thứ nhất là thay gia đổi thịt, thứ hai là thay xương đổi cốt và thứ ba là siêu phàm nhập thánh là ba cái giai đoạn.
Nghĩa là mình tu là mình phải có sự chuyển đổi, có sự thay đổi, có sự biến đổi chứ không phải tu cứ y chang vậy hoài, ba tháng sau gặp cũng vậy, tám tháng sau gặp cũng vậy, năm sau gặp cũng vậy, ba năm sau, bảy năm sau gặp lại cũng tham, sân, si, bản ngã y vậy thì không có chuyển tộc gì hết, không có chuyển nghiệp gì hết, không có chuyển tâm gì hết, cứ y chang vậy hoài thôi. Thành ra tu là phải chuyển mà muốn chuyển thì phải có xấu hổ và sợ hãi, nhận thức sâu sắc về những cái sai lầm, những cái tập nghiệp, tập khí của mình, những cái dở, những cái xấu, những cái thói hư tật xấu, tập khí, thói quen mà chính mình nhận diện ngũ uẩn mình thấy rõ. Từ cái chỗ mình xấu hổ, mình sợ hãi mới có cái sự thay đổi tức là sám hối đó, nữa tháng mình sám hối một lần đó là mình làm sạch, làm mới, làm đẹp.
Cái chữ sám hối đó rất hay, nếu mình hiểu được cái ý nghĩa mà mình được sám hối, mình được phát lồ, mình được bày tỏ ra là một cái may mắn, một hạnh phúc, một cái vẻ đẹp, một cái nét đẹp, một cái nết đẹp, mà sám hối đó chính là cái sự làm đẹp cho người tu. Ngược lại mình trơ trơ không thấy mình lỗi lầm gì hết trơn, mà có lỗi chỉ lỗi là mình lại không nhận lỗi, thậm chí mình sân hận với người chỉ lỗi thì cái đó không có đẹp gì hết, cũng không có tâm hiền gì hết, cũng không có tâm hướng thượng, không có cái tâm tăng thượng, không có cái tâm cầu tiến. Cho nên người tu cả một cuộc đời là đi tìm lỗi của mình để điều chỉnh cái lỗi, sửa cái lỗi, chỉnh cái lỗi để cho nó bớt cái lỗi, giảm cái lỗi, hết cái lỗi và cuối cùng hoàn thiện.
Vì thế hai cái pháp tàm quý rất quan trọng mà muốn thực hiện được những cái điều đó thì làm sao để mình biết là mình có lỗi, đó là phải nghe nhiều mới biết cái nào là đúng, cái nào là sai, cái nào là chánh, cái nào là tà, cái nào là phải, cái nào là quấy, cái nào là trí, cái nào là thức, cái nào mê, cái nào là giác thì phải nghe nhiều. Đó là nói bên trong, từ cái nghe nhiều đó mình có được trí tuệ, phước tuệ song tu thì mình phải có cái sự bố thí ở phía bên ngoài để nó hỗ trợ cho cái phước của mình để cho mình thuận tiện, thuận lợi về sức khỏe, về dung sắc, về những cái vật dụng sinh hoạt nhu yếu là nhờ cái có phước thì mình mới có được những cái đó. Từ cái phước ở bên ngoài và cái tuệ ở bên trong thì như vậy đó là bảy cái pháp còn gọi là thất thánh tài tức là bảy tài sản của bậc thánh.
"Thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì. Hãy thọ trì như vậy. Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Thiên Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.
Rồi một Tỳ-kheo đắp y vào buổi sáng, cầm bát y, đi đến trú xá của gia chủ Hatthaka người Alavì; sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Hatthaka người Alavì, đi đến Tỳ-kheo ấy, sau khi đến, đảnh lễ Tỳ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Tỳ-kheo ấy nói với Hatthaka, người xứ Alavì, đang ngồi xuống một bên:
- Thưa Hiền giả, Thế Tôn đã nói Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có. Thế nào là bảy? 'Có lòng tin, này các Tỳ-kheo là Hatthaka, người xứ Alavì ... có giữ giới ... có lòng xấu hổ ... có lòng sợ hãi ... nghe nhiều ... có bố thí ... có trí tuệ, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka, người xứ Alavì '. Thưa Hiền giả, Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này như Thế Tôn đã nói.
- Thưa Tôn giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng?
- Thưa Hiền giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
- Lành thay, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
Rồi Tỳ-kheo ấy, sau khi nhận đồ ăn khất thực tại trú xứ của Hatthaka, người xứ Alavì, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tỳ-kheo ấy, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Hatthaka, người Alavì; sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, bạch Thế Tôn, rồi con nói với Hatthaka, người xứ Alavì đang ngồi một bên: - "- Thưa Hiền giả, Thế Tôn đã nói Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này. Thế nào là bảy? 'Có lòng tin, này các Tỳ-kheo là Hatthaka, người xứ Alavì ... có giữ giới ... có lòng xấu hổ ... có lòng sợ hãi ... nghe nhiều ... có bố thí ... có trí tuệ, này các Tỳ-kheo, là Hatthaka, người xứ Alavì '. Hiền giả thành tựu bảy pháp này, thưa Hiền giả, như Thế Tôn đã nói! ". Khi nghe nói như vậy, bạch Thế Tôn, Hatthaka người xứ Alavì nói với con:
- 'Thưa Tôn giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng?'
- Thưa Hiền giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
- Lành thay, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, thiện nam tử này là ít dục. Vị ấy không muốn các thiện pháp của mình được người khác biết đến. Do vậy, này Tỳ-kheo, hãy thọ trì rằng, Hatthaka người xứ Alavì, có thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này, tức là ít dục." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (III). Hatthaka, Người Alavì (1))
Tức là cái vị thánh cư sĩ này không có thể hiện mà cái câu nói này nó thâm sâu lắm, mình học cái bài thiền quán thân trống rỗng không ai trong đó chính là cái trí vô ngã cho nên Đức Phật khen thêm một pháp đó nữa, là cái pháp không muốn các thiện pháp của mình được người khác biết đến. Không có thể hiện, không có phô trương, không có khoe khoan mà đây là pháp của bậc chân nhân, trong bài kinh Chân Nhân Đức Phật nói bậc chân nhân dầu cho được người khác khen ngợi mà vị này còn không có muốn.
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, bậc Chân nhân là Người, nếu không được hỏi, vẫn nói lên lời không tán thán về mình; còn nói gì nếu được hỏi!
Nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị ấy nói lên lời không tán thán về mình, đầy đủ và toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỳ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, bậc Chân nhân dầu có được hỏi cũng không nói lên lời tán thán về mình; còn nói gì nếu không được hỏi!
Nếu được hỏi và phải trả lời, dè dặt và ngập ngừng, vị ấy nói lên lời tán thán về mình, không đầy đủ; không toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỳ-kheo, vị này là bậc Chân nhân" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (III). Bậc Chân Nhân)
Qua đây chúng ta thấy được tám pháp vi diệu của cư sĩ chứng bất lai. Sau đây là bài kinh về một vị cư sĩ tên là Ugga, tiếng Hán Việt gọi là Úc Già Trưởng Giả, bên Hán tạng kêu bằng Úc Già, ở bên đây là Ugga.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- 'Này các Tỳ-kheo!'.
- 'Bạch Thế Tôn'. Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỳ-kheo, gia chủ Ugga, người Vesàli, thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có. Các Thầy hãy thọ trì như vậy.
Rồi một Tỳ-kheo đắp y vào buổi sáng, cầm bát y, đi đến trú xá của gia chủ Ugga người Vesàli; sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Ugga người Vesàli, đi đến Tỳ-kheo ấy, sau khi đến, đảnh lễ Tỳ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Tỳ-kheo ấy nói với gia chủ Ugga, người Vesàli, đang ngồi xuống một bên:
- Này gia chủ, Thế Tôn có nói rằng: 'Gia chủ Ugga người Vesàli này, thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có'. Này gia chủ, thế nào là tám pháp vi diệu chưa từng có ấy, mà Thế Tôn nói gia chủ là người được thành tựu?
- Thưa Tôn giả, tôi không biết Thế Tôn đã nói tôi thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có là gì. Nhưng thưa Tôn giả, tôi có tám pháp vi diệu chưa từng có này, hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.
- Vâng, này gia chủ, Tỳ-kheo ấy vâng đáp gia chủ Ugga người Vesàli.
Gia chủ Ugga người Vesàli nói như sau:
- Thưa Tôn giả, khi tôi lần đầu tiên chỉ từ xa thấy Thế Tôn thôi, thưa Tôn giả, chỉ thấy Thế Tôn thôi, tâm tôi được tịnh tín. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu thứ nhất, được có ở nơi tôi" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Lần đầu tiên thấy cái dáng Đức Phật từ xa thôi là tịnh tín bất động, khởi lòng tin một cách vững chắc liền. Khi nhìn thấy ba mươi hai tướng hải, nhìn thấy tượng Phật thôi là mình đã khởi cái tâm cung kính, khởi một cái tâm thành kính, tôn trọng huống chi là thấy được sắc thân thật của ngài. Bài kinh sau đó là ổng nói mới vừa gặp Đức Phật lần đầu tiên là ông bỏ rượu luôn, không uống rượu luôn, có nhiều bà vợ tâm sự với con là chồng nghiền rượu nhưng không hiểu sao lên đây rồi là về bỏ rượu luôn, có những vị sát sanh tức là ăn mặn nhưng sau khi dự khóa tu ở đây về là ăn chay trường luôn. Cái này rất đáng xưng tán, những cái đó là những cái tấm gương, tức là gặp Phật hay là tiếp xúc với chánh pháp sẽ có cái diệu dụng như vậy, đó là cái vi diệu pháp thứ nhất.
Vị Úc Già Trưởng Giả nói rằng tôi không biết Thế Tôn nói tám pháp đó là cái gì nhưng mà ở trong tôi có tám pháp này. Cho nên cái chánh ngữ khi học rồi mình mới thấy không phải dễ mà nói đâu, thường thường mình nói một hồi sẽ rơi vào nói láo, nói thêu dệt nhiều lắm. Thế Tôn nói là chắc chắn là trúng rồi nhưng mà ngài nói "tôi không biết Thế Tôn muốn nói cái pháp nào nhưng hiện tại ở trong ở trong tôi là có tám cái pháp này". Cái pháp thứ nhất là lần đầu tiên chỉ từ xa thấy Thế Tôn thôi, chỉ thấy thế tôn thôi, nhấn mạnh một lần nữa là tâm được tịnh tín, lòng tin trong sạch, với tâm tịnh tín ấy tôi hầu hạ Thế Tôn và Thế Tôn thuyết pháp thuận thứ cho tôi. Cái này là trình tự thuyết pháp của Chư Phật con đã có giải thích, ở đây thì nói phớt qua thôi, đầu tiên Đức Phật sẽ nói về bố thí, quả báo, cái phước của sự bố thí, Đức Phật sẽ nói về giới, về công đức của sự giữ giới, sau đó Đức Phật thuyết về cái sự phúc lạc của các cõi trời là thầy vui quá rồi nhưng sau đó Đức Phật nói sự nguy hại, hạ liệt và nhiễm ô của các dục, sự lợi ích của viễn ly.
"Rồi thưa Tôn giả, với tâm tịnh tín ấy, tôi hầu hạ Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp thuận thứ cho tôi, như thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi Trời, nói đến sự nguy hại, hạ liệt, nhiễm ô của các dục và sự lợi ích của viễn ly.
Khi Thế Tôn biết tôi tâm đã sẵn sàng, tâm đã nhu thuận, tâm không triền cái, tâm được phấn khởi, tâm được hoan hỉ, Thế Tôn mới thuyết những pháp được chư Phật tán dương đề cao: 'Khổ, Tập, Diệt, Ðạo'. Cũng như một tấm vải thuần bạch, các chấm đen được gột rửa, rất dễ thấm màu nhuộm. Cũng vậy, chính tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên nơi tôi: 'Phàm pháp gì được tập khởi, tất cả Pháp ấy đều bị đoạn diệt'. Rồi thưa Tôn giả, khi tôi thấy pháp, đạt pháp, biết pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ được vượt qua, do dự trù diệt, đạt được vô sở úy, không ý cứ người khác đối với pháp bậc Ðạo sư. Tại đấy, tôi quy y Phật, quy y Pháp và chúng Tăng, tôi thọ lãnh năm học pháp về Phạm hạnh. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ hai, được có ở nơi tôi" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Thế Tôn thuyết về bốn sự thật của khổ, bốn sự thật của đời sống, bốn sự thật của luân hồi sanh tử, bốn sự thật của kiếp nhân sinh. Vị Úc Già này chứng quả Nhập Lưu trước khi quy y tam bảo, Đức Phật thuyết pháp thuận thứ như vậy thì khi ông nghe tới Tứ Thánh đế rồi thì ngay lúc đó là pháp nhãn thanh tịnh, con mắt pháp được trong sáng, con mắt mù từ vô thỉ kiếp được sáng ra gọi là sáng con mắt ra, tỏ con mắt ra, mở con mắt ra và trí sanh, minh sanh, quang sanh, tuệ sanh, thấy được Khổ Thánh Trí, thấy được ngũ uẩn là khổ và ngay lúc đó là thể nhập chánh tri kiến. Một người đã thấy pháp, thành tựu chánh tr kiến rồi thì người đó sẽ không cần phải dựa vào một cái người khác, trừ những cái bậc thành tựu ở trong pháp chứ, còn nếu người thông thường thì làm sao mà dựa được.
Tức là người này có thể tự đi bằng đôi chân của mình để đến Niết-bàn, một cái vị Nhập Lưu, một vị thành tựu chánh tri kiến đã thấy rõ cái đạo lộ, đó là pháp vi diệu thứ hai. Cái chỗ này hơi độc đáo, vị này có tới bốn người vợ.
"Thưa Tôn giả, tôi có bốn vợ đều còn trẻ tuổi. Rồi tôi đi đến các người vợ ấy; sau khi đến, tôi nói với các người vợ ấy như sau: 'Này các vị, tôi đã thọ lãnh năm học pháp về Phạm hạnh. Ai muốn, hãy hưởng thọ tài sản ở chỗ này, hay làm các công đức, hay đi đến gia đình bà con của mình, hay ai có ưng ý người đàn ông nào, tôi sẽ cho các vị'. Ðược nói như vậy, thưa Tôn giả, người vợ lớn của tôi nói với tôi: 'Thưa gia chủ Ugga, hãy cho tôi người đàn ông tên này'. Rồi thưa Tôn giả, tôi cho mời người ấy lại, với tay trái tôi cầm người vợ, với tay phải tôi cầm bình nước, rồi tôi rửa sạch người ấy. Thưa Tôn giả, từ khi bỏ người vợ trẻ, tâm tôi không có một chút đổi khác. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ ba, được có ở nới tôi." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Do vị trưởng giả này đã chứng tới thánh quả thứ ba đâu có còn dục nữa, như vậy coi như là từ bỏ những người vợ còn trẻ.
"Thưa Tôn giả, có những tài sản ở trong gia đình tôi, chúng được phân chia giữa những người có giới và những người tốt lành. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ tư, được có ở với tôi" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Tức là ông đem tài sản của ông cúng dường cho các vị có giới đức và những cái người thiện lành. Ông ấy phân chia để bố thí, không có tiếc của, không có giữ của, không có bủn xỉn đối với tài sản của mình. Chữ "gia chủ" ở đây là giống như đại gia bây giờ vậy đó, sự bố thí, sự cúng dường rất là hoan hỉ, đó là pháp thứ tư.
"Khi tôi hầu hạ một Tỳ-kheo, tôi hầu hạ rất cẩn thận, không phải không cẩn thận. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ năm, được có ở với tôi" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Nếu có một vị Tỳ-kheo đi đến nhà khất thực thì ông ấy bưng cơm, dâng nước, ngài quỳ rửa chân… Ngài hầu hạ rất cẩn thận chứ không phải không cẩn thận cho nên khi chúng ta có cơ hội phục vụ chúng Tăng, các Tăng Ni, các vị trưởng thượng là cơ hội rất quý báu, rất tốt cho mình. Nếu mình làm với tâm cung kính, tôn trọng thì đó là cơ hội quý báu rất lớn cho mình chứ không phải dễ, nhất là với những vị tu đúng chánh pháp.
"Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả ấy thuyết pháp cho tôi, tôi nghe hết sức cẩn thận, không phải không cẩn thận. Nếu Tôn giả ấy không thuyết pháp cho tôi, thời tôi thuyết pháp cho vị ấy. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ sáu, được có ở nơi tôi" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Nếu vị Tỳ-kheo đi đến khất thực hoặc là đi gặp mà cái vị đó có thuyết pháp thì vị cư sĩ Úc Già này nghe hết sức là cẩn thận, không phải là nghe không cẩn thận, nghe một cách cung kính. Bậc thánh là vậy đó, bậc thánh ta sanh ra từ pháp mà cho nên người ta cung kính pháp tuyệt đối, rồi cái chỗ đặc biệt là nếu tôn giả ấy không thuyết pháp cho tôi thì tôi thuyết pháp cho vị ấy, thầy không thuyết cho con thì con thuyết cho thầy vì ông này là thánh quả thứ ba mà. Nhiều khi cái vị thầy đó chưa chắc thánh quả bằng ngài nữa nhưng có khi có những cái vị Tỳ-kheo đa văn không chứng thánh quả nhưng mà pháp các ngài thông thạo lắm giống như bây giờ có những vị tam tạng pháp sư là chưa chắc gì các cái vị thành tựu, chứng đắc, cái tri kiến về Phật học và bằng các vị đó nhưng đương nhiên cái vị thánh là nắm được cái lõi, cái pháp hành, cái sự chứng đắc thì nó khác, còn cái người kia là nghiên cứu về chữ nghĩa văn chương, về tri thức, chẳng hạn như thuộc lòng như mấy vị pháp sư.
"Thật không phải là vi diệu, thưa Tôn giả, chư Thiên sau khi đến, bảo tôi: 'Này gia chủ, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng!'. Khi được nói vậy, thưa Tôn giả, tôi nói với chư Thiên ấy như sau: 'Dầu cho chư Thiên các người có nói như vậy hay không nói như vậy, pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng'. Thưa Tôn giả, tuy vậy tâm tôi không có tự hào về nhân duyên ấy, nghĩa là: 'Chư Thiên đến với ta, ta cùng nói chuyện với chư Thiên'. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ bảy, được có ở nơi tôi." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Tức là Thế Tôn mà thuyết pháp chỗ nào thì chư thiên lại báo cho ngài, nói chuyện với ngài. Ngài cùng giao thiệp, giao du với chư thiên nhưng mà ngài không có không có tự hào, không có thấy mình hơn người khác, mình là ngon lành.
"Thưa Tôn giả, năm hạ phần kiết sử này được Thế Tôn thuyết giảng, tôi thấy rõ không có một pháp nào không được đoạn tận ở nơi tôi. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ tám, được có ở nơi tôi.
Thưa Tôn giả, tám pháp vi diệu chưa từng có này có mặt. Nhưng tôi không biết Thế Tôn đã nói tôi thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này.
Rồi Tỳ-kheo ấy, sau khi nhận đồ ăn khất thực tại trú xứ của gia chủ Ugga, người Vesàli, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tỳ-kheo ấy, sau khi ăn xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy đem tất cả câu chuyện nói với gia chủ Ugga người Vesàli thuật lại với Thế Tôn.
- Lành thay, lành thay! này Tỳ-kheo, gia chủ Ugga người Vesàli nếu có trả lời một cách chơn chánh, có thể trả lời như vậy. Này Tỳ-kheo, Ta đã nói gia chủ Ugga người Vesàli thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này. Này Tỳ-kheo, hãy thọ trì rằng gia chủ Ugga, người Vesàli, được thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (I). Ugga Ở Vesali)
Đức Phật ấn chứng những cái lời của ngài Úc Già nói là đúng sự thật như vậy, chính Đức Phật ấn chứng. Trong một cái bài kinh khác thì ông Úc Già nói đó từ đằng xa lần đầu tiên nhìn thấy Thế Tôn thì tâm được tịnh tín và say rượu được đoạn tận.
"- Thưa Tôn giả, khi tôi còn vui chơi ở rừng Nàga, lần đầu tiên, tôi thấy Thế Tôn từ đằng xa. Chỉ thấy Thế Tôn thôi, thưa Tôn giả, tâm tôi được tịnh tín, và say rượu được đoạn tận" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (II). Ugga Người Hatthigama)
Như vậy thì có cái khả năng ông này đang say xỉn thì gặp Thế Tôn là tỉnh rượu ngay lập tức, có cái chỗ nói thêm phần cúng dường chúng Tăng.
"Thật không phải là vi diệu, thưa Tôn giả, khi tôi mời chúng Tăng, chư Thiên đến và bảo tôi: 'Này gia chủ, Tỳ-kheo này là vị câu phần giải thoát; Tỳ-kheo này là vị Tuệ giải thoát; Tỳ-kheo này là vị Thân chứng; Tỳ-kheo này là vị Kiến chí; Tỳ-kheo này là vị Tín giải thoát; Tỳ-kheo này là vị Tùy pháp hành; Tỳ-kheo này là vị Tùy tín hành; vị này giữ giới, theo thiện pháp; vị này phá giới, theo ác pháp'. Nhưng khi tôi cúng dường chúng Tăng, tôi không cảm thấy có tâm như vậy khởi lên: 'Vị này tôi cúng ít' hay 'Vị này tôi cúng nhiều'. Nhưng thưa Tôn giả, tôi cúng với tâm bình đẳng. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu, chưa từng có thứ sáu, được có ở tôi.
Thưa Tôn giả, nếu tôi mệnh chung trước Thế Tôn, đây không có gì là vi diệu, nếu Thế Tôn nói về tôi như sau: 'Không có một kiết sử nào, do kiết sử ấy, gia chủ Ugga người làng Hatthigàma có thể trở lui lại đời này'. Thưa Tôn giả, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ tám được có ở nơi tôi" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (II). Ugga Người Hatthigama)
Tức là vị này thành tựu thánh quả bất Lai, như vậy chỉ cần chúng ta đọc lại kinh thôi cũng là công đức vô lượng vô biên, chỉ cần đọc lại thôi huống hồ chi được hiểu, huống hồ chi được thực hành, thọ trì, huống hồ chi được thể nhập những cái trí tuệ, được thành tựu những cái kết quả tối thượng như vậy. Buổi tối hôm nay với một cái tâm là con cũng mong muốn chúng ta thấy được những cái tấm gương sáng của các bậc thánh cư sĩ, cũng như thấy được cái thành quả tu học thiết thực, hiện tại, cái tâm của các ngài bất động khi chồng chết, khi con chết, cái tâm được xả ly với dục ái, với tham ái ở đời. Một cái tâm hết sức là chân thành, khiêm hạ, cung kính, một cái tâm hết sức là thanh tịnh, là siêu thoát để chúng ta có một tấm gương để chúng ta soi, có một cái nơi để chúng ta hướng tới, có thêm cái lòng tin tịnh tín bất động, tịnh tín tăng thượng, tịnh tín mạnh mẽ, kiên trú, vững trú, vững chắc ở trên con đường thực hành chánh pháp.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo
./.