Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm Sao Để Thành Người Xuất Gia Đúng Nghĩa 7

2026-03-03 00:52:34
16.11.2020 KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI - LÀM SAO ĐỂ THÀNH NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA 7 - KINH XÓM NGỰA - TRUNG BỘ

Thích Minh Thành

V

ới tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sinh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này các Tỳ-kheo, ví như một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình, người ấy nghĩ: "Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây, ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Ba Minh))

Từ chùa của mình đi ra ngoài Đà Lạt, sau khi đi Đà Lạt qua Nha Trang, sau khi ở Nha Trang trở về chùa ở Sài Gòn. Những người mình tiếp xúc mình nhớ họ, những nơi đã đi qua mình cũng nhớ, những chuyện mình tiếp xúc mình cũng nhớ, thì Túc mạng minh cũng vậy, sẽ thấy được hết đời quá khứ, sanh ra như thế nào, trong gia đình ra sao, có giai cấp thế nào đều biết. Ở Ấn Độ thời xưa có bốn gia cấp: Tu hành, vua chúa, buôn bán-thương nhân, nô lệ làm thuê mướn. Người này với tâm định tĩnh trong sáng hướng tâm về những kiếp quá khứ đều thấy từng chút một, đó gọi là Túc mạng minh. Túc là xa xưa, mạng là sinh mạng, minh là sáng suốt, Túc mạng minh là trí huệ sáng suốt nhìn thấy tất cả những đời sống quá khứ thuở xưa.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Ba Minh))

Khi nãy là hướng tâm về những đời sống quá khứ của chính bản thân mình, còn giờ là đem cái tâm thanh tịnh đó hướng về đời sống của những chúng sanh.

Vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, cõi Trời, trên đời này.

Này các Tỳ-kheo, ví như có hai nhà có cửa, và ở đây, một người có mắt đứng ở giữa, người này có thể thấy các người (khác) đi vào nhà, đi ra, đi qua, đi lại. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.  (Trung Bộ Kinh, 39. Đại kinh Xóm ngựa, (Ba Minh))

Đây gọi là Thiên nhãn minh hoặc Sanh tử trí, tức là trí tuệ thấy biết tất cả sanh tử vô lượng vô biên kiếp của chúng sanh trong quá khứ. Khi Đức Phật hoặc những vị tu hành đạt đến tâm thanh tịnh như vậy thì các ngài sẽ biết người đó tại sao lại thấp hèn, tại sao lại có địa vị cao sang. Họ sẽ nhìn thấy nguyên nhân tại sao có người đẹp đẽ có người xấu xí, tại sao có người may mắn có người bất hạnh, họ nhìn đều thấy biết hết, tất cả đều do hạnh nghiệp của họ, là những hành động của họ, những suy nghĩ của họ tạo thành như vậy, không phải ai tạo cho họ mà chính tay họ tạo nên. Tất cả sự giàu sang, hèn hạ, xấu xí, may mắn hay bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. "Hạnh nghiệp" gồm có thân hành, ý hành, khẩu hành hoặc thân nghiệp, ý nghiệp, khẩu nghiệp.

Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. (Trung Bộ Kinh, 39. Đại kinh Xóm ngựa, (Ba Minh))

Đi vào đường ác, đi vào chỗ xa đọa tức là đọa xứ, đọa là rơi xuống những vực sâu thẳm của đau khổ, tối tăm, có những chỗ ở trong bóng đêm vô lượng vô biên kiếp, không hề có một chút ánh sáng nào, họ phải sống trong bóng đêm dài đằng đẵng như vậy. Kết quả đó là nhân của những việc làm ác hạnh về thân, lời, ý, suy nghĩ ác, lời nói không tốt, những hành động xấu. Mình đừng nghĩ ác là làm những việc giết người cướp của, đốt nhà… cái đó là phàm phu ác, còn ác trong giới luật bậc thánh rất sâu sắc, một ý niệm bất kính, chống đối các bậc đồng phạm hạnh, các bậc tôn trưởng hoặc khinh thường những người thấp hơn mình như Phật tử thì đó cũng là ác, đó chỉ mới là ý niệm chứ chưa cần phát ra lời nói hoặc hành động thì cũng là ác, nếu không nhận diện ngũ uẩn thì không biết đó là ý hành. Đức Phật đã nói suy nghĩ là nghiệp, sự tác ý đó là nghiệp

Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý. (Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Ví dụ mình ghét ai đó là suy nghĩ xấu về người đó dù không nói ra cũng không có hành động gì, mình nghĩ rằng suy nghĩ đó không ai biết. Khi có ý hành sân sẽ có cảm thọ, lúc đó có tưởng, hình bóng, thức rõ biết, sắc sẽ bị thay đổi, biến động, ngũ uẩn vận hành tạo thành nghiệp, ý nghiệp đó được sanh khởi lên và mình chấp nhận suy nghĩ đó mà không đánh đuổi, không chấm dứt, không làm cho nó không còn sanh khởi trở lại trong tương lai, ngược lại còn chất chứa, ấp ủ, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển thì sẽ có ngày bộc phát ra miệng "tôi chịu hết nổi rồi, mấy nay tôi nhịn dữ lắm rồi nha", đó là phát ra miệng vì vậy ý nghiệp đó không phải phá, giải trừ sẽ tạo thành nghiệp, ý nghĩ này có sức mạnh để dẫn tới ngôn ngữ, hành vi. Hơn nữa ý nghiệp này có thể lập tới lập lui, những lần lập lại là nó lại tô vào nghiệp của mình nặng thêm, giống như tô màu, tô lần đầu thì nhạt, tô nhiều lần sẽ đậm thêm, càng tô thì càng đậm, càng tô càng vẽ sẽ tạo ra hình thù, còn nếu chỉ mới vẽ lần đầu đã được xóa bỏ sẽ hết, tuy còn dấu xóa nhưng từ từ sẽ hết, ý nghiệp cũng giống như vậy cho nên Đức Phật đã nói tác ý (suy tư) là nghiệp. Vì thế suy nghĩ, nói năng, hành động đó là thiện sẽ được sanh lên cõi trời, cõi người. Còn suy nghĩ đó là ác, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến thì đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nếu trở lại cõi người sẽ bị đui, điếc, câm, ngọng, điên khùng, bại não, bệnh nan y, bán thân bất toại cho nên ác nghiệp rất khủng khiếp, đây là một trong bốn cái bất khả tư nghị, không thể tưởng tượng được quả chín muồi của nghiệp, quả dị thục của nghiệp.

Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn? 

Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.

Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.

Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII) (77) Không Thể Nghĩ Ðược).

Mình không thể tưởng tượng được cho nên có nhiều người nhìn hiền lành, dễ thương mà sao giờ lại như vậy, có nhiều người nghĩ những người hiền hay bị xui xẻo, bất hạnh nhưng không phải vậy, trong nhân quả đó không thể tưởng tượng, nghĩ bàn được, mình không thể biết được nhân quả quá khứ của người đó như thế nào. Quả báo của ác nghiệp cực kì ghê sợ, một khi trổ ra quả làm cho biến đổi và chín muồi nghiệp đó, gọi là dị thục quả. Dị là biến dị, thục là chín mười, quả trổ ra là khủng khiếp cho nên trong kinh Pháp Cú đã ghi:

Người ngu nghĩ là ngọt,

Khi ác chưa chín muồi;

Ác nghiệp chín muồi rồi,

Người ngu chịu khổ đau.

(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 69)

Người hiền thấy là ác,

Khi thiện chưa chín muồi.

Khi thiện được chín muồi,

Người hiền thấy là thiện.

(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 120)

Vì vậy nhân quả ác nghiệp rất kinh khiếp, ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Có những người giàu có khét tiếng một vùng mà giờ phải đi ăn xin, làm sao ngày họ đang giàu có có thể tưởng tượng ra được cảnh này. Nhưng có những người làm lụm vất vả lại trở thành đại gia, quan quyền chức tước, vì nghiệp quả biến dị làm thay đổi là thật sự không thể tưởng tượng, Đức Phật nói nếu chúng sanh cố gắng suy nghĩ thì người này có thể điên loạn, đi đến chết, chỉ có bậc thành tựu Thiên nhãn minh – Sanh tử trí mới nhìn thấy và biết được nghiệp quả của mình. Có người sanh ra đã mập mạp, trắng trẻo, có người sinh ra lại ốm o gầy mòn, nghèo khổ mà không biết tại sao lại vậy, vì họ không biết nghiệp quả chính họ, còn người quán chiếu nghiệp quả thông suốt sẽ không hờn giận, trách móc bất kì ai, không biết quán chiếu về nhân quả, nghiệp quả sẽ oán trách rất nhiều, than thân trách phận, oán trời oán đất. Lúc đó Minh Thành đi học Trung cấp Phật học ở chùa Vĩnh Nghiêm năm 1992, trên đường đi xe đạp đến trường phải dừng đèn đỏ, trong lúc chờ đèn đỏ có một chú ăn xin gương mặt hung dữ ở trần, xăm lên cánh tay cơ bắp hai chữ "hận đời", do người ta không hiểu nhân quả nghiệp báo nên người ta oán trách tại sao nhiều người sanh ra có gia đình, sống trong nhung lụa sạch sẽ còn mình lại như thế này, cụt chân ăn xin rồi xăm lên tay "hận đời". Vì thế khi đã quán chiếu được nhân quả nghiệp báo thì lòng mình an nhiên, không có ganh tị, đố kị với ai, không tham những cái quá đáng "sao tôi như vầy mà không ai nhìn tới tôi", thậm chí vào tu rồi cũng còn so đo "sao cúng huynh nhiều, cúng tôi ít vậy", "sao huynh cái gì cũng có còn tôi không được vậy", cứ ngồi lại là so sánh mà không thấy nhân quả, không thấy nghiệp báo, không thấy hạnh nghiệp này nên khổ hoài. Khi đã hiểu về nghiệp sẽ thấy rất sợ, cẩn thận trong từng suy nghĩ, lời nói, hành động, quả báo của nghiệp không phải 1+1=2, không phải đơn giản như mình nghĩ bây giờ mình chửi người ta thì mai đây người ta lại chửi mình là xong mà nó sẽ biến dị, dị thục của nghiệp cực kì ghê sợ vì thế không dám suy nghĩ xấu về người khác, không dám xem thường bất kì ai. Vị nào tu đến mức độ này sẽ thành tựu Thiên nhãn minh – Sanh tử trí.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: "Ðây là khổ", biết như thật: "Ðây là Nguyên nhân của Khổ", biết như thật: "Ðây là sự Diệt khổ", biết như thật: "Ðây là con đường đưa đến diệt khổ", biết như thật: "Ðây là những lậu hoặc", biết như thật: "Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc", biết như thật: "Ðây là sự đoạn trừ các lậu hoặc", biết như thật: "Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc".

Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa".

Ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: "Ðây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Ba Minh))

Đoạn kinh này rất thâm sâu, con đã đọc và nghe đoạn kinh 1000 lần vẫn không hiểu hết được, đây là sự thật, nghe 10 năm vẫn chỉ hiểu trên chữ nghĩa. Cho đến khi chuyên nhất vào kinh tạng Nikāya và thực hành thì những điều lúc xưa mình xem thường và bỏ qua thì những điều đó lại tối quan trọng. Ngày xưa đọc đến đây con bỏ qua hết vì nghĩ những cái này cao siêu lắm, học không tới được nhưng bây giờ những cái này lại quan trọng nhất, nếu không hiểu cái này thì sự tu không tới đâu. Trong Tam minh: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh thì Lậu tận minh là quan trọng nhất, ngoại đạo có thể thành tựu Túc mạng minh và Thiên nhãn minh nhưng bị giới hạn, họ có thể biết được mấy trăm kiếp về trước của họ và chúng sanh nhưng Lậu tận trí này không thể nào có thể thành tựu nếu không phải là bậc đa văn thánh đệ tử.

Hướng tâm đến Lận tận trí tức là hướng tâm đến trí tuệ làm sạch hết tất cả cấu nhiễm trong tâm. Vị ấy biết như thật: "Ðây là khổ", có rất nhiều cấp độ nhận thức về chữ "khổ" này, cấp độ tối cao nhận thức được chữ khổ này là bậc A-la-hán, thánh quả tối cao, còn chúng ta nói khổ nhưng tâm không thấy khổ, nếu có thấy chỉ thấy chút ít rồi cũng hết, đi đám tang thấy người chết thì cảm thấy khổ, vô thường quá nhưng chỉ được chút ít rồi về là xong, đây là đối với người có tu còn không tu thì đi như nghĩa vụ. Nếu người có tâm tu tập hay có liên hệ với người đã mất, có ân nghĩa, tình cảm với họ thì còn quán chiếu, còn thấy nhàm chán, còn trong đám bình thường, người quen đi đám như đội mai táng thì làm gì thấy vô thường, ngày nào họ cũng khiêng xác chết mà vẫn tham sân si, bác sĩ ngày nào cũng mổ thân xác mà cũng không chứng nhập được trí huệ bất tịnh vì tâm họ không đặt vào hướng đó, họ làm vì mưu sinh, làm vì giúp người chứ họ không đặt tâm để thể nhập thánh trí huệ cho nên khác nhau. Ðây là khổ, trong đó "đây" nghĩa là ngũ uẩn, ngũ uẩn là khổ.

Này Tỳ-kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc, Tỳ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi". Phàm thọ gì... Phàm tưởng gì... Phàm các hành gì... Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức, Tỳ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi!" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm) 

Tất cả các sắc; thọ; tưởng; hành; thức quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần phải quán là vô thường, khổ, vô ngã, trống không, tan hoại, tiêu vong. Câu nói Ðây là khổ bao trùm hết tất cả vũ trụ, thân tâm và thế giới, thân xác này là khổ, trong con mắt, lỗ tai, mũi, miệng, lưỡi, thân này chất chứa biết bao thứ bệnh, chỗ nào cũng có thể bị ung thư. Đụng vào thân này là chảy ra sự nhàm chán, chảy ra sự bất tịnh, chảy ra sự hôi dơ, chảy ra sự thối tha, tanh hôi. Phải xem hình ảnh người ta giải phẫu thân thể, rọc một đường dài lột da ra, bên trong là máu mỡ, gan, thận, phèo, phổi… chỉ cần lột lớp da ra thôi thì bên trong là một sự ghê gớm, rùng rợn, kinh hãi, không có gì ngoài sự dơ bẩn, tanh hôi, bất tịnh. Chỉ cần lớp da phủ lên là chết mê chết mệt, thứ ác độc nhất trên cuộc đời này chính là lớp da, mỗi ngày ngồi thiền phải lột da ra để quán, đó là 32 thể trượt.

Tỳ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Có cái nào thơm tho, sạch sẽ trong này? Đó là ổ chứa nhóm bệnh hoạn, chất chứa trong này là một bản ngã, một cái tôi, cái ta ảo tưởng, chất chứa trong này là sự dối trá, ngã mạn, bất tịnh, phiền não và khổ đau, không có gì vui trong này.

Sắc này bị suy già,

Ổ tật bệnh, mỏng manh,

Nhóm bất tịnh, đỗ vỡ,

Chết chấm dứt mạng sống.

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 148)

Hai người yêu nhau được về chung nhà là hạnh phúc vậy mà tại sao lại chửi nhau, đánh nhau? Sắc là vô thường, cảm giác là vô thường cho nên hôm nay thương ngày mai giận, hôm nay nâng niu nhưng ngày mai lại đá, đánh, đấm, có nhiều người vợ mang thai mà bị chồng đánh không thương tiếc vì thế những người được ngồi đây đã thoát sanh tử được một nửa rồi, không có đẻ con vì sanh tử còn được hiểu là sanh con, vì thế khi thể nhập vào trí huệ rồi sẽ thấy chữ "khổ" này bao trùm thế giới, hiện tại bây giờ mình chưa thấy khổ, chỉ nói trên miệng hoặc cảm nhận được chút ít chứ vẫn chưa thể nhập, thâm nhập, chứng nhập Khổ Thánh Đế. Chỗ nào trên thân thể này không phải là chỗ chứa nhóm bệnh hoạn?

Thành này làm bằng xương,

Quét tô bằng thịt máu,

Ở đây già và chết,

Mạn, lừa đảo chất chứa.

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 150)

Hãy xem bong bóng đẹp,

Chỗ chất chứa vết thương,

Bệnh hoạn nhiều suy tư,

Thật không gì trường cửu.

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 147)

Hãy nhìn những bong bóng nước đây ngồi đây, đó là chỗ chất chứa những vết thương, bệnh hoạn, nhiều suy tư, lo lắng và sợ hãi, không dám đi ra đường. Cả thế giới bây giờ không thể ra đường tụ tập, phải bịt khẩu trang vì đó là nơi phát dịch, gây bệnh truyền nhiễm. Vì cứ thấy nó là tôi, là của tôi, nó là đẹp, là còn mãi thì đó là vô minh, tham ái cho nên mình khổ hoài, còn các bậc thánh nhìn những cái này không là gì cho nên ngài mới xuất ly, giải thoát, mình nhìn bằng nghiệp, bằng dục tham ái, mình ưa thích những thứ này nên không thoát được sanh tử, khổ đau. Có phải những thứ mình ưa thích nhất là những thứ dơ bẩn nhất không? Chỗ làm cho chúng sanh bị điên đảo trên toàn thế giới này chính là chỗ dơ nhất, bẩn thỉu nhất, hôi thối nhất lại là chúng sanh đam mê nhất. Đau khổ cho chúng ta! Trên thân thể này có chỗ nào sạch sẽ, đẹp đẽ, đáng yêu? Toàn bộ đều rỉ ra mồ hôi, nước đái, phân, ghèn, cứt ráy, mủ máu, thậm chí còn bị hôi nách. Thật là đau khổ chúng ta! Thật là si mê cho chúng ta! Thật là cay đắng cho chúng ta vậy mà cứ mê mùi hôi nách đó. Mình vào toilet bài tiết ra thứ của chính mình mà mình còn thấy ghê sợ, lỡ dính vào tay thôi là rửa ngay bằng xà bông lập tức. Thật là vô minh, si mê, Đức Phật chỉ cho sự thật mà mình lại không chấp nhận, cứ nói là đẹp, thơm, khoái. Cho nên đây là khổ, khổ là đây, bị vô minh, tham ái che đậy, si mê rồi không thấy sự thật, vướng vào tình ái là si mê không lối thoát, mặc kệ có là hang hùm, miệng cọp cũng lao vào. Lúc nào trong suy nghĩ, cảm thọ của mình cũng là thích, mê chính tự thân mình, ngồi rửa bàn tay mà cũng cười vì thấy tay mình trắng đẹp, cho nên chấp ngã rất ghê gớm, vì không tu tập sâu sắc nên không thấy chứ thật tế chấp ngã, vô minh và tham ái thật sự khủng khiếp, gọi là sắc thủ uẩn. Mình đau khổ với thứ này vô cùng, không được tình ái (cầu bất đắc) thì khổ, nhưng khi được thì có vui thật sự không hay có cái khổ của cái được, rồi mất đi thì càng khổ hơn. Chưa được thì khổ theo chưa được, được rồi thì khổ theo được rồi, mất đi thì càng khổ, cả ba thời đều khổ, vì thế dân gian hay nói:

Một vợ thì nằm giường lèo

Có gối tai bèo, sáo rủ, màn treo

Hai vợ thì nằm chèo queo

Ba vợ thì xuống chuồng heo mà nằm.

Cho nên sự quán về khổ rất sâu sắc, cái khổ của Đức Phật nói trong kinh Nikāya không phải như trước nay mình vẫn học, không thể tưởng tượng được. Con mắt là khổ vì có biết bao thứ bệnh: Cận thị, viễn thị, loạn thị, chột, lé, đui, mù… Phải tập giải phẫu cơ thể mình ra, phải quán bất tịnh mới làm cho cảm thọ lắng dịu xuống, còn không thì bên trong cứ thúc giục, khao khát, đòi hỏi mãi không dừng nghỉ. Đó mới chỉ là thân bệnh, vào bệnh viện nhìn thấy sợ thật sự, đi đâu cũng có túi nước tiểu bên cạnh, nằm đó rồi xay thức ăn ra đổ vào uống đi thẳng xuống bao tử, mình ăn được mà còn khổ như vầy, vậy mà phải nằm bất động xay thức ăn đổ vào, sống thực vật hàng chục năm, hai mươi năm, sống trong si mê, hôn ám như vậy. Nhìn ra miền Trung bây giờ khổ như thế nào, bây giờ đi mắc mưa một chút thôi là khó chịu như thế nào vậy mà người dân ở đó phải dầm mình như vậy, trong vòng một đêm thôi là nhà tan nát cửa, trôi theo dòng nước, may mắn giữ lại được mạng sống chứ không thì chết luôn. Đây chỉ mới là sắc uẩn thôi, ngoài ra còn thọ; tưởng; hành; thức, còn dục, tham, ái, sân si, hơn thua… còn vô số vô biên những cái tâm lậu hoặc. Trong tấm thân này đầy rẫy những bất tịnh, nhơ nhớp, tanh hôi… còn bên trong nội tâm là một cái tâm lậu hoặc, rác bẩn, tham dục, bản ngã, si mê, cống cao tự đắc, ganh tị, đố kị, hơn thua rất khủng khiếp cho nên các bậc thánh mới viễn ly, ly tham, nhàm, chán, từ bỏ, chấm dứt, xuất ly, giải thoát. Không có gì trong này ngoại trừ cái thân trống rỗng, không ai trong đây mà chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương, phủ ngoài là lớp da trơn láng, che hết vô vàn thứ nhớp nhơ. Phải vạch mặt, mổ xẻ lớp da này ra, giải phẫu lớp da này ra, mở ra nhìn sâu vào trong để thấy tính chất bất tịnh, vô thường, phóng ga ào ào trên đường không làm chủ tốc độ tông vào xe khác hoặc cột điện là nát tan thân thể cho nên thân này là vô ngã, trống rỗng, trống không.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.