Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Giải Mã Đời Sống Kiếp Người

2026-03-18 06:54:25
NIKĀYA TINH HOA PHẬT TRÍ 3

GIẢI MÃ ĐỜI SỐNG KIẾP NGƯỜI

–Thích Minh Thành–

Chúng ta tìm hiểu về bài kinh được tôn giả Sariputta tuyên thuyết cũng là trùng tuyên lại những thánh ngữ của Đức Phật. Trong bài kinh này chúng ta sẽ thấy rất là nhiều phương diện, khía cạnh, gốc độ trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác cũng như của các vị thánh Tăng, bao quát, phổ quát rất nhiều pháp học và pháp hành. Cái trí tuệ trong cái bài kinh này là cái trí tuệ phổ quát, trí tuệ của thế giới, trí tệ trùm đời, bây giờ con nghe bài kinh này con rất là thấm thía, rất là hân hoan, rất là phấn khởi rất là hoan hỉ cũng là cái nhân duyên để chúng ta được nghe cái bản kinh này. Chúng ta sẽ nghe chầm chậm và chiêm nghiệm, những chỗ nào thiền quán chúng ta sẽ chiêm nghiệm sâu sắc.

"Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đây, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỳ-kheo:

-- Này các Hiền giả Tỳ-kheo!

-- Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói như sau:

-- Chư Hiền giả, ví như tất cả dấu chân của mọi loại động vật đều thâu nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này được xem là lớn nhất trong tất cả dấu chân về phương diện to lớn. Cũng vậy, chư Hiền giả, tất cả các Thiện pháp đều tập trung trong Bốn Thánh đế. Thế nào là trong Bốn Thánh đế? Trong Khổ Thánh đế, trong Khổ tập Thánh đế, trong Khổ diệt Thánh đế, trong Khổ diệt đạo Thánh đế.

Chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, điều gì cầu không được là khổ, tóm lại Năm thủ uẩn là khổ.

Chư Hiền, thế nào là Năm thủ uẩn? Chính là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới" (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

Ngày xưa khi con học về Tứ đế con chỉ biết khổ - tập - diệt - đạo và đọc cái chữ ro ro vậy thôi, sau này khi vào trong dòng pháp này rồi mình mới thấy rằng thật sự không có đơn giản như mình hiểu bốn sự thật về đời sống. Tứ Thánh Đế là bốn sự thật về cuộc sống, bốn sự thật về đời sống, bốn sự thật về kiếp sống, bốn sự thật của nhân sinh, bốn sự thật của kiếp người, bốn sự thật của thế gian, bốn sự thật của thế giới và bốn sự thật này được bậc thánh chứng ngộ và cái năm uẩn mà chúng ta thường nhận diện thì nó đồng nghĩa với thế giới ở trong Nikāya. Mình gặp chữ năm uẩn thì mình phải biết là đồng nghĩa với thế giới và sau này khi chúng ta học, chúng ta tu rồi chúng ta mới thấm thía năm uẩn này là đời sống của chúng sanh.

Bây giờ mình thấy đời sống của mình có ra ngoài vật chất không? Có ra ngoài cảm giác không? Có ra ngoài các cái tưởng, các cái suy nghĩ và nhận thức không? Đời sống của mình chính là năm cái thứ đó thôi chứ có gì khác đâu và Đức Phật nói cái sự thật là nói cái sự thật về đời sống này, cũng chính là sự thật của năm uẩn cũng chính là sự thật của bậc thánh chứng ngộ, mà cũng chính là sự thật của khổ. Thành ra khi mình hiểu ra được cái cốt lõi của vấn đề đó thì nó quán triệt, nó dung thông, nó nhất quán, nó xâu kết, nó xuyên suốt hết tất cả, nó không có khác gì hết. Sự thật về khổ cũng là sự thật về đời sống này, cũng là sự thật của thế gian này, cũng là sự thật của nhân sinh, sự thật của kiếp sống, sự thật của kiếp người, sự thật của thế gian, sự thật của thế giới, sự thật của bậc thánh cũng là sự thật của năm thủ uẩn đều là một hết.

Thành ra bốn sự thật của bậc thánh chứng ngộ là bốn sự thật về đời sống này, đời sống này tức là sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Quý vị nghĩ có lúc nào mà quý vị ở ngoài sắc; thọ; tưởng; hành; thức không? Mình xem xét lại coi, Đức Phật ví dụ giống như con chó bị xích vô cây cột bằng một sợi dây thừng, con chó này nó có nó sủa, nó có chạy, nó có nhảy, nó có ăn, nó có nằm, nó có thức, có ngủ, nó loanh quanh, luẩn quẩn thì cũng chung quanh cái cột. Tức là tất cả chúng sanh đều quanh quẩn, luẩn quẩn, loanh quanh chạy vòng vòng ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức.

Mình có suy nghĩ cái gì thì mình suy nghĩ về sắc, trước kia tôi sao, sau này tôi sẽ ra sao và bây giờ tôi sao, cái đó thuộc về sắc thủ uẩn, dầu quá khứ, hiện tại, vị lai, thắng liệt, thô tế, xa gần tất cả những cái đó đều là gom lại ở trong cái sắc uẩn. Có suy nghĩ gì mình suy nghĩ về các cảm giác, cảm giác hồi xưa, cảm giác bây giờ, mai mốt tôi sẽ được vầy, cảm giác là sao đó thì tất cả cảm giác trong ngoài, thô tế, thắng liệt, xa gần, quá khứ, hiện tại, vị lai, tất cả cái đó đều quy tụ về thọ uẩn. Mình suy nghĩ về đó, cảm giác cảm giác về đó, mình có tưởng thì cũng tưởng cái hình bóng quá khứ, hiện tại, vị lai, tất cả những vi tế hay là thô thiển, đẹp hay xấu, nó có nhỏ nhiệm hay là nó thô phù thì tất cả cái đó cũng nằm ở trong cái tưởng uẩn. Mình có biết cái gì đi nữa thì cũng không ra ngoài thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết nằm trong thức uẩn.

Như vậy đời sống của mình là một cái đời sống chạy lòng vòng, chạy loanh quanh cái cây cột bị buộc bởi một sợi dây. Sợi dây đó là dây tham ái, năm cái thứ vô thường này cột với dây tham ái tạo ra nhiều xác thân cho nên nhiều khi con cứ nhớ bậc đạo sư hoài, mỗi lần mà nghe tới kinh là một lòng biết ơn, cảm ơn cứ trào dâng. Vì ngài dạy cho chúng ta là ngài dạy khẩu quyết, bí quyết, định lý, cốt tủy, kinh nghiệm, thực chứng, thực thấy, thực biết, thực giá, đưa chúng ta là đưa cái cốt tỷ, đưa cái lõi cây, đưa cái chìa khóa, đưa cái khẩu quyết, đưa cái bí quyết, đưa cái định lý, đưa cái định luật cho nên khi chúng ta học ngài là chúng ta mở tung hết tất cả các cánh cửa ở trong đại tạng kinh. Hồi xưa con nghe đại tạng kinh là mười lăm năm, nghe sáng đêm mà không biết gì, không biết cái đường nào đi vô hết, nghe bên đây rồi chạy qua bên kia giống như nước đổ lá sen, không biết làm sao mà mình cứ cố gắng mình tìm. Cho nên mình mới đi tìm pháp hành tùm lum hết chứ nếu mình biết rồi mình đâu còn đi tìm nữa.

Khi ngài chỉ cần dùng cái pháp nhãn của ngài điểm vô một cái thì con mắt mù sáng cho nên bây giờ chúng ta thường đảnh lễ bậc đạo sư pháp nhãn thù thắng là cái câu con tôn xưng. Nếu không có con mắt pháp của ngài thì tất cả chúng ta cũng mù lòa dầu cho có đọc kinh tới chết, vì cái sự truyền thụ của ngài có khi ngài không có nói kinh nhưng mà cái đó là cốt tủy của kinh. Chúng ta đọc cái bài kinh này, nghe cái bài kinh này đi ngài giảng trong này hết rồi nhưng mà ngài không có nói cái bài kinh này, nhưng mà lời nói của ngài là cốt tủy, là cái lõi của tất cả đại tạng kinh. Chính vì vậy mà ngài đặt cái tựa của cái bộ ngài viết là "Tinh Hoa Phật Trí" mà con năng nỉ ngài "thôi giờ cô dùng Tinh Hoa Nikāya luôn đi. Cái chữ Nikāya này nó đại biểu cho cả đại tạng" thì ngài hoan hỉ ngài đổi cái tên đó là Tinh Hoa Nikāya.

Cho nên thật sự cái trí tuệ này là trí tuệ của thế giới, trí tuệ của thế gian, trí tuệ của nhân sinh, trí tuệ của đời sống, trí tuệ của kiếp sống và tất cả đời sống chúng ta là loanh quanh, luẩn quẩn, lòng vòng, là kiến bò miệng chén, là con chó chạy vòng vòng cây cột, không có ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, thậm chí tu cho tới tứ thiền bát định, ngũ thông, sắc cứu cánh thiên, phi tưởng phi phi tưởng xứ nhưng vẫn ở trong ngũ uẩn vi tế. Đó mới gọi là cái sự vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Đức Phật cho nên cái người cầu giải thoát thật sự bằng tất cả tấm lòng, tất cả trái tim, tất cả sinh mạng của mình thì mới quý cái pháp tối thượng, còn cái người không cầu giải thoát thì mình đâu cần nói, họ có biết cái gì đâu, họ có muốn giải thoát đâu cho nên đối những người như vậy thì mình cũng đâu có cần phải hướng dẫn thì mới biết được cái giá trị của pháp.

Tuy vậy người không có cầu giải thoát quyết liệt mà họ được nghe thôi họ cũng được lợi ích dài lâu trong hiện tại và tương lai, họ cũng được đoạn tận địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Tuyệt vời không? Vi diệu không? Thật sự là giờ mở ra kinh nghe tới đâu rúng động tới đó, nghe tới đâu là chấn động tới đó nghe, tới đâu là nó rung chuyển tới đó, tất cả cái chấp thủ của mình nó bị rung chuyển, thủ chuyển, con hạnh phúc quá. Đoạn đầu Đức Phật nói một vị Tỳ-kheo đã biết được nó khổ, nó vô thường, nó tan hoại, nó hủy hoại, nó bại hoại ở trong cả một cái địa cầu này mà nó còn mong manh, nó tan vỡ, nó đổ bể như vậy thì huống chi một cái thân nhỏ nhoi, vô minh, khát ái, chấp thủ này thì xá gì. Một người hiểu được như vậy rồi người này hân hoan, người này vui sướng, người này hạnh phúc ở trong cái hiểu biết của mình. Chỗ đó là cái chỗ đặc biệt.

Mình sẽ nghe dài dài về khổ nhưng mình cười, tuyệt vời không? Tại mình thấy khổ mình không còn lao vô khổ nữa, còn người ta không chịu nghe khổ cho nên họ ở trong khổ, họ bị khổ đè bẹp, chà đạp, vây hãm, phong tỏa, bao vây, bủa vây, vây quanh, quấn lấy cho nên tất cả dấu chân của mọi loài động vật đều thâu nhiếp về dấu chân voi vì dấu chân này được xem là lớn nhất trong tất cả dấu chân về phương diện to lớn. Cũng vậy, tất cả thiện pháp đều tập trung trong bốn sự thật của bậc thánh về đời sống này, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong bốn sự thật tối thượng của bậc thánh về đời sống này. Thật sự là mình không biết nói thế nào để diễn tả hết công đức của Phật, công đức của bậc đạo sư, công đức của các bậc thánh.

Vì chúng ta sống sai chết mộng, chúng ta thử chiêm nghiệm coi lúc mình sanh ra mình oa oa oa, mình cũng chẳng biết mình từ đâu tới. Khi mình lớn lên thì thân này do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành, vô thường, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt, từ tinh cha huyết mẹ, từ cơm cháo nuôi dưỡng chất chứa, từ tứ đại đất, nước, gió, lửa kết hợp lại mà hình thành. Rồi lớn lên là dục, là tham, là ái, là sân si, là giành giật, là đấu đá, là cạnh tranh, là khẩu tranh, là chiến tranh, là tạo nghiệp, là tham, sân, si, là hơn thua rồi cuối cùng là một cái tấm thân nằm dài đó. Mắt mờ, tai điếc, lưng còng gối mỏi, chân đi thì run rẩy, tay chân quờ quạng, cầm tô thì rớt tô, bưng chén thì bể chén rồi con cháu nó khinh khi, rồi báo đời, rồi ăn hại.

Những hình ảnh nhìn đau lòng giờ, nhớ lại tim mình quặn thắt, thời gian trước người ta đưa cái hình ảnh người mẹ làm rớt bể đồ thì cô con gái hốt đồ đổ lên trên đầu mẹ, lấy cái cây chổi quét nhà đánh lên người mẹ già gần chín mươi tuổi. Thật sự là những cái cảnh đó làm cho mình nhói tim, nó đau lòng, nó quặn thắt, nó phũ phàng làm sao.

Thật là phũ phàng cho cái kiếp người!

Thật là xót xa!

Thật là cay đắng!

Thật là quặn thắt cái trái tim này!

Cả cuộc đời thanh con ra, rồi nuôi lớn lên, rồi đem hết tất cả hy sinh tâm huyết dạy dỗ, đem hết gia tài sự nghị cuối cùng lãnh lấy một cái sự chửi trên đầu trên cổ, dùng chổi chà đánh trên đầu mẹ. Thậm chí là bây giờ mình còn thấy giết cha, anh chị, anh em, huynh đệ tương tàn, cha con, mẹ con, vợ chồng có thể sát hại với nhau vì những cái tờ giấy, vì những cái tấc đất, vì những cái lời nói hơn thua bản ngã.

Thật là phũ phàng!

Thật là cay đắng!

Thật là xót xa!

Thật là đau xót, quặn thắt!

Đó là sự thật, đó là sự thật của cuộc đời, khổ đang có mặt ở trên cuộc đời này, khổ đang hiện hữu trong cuộc đời này. Sự sanh ra cái thân xác này là sự sanh ra của khổ, sự sống của cái đời sống này là sự vận hành của khổ.

"Chỉ có khổ được sanh,

Khổ tồn tại, khổ diệt,

Ngoài khổ, không gì sanh,

Ngoài khổ không gì diệt." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỳ-kheo Ni, X. Vajirà)

Chúng ta cần phải nhìn sâu sắc, nhìn cho thấu đáo, nhìn cho thấu triệt, nhìn cho thấu suốt cái bản chất của cái hình hài, của những cảm giác, nghĩ tưởng, tư duy, nhận thức này. Đem hết tất cả tâm lực, nghị lực, sức lực để chiên nghiệm, để nghiền ngẫm, để gặm nhắm, để suy tư, để quán xét, quán chiếu xuyên thủng cái lớp vô minh, cái lớp ảo tưởng cho đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, cho đây là vui sướng, là hạnh phúc, là còn hoài, là vững chắc, là bền lâu. Tất cả những cái đó là ảo tưởng, là điên đảo tưởng, là mộng tưởng, là hư tưởng, là huyễn tưởng.

Chúng ta thật sự là đau lòng, thật sự là đau xót khi cái cuộc đời này nó kết thúc cái chung cuộc, cái chung kịch của một kiếp người chỉ là nước mắt, chỉ là tiếc nuối, chỉ là hối hận, chỉ là hoảng sợ. Cho nên hồi xưa con học cái chữ sanh mà con không hiểu không biết sanh là khổ là cái gì, sanh mà có gì đâu khổ, chết thì mới khổ nhưng mà bây giờ thật sự cái chữ sanh là khổ nó rần rần trong này, nó thấm, mà nó chạy từ chân tới đỉnh đầu. Nó có con mắt này, nó có ra cái lỗ mũi này, nó có ra cái miệng này, nó có ra gương mặt này, có ra cái hình hài này là có lo lắng, có sợ hãi, có bất an, là có tai nạn, có tai họa, có bệnh tật, có già nua, có chết chóc vì có cái sanh này. Nhưng mà người ta chỉ thích cái sanh cho nên có sinh nhật thì gọi là cái ngày vui, tới cái ngày tử gọi là húy nhật tức là cái ngày kỵ, cái ngày sợ, đó là sự mê lầm, nếu cái ngày tử mà buồn thì ngày sanh sao vui được vì nếu không có sanh thì đâu có tử, sở dĩ có cái tử này là tại vì có cái sanh nhưng mà người ta chỉ nhìn thấy cái mơn mởn chứ người ta không thấy cái chai sần.

Cái chữ "sanh tử" hay là cái chữ "sanh diệt" nói đơn giản nhưng mà mình hiểu cái chặng giữa của cái chữ sanh và chữ tử này là cái vô thường này nó oan nghiệt lắm, nó khủng khiếp lắm, nó kinh hãi lắm, nó khắc nghiệt lắm, nó tàn ác, nó tàn độc. cái đỏ cái chữ vô thường đó phải hiểu là nó khủng khiếp lắm chứ không phải mình hiểu sơ sơ vô thường là không thường. Hai cái chữ vô thường đó là một cái sự khủng khiếp, một cái sự khủng bố, khủng hoảng, hai vợ chồng đang ở đang ở nhau rồi bất hòa chút mà ông chồng chạy ra giữa chợ chém bà vợ đang bán thịt, chết ngay tại chỗ chết rồi chạy về nhà phóng hỏa đốt nhà luôn, cuối cùng vô tù. Cái chữ vô thường nó oan nghiệt như vậy đó, cái chữ vô thường là nó khủng khiếp như vậy đó, nó kinh hãi, nó kinh hoàng như vậy đó mà cái chữ vô thường này nó bao gồm luôn tham, sân, si, dục ái. Với cái chữ vô thường đó mình phải tập run sợ, hoảng sợ, kinh sợ, hãi sợ, khiếp sợ với hai cái chữ vô thường đó.

"Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Thọ... tưởng... các hành...

Thức là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, nếu quán cái ấy là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Do vậy... thấy vậy... vị ấy biết: 'Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa'." (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm (Tạp 2, Ðại 2,14b) (S.iii,100) (Trung Bộ Kinh, trang 109, 110 Tham chiếu))

Mình nắm cái thứ vô thường đó, mình nắm những cái thứ bọt bèo, cái thứ hư huyễn, những cái thứ gian dối, nó hư ngụy, xảo trá đó mà mình cứ ảo tưởng cho là nó như vậy rồi mình đau khổ, mình hụt hẫng, mình bàng hoàng, có thể là lên tăng xông, có thể là đột quỵ trước những cái mà người ta cư xử, người ta đối đãi, trước những cái mà nó phũ phàng, nó bạc bẽo, nó phản trắc, nó trở mặt, nó quay lưng. Tất cả những cái từ đó nó đều là cái nghĩa của hai chữ vô thường thôi, phải cảm thọ được cái chữ vô thường này là nó sâu sắc, nó thấm thía, nó thấm đẫm vào trong xương, trong tủy mình, trong não của mình.

Người thân thương nhất của mình có thể trở thành kẻ thù, người từng ca ngợi mình, tung hô mình, lễ lạy, lạy lục mình có thể quay lại chửi trên đầu trên cổ mình, người từng nâng niu, nâng như nâng trứng, hứng như hứng g hoa mà bây giờ có thể sẵn sàng ra tay sát hại mình không thương tiếc, bằm thây của mình ra, phân thây mình. Hai cái chữ vô thường nó khủng khiếp như vậy đó, nó kinh hoàng như vậy cho nên tại sao mình đọc chữ vô thường mình thấy trơ trơ, mình phải thọ được tại vì những cái chữ đó là khẩu quyết, là định lý, là định luật. Đức Phật nói tắt như vậy một chút thôi nhưng bung ra là nó trùm hết cả cái vũ trụ này.

Hai cái chữ vô thường đó là khổ chồng lên khổ, tất cả nó ở trong cái sự vận hành, ở trong cái sự biến đổi, ở trong cái sự đổi thay cho nên tiếng Hoa kêu là biến rồi. Biến rồi là đổi rồi, đổi thay rồi, người đó thay đổi rồi, một cái chữ đó thôi mà nhiều khi mình nhói tim, thay đổi hỏi tánh tình không còn như lúc mới vô chùa nữa. Lúc mới vô là dạ dạ, vâng vâng, cung cung, kính kính, hiền hiền, hòa hòa, hiếu hiếu, thảo thảo, ở chùa thời gian rồi là hất cái mặt lên, bản ngã to lớn, coi thầy không ra gì hết, coi huynh đệ không ra gì hết, tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm, thậm chí còn chống lại thầy của mình.

Thật sự là con nói mà giờ tim đang nhói, đau lòng lắm… đau lòng… đau lòng. Rồi con đối với cha mẹ cũng vậy, vợ đối với chồng cũng vậy, anh em cũng vậy, bạn thân, tri âm tri kỷ cũng vậy, bạn tu đồng đạo với nhau cũng vậy, sẵn sàng quay lưng, trở mặt, phản trắc. Đó là ý nghĩa của hai chữ vô thường mà sự thể là vậy. Khi Thế Tôn gần tám mươi tuổi vén cái y lên phơi cái lưng ở nắng hướng tây của mặt trời về buổi chiều thì thật là kinh hoàng thay, thật là không thể tưởng tượng được, màu da của Như Lai không còn mịn màn, không còn trong sáng nữa, mắt mờ, tóc bạc, lưng cồng gói mỏi, trán nhăn. Con thật là kinh hoàng bạch Thế Tôn, con thật là kinh ngạc, kinh hãi bạch Thế Tôn, này Ananda sự thể là vậy, này Ananda bản chất của thân này, của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là vậy Ananda tức là vô thường, tánh già nằm trong tuổi trẻ, tánh bệnh ở trong sức khỏe và tánh chết nằm trong sự sống.

"Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Pubbàràma, trong lâu đài của mẹ Migàra.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư đứng dậy, ngồi sưởi ấm lưng trong ánh nắng phương Tây.

Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, với tay xoa bóp chân tay cho Thế Tôn, thưa rằng:

-- Thật kinh hoàng thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ dị thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, màu da Thế Tôn nay không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời (sithilàni), nhăn nheo, thân được thấy còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

-- Sự thể là vậy, này Ananda, tánh già nằm trong tuổi trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống. Như vậy, màu da không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời, nhăn nheo, thân còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

-- Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống! Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da. Hình bóng trước khả ý, nay già đã phá tan! Ai sống được trăm tuổi, cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả bị phá sập" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (b), V. Phẩm Về Già, I. Già)

Thật sự những cái câu nói này mình phải ngấm vào tim, ngấm vào xương, ngấm tận tủy, đi vào trong não của mình. Đó là mới nói về cái sắc uẩn thôi, còn cái thọ thì cũng vậy thôi, sẵn sàng xỉ vả, chỉ trích, phỉ báng những bậc đại ân đức với mình, là đấng sanh thành của mình, những bậc ân nhân của mình. Chúng ta cảm nhận hai chữ thôi là vô thường, chính vì vậy mà các bậc thánh thấy vậy, các vị Đa văn Thánh đệ tử thấy vậy nên nhàm chán, xa lìa, không có tham muốn sắc; thọ; tưởng; hành; thức, ly tham, chán lìa, từ bỏ, thoát ra. Cho nên những cái bản kinh đó là những cái khẩu quyết chứng ngộ, mình phải đem cả cái cuộc đời của mình để chiêm nghiệm, không phải đơn giản đọc mà hiểu, đọc trăm lần chưa hiểu, đọc năm trăm lần chưa hiểu, đọc một ngàn lần chưa hiểu, đọc một triệu lần, đọc một tỷ lần rồi nghiền ngẫm cho nó thấu thị, thấu đáo, thẩm thấu.

Đổi rồi, thay rồi, thay đổi rồi, lòng người thay đổi, tình cảm thay đổi rồi, nhận thức thay đổi, tư duy thay đổi rồi, tư tưởng đổi thay rồ, đó là ý nghĩa của hai chữ vô thường, hành khổ, hoại khổ. Cho nên mình thấy khi cha mẹ hay những người thân, vợ chồng, con cái mà chết thì người này không chịu nổi, trái tim nó muốn vỡ ra, không thể chấp nhận nổi, không thể chịu đựng nổi, không thể chấp nhận nổi cái sự thay đổi khủng khiếp vậy. Sáng là hay tin ung thư, chiều là đột quỵ chết trong một ngày và cái sự thật đó nó nhan nhãn, nó nhãn tiền, nó ở ngay trước mắt mình nhưng mà vì cái tâm vô minh, vì cái tâm si mê cho nên thấy thì thấy, nghe qua vậy rồi rồi cũng vậy trở lại tham, sân, si, hơn thua, giành giật, đấu đá, bản ngã. Vì thế chỉ có thánh pháp mới giải mã được cái đời sống này.

Câu hỏi vĩ đại của các nhà triết học về nhân sinh, về thế giới này, cái trí đầu tiên là mình phải biết được đời sống này nó là cái gì, tại sao có đời sống này. Mở hai mắt lớn lên, không mở lên là không thấy được, vì sao mà cái đời sống này chấm dứt, tức là đây là sanh, đây là diệt, vị ngọt của đời sống này, sự nguy hại của đời sống này, nguy hiểm và tác hại, sự xuất ly của đời sống này là thoát khỏi đời sống này và cái con đường thoát ra khỏi đời sống này là đạo lộ, cái con đường thoát ra. Đây là bảy trí tuệ, bảy thánh trí tuệ về đời sống này.

Đời sống này là gì? Là ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Tại sao có đời sống này? Do vô minh và tham ái, khát ái. Khi nào đời sống này chấm dứt? Khi nào hết vô minh và hết khát ái này. Vị ngọt của đời sống này là cái gì? Là dục hỷ, lạc hỷ, những cái vui thích, khoan khoái, những cái vị ngọt ở trong này làm cho mình vui, nó làm cho mình thích, nó làm cho mình sướng, nó làm cho mình đã, nó làm cho mình khoái, nó làm cho mình muốn, đó là vị ngọt của đời sống này. Ăn cái món ngon có thích không? Nhìn cái cảnh đẹp có khoái không? Gặp con người đẹp có mê không? Đó là vị ngọt của đời sống này nhưng mà cái vị ngọt này nó ngắn ngủn à còn mà cái nguy hiểm và cái tác hại này nó rất là nhiều là sự vô thường, sự khổ, bị chịu sự biến hoại, đó là cái nguy hại.

Vì nó nguy hiểm, vì nó tác hại, vì nó đổi thay, vì nó tan hoại, vì nó đổ vỡ, vì nó tan nát, vì nó diệt tận, vì nó tiêu vong, vì tất cả đều bị đánh sập hết cho nên người ta mới tìm con đường thoát ra. Nếu vị ngọt này không có nguy hại thì làm gì có ai muốn đi ra khỏi cuộc đời này? Chính vì nó khổ quá xá cho nên giờ cái đầu trọc lóc ngồi trên núi này, nhất trí trăm phần trăm không? Ở nhà mà hạnh phúc hết trơn thì làm gì bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ chồng, bỏ con, bỏ tài sản, sự nghiệp, bỏ địa vị, bỏ quyền uy đi lên trên núi để cạo đầu, ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da, thức khuya dậy sớm ngồi thiền, tụng kinh, quán chiếu để giải thoát.

Vì nó nguy hiểm và nó tác hại tức là nó bị đổi thay, nó chịu sự biến hoại, nó khổ đau vì cái nãy trước giờ nói, nó vô thường, nó lật tới lật lui, nó lật qua lật lại, nó trở mặt, nó quay lưng, nó biến đổi, nó thành nó bại rồi nó suy, nó hưng rồi nó đen nó trắng, thăng trầm, vinh nhục, được rồi mất, có rồi không. Nó cứ làm hoài như vậy mà trong này nhiều khổ đau, nhiều ưu não, nhiều những cái lo lắng, nhiều những cái suy tư, nhiều những cái sợ hãi, nhiều những cái căng thẳng, nhiều những cái phiền bực, phiền toái, phiền não, phiền phức. Vì sao Vì nó có cái đời sống này, có ngũ uẩn mà không ai thấy được cái này, chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới thấy.

Ngài nói năm uẩn là gánh nặng, sáng con mắt ra chưa? Đây là bảy thánh trí về đời sống mà nói một cách tổng quát thôi. Con đường thoát ra là con đường thấy đúng về đời sống này, phải thấy đúng về đời sống này rồi nghĩ đúng về đời sống này, nói đúng về đời sống này, làm đúng về đời sống này, sống đúng về đời sống này, siêng đúng về đời sống này, quán đúng về đời sống này và định đúng về đời sống này. Tám đúng của bậc thánh, chúng ta thấy cái thánh trí của Đức Phật vận dụng hết tất cả, cái này là giải mã nhân sinh, vũ trụ, thế gian, thế giới, địa cầu, chỉ có ở trong Nikāya thôi, ngoài ra không có con đường thứ hai, không có cái đạo lộ thứ hai.

"-- Này các Tỳ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ" (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Phải thấy cho rõ cái vị ngọt chẳng là bao hết mà cái khổ đau thì nó quá nhiều. Cái khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn không có bao nhiêu hết, sau đó là một cái tấm thân đầy bệnh tật, là những cái di chứng. Hồi chiều con có đưa lên rồi, uống trà sữa liên tục mười năm nên giờ mới hai mươi mấy tuổi bệnh thận giai đoạn cuối. Đó là cái vị ngọt và sau đó là sự nguy hại của nó đó, nhân chứng, vật chứng, sự thật, thực tế, thiết thực, hiện tại nhãn tiền trước mắt. Nhiều khi là cho đã cái lưỡi chút, cái miệng chút thôi là nhậu rồi cuối cùng là ung thư gan, biết bao nhiêu, đó là cái vị ngọt có một chút thôi, tiếp đến là nghiện ngập, đủ thứ loại hết, bây giờ nó len lỏi vô tới trong các trường học của các em nhỏ, ăn cái bánh ăn, viên kẹo cũng pha thuốc trong đó những cái chất nghiện. Thậm chí là cái bánh mì hay là cái món cơm thôi nhưng mà ăn vô rồi trúng độc hàng loạt, ngộ độc thực phẩm hàng loạt thì cái đó là lòng tham của con người mà đem lại sự nguy hại, tác hại khủng khiếp khôn lường, vô cả hàng năm chục, hàng trăm, các em nhỏ học sinh hôm vừa rồi là ngoài Nha Trang bị rất là nhiều.

Vì cái lòng tham một chút thôi mà làm nguy hiểm, tác hại biết bao nhiêu, mình nói những cái nhỏ rồi tự quý vị suy ra biết bao nhiêu cái lớn. Lúc hai người mới gặp nhau có ngọt không? Giờ có bốn đứa rồi còn ngọt nữa không? Đắng chát phải không? Cho nên mới bỏ, mới xuất ly, mới chạy lên trên núi này tu. Cái vị ngọt chút xíu đó rồi buộc dây, câu ngoài đời người ta nói "thê thằng tử phược" nghĩa là vợ là dây mà con là buộc, ngược lại mấy cô là chồng là dây mà con là buộc.

Ông chồng giống như sợi dây vậy đó, bà vợ cũng giống như sợi dây mà đứa con tức là cái mối cột lại. Cột lại là không có giãy giụa gì được hết cho nên chưa có gia đình lên tu là rất tốt vì nó buộc vô rồi thì làm sao đi, cột vô cứng chắc rồi làm sao đi. Nhiều khi nó cột một khoen còn có thể cố gắng nhảy ra được, mà nó cột chừng ba khoen là không biết đường đâu thoát, cắt hoài không đứt vì tới ba cái khoen, ba cái thòng lọng siết vô. Bây giờ thấy đúng về đời sống này là thấy như thế nào? Tức là sự sanh ra là khổ, sự sức sanh, sự xuất hiện, sự hiện hữu, sự có mặt của con mắt này là sự xuất sanh, xuất hiện, sự có mặt của khổ, của cận thị, của loạn thị, của viễn thị, của khiếm thị, của mù lòa, của cả những cái bệnh viện trị mắt. Sự xuất sanh, sự xuất hiện, sự hiện hữu, sự có mặt của cái lỗ tai này là sự xuất sanh, sự xuất hiện, sự hiện hữu của bệnh tật, của lo lắng, của sầu đa,u có ra những cái bệnh viện về tai, về mũi, về miệng, về mắt.

Vì có con mắt cho nên mới có cái bệnh viện mắt, vì có cái lỗ tai, có lỗ mũi, có cái họng cho nên mới bệnh viện tai, mũi, họng. Nếu không có mắt, tai, mũi, họng làm gì có cái bệnh viện mắt, tai, mũi, họng vậy mà cứ ham, cứ thích, cứ khoái, cứ muốn. Có hai con mắt, có cái mặt, có cái mình này là cũng lo cho nó mệt rồi, kiếm thêm một mình nữa rồi xong hai mình đấu khẩu rồi đấu võ. Không biết tức là vô minh đó, vì không có biết cho nên khoái, khoái thì rước về, cha là vô minh, mẹ là khát ái đẻ ra đứa con ngũ uẩn.

Cha là vô minh tức là không thấy, không biết, không hiểu là mù, cái đó là con rắn độc mà tưởng đâu là cái sợi dây hay cái đồ chơi gì đó nên chạm vô, thấy êm êm, dễ chịu nhưng nó cắn một cái là đi đến chết, chấm dứt cuộc đời. Như vậy không hiểu, không biết, không thấy, không rõ cho nên khoái, nên thích, nên muốn, nên yêu, nên thương, nên nắm giữ, vì cái sự yêu thương, muốn, nắm giữ nên rước về rồi lộ ra mấy cục, cục sắc, cục Thọ, cục tưởng, cục hành. cục thức. Vì nó không biết sắc này là tứ đại, là đất, nước, gió, lửa nên nó khoái cái sắc, nó thích cái sắc, nó ham cái sắc, nó mê cái sắc và cái tâm mù này nó cho rằng sắc là mình là của mình, là tự ngã của mình cho nên nó có ra đứa con sắc.

Vì nó mù, nó tưởng đâu cái thọ này đã lắm nha, sướng lắm nha, phê lắm nha rồi nó khoái, nó thích, nó muốn, nó nắm, nó giữ cho nên có ra đứa con thứ hai là thọ rồi xong nó mới hành. Nó hành tới mức độ nào? Ăn nó cũng hành, ngủ nó cũng hành, mặc nó cũng hành, sáng mở mắt vậy là nó hành dài dài cho tới nhắm mắt. Mình ngủ, nằm chiêm bao cũng ám ảnh, nằm mớ, có không? Thằng tưởng cũng hành luôn, cái hình bóng này có làm cho mình khổ không? Ví dụ như giờ đi tu mà nhà có một cái hộp nhỏ đựng vài miếng vàng thì ngồi thiền lâu lâu nghĩ "không biết có ai vô lấy không?". Như vậy cái tưởng nó hành, nếu có người vợ hoặc người chồng đẹp quá thì tu có yên được không? Nhiều khi đi chùa cũng không yên nữa, không biết đi chùa có ai lại nói chuyện gì không, thấy người khác lại nói chuyện mà cười vui là sao đùng đùng lên. Nó khoái cái thức lắm, khoái nghe, khoái ngóng, người ta nói chuyện cũng ra ngóng coi đang nói ai, có nói mình không, người ta nói chuyện đâu đâu cũng ghé vào kiếm phiền não mới chết "nói ai vậy có nói tôi không?".

Như vậy từ cha là vô minh, mẹ là khát ái kết hợp với nhau đẻ ra đứa con ngũ uẩn đầy rẫy tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã. Vì nó từ vô minh đẻ ra thì làm sao nó minh nổi? Từ yêu thích nó đẻ thì làm sao nó ly tham nổi? Chúng ta thấy khủng khiếp không? Cho nên mình nói tổng quát rồi vô bài kinh chúng ta mới thấy thấm thía lắm, nó bao vây, mình nó bủa vây mình, hãm hại mình, nó trùng trùng ma trận ở trong cái bát tà đạo này. Vì mình thấy sai về đời sống này, mình thấy là vui, là sướng, là tôi, là ta, là còn hoài, là ngon lành, là chắc chắn lắm, là an ổn lắm, là khỏe khoắn lắm, là hãnh diện lắm, vỗ vô cái bao rác bình bịch vậy đó, tôi đây nè, ta đây nè, tao đây nè, biết tôi là ai không, có biết tao là ai không, phạt cho nặng lên thêm nữa.

Cho nên cái đầu tiên quan trọng cực kỳ là thấy đúng về đời sống này, cái này quyết định tất cả. Mình nhìn sai một cái rồi là sau đó khổ dài dài, khổ hoài hoài, khổ mãi mãi, khổ triền miên, tái diễn, tái tục, tái tạo, tái sanh rồi tái luân hồi, tái khổ đau, tái sầu, bi, khổ, ưu, não, nó dài dài bất tận không bao giờ dứt trừ khi nào mình thấy đúng. Chính vì vậy mà cái quả vị Nhập Lưu mới là tối thắng trong tất cả các pháp ở trên cuộc đời này, mọi người thấy cái tầm vóc quan trọng của quả vị Nhập Lưu chưa? Khi mình đã thấy đúng cái đời sống này nó là cái thứ khổ đau, nó là cái thứ lo lắng, nó là thứ bất an, nó là thứ sầu não, nó là cái gánh nặng, nó là cái cục nợ, nó là cái mối lo, nó là cái ung bướu, ung hạch, ung nhọt, ung thư.

Mình không có yêu, không thích, không khoan, không khoái, không ham, không muốn, không thèm, không khát nữa. Mình giảm từ từ, mình nhiếp từ từ, mình chế ngự lần lần, mình đoạn giảm nó từ từ cho nó giảm bớt và từ từ mình đoạn tận nó luôn thì cái thấy đó mới đưa đến cái nghĩ đúng. Nghĩ đúng thì đương nhiên nói đúng, nói để lìa xa đời sống tham, sân, si, nói để thoát ra cái đời sống đầy dục ái, vô minh, nói để nhiếp phục và chế ngự, từ bỏ cái bản ngã này. Ngày nào mình lên cũng nói như vậy không chứ có nói gì khác đâu, nói đúng, thấy đúng, nghĩ đúng rồi làm đúng, chỗ này quan trọng. Thế nào gọi là làm đúng? Nếu như mình ra mình nấu cơm mà mình chỉ biết món cơm, không thấy pháp trong đó, nếu như mình làm công chuyện mà chỉ thấy cái công việc, không thấy pháp trong đó thì cái đó làm sai, tà nghiệp.

Tất cả cái làm đó là làm để thấy được cái đời sống này là khổ, cái tham muốn này là khổ, cái tranh giành, hơn thua này là khổ, cái chấp ngã này là khổ trong khi đang làm đó. Bây giờ mình trồng sen là mình có thấy được không? Nãy giờ ngồi nó thối rình à, không biết quý vị có nghe cái mùi không, lỗ mũi con không có được thính lắm, nó cũng bệnh mà nghe cái mùi nãy giờ cũng như bốc dữ lắm, vì một chút đẹp mà mình phải chịu đựng cái lỗ mũi. Mình đừng có chỉ thấy cái mặt đẹp không mà không thấy được cái mặt xấu, chỉ thấy có màu sắc không mà không thấy hôi rình, mình tập nhìn phản diện trở lại, tất cả cái gì mình nhìn cũng thấy cái mặt khác của nó hết, đừng có chỉ thấy cái biểu diện, cái bề ngoài, cái lớp sơn ở ngoài là mình chết, mình sẽ bị hãm hại. Phải thấy cái bản chất của vấn đề bên trong, nhìn ngược lại cái đó, nhìn sâu vào trong đó, nhìn xuyên thủng vào trong cái bản chất của nó.

Bây giờ nó mơn mởn như vậy, hai ba bữa nữa, giỏi lắm tuần nữa là héo trong khi phải trồng biết bao lâu, chăm sóc biết bao lâu, lo lắng biết bao nhiêu, nó nở chỉ có chút xíu vậy thôi, vị ngọt chỉ chút xíu thôi. Cái đó cũng còn bình thường, lỡ gặp mấy đứa nhỏ hay mấy người khiêng đồ đè lên làm gãy bông thì mệt tim "trồng cả tháng giờ mới có bông mà khiêng đồ không nhìn ngó gì hết". Phải thấy được cái sự khổ, biến hoại trong tất cả các pháp, nó chịu sự biến hoại cho nên không có cái gì mình thích hết, mình tập tác ý, mình tập tư duy, quán sát, mình tập nhắc nhở tâm mình, mình tập mở cái trí tuệ nó ra cho nó thấy được vô thường, khổ, vô ngã, sự biến hoại, sự tan nát, sự huỷ hoại, sự hoại diệt, sự tiêu diệt, sự tiêu vong, sự tiêu ma, sự tan rã.

Cứ nhắc như vậy hoài, gặp cái gì đẹp cũng nhắc hết như vậy hết thì tâm mình mới có thể thoát ly, mới có thể viễn ly, mới có thể xả ly, mới có thể xuất ly, nó mới đi ra khỏi được đó, đường thoát ra đó. Xuất ly là nó đi ra khỏi đó, nó giải thoát, như vậy mình thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng là rất quan trọng. Khi mình quét nhà thì tác ý thế nào?

Quét đất, quét Chùa, quét đất tâm

Đất tâm không quét uổng công làm

Người đời nếu biết đem tâm quét

Phiền não còn đâu chốn nảy mầm!

Không phải chỉ quét cho sạch cái nhà mà phải quét sạch cái tâm, trong khi quét đó mà cằn nhằn, lầm bầm "sình bùn, chân giờ đi vô đây chỗ tôi quét, bực bội quá" thì mình phải quét cái đó ra, vừa quét ở ngoài vừa phải quét ở trong. Nhớ hồi xưa mình học trong kinh nói cứ quét hoài, khăn lau bụi, quét riết tâm thanh tịnh thành A-la-hán luôn, đó là làm đúng đó. Có quét nhà vậy không con thưa các bậc tôn đức, hiền nhân của con? Từ nay về sau nhớ làm như vậy, rửa chén cũng vậy chứ không phải rửa rồi cằn nhằn "sao không ai rửa bắt mình tôi rửa?", sạch cái tô, sạch cái chén rồi phải sạch cái cấu bẩn ở trong tâm. Đó là làm đúng cho nên mình làm mà mình không có pháp gì hết thì cái đó làm sai rồi, tà nghiệp, bất cứ làm cái gì, giặt cái bộ đồ cũng vậy, giặt cho sạch cái tâm dơ này, tâm cấu uế này, cái tâm nhiễm này, cái dục nhiễm, hữu nhiễm, vô minh nhiễm này phải giặt cho nó sạch.

Trong khi giặt mình cứ tác ý coi trong này cái nào dơ nhiều nhất giặt cái đó trước, một lần chưa xong xả thêm hai nước, hai chưa xong để xà bông, vô thuốc tẩy luôn, được không? Chứ đâu phải nhúng nhúng rồi xong đem ra phơi được, đâu phải vò vò đạp đạp vài cái là xong, có những thứ là cần phải dùng thuốc tẩy mà không phải tẩy một lần, cũng vậy cái tâm dơ của mình đòi hỏi mình phải có nhiều cái cách thức. Cũng như giờ này mà con cho thiền quán thì ngủ thiền hết chính như vậy con phải mở mắt sáng lên, phải cho âm rồi vang dội lên, đối trị tất đàn, thành ra làm đúng là vậy đó.

Bây giờ mình có quay phim, mình có làm ra như vậy không phải vì danh, vì lợi, không phải vì muốn quảng bá tên tuổi chùa chiền của mình mà vì tình thương, vì từ tâm, vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người mình mới làm ra những cái bài pháp như vậy, mới trùng tiên thánh điển như vậy, làm như vậy mới là làm đúng. Nếu làm vì tên tuổi của mình, vì danh của mình, vì tiếng của mình, vì chùa của mình thì cái làm đó là tà nghiệp, không phải là chánh pháp dù cho có đọc những lời kinh chánh pháp thì động cơ của nó là tà.

Cho nên quý vị thấy làm đúng không phải đơn giản đâu, rất kỹ từ chút, từ chút một. Mình phục vụ cho chúng cũng vậy nữa, không phải lúc nào đông người lúc đó mình mới lên làm, còn lúc vắng người kêu mình không thèm làm "tôi làm là phải có người công nhận cho tôi biết, phải vỗ tay khen tôi mới làm", không phải. Làm để mình tiêu cái nghiệp, làm để mình tích cái phước, làm để mình mòn cái bản ngã, để mình bẻ gãy cái ngọn cờ kiêu mạn, như vậy đó là làm đúng. Tất cả mọi công chuyện luôn, mình bưng một cái tách trà lên, bưng một cái bình trà lên, mình dọn cho khách bằng tâm hiền bằng tâm từ, bằng một cái tình thương, mình làm như thế nào cho nó phù hợp cho người đó uống được khỏe, được mát, họ được dễ chịu để vô học nghe pháp, chứ không phải người thương mình cho uống nước thiệt ngon, người mình không thương cho uống nước lã.

Nhớ kỹ cái đó, đối đãi bình đẳng, đối với tất cả hữu tình chúng sanh nhưng mà nhớ bình đẳng là trên nhân quả, chứ không phải bình đẳng này giống y như nhau, như một, không phải, bình đẳng trên nhân quả. Cho nên chúng ta thấy cái làm đúng này không phải là đơn giản, mình chỉ nói tổng quát thôi, rồi sống đúng là cái nghề nghiệp nuôi sống của mình, đối với người cư sĩ là phải từ bỏ năm nghề không bán rượu, không bán thịt, không bán vũ khí, không bán thuốc độc, không bán người. Đây là năm nghề nên tránh, người cư sĩ là phải tuyệt đối tránh năm cái nghề này, năm nghề này là gián tiếp gây ra nhiều tội lỗi, mình bán rượu nè làm người ta say sưa gây ra nhiều tội lỗi, bán thịt là gián tiếp sát sanh cho cả hai luôn, cái người bán cho mình và người mua của mình cho nên không có bán rượu, không bán thịt, không bán thuốc độc, không bán vũ khí, không bán người.

Bán thuốc độc thì gián tiếp giết người ta, còn bán vũ khí cũng sát sanh hàng loạt, rồi bán người là người ta đau khổ. Mình thiền quán biết bao nhiêu là đau khổ cuộc đời của người ta, đi lừa gạt bán người ta, như vậy từ bỏ năm cái nghề này gọi là sống đúng, đối người xuất gia thì phải rất kỹ nhiều lắm, trong kinh Sa-môn Quả chúng ta đọc kỹ rồi sẽ thấy. Siêng đúng là siêng nghe pháp, siêng ngồi thiền, siêng quán chiếu, siêng làm việc công quả, siêng học những lời dạy của Đức Phật nói đơn giản là tu, học và làm việc, siêng ba cái đó. Lúc nào học là mình học hết mình, cả tấm lòng của mình, tập trung tâm ý, lắng tay nghe pháp, rót thánh trí vào tim của mình, lúc nào tu là bằng tất cả tấm lòng của mình để mình công phu, tập trung tâm ý vào cái những cái pháp hành đó chứ không phải mình lên ngồi cho có mặt, rồi khi làm việc là làm bằng cả một cái tấm lòng tận tâm của mình vì tam bảo, vì đại chúng, vì tự thân mình.

Nói cho đầy đủ là siêng chế đoạn tu trì, siêng chế ngự sáu căn, đoạn trừ tham, sân, si, tu tập Tứ Niệm Xứ và giữ gìn các cái thiện pháp mà mình có được. Đây là nói tổng bát chứ Bát Chánh Đạo này mình phải học một năm mới xong, tương đối là phải học một năm tại vì vừa vào cửa chánh kiến thôi là đã thánh quả thứ nhất rồi chánh tư duy, chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp ở phía đằng sau, chánh tinh tấn là thánh quả thứ hai, lần lần lên là tới thánh quả thứ ba là tới chánh niệm, tới chánh định là thánh quả thứ tư A-la-hán cho nên trong cái Bát Chánh Đạo này là có tứ thánh quả.

"Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỳ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Cho nên bây giờ mình tu mà mình không đi vào cái cửa thấy đúng vậy thì mình đi đâu? Làm sao mình có các cái quả vị thánh hiền? Cho nên mình tu hoài mà không ai đắc quả hết, không có ai ngộ đạo hết mà thấy ngộ độc tại vì mình không đi đúng cái đạo lộ của Đức Phật cho nên mình không đắc quả, mình cứ đi tìm độc đắc không à, đắc độc không phải đắc quả. Qua đây chúng ta mới thấy được từ cái thấy đúng của ban đầu nó dẫn đường, chính vì vậy mà cái khóa tu chúng ta là khóa tu thấy đúng. Mọi người có hoan hỉ không? Chúng ta thấy mình đâu có ngồi thiền nhiều đâu, thiền định là bây giờ biết gì đâu mà định, ngồi một hồi nó vô ngủ định không à, định ngủ cho nên phải mở ầm ầm ra vậy đó mà vậy có khi cũng ngủ trộm, nếu mà để êm ru luôn thì không biết đi tới cái tầng thiền gì nữa.

Chúng sanh thời bây giờ, con người thời bây giờ thiền định rất là khó, quý vị thấy phải vậy không? Rất khó, mà sao mình may mắn được bậc đạo sư chỉ cho mình thiền quán còn hơn trúng số độc đắc, còn hơn mình chụp được trúng một cái kho báo nữa. Tuyệt diệu không? Thiền quán mà đánh hoài, dập hoài, cứ la hoài rầy hoài, lúc đầu nghe hơi khó chịu chút, từ từ nghe hình như cũng đúng, nghe riết thì thấy cũng phải, có người nói là "nói trúng tim đen con luôn", hoặc là "thầy ơi thầy, bài pháp này thầy nói cho mình con nghe hả, sao đúng quá vậy?". Tại vì thánh trí của Đức Phật nói ngũ uẩn là trúng hết trơn, không có cái nào sai hết, nói là nói cho ngũ uẩn.

Sau khi nghe một thời gian thì thấy đúng quá, nghe nữa thì thấm, thấu tim. Cuối cùng là vỡ lẽ, hóa nhiên đại ngộ "Ôi trời ơi! Con sai quá rồi thầy ơi, con sai quá rồi", nước mắt chảy ra. Cái tiến trình của pháp là như vậy đó cho nên đừng sợ khóc, cứ việc cho khóc, nhất trí không? Về núi yên tu đệ nhất khóc tại vì đâu phải dễ mà nó cảm nhận, nó cảm động như vậy, nó cảm động như vậy tức là nó sức nặng, nó thọ dữ lắm thì nó mới trào được nước mắt ra. Mình đi coi phim, mình đi coi kịch là mình thấm thía xúc động lắm mới khóc hoặc là vui lắm thì mới cười, cũng vậy coi bi kịch hoặc là hài kịch mà cười khóc thì cái đó bình thường, nghe pháp thánh trí mà lúc đó mình cười hoặc là khóc cái này là vi diệu.

Tại vì tâm mình thọ được pháp, mình cảm được pháp, mình nhận được pháp và mình có một cái sự rung chuyển ở trong tâm cho nên quý vị đừng sợ khóc cứ, để cho khóc mà càng xúc động là cứ càng trình pháp. Vì những dọn nước mắt đó là nó đang rửa cái tâm dơ của mình, nó là những cái vòi hoa sen, cái nước pháp, pháp thủy, thánh thủy để rửa cái tâm dơ, cấu bẩn vô lượng kiếp, tham, sân, si, dục ái, bản ngã của mình. Khi mình nghe tới đâu nó ngấm tới đó, nghe tới đâu thấm tới đó, nghe giống như điểm huyệt một cái vậy, nghe là nó tỉnh lên, rung động hết trơn thì cái đó tức là tâm mình đang được khai mở, được tắm gội. Cho nên có bài kinh Đức Phật nói bậc A-la-hán là người được tắm sạch sẽ.

"Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như vậy được gọi là Sa-môn, là Bà-la-môn, là vị đã tắm sạch sẽ, là vị đã biết và hiểu rõ, là bậc có học, là bậc Thánh, là bậc A-la-hán.

Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo được gọi là bậc A-la-hán? Vị này đã làm cho xa lìa các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo là bậc A-la-hán." (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)

Bậc A-la-hán, bậc thánh là người được tắm sạch sẽ, không còn dơ nữa và những giọt nước mắt đó chính là đang tẩy rửa thân tâm cấu quế, cấu nhiễm vì mình thấy sao mình ngu như vậy, sao mình sân như vậy, sao mình lại cứ hơn thua, bản ngã với những người thân yêu nhất của mình như vậy, mình thật là tội nghiệp cho mình, mình thương cho mình, mình cảm động, mình xúc động, mình chấn động, nước mắt mình tuôn ra và chính những cái đó là những cái rất là tuyệt vời, rất là vi diệu, rất là tốt lành, rất là phúc lành, rất là lợi đắc, rất là phước báo cho chúng ta khi chúng ta cảm thọ được pháp. Đừng kiềm lại và đừng có giấu, mình đã tuôn ra biết bao nhiêu những dòng nước mắt mà những dòng nước mắt đó toàn là tham, sân, si, toàn là hơn thua không, những dòng nước mắt vô ích, vô giá trị, vô nghĩa.

Ngày hôm nay mình được cái dòng nước mắt của giác ngộ, của chạm tới sự thật thì dòng nước mắt mới quý, còn trước nay là mình khóc với cái gì?

Đã bao lần mình khóc

Cảnh khố rách áo ôm

Lang thang bên bãi rác

Để tìm thức ăn thừa

Phải đói khát lang thang

Vô vọng không phương hướng

Xa đọa đi lầm đường

Buông tay rơi vực thẳm

Trụy lạc bị hành hình

Thắt cổ treo tự tử

Nhảy lầu, nhảy cầu, sông

Kết thúc sinh mạng khổ

Trong kiếp người thương đau.

Đã bao lần mình khổ

Lê lết ở trên đường

Cùng khắp mọi phố phường

Cụt cả hai chân tay

Chìa cánh tay không ngón

Xin lạy ông đi qua

Xin lạy bà đi lại

Xin bố thí tình thương

Trong vòng luân hồi này mình đã trải qua những hình ảnh này.

Đã bao lần mình khổ

Sinh ra đã mù lòa

Bị mẹ cha vứt bỏ

Trong bãi rác nghĩa trang

Lớn lên lòng tức tưởi

Oán mẹ cùng thù cha

Hận đời rồi trách người

Nghèo khổ đầy oán khí

Hận hết cả cuộc đời

Đã bao lần mình buồn

Trong hình hài dị dạng

Dị hình ai cũng hoảng

Mình mẩy đầy ung nhọt

Mủ máu cứ rỉ chảy

Đau nhức thấu trời xanh

Những tiếng rên đêm vắng

Trong chòi lá lạnh tanh

Trong lán trại hiu quạnh

Giữa đồng ruộng vắng tanh

Đã bao lần mình khóc

Trong kiếp làm ngựa trâu

Bị cày lâu ách nặng

Ngã khuỵu xuống bùn sâu

Phải chở nặng đường dài

Bị quất roi thúc lẹ

Đôi dòng lệ tuôn trào

Tức tưởi trong nghẹn ngào

Đã bao lần mình khổ

Cái kiếp người tủi nhục

Làm đầy tớ ở đợ

Nô lệ kiếp tôi đòi

Bị xâm hại bốc lột

Bị hành hạ uất ức

Bị oan ức mạng chung

Đã bao là mình hận

Hận kiếp sống đọa đày

Trong cảnh tù ngục

Gông cùm, xiềng xích thân

Ỉa đái ngay tại chỗ

Ăn ở cùng một nơi

Bốn bức tường bức bách

Đến chung thân trọn đời

Đã bao lần mình oán

Cảnh mẹ chồng nàng dâu

Đối xử nhau cay nghiệt

Hành hạ, hành tội lâu

Gây nhau bao oan trái

Tạo nhau nhiều đắng cay

Đày nhau trong khổ ải

Bắt nhau chịu thương đau

Đã bao lần mình khóc

Khóc cảnh chồng đánh đập

Say sưa rồi nghiện ngập

Đánh cho áo giũ bành thây

Chửi trên đầu trên cổ

Hành hạ như nô lệ

Dòng nước mắt tận cùng

Tuôn trào trong thương đau

Dòng nước mắt đau xót

Tuôn trào trong tủi hờn

Tuôn trào trong tức tưởi

Tuôn trào trong đoạn trường

Tuôn trào trong huyết quản

Tuôn trào trong máu xương

Đã bao lần mình thương

Thương tủi phận cuộc đời

Sầu đau trong ái luyến

Nghẹn ngào không nên lời

Bị phụ bạc tình yêu

Người thay lòng đổi dạ

Xem nhau như món hàng

Như đồ chơi giải trí

Lợi dụng, lừa dối nhau

Làm tổn thương cho nhau

Vắt chanh rồi bỏ vỏ

Qua cầu liền rút ván

Được chim nhanh bẻ ná

Được cá vội quên nơm

Chẳng chút gì nghĩa tình

Chẳng chút gì tình thân

Tất cả là vô tình

Tất cả là vô nghĩa

Tất cả là vô thường

Tất cả là vô ngã

Đã bao lần mình khóc

Đã bao lần mình buồn

Đã bao lần mình khổ

Đã bao lần mình thương

Đã bao lần mình giận

Đã bao lần mình hờn

Đã bao lần oán trách

Đã bao lần muốn mong

Đã bao lần tiếc nhớ

Biết bao nhiêu nỗi niềm

Nhiều sầu đau trách móc

Nhiều sân hận, bực phiền

Nhiều mối lo sợ hãi

Nhiều rối rắm triền miên

Đến đây là đầy tràn

Đến nay là quá đủ

Đến giờ là quá thừa

Đến đây quá nhàm chán

Thôi tâm hãy bỏ đi

Ta cùng nhau về thôi

Ta không muốn tiếp diễn

Dòng nước mắt luân hồi

Về thôi, mau về thôi

Về núi rừng Linh ấn

Về đạo tràng hiền thiện

Về hội chúng tinh ba

Về thôi, mau về thôi

Về mây trăng sao sáng

Về nước biếc non bồng

Về đất trời cao rộng

Về thôi, mau về thôi

Về non thiêng chánh trí

Về núi thánh chân như

Về đại ngàn trải rộng

Về trập trùng núi đồ

Có hoa đồng cỏ dại

Chẳng đợi người gieo trồng

Có sương giăng mây trôi

Có mặt trời lên đồi

Có trà xanh rau sạch

Có tình người thân thương

Có tâm từ rộng mở

Có lòng bi xót thương

Có tâm hỷ ngọt ngào

Có tâm xả nhẹ buông

Có chân tình, chân nghĩa

Có chân thật, chân thành

Có tấm lòng trân quý

Cùng nhau chung tiến tu

Cùng nhau biết nhìn lại

Nhận ra lỗi lầm mình

Cùng nhau biết sửa đổi

Những khuyết tật nội tâm

Cùng nhau hành khiêm hạ

Khiêm tốn với khiêm cung

Khiêm hòa thường khiêm nhã

Cùng nhau tu cung kính

Cùng nhau tập cúi đầu

Cùng nhau lạy diệt ngã

Cùng nhau học thanh cao

Thanh tịnh và thanh thoát

Thánh thiện gắng tập hành

Trong tinh thần hòa kính

Về thôi, mau về thôi

Quán chiếu tham, sân, si,

Về chiêm nghiệm thực tại

Về trải nghiệm pháp hành

Về thôi, mau về thôi

Về nhận diện ngũ uẩn

Về nhìn thấy thân tâm

Về tẩy sạch bụi trần

Về thôi, mau về thôi

Về thấy rõ trí tuệ

Về gội rửa cấu uế

Về thanh lọc lậu hoặc

Về đánh thức tâm mê

Về khai mở trí tuệ

Về thấu triệt thế giới

Về ra khỏi ba cõi

Về đến tột Niết-bàn

Chúng ta đang đi tám đúng của bậc thánh, siêng đúng rồi quán đúng, nãy giờ chúng ta quán về sự khổ đau, về những dòng nước mắt của đời sống này, của thế gian này, của thế giới này, là những dòng nước mắt của tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã nhưng bây giờ chúng ta lại được những giọt nước mắt của giác ngộ, của chân lý, của trí tuệ, của minh kiến. Và chúng ta tập trung tâm tâm ý một cách chân chánh, đúng pháp để chúng ta thoát ra cái đời sống đầy lo lắng, bất an, não phiền, khổ sầu, tai họa để chúng ta hướng đến một đời sống hiền thiện, thanh cao, thánh thiện và giải thoát.

Tâm thương này tỏ rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.