Kinh BHADDIYA 2 - Tăng Chi Bộ II - Chân Nhân Tịch Tĩnh
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
CHÂN NHÂN TỊCH TĨNH!
(KINH BHADDIYA 2 - TĂNG CHI BỘ II)
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí hôm nay chúng ta tiếp tục chương trình tinh hoa thánh điển Nikāya phần tiếp theo trích trong bài kinh Bhaddiya, Tăng Chi Bộ, tập II.
"Này Bhaddiya, tất cả những bậc Chân nhân tịch tịnh ở đời, khích lệ đệ tử như sau: 'Hãy đến, này bạn! hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham! Do sống nhiếp phục tham, bạn sẽ không làm nghiệp do tham sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục sân! Hãy nhiếp phục sân! Do sống nhiếp phục sân, bạn sẽ không làm nghiệp do sân sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục si! Hãy nhiếp phục si! Do sống nhiếp phục si, bạn sẽ không làm nghiệp do si sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục hung bạo! Hãy nhiếp phục hung bạo! Do sống nhiếp phục hung bạo, bạn sẽ không làm nghiệp do hung bạo sanh, về thân, về lời, về ý!'." (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XX. Ðại Phẩm, (III). Bhaddiya)
Tất cả những bậc chân nhân tịch tịnh ở đời là chỉ cho các Đức Thế Tôn, Đức Phật có nhiều cái tên và mỗi một cái tên gọi là biểu đức, là biểu hiện một cái đức hạnh. Ở đây dùng cái từ là các bậc chân nhân tịch tịnh là chỉ cho các Đức Phật và các bậc A-la-hán, trên đây là bốn cái pháp bất thiện, bốn cái pháp ác, bốn cái pháp tội lỗi, bốn cái pháp tai họa, bốn cái pháp đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho chúng sanh là tham, sân, si, hung bạo là hung dữ. Bốn pháp này sẽ làm cho chúng sanh bất hạnh và đau khổ dài lâu, người tu là người luôn luôn quay trở về để cảm nhận cái cảm giác toàn thân của mình mà trước khi vào cái bài pháp con đã chia sẻ và hướng dẫn cho chúng ta.
Ở đây con giải thích một chút để chúng ta hiểu cái chữ bậc chân nhân tịch tịnh, chữ "chân nhân" ở đây là chỉ cho các bậc thánh hiền nhưng tại sao gọi là chân nhân? Chân nhân là người thật, đối lại với người thật là người giả và chúng ta có gặp người giả nhiều không? Thế nào là người giả? Là trước mặt vậy mà sau lưng họ khác, cái miệng họ nói vầy nhưng mà trong bụng họ nghĩ khác, đó gọi là người giả, còn bậc chân nhân là tâm sao thì miệng như vậy, trước mặt sao thì sau lưng như vậy, nhất như, như nhất, như một. Bây giờ muốn làm chân nhân hay muốn làm giả nhân? Muốn làm người thật hay làm người dỏm mà cái người dỏm, cái người giả là cái người rất nhiều khả năng rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh vì người không có thành thật, không có chân thật, không có ngay thẳng.
Người này là một cái tâm quanh co trườn uốn như con lươn, như con rắn vậy đó, khi một người sống với một cái tâm quanh co, xảo trá, ngụy biện cộng với một cái tâm sân hận ác độc thì người này sanh làm loài rắn độc. Cho nên ở trong kinh Nikāya có bốn đức hạnh thánh hiền thì cái hạnh rất quan trọng là trực hạnh là cái tâm chánh trực, ngay thẳng, thành thật, chân thật, chân thành, chân chánh, thật thà, không phải cái miệng nói một đàng mà cái tâm nghĩ một ngã, trước mặt thì như vậy mà sau lưng thì khác. Chỗ này là chỗ rất quan trọng và đây cũng là yếu tố quyết định để mình có thể nhập vào dòng pháp Nikāya hay không, để mình có thật sự là người con Phật chân chánh hay không thì nó quyết định là một cái người chân thành, chân thật, thành thật, chỗ này là chỗ rất quan trọng.
Mình có nói thật không, khi mình nhìn nhận về mình thì mình có nhìn nhận một cách trung thực không hay có khi nhìn một cách méo mó, mình có sai, có lỗi đó mình đang sân giận mà người ta nói "sao chị giận vậy?" thì trả lời "tôi đâu có giận, tôi không có giận", có không? Tham rõ ràng mà người ta nói có tham thì nói "tôi đâu có tham", thấy chưa? Đây là người giả, lời nói không có thành thật, có giận thì nói có giận, có sai lập tức là nói con có sai, con có trật. Khi mình nói mình có sai, có trật như vậy thì mình thấy cái lỗi sai rồi mình sửa lỗi, mà sửa lỗi thì bớt lỗi, bớt lỗi thì đi đến chỗ giảm lỗi, hết lỗi rồi mình trở thành toàn thiện, hoàn thiện, thánh thiện, chịu không? Còn cái này mình nói "tôi không có sai, tôi đâu có sai đâu, bà kia sai chứ không phải tôi sai", "tại cái cô kia kìa chứ tôi không có sai" như vậy thì cái tâm này là cái tâm xảo trá, vừa nói dối mà cái tâm không thành thật. Cái này gọi là người giả, người dỏm, không phải là người thật, không phải là chân nhân.
Mình tập cái an tịnh, lắng dịu và trầm lặng, tập cái này rất lợi ích, rất quý báu, chúng ta thấy tai nạn giao thông phần lớn là do muốn chạy mau, chạy nhanh, chạy lẹ, thúc giục rồi xảy ra tai nạn. Sở dĩ mình vấp ngã là do đi trong cái thúc giục, nếu mỗi bước chân mình đi mà có tỉnh giác, có sự an tịnh, lắng dịu thì mình sẽ ít bị trật chân, bị té ngã. Tại sao mình nói lỡ lời? Do khi nói với tâm dao động, nói trong sự thúc giục, nói trong cái tâm loạn chứ không phải tâm tỉnh. Khi vào bếp là rớt tô, bể chén, đó là làm trong cái tâm loạn, không phải tâm an tịnh, lắng dịu như vậy thì bốn chữ an tịnh, lắng dịu hay là tịch tịnh là một cái pháp hành rất là quan trọng, đó cũng chính là thiền, đó cũng chính là Tứ Niệm Xứ và đó cũng chính là chỉ quán.
Khi nói, khi đi, khi làm việc, khi lái xe, mọi thứ sinh hoạt mình tập an tịnh, lắng dịu, tịch tịnh, lặng lẽ, trầm mặc, đây là một cái đức Tánh của thánh hiền. Thí dụ cha mẹ hay chồng con, anh chị em gì đó đang nóng giận, cái tâm họ đang bực bội, sân hận thì lúc đó mình tập sự an tịnh, lắng dịu, trầm tĩnh, mình không có trả đũa lại thì lúc đó quý vị thấy mình có nói ra những lời gì đáng tiếc không? Sau này mình có hối hận không? Mình có thể giúp được cho người kia từ từ lắng dịu lại, nếu như cái lửa mà nó cứ phựt lên hoài, đổ thêm dầu, đổ thêm xăng vô, mình thêm củi vô thì nó cháy lên thêm. Nếu như mình giữ một cái tâm an tĩnh, tịch tịnh thì chẳng những giúp mình, mình còn giúp cho người, đó là tự lợi lợi tha, không phải làm cái gì nhiều hết, chỉ là an tịnh, lắng dịu, tuyệt vời không?
Cái gì mình cũng tưởng tượng ra một cái gì nó to lớn lắm nhưng mà không có, cái sự tu nó hết sức là đơn giản, chồng mình đang bực bội, sân hận mình chỉ an tịnh, lắng dịu thôi. Như vậy là mình vừa lại mình vừa lợi người, mình vừa tự lợi vừa lợi tha, vừa giúp mình vừa giúp người, chỉ cần cái an tịnh, lắng dịu thôi, tuyệt diệu không? Giờ sư tỷ mình đang khó chịu, đang sân, mình là sư muội cứ an tịnh, lắng dịu thôi thì tự động một hồi sư tỷ nhìn lại "sao mình sân dữ vậy nè? Sao mình tu mà mình còn nóng dữ vậy nè?". Mình thấy xấu hổ phải không, tự nhiên bên kia sân, bên đây cũng quạo lên rồi cuối cùng hai bên hư chuyện hết, từ trong chùa cho đến ở ngoài chợ, ở ngoài phố cho đến ở trong nhà, gia đình, sự an tịnh, lắng dịu và tịch tịnh này rất quan trọng, cực kỳ quan trọng. Hãy tập đi nhẹ, nói khẽ, làm trong sự tĩnh lặng mà cái người kia càng động thì bên đây mình phải càng tịnh gọi là dĩ tĩnh chế động. Người ta càng động mà mình càng động lên thì động với động nó thành ra loạn, nếu như người kia động mà bên đây mình tĩnh thì dùng cái từ dĩ tĩnh chế động là mình dùng cái yên tịnh đó để làm cho cái động bên kia lắng dịu xuống, nó bị chế ngự bằng sức mạnh của sự yên lặng, im lặng là sức mạnh cho nên thiền định còn gọi là sự im lặng của bậc thánh.
Hãy tập im lặng, hãy tập yên lặng, hãy tập yên lặng, lợi ích lớn lao lắm, bất ngờ lắm, có khi im lặng không cần giải quyết mà cái việc cực kỳ khó khăn được giải quyết trong cái yên lặng. Cái này có trải nghiệm chư các vị hiền trí? Chỉ im lặng thôi mà vượt qua tai nạn, chỉ im lặng thôi mà vượt qua được những cái chông gai, chỉ im lặng thôi mà có thể đi qua dầu sôi lửa bỏng, chỉ im lặng thôi mà có thể là bình an ở trong cái sóng gió, bão bùng. Hãy tập sự an tịnh, lắng dịu, yên lặng và tịch tịnh, các bậc thánh gọi là những bậc chân nhân tịch tịnh ở đời, bốn chữ này thôi cho chúng ta bài học lớn lắm, là một pháp hành, là một cách tu, là một nghệ thuật sống, là một phương pháp sống, là một lẽ sống, là một lối sống, là một đạo sống.
Nhiều khi mình động cái tâm mình lên, mình càng làm thì nó càng hư, càng nói thì nó càng rối, càng muốn giải quyết thì nó lại càng bề bộn ra thêm mà có khi mình chỉ cần yên lặng thôi, tịch tịnh thôi, lắng dịu thôi thì tự động một cái nó sáng lên là mình biết được nên làm cái gì cho nên hãy tập sự im lặng của bậc thánh. Quý vị thấy cái máy bay khi bay tốc độ cao lên trên rồi mình thấy giống như nó đứng chỗ vậy đó, thấy im ru à nhưng khi nó mới cất cánh thì mình thấy ầm ầm dữ lắm, đến khi nó lên cái độ cao bay xa, bay nhanh thì lúc đó nó mới yên lặng cho nên càng tĩnh thì lại nó càng có một cái sức mạnh, càng tĩnh thì nó càng vươn xa, vượt xa vì thế rất cần sự tỉnh lặng.
Quý vị thấy Đức Thế Tôn của chúng ta do cái gì mà được thành đạo? Do động hay là do tĩnh? Do thiền phải không? Cho nên chân nhân tịch tịnh, người không có tịch tịnh thì chưa phải chân nhân mà người chân nhân là người tịch tịnh. Vì mình không có thấu hiểu được ngũ uẩn, mình không có thấu hiểu được tứ đại, mình không có thấu hiểu được tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, vì mình không có thấu hiểu được cái đống khổ to lớn ở nơi cái thân xác này, nơi cái cuộc đời này cho nên mỗi chuyện gì đến với mình cũng làm cho đại sự ra, mình làm cho dữ dằn lên, còn nếu mà những người đã thấu hiểu rồi thì có gì đâu, nó là vậy mà, có gì đâu, nhẹ nhàng, điềm tĩnh, tịch tịnh, bình tĩnh, trầm tĩnh, yên tĩnh.
Nhiều khi cha mẹ hay là chồng con, vợ mình hay anh chị em mình làm dữ dằn cái vấn đề đó lên thì mình cứ hít thở, trở về cảm giác toàn thân lắng nghe bên trong của mình, làm cho cái cảm thọ của mình an tịnh, lắng dịu, nó tịch tịnh rồi mình quán sát coi cái ngũ uẩn của người đó vận hành như thế nào, đến khi người đó lắng dịu xuống rồi đó thì lúc đó mình cũng đã thấy rõ được cái vấn đề họ muốn cái gì rồi, họ đang bị cái gì nó xâm chiếm, nó áp đảo, tham hay là sân, hay là si, hay là vô minh, hay là bản ngã, hay là dục thì lúc đó mình chỉ cần nói nhẹ thôi thì mình có thể giúp được người ta. Gọi là linh đơn cửu chuyển, điểm sắt thành vàng, chí lý nhất ngôn, chuyển phàm thành thánh, cái thuốc linh đơn ở bên nhà tiên người ta luyện chín lần (cửu chuyển), cái người thành tiên rồi chỉ sắt thì hóa vàng, chí lý một lời chuyển phàm thành thánh.
Không cần nói nhiều, "quý hồ tinh bất quý hồ đa" nghĩa là chỉ có tinh nhuệ, tinh thông, tinh ba mới đáng trân quý chứ không phải có nhiều là đáng quý. Một đống xà bần như cái núi với một viên kim cương mình chọn cái nào? Cũng vậy, một người chân nhân tịch tịnh, an tịnh, lắng dịu người ta không có dao động nhiều mà một khi người ta động thì lại là lợi ích, lợi đắc, có thể cảm hóa được người khác cho nên nói chí lý một lời thôi là chuyển phàm thành thánh. Mình hãy ứng dụng cái này vào trong gia đình, đừng có ham nói nhiều, đừng có ham tranh luận, đừng có ham cãi, đừng có ham đấu khẩu, khẩu tranh mà cứ để cho người ta thắng. Người đó muốn dành phần phải cứ để cho họ phải, cứ để cho họ thắng, cứ để cho họ hơn mình, cứ yên lặng, tĩnh lặng, khi họ nói xong hết rồi thì cần mình mới điểm nhẹ cái thôi là người ta tâm phục khẩu phục, chịu không?
Cho nên các bậc chân nhân tịch tịnh đặc biệt lắm, các ngài không có hao hơi tổn tiếng, các ngài không có phải nói, làm và nghĩ những cái chuyện phù phiếm, vô nghĩa, vô ích, vô giá trị, các ngài không cần. Khi các ngài động dụng lên một cái ý nghĩ thôi, một cái lời nói, một cái hành động là nhân thiên phổ lợi, không những người lợi ích mà trời còn được lợi ích, muốn được vậy thì phải có một cái tâm an tịnh, lắng dịu, một cái trí tuệ và mình học từ ở trong thánh điển Nikāya thánh trí tuệ. Sự im lặng của bậc thánh và cái trí tuệ thượng nhân cộng với cái giới đức, cái đạo đức, đạo hạnh của mình đó là ba cái pháp giới, định, tuệ tối thượng.
Tất cả các Đức Phật đều dạy hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham, nhưng quý vị chưa học nhận diện ngũ uẩn, chưa có quán chiếu được cảm thọ thì quý vị cũng nghe cái câu này nhưng mà nó không có si nhê gì hết. Quý vị không có nhìn thấy được ngũ uẩn cho nên quý vị sẽ không có vạch được cái mặt của tham, sân, si, ở ngoài đời ta có cái câu "bắt tận tay day tận trán". Khi mình nhận diện ngũ uẩn thì mình mới vạch trần được bộ mặt thực sự của tham, sân, si trú trong cảm thọ, còn mình không có nhìn thấy ngũ uẩn, chưa học nhận diện ngũ uẩn thì mình chỉ đứng ở ngoài cửa rồi tưởng tượng ở phía trong này, mình chưa có chìa khóa để mở cửa, chưa bước vào căn nhà nội tâm của mình cho nên mình thấy cái chữ tham, sân, si nhẹ tênh à.
Khi mình học ngũ uẩn rồi, mình nhận diện ngũ uẩn rồi, mình quán chiếu cảm thọ rồi thì mình nghe cái chữ tham là nổi da gà, mình sởn gai óc hết trơn, ớn quá, một chữ này thôi là nó nhận chìm tam giới, lục đạo, tứ sanh, cửu hữu, một chữ này thôi là chìm đắm hết. Con có chia sẻ một loạt bài là "Cảm Giác Nhận Chìm Thế Giới" quý vị về nghe cái loạt bài đó, một chữ tham đó thôi là mười ngàn thế giới bị nhận chìm, tam thiên đại thiên thế giới này bị trôi dạc ở trong cái cảm giác tham dục, tham ái, khủng khiếp lắm. Bây giờ mình tu là nhiếp phục tham, sống nhiếp phục tham.
Đức Phật dạy rất kỹ, Đức Phật nói lặp tới lặp lui, hãy nhiếp phục tham là đủ rồi, hãy sống nhiếp phục tham là cả một cái đời sống của mình là để nhiếp phục cái tham thì đó là gọi là đời tu, đó là người tu, đó là chân tu. Hãy nhiếp phục tham chưa đủ, hãy sống nhiếp phục tham tại vì nhiếp phục tham ngay bây giờ thôi hồi ra không nhiếp phục tham sao, ngày mai không nhiếp phục tham cho nên giờ hãy sống nhiếp phục tham là cả một đời sống của mình, cả một cuộc đời của mình hãy luôn luôn để ý nhiếp phục và chế ngự, kiềm chế lại, có một cái phanh dừng lại những cái ham muốn. Khi sống nhiếp phục tham thì bạn sẽ không tạo nghiệp thân, miệng, ý do tham nó dẫn dắt, nó điều khiển, cả năm giới của chúng ta con thưa quý vị chỉ có là cái tâm tham thôi.
Tại sao mình sát sanh? Do tham ăn, phải không? Hay là tham tiền, phải không? Hay là tham tình? Đủ thứ tham hết, nói dễ nhất là tham ăn. Tại sao mình trộm cắp? Do tham tiền. Tại sao mình tà dâm? Do tham dục. Tại sao mình nói láo? Đó là cũng tham để mình đạt được cái gì mình muốn. Tại sao mình uống rượu say sưa, nghiện ngập rồi xì ke, ma túy, những chất nghiện ngập tham hưởng thụ. Bát quan trai giới, thập thiện giới cho đến Sa-di mười giới, cho đến Tỳ-kheo bao nhiêu trăm giới cũng đều không ra khỏi cái chữ nhiếp phục tham, thiền định cũng là để chế ngự tham và thánh trí tuệ là đoạn tận tham. Giới là nhiếp phục, thiền định là chế ngự và thánh trí tuệ là đoạn tận tham.
Nhiều khi con nói câu đơn giản, bình dân tham nhiều thì khổ nhiều, tham vừa thì khổ vừa, tham ít thì khổ ít mà không tham thì hết khổ. như vậy toàn bộ sự tu hành của mình là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham thôi, quý vị thấy pháp Phật đâu có nhiều, nếu mình hành trì nó không có nhiều. Ham ăn tạo nghiệp sát sanh, tham tài sản tạo nghiệp trộm cắp, nói dối để lừa gạt người ta, tham ái dục, dâm dục tạo nghiệp tà dâm, tham hưởng thụ những cảm giác thì đi vào trong cái con đường nghiện ngập, say sưa rượu chè rồi suy sụp cả một cuộc đời luôn, hư thân, hư cả cuộc đời luôn. Như vậy hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham, quý vị rảnh bất cứ cái chỗ nào hãy niệm cái câu này, câu này là tối thượng thần chú, đó là thánh pháp ấn.
Thí dụ bây giờ cái bụng no rồi nhưng nhìn món ngon quá nó muốn ăn thì niệm lên cái câu "hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham. Thọ ơi là thọ", Khi nhiếp phục tham rồi về ngủ khỏe re, còn mình ráng ăn vô hồi về uống thuốc tiêu mà nó không tiêu thì có khổ không? Nó hành hạ sáng đêm rồi ngày mai, ngày mốt rồi cả tuần lễ phải đi bác sĩ nữa là cũng do cái tham an, nó rõ như mặt trời, mọi người có thấy chưa? Bệnh là từ đâu? Là từ cái miệng đi vào cho nên Đức Phật dạy cho nhà vua Ba-tư-nặc bài kệ giảm bớt ăn, mỗi lần bữa ngài cho người hầu đọc cái bài kệ đó lên, nhờ vậy mà nhà vua khỏe mạnh trường thọ, nhà vua đến đảnh lễ cảm ơn Đức Phật, nhờ Đức Phật thương con ngay trong đời hiện tại và nhiều đời sau, mỗi lần ông cận thần đọc bài kệ lên nhà vua cho trăm đồng tiền vàng. Tại vì đồ ăn ngon quá mà ăn vô thì bệnh nên nhờ đọc cái bài kệ Đức Phật dạy mới giảm ăn thì giảm bệnh.
"Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala thường ăn bữa ăn thịnh soạn.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala sau khi ăn xong, no đủ, thỏa thích, đi đến Thế Tôn sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Rồi Thế Tôn sau khi biết vua Pasenadi nước Kosala đã ăn xong, no đủ, thỏa thích, ngay lúc ấy nói lên bài kệ:
Con người thường chánh niệm,
Ðược ăn, biết phải chăng,
Chừng mực, cảm thọ mạnh,
Già chậm, tuổi thọ dài.
Lúc bấy giờ, thanh niên Bà-la-môn Sudassana đứng sau lưng vua Pasenadi nước Kosala.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala gọi thanh niên Sudassana:
-- Này Bạn, hãy đi đến và học thuộc lòng bài kệ từ Thế Tôn và trong khi dọn ăn cho ta, hãy đọc lên bài kệ ấy. Ta sẽ cấp thường nhật cho ông một trăm đồng tiền vàng.
-- Thưa vâng, Ðại vương.
Thanh niên Sudassana vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, học thuộc lòng bài kệ này từ Thế Tôn, và trong khi dọn cơm cho vua Pasenadi nước Kosala, đọc lên bài kệ này:
'Con người thường chánh niệm,
Ðược ăn, biết phải chăng,
Chừng mực, cảm thọ mạnh,
Già chậm, tuổi thọ dài.'
Rồi vua Pasenadi nước Kosala tuần tự hạn chế, cho đến chỉ ăn nhiều nhất là một nàlika.
Vua Pasenadi sau một thời gian, thân thể được khỏe mạnh, tự tay thoa bóp chân tay và nói lên lời cảm hứng sau đây: 'Ôi, thật sự Thế Tôn đã thương tưởng nghĩ đến lợi ích cho ta, cả hai đời hiện tại và vị lai!'." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, III. Đại Thực: Ăn nhiều)
Nhờ cái bài kệ đó mà làm nhà vua khỏe mạnh, sống lâu và ông đi đến lạy dưới chân Đức phật, cảm ơn Đức Thế Tôn, Thế Tôn thương con chẳng những trong hiện tại mà thương tới vị lai, chẳng những về vật chất, về thể xác mà còn thương con về tâm thức, về trí tuệ cho nên nhờ vậy thân con được khỏe mạnh, tâm con được minh mẫn, trí con được sáng suốt. Nhà vua lạy cảm ơn Đức Phật mà lúc đó nhà vua tám mươi tuổi và Đức Phật cũng tám mươi tuổi, nhà vua đem cái đầu của ngài lạy xuống dưới chân rồi hôn bàn chân của Đức Phật. Chúng ta thấy chỉ nhiếp phục cái lòng tham này là mình sống có hạnh phúc lắm, gia đình mình đâu phải thiếu đâu, cũng hai ba tầng lầu nhưng mà không đủ, muốn kiếm thêm mấy cái nhà nữa, giả sử có thêm mấy cái nữa đi rồi có đủ không?
Người giàu nhất hành tinh này có thấy đủ chưa? Vậy ai mới đủ? Đức Phật và các bậc A-la-hán là đầy đủ viên mãn, không còn ham muốn nữa cho nên các ngài hạnh phúc tối thượng. Vì thế cái hạnh phúc không phải là cái được thêm mà cái hạnh phúc là nhiếp phục được cái lòng tham, chúng ta thấy được cái chìa khóa chưa? Thấy được bí quyết hạnh phúc chưa? Nhiếp phục được cái lòng tham, chế ngự được lòng tham và diệt tận diệt sạch cái lòng tham thì người đó đạt được hạnh phúc tối thượng của Niết-bàn. Hãy sống với tâm hiền lành, hiền từ, hiền lương, hiền hòa, hiền hậu, hiền nhân, hiền đức, hiền trí để mình theo các bậc hiền thánh.
Cái tâm si vô minh này nó ghê gớm lắm, tham mình cũng thấy được mà sân mình rất dễ thấy, sân là dễ thấy nhất, nổi nóng, nổi cáu lên, phẫn nộ lên là ai cũng thấy hết rồi cái tham thì để ý mình cũng thấy nữa, tham về người, về đồ vật hay là tham cái gì đó thì nó lưu luyến, nó bịn rịn mình cũng thấy rõ. Nhưng mà cái si làm sao để thấy? Si là khó thấy mà cái si này mới là cái gốc của tham sân. Si là sao? Là một cái tâm lờ mờ, cái tâm lơ mơ, cái tâm mờ mờ, cái tâm bị sương mù, não không có tỉnh táo, nó không có tỉnh giác, nó không có tỉnh thức, nó trơ trơ, nó không thấy khổ đau, cái thân nó đang bệnh, đang khổ, đang đủ thứ những cái phiền não mà nó không thấy khổ, nó muốn giành giật, nó hơn thua, nó đấu đá, nó cạnh tranh. Đó là cái tâm si ám, nó không ý thức được sự khổ đang hiện hữu ở trong thân tâm, trong bản thân.
Chẳng hạn như bây giờ đã nghèo rồi mà còn đi đánh lộn với nhau cho u đầu sứt trán. Mình nhớ cái thời kỳ dịch bệnh không? Đi vô ở trong cái chỗ cách ly còn đánh lộn trong đó nữa, quá si mê, không ý thức được khổ, không ý thức được bệnh, cũng vậy cái tâm của mình là cái tâm si rất nặng, cái vô minh này nó trùm chiếm rất là nhiều mà thường thường trong một ngày mình sống rất nhiều với cái tâm si này. Lúc đó mình không có tỉnh giác chánh niệm, mình không có cảm giác toàn thân, mình không có thấy được cái sự biến đổi của ngũ uẩn, sự vận hành của các cảm thọ, mình không có thấy được những cái cảm giác bản ngã, hơn thua của mình, sự sanh diệt của ngũ uẩn, mình không thấy sự đổi thay, sự vô thường, sự biến hoại, sự biến động của sắc uẩn này, mình không nhìn thấy sự đổi dời. Chẳng hạn như mình nghe tin tức của ai đó bị tai nạn giao thông cái mình thấy tội nghiệp người đó rồi thôi chứ mình không lấy cái đó quay ngược lại mình, soi chiếu lại mình rồi mình không khéo, mình không chánh niệm mình, không cẩn thận khi chạy xe, hở chút là rồ ga, hở chút là phóng nhanh thì mình cũng có thể bị như vậy.
Khi mình có quán chiếu được cái điều đó thì mình có giảm bớt đi không? Cái nào chánh đáng mình mới đi và đi cẩn thận cho nên i sự tu tập mà chúng ta mà phá được cái tâm si này rất là tốt, muốn phá tâm si này thì có hai cái cảm thọ để nó phá là hỷ và ưu. Mình làm cho mình vui lên trong sự tu học, trong sự làm công quả, trong sự nghe pháp, trong sự ngồi thiền, mình ngồi yên mà mình vui, không có tham gì hết vui quá, ngồi cười thôi, ngồi thấy nhẹ, không có tham ngồi nhẹ nhàng, mình vui vì không có giận ai hết nên thấy khỏe, khinh an, an lạc, vui vì không muốn giành giật, tranh đua với ai cho ngồi cười mình thôi, mình ngắm trời, ngắm mây, ngắm cây, ngắm cỏ thưởng thức vầng trăng, trăng vàng gió mát rồi mình nhìn hoa đồng cỏ dại cũng thấy vui nữa, thấy nhẹ nhàng.
Cái tâm mình bình an như vậy thì mình tập khởi lên hai cái cảm thọ hỷ và ưu để mình phá cảm thọ si, mình hoan hỉ với thiện pháp, mình hân hoan với cái sự hành trì. Thí dụ như mọi người đi ăn tiệc nhà hàng có nhiều món ngon, những món thịt này thịt nọ mà mình ngồi đây không ăn những cái đó, mình ăn chay đơn giản thì mình thấy mình vui vì tránh được cái nghiệp sát sanh, mình không có tạo thêm nghiệp, mình có đời sống thiện lành, mình ngồi mình ăn chay giữ giới được mà mình vui. Mình làm cho mình vui lên, mình hoan hỉ lên, ngược lại nghĩ rằng người ta đi tiệc ăn mới ngon chứ mình đây không có gì ngon hết thì như vậy mình không có biết tác ý.
Thí dụ người ta đang gây gỗ, đang nói chuyện thị phi đằng kia mà mình ngồi bên đây tĩnh lặng, mình thở vô thở ra an tịnh, lắng dịu, tịch tĩnh, tâm từ bi mình trải rộng khắp hết thì thấy vui không? Hạnh phúc không? Tuyệt dịu không? Còn mình không biết tác ý thì mình ngồi bực người kia "tại sao tôi đang ngồi thiền mà cứ lại la hối hoài vậy?", mình sân lên còn nếu mình biết tác ý á thì trong cái lúc người ta rối rắm, động loạn, rộn ràng thì mình lại được tịch tịnh, tâm từ lan tỏa, mình thương cái người đó, tội nghiệp người ta không biết tu mà mình thương chứ tại sao mình lại giận. Như vậy đó mình biết tác ý thì mình phá được cái tâm si còn không mình ngồi đó ngủ gục, người ta đạt sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền rồi hỏi"
Cô đạt tới thiền thứ mấy?
Dạ, con đạt tới ngủ thiền.
Có biết ngủ thiền không? Vô thiền là ngủ cho nên mình có biết tác ý hai cái cảm thọ hỷ và ưu mừng vui và mình lo lắng, già tới nơi rồi, bệnh tới nơi rồi, chết tới nơi rồi, động đất nè, sống thần nè rồi hạn hán nè, rồi dịch bệnh, rồi chiến tranh nè, thiên tai, thủy họa, nhân họa, rồi bao nhiêu những cái ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm thức ăn, ô nhiễm tâm thức, bây giờ mình lẹ lẹ lên để mình đi chứ, nhất trí không? Khi quán như vậy thì mình có một cái sự lo lắng thì cái tâm mình nó mạnh mẽ lên, nó tinh tấn lên, nó tinh cần lên, nó dõng mãnh lên tu tập thì nó phá được cái si, còn không mình ngồi không có nhớ gì hết, cái chuyện của Đài Loan động đất chứ mình đâu có động, của bên kia nó chiến tranh chứ mình đâu có chiến tranh. Mình không có khéo tác ý thì mình sống trong cái tâm trơ trơ, cái tâm vô cảm, cái tâm si mê, cái tâm vô minh, cái tâm dại khờ mà cái tâm này phải để ý thật kỹ để phá nó cho nên hãy nhiếp phục si, hãy sống nhiếp phục si, do sống nhiếp phục si bạn sẽ không làm nghiệp do si sanh ra về thân, về lời, về ý.
Cái này rất quan trọng, cuối cùng là hãy nhiếp phục hung bạo, hãy sống nhiếp phục hung bạo, cái này rất quan trọng, tu tâm hiền. Bước chân của mình đi, mình dẫn chiếc xe mình chạy, mình nói cái lời nói, hay là mình ăn cái thức ăn, hay mình cư xử với mọi người bằng một cái tâm hết sức là dễ thương, cái tâm hòa kính, cái tâm hòa vui, cái tâm hòa ái, cái tâm hòa đồng theo lục hòa kính, mình không có chống đối, nhiều khi chồng mới nói một câu mình cãi liền thì cái tâm này không có hiền, tâm này là cái tâm dữ mà cái tâm dữ thì nhà có chuyện hoài, lục đục hoài, gây gỗ hoài, thậm chí vô chùa cũng cãi nữa tại không có tu tâm hiền. Cho nên mình tập cái tâm hiền mọi lúc, mọi nơi, mọi trường hợp, người đó dữ mà mình đem cái dữ lại thì như vậy có cái gì đâu, phải tu ngay cả cái người dữ mà mình đối xử với họ hiền. Cái người đó không có dễ thương chút nào mà mình vẫn dễ thương với họ, đây là đặc tính của đệ tử Phật và nét đẹp của người tu.
Nét đẹp của người tu không phải là môi son má phấn, vàng đeo đầy mình, mà cái nét đẹp người tu là một cái tâm hiền hòa, hiền hậu, hiền nhân, hiền lương, hiền đức, hiền từ, hiền trí. Đây là cái nét đẹp cao thượng của một người tu trong tất cả mọi trường hợp, tất cả mọi hoàn cảnh mà nhất là ở trong gia đình của mình, những người sống chung với mình, mình phải trải được cái tâm hiền này với họ, làm cho họ cảm nhận được, họ cảm động rồi họ cảm hóa mà trước hết là mình phải được tu tập và thành tựu được cái tâm này. Có rất nhiều bài tâm hiền con đã đưa lên cái pháp hành, chúng ta về mở lên nghe thật kỹ trong đó, hàng nhiều chục bài, có thể mười mấy hai chục bài. Ngài Xá-lợi-phất dạy mình tu tập an trú cái tâm hiền là chín cái phương pháp an trú tâm, quán tâm, mình để ý mình tu thì như vậy quý vị thấy Đức Phật dạy hết sức là thiết thực, hết sức là cụ thể, hết sức là rõ ràng.
Như vậy thì trọng yếu của sự tu nãy giờ Đức Phật dạy trong kinh này là nhiếp phục gì tâm tham, nhiếp phục tâm sân, nhiếp phục tâm si, nhiếp phục tâm hung bạo, sống ly tham, bớt tham, sống với cái tâm từ, tâm thương, sống với một cái tâm chánh niệm tỉnh giác, trí tuệ và sống một cái tâm hiền hòa, nhân hậu. Đó là cái bí quyết, đó là con đường, là cách thức, là nghệ thuật sống, là phương pháp sống, là lẽ sống của người Phật tử. Kính chúc quý vị có được một con đường thật là tuyệt vời.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.
CHÂN NHÂN TỊCH TĨNH!
(KINH BHADDIYA 2 - TĂNG CHI BỘ II)
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí hôm nay chúng ta tiếp tục chương trình tinh hoa thánh điển Nikāya phần tiếp theo trích trong bài kinh Bhaddiya, Tăng Chi Bộ, tập II.
"Này Bhaddiya, tất cả những bậc Chân nhân tịch tịnh ở đời, khích lệ đệ tử như sau: 'Hãy đến, này bạn! hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham! Do sống nhiếp phục tham, bạn sẽ không làm nghiệp do tham sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục sân! Hãy nhiếp phục sân! Do sống nhiếp phục sân, bạn sẽ không làm nghiệp do sân sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục si! Hãy nhiếp phục si! Do sống nhiếp phục si, bạn sẽ không làm nghiệp do si sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục hung bạo! Hãy nhiếp phục hung bạo! Do sống nhiếp phục hung bạo, bạn sẽ không làm nghiệp do hung bạo sanh, về thân, về lời, về ý!'." (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XX. Ðại Phẩm, (III). Bhaddiya)
Tất cả những bậc chân nhân tịch tịnh ở đời là chỉ cho các Đức Thế Tôn, Đức Phật có nhiều cái tên và mỗi một cái tên gọi là biểu đức, là biểu hiện một cái đức hạnh. Ở đây dùng cái từ là các bậc chân nhân tịch tịnh là chỉ cho các Đức Phật và các bậc A-la-hán, trên đây là bốn cái pháp bất thiện, bốn cái pháp ác, bốn cái pháp tội lỗi, bốn cái pháp tai họa, bốn cái pháp đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho chúng sanh là tham, sân, si, hung bạo là hung dữ. Bốn pháp này sẽ làm cho chúng sanh bất hạnh và đau khổ dài lâu, người tu là người luôn luôn quay trở về để cảm nhận cái cảm giác toàn thân của mình mà trước khi vào cái bài pháp con đã chia sẻ và hướng dẫn cho chúng ta.
Ở đây con giải thích một chút để chúng ta hiểu cái chữ bậc chân nhân tịch tịnh, chữ "chân nhân" ở đây là chỉ cho các bậc thánh hiền nhưng tại sao gọi là chân nhân? Chân nhân là người thật, đối lại với người thật là người giả và chúng ta có gặp người giả nhiều không? Thế nào là người giả? Là trước mặt vậy mà sau lưng họ khác, cái miệng họ nói vầy nhưng mà trong bụng họ nghĩ khác, đó gọi là người giả, còn bậc chân nhân là tâm sao thì miệng như vậy, trước mặt sao thì sau lưng như vậy, nhất như, như nhất, như một. Bây giờ muốn làm chân nhân hay muốn làm giả nhân? Muốn làm người thật hay làm người dỏm mà cái người dỏm, cái người giả là cái người rất nhiều khả năng rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh vì người không có thành thật, không có chân thật, không có ngay thẳng.
Người này là một cái tâm quanh co trườn uốn như con lươn, như con rắn vậy đó, khi một người sống với một cái tâm quanh co, xảo trá, ngụy biện cộng với một cái tâm sân hận ác độc thì người này sanh làm loài rắn độc. Cho nên ở trong kinh Nikāya có bốn đức hạnh thánh hiền thì cái hạnh rất quan trọng là trực hạnh là cái tâm chánh trực, ngay thẳng, thành thật, chân thật, chân thành, chân chánh, thật thà, không phải cái miệng nói một đàng mà cái tâm nghĩ một ngã, trước mặt thì như vậy mà sau lưng thì khác. Chỗ này là chỗ rất quan trọng và đây cũng là yếu tố quyết định để mình có thể nhập vào dòng pháp Nikāya hay không, để mình có thật sự là người con Phật chân chánh hay không thì nó quyết định là một cái người chân thành, chân thật, thành thật, chỗ này là chỗ rất quan trọng.
Mình có nói thật không, khi mình nhìn nhận về mình thì mình có nhìn nhận một cách trung thực không hay có khi nhìn một cách méo mó, mình có sai, có lỗi đó mình đang sân giận mà người ta nói "sao chị giận vậy?" thì trả lời "tôi đâu có giận, tôi không có giận", có không? Tham rõ ràng mà người ta nói có tham thì nói "tôi đâu có tham", thấy chưa? Đây là người giả, lời nói không có thành thật, có giận thì nói có giận, có sai lập tức là nói con có sai, con có trật. Khi mình nói mình có sai, có trật như vậy thì mình thấy cái lỗi sai rồi mình sửa lỗi, mà sửa lỗi thì bớt lỗi, bớt lỗi thì đi đến chỗ giảm lỗi, hết lỗi rồi mình trở thành toàn thiện, hoàn thiện, thánh thiện, chịu không? Còn cái này mình nói "tôi không có sai, tôi đâu có sai đâu, bà kia sai chứ không phải tôi sai", "tại cái cô kia kìa chứ tôi không có sai" như vậy thì cái tâm này là cái tâm xảo trá, vừa nói dối mà cái tâm không thành thật. Cái này gọi là người giả, người dỏm, không phải là người thật, không phải là chân nhân.
Mình tập cái an tịnh, lắng dịu và trầm lặng, tập cái này rất lợi ích, rất quý báu, chúng ta thấy tai nạn giao thông phần lớn là do muốn chạy mau, chạy nhanh, chạy lẹ, thúc giục rồi xảy ra tai nạn. Sở dĩ mình vấp ngã là do đi trong cái thúc giục, nếu mỗi bước chân mình đi mà có tỉnh giác, có sự an tịnh, lắng dịu thì mình sẽ ít bị trật chân, bị té ngã. Tại sao mình nói lỡ lời? Do khi nói với tâm dao động, nói trong sự thúc giục, nói trong cái tâm loạn chứ không phải tâm tỉnh. Khi vào bếp là rớt tô, bể chén, đó là làm trong cái tâm loạn, không phải tâm an tịnh, lắng dịu như vậy thì bốn chữ an tịnh, lắng dịu hay là tịch tịnh là một cái pháp hành rất là quan trọng, đó cũng chính là thiền, đó cũng chính là Tứ Niệm Xứ và đó cũng chính là chỉ quán.
Khi nói, khi đi, khi làm việc, khi lái xe, mọi thứ sinh hoạt mình tập an tịnh, lắng dịu, tịch tịnh, lặng lẽ, trầm mặc, đây là một cái đức Tánh của thánh hiền. Thí dụ cha mẹ hay chồng con, anh chị em gì đó đang nóng giận, cái tâm họ đang bực bội, sân hận thì lúc đó mình tập sự an tịnh, lắng dịu, trầm tĩnh, mình không có trả đũa lại thì lúc đó quý vị thấy mình có nói ra những lời gì đáng tiếc không? Sau này mình có hối hận không? Mình có thể giúp được cho người kia từ từ lắng dịu lại, nếu như cái lửa mà nó cứ phựt lên hoài, đổ thêm dầu, đổ thêm xăng vô, mình thêm củi vô thì nó cháy lên thêm. Nếu như mình giữ một cái tâm an tĩnh, tịch tịnh thì chẳng những giúp mình, mình còn giúp cho người, đó là tự lợi lợi tha, không phải làm cái gì nhiều hết, chỉ là an tịnh, lắng dịu, tuyệt vời không?
Cái gì mình cũng tưởng tượng ra một cái gì nó to lớn lắm nhưng mà không có, cái sự tu nó hết sức là đơn giản, chồng mình đang bực bội, sân hận mình chỉ an tịnh, lắng dịu thôi. Như vậy là mình vừa lại mình vừa lợi người, mình vừa tự lợi vừa lợi tha, vừa giúp mình vừa giúp người, chỉ cần cái an tịnh, lắng dịu thôi, tuyệt diệu không? Giờ sư tỷ mình đang khó chịu, đang sân, mình là sư muội cứ an tịnh, lắng dịu thôi thì tự động một hồi sư tỷ nhìn lại "sao mình sân dữ vậy nè? Sao mình tu mà mình còn nóng dữ vậy nè?". Mình thấy xấu hổ phải không, tự nhiên bên kia sân, bên đây cũng quạo lên rồi cuối cùng hai bên hư chuyện hết, từ trong chùa cho đến ở ngoài chợ, ở ngoài phố cho đến ở trong nhà, gia đình, sự an tịnh, lắng dịu và tịch tịnh này rất quan trọng, cực kỳ quan trọng. Hãy tập đi nhẹ, nói khẽ, làm trong sự tĩnh lặng mà cái người kia càng động thì bên đây mình phải càng tịnh gọi là dĩ tĩnh chế động. Người ta càng động mà mình càng động lên thì động với động nó thành ra loạn, nếu như người kia động mà bên đây mình tĩnh thì dùng cái từ dĩ tĩnh chế động là mình dùng cái yên tịnh đó để làm cho cái động bên kia lắng dịu xuống, nó bị chế ngự bằng sức mạnh của sự yên lặng, im lặng là sức mạnh cho nên thiền định còn gọi là sự im lặng của bậc thánh.
Hãy tập im lặng, hãy tập yên lặng, hãy tập yên lặng, lợi ích lớn lao lắm, bất ngờ lắm, có khi im lặng không cần giải quyết mà cái việc cực kỳ khó khăn được giải quyết trong cái yên lặng. Cái này có trải nghiệm chư các vị hiền trí? Chỉ im lặng thôi mà vượt qua tai nạn, chỉ im lặng thôi mà vượt qua được những cái chông gai, chỉ im lặng thôi mà có thể đi qua dầu sôi lửa bỏng, chỉ im lặng thôi mà có thể là bình an ở trong cái sóng gió, bão bùng. Hãy tập sự an tịnh, lắng dịu, yên lặng và tịch tịnh, các bậc thánh gọi là những bậc chân nhân tịch tịnh ở đời, bốn chữ này thôi cho chúng ta bài học lớn lắm, là một pháp hành, là một cách tu, là một nghệ thuật sống, là một phương pháp sống, là một lẽ sống, là một lối sống, là một đạo sống.
Nhiều khi mình động cái tâm mình lên, mình càng làm thì nó càng hư, càng nói thì nó càng rối, càng muốn giải quyết thì nó lại càng bề bộn ra thêm mà có khi mình chỉ cần yên lặng thôi, tịch tịnh thôi, lắng dịu thôi thì tự động một cái nó sáng lên là mình biết được nên làm cái gì cho nên hãy tập sự im lặng của bậc thánh. Quý vị thấy cái máy bay khi bay tốc độ cao lên trên rồi mình thấy giống như nó đứng chỗ vậy đó, thấy im ru à nhưng khi nó mới cất cánh thì mình thấy ầm ầm dữ lắm, đến khi nó lên cái độ cao bay xa, bay nhanh thì lúc đó nó mới yên lặng cho nên càng tĩnh thì lại nó càng có một cái sức mạnh, càng tĩnh thì nó càng vươn xa, vượt xa vì thế rất cần sự tỉnh lặng.
Quý vị thấy Đức Thế Tôn của chúng ta do cái gì mà được thành đạo? Do động hay là do tĩnh? Do thiền phải không? Cho nên chân nhân tịch tịnh, người không có tịch tịnh thì chưa phải chân nhân mà người chân nhân là người tịch tịnh. Vì mình không có thấu hiểu được ngũ uẩn, mình không có thấu hiểu được tứ đại, mình không có thấu hiểu được tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, vì mình không có thấu hiểu được cái đống khổ to lớn ở nơi cái thân xác này, nơi cái cuộc đời này cho nên mỗi chuyện gì đến với mình cũng làm cho đại sự ra, mình làm cho dữ dằn lên, còn nếu mà những người đã thấu hiểu rồi thì có gì đâu, nó là vậy mà, có gì đâu, nhẹ nhàng, điềm tĩnh, tịch tịnh, bình tĩnh, trầm tĩnh, yên tĩnh.
Nhiều khi cha mẹ hay là chồng con, vợ mình hay anh chị em mình làm dữ dằn cái vấn đề đó lên thì mình cứ hít thở, trở về cảm giác toàn thân lắng nghe bên trong của mình, làm cho cái cảm thọ của mình an tịnh, lắng dịu, nó tịch tịnh rồi mình quán sát coi cái ngũ uẩn của người đó vận hành như thế nào, đến khi người đó lắng dịu xuống rồi đó thì lúc đó mình cũng đã thấy rõ được cái vấn đề họ muốn cái gì rồi, họ đang bị cái gì nó xâm chiếm, nó áp đảo, tham hay là sân, hay là si, hay là vô minh, hay là bản ngã, hay là dục thì lúc đó mình chỉ cần nói nhẹ thôi thì mình có thể giúp được người ta. Gọi là linh đơn cửu chuyển, điểm sắt thành vàng, chí lý nhất ngôn, chuyển phàm thành thánh, cái thuốc linh đơn ở bên nhà tiên người ta luyện chín lần (cửu chuyển), cái người thành tiên rồi chỉ sắt thì hóa vàng, chí lý một lời chuyển phàm thành thánh.
Không cần nói nhiều, "quý hồ tinh bất quý hồ đa" nghĩa là chỉ có tinh nhuệ, tinh thông, tinh ba mới đáng trân quý chứ không phải có nhiều là đáng quý. Một đống xà bần như cái núi với một viên kim cương mình chọn cái nào? Cũng vậy, một người chân nhân tịch tịnh, an tịnh, lắng dịu người ta không có dao động nhiều mà một khi người ta động thì lại là lợi ích, lợi đắc, có thể cảm hóa được người khác cho nên nói chí lý một lời thôi là chuyển phàm thành thánh. Mình hãy ứng dụng cái này vào trong gia đình, đừng có ham nói nhiều, đừng có ham tranh luận, đừng có ham cãi, đừng có ham đấu khẩu, khẩu tranh mà cứ để cho người ta thắng. Người đó muốn dành phần phải cứ để cho họ phải, cứ để cho họ thắng, cứ để cho họ hơn mình, cứ yên lặng, tĩnh lặng, khi họ nói xong hết rồi thì cần mình mới điểm nhẹ cái thôi là người ta tâm phục khẩu phục, chịu không?
Cho nên các bậc chân nhân tịch tịnh đặc biệt lắm, các ngài không có hao hơi tổn tiếng, các ngài không có phải nói, làm và nghĩ những cái chuyện phù phiếm, vô nghĩa, vô ích, vô giá trị, các ngài không cần. Khi các ngài động dụng lên một cái ý nghĩ thôi, một cái lời nói, một cái hành động là nhân thiên phổ lợi, không những người lợi ích mà trời còn được lợi ích, muốn được vậy thì phải có một cái tâm an tịnh, lắng dịu, một cái trí tuệ và mình học từ ở trong thánh điển Nikāya thánh trí tuệ. Sự im lặng của bậc thánh và cái trí tuệ thượng nhân cộng với cái giới đức, cái đạo đức, đạo hạnh của mình đó là ba cái pháp giới, định, tuệ tối thượng.
Tất cả các Đức Phật đều dạy hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham, nhưng quý vị chưa học nhận diện ngũ uẩn, chưa có quán chiếu được cảm thọ thì quý vị cũng nghe cái câu này nhưng mà nó không có si nhê gì hết. Quý vị không có nhìn thấy được ngũ uẩn cho nên quý vị sẽ không có vạch được cái mặt của tham, sân, si, ở ngoài đời ta có cái câu "bắt tận tay day tận trán". Khi mình nhận diện ngũ uẩn thì mình mới vạch trần được bộ mặt thực sự của tham, sân, si trú trong cảm thọ, còn mình không có nhìn thấy ngũ uẩn, chưa học nhận diện ngũ uẩn thì mình chỉ đứng ở ngoài cửa rồi tưởng tượng ở phía trong này, mình chưa có chìa khóa để mở cửa, chưa bước vào căn nhà nội tâm của mình cho nên mình thấy cái chữ tham, sân, si nhẹ tênh à.
Khi mình học ngũ uẩn rồi, mình nhận diện ngũ uẩn rồi, mình quán chiếu cảm thọ rồi thì mình nghe cái chữ tham là nổi da gà, mình sởn gai óc hết trơn, ớn quá, một chữ này thôi là nó nhận chìm tam giới, lục đạo, tứ sanh, cửu hữu, một chữ này thôi là chìm đắm hết. Con có chia sẻ một loạt bài là "Cảm Giác Nhận Chìm Thế Giới" quý vị về nghe cái loạt bài đó, một chữ tham đó thôi là mười ngàn thế giới bị nhận chìm, tam thiên đại thiên thế giới này bị trôi dạc ở trong cái cảm giác tham dục, tham ái, khủng khiếp lắm. Bây giờ mình tu là nhiếp phục tham, sống nhiếp phục tham.
Đức Phật dạy rất kỹ, Đức Phật nói lặp tới lặp lui, hãy nhiếp phục tham là đủ rồi, hãy sống nhiếp phục tham là cả một cái đời sống của mình là để nhiếp phục cái tham thì đó là gọi là đời tu, đó là người tu, đó là chân tu. Hãy nhiếp phục tham chưa đủ, hãy sống nhiếp phục tham tại vì nhiếp phục tham ngay bây giờ thôi hồi ra không nhiếp phục tham sao, ngày mai không nhiếp phục tham cho nên giờ hãy sống nhiếp phục tham là cả một đời sống của mình, cả một cuộc đời của mình hãy luôn luôn để ý nhiếp phục và chế ngự, kiềm chế lại, có một cái phanh dừng lại những cái ham muốn. Khi sống nhiếp phục tham thì bạn sẽ không tạo nghiệp thân, miệng, ý do tham nó dẫn dắt, nó điều khiển, cả năm giới của chúng ta con thưa quý vị chỉ có là cái tâm tham thôi.
Tại sao mình sát sanh? Do tham ăn, phải không? Hay là tham tiền, phải không? Hay là tham tình? Đủ thứ tham hết, nói dễ nhất là tham ăn. Tại sao mình trộm cắp? Do tham tiền. Tại sao mình tà dâm? Do tham dục. Tại sao mình nói láo? Đó là cũng tham để mình đạt được cái gì mình muốn. Tại sao mình uống rượu say sưa, nghiện ngập rồi xì ke, ma túy, những chất nghiện ngập tham hưởng thụ. Bát quan trai giới, thập thiện giới cho đến Sa-di mười giới, cho đến Tỳ-kheo bao nhiêu trăm giới cũng đều không ra khỏi cái chữ nhiếp phục tham, thiền định cũng là để chế ngự tham và thánh trí tuệ là đoạn tận tham. Giới là nhiếp phục, thiền định là chế ngự và thánh trí tuệ là đoạn tận tham.
Nhiều khi con nói câu đơn giản, bình dân tham nhiều thì khổ nhiều, tham vừa thì khổ vừa, tham ít thì khổ ít mà không tham thì hết khổ. như vậy toàn bộ sự tu hành của mình là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham thôi, quý vị thấy pháp Phật đâu có nhiều, nếu mình hành trì nó không có nhiều. Ham ăn tạo nghiệp sát sanh, tham tài sản tạo nghiệp trộm cắp, nói dối để lừa gạt người ta, tham ái dục, dâm dục tạo nghiệp tà dâm, tham hưởng thụ những cảm giác thì đi vào trong cái con đường nghiện ngập, say sưa rượu chè rồi suy sụp cả một cuộc đời luôn, hư thân, hư cả cuộc đời luôn. Như vậy hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham, quý vị rảnh bất cứ cái chỗ nào hãy niệm cái câu này, câu này là tối thượng thần chú, đó là thánh pháp ấn.
Thí dụ bây giờ cái bụng no rồi nhưng nhìn món ngon quá nó muốn ăn thì niệm lên cái câu "hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham. Thọ ơi là thọ", Khi nhiếp phục tham rồi về ngủ khỏe re, còn mình ráng ăn vô hồi về uống thuốc tiêu mà nó không tiêu thì có khổ không? Nó hành hạ sáng đêm rồi ngày mai, ngày mốt rồi cả tuần lễ phải đi bác sĩ nữa là cũng do cái tham an, nó rõ như mặt trời, mọi người có thấy chưa? Bệnh là từ đâu? Là từ cái miệng đi vào cho nên Đức Phật dạy cho nhà vua Ba-tư-nặc bài kệ giảm bớt ăn, mỗi lần bữa ngài cho người hầu đọc cái bài kệ đó lên, nhờ vậy mà nhà vua khỏe mạnh trường thọ, nhà vua đến đảnh lễ cảm ơn Đức Phật, nhờ Đức Phật thương con ngay trong đời hiện tại và nhiều đời sau, mỗi lần ông cận thần đọc bài kệ lên nhà vua cho trăm đồng tiền vàng. Tại vì đồ ăn ngon quá mà ăn vô thì bệnh nên nhờ đọc cái bài kệ Đức Phật dạy mới giảm ăn thì giảm bệnh.
"Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala thường ăn bữa ăn thịnh soạn.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala sau khi ăn xong, no đủ, thỏa thích, đi đến Thế Tôn sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Rồi Thế Tôn sau khi biết vua Pasenadi nước Kosala đã ăn xong, no đủ, thỏa thích, ngay lúc ấy nói lên bài kệ:
Con người thường chánh niệm,
Ðược ăn, biết phải chăng,
Chừng mực, cảm thọ mạnh,
Già chậm, tuổi thọ dài.
Lúc bấy giờ, thanh niên Bà-la-môn Sudassana đứng sau lưng vua Pasenadi nước Kosala.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala gọi thanh niên Sudassana:
-- Này Bạn, hãy đi đến và học thuộc lòng bài kệ từ Thế Tôn và trong khi dọn ăn cho ta, hãy đọc lên bài kệ ấy. Ta sẽ cấp thường nhật cho ông một trăm đồng tiền vàng.
-- Thưa vâng, Ðại vương.
Thanh niên Sudassana vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, học thuộc lòng bài kệ này từ Thế Tôn, và trong khi dọn cơm cho vua Pasenadi nước Kosala, đọc lên bài kệ này:
'Con người thường chánh niệm,
Ðược ăn, biết phải chăng,
Chừng mực, cảm thọ mạnh,
Già chậm, tuổi thọ dài.'
Rồi vua Pasenadi nước Kosala tuần tự hạn chế, cho đến chỉ ăn nhiều nhất là một nàlika.
Vua Pasenadi sau một thời gian, thân thể được khỏe mạnh, tự tay thoa bóp chân tay và nói lên lời cảm hứng sau đây: 'Ôi, thật sự Thế Tôn đã thương tưởng nghĩ đến lợi ích cho ta, cả hai đời hiện tại và vị lai!'." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, III. Đại Thực: Ăn nhiều)
Nhờ cái bài kệ đó mà làm nhà vua khỏe mạnh, sống lâu và ông đi đến lạy dưới chân Đức phật, cảm ơn Đức Thế Tôn, Thế Tôn thương con chẳng những trong hiện tại mà thương tới vị lai, chẳng những về vật chất, về thể xác mà còn thương con về tâm thức, về trí tuệ cho nên nhờ vậy thân con được khỏe mạnh, tâm con được minh mẫn, trí con được sáng suốt. Nhà vua lạy cảm ơn Đức Phật mà lúc đó nhà vua tám mươi tuổi và Đức Phật cũng tám mươi tuổi, nhà vua đem cái đầu của ngài lạy xuống dưới chân rồi hôn bàn chân của Đức Phật. Chúng ta thấy chỉ nhiếp phục cái lòng tham này là mình sống có hạnh phúc lắm, gia đình mình đâu phải thiếu đâu, cũng hai ba tầng lầu nhưng mà không đủ, muốn kiếm thêm mấy cái nhà nữa, giả sử có thêm mấy cái nữa đi rồi có đủ không?
Người giàu nhất hành tinh này có thấy đủ chưa? Vậy ai mới đủ? Đức Phật và các bậc A-la-hán là đầy đủ viên mãn, không còn ham muốn nữa cho nên các ngài hạnh phúc tối thượng. Vì thế cái hạnh phúc không phải là cái được thêm mà cái hạnh phúc là nhiếp phục được cái lòng tham, chúng ta thấy được cái chìa khóa chưa? Thấy được bí quyết hạnh phúc chưa? Nhiếp phục được cái lòng tham, chế ngự được lòng tham và diệt tận diệt sạch cái lòng tham thì người đó đạt được hạnh phúc tối thượng của Niết-bàn. Hãy sống với tâm hiền lành, hiền từ, hiền lương, hiền hòa, hiền hậu, hiền nhân, hiền đức, hiền trí để mình theo các bậc hiền thánh.
Cái tâm si vô minh này nó ghê gớm lắm, tham mình cũng thấy được mà sân mình rất dễ thấy, sân là dễ thấy nhất, nổi nóng, nổi cáu lên, phẫn nộ lên là ai cũng thấy hết rồi cái tham thì để ý mình cũng thấy nữa, tham về người, về đồ vật hay là tham cái gì đó thì nó lưu luyến, nó bịn rịn mình cũng thấy rõ. Nhưng mà cái si làm sao để thấy? Si là khó thấy mà cái si này mới là cái gốc của tham sân. Si là sao? Là một cái tâm lờ mờ, cái tâm lơ mơ, cái tâm mờ mờ, cái tâm bị sương mù, não không có tỉnh táo, nó không có tỉnh giác, nó không có tỉnh thức, nó trơ trơ, nó không thấy khổ đau, cái thân nó đang bệnh, đang khổ, đang đủ thứ những cái phiền não mà nó không thấy khổ, nó muốn giành giật, nó hơn thua, nó đấu đá, nó cạnh tranh. Đó là cái tâm si ám, nó không ý thức được sự khổ đang hiện hữu ở trong thân tâm, trong bản thân.
Chẳng hạn như bây giờ đã nghèo rồi mà còn đi đánh lộn với nhau cho u đầu sứt trán. Mình nhớ cái thời kỳ dịch bệnh không? Đi vô ở trong cái chỗ cách ly còn đánh lộn trong đó nữa, quá si mê, không ý thức được khổ, không ý thức được bệnh, cũng vậy cái tâm của mình là cái tâm si rất nặng, cái vô minh này nó trùm chiếm rất là nhiều mà thường thường trong một ngày mình sống rất nhiều với cái tâm si này. Lúc đó mình không có tỉnh giác chánh niệm, mình không có cảm giác toàn thân, mình không có thấy được cái sự biến đổi của ngũ uẩn, sự vận hành của các cảm thọ, mình không có thấy được những cái cảm giác bản ngã, hơn thua của mình, sự sanh diệt của ngũ uẩn, mình không thấy sự đổi thay, sự vô thường, sự biến hoại, sự biến động của sắc uẩn này, mình không nhìn thấy sự đổi dời. Chẳng hạn như mình nghe tin tức của ai đó bị tai nạn giao thông cái mình thấy tội nghiệp người đó rồi thôi chứ mình không lấy cái đó quay ngược lại mình, soi chiếu lại mình rồi mình không khéo, mình không chánh niệm mình, không cẩn thận khi chạy xe, hở chút là rồ ga, hở chút là phóng nhanh thì mình cũng có thể bị như vậy.
Khi mình có quán chiếu được cái điều đó thì mình có giảm bớt đi không? Cái nào chánh đáng mình mới đi và đi cẩn thận cho nên i sự tu tập mà chúng ta mà phá được cái tâm si này rất là tốt, muốn phá tâm si này thì có hai cái cảm thọ để nó phá là hỷ và ưu. Mình làm cho mình vui lên trong sự tu học, trong sự làm công quả, trong sự nghe pháp, trong sự ngồi thiền, mình ngồi yên mà mình vui, không có tham gì hết vui quá, ngồi cười thôi, ngồi thấy nhẹ, không có tham ngồi nhẹ nhàng, mình vui vì không có giận ai hết nên thấy khỏe, khinh an, an lạc, vui vì không muốn giành giật, tranh đua với ai cho ngồi cười mình thôi, mình ngắm trời, ngắm mây, ngắm cây, ngắm cỏ thưởng thức vầng trăng, trăng vàng gió mát rồi mình nhìn hoa đồng cỏ dại cũng thấy vui nữa, thấy nhẹ nhàng.
Cái tâm mình bình an như vậy thì mình tập khởi lên hai cái cảm thọ hỷ và ưu để mình phá cảm thọ si, mình hoan hỉ với thiện pháp, mình hân hoan với cái sự hành trì. Thí dụ như mọi người đi ăn tiệc nhà hàng có nhiều món ngon, những món thịt này thịt nọ mà mình ngồi đây không ăn những cái đó, mình ăn chay đơn giản thì mình thấy mình vui vì tránh được cái nghiệp sát sanh, mình không có tạo thêm nghiệp, mình có đời sống thiện lành, mình ngồi mình ăn chay giữ giới được mà mình vui. Mình làm cho mình vui lên, mình hoan hỉ lên, ngược lại nghĩ rằng người ta đi tiệc ăn mới ngon chứ mình đây không có gì ngon hết thì như vậy mình không có biết tác ý.
Thí dụ người ta đang gây gỗ, đang nói chuyện thị phi đằng kia mà mình ngồi bên đây tĩnh lặng, mình thở vô thở ra an tịnh, lắng dịu, tịch tĩnh, tâm từ bi mình trải rộng khắp hết thì thấy vui không? Hạnh phúc không? Tuyệt dịu không? Còn mình không biết tác ý thì mình ngồi bực người kia "tại sao tôi đang ngồi thiền mà cứ lại la hối hoài vậy?", mình sân lên còn nếu mình biết tác ý á thì trong cái lúc người ta rối rắm, động loạn, rộn ràng thì mình lại được tịch tịnh, tâm từ lan tỏa, mình thương cái người đó, tội nghiệp người ta không biết tu mà mình thương chứ tại sao mình lại giận. Như vậy đó mình biết tác ý thì mình phá được cái tâm si còn không mình ngồi đó ngủ gục, người ta đạt sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền rồi hỏi"
Cô đạt tới thiền thứ mấy?
Dạ, con đạt tới ngủ thiền.
Có biết ngủ thiền không? Vô thiền là ngủ cho nên mình có biết tác ý hai cái cảm thọ hỷ và ưu mừng vui và mình lo lắng, già tới nơi rồi, bệnh tới nơi rồi, chết tới nơi rồi, động đất nè, sống thần nè rồi hạn hán nè, rồi dịch bệnh, rồi chiến tranh nè, thiên tai, thủy họa, nhân họa, rồi bao nhiêu những cái ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm thức ăn, ô nhiễm tâm thức, bây giờ mình lẹ lẹ lên để mình đi chứ, nhất trí không? Khi quán như vậy thì mình có một cái sự lo lắng thì cái tâm mình nó mạnh mẽ lên, nó tinh tấn lên, nó tinh cần lên, nó dõng mãnh lên tu tập thì nó phá được cái si, còn không mình ngồi không có nhớ gì hết, cái chuyện của Đài Loan động đất chứ mình đâu có động, của bên kia nó chiến tranh chứ mình đâu có chiến tranh. Mình không có khéo tác ý thì mình sống trong cái tâm trơ trơ, cái tâm vô cảm, cái tâm si mê, cái tâm vô minh, cái tâm dại khờ mà cái tâm này phải để ý thật kỹ để phá nó cho nên hãy nhiếp phục si, hãy sống nhiếp phục si, do sống nhiếp phục si bạn sẽ không làm nghiệp do si sanh ra về thân, về lời, về ý.
Cái này rất quan trọng, cuối cùng là hãy nhiếp phục hung bạo, hãy sống nhiếp phục hung bạo, cái này rất quan trọng, tu tâm hiền. Bước chân của mình đi, mình dẫn chiếc xe mình chạy, mình nói cái lời nói, hay là mình ăn cái thức ăn, hay mình cư xử với mọi người bằng một cái tâm hết sức là dễ thương, cái tâm hòa kính, cái tâm hòa vui, cái tâm hòa ái, cái tâm hòa đồng theo lục hòa kính, mình không có chống đối, nhiều khi chồng mới nói một câu mình cãi liền thì cái tâm này không có hiền, tâm này là cái tâm dữ mà cái tâm dữ thì nhà có chuyện hoài, lục đục hoài, gây gỗ hoài, thậm chí vô chùa cũng cãi nữa tại không có tu tâm hiền. Cho nên mình tập cái tâm hiền mọi lúc, mọi nơi, mọi trường hợp, người đó dữ mà mình đem cái dữ lại thì như vậy có cái gì đâu, phải tu ngay cả cái người dữ mà mình đối xử với họ hiền. Cái người đó không có dễ thương chút nào mà mình vẫn dễ thương với họ, đây là đặc tính của đệ tử Phật và nét đẹp của người tu.
Nét đẹp của người tu không phải là môi son má phấn, vàng đeo đầy mình, mà cái nét đẹp người tu là một cái tâm hiền hòa, hiền hậu, hiền nhân, hiền lương, hiền đức, hiền từ, hiền trí. Đây là cái nét đẹp cao thượng của một người tu trong tất cả mọi trường hợp, tất cả mọi hoàn cảnh mà nhất là ở trong gia đình của mình, những người sống chung với mình, mình phải trải được cái tâm hiền này với họ, làm cho họ cảm nhận được, họ cảm động rồi họ cảm hóa mà trước hết là mình phải được tu tập và thành tựu được cái tâm này. Có rất nhiều bài tâm hiền con đã đưa lên cái pháp hành, chúng ta về mở lên nghe thật kỹ trong đó, hàng nhiều chục bài, có thể mười mấy hai chục bài. Ngài Xá-lợi-phất dạy mình tu tập an trú cái tâm hiền là chín cái phương pháp an trú tâm, quán tâm, mình để ý mình tu thì như vậy quý vị thấy Đức Phật dạy hết sức là thiết thực, hết sức là cụ thể, hết sức là rõ ràng.
Như vậy thì trọng yếu của sự tu nãy giờ Đức Phật dạy trong kinh này là nhiếp phục gì tâm tham, nhiếp phục tâm sân, nhiếp phục tâm si, nhiếp phục tâm hung bạo, sống ly tham, bớt tham, sống với cái tâm từ, tâm thương, sống với một cái tâm chánh niệm tỉnh giác, trí tuệ và sống một cái tâm hiền hòa, nhân hậu. Đó là cái bí quyết, đó là con đường, là cách thức, là nghệ thuật sống, là phương pháp sống, là lẽ sống của người Phật tử. Kính chúc quý vị có được một con đường thật là tuyệt vời.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.