Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Trăng Rằm 1 - Dục Tham &Chấp Thủ -Thế Nào Là Có Thân Kiến - Tương Ưng 1

2026-03-18 06:54:25
NIKĀYA GIẢNG GIẢI

KINH TRĂNG RẰM 1

DỤC THAM & CHẤP THỦ

THẾ NÀO LÀ CÓ THÂN KIẾN?

TƯƠNG ƯNG 1

–Thích Minh Thành–

Sư Phụ: Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí hôm nay chúng ta học bài kinh rất là quan trọng, học bài kinh này chúng ta sẽ hiểu tại sao con đặt cái tên bên Thánh Pháp Viện ở dưới sân là Thánh Nguyệt Đài. Bài kinh Trăng Rằm Tương Ưng Bộ, tập III, chúng ta dùng cái tưởng xuyên không trở về hai ngàn năm trước vào đêm trăng rằm Thế Tôn ngồi sừng sững như núi chúa, chung quanh là hàng thánh chúng đệ tử, trên trời trănh rằm tròn sáng mãn nguyệt, có rất nhiều những chư vị hữu học và vô học, có những vị đã làm xong công việc của mình cần phải làm, có những vị đang làm.

"Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Ðông Viên, Lộc Mẫu giảng đường, cùng với đại chúng Tỳ-kheo.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày lễ Bố-tát, ngày rằm, đêm trăng tròn, giữa trời, có chúng Tỳ-kheo đoanh vây.

Rồi có Tỳ-kheo, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề, nếu Thế Tôn cho phép, và trả lời câu hỏi của con.

-- Này Tỳ-kheo, hãy ngồi tại chỗ và hỏi theo ý Ông muốn.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, ngồi tại chỗ ngồi của mình và bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này: tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn?

-- Này Tỳ-kheo, có năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn.

-- Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỳ-kheo ấy hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, rồi hỏi thêm Thế Tôn một câu khác:

-- Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này lấy gì làm căn bản?" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)

Đầu tiên vị Tỳ-kheo đó hỏi Thế Tôn có phải thân tâm chúng sanh được cấu tạo, hình thành là từ một cái tâm hôn mê nắm chặt vào trong cái đống sắc uẩn tứ đại là nhóm một, cái tâm hôn mê nắm chặt vào trong các cái cảm giác là nhóm hai, cái tâm hôn mê nắm chặt vào trong các hình bóng tưởng là nhóm ba, cái tâm hôn mê không thấy không biết nắm chặt những suy tư, nghĩ ngợi là nhóm bốn, là một cái tâm hôn mê, hôn ám nắm chặt vào trong nhận thức, sự rõ biết. Bạch Thế Tôn có phải là cái tâm hôn mê nắm chặt vào năm cái nhóm này mà có sự hiện hữu, có sự khổ đau? Con diễn ra Tiếng Việt cho chúng ta hiểu rõ không thôi nói là chúng ta sẽ không có hiểu và thực sự thì mười lăm năm trước con với một cái tâm tha thiết, khi chưa vào dòng pháp này là con đã mời mười mấy vị thầy cùng với con diễn ra thuần Tiếng Việt, nhưng mà các vị đã từ bỏ con hết. Chính vì vậy mà từ đây về sau mỗi lần con chia sẻ là con diễn dịch cái bài đó thành ra Tiếng Việt, sau này biên tập lại là mình sẽ có hậu đại tạng kinh Nikāya.

Bây giờ đọc vô trong đây là đọc thẳng vô là không có mấy người hiểu, đó là diễn ra Tiếng Việt là vậy đó. Cái vị Tỳ-kheo đó Bạch Thế Tôn có phải thân tâm này mà nó có ra cái sự khổ đau này là vì cái tâm mê nó nắm chặt vào năm cái nhóm hình hài, cảm giác, những bóng dáng, những suy tư, nghĩ ngợi và nhận thức không. Thế Tôn nói đúng vậy, đời sống này, cuộc sống này, kiếp người này, thân tâm này là từ một cái tâm hôn mê nắm chặt vào năm thứ đó, bây giờ vị Tỳ-kheo hỏi tiếp năm cái thứ mà đã nắm chặt đó, nó chấp chặt vô trong đó lấy gì làm gốc rễ, lấy gì là cái cội, là cái gốc, là cái căn bản, là cái căn nguyên, tại sao nó nắm chặt. Chúng ta thấy không, một cái câu Tiếng Việt dễ như vậy mà đọc không phải mình dễ hiểu nếu mình không được giải thích, bạch Thế Tôn Tại sao cái tâm nó cứ nắm vô năm cái đó, gọi là năm thủ uẩn.

"-- Này Tỳ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn bản" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)

Chữ dục ở đây nó khác với chữ dục trong bài kinh Cội Rễ Của Sự Vật, dục đây là tham dục, là ái dục, còn cái dục có chỗ là mong muốn, còn cái dục ở đây là tham ái, tham dục, dục tham.

"- Lành thay, bạch Thế Tôn...

-- Bạch Thế Tôn, chấp thủ ấy là năm thủ uẩn ấy hay chấp thủ ngoài năm thủ uẩn?"

-- Này Tỳ-kheo, chấp thủ ấy không tức là năm thủ uẩn ấy và chấp thủ cũng không phải ngoài năm thủ uẩn. Nhưng chỗ nào có tham và dục, chỗ ấy có chấp thủ" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)

Cái sự mà bám víu, bấu chặt, nắm chặt đó là năm thủ uẩn hay ở ngoài năm thủ uẩn? Cái dự chấp thủ, cái sự bấu víu, nắm không phải ở ngay trong năm thủ uẩn mà nó cũng không phải ở ngoài năm thủ uẩn, nhưng chỗ nào có tham và dục chỗ ấy có chấp thủ. Đây là đêm trăng pháp ấn, đêm trăng Linh Thứu, đêm trăng của bậc thánh, bây giờ nó ở trong năm thủ uẩn hay nó ở ngoài năm thủ uẩn đều không trúng nhưng chỗ nào có tham và dục chỗ ấy có chấp thủ. Ngày hôm qua con có nói rồi chấp thủ là nắm giữ, mình nắm giữ tại vì mình yêu thích, tham muốn, mình phải nắm giữ. Mình không thích mình có nắm không? Cái đồ mình không thích mình có giữ không? Chúng ta thấy Đức Phật Giải thích không? Đây là Đức Phật Phật giải bằng cái duyên sanh pháp, bằng cái lộ trình tâm của các cái lậu hoặc nó chằng chịt với nhau.

Thí dụ có tham là có dục, mà có tham mà có ái, có cái tầm cầu đi theo đó, nó có khao khát theo trong đó. Như vậy chỗ nào có ham, có muốn, có yêu, có thích thì chỗ đó có nắm, có giữ đó, là diễn Tiếng Việt luôn ra đó, dễ hiểu không ạ? Giờ mình xét lại mình thấy liền, mình có ham, có muốn đối với sắc không? Mà có ham muốn đối với sắc thì mình có nắm giữ đối với sắc, mà tại sao mình nắm giữ sắc thì có gì đâu, tiền của tôi thì tôi nắm, nhà tôi thì tôi nắm, thân tôi thì tôi nắm nhưng mà cái sắc nó vô thường, nó biến hoại, nó tan nát, nó huỷ hoại, hoại diệt. Mình nắm chặt vô đó rồi mình cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, khi nó biến hoại rồi mình sầu, bi, khổ, ưu, não, mà mình không có muốn khổ cho nên Đức Phật nói không muốn khổ thì đừng ưa thích sắc, mà hễ con ưa thích sắc tức là con ưa thích khổ, mà con ưa thích khổ thì con không thể thoát được khổ đau nghe con.

Đức Phật thương mình nhiều không? Quá cưng con của ngài luôn bởi vì các con ngài là muốn đi theo con đường ngài là con đường không có khổ thì chỉ cho tụi con cái này khổ, con đừng đi, con đi qua đây thì không khổ. Bây giờ khổ là sao? Có dục, có tham là có khổ mà phải có dục, có tham thì có nắm, có giữ, mà có nắm, có giữ thì có lo, có sợ, có bất an. Bây giờ mình giữ một cái gì quý quá mình có lo sợ mất không ạ? Có lo sợ là bất an, mà bất an là khổ, đó là nói đang có đó mà nó còn khổ, đừng nó chi nó bị mòn một miếng, mẻ một miếng, bể một miếng, sứt một miếng rồi đừng nó chi là nó bị mất. Cho nên Đức Thế Tôn trí tuệ thâm sâu siêu việt bảo bọc, bảo vệ mình đừng có khổ.

Tại vì mình muốn không khổ cho mình phải đi con đường này, còn nếu mình muốn khổ thì kệ mình, mình muốn đi đâu mình đi phải không? Cho nên vì mình không muốn khổ như mình có mặt ở đây, nhất trí không? Vì mình không muốn khổ cho nên mình cạo cái đầu, vì mình không muốn khổ cho mình mặc cái áo này, vì mình không muốn khổ cho nên mình ở Viễn Ly Xứ, ở đồi núi xa vắng. Hồi nãy cái bài Về Núi Yên Tu vì mình không muốn khổ cho nên những cái bài kinh này đọc cho ngấm, cho thấm và phải thiền quán, chiêm nghiệm chứ đọc ào ào là nó rớt hết, nó rơi rụng giống như gỗ mà mình đổ nước vô nó tuột hết.

"-- Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỳ-kheo ấy... hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác:

-- Có thể chăng, bạch Thế Tôn, trong năm thủ uẩn, có sự sai khác về dục và tham?" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)

Bạch Thế Tôn có thể là cái tham, cái dục, cái ham, cái muốn ở trong năm uẩn nó có khác nhau không? Trong cái tham muốn của năm uẩn này nó có khác nhau không?

"Thế Tôn đáp:

-- Có thể có, này Tỳ-kheo.

Ở đây, này Tỳ-kheo, có người nghĩ như sau: 'Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có sắc như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thọ như vậy! Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có tưởng như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có các hành như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thức như vậy!' Như vậy, này Tỳ-kheo, có thể có sự sai khác về dục và tham trong năm thủ uẩn" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)

Cái này hôm qua con có nói rồi đó nhưng hôm nay con muốn ấn chứng, lấy kinh là ấn chứng để cho mình tịnh tín bất động. Tại vì khi con nói chúng ta thấy nó bình thường, đây là lấy kinh ấn chứng bởi vì trong kinh là Đức Phật dùng khẩu quyết, dùng những cái định lý chứng ngộ của Đức Phật khi mình nghe mình không có dễ hiểu chút nào hết, bây giờ mình phải ví dụ ra đời sống thực tế mình sẽ hiểu, nói cho mình hiểu liền. Thí dụ như bây giờ mình đang ốm nhom ốm nhách, ốm yếu xanh xao, mình mong sao mình được có da, có thịt hồng hào, tướng hảo quang minh, đó là mong rằng trong tương lai ta sẽ có sắc như vậy, cái này có không? Hoặc là mình đang bệnh, mình không có chấp nhận cái cảm thọ đau đớn, nhức nhói bệnh đó, mình mong rằng ngày mai, ngày sau, tuần sau mình sẽ hết cái cảm thọ này như vậy thì mình mong rằng tương ta sẽ có thọ như vậy. Lúc nào cũng có hết.

Bữa nay mình ăn rau luộc chấm nước tương với cục chao, mình mong rằng ngày mai sẽ có món ngon hơn, đó là thọ do thiệt xúc sanh. Mình tối ngày sống trong đó không à, mình mong muốn, ước mơ, hi vọng, thèm thuồng, khao khát, trông đợi, chờ đợi, trông ngóng, ảo tưởng. Thọ xong tới tưởng, mong rằng trong tương lai ta sẽ có tưởng vậy, cái hình bóng của ta, cái chùa của ta năm sau nó sẽ đẹp hơn. Đó là mong tưởng con của ta nó sẽ như thế nào đó, gia đình của ta sẽ như thế nào đó, thì như vậy thì là có dục, có tham không? Có ham, có muốn không? Mong rằng trong tương lai thức sẽ có thức như vậy, thấy cái này, nghe cái kia, biết cái nọ, hiểu những cái gì đó. Như vậy cái ham, cái muốn nó sai biệt, nó nhiều thứ khác nhau.

Ví dụ cái đơn giản thôi, ở nhà mình ngồi cái ghế nó êm quen, hôm nay lên ngồi ghế tre cái mình nhớ lại ở nhà mình ngồi ghế salon nó êm hơn, cái ghế này nó cấn, thì cái hình bóng của cái ghế êm ái đó hiện ra. Trong đó nó đủ hết sắc; thọ; tưởng; hành; thức, một hình ảnh nó thôi là nó có thọ không? Nó có tưởng không ạ? Nó có hành không? Nó có thức không? Rồi nó có dục, có tham, có ái trong đó không? Nó có mong muốn không? Nó không chấp nhận cái hiện tại mà nó muốn cái quá khứ hoặc là cái tương lai, nó vi tế vậy đó, mỗi một cái khởi tâm động niệm lên mình nhận diện ngũ uẩn mình thấy pháp nó hiện hành, pháp nó hiển lộ. Còn nếu mình không nhận diện thì mình không thấy pháp, thấy bình thường thôi "tôi suy nghĩ này cũng bình thường thôi có gì đâu làm gì căng dữ vậy? Làm gì mà kỹ dữ vậy? Tu kỹ dữ vậy?"

Trí tuệ là vậy đó, trí sắc sảo, trí tinh vi, trí sắc bén là như vậy, là mình nhìn thấy liền, chụp nó liền, sư tử vồ mồi liền, mèo rình chuột liền. Lập tức ngay chỗ đó mình tác ý "có cái gì đâu, mê cái gì, mai mốt có cái chỗ ngồi êm hơn cái chỗ này nhiều lắm, biết không cái tâm mê, mày biết không, mày còn có chỗ ngồi êm lắm ở trên bàn thờ á. Sao mày đi thích mấy cái ghế này? Mày không lo tu đi, mày lo ngồi cái gì, mày tới đây mà cầu pháp hay mà tới đây cầu ghế?". Còn nếu mình ăn cái món không vừa ăn rồi khó chịu thì nói "mình tới đây mình cầu đạo hay cầu gạo?", mình hỏi cái tâm này vậy đó.

Vô giờ ngủ thì một hai người làm gì đó, hay nằm không có nệm êm, nằm bị lạnh hay cấn lưng gì đó thì nói "giờ mày tới đây mày cầu ngủ hay mày tới đây cầu pháp cái tâm?", được không? Phải trị nó, trị riết thì nó cũng nghe lời "dạ, em nghe lệnh". Phải trị tâm.

"Người trị thủy dẫn nước,

Kẻ làm tên nắn tên,

Người thợ mộc uốn gỗ,

Bậc trí nhiếp tự thân"

(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 80)

Từng cái suy nghĩ như vậy đó là mình trị cái tâm, như vậy đó là mình nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham là tu ngay chỗ đó, đó là xuất ly đạo lộ. Mình tác ý vậy là nó không còn khó chịu với cái ghế nữa, nó không còn đòi hỏi lựa chọn món ăn gì nữa, nó cũng trả nợ bao tử, "nuốt cái ót qua chỗ đây rồi nó thành cái gì?", rồi "bây giờ cứ nằm đó ngủ cho xong đi ở đó mà chê khen đòi hỏi cái gì, mai mốt có cái giường ngon lắm", mình nói với cái tâm "mai mốt tao cho mày cái giường to lắm, giường lớn lắm, đó là lúc bốn người khiêng đi đó". Bất cứ cái lúc nào mình cũng tác ý trị từng chút, từng chút một như vậy, mình huấn luyện, mình giáo dục, mình quản giáo, mình dạy dỗ, mình tác ý cái tâm của mình đó là trí quán, đó là tư duy tu, đó là tuệ lực.

Tu từng chút như vậy, mình gặp cái chuyện gì mình hơi khó chịu, mình muốn góp ý rồi phải quấy, đúng sai thì tác ý "tâm quỳ xuống, quỳ xuống, mày lên núi mày tu hay lên núi kiếm chuyện, hay lên núi kiếm thị phi, cúi xuống đánh ba hèo, chưa nghe đánh một trăm hèo. Bà già rồi để cho bà tu, bây giờ muốn chân tu hay muốn tu hú mà cứ để ý, nhìn ngó người ta rồi nói đúng nói sai, nói phải nói quấy người ta, tự bản thân ngươi đã lo xong chưa?". Mình huấn luyện cái tâm mình, đó là mình nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, sân, si, bản ngã cũng nhiếp phục. Cái này cầm tay chỉ việc luôn rồi đó, từng chút một vậy đó mà tu không được nữa là bó tay.

"-- Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỳ-kheo ấy... hỏi thêm câu hỏi nữa:

-- Dưới hình thức nào, bạch Thế Tôn, có định nghĩa về uẩn của các uẩn?

-- Phàm sắc gì, này Tỳ-kheo, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn. Phàm thọ gì... Phàm tưởng gì... Phàm các hành gì... Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là thức uẩn. Dưới hình thức như vậy, này Tỳ-kheo, có định nghĩa về uẩn của các uẩn." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)

Chúng ta thấy tuyệt vời không? Các bậc hỏi những câu này không phải bình thường đâu, nhiều khi những cái vị có khi là hữu học mà có khi là các bậc thánh vị đã nhập các cái quả vị cũng có. Như vậy thì câu hỏi tiếp theo là định nghĩa về uẩn, xin Thế Tôn định nghĩa, giải thích cho con cái ý nghĩa về chữ uẩn ở trong năm thủ uẩn. Chữ "Uẩn" ở đây là sự tập hợp, sự nhóm hợp, sự tích tập, tụ tập, sự chất chứa, thành ra con mới nói một chữ sắc của Thế Tôn bao trùm cả địa cầu này tại vì cái sự tích tập, tập hợp, tụ tập, nhóm hợp, tích tụ, gom góp, chất chứa các sắc pháp. bây giờ cái sắc này không những là cái cây tre ngay đây mình nhìn thấy hoặc là mấy chục kí lô thịt ngồi đây, cái này mình gọi là sắc hiện tại nhưng mình đối chiếu lại mình đã nhìn thấy cái vườn tre, vườn trúc ở đâu đó thì cái đó là sắc khứ. Mình nhớ lại mình hồi mười năm trước, hai mươi năm trước, ba mươi năm trước, lúc mình còn mười tám, hai mươi tuổi thì cái đó là sắc quá khứ, bây giờ mình mới mong muốn là sau này năm năm, bảy năm, mười năm sau đó là sắc tương lai rồi sắc đẹp hay là sắc xấu, sắc xa hay là sắc gần, trong hay là ở ngoài, như thân mình ở trong là gan, ruột, phèo, phổi, bao nhiêu những thứ đó là ở trong, mình nói gần ở ngoài là cái lớp da này, tóc ở ngoài, móng ở ngoài, còn nói rộng hơn chút nữa ngoài là những cái cảnh này. Đây là sắc ở ngoài, đó là sắc uẩn.

Tất cả các sắc này nó đều là đất, nước, gió, lửa và sắc do đất, nước, gió, lửa tạo thành thôi, cái nào cũng vậy hết, không có cái nào khác hết. Các cảm thọ cũng vậy, nhiều khi cái cảm giác trong hiện tại có khi ít làm cho mình khổ hơn là những cảm giác ở trong quá khứ, có nhiều người sống nhiều với quá khứ cho nên còn cái bài kinh Đại Ca-chiên-diên Nhất dạ hiền giả hay lắm. Thường thường chúng ta ngồi chúng ta sẽ nghĩ lại, nhất là mình vô thất ở một mình là bắt đầu bao nhiêu những cái cảm giác hồi xưa, hình bóng hồi xưa, những cái sắc tưởng rồi bao nhiêu những cái đó hiện trở lại, những cái suy tư của ngày xưa, những dĩ vãng quá khứ đã qua rồi mà nó sống lại. Nhất là cái lúc mình sắp chết, một là cái lúc mình bệnh nặng nằm liệt giường liệt chiếu một chỗ, hoặc là mình bệnh không đi được, một là cái lúc mình nhập thất, lúc mình viễn ly độc cư, cái lúc mình bệnh, cái lúc mình gặp tai nạn hay là cái lúc mình sắp chết thì những cái lúc đó là như cuốn phim chiếu lại hết.

Thí dụ bảy mươi tuổi là bảy mươi năm nó chiếu lại, tám mươi tuổi, chín mươi tuổi là nó chiếu lại, năm mươi tuổi hay sáu mươi tuổi nó cũng chiếu lại hết, như một cái cuốn phim đầy đủ hết sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Nó chiếu từng tập, những cảm giác ngồi xưa, những hình bóng ngày xưa, những suy nghĩ ngày xưa, nhận thức ngày xưa. Cái người lớn tuổi phần nhiều là sống với những cái dĩ vãng, những cái quá khứ, những cái đã qua, mà cái người trẻ tuổi thì thường sống với với tương lai, với ngày mai, với vị lai, với sau này, còn người trung niên có sống với hiện tại không? Cũng vậy cũng sống với quá khứ, vị lai nhiều hơn trừ cái người biết cảm giác toàn thân, tuyệt diệu không? Nếu có chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác thì người đó mới hiện tại lạc trú.

Cho nên người có thực tập cái ba pháp thì người này thường ít có bị mệt lắm, dầu cho làm việc, có tu nhiều thì không có mệt tại người này nó có cái pháp hỷ, pháp lạc không mệt. Chúng ta thấy nhiều khi thầy Huệ dẫn chúng một ngày bốn thời mà cũng đềm đạm, cũng thảnh thơi, từ từ, tuyệt vời không? Nhiều khi có người còn trẻ hơn thầy đâu có chừng mười mấy, hai chục tuổi, trẻ trẻ mà than "trời ơi tu mệt quá, buồn ngủ, đau lưng, mệt", hoặc là già thì mệt theo kiểu già mà trẻ thì mệt kiểu trẻ, sồn sồn thì mệt theo kiểu sồn sồn. Tất cả cái mệt đó là vì không an trú trong pháp, khi mình không an trú trong pháp thì có một tự ngã, mà có một cái tôi thì nó có mệt, mà không có cái tôi, có pháp không thì nó đâu có mệt. Cho nên người thường an chú trong pháp thì người đó sẽ sao vượt qua các giới hạn của người bình thường, xuất cách, nó ra khỏi cung cách bình thường rồi vượt qua các giới hạn, nó vượt qua khỏi những cái cung cách bình thường, nó vượt qua những cái thông thường của vật lý, sinh lý, tâm lý, đi ra khỏi hết, phá cách hết tức là nó đột hết tất cả những cái giới hạn của phàm phu. Đó là bậc Đa văn Thánh đệ tử.

Thí dụ ở các chùa bình thường người ta tụng một tiếng, một tiếng rưỡi, tu hai tiếng là xuống cũng ngon rồi, mình tu bốn năm tiếng mà xuống mặt vẫn tươi, tuyệt vời không? Đó là cũng đang phá cách hết, đang xuất cách từ từ đó rồi, lúc trước chúng con ở nội tự là lên năm tiếng luôn, đặc biệt khi xả ra người nào người nấy tươi tắn như hoa nở, nhan sắc thù diệu chứ không có xả ra mà cái mặt bí xị à, không phải, đó là pháp vị thắng mọi vị, pháp hỷ thắng mọi hỷ. Cho nên cái chỗ quan trọng ở đây hồi nãy con có nói là không có gì quý hơn hành pháp vì khi mình trú vào trong pháp thì nó sẽ siêu thế, còn mình không trú pháp thì nó là thế gian, mình trú pháp thì nó siêu thế cho nên khi mình không trú pháp thì sẽ có một tự ngã, sẽ có một cái tôi, cái của tôi rồi có mệt, có khỏe, có đúng, có sai, có hơn, có thua, có phải, có quấy, có xưa, có nay, có quá khứ, có hiện tại, có vị lai, có cao, có thấp, có bằng. Vì vậy Đức Phật định nghĩa là trong cái kiêu mạn, cái ngã mạn, cái ngạo mạn, cái tự ngã là thấy tôi hơn, tôi bằng, tôi thua, mà vừa thấy có vậy là tâm động chuyển, tâm giao động, là tâm có sự chuyển động, là tâm có khổ.

Nếu mình an trú vô cái trí vô ngã đâu có tôi đâu, năm thằng quậy này, năm thằng phá nhà phá cửa này chứ có mình trong này đâu, mình đứng ra nhìn năm thằng này rồi thấy khỏe không? Đứng ngoài ra, đứng rời ra nhìn năm thằng khổ, năm cái thằng quậy, năm cái thằng cứng đầu không nghe lời, nhìn nó rồi mình giáo huấn nó từ từ cho nó chịu phép. Còn nếu mình không trú trong pháp thì nó nhập cuộc vô, nhập cuộc với sắc, nhập cuộc với thọ, nhập cuộc với tưởng, hành, thức và khi nhập cuộc như vậy thì nó có tham, sân, si, nó có bản ngã, nó có hơn thua, nó có giành giật, nó có cao, hơn, bằng hoặc là thua, nó có đúng sai, hay dở, phải quấy, hơn kém, đẹp xấu, mình người, tôi ta, nhân ngã bỉ thử thì như vậy có sầu, bi, khổ, ưu, não.

Khi nó đi ra như vậy nó nhìn lại thì cái này là ngũ uẩn nó khổ cho mình đâu có khổ, sắc nó bệnh chứ mình đâu có bệnh, thọ này nó giận chứ mình đâu có giận, tưởng này nó mê chứ mình đâu có mê, hành này nó ngu, nó gây sự chứ mình đâu có gây sự "mày chết mày nha mày, gây sự hoài đó, cúi xuống con, đập mày à". Tuyệt vời không? Tu cái kiểu đó tuyệt vời không? Tu đó là tu của bậc chánh kiến, tu đó là của người có con mắt, không phải là người mù cho nên mình nhớ cái bài kinh Bọt Nước là người này có con mắt chú tâm quán sát thì cái hòn bọt hiện rõ ra cái tính chất của nó là trống không, hiện rõ ra cái tính chất nó là rỗng không, nó hiện rõ ra cái bản chất của nó là hư không, trống không, rỗng không.

"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, III. Bọt Nước)

Cái người có con mắt chuyên chú quán sát thì nhìn ra được cái bản chất cái hòn bọt này là trống không, là rỗng không, là tánh không thì đó là cái tu của người thấy đúng mới tu. Vì thế người ta mới nói kiến tánh mới khởi tu, không thấy lấy gì tu, tánh ở đây là tánh chất của ngũ uẩn tức là nhận diện được ngũ uẩn. Bây giờ truyền cho cái trí ngũ uẩn vậy rồi chứ rồi tới chừng sống cũng sống với cái ta, khổ thiệt là khổ vậy đó, không chịu nhận diện ngũ uẩn, không chịu an trú trong cái trí, nhập cuộc vô sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì giống như Thế Tôn trao cho mình cái ngọn đèn, mới đưa mình rồi gió thổi tắt. Mình không có cái ống chụp lại, mình không có biết đem vô cái chỗ kín đáo không có gió, yếu mà ra gió, bệnh mà ra gió, đèn treo trước gió nhiều khi có bão luôn, kiếm chuyện, trong chỗ vô sự mà sanh sự cho nên khi trao ngọn đèn rồi, mồi lên được rồi, cái ngọn đèn của mình nó đã tắt từ vô thỉ kiếp mà bây giờ mình được thánh đăng, thánh trí đăng, truyền lửa cho mình, cái thánh trí ngũ uẩn truyền cho mình thì nó bén lên, nó bừng lên cái ngọn lửa thánh trí tuệ rồi chút xíu tắt queo.

Mình không có lấy cái ống khói chụp nó lại, không có đem nó vô chỗ kín đáo không có gió và không có chịu bảo vệ, châm dầu. Nhiều khi đem về được một tuần, hai tuần, một tháng, hai tháng, một năm, hai năm, giờ hết dầu khỏi châm rồi tim bất gì cũng lụi tàn hết trơn. Một là gió mạnh là ở ngoài, hai là cái tim bất nó bị cháy ở dưới mà mình không có cạy mấy cái đó ra rồi nó cháy cũng không được dầu cho nó có dầu, ba là nó hết dầu, có nhiều tác nhân lắm. Một là tác nhân bên ngoài, hai là tác nhân tự thân, ba là tác nhân cái ngoại duyên mà mình không có nỗ lực nhiệt tâm để mình châm cái trí huệ vô, tiếp tục châm cái dầu, cái nhiên liệu vô để cho cái ánh sáng trí huệ của ngũ uẩn này, thánh trí ngũ uẩn này nó được tồn tại, nó duy trì bền lâu, có nhiêu xài nhiêu hết thì thôi, rồi xong.

Mình phải mồi dầu, châm dầu, nhất trí không? Mỗi ngày mình lên tu là mình châm dầu đó, mà ai không lên tức là không châm dầu, nhớ kỹ vậy đó, bữa nào mình không lên mình tu trừ công việc của chúng, trừ mình bệnh nặng đi không nổi, còn không mình không lên tức là mình không châm dầu cho ngọn đèn thánh trí của mình, chừng nào pháp hành mình vững chắc, thành tựu chánh kiến rồi lúc đó mình ở đâu cũng tu được hết, mà mình chưa thì mình phải nương chúng. Đức chúng như hải, phải nương chúng bằng cái thời khóa, nhất là cái thời khóa mình đây một ngày tám tiếng, tuyệt diệu không? Bây giờ nó mệt, nó buồn ngủ cũng ráng lết lên, ráng lê lên, lôi cái cục thịt này lên chứ ở dưới coi gì được, xấu hổ quá trời không lẽ giờ người ta lên ngồi, pháp âm vang dội, thiền quán ầm ầm vậy mà nằm dưới này mặt mũi nào coi cho được, thôi cũng ráng lết lên.

Nếu lết lên cái ngay cái thân bệnh mà vô ngay bữa đó triển khai thiền quán về cái thân bệnh mà tâm không bệnh thì hoát nhiên đại ngộ, tỉnh táo, mạnh mẽ thoát ra cái cảm giác bệnh đó, trúng ngay cái chỗ đó luôn, tuyệt vời không? Cho nên mình tu nó hay lắm, mình biết vận dụng nó hay lắm, ngay cái chỗ bệnh đó lại là cái chỗ mình tu, ngay cái chỗ khổ đó lại là cái chỗ mình tiến, ngay cái chỗ chướng ngại đó lại là cái chỗ để cho mình vượt lên. Nếu mình là người có chí tiến thủ thì càng chướng ngại mình càng vươn cao, càng khó khăn, thử thách nhiều chừng nào thì mình càng có một cái sức mạnh để bước gần đến thành công chứ đừng than thở gì hết, khổ muốn chết còn than gì nữa, muốn gần chết rồi mới vô đây cạo đầu, vô đây đừng than gì nữa hết đó, đạp đổ nó để bước lên, không có than thở gì nữa hết. Than với mình để mình tu chứ không phải than để cho mình kiếm cớ để mình lu bu, nhớ vậy đó, thấy khổ để mình tu. Chúng ta thấy là Đức Phật dạy đây những cái sắc; thọ; tưởng; hành; thức quá khứ, hiện tại, vị lai rồi định nghĩa cho mình thấy.

"-- Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỳ-kheo ấy... hỏi thêm câu hỏi nữa:

-- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, được gọi là sắc uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là thọ uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là tưởng uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là hành uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là thức uẩn?

-- Do nhân bốn đại, này Tỳ-kheo, do duyên bốn đại, được gọi là sắc uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là thọ uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là tưởng uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là hành uẩn. Do nhân danh sắc, do duyên danh sắc, được gọi là thức uẩn" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)

Chúng ta thấy cái bài kinh này quan trọng với đường lối tu trí ngũ uẩn của mình không? Rất quan trọng, tất cả những cái phương diện, góc độ, khía cạnh của ngũ uẩn ở trong cái bài kinh này trình bày tương đối đầy đủ. Nói thì nó đơn giản vậy đó mà để mình hiểu là phải tu lắm, bậc đạo sư nói những lời của Đức Phật là khẩu quyết, đọc không phải dễ hiểu, mình thấy mình đọc vậy thấy dễ quá, đơn giản quá nhưng mà cả một cái thâm ý rất là thâm sâu, thậm thâm pháp nghĩa. Đây là Đức Thế Tôn trình bày duyên sanh pháp và cái sự sanh diệt, duyên khởi của ngũ uẩn, nó không có thật. Thí dụ như bây giờ lúc mình chưa nhận diện được sắc uẩn là đất, nước, gió, lửa thì mình nhìn một cái tòa cung điện dát vàng trăm tỷ, ngàn tỷ, triệu đô, tỷ đô thì mình nhìn thấy mình mê không ạ? Mình nhìn mình thấy đẹp quá, không thể tưởng tượng nổi, mình nhìn thấy cái nhà xập xệ có hai ba tấm tôn thì mình nhìn thấy sao mà tệ, mà xấu xí nhưng mà bây giờ khi đã mình nhận diện được về sắc pháp, sắc uẩn rồi đó thì mình nhìn cái nhà xập xệ này là tứ đại, còn tòa lâu đài kia cũng là tứ đại.

Tất cả đều là đất, nước, gió, lửa thôi, tuyệt vời không? Tất cả giống hệt nhau thôi nhưng mà cái tòa lâu đài này là nước mắt, máu, bất an, lo sợ, nhiều khổ đau, nhiều sợ hãi, nhiều lo lắng. Phải nhìn thấy như vậy, thấy như vậy là thấy đúng của bậc thánh, không thấy như vậy là thấy sai của phàm phu mà mình học cái này từ từ rồi mình thấy được không ạ? Bắt đầu thấy được chưa ạ? Đó là nhận diện sắc uẩn chứ không phải chỉ học ở đây rồi biết ở đây không. Bây giờ mình gặp một người hoa hậu quốc tế rồi mình nhìn một người lê lết, què quặc, bại liệt, ăn xin ở ngoài đường thì cái người hoa hậu quốc tế, hoa hậu hoàn vũ đó cái thân họ làm bằng gì? Bằng tứ đại đất, nước, gió, lửa, rồi cái người què quặc, bại liệt, lê lết đi ăn xin ngoài đường cái thân cũng bằng tứ đại. Như vậy có khác không?

Mình đang tập thì mình phải nhắc mình, mình có như lý tác ý nên mình phải nhắc từ từ rồi mới thâm nhập được. Cứ nhắc "thì cũng tứ đại đất, nước, gió, lửa thôi và trong đó cũng thúi quắc, cũng cứt đái trong đó thôi", có không? Có cứt không hay là cái người què quặc, bại liệt, đi ăn xin có cứt còn cái người đẹp mà minh tinh điện ảnh không có cứt? Nói huỵch toẹt ra luôn vậy đó, học Phật rồi phải nói vậy đó, là cái cầu tiêu di động, công ty xuất nhập nguồn nước tiểu, tất cả đều giống vậy hết. Vì vô minh, vì khát ái, vì ngu si, vì dục vọng cho nên mình không thấy được sự thật, mình rước về đi rồi mình thấy, tại họa sẽ đến với mình, nhờ vậy mới đi cạo đầu đó, nhất trí không?

Mình thoát ra được cái nạn đó rồi vì thế mình tập nhìn là nhìn tới cái bản chất của nó chứ không có nhìn trên cái biểu diện, cái vẻ ngoài của các pháp. Mình nhìn cái bản chất của nó là nó giống nhau hết đất, nước, gió, lửa nhưng mà thà mình ở một cái nhà tranh mà lòng mình nó thanh thản, yên bình, ít lo lắng còn đỡ hơn mình ở một cái nhà dát vàng mà mình hồi hộp, mình sợ hãi, mình bất an. Giữa hai cái mình chọn cái an ổn, nhẹ nhàng, thảnh thơi hay mình chọn cái lo lắng, sợ hãi, bất an chọn cái nào? Đương nhiên ai cũng chọn cái nhẹ nhàng hết đó là tu rồi đó, đó là khôn rồi đó, đó là hiền trí đó, thành ra cái chỗ này để chúng ta thấy được học là một cái lý thuyết, còn thực tập, thực hành vận dụng trong đời sống thường ngày là cái hơn nhau chỗ đó chứ học thì ai cũng ngồi học giống vậy, nói ra là thuộc hết nhưng tới chừng vận dụng có được hay không thì lúc đó mới tính. Cái vận dụng đó là do cái sự tư duy và nhắc nhớ, quán xét rồi nhắc, rồi nhớ, quán rồi xét hoài, lấy niệm làm tăng thượng mà.

"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)

Phải tiếp xúc với pháp để mình tích tụ, để dành những cái trí tuệ đó, mình gom góp giống bỏ ống heo vậy đó. Cứ mỗi ngày nghe thì lấy hai ba tờ bỏ vô, cứ mỗi lần ngồi thiền cho chút bỏ vô để dành, cứ mỗi lần tư duy thiền quán trình pháp để vô chút để dành, viết bài để dành tới chừng hữu sự bị bệnh thì đập ống heo đủ tiền để bác sĩ, thậm chí dư luôn, được không? Cũng vậy, mỗi một thời pháp, mỗi một thời thiền, mỗi một thời mình nghe mình chiêm nghiệm như vậy, mình suy tư, mình viết bài trình pháp như vậy, mình tích lũy, tích tập, gom góp, chất chứa đó là xúc tập khởi. Mình cứ tiếp xúc vậy đó, mình cứ thấy rồi cứ nghe, cứ nghĩ rồi cảm thọ, tư duy rồi nhận thức, quán chiếu hoài, nó tích lũy, tích tập, tập hợp, tích tụ, chất chứa rồi nó khởi ra cái pháp, thấy cũng pháp, nghe cũng pháp, nghĩ cũng pháp, tư duy cũng pháp, cảm thọ dào dạt ở trong này, pháp nó tràn ngập hết đó là tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi.

Tác ý làm cho nó sanh khởi rồi lấy niệm làm cho nó tăng thượng, cứ nhớ hoài, nhắc quà "nhớ nha, nhớ chết nha, chết tới nơi rồi, sáu bảy chục tuổi, rồi nhớ chết nha, bạc đầu rồi, răng rụng nè, ung thư nè". Nhắc hoài, tác ý hoài như vậy thì nó trú vô pháp từ từ nó thể nhập cho nên tất cả pháp đấy định làm thượng thủ là người lãnh đạo, người dẫn đầu, người cầm đầu, người chỉ huy thì như vậy là tập trung tâm ý vào trong pháp. Đức Phật dạy phải để tâm vào cái sự đoạn diệt khát ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tức là tập trung tâm ý, để tâm, đem cái tâm mình để vô trong đó, tập trung tâm ý vào trong cái chỗ nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận ham muốn, thích thú, thèm thuồng, khao khát đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức.

Không phải để cái tâm để đi lo phát triển sắc; thọ; tưởng; hành; thức mà là để cái tâm nhiếp phục, chế ngự lòng dục, lòng tham, lòng muốn, lòng thèm, lòng khao khát, khát ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Nó ngược lại với kẻ phàm phu không biết tu là vậy đó, người không biết tu là để tâm để phát triển sắc để gom góp sắc, để tích lũy sắc, để bành trướng cái sắc này ra, tăng trưởng, phát triển quảng đại cái sắc nhưng người tu trí ngũ uẩn là người làm cho giảm thiểu chứ không cho tăng trưởng, làm cho nó đoạn giảm chứ không cho nó tăng, không cho nó sanh thêm nữa. Tại vì sao? Tại vì nó là mầm móng của khổ đau, mầm móng của tai họa, con thí dụ đơn giản con tạc một cái tượng Phật bằng ngọc để ngay chỗ này thì chúng ta có ngồi đây để nghe pháp thoải mái, nhẹ nhàng vậy không hay phải có mấy người ngủ canh? Đơn giản vậy thôi, rõ không? Sáng không? Bởi vì cái sắc này nó là khổ, nó là nguyên nhân của khổ.

Không phải mình tu là chỉ tu tâm không đâu mà tu luôn sắc; thọ; tưởng; hành; thức, cứ nói "nhưng mà tâm tôi không có dính", không dính thì sao có đó? Không dính sao ngủ không được? Không dính sao nó mất rồi bị sầu, bi, khổ, ưu, não? Hãy nhớ kỹ cái đó, nếu con đi cái hướng bình thường giờ này Linh Quy không phải vậy đâu, nhiều sắc lắm, nhiều màu lắm mà cũng không có chúng ta ngồi đây, các ngài cũng không về với con đâu mà người khác về. Có thấy rõ ràng không? Sáng tỏ không? Minh minh bạch bạch, tỏ tỏ tường tường, trong trong sáng sáng, tịnh tín bất động cho nên do cái nhân xúc, do duyên xúc cho nên thọ; tưởng; hành sanh khởi, xúc tập khởi cho nên thọ; tưởng; hành tập khởi. Cảm giác này sanh khởi lên là do duyên xúc, do mình thấy người đó thì mình có giận hoặc là có thương, do mình nghe cái lời nói đó thì mình có dễ chịu hay là khó chịu, do mình tiếp xúc với cái người đó, cái cảnh, cái món đồ đó thì về nhà cái hình ảnh ám ảnh trong tâm. Nếu không có tiếp xúc thì đâu có thọ; tưởng; hành; thức

Như vậy mình thấy được cái sự tập khởi và đoạn diệt, xuống dưới Đức Phật sẽ nói sự nguy hại và sự xuất ly của chúng nó. Cho nên có những cái bài kinh mà các vị đó hỏi thế nào là Dự Lưu thì Đức Thế Tôn nói người Đa văn Thánh đệ tử thấy rõ được sắc; thọ; tưởng; hành; thức biết được vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly đó là bậc Dự Lưu. Vì chúng ta tu ngũ uẩn cho nên các cái vị mới phải nắm vững về ngũ uẩn và các phương diện, góc độ, khía cạnh của ngũ uẩn rồi sau này mình bung ra các pháp khác dễ lắm. Còn nếu như một hồi mình nói căn, hồi nói trần, hồi nói thức, hồi nói xúc, hồi nói thập nhị sứ, mười tám với mười hai nhân duyên là mình loạn tại vì cái tâm mình chưa có sâu sắc, nó chưa có vững cho nên mình nói nhiều quá là không biết đường luôn, giống như đứng ra ngã tám không biết đi đường nào. Vì thế mình tập trung nói vào trong ngũ uẩn thôi và khi một pháp này mình thông đạt rồi thì tất cả pháp khác nó ở trong tầm tay thôi, không có khó. Cho nên mình thấy được cái sự tập khởi và đoạn diệt của ngũ uẩn.

"Người luôn luôn chánh niệm,

Sự sanh diệt các uẩn,

Ðược hoan hỉ, hân hoan,

Chỉ bậc bất tử biết"

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 374)

Hôm qua con có nói mới vừa thấy hoa xuân nở ra là lập tức mình quán nó héo tàn liền, vừa thấy cái cảnh xuân tươi thắm lập tức mình nhìn bằng con mắt trí là nó úa xào, nó rơi rụng, lòng mình bình thản. Đó là tập nhìn cái sự sanh và diệt của sắc pháp cũng như trong thân này cũng vậy tập, nhìn cái sự sanh diệt của nó, nhìn thấy nó sanh biết nó diệt, thấy nó thành thì mình thấu cái tướng hoại của nó.

"Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

-- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, để con sau khi nghe pháp, có thể sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

-- Cái gì là đoạn diệt pháp, này Ràdha, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, đoạn trừ lòng tham, đoạn trừ lòng dục và tham. Và cái gì là đoạn diệt pháp, này Ràdha? Sắc, này Ràdha, là đoạn diệt pháp; ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, cần phải đoạn trừ lòng tham, cần phải đoạn trừ lòng dục và tham. Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là đoạn diệt pháp; ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, cần phải đoạn trừ lòng tham, cần phải đoạn trừ lòng dục và tham" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, III. Phẩm Sơ Vấn, II. Ðoạn Diệt Tánh)

Những cái thứ đó là thứ tiêu diệt, thứ hoại diệt, thứ hủy diệt, thứ tàn hại, thứ giết người mà mình ham cái thứ giết người đó để làm cái gì? Mình tác ý vậy hoài, mình nhắc hoài như vậy thì từ từ mình có một cái trí tuệ bất cộng với phàm phu, không có chung cùng với những người mê nữa, lần lần mình sẽ tỉnh. Mình sẽ có một cái lối thoát riêng, một con đường riêng, một đạo lộ riêng, xuất ly đạo lộ cho nên mình tập nhìn thọ; tưởng; hành này là cái pháp sanh diệt, pháp duyên sanh, những hình ảnh ảo ảnh này, những cảm giác bông bóng nước, này vẫn suy nghĩ lầm thầm này như là cây chuối, lột từng ra không có cái lõi bên trong, tưởng giống như ráng mặt trời, cái mây chút xíu vậy rồi mất tiêu hết. Chúng ta nhớ mình ngắm mặt trời ở bên Thánh Pháp Viện mới quay qua nhìn cái rồi mây che liền tức khắc, chút xíu lóe ra được chút rồi tan biến hết. Nếu mình khéo thấy đó thì không những nhìn thấy cái cảnh mà mình hoan hỉ đẹp mà mình còn nhìn thấy cái sanh diệt pháp, khéo thấy, khéo quán, khéo tư duy, khéo sử dụng cái thánh trí trong cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc, cái biết, đó là cái người trí, người hiền trí.

Ngược lại gặp gì dính đó, thấy gì mắc nấy, nghe gì là buột cái đó thì là khổ lắm, khó tu lắm cho nên mình nhìn thấy được thọ; tưởng; hành này là cái duyên của xúc, danh sắc cũng vậy, thức này là do danh sắc tập khởi, sắc này là cái tượng hình ở trong bào thai của người mẹ, danh này là xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư cho nên thức nó mới có mặt. Vì mình yêu thích cái sắc này, yêu thích mắt; tai; mũi; lưỡi; thân này cho nên thức mới có chỗ an trú, mình yêu thích sắc, yêu thích mắt, yêu thích tai, mũi, lưỡi, thân, yêu thích ý. Tại sao mình yêu thích? Vì mình không hiểu biết rằng nó là cái thứ vô thường, khổ đau cho nên mình yêu thích, mình tưởng nó thường, tưởng nó vui, tưởng nó đẹp, tưởng nó là ta rồi mình yêu, mình thích, mình khoái, mình mong muốn, mình thèm khát, mình đi tìm kiếm, mình truy tầm rồi mình nắm giữ, mình bám chặt vô thì khi mình yêu thích như vậy thức có chỗ an trú, thức nó an trú vào ở trong sắc này, trong thọ; tưởng; hành này, thức an trú vào trong mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này, nó có chân đứng ở trong đó, nó làm hang, làm ổ, làm tổ, xào huyệt, căn cứ địa trong đó thì nó dính vô đó luôn, nó ra không được trong vô thỉ kiếp.

Đó là cái thức hôn mê không thấy bậc thánh, không gặp các bậc chân nhân, không học các bậc thánh, không tu tập pháp bậc thánh, không thuần thục pháp các bậc thánh cho nên kẻ vô văn phàm phu nhận sắc là mình, thọ; tưởng; hành; thức là mình, là của mình, là tự ngã của mình, nhận mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Khi mình gặp được bậc thánh, khi mình nghe được chánh pháp, khi mình tu theo pháp bậc thánh, mình thuần thục pháp các bậc thánh thì mình sẽ thấy rằng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Vì mình không gặp bậc thánh, mình không nghe pháp các bậc thánh, không tu tập pháp các bậc thánh, mình không thuần thục pháp các bậc thánh cho nên mình sống với cái tâm hôn mê, tâm thèm khát rồi ham muốn, nắm giữ.

Vì nó ham muốn, nó nắm giữ cho nên mới có ra hiện hữu có mặt, vì nó hiện hữu trong một cái nghiệp lực ác cho nên nó hiện hữu ở trong một cái giới thấp kém và cái tâm não hại nhiều vì nó an trú trong một cái giới vực thấp kém của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vì nó cũng yêu thích, nó khao khát, nó nắm giữ, thức nó an trú nhưng mà cái này vừa có một cái tâm không tổn hại vừa có tâm tổn hại cho nên nó an trú cái giới vực trung bình vừa vừa của con người thường thường. Vì nó tham ái, thức nó có chỗ an trú, an lập mà nó có cái tâm không có não hại cho nên nó sanh cái đẳng cấp rất là cao, nó an trú ở trong giới vực của thù thắng của cảnh chư thiên. Tất cả đều ở trong tam giới hết, thức có chân đứng mà nó an trú, nó bị làm hang, làm ổ, làm tổ rồi nó bám chặt vô, trở thành một cái căn cứ địa gỡ không ra, cắt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy, nó cứng chắc ở trong đây, thành quách nó là tường đồng vách sắc, thâm căn cố đế vô lượng, vô biên kiếp, vô thỉ kiếp chứ không phải là một đời, hai đời, trăm đời, ngàn đời, mà nó vô thỉ kiếp.

Nó bám chấp, chấp thủ một cách cứng chắc trời gầm không nhả, phải dùng mấy cái từ này diễn tả mà chưa hết nữa, thâm căn cố đế, trời gầm không nhả, tường đồng vách sắc, như là keo với sơn mà keo dán tượng, keo con voi. Dùng cái keo đó không cẩn thận dính tay là rửa không ra, cái tâm chấp thủ, cái tâm mê này còn hơn cái keo đó nữa, trời gầm không nhả, pháp ầm ầm như vậy, nói đến nổi chẻ cái đầu ra vậy mà trở xuống nó cũng "tôi à, dám đụng vô tôi hả". Khổ vậy, cứng đầu cứng cổ, ngu si, mê muội nên tu hoài, ngày nào cũng lên ầm ầm như vậy mà khi trở xuống rồi nó cũng chứng nào tật nấy, ngựa quen đường cũ, lẻn lẻn quay trở lại cái hang của nó, nó chui vô cái hang nằm trong đó. Cái hang của bản ngã, cái hang cảu tham, sân, si, cái hang có dục ái, mình thấy nó chạy vô hang mà cũng kệ "nằm chút cho khỏe đi".

Cái ái nhiều lớp lắm, mình thương cái dục, cái ái đó, mình cũng chiều theo nó, dùng cái từ nuông chiều hay lắm. Bây giờ không nuông chiều nữa, thẳng tay trừng trị nó, nhất đao lưỡng đoạn, một dao hai khúc "tao chặt mày, mày quậy tao nữa hả? Mày dụ dỗ tao hả, tao chém mày, xử lăng trì, ngũ mã phanh thây".

"Tỳ-kheo ấy... hỏi thêm câu khác:

-- Như thế nào, bạch Thế Tôn, là có thân kiến?

-- Ở đây, này Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có sắc, hay quán sắc ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong sắc... thọ... tưởng... hành... quán thức như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có thức, hay quán thức ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỳ-kheo, là có thân kiến." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)

Phá được cái này sẽ vô Dự Lưu, phá được cái này cái sẽ vào dòng pháp, phá được cái này là nhãn sanh, tuệ sanh, trí sanh, quang sanh, minh sanh. Như thế nào là cái kiến chấp về thân? Kiến là thấy sai về thân, cái nhận lầm, cái hiểu lầm, cái ngộ nhận, cái thấy trật lất về tự thân của mình cho rằng đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Vừa rồi con mới nói do cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì đó là có thân kiến, là có kiến chấp về thân. Hồi tối có nói rồi, giờ lặp lại mà có lặp một ngàn lần nữa thì cũng không dư trừ khi nào Nhập Lưu, mà khi Nhập Lưu rồi thì càng thích nghe thêm, nhất trí không? Chứ phải không nói "thầy ơi, cái bài kinh này con học rồi, mới hôm nói rồi sao giờ nói nữa?", nói mà có nhập chưa? Có thấy chưa? Có chứng chưa? Chứng rồi thì càng thích nghe nữa.

Người phàm phu không có nghe được thánh pháp Nikāya, thánh trí ngũ uẩn thì người này không có gặp được bậc chánh kiến, bậc chân nhân, bậc thánh, không thuần thục pháp các bậc thánh, không tu tập pháp các bậc thánh thì cho rằng, cho là sắc này là tự ngã. Nói tiếng Việt cho dễ, cho rằng cái hình hài là mình, cho mình là cái hình hài này, cho cái hình hài này là nó ở trong mình và cho mình ở trong cái hình hài này. Đây là cách nói của Ấn Độ ngày xưa bốn cái này gọi là tứ cú, cái cách lý luận, bây giờ thì cái này thì người ta không có quen nhưng mà cái cách này rất hay, nó đưa ra nhiều góc độ, khía cạnh nhận lầm về thân xác này, tôi ở đâu, tôi đây chứ tôi đâu, tôi đây nè, hỏi tôi đâu thì tôi trong này đây nè, cái này là tôi nè, đây là của tôi, tôi là đây, đây là tôi, tôi ở trong này, trong này là tôi. Nói cái Tiếng Việt dễ hiểu, nghĩ như vậy là có thân kiến, là kiến chấp về thân.

Mình dùng cái suy nghĩ này dẹp cái suy nghĩ kia, thêm chữ "không" vô, giờ nói rằng cái này là tôi thì thay bằng cái này không phải là tôi, cái này là của tôi thay bằng cái này không phải là của tôi, ở trong này là tôi thay bằng ở trong này không phải là tôi, tôi ở trong này thay bằng tôi không có ở trong này, tuyệt vời không? Một chữ "không" thôi phá hết, cái chữ "không" này không phải là cái chữ ở trên ngôn ngữ, không phải là k-h-ô-n-g mà là cái thấy thật sự thấu đáo cái bản chất tứ đại nãy, ba mươi hai thể trược, chín đoạn tử thi. Vì do quán chiếu như vậy, thẩm thấu như vậy, thấm thía như vậy, thấm đẫm như vậy, thâm nhập, thể nhập cái trí tuệ thực sự nó đang là như vậy cho nên mình thấy nó là trống rỗng, trống không, vô ngã, vô nghĩa, vô thường, khổ đau, bất tịnh, bệnh hoạn, không có.

Một cái chữ" không" đó làm rực sáng lên cái thánh trí tuệ mà mình phải sống với cái chữ "không", mình ăn với chữ "không", mình thở với chữ "không" Mình uống với chữ "không", tối ngủ mình ôm cái chữ "không" mà trong mỗi cái suy nghĩ đều là không "không có nha con", nghĩ cũng không, cảm giác cũng là không, không có tôi, tưởng hình bóng trong tâm mình là không có tôi, nhận thức không có tôi mà ngay cả chình hình một đống này cũng không, chút xíu nó thành đống tro. Mình nhắc hoài, mình ăn, mình ở, mình nói, nín, đi, đứng, ngồi, nằm, thức, im lặng, bất cứ lúc nào mình sống "trống rỗng, cái đồ vô nghĩa này, cái đồ vô giá trị này, cái đồ ung nhọt này kênh kiệu với ai, vênh váo với ai, ta đây với ai, nhục không".

Mình phá hết tất cả, dùng tất cả cái trí tuệ mà mình được truyền, à bao nhiêu những cái pháp khí, vũ khí, đạo khí, đạo cụ, thánh trí trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, mình dùng hết tất cả thần đao thánh kiếm, bao nhiêu những cái vũ khí, mình cho bom nguyên tử nổ banh xác nó luôn, nhất trí không? Phá vỡ cái thân kiến này ra tức là ngày đêm mình cứ chăm chăm như mèo rình chuột vậy đó, như sư tử bắt mồi vậy đó. Bất cứ lúc nào nó nhảy ra là mình đập cái đầu nó liền, chụp cái đầu nó liền, bẻ cổ nó liền, sử dụng sức mạnh của mình, cái tuệ giác của mình, chăm chăm miên mật như vậy, liên liên tục tục, miên miên mật mật như vậy, trong trong sáng sáng, mạnh mạnh mẽ mẽ như vậy, tinh tinh tấn tấn như vậy thì mình diệt nó được.

"Ta nhất định phải diệt mi, mi phải chết với ta, không thể nào cho mi sống được, chết không bao giờ m đầu thai trở lời được nữa ta mới vừa lòng, không còn có thể sanh khởi trở lại trong tương lai, diệt tận luôn", như vậy là ứng cử viên lậu tận, còn tu phất phơ, tu sơ sơ, tu lơ mơ, tu khù khờ, tu mộng mơ rồi nói mớ. Tức là cái sự tu này phải dồn tâm lực, con chuẩn bị sẵn cái bài kinh này dữ dằn lắm, bài kinh này rúng động lắm.

"- Có bảy hạng người này, này các Tỳ-kheo, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bảy?

Ở đây, có hạng người sống tùy quán vô thường trong tất cả hành, tưởng vô thường, cảm thọ vô thường, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải với tuệ thể nhập. Vị ấy, với sự đoạn diệt các lậu hoặc... sau khi chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Này các Tỳ-kheo, đây là hạng người thứ nhất đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, II. Phẩm Tùy Miên, (VI). Không Thường Xuyên)

Sống tùy quán thường trong tất cả hành là gì? Chữ "tất cả hành" là sự vận hành của sắc, sự vận hành của thọ, sự vận hành của tưởng, sự vận hành của hành, sự vận hành của thức, tức là tất cả thấy cái gì, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, bất cứ cái gì, cảm giác, suy tư, tưởng rồi suy tư, nhận thức, tất cả những cái thi vi các ngài nhìn lúc nào cũng thấy cái tính chất vô thường, bại hoại, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt của nó hết. Như vậy gọi là tùy quán vô thường trong tất cả hành, mình đi chợ Tết nhìn vàng rực hết, bông mai, bông vạn thọ, bông cúc… Nhưng nhìn tới đâu nó rã rời tới đó, rụng hết, nhìn tới đâu rụng tới đó, đó là tùy quán vô thường trong sự vận hành của sắc.

Nhìn công trình vĩ đại to lớn nhưng thấy sự sụp đổ trong đó, thấy sầu, bi, khổ, ưu, não trong đó, đó là tùy quán vô thường trong sắc. Nhìn thấy một người khỏe mạnh nhưng thấy có thể họ đột quỵ ngay chỗ đó, đó là tùy quán vô thường trong tất cả hành.

"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình giàu có, được đặt tên là Bhaddiya, nhưng vì ngài rất thấp, nên được biết với tên là Lakuntaka Bhaddhiya (Bhaddiya người lùn). Nghe bậc Ðạo Sư giảng, ngài xuất gia, trở thành một nhà học giả và biện tài, ngài dạy cho các người khác với một giọng nói rất dịu ngọt. Một hôm, nhân ngài đang lễ, một phụ nữ đi xe với một Bà-la-môn, thấy ngài và cười lên, để lộ hàm răng của nàng. Vị Trưởng lão, lấy hàm răng ấy như một đề tài để thiền quán, khởi lên thiền định và trên căn cứ ấy, phát triển thiền quán và trở thành một vị Bất Lai (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, (CCXXV) Lakuntaka-Bhaddiya (Thera. 49))

Vị này an trú trong định tướng cốt tưởng, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu định tướng không mất như vậy cho nên chúng ta mới giải mã được tùy quán vô thường trong tất cả hành, tưởng vô thường trong tất cả hành. Thí dụ mình lấy cái hòm làm cái định tướng, mình lấy ba mươi hai thể trược làm định tướng, mình lấy cái nắm tro làm định tướng, mình lấy bộ xương làm định tướng, mình lấy giòi làm định tướng thì như vậy cái tâm mình thường thường hiện cái đó ra. Mình nhìn cái người nào người đó mặt cũng có giòi hết, nhìn người nào người đó cũng ra bộ xương hết, nhìn xuống đây trăm bộ xương, không có ai hết.

Tùy quán vô thường trong tất cả hành sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tưởng vô thường, cảm thọ vô thường trong tất cả thời gian liên tục không gián đoạn. Liên tục không gián đoạn chứ không phải là vô thiền đường mới quán, chứ không phải nhìn thấy người chết mới quán. Với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập, tâm thắng giải là cái nội tâm có một cái sự hiểu biết về pháp, về trí tuệ một cách thù thắng, trí về ngũ uẩn đó, trí về vô thường, khổ, vô ngã đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức sâu sắc, sắc bén, sắc sảo, bén nhạy, linh hoạt, thấu thị, xuyên thủng và phá vỡ sắc; thọ; tưởng; hành; thức trong tất cả thời, liên tục không gián đoạn. Tuệ thể nhập là trí tuệ của cái vị này là hướng tới cái sự thể nhập vào trong cái vô thường, khổ, vô ngã đó.

Đó là công phu, là bí quyết, khẩu quyết, là bí kiếp mà các bậc thánh chứng ngộ. Đó mới là người đáng được chấp tay, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người. Ngày xưa các bậc thách thánh Tăng, các vị Tỳ-kheo là tu như vậy, đạo tràng Nikāya chúng ta phải nỗ lực tu như vậy, dốc hết sức mình, đem hết cái tâm lực của mình, cái tâm huyết của mình, tu quyết liệt. Chúng ta có thấy bậc đạo sư không? Có như vậy thì mới có thể thể nhập được, mới thành tựu được tâm thắng giải, tuệ mới thể nhập được. Cái bài kinh này đọc là con chấn động, thân tâm sụp xuống lạy vô thượng pháp luân, vô thượng thánh trí, vô thượng tuệ giác, vô thượng đạo lộ, tối thượng xuất ly là bài kinh này. Những người như vậy mà giờ người ta cúng một cái núi vàng cái ngài có động tâm không? Đâu còn ham thích gì nữa cho nên phước báo của người cúng mới vô lượng vô biên.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người sống tùy quán vô thường... với tuệ thể nhập. Với vị ấy, sự chấm dứt các lậu hoặc và sự chấm dứt sinh mạng xảy đến một lần, không trước không sau. Ðây là hạng người thứ hai, này các Tỳ-kheo... vô thượng ở đời." (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, II. Phẩm Tùy Miên, (VI). Không Thường Xuyên)

Khi vị này chứng nhập là nhập Niết-bàn ngay tại chỗ, đó là bậc A-la-hán, các ngà lậu tận ngay lúc đó, nhập Niết-bàn luôn ngay tại chỗ đó khủng khiếp không. Đó là sự tu các bậc thánh giả Tỳ-kheo thờ Đức Phật đó, phải hướng tới đó, hướng tới đó, hướng tâm tới đó, quyết tâm hướng tới đó, còn nhiều các vị sau, các cái vị trung gian Niết-bàn, những vị sanh ở cõi Bất Lai cho đến bảy cái cấp độ đều là tu một cái pháp như vậy thôi, đều tu như vậy hết, quán sự vô thường trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, quán những cái cảm thọ vô thường, những cái tưởng vô thường, thọ; tưởng; hành này vô thường, khổ, vô ngã.

"- Có bảy hạng người này, này các Tỳ-kheo, đáng được cung kính... ở đời. Thế nào là bảy?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người sống tùy quán khổ trong tất cả các hành... sống tùy quán vô ngã trong tất cả các pháp... sống tùy quán lạc trong Niết-bàn, tưởng lạc, cảm thọ lạc trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Vị ấy với sự đoạn diệt các lậu hoặc... sau khi chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Ðây là hạng người thứ nhất đáng được cung kính... là ruộng phước vô thượng ở đời. (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, II. Phẩm Tùy Miên, (VII). Khổ, Vô Ngã, Tịch Tịnh)

"Chỉ có khổ được sanh,

Khổ tồn tại, khổ diệt,

Ngoài khổ, không gì sanh,

Ngoài khổ không gì diệt." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỳ-kheo Ni, X. Vajirà)

Ngài tu theo cái này để chứng quả A-la-hán, lúc nào cũng nhìn thấy cái tính chất khổ ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, bất cứ lúc nào tùy quán khổ trong tất cả các hành, tưởng về khổ, cảm thọ về khổ trong tất cả thời liên tục không có gián đoạn với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập, vị ấy có sự đoạn diệt các lậu hoặc sau khi chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Tức là vị đó chứng đạt cái tâm đó, trú vô tâm đó luôn là bậc thánh tối thượng A-la-hán đó, hoặc là các cái bậc thấp hơn. Có vị sống tùy quán vô ngã trong tất cả các pháp, quán vô thường, quán khổ và tới quán vô ngã trong tất cả các pháp, quán liên tục không gián đoạn lúc nào cũng trú ở trong cái trống rỗng đó, cái vô ngã, cái trống rỗng, trống không. Bất cứ mỗi lúc mọi nơi, mỗi thời mọi chốn đều trú ở trong cái trí vô ngã đó liên tục không gián đoạn.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người sống tùy quán lạc trong Niết-bàn, tưởng lạc cảm thọ lạc, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Với vị ấy, sự chấm dứt các lậu hoặc và sự chấm dứt sinh mạng xảy đến một lần, không trước không sau. Ðây là hạng người thứ hai đáng được cung kính... là ruộng phước vô thượng ở đời." (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, II. Phẩm Tùy Miên, (VII). Khổ, Vô Ngã, Tịch Tịnh)

Đây là quán lạc của Niết-bàn, là sự dập tắt hoàn toàn tham, sân, si, dục ái, vô minh và bản ngã, an lạc, người ta trú ở trong cái lạc đó. Như vậy mình quán khổ mà mình thấy ngán thì đổi mình quán lạc, thường thường con hay cho chúng ta đổi hai cái cảm giác đó. Về Núi Yên Tu thật tuyệt vời là lạc mà vô cái trí thánh trí về khổ là cùng khắp hết, khổ không, đó là hai cái đó, lạc đó là cái lạc của viễn ly, lạc của xả ly, lạc của xuất ly, lạc của Niết-bàn. Khi nào mình thấy buồn buồn, chán chán, nản nản thì quán lạc của Niết-bàn, mình đang viễn ly lạc, mình đang xuất ly lạc, mình đang ly dục được cái lạc, mình trú trong cái lạc đó hoài, mình hoan hỉ, mình hạnh phúc, mình an lạc, mình làm cho mình sung mãn, có dưỡng chất đầy đủ hết giống như mình uống vitamin tối thượng ở trong tam thiên đại thiên thế giới này, đề hồ thượng vị từ ở trên, thánh trí, thánh nhũ rót xuống, quán đảnh mình vậy đó. Mình hưởng cái lạc tối thượng siêu thế lạc vậy đó.

Thường thường ở phía đầu tiên là chỉ cho các bậc A-la-hán rồi sau đó mới từ từ xuống, có các vị ngay chỗ đó an trú, có vị ngay chỗ đó nhập diệt, rồi có vị là chưa hết, mới có đoạn được năm hạ phần kiết sử thôi, lần lần là bảy hạng người.

"- Này các Tỳ-kheo, có bảy sự thù diệu này. Thế nào là bảy?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành trì học pháp; tha thiết quán Pháp và trong tương lai khát vọng quán Pháp; tha thiết nhiếp phục lòng dục, và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục; tha thiết Thiền tịnh, và trong tương lai khát vọng Thiền tịnh; tha thiết tinh cần tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần tinh tấn; tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ; tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến.

Này các Tỳ-kheo, đây là bảy căn bản để được tán thán." (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, II. Phẩm Tùy Miên, (VIII). Sự Thù Diệu)

Một người tu mà người đó tha thiết hành trì học pháp, khát vọng hành trì học pháp trong tương lai tức là hiện tại họ chưa nhưng mà họ tha thiết, họ khao khát, đây là pháp thù thắng vi diệu thứ nhất. Mình có được cái đó là mình có pháp thù thắng vi diệu, là tha thiết hành trì học pháp và khát vọng hành trì học pháp trong tương lai. Cái này nhiều không? Mình giải chữ khát ái là khao khát, là đói khát, là thèm khát nhưng bây giờ mình không có khao khát, đói khát, thèm khát ngũ dục mà khao khát, đói khát, thèm khát, khát vọng, tha thiết để hành trì những cái chánh pháp, tuyệt vời không? Tối thượng không? Rồi mình tha thiết, mình khát vọng để mình quán pháp, thiền quán, mình tha thiết, mình khao khát, mình mong muốn được thiền quán "thầy ơi cho thiền quán đi, lâu quá rồi, ít thiền quán quá, cho thiền quán đi con khát quá, con đói thiền quán quá, con thèm thiền quán". Đó là người có một sự thù thắng vi diệu ở trong thánh đệ tử.

Tha thiết hành trì học pháp và khát vọng hành trì học pháp trong tương lai là nó có cả hai luôn, hiện tại và tương lai chứ không phải chỉ có tương lai không. Tha thiết quán pháp và khát vọng quán pháp trong tương lai tức là ngay hiện tại họ rất là tha thiết nhưng đối với tương lai thì họ khát vọng, còn quá khứ thì thôi rồi, đâu có nói, quá khứ đã rồi cho nên hiện tại và tương lai thôi. Tha thiết nhiếp phục lòng dục và khát vọng nhiếp phục lòng dục trong tương lai. Đây là ước muốn sắc bén nè, nó có liên hệ với nhau, tha thiết và khát vọng nhiếp phục lòng dục ở hiện tại và diệt tận lòng dục trong tương lai.

Đó là những người có cái sự thù thắng, vi diệu ở trong tâm, cái cảm thọ này nó có ở trong tâm, nó còn hoài không có mất chứ không phải là tha thiết bữa nay, ngày mai lại mệt, học không nổi, vậy là chưa có thù thắng, vi diệu, phải biết tác ý lên "khổ này đưa mình hết khổ, khổ này đưa mình giác ngộ, khổ này đưa mình tăng thượng, hướng thượng, cao thượng, thánh thiện nè, khổ nay là thương mình, lòng đại bi đối với mình. Tại sao mình gặp thầy lành bạn tốt mình không biết trân trọng? Đây là tối thượng, mình có biết thương mình không?". Mình tác ý và cuối cùng mình chiến thắng nó được, mình làm cho mình phát khởi sự tha thiết và khát vọng trong cái sự học pháp, hành pháp, trong cái quán pháp, trong cái sự nhiếp phục lòng dục và nhiếp phục lòng dục, tha thiết ở trong hiện tại và khát vọng trong tương lai.

Tha thiết thiền tịnh và khát vọng thiền tịnh trong tương lai, này là thanh tịnh, cái tâm an tịnh để chỉ và quán gọi là thiền tịnh. Cái tâm lắng dịu, an tịnh, cái tâm quán sát để đoạn diệt các lậu hoặc, tha thiết thiền tịnh và khát vọng thiền tịnh trong tương lai. Bằng cái tâm tha thiết, bằng cái tâm khao khát, Ni trưởng có tuổi rồi như cũng phải leo lên trên núi làm sao để vô Tu-đà-hoàn, nhất trí không? Quyết liệt đó là sự vi diệu, sự thù thắng, tu cho tới già mà lên tới hòa thượng, lên tới sư bà, lên tới Ni trưởng rồi lên thượng tọa mà vẫn còn khao khát, tha thiết như vậy là hàng hiếm, hàng quý, hàng cổ, đồ cổ, nhất trí không? Còn giờ mới tu "Nhất niên Phật hiện tiền, nhị niên Phật thăng thiên, tam niên nhập diệt" rồi xong, trời đất ơi, trời đất ơi, kêu trời.

Tu cho tới già, cho tới bạc cái đầu, ba bốn chục năm ở trong chùa mà cái lòng tha thiết, lòng khao khát để thể nhập thánh trí tuệ càng ngày nó càng to, càng lớn, càng mạnh, càng đầy ắp viên mãn, tràn đầy hết thì có đáng xưng tán không? Đáng cung kính, đáng tôn trọng là như vậy cho nên con rất mong các quý vị về đây tu học, từ xuất gia ở đây, xuất gia ở đâu không biết con không quan trọng cái đó, con chỉ quan trọng người thể nhập pháp, người có sự tha thiết khát vọng này người đó là người con ruột của Đức Như Lai, con cưng của Thế Tôn, con ngoan của bậc hiền thánh và đệ tử giỏi của bậc đạo sư.

Thầy Thiện Huệ:

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Phật, ngài là Bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chánh pháp, pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng, diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn tức là bốn đôi tám chúng, chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với thánh giới, giới được các bậc thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ đưa đến thiền định.

Sư Phụ: Dạ thưa ni trưởng có muốn chia sẻ gì với chúng con không ạ? Nãy giờ ngũ uẩn vận hành như thế nào để cho chúng con được học hỏi.

Ni trưởng: Mô Phật kính bạch thượng tọa, kính bạch chư tôn đức Tăng, kính bạch chư tôn đức Ni, kính thưa toàn thể quý Phật tử, trong ngày hôm nay khi con được học pháp, nó tồn đọng tới chiều hôm nay, một cái một ngày học pháp hôm nay nó rất nhiều chi tiết, những chi tiết mà con được đón nhận trong ngày hôm nay đó là những chi tiết rất quan trọng. Con có thể dùng cái từ nó là giải mã, có thể con sử dụng từ đó mà cũng có thể cái bài pháp hôm nay con được nghe từ hồi sáng ở nơi thượng tọa ở trong cái clip với bài kinh chiều hôm nay thì con có một cái cảm nhận: Con giống như con bò ăn cỏ, hồi sáng tới giờ con là những con bò ăn cỏ.

Vì sao con nói con là những con bò ăn cỏ? Tại vì bao tử của con bò nó có bốn túi, khi mà nó ăn cỏ thì không thể ngay thời điểm đó những cái chất bổ của cỏ sẽ nuôi được con bò, mà con bò sẽ ăn những cái đám cỏ mà nó tiếp nhận được, nó đã gần gũi để nó ăn được, nó sẽ dồn vào cái bao tử ở trong bụng, ở trong cái trong cơ thể của nó và sau khi đã ăn cỏ và dồn tất cả cỏ bốn cái bao tử đó. Khi trở về chùa lúc bấy giờ con bò đó mới ói ra từng ngụm nhơi đi, lúc bấy giờ những ngọn cỏ mà con bò ăn được sẽ là chất bổ dưỡng để nuôi cái sự sống của con bò. Ngày hôm nay con học pháp con cảm nhận từ hồi sáng đến giờ, con cảm nhận ngay từ buổi sáng, rồi tiếp thêm cái buổi chiều hôm nay nữa thì con thấy sự học pháp của con giống như con bò đó.

Vì sao? Vì giáo pháp mà hôm nay con học được buông ra thì muôn trượng và gom lại thì gom thời chỉ có một câu, đó là cái mục đích mà con đang hướng đến tức là sự thành tựu cái thánh quả Tu-đà-hoàn thì con phải có chánh tri kiến. Chánh tri kiến là con phải thấy rõ Tứ Đế, với cái buổi chiều hôm nay nữa thì cái chánh tri kiến đó thấy rõ Tứ Đế thì nó giống như là gom thời có một câu, nhưng mà những lời dạy từ kinh hay những sự giảng giải của thượng tọa buông ra rất là muôn trượng, mà muôn trượng đó để đưa về có một câu pháp hồi sáng tới bây giờ con học đó là những cái chi tiết. Tức là trong cái ngũ uẩn mà nó sâu xa, trong cái sự sâu xa đó chỉ gom về Khổ đế và Tập Đế.

Thành thử ra do đó mà cái tác động của con con nghe từ hồi sáng tới bây giờ là buổi chiều thì con như con bò ăn cỏ đó và những lời dạy từ kinh, những sự giảng bài từ nơi trải nghiệm của thượng tọa sẽ giúp cho con sáng tỏ dần dần. Ngay trong một thời điểm này quá nhiều cái chi tiết mà những chi tiết đó ngay hiện thời con thấy nó rất là hay, nhưng không thể trong một ngày hay một buổi thuyết pháp như vậy mà con có thể hoàn toàn thấu đáo, hay có thể nói rằng con có thể là tuệ tri một cách thật rõ ràng. Giống như hồi sáng con có trình bày cái bài pháp hôm trước thì con đã thấy được con đường thì con đường đó cũng chỉ là mới khởi điểm thôi, mới là cái tuệ mới phát sanh thôi và cái tuệ đó con sẽ học tập, nuôi dưỡng tiếp tục như con bò trở về ăn cỏ, trở về để ói ra những ngọn cỏ ăn đó để nhơi lại, cứ nhơi lại đến khi trở thành dinh dưỡng để nuôi sự sống của con bò.

Lúc bấy giờ những điều con đã học được trong ngày hôm nay như con bò sẽ nhơi lại, con sẽ ôn lại, con sẽ suy tư thêm nữa, con sẽ tiếp tục học lại rồi con suy tư thêm nữa để con rõ biết, để con tuệ tri, để con thâm nhập ở nơi chính con người của con. Hôm nay con cảm thấy một cái điều là con thấy được, mặc dầu nó là thấy pháp cũng đã có thấy nhưng mà thấy nhất thời, cái thấy của con là cái thấy nhất thời mà chính cái nhân tố của nhất thời sẽ là một cái cơ hội để con hằng thấy và chính sự hằng thấy đó là niềm tin bất động của con đối với Phật, đối với pháp, đối với Tăng, đối với giới mà bậc thánh ái kính để cái bước đầu trong cái quá trình sinh tử của con trong cái hiện kiếp này con được có con pháp của bậc Tu-đà-hoàn để rồi con đường chấm dứt sinh tử luân hồi của con, con rõ biết, con chắc chắn được nó sẽ dừng nghỉ.

Đây là một điểm mặc dầu con chưa đi nốt con đường, lộ trình của Tu-đà-hoàn, của chánh tri kiến để thành tựu Tu-đà-hoàn nhưng con bắt đầu thấy và con cảm thấy một sự hạnh phúc, một sự an tâm, nói đúng rõ sự hạnh phúc thì nó không rõ hơn bằng, ngay cả hiện giờ trong nội tâm của con một sự an tâm, con an tâm để con sống, tu học và con an tâm trong cái lộ trình sinh tử của mình. Mình đã bắt đầu thấy được một cái lối mòn và trong lối mòn đó con sẽ đi và con sẽ thành tựu, do đó mà con nghe trong hiện giờ của con là một sự an tâm và trong sự an tâm đó nó còn thêm một động lực, giống như nãy thượng tọa khen con hoài tức là vẫn còn tiếp tục học nữa, đúng như trong bài kinh Pháp Môn Căn Bản trong đó có đoạn như nãy thượng tọa vừa đọc mà cái câu này là con tâm đắc: Hãy thân cận bậc thánh, bậc chân nhân, hãy học hỏi pháp bậc thánh, học bậc chân nhân, hãy tu tập pháp bậc thánh, bậc chân nhân, hãy thuần thục pháp bậc thánh, bậc chân nhân.

Hiện giờ cái năng lực đó vẫn còn mạnh ở trong tâm của con vì con cũng thấy rằng cái con đường sanh tử luân hồi hiện giờ con thấy được một sự nguy hiểm của nó. Con có thấy sợ nó, con thấy sợ một cách thật sự và do đó mà con đang tiến tu để thành tựu cái hạnh phúc tối thượng là sự chấm dứt khổ đau đó là kết quả trong thời điểm ngay giờ phút này. Từ hồi sáng cho tới bây giờ thêm một ngày thứ hai con được nghe pháp từ nơi thượng, con được nghe thượng tọa trình bày những bài kinh. Đây là sự cô đọng ngày hôm nay trong sự học pháp, trong sự nghe pháp của con, con kính trình đến thượng tọa chứng minh cũng như kính bạch lên đến với chư tôn đức Tăng, chư tôn đức Ni cùng tất cả quý Phật tử giống như con trình bày những cái trạng thái tâm, những kết quả của sự tu học. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư cô 1: Mô Phật con kính bạch trên thượng tọa chứng minh, kính bạch chư tôn đức Tăng, kính bạch chư tôn đức Ni và thưa toàn thể Phật tử, con nhân duyên hôm nay theo Ni trưởng về đây được học pháp của thượng tọa. Bấy lâu nay con tu tập ở nơi Ni trưởng, con bước vào tu là ni trưởng định hướng cho tụi con là chỉ cái khôn ngoan nhất trong cuộc đời là chỉ hướng tới đạo quả thôi trong tất cả các sự khôn ngoan. Khi con mới bước vào chùa là Ni trưởng định hướng tất cả những người xuất gia đệ tử của Ni trưởng, con cũng tu, cũng trải qua học tu ngay cả con cũng làm giáo thọ nữa, con cũng học tìm kinh nghe, cũng cái khuynh hướng mình tới đó nhưng mà con cũng bắt gặp cái này, bắt gặp cái kia. Ni trưởng con dạy ngộ cái này, dạy kia, mỗi lần Ni trưởng con ngộ cũng chia sẻ cho tụi con mà đặc biệt là hôm nay ra tới đây làm như chắc cũng phải đoạn đường đi phải vậy, nó phải dài như vậy, tới giờ mình mới được gặp hay sao.

Bây giờ con cũng không biết mà trong cái nói của thượng tọa chỉ có cái là con người mình ngũ uẩn của mình thôi, mình làm sao mình lột nó ra được thôi, mình đứng ra ngoài vậy đó mình đừng có chấp thủ nó, tự nhiên mấy bữa nay con nghe thượng tọa nói mặc dù con đi mệt, sức khỏe con bây giờ nó yếu, cái khớp con nó yếu, có khi con cũng buồn ngủ nhưng có cái là con nhận, cái nào con nhận là con nhận. Cái hàm răng của mình bị nha chu, nó đóng trong đó mà bây giờ được cạy ra mà con không có làm, tự nhiên con tróc cái nha chu răng con ra, con cảm nhận được như vậy á.

Tức là con cảm nhận được cái ngũ uẩn là con không có chấp thủ vô nó nhưng mà nhưng không biết là y thấy như vậy rồi về như nãy thượng tọa nói mình nhập cuộc lại, mình vô đó mình nằm lại. Con nghe mắc cười, mình là phàm phu chúng sanh mình chắc có khi cũng vậy, Phật nói mà, mình thấy con nít nó té, nó đi rồi cứ té nhưng nó cứ đi nhưng mà con không có chán, con nghe chỗ đó thì con nhận biết chỗ đó. Con nghe trong tâm con nó cũng sáng lên tức là con không phải con mừng nhưng mà con biết được cái đường, biết được bấy lâu nay mình tu và mình gặp được vậy đó. Con cảm nhận được vậy mà không biết là cái thấy con nó trúng hay không thỉnh thượng tọa dạy tiếp nữa.

Sư Phụ: Sư cô cứ việc hoan hỉ, cứ việc hoan hỉ, đừng có tính chuyện sau này, tính ngay bây giờ, cho hỷ lạc sanh khởi lên, mình cho cái sự hoan hỉ, hỷ vô lượng tâm cho nó sanh khởi sự hoan hỉ, sự vui mừng, sự hân hoan, sự sáng tỏ cái vấn đề ra, tâm mình nó mở ra, nó rõ ra, nó tỏ ra. Dạ rất tốt, Ni trưởng từ đầu mà đã định hướng cho các sư cô như vậy là quá tuyệt vời, con không có được phước như các sư cô, con đi vô tu đâu có biết cái gì đâu, con phải đi lặn lội tìm hai mươi tám năm trời còn các sư cô rất là có phước báo, vô là được Ni trưởng định hướng liền đạo quả. Con rất là chúc mừng cho các sư cô, như vậy là quá tuyệt vời, như vậy đã là là phước báo, là tuyệt vời con thưa Ni trưởng, hì nhờ cái định hướng đó mà bây giờ đi đến chỗ thấy rõ và xác quyết luôn, tịnh tín bất động luôn.

Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thượng tọa chứng minh, kính bạch chư tôn đức Tăng, kính bạch chư tôn đức Ni, kính thưa toàn thể quý Phật tử con cũng là đệ tử của Ni trưởng, con trước khi bước vô xuất gia thì tất cả nhiều vị nói Ni trưởng con rất là khó, vô mà đi tu theo Ni trưởng con là khó lắm, tối ngày chỉ biết tu, tu, tu chứ không có được đi chơi, đi đây đi đó hết trơn, chỉ biết tu, tu thôi. Thật sự là khi con bước vô tu thì Ni trưởng con định hướng giống như sư cô vừa mới trình bày, định hướng cho chúng con làm sao để mình có chánh kiến chứng quả Tu-đà-hoàn, đó là một điều hạnh phúc trong cuộc đời mình chứ không phải hạnh phúc là vô chùa ở có được chùa cao cột lớn, có được nhiều thức ăn ngon.

Tất cả các cái Ni trưởng điều định hướng nhưng mà điều Ni trưởng con hiểu được bao nhiêu thì hướng dẫn các con bấy nhiêu. Và hiện tại bây giờ con rất là phấn khởi vì chuyến đi này con dự định là con không có đi tại vì con bận nhiều công việc con dự định không đi, nhưng mà khi con thấy cái thứ nhất là lớn tuổi mà đi thì chân cẳng rất khó khăn, đi có những vị lớn cũng bệnh nữa thành ra con đi. Mà thật sự chuyến này con rất là phấn khởi khi thượng tọa chỉ ra nếu mình biết ngũ uẩn mình phải biết nó tên gì, biết tên tuổi của nó, mình phải biết cái bản chất của nó, mình phải biết nó, mình biết hết tất cả những cái như vậy. Nếu mình không biết nó, mình lờ mờ lớ mớ thì làm sao mình nhận ra được, làm sao mình thấy được con đường để mình chấm dứt sanh tử này, cái đau khổ này.

Thành ra mình phải biết, phải nhận diện, mình phải biết mặt nó, biết tên tuổi, biết cái bản chất của nó, biết hết. Tự nhiên con nghe thượng tọa nói như vậy là cái tâm con làm như cái cảm giác con phấn khởi, mình biết cái đó không phải tự mình suy tư, suy nghĩ mà tự nhiên nó rung cái con người mình lên, rung cái thịt mình lên. Con biết cái đó là tự mình nhận được cái chỗ đó, con rất là vui mừng, con quét cái đầu qua giống như mình là sao chổi vậy, con dòm tới Linh Quy Pháp Ấn con suy nghĩ thượng tọa từ đâu trong miền Tây mà đi ra tới Linh Quy Pháp Ấn này đem giáo pháp ra tới đây mà nó rất là vất vả, nhìn thấy là mình biết ra đây rất vất vả nhưng mà thượng tọa không có nản lòng, mà mỗi ngày, mỗi ngày thượng tọa phải lên nói, nói rất nhiều, nói rất nhiều.

Con quét qua vậy và trong lòng con có cái là về mình phải cố gắng, con suy tư hoài mình phải cố gắng, mình phải thực tập. Trước tiên là mình thực tập tại mình chưa có nắm vững mà, mình phải thực tập, mình thực hành để làm sao cho mình phải thấy được con đường chấm dứt sanh tử và làm sao mình có chánh kiến để chứng quả Tu-đà-hoàn. Mô Phật kính bạch thượng tọa con nắm được như vậy, con kính trình lên thượng tọa cùng chư tôn đức Tăng Ni. Mô Phật.

Sư Phụ:

Tâm thương này tỏa rộng

cùng khắp thế giới này

tâm thương này tỏa rộng

khắp trời đất bao la.

./.