Kinh Trăng Rằm 2- Thế Nào Là Không Có Thân Kiến - Định Lý Giải Thoát
NIKĀYA GIẢNG GIẢI
KINH TRĂNG RẰM 2
THẾ NÀO LÀ KHÔNG CÓ THÂN KIẾN?
ĐỊNH LÝ GIẢI THOÁT
–Thích Minh Thành–
Cảm nhận cơ thể, hít vào dễ chịu, ngọt ngào, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác thấy rõ thọ; tưởng; hành.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc tôn quý nhất đời, ngoài sự hành pháp ra tất cả đều vô nghĩa, ngoài thể nhập pháp ra tất cả đều trống không, ngoài thành tựu pháp ra tất cả là nước mắt.
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, chúng ta tiếp tục nghe bài kinh Trăng Rằm, bên Hán tạng gọi là kinh Mãn Nguyệt.
"-- Như thế nào, bạch Thế Tôn, là không có thân kiến?" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Bạch bậc thế gian tôn kính như thế nào là không có kiến chấp về thân, như thế nào là không có sự hiểu sai lầm về thân này, như thế nào là không có ngộ nhận, lầm nhận, hiểu lầm lạc, sai trái về thân, như thế nào là không có thân kiến, không có kiến chấp về thân.
"-- Ở đây, này Tỳ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, khéo thuần thục pháp các bậc Thánh, khéo tu tập pháp các bậc Thánh; thấy rõ các bậc Chân nhân, khéo thuần thục pháp các bậc Chân nhân, khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc, không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành... không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỳ-kheo, là không có thân kiến." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Không có cho rằng sắc thân này là tôi, không có cho rằng tôi là sắc thân này, không có cho rằng sắc thân này là ở trong tôi, không có cho rằng tôi là ở trong sắc thân này, không có cho rằng cảm thọ này là tôi, không có cho rằng tôi là cảm thọ này, là cảm giác này, không có cho rằng cảm giác này ở trong tôi, không có cho rằng tôi ở trong cảm giác này, không có cho rằng hình bóng trong tâm là tôi, không có cho rằng tôi là hình bóng trong tâm đó là tưởng, không có cho rằng bóng trong tâm tưởng đó là ở trong tôi, không có cho rằng tôi ở trong cái hình bóng đó, tưởng đó. Vị Đa văn Thánh đệ tử gặp được các bậc thánh, thuần thục pháp các bậc thánh, tu tập theo pháp các bậc thánh, khéo tu tập pháp của các bậc thánh, không có cho rằng những suy nghĩ đó là tôi, không có cho rằng tôi là những suy nghĩ đó, không có cho rằng những suy nghĩ đó nó ở trong tôi, không có cho rằng tôi ở trong những suy nghĩ đó.
Chúng ta thấy khi nói ra nghĩa Tiếng Việt thì cái nghĩa nó rực sáng, sáng như mặt trời, những cái câu nói đó là thánh trí, là thánh chuông, là thánh ngữ đó, là thánh đạo đó, thánh quả nằm trong đó. Đệ tử của Đức Phật được nghe nhiều giáo pháp Nikāya, được nghe nhiều những lời dạy của bậc thánh nguyên chất, gặp được các bậc thánh, khéo thuần thục pháp của các bậc thánh, tu tập pháp các bậc thánh thì những vị này không có cho rõ biết này là tôi, không có cho rằng tôi là ở trong cái rõ biết này, không có cho rằng rõ biết này ở trong tôi, không có cho rằng tôi ở trong cái rõ biết này. Như vậy này Tỳ-kheo là không có thân kiến, cái người nhìn nhận như vậy, người thấy như vậy, người biết như vậy, người cho là như vậy, người quán sát như vậy thì người đó không có kiến chấp về thân, không có những cái nhìn, không có cái thấy lệch lạc về thân, không có cái thấy mù lòa về thân, không có cái thấy loạn thị, cận thị, viễn thị, khiếm thị về thân. Người này thấy rõ một sự thật sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không phải là tôi, như vậy là không có thân kiến.
"- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỳ-kheo ấy... hỏi thêm một câu nữa:
-- Bạch Thế Tôn, cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của sắc?... của thọ... của tưởng... của các hành? Cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của thức?" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Thế nào là vị ngọt của năm uẩn? Dạ thưa thế nào là sự nguy hiểm và tác hại của năm uẩn? Dạ thưa thế nào là cái lối thoát ra, xuất ly ra khỏi năm uẩn?
"-- Này Tỳ-kheo, do duyên sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đó là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc, đó là sự xuất ly của sắc. Do duyên thọ... Do duyên tưởng... Do duyên các hành... Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của thức. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thức, đó là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với thức, đó là sự xuất ly của thức." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Cái bản này chúng ta đã được học nhưng cắt ra từng phần và đến cho đến hôm nay chúng ta mới được học trọn vẹn bài kinh. Vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly đối với thọ cũng vậy, cảm giác cũng vậy, do duyên cái cảm giác khởi lên những cái vui sướng, thích thú, lạc hỉ thì đó là vị ngọt của cảm giác, vị ngọt của tưởng, hình bóng trong tâm khởi lên những cái vui sướng, thích thú đó là vị ngọt của tưởng. Trong suy nghĩ khởi lên vui sướng, thích thú, vui sướng là lạc hỷ đó, trong cái suy nghĩ nó khởi lên vui sướng đó là vị ngọt của hành, vị ngọt của suy nghĩ, trong cái nhận thức rõ biết cũng vậy, nó khởi lên vui sướng thì đó là vị ngọt của thức, vị ngọt của sự rõ biết.
Nếu như nó chỉ có vị ngọt không thì chúng sanh đâu có cần phải tìm lối thoát, vì có sự nguy hại, vị có sự vô thường, sự khổ đau, chịu sự biến hoại ở trong những cái vui sướng đó cho nên chúng sanh mới đi tìm một cái lối thoát ra, mới tìm cái lối xuất ly này. Nếu như nó không có cái sự nguy hiểm và tác hại, cái sự vô thường, khổ đau, tan nát, huỷ hoại, hoại diệt, rệu rã, đổi thay, biến hoại thì chúng sanh đâu có đi tìm cái lối thoát. Vì nó có sự vô thường, vì nó đổi trắng thay đen, vì nó bạc như vôi, vì nó tan vỗ, tan hoang, tan tành, tan nát, tan vụng, đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, vì nó thương rồi giận, nó yêu rồi hận, nó thân rồi sơ, vì nó trở giống như cái bánh phồng, giống như cái bánh tráng, nó thay giống như là thay áo vậy, nó xảo trán, nó điêu ngoa, tan biến, nó hủy hoại, nó hoại diệt, nó vô thường, nó khổ đau, nó biến hoại như vậy, đó là sự nguy hiểm và tai hại, tai họa của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này. Đó là sự nguy hiểm, sự hoạn nạn của nó, sự tai hại của nó, thảm họa của nó, tai nạn của nó, đại họa của nó, đại nạn của nó, là một sự lo lắng lớn lao khi ở trong cái sắc này.
Có một cái nhà thì lo cái nhà, có chiếc xe lo cái xe, có một người thân yêu thì lo cái người thân yêu, có một cái thân của chính mình thì sợ lo, bất an cho cái thân của chính mình và có một cái thân của cái đứa con, của đứa cháu là lo lắng, sợ hãi. Sợ cái gì? Sợ nó đổi thay, sắc này là thay đổi, sợ nó vô thường, nó bất trắc, bại hoại, nó hoại diệt, nó tiêu vong. Chính vì có sự nguy hiểm và tác hại này cho nên ta mới nói con đường xuất ly.
"-- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỳ-kheo ấy hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn thêm câu nữa:
-- Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, do thấy như thế nào, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên?" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Bạch Thế Tôn do thấy như thế nào mà đối với cái thân có thức này, đối với tất cả tướng không có cho rằng đó là tôi, đó là của tôi, không còn cái bản ngã, cái ngã mạn mà nó đi theo miên man. Làm sao để mà diệt được cái thấy về tự ngã, cái thấy về ngã sở, cái thấy là tôi, là của tôi rồi sanh ra một cái tâm ngạo mạn, kiêu mạn. Biết như thế nào, thấy như thế nào để không còn cái chấp cho rằng tôi, của tôi nữa, bản ngã nữa.
"-- Này Tỳ-kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc, Tỳ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: 'Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi'. Phàm thọ gì... Phàm tưởng gì... Phàm các hành gì... Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức, Tỳ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: 'Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi!' Này Tỳ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Có một cái tấm hình chụp mình hồi lúc mình hai mươi tuổi, bây giờ người ta đưa cái hình ra hỏi ai, mình nhận liền không? Có nhận liền không? Đây là tôi nè, hình của tôi, có không? Như vậy là có phá thân kiến chưa? Tất cả sắc trước kia, sau này và bây giờ, đẹp hay xấu, xa hay gần, thô hay tế, thù thắng hay là hạ liệt, cao sang hay là thấp hèn, nó vi tế hay là nó thô phù, cái vi tế, thô phù này nhiều nghĩa lắm, ngay cả thân của chư thiên nữa, vi tế là những cái sắc tưởng ở trong tâm mình cũng là sắc tế, cái hình bóng của chính mình ở trong tâm là sắc tế, sắc tưởng. Nhưng tất cả sắc Tỳ-kheo như thật quán xét với chánh trí tuệ như sau: Đây không phải là của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi.
Tất cả các cảm giác, tất cả các hình bóng trong tâm, tất cả những suy nghĩ và tất cả nhận thức, quá khứ, vị lai, hiện tại trong ngoài, thô tế, thắng liệt, xa gần, tất cả thọ; tưởng; hành; thức Tỳ-kheo như thật quán sát với một cái trí tuệ chân chánh như sau: Đây không phải là của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi. Thánh đạo nó rực sáng như vậy mà hồi đó mình đọc mười năm trời mà mình không biết tu làm sao, sáng con mắt chưa? Tin cái lỗ tai chưa? Mở cái tâm ra chưa? Cái cảm thọ nó có bừng lên chưa? Khai thông hết chưa? Đả thông kinh mạch hết chưa? Máu huyết lưu thông hết chưa? Tâm trí nó sáng ngời lên chưa? Mở con mắt pháp ra chưa?
Cho nên con thưa với chư tôn và chư hiền cái người chân tu khổ lắm, thật sự là cái người chân tu ăn không ngon ngủ không yên, ngày đêm thao thức, trăn trở, ưu tư, buồn khổ, sầu đau giống như má mình chết nằm cái hòm ngay trong nhà đó. Tại vì lời Phật dạy chưa có làm xong, sáng đọc pháp bảo mình thấy trong lòng hổ thẹn, mỗi lần nghe pháp mình thấy nó nhục nhã, mỗi lần nhìn lại thân tâm mình thấy xấu hổ, ăn không ngon ngủ không yên, trăn trở, thao thức, ray rứt, buồn khổ, sầu đau, xấu hổ, sợ hãi, lo lắng, ưu tư, nước mắt đầy mặt đó là vị chân tu vì mình đối chiếu lời của Phật dạy thì mình còn xa thật là xa. Mình đừng có ảo tưởng, mình tưởng mình học chút vậy rồi mình tới nơi rồi, đừng có ảo tưởng, còn xa lắm, Thế Tôn nói giữa thiện pháp và bất thiện pháp xa như trời dưới đất, như bờ biển bên này với bờ biển bên kia, xa vời vợi, xa xăm.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn sự việc này, rất xa, rất xa với nhau. Thế nào là bốn?
Trời và đất, này các Tỳ-kheo, là sự việc thứ nhứt rất xa, rất xa với nhau.
Bờ biển bên này, này các Tỳ-kheo với bờ biển bên kia, là sự việc thứ hai rất xa, rất xa với nhau.
Từ chỗ mặt trời mọc lên, này các Tỳ-kheo, đến chỗ mặt trời lặn xuống, là sự việc thứ ba rất xa, rất xa với nhau.
Pháp của hạng người bất thiện, này các Tỳ-kheo, với pháp của hạng người thiện, là sự việc thứ tư rất xa, rất xa với nhau.
Này các Tỳ-kheo, đây là bốn sự việc rất xa, rất xa với nhau này" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (VII). Rất Xa Xăm)
Xa thật là xa là giữa cái người mê và cái người giác, người tỉnh, người thức và người ngủ, người ngu và cái người trí, người thể nhập pháp và người chưa thể nhập pháp là nó xa vô cùng vô tận mà bây giờ mình không thao thức, mình không trăn trở, mình không vận dụng tứ như ý túc, mình có muốn không, có nỗ lực trong cái sự muốn đó không, mình có để tâm trong cái sự muốn mà tập trung toàn bộ tâm ý, hướng tâm, để tâm vào sự đoạn tận khát ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức không, hướng tâm, để tâm và toàn tâm đối với sự đoạn tận các khát ái, dục tham, vô minh, bản ngã, chấp thủ ở trong cái khối máu mủ tanh hôi, nhơ nhớp, bẩn thiểu này.
Thật sự là ưu tư!
Thật sự là thao thức, trăn trở!
Ngày đêm cứ trầm tư, cứ suy tư, cứ ưu tư, cứ chiêm nghiệm, lúc nào cũng trầm tư, lúc nào cũng nhìn trở lại năm cái thằng giặc dữ này, năm cái kẻ giết người này, năm cái thằng ăn cướp này là mầm móng của tai họa, của đau khổ, của khổ nạn, của sự sống chết. Nó còn chình ìn một đống như vậy làm sao mình có thể buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, sao mà mình hỷ hả được, sao mà mình lại chạy đi lo những cái chuyện vô ích, vô nghĩa, vô thường, những cái thứ vô giá trị trên cuộc đời này. Tất cả đều là vô nghĩa một khi mình không làm xong lời Phật dạy, một khi mình còn thân kiến, một khi mình còn nhập ở trong cái thế lưu mà chưa có nhập vào cái Pháp lưu, mình còn bị cái dòng đời nó cuốn phăng mình đi, mình trôi dạt, mình phiêu bạc, lưu lạc, mình đắm chìm. Mỗi khi mắt mình thấy sắc, tai mình nghe tiếng, ngửi mình ngửi mùi, lưỡi mình nếm vị, thân mình xúc chạm, ý mình nhận thức các pháp thọ; tưởng; hành bên trong, mình thấy còn dục, còn tham, còn ái, còn trách, còn tôi, còn ta, còn hơn, còn thua, ganh tỵ, đố kỵ, cao bằng rồi thấp.
Như vậy là mình thật sự là đau lòng, đau xót quặn thắc "trời ơi là trời mình xuất gia bao nhiêu năm rồi nè trời. Mẹ mình chết, cha mình chết, ông mình chết, bà mình chết, cô bác, dì, thím mình chết, tất cả bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, bao nhiêu thân phận của mình chết, bây giờ mình sống lăn lóc như vậy, sống như một cái bao thịt, như một cái túi da, như một cái thây ma để ngày đêm mình cứ hướng ra bên ngoài để đi tìm những cái vui ảo mộng, ảo ảnh". Vui mà phù dung, sớm nở tối tàn, vui mà thoáng chốc, giờ phải chịu khổ ngàn thu vạn đại, muôn kiếp trầm luân, đau lòng xót dạ, trăn trở và ưu tư cho nên các bậc Tỳ-kheo xưa thời Đức Phật các ngài chỉ có hai cái công việc, ngoài cái chuyện đi khất thực một là trở về im lặng của bậc thánh tức là tu tập bốn cái tăng thượng tâm sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, hai là triển khai thiền quán, tối thắng tuệ pháp quán là chiêm nghiệm để gỡ sắc ra cũng như Ni trưởng dùng cái chữ khều nó ra, nại nó ra, khự nó ra. Mình thấy cái cây xà beng nại mấy cái đinh, cái tâm này là một cái tâm mê như đinh đóng cột, đinh cỡ đóng cái hòm chứ không phải đinh bình thường đâu.
"Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh" (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Bây giờ mình cầm cái xà beng nại hết sức, thậm chí nại không nổi mình kêu anh em lại phụ, "giữ nó đi để tôi đè vô rồi tôi cố gắng bật nó", có khi bật ra đập cái đầu té xuống cũng phải làm, đổ máu cũng phải nại ra. Nhất trí không? Đầu rơi máu đổ, hy sinh thân mạng này cũng phải nại cho được năm cái thứ chấp thủ ác độc này, si mê, hôm ám này. Chúng ta nghĩ từ đây cho tới mình tàn hơi mà mình dốc hết cái khả năng của mình chưa chắc gì được, mà cái thời đó mình còn không lên tu nữa thì thôi, đừng có thưởng tu ở đâu, chính là những cái thời này là những cái thời để cho mình ôm, mình nhắc, mình đồ, mình tô cho nó đậm, nó khắc sâu vào rồi xả ra, đi ra, bước ra khỏi đây là mình vận dụng, thực hành, thực tập, thực nghiệm để mình chứng nghiệm, thể nhập, mình chứng đắc, mình chứng ngộ, mình chứng đạt. Đó là như thật quán sát, quán chiếu với một trí tuệ chân chánh đây không phải là của tôi, cái thân hình này, ba cái cảm giác này, một cái đống suy nghĩ này, những cái nhận thức này, tất cả xưa nay hay là sau, quá khứ, vị lai, hiện tại, trong ngoài, thô tế, thù thắng hay hạ liệt, xa hay gần, tất cả hình hài, cảm giác, tưởng, suy nghĩ, nhận thức đều không phải là của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi.
Niệm cái câu này thay cho câu niệm Phật, sáng, trưa, chiều, tối, nửa đêm, nửa hôm, bất cứ lúc nào đi toilet, đi tiểu, đi ăn cơm, đi ngủ, đi làm công chuyện, bất cứ một cảm giác gì sanh khởi lên thì niệm "cái này không phải là tôi, đây không phải là của tôi, đây không phải là tự ngã của tôi". Hình bóng khởi lên trong tâm "đây không phải là tôi, đây không phải của tôi, đây không phải tự ngã của tôi", những suy nghĩ sanh khởi lên hơn thua, đúng sai "đây không phải là tôi, đây không phải của tôi, đây không phải tự ngã của tôi". Nếu mình thường niệm, mình thường nhớ, mình thường an trú, mình thường quán sát, tư duy liên tục ngày đêm như vậy thì lỡ người ta chửi thì sao? "Đâu có cái nào là tôi đâu", chính ở trong này mà mình còn từ bỏ thì huống hồ gì ngoài kia nó là cái gì, chẳng có dính dáng gì.
Cho nên ở trong rừng Thắng Lâm mà người ta chặt cây, chặt cành, chặt lá, người ta gom lại một đống người ta đốt. Như vậy ông có nghĩ rằng người ta đang chặt tay, chặt chân, thiêu đốt ông không? Hỏa thiêu ông không? Bạch Thế Tôn không có, cũng vậy con mắt này không phải là ông, lỗ mũi này không phải là ông, cái lưỡi này không phải là ông, cái thân không phải là ông, cái ý không phải là ông, sắc này không phải là ông. Tại sao người ta mới nói mà mình phừng phừng lên vậy?
"Ví như, này các Tỳ-kheo, trong rừng Thắng Lâm này có người mang đi, hay mang đốt, hay làm theo những gì người ấy muốn, tất cả cỏ, củi, nhánh cây hay lá, thời các Ông có nghĩ như sau: 'Người ấy mang chúng tôi đi, hay đốt chúng tôi, hay làm gì chúng tôi theo ý người ấy muốn?'
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Vì sao? Vì chúng không phải tự ngã hay không thuộc về tự ngã.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, mắt không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các sắc không phải của các Ông... Nhãn thức không phải của các Ông... Nhãn xúc không phải của các Ông... Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho các Ông" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, VIII. Không Phải Của Các Ông)
Nếu mình an trú được cái trí tuệ như vậy thì quý vị nghĩ ai làm cho mình khổ được? Niết-bàn rồi, khổ diệt rồi, chịu không? Lúc nào mình cũng nhớ cái này không phải tôi, không phải của tôi, cái này không phải tự ngã của tôi, lỡ ai đi ngang làm rớt bể thì thôi, nó là tứ đại, nó là duyên sanh, là vô thường. Còn nếu mình không quán thì món đồ đó rớt bể là mình cũng rớt theo luôn, đó là cái ở ngoài mà mình còn vậy thì tới cái trong thân làm sao? Cho nên mới nói là trong hay ngoài là vậy đó, đây là sắc ngoài, đây là sắc trong chứ không phải nói là sắc trong sắc ngoài không có, cái nhà này là sắc ngoài, cái bàn này là sắc ngoài, cái món đồ đó là sắc ngoài, còn cái thân này là sắc trong, tim, gan, bao tử, mắt, tai này là sắc ở trong, sắc sâu hơn nữa là sắc tưởng.
Chúng ta thấy ba bốn lớp sắc vi tế, sắc thô là mình cầm, mình nắm bắt, mình rờ mó được, còn cái sắc tế là không có, nó ở trong tâm gọi là sắc tế. Cái cảm giác thô mình nhìn ngoài mình thấy được người đó, thương người đó, ghét hay người đó hay không thương không ghét mình nhìn thấy nhưng mà cái cảm giác nó vi tế ở trong mà mình có mến mến, hay mình có hờn hờn, những cái đó gọi là thọ vi tế. Nếu mình không nhận diện ra được cái hờn hờn đó thì từ từ nó sẽ trở thành lớn mạnh lên và nó không ưa, từ từ tới nó ghét, ghét mà nhiều lần lập tới lập lui thì nó thành thù, rồi từ thù thành hận. Mỗi một lần cái cảm thọ đó khởi lên mà nó khởi trong vô minh tức là mình không nhận diện ngũ uẩn, mình không biết thì mỗi lần vậy giống y như người vẽ bút chì mà họ quẹt thêm một đường vậy đó.
Mình có biết vẽ bút chì, tô bút chì không ạ? Như vậy cứ mỗi lần khởi lên rồi quẹt thêm đường, mỗi lần khởi lên tô thêm như vậy thì cái cảm thọ đó nó tô đậm, nó nổi bật lên và từ từ cái này nó trở thành chấp thủ gỡ không ra. Cái sân hận cũng vậy, cái ái dục, yêu thương cũng giống vậy, mỗi lần suy nghĩ lên mình chấp nhận cái ái đó, cái ái của món đồ, cái ái căn nhà, cái ái phòng ngủ hay cái ái của con người mà nó khởi lên mình chấp nhận thì mình tô thêm một nét, tô thêm một cái màu vô. Lần thứ hai khởi lên tô thêm một cái màu nữa, lần thứ ba khỏi lên như vậy mình tô đủ màu hết thì như vậy hình bóng của người đó gọi là ý trung nhân, người ở trong tim nó ám ảnh mình. Yêu và hận giống hệt nhau thôi, thương và ghét là một thứ thôi, tất cả là khổ đau hết.
Chúng ta thấy cái chữ thô tế mà Đức Thế Tôn dùng nó rất là nhỏ nhiệm, còn cái thọ này khủng khiếp lắm, nó không có biểu hiện ra nên bậc đạo sư mới nói mình lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động. Cái người có tu thì người này lúc nào cũng lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động trong khi nói, trong khi nhìn, trong khi ăn, trong khi đi, trong khi ứng xử, tiếp xúc qua lại người này lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động. Cái động cơ ở trong cái bộ máy của ngũ uẩn này là thúc giục, yêu thích ở bên trong, cái khoan khoái bên trong hay là cái khó chịu, bực bội bên trong, sự cuốn hút hay cái sự dính, hay là cái sự quay cuồng điên đảo theo các dục quay cuồn. Người này luôn luôn quán nhì,n dò xét và xử lý nội tâm của mình như vậy thì có thời giờ để dòm người này người kia, nói người này người nọ không? Sân si với ai không? Người này nội quán, nội tỉnh, nội soi, nội chiếu ở nơi nội tâm, không có một cái giây phút nào rảnh trừ khi mình quên là thất niệm, nhớ là lập tức quay trở lại liền.
Người này quay lại nhắc nhở tâm mê "tâm mê ơi mày mê cái đống sắc này mày ngu, cái đống máu mủ này, ung nhọt này mà mày thèm khát, mày khao khát. Ngươi ngu quá để ta dạy cho ngươi khôn lên một chút". Đó là mình quán bất tịnh, triển khai bất cứ lúc nào, không phải đợi tới lúc lên thiền đường mở cái bài quán bất tịnh lúc đó mình mới quán, không phải thụ động vậy mà là nhiệt tâm. Nhiều khi mở lên ngồi đó còn không chịu nữa, còn chống đối nữa, muốn tu cái khác vì thế chúng ta thấy cái tâm ghê không? Đó là thiện pháp, là thánh pháp, là thánh trí mà nó chống đối chứ đừng nói chi… Cho nên mình không nhìn thấy là mình không biết, nó thô lắm nên làm sao cứ gỡ hoài từng cái suy nghĩ, gỡ từng cái hình bóng, gỡ từng cái nhận thức, gỡ từng cái cảm giác, có những cái bài kinh Đức Thế Tôn nói một người thành tựu chánh kiến không có sự kiện này xảy ra tức là chấp nhận một cái sắc nào đó nó là thường còn, một người thành tựu chánh tri kiến không có thể chấp nhận một cái sắc nào đó nó là tôi, nó là của tôi không thể có sự kiện xảy ra đối với một bậc chánh tri kiến. Một người thành tựu chánh kiến tức là Nhập Lưu không thể chấp nhận bất cứ một cái hành nào, hành đây là sự là sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không có chấp nhận bất cứ một cái sắc nào nó là vui, nó là đẹp, đó là bậc Dự Lưu đó.
"Sự kiện này không xảy ra, này các Tỳ-kheo, không có được: Một người thành tựu chánh kiến có thể chấp nhận các hành là thường còn, sự kiện này không xảy ra. Và sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo, kẻ phàm phu có thể chấp nhận các hành là thường còn, sự kiện này có xảy ra.
Sự kiện này không xảy ra, này các Tỳ-kheo, không có được: Một người thành tựu chánh kiến có thể chấp nhận các hành là lạc, sự kiện này không xảy ra Và sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: Kẻ phàm phu có thể chấp nhận các hành là lạc, sự kiện này có xảy ra.
Sự kiện này không xảy ra, này các Tỳ-kheo, không có được: Một người thành tựu chánh kiến có thể chấp nhận các pháp là ngã, sự kiện này không xảy ra. Và sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo, kẻ phàm phu có thể chấp nhận các pháp là ngã, sự kiện này có xảy ra" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XV. Phẩm Không Thể Có Được, Chấp Nhận Các Hành Là Thường Còn)
Khi con phát giác, phát hiện ra cái này thì con hạnh phúc tuyệt diệu luôn tại vì mình biết cái tâm của bậc Dự Lưu là như thế nào, hồi đó mình tu không biết các bậc thánh ra sao. Tức là ở trong cái cảm giác, ở trong cái hình bóng, ở trong cái suy nghĩ, ở trong cái nhận thức không có chấp nhận bất cứ một cái suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, nhận thức nào là tôi, là của tôi, không có chấp nhận bất cứ một cái suy nghĩ nào là vui, là đẹp, là thường còn, không có chấp nhận bất cứ một cái sự vật nào ở trên đời này thường, lạc, ngã, tịnh, thường, vui, ta, sạch, đẹp. Đó là bậc Dự Lưu, thí dụ nó suy nghĩ "cái này tôi" thì lập tức có một cái trí tuệ phá cái đó liền, tuyệt vời không? Khi nó khởi lên "cái này là của tôi á nha" thì lập tức có một cái trí tuệ phá cái suy nghĩ này liền, đánh cho cái bản ngã gục ngã sau đó người đó mỉm cười. Như vậy có được không? Tu vậy sướng không?
Bây giờ một cái hình bóng nào sanh khởi lên thì người này không bao giờ chấp nhận có bất cứ một cái hình bóng nào là vui sướng, là thường còn, là tôi, ta, là hấp dẫn, không chấp nhận bất cứ một cái hình bóng nào sanh khởi trong tâm mà người này cho rằng vui, là ta, là thường còn, là hấp dẫn, đẹp đẽ. Chúng ta thấy chỉ như vậy thì còn có cái chỗ nào mà không rõ nữa? Sáng như mặt trời, con thưa Ni trưởng đó là tri kiến của bậc Dự Lưu đó, Tu-đà-hoàn đó, Mình quyết nổi không? Tới không? Sinh mạng này mình còn dám bỏ mà có cái suy nghĩ thì có gì khó, chuyển suy nghĩ, chuyển cái cảm thọ, chuyển cái tưởng, cái hình bóng, chuyển cái nhận thức. Nếu mà như vậy thì người này liên tục tác ý ngày đêm không gián đoạn, có mấy vị hỏi "không biết tác ý xa là sao sư phụ?" tức là không có đợi tới cái lúc nó nổi sân mình mới tác ý mà bình thường mình tác ý, không có đợi tới lúc mà nó tham dục mình mới tác ý bình thường mình tác ý gọi là tác ý từ xa.
Mình đợi tới lúc mà nó tham dục khởi lên rồi mình tác cái gì nổi? Nó tát mình chứ mình tác gì nổi, mình đợi tới lúc nó phừng phừng lên rồi mình tát nước cái gì, xe cứu lửa chạy tới bốn năm chiếc còn không xong, nó lan hết trơn rồi. Vì thế cần tác ý từ xa, quán chiếu từ xa, tư duy từ xa, đó là lý do tại sao con cứ nhắc là như lý tác ý, như lý giác sát. Như lý giác sát là canh chừng như mèo rình chuột vậy đó, canh me nó như điệp viên 007, theo dõi bất cứ mọi lúc mọi nơi coi cái tâm này còn sống trong hôn mê, còn sống trong tham dục, nó còn sống trong chấp thủ nắm chặt, nó còn ta, tôi, tao, mi, nhân ngã bỉ thử không, dập nó liền. Tu vậy có thú vị không? Có thất nghiệp không? Đại Nghiệp chứ không có thất nghiệp, thánh nghiệp chứ không có thất nghiệp.
Như vậy mình thấy Đức Phật diễn rất là rõ, đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi, tu như vậy mới phá được mạn tùy miên là cái tôi, cái ngã mạn đi theo mình miên man. Tùy miên là lúc nào nó cũng ở bên cạnh mình như bóng với hình vậy đó, mình không có như lý giác sát, mình không có biết nó như bóng với hình. Ví dụ mình đang thoải mái nằm nhẹ nhàng giống như không có thân, nhẹ như bông gòn tự nhiên có người đem cái cây nhang đang cháy châm vô người mình thì mình giật mình, la lên liền. Như vậy cái ngã nó nằm ở đâu? Hồi nãy mình đang nằm hay là mình đang ngồi thiền thấy nhẹ nhàng giống như không có thân vậy "con nhẹ quá, giống như mây bay vậy, giống như gió thổi" mà châm cái cây nhang cháy vô thì nhảy giật mình lên, đó là lý do tại sao phải sám hối diệt ngã, như lý tác ý, tác ý từ xa. Mọi người đã thấy được bí kiếp tu hành chưa? Giải mã được cái bí mật chưa?
Trong từng cái suy nghĩ, trong mỗi cái hình bóng, trong mỗi cái cảm giác, trong mỗi cái nhận thức mình đều để tâm, để ý, dòm ngó để đánh phá cái tôi, cái suy nghĩ tôi, của tôi, cái tự ngã của tôi. Dập nó hoài, sáng, trưa, chiều, tối, nửa đêm giật mình thức dậy cũng dập nó, bất cứ lúc nào đánh cho nó bầm dập, tả tơi, tan tành, tan nát, nhừ như tương, diệt tận nó một cách hoàn toàn. Trong khi con nhập thất có rất nhiều bài tác ý về cái bản ngã, sẵn đây rồi con đọc vài bài để chúng ta có cái vốn để tác ý, con tác ý thì nó hơi mạnh lắm, chữ dùng nó nặng lắm nhưng vậy mới thấm.
Thật là khốn nạn cái ta này
Sáng chiều suy nghĩ thể hiện mình
Mình cao, mình thấp, mình bằng họ
Luẩn quẩn trong đầu không lối ra
Thật là cay đắng cái ta này
Suốt ngày suy nghĩ để khoe khoan
Phô trương danh tiến cùng thanh thế
Để được mọi người tới biểu dương
Bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu công sức, người ta tới khen cái thôi là suốt cuộc đời cực khổ à. Chùa đẹp quá, cái nhà đẹp quá, giường đẹp quá, khen một cái là bắt đầu làm con trâu luôn, chết vì tiếng khen đó.
Khổ ơi là khổ cái ta này
Thương giận, buồn vui, đúng với sai
Bắt bẻ đủ điều không chịu nổi
Chẳng ai vừa ý, chẳng hợp ai
Khổ ơi là khổ cái ta này
Ganh tỵ, dối gian ta với mi
Gia đình tan nát thêm buồn khổ
Vợ chồng anh em thành kẻ thù
Khổ ơi là khổ cái ta này
So đo ăn uống dở với ngon
Khen chê đủ chuyện người tốt xấu
Thị phi đôi chối ôm sầu bi
Khổ ơi là khổ cái ta này
Con dao hai lưỡi giết mình người
Tự mình bản ngã làm mình khổ
Người ở cùng ta khổ hơn ta
Cái người ở chung mình có khổ với mình không?
Đắng cay ác độc cái ta
Tự mình giết mình thật vô minh
Sét sinh từ sắt hủy hoại sắc
Bản thân cao ngạo ở một mình
Đắng cay ác độc cái ta này
Thầy trò trở mặt kiện thưa nhau
Cha con ly biệt trong ngấn lệ
Bạn bỗng hóa thù chỉ phút dây
Tớ tàn sát chủ án mạng kinh
Chủ bóc lột người giúp việc mình
Tập đoàn đổ vỡ cùng phá sản
Thủ phạm chính là một cái ta
Ôi hiểm nạn thay, hiểm nạn thay
Bản ngã này nguyên tử giết người
Nổ tung thế giới gây tranh chiến
Tan thương sầu hận khắp trên đời
Đông tây kim cổ Âu sang Á
Lịch sử ngàn năm chẳng đổi dời
Ôi hoạn nạn thay, hoạn nạn thay
Bản ngã tên sát nhân đại tài
Giết cha, giết mẹ, giết tộc,
Hại anh, hại em, hại cháu con
Phân thây chồng vợ bao nhiêu mảnh
Bóp cổ người yêu nhận xuống sông
Đốt nhà, trộm cướp, phá xóm làng
Đâm cha, chém chú, hạ độc thủ
Phóng hỏa, tạt A-xít đánh ghen.
Ta quá sợ mi, quá sợ mi
Bản ngã bài trò lắm khéo khôn
Sát nhân ngọt lịm n hư mật đường
Bao nhiêu ruồi kiến mê vị ngọt
Chết nổi, chết chìm trong khốn cùng
Ôi bản ngã này, bản ngã này
Ngày nào bản ngã chưa phát giác
Ngày ấy ta còn trong u mê
Ngày nào bản ngã chưa thấy rõ
Ngày ấy ta còn nô lệ nó
Ngày nào bản ngã chưa soi tỏ
Ngày ấy ta còn trong bóng đêm
Ngày nào bản ngã chưa vạch mặt
Ngày ấy ta còn trong dại khờ
Ngày nào bản ngã chưa nhiếp phục
Ngày ấy ta còn nhục, xấu xa
Ngày nào bản ngã chưa đánh gục
Ngày ấy ta còn phẫn nộ tham
Ngày nào bản ngã chưa tê liệt
Ngày ấy ta còn phân biệt hơn thua
Ngày nào bản ngã chưa chết hẳn
Ngày ấy ta còn phải khổ đau
Ngày nào bản ngã chưa diệt chủng
Ngày ấy ta còn trong nguy nan
Ta quyết diệt mi, quyết diệt mi
Diệt mi đến tận mức cực vi
Tan ra cát bụi, thành mây khói
Chẳng còn mãi mới an vui
Ta quyết diệt mi, quyết diệt mi
Diệt mi đến tận cả hào ly
Đào rễ, nhổ gốc, băm ngàn mảnh
Diệt sạch tan tành thành khói mây
Bài đó con đặt tên là "Bản Ngã Sát Thủ Ẩn Mặt", sát thủ dấu mặt, kẻ giết người giấu mặt. Kính mời chư tôn, chư hiền chúng ta đứng lên đảnh lễ thánh trí vô ngã của Đức Thế Tôn.
Kính Bạch Đức Thế Tôn con nguyện từ nay cho đến mạng chung xuyên thủng, phá vỡ thân kiến.
Kính Bạch Đức Thế Tôn con nguyện Từ nay cho đến mạng chung đập nát bản ngã tan tành, tan vỡ, tan vụn, tan hoang thành mây thành khói.
Kính bạch Đức Thế Tôn con nguyện từ nay cho đến mạng chung chôn vùi bản ngã, diệt tận bản ngã, không thể tái sanh, không còn sanh trở lại trong tương lai, diệt tận hoàn.
"Lúc bấy giờ, một Tỳ-kheo khác khởi lên suy nghĩ sau đây: 'Nếu Ngài nói sắc là vô ngã, thọ... tưởng... các hành... thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã tạo ra, thời ngã nào lãnh thọ?'." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Ở trong chúng có một vị Tỳ-kheo ngồi im lặng nhưng khởi lên suy nghĩ nếu Thế Tôn nói sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô ngã thì các nghiệp do vô ngã tạo ra thì cái ngã nào lãnh thọ? Không có cái tôi nhưng nếu tạo ra biết bao ác nghiệp thì cái gì lãnh thọ các nghiệp đó?
"Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết rõ suy nghĩ của Tỳ-kheo ấy, liền nói với các Tỳ-kheo:
-- Sự kiện này xảy ra, này các Tỳ-kheo, là có kẻ ngu si, vô trí, chìm đắm trong vô minh, tâm bị khát ái chi phối, nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy bậc Ðạo Sư, nghĩ rằng: 'Nếu Ngài dạy rằng sắc là vô ngã, thọ... tưởng... các hành... thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã làm, các nghiệp ấy do ngã nào lãnh thọ?' Này các Tỳ-kheo, các câu vấn nạn đã được Ta khéo dạy cho các Ông, chỗ này, chỗ kia trong các pháp ấy" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Thế Tôn với tâm tư của mình biết rõ suy nghĩ của vị Tỳ-kheo thì đó là tha tâm thông, Đức Phật đọc suy nghĩ của vị Tỳ-kheo đó nên ngài nói có chuyện đang xảy ra trong chúng là có kẻ ngu si, vô trí, chìm đắm trong tối tăm, trong mù lòa, trong khát ái, tâm bị khát ái chi phối nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy của bậc đạo sư, nghĩ rằng nếu ngài dạy sắc là vô ngã, thọ, tưởng, các hành, thức là vô ngã thời các nghiệp do vô ngã làm, các nghiệp ấy do ngã nào lãnh thọ. Cái câu này từ thời Đức Phật là đã có, sau này người ta đặt ra rất là nhiều vì không có học Nikāya, Đức Phật quở liền kẻ ngu si, vô trí, chìm đắm trong vô minh, tâm bị khát ái chi phối nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy của bậc đạo sư. Bởi vậy con hay nói học thánh điển Nikāya này, thánh pháp nguyên chất này chỉ cần nghe lời Đức Phật là Nhập Lưu, chịu không?
Đây là cái chỗ hết sức là dễ mà hết sức là khó vì cái tâm mình không nghe lời, là cái bản ngã. Cho nên Đức Thế Tôn hay rầy câu này "cái vị này nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy của bậc đạo sư", bây giờ mình nghĩ đi, đối với một cái kẻ dốt, mù, đui, sanh ra đã mù và dốt mà bây giờ mình gặp một nhà vua hay là một bậc thầy vĩ đại trên thế giới vì tình thương hướng dẫn cho mình thì mình nên nghe lời hay mình cãi, mình có ý nghĩ chống đối. Chính vì vậy mà con đem một cái tâm cung kính pháp cho nên con học được, ngay cả với những vị cư sĩ, nói chung là cũng phải chiến đấu lắm con thưa các vị, dằn co lắm nhưng mà cuối cùng rồi mình cũng quy phục, mình bắt nó quỳ xuống vậy cho nên mới có ngày hôm nay chúng ta được ngồi đây để tu học lời dạy nguyên chất của đức Phật.
Nếu mình thua cái bản ngã này thì giờ này mình trôi lăn chìm đắm rồi, mình cũng dương dương tự đắc, ta đây, ngạo mạn rồi cho nên cái chỗ hết sức dễ của Nikāya là chỉ cần nghe lời rồi thực chứng tại vì lời của Phật là định lý, là khẩu quyết, là cái sự chứng ngộ được ấn ở trong đó, pháp ấn, không có suy suyển chút nào hết, chỉ cần mình làm đúng theo cái định lý đó thì nó ra kết quả, những cái định lý, định luật có sẵn cái đáp án đó mình cứ làm sao nó ra đúng cái đó là được. Đó ví dụ thôi chứ còn Đức Phật thì còn hơn cái nó gấp tỷ lần, lời ngài nói thì không thể có một người thứ hai thành ra cái chỗ Nikāya nó rất dễ, con thấy chưa có bao giờ mà nó dễ như vậy với một cái người mà hiền thiện, ngoan, nghe lời cho nên tại sao trong bài đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc đạo sư nói nguyện làm con ngoan của ngài, đó là Dự Lưu. Cứ việc nghe lời làm y như vậy là thể nhập cho nên mình nhớ ở trong cái những bài kinh mà ở trong đảnh lễ trí đức Như Lai cũng có lập lại cái ý từ bồ đề đạo tràng đến song thọ những lời gì Như Lai Đã nói không thể có sai khác, đó gọi là tịnh tín bất động đối với pháp và đối với sự giác ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Đương nhiên mình phải thực nghiệm, thực hành, thể nghiệm, thực chứng thì mình mới tịnh tín bất động được, nhiều khi mình chưa có hành cái đó thì mình sẽ khó mà tin, mà có thực hành là mình tin liền. Mình càng tin thì mình càng hiểu, mà càng hiểu thì mình càng tin, một nhà đại bác học khoa học đã nói vậy, tôi càng tin ngài thì tôi càng hiểu ngài, mà càng hiểu ngài tôi càng tin ngài.
"Càng hiểu biết Ngài, tôi càng quý mến Ngài. Càng quý mến Ngài, tôi càng hiểu biết Ngài"
(Fausboll – Triết gia người Đan Mạch)
Thành ra ở đây bị rầy, Đức Thế Tôn mới vừa nói cái vô ngã cái khởi lên cái ý vô ngã vậy rồi tạo nghiệp này kia rồi cái ngã nào lãnh thọ, chúng ta phải để ý cái chỗ này. Như hồi sáng con ví dụ đó mình nằm chiêm bao thấy mình cự lộn, cãi lộn, đánh lộn với người ta, nó có cái cảm thọ, có cái hình bóng, có cái suy nghĩ, có cái nhận thức nhưng mà tới chừng mình được người ta lay tỉnh, đánh thức mình vậy thì nó đâu có, nhưng mà cái lúc cãi lộn là rõ ràng là mình ngước cổ họng lên, thậm chí mình khóc là thức vậy thì nước mắt có khi vẫn là ướt cái gối. Như vậy người nằm kế bên thấy người kia bị ác mộng nói "cái người đó mộng, đâu có thiệt đâu, thôi kệ", mộng nhưng mà nó có khổ, nó có vui, nó là vô ngã nhưng mà nó có ác nghiệp và thiện nghiệp, vô thường nhưng lại lắm tham sân.
Nhiều khi mình thấy chỉ có giờ chạy xe thôi thì mình nhường chút xíu thì chứ có cái gì đâu, không chịu, phải trường lên rồi cán dẹp lép hết trơn rồi phải đi vô tù, phải chung thân, phải tử hình, phải đau khổ như vậy mới chịu mà cái đó có cái gì đâu. Cái đó giống như trò chơi vậy đó, không có gì hết nhưng mà có ở tù, có chung thân, cái vô ngã nhưng mà nó có nghiệp, đó là cái chỗ đặc biệt của đạo Phật, tuyệt vời của thánh trí. Chính vì vậy Đức Phật mới dạy mình nghiệp rõ ràng như hình với bóng bám sát theo gót ta, mình phải tạo cái nghiệp thiện, nghiệp lành chứ không phải nói là vô ngã rồi sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, cái này là cái đau đớn cho chúng ta. Nó vô thường, nó trống rỗng, nó vô ngã, nó không có nhưng mà nó khổ, có nghiệp thì nó phải lãnh lấy cái hậu quả, địa ngục có, ngạ quỷ có, súc sanh có, nó khổ đau ở trong cái dục ái, nó khao khát, nó thèm khát, nó đói khát, nó khốn khổ, nó sân hận, nó phựt cháy, nó thù hằng.
Đó là cái mình cần tu, cẩn trọng trong cái nghiệp quả, từng cái ý nghĩ, từng lời nói, từng hành động, cẩn thận nghiệp quả, sợ hãi với ác nghiệp. Bởi vì chúng ta thấy thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác rồi mà Đề-bà-đạt-đa còn xô đẩy mấy viên đá cho Đức Thế Tôn chảy máu chân, những cái chứng bệnh khởi lên mà mình đọc kinh đại bát Niết-bàn mình thấy Đức Thế Tôn phải chịu đựng, rất là đau đớn. Còn ở trong cái thân hữu lậu, hữu vi này, còn ở trong cái ngũ uẩn này là cái dòng nghiệp quả nó khủng khiếp lắm, nó kinh hoàng, cái dòng luân hồi oan nghiệt này, trừ khi nào mình đi diệt tận, thoát ly, xuất ly ra khỏi ngũ uẩn, còn ở trong đây là còn bao nhiêu những cái thứ máu, nước mắt, xương tuỷ và sinh mạng. Có thấy ngán không? Chán chưa? Chán chê, ê chề, gớm ghê chưa? Tới đây là vừa đủ chưa hay còn muốn nữa? Thôi chạy lẹ lên núi tu, chạy lẹ đi ra khỏi cái tham, sân, si, bản ngã, vô minh này đi, cho nên Thế Tôn mới nói "Này các Tỳ-kheo, các câu vấn nạn đã được Ta khéo dạy cho các Ông, chỗ này, chỗ kia trong các pháp ấy" tức là Đức Thế Tôn nói mấy cái này ta đã giải thích rồi ta không có nói nữa, mất thời gian. Ngài không có trả lời, ngài chỉ rầy thôi ngài không trả lời rồi bây giờ Ngài nói cái quan trọng.
"Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Thọ... tưởng... các hành...
Thức là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, nếu quán cái ấy là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Do vậy... thấy vậy... vị ấy biết: 'Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa'." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Câu cuối cùng này là cái câu khẩu quyết, thánh quyết, là mật mã, là đạo lộ, là thánh pháp ấn. Thấy vậy bậc thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, thấy được cái tính vô thường, cái tính khổ não, cái tính biến hoại, thấy được cái tính không phải là ta, là của ta, là tự ngã của ta, thấy được như vậy thì bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với thân xác, tài sản, vào cảnh vật này, thấy như vậy bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với những cảm giác, nó sanh rồi nó diệt, nó đổi thay, nó thương ghét, nó phũ phàng, nó vô tình vô nghĩa, nó trống rỗng như vậy. Bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán, ngao ngán, ê chề, gớm ghê, chán chê, não nề đối với những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ nhàm chán, nhàm chán đối với cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, những nhận thức, những rõ biết này, bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với thân xác, đối với cảm giác, đối với tưởng, đối với những suy nghĩ và những nhận thức.
Do nhàm chán vị ấy ly tham, không tham, không ham nữa, do ly tham, do không ham vị ấy thoát ra sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Giải Thoát, không ham nữa, không chơi với nó nữa, không muốn nó nữa, không thích, không khoái nó nữa, từ bỏ nó ra khỏi nó, xuất ly khỏi nó, thoát ra khỏi nó, giải thoát khỏi nó vì chán nó, vì ngán nó. Tại sao chán? Tại sao ngán? Vì nó không có một cái tự ngã. Tại sao nó không có tự ngã? Vì nó là cái thứ vô thường, khổ đau, chịu sự biến hoại, vì nó vô thường, nó khổ, nó chịu sự biến hoại, nó không có một tự thể, tự ngã, không có một cái ta, cái tôi, cái lõi chắc thật bên trong, vì các vị thánh đệ tử thấy như vậy cho nên chán chường. Vì nhàm chán, vì chán trường cho nên không ham nữa, không ham nữa thì từ bỏ, thoát ra và đi ra khỏi nó, lìa xa, từ bỏ, thoát ra nó, chấm dứt nó, giải thoát khỏi nó. Trong sự giải thoát trí khởi lên ta đã được giải thoát.
Đây là cái chỗ đặc biệt của Nikāya, cái người giải thoát sẽ biết mình đã giải thoát, không phải là không biết. Tâm mình còn dục, còn tham, còn ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức mình biết tại mình nhận diện ngũ uẩn, tâm mình giảm bớt dục, tham, ái, chấp đối với ngũ uẩn mình biết, tâm mình nhiếp phục, chế ngự hoàn toàn, không còn dục, tham, ái đối với ngũ uẩn, không còn sự không thấy, không biết và không còn sự yêu thích, khoái nữa, vô minh và khát ái diệt thì lúc đó mình có biết, mình rõ biết. Do nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham vị ấy giải thoát, trong sự giải thoát trí khởi lên ta đã được giải thoát. Nếu không có thánh trí mình sẽ không biết, mà mình không biết thì làm sao mà mình đi ra khỏi nó? Bây giờ có một căn nhà bị mục, nhìn ở ngoài thì nó còn y nguyên nhưng mà ở dưới sàn mục rồi, đất cái chỗ đó có khả năng sẽ có động đất mà người này hoàn toàn không biết gì hết thì người này có ý muốn đi ra không? Làm sao ra nổi? "Nhà này nhà của tôi mà", đừng nói chi nhà của tôi mà cái người đi thuê thôi, thuê bảy ngày mà giờ ở mới có một ngày mà còn không nỡ bỏ nữa chứ đừng nói chi là cái căn nhà thâm căn cố đế, vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp.
Như vậy một người không biết về thánh trí ngũ uẩn có khả năng giải thoát ngũ uẩn không? Sự kiện đó không thể xảy ra, mà ngũ uẩn là thân tâm của mình, một người không biết về thân tâm của mình có thể giải thoát khỏi thân tâm này không? Có thể phá vỡ vô minh đối với thân tâm này, diệt tận khát ái đối với thân tâm này không? Sự kiện đó không thể xảy ra. Làm sao mình cắt đứt được dòng luân hồi trong khi mình không biết được cái gì nó luân hồi, tại sao nó luân hồi và cái sự đau khổ trong luân hồi, tai họa trong luân hồi mình không biết thì làm sao mình giải thoát luân hồi, xuất ly luân hồi, đi ra khỏi luân hồi? Mình không biết gì về thân kiến hết thì làm sao mình nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận thân kiến? Cho nên ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết để đoạn tận tất cả các lậu hoặc, ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết để phá vỡ vô minh, diệt tận khát ái để xuất ly năm thủ uẩn.
"Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy" (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)
Ta nói cho người thấy năm thủ uẩn, ta nói cho người biết năm thủ uẩn, ta nói cho người quán chiếu về năm thủ uẩn, ta nói cho người muốn thoát ra khỏi năm thủ uẩn. Ta không nói cho người không thấy không biết về năm uẩn và ta không thể nói cho cái người mà không muốn giải thoát ra khỏi năm uẩn thì nói cho họ để làm cái gì. Nó tràn ngập cảm thọ hỷ lạc, hân hoan, vi diệu tối thượng mà nói không nổi nữa, nó vi diệu, nó tối thượng như vậy mà không đọc, không tụng, không học, không hành thì đáng tiếc thay, đáng thương thay, đáng tội nghiệp thay.
Như vậy thì vị này trong sự giải thoát trí khởi lên biết rằng ta đã được giải thoát, ta đã thoát ra sắc, ta đã thoát ra cảm thọ, ta đã thoát ra tưởng, những hình bóng trong tâm, ta đã thoát ra mọi suy nghĩ lầm thầm, ta đã thoát ra rõ biết này, chấp thủ trong các cái thức này ta đã thoát ra. Trí khởi lên biết được ta đã giải thoát khỏi năm thủ uẩn, vị ấy biết rõ sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn chở lui trạng thái này nữa. Chúng ta chỉ chờ đến cái ngày đó thôi, sống đây là để chờ đến ngày đó thôi chứ không có cái gì ý nghĩa hết, cái ngày đó mới là cái ngày thật sự hạnh phúc nhất trong vô lượng kiếp luân hồi này, chỉ chờ cái ngày đó thôi.
Con thường nói chúng ta có chỉ có hai ngày vui trong cuộc đời này thôi, lần thứ nhất là Nhập Lưu Tu-đà-hoàn là cái ngày vui thứ nhất và cái ngày vui vĩ đại thứ hai là lậu tận, tất cả các lậu hoặc đều bị diệt tận. Chỉ có hai ngày đó là hạnh phúc tối thượng mà thôi, ngoài ra không có cái gì vui hết, chuẩn bị ngày thứ nhất chưa? Phải hướng tới, nuôi dưỡng tâm Nhập Lưu. Dạ, như vậy là chúng ta học xong bài kinh Trăng Rằm, con thỉnh Ni trưởng có vài lời chia sẻ cảm thọ của mình trong cái bài kinh Trăng Rằm này về sự phá thân kiến.
Ni trưởng: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thượng Tọa chứng minh, kính bạch chư tôn đức Tăng, kính bạch chư tôn đức Ni, kính thưa toàn thể quý Phật tử hiện diện. Hôm nay là ngày cuối trong cái thời gian con về đây vì ngày mà con xin phép là ngày mai các con trở về, kính bạch thượng tọa trong những ngày qua khi con được biết những lời dạy của thượng tọa, những bài giảng của thượng tọa hướng đến cái mục tiêu giải thoát, hướng đến thánh quả con rất là vui mừng vì nó đang trùng hợp cái mục tiêu tu tập của con đang hướng tới. Cũng chính từ đó mà con tìm đến Linh Quy mặc dầu con chưa biết cái đường đi như thế nào, nhưng mà ngày hôm nay cái việc đi đường đó cũng không gọi là khó khăn.
Trong những ngày qua con là tiếp nhận được lòng từ của thượng tọa, thượng tọa dồn tất cả những tâm lực trí lực và tất cả những sự trải nghiệm tu tập của thượng tọa dồn vào cái mục đích mà con đang hướng đến qua những bài kinh, qua những trải nghiệm tu tập của thượng tọa và kết quả ngày hôm nay con đã tiếp thu. Trước tiên hôm trước con có trình bày cái sự tiếp thu đầu tiên của con đó là người có chánh tri kiến là người phải thấy rõ Tứ Đế, trước đó con trình bày với thượng tọa là con bị xà quần ở cái Khổ Đế, con không nhận ra được và sau những cái buổi giảng đó con đã nhận ra được Khổ Đế và Tập Đế và con dùng cái từ là con khớp nó được rồi tại vì con bị mắc kẹt ngôn từ giữa cái nói rằng Khổ Đế sanh, già, bệnh, chết, thương yêu xa lìa, muốn không đặng, cầu muốn không đặng rồi sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, thương yêu xa lìa, thù ghét gặp gỡ, còn muốn không đặng và chấp thủ năm uẩn thì lúc bấy giờ con bị kẹt.
Hồi xưa con nghĩ là đâu phải là có cái thân này, cái sanh, già, bệnh, chết là khổ, có những vị người ta đâu có khổ thì sao lại gọi là khổ được. Con bị kẹt cái chỗ đó, đồng thời cái từ Khổ Đế là Dukkha, là phá hoại, tiêu diệt, tan rã, không ăn ổn, hai cái này con không khớp nó được. Do đó con không tuệ tri được Khổ Đế nhưng khi thượng tọa giảng và phân tích chính cái già, cái sanh khổ đó nó cũng là Dukkha, nó cũng là phá hoại, tiêu diệt, không ăn ổn thì con khớp nó được rồi. Tất cả các cái con đều khớp được hết, lúc bấy giờ con ngồi là con dung thông được nó tức là con thấy được Khổ Đế, khi thấy được Khổ Đế là thấy được Tập Đế và rồi đó là cái ngộ, tức là con như lý tác ý được điều đó rồi.
Tiếp tục nữa thì thượng tọa giảng thêm về chấp thủ năm uẩn, cái chấp thủ năm uẩn đó nó cho con ngộ thêm một điều, một cái nguyên tắc để đưa đến cái đạo quả Tu-đà-hoàn đó là thân kiến. Kết quả của ngày hôm nay hai cái này con khớp lại được rồi, mặc dầu con chưa có phải là hoàn toàn tuệ tri nhưng con đã khái niệm được nó, cái bản vẽ này con đã thấy thì bước chân trên cái bản vẽ này con sẽ đi được khi có bản đồ. Hồi nãy thượng tọa hỏi là con tin một trăm phần trăm không thì con mới dám nói là con tin một trăm phần trăm tại vì khi thấy được bản đồ và mình đã thấy được con đường, cái đạo quả Tu-đà-hoàn là cái cửa ngõ để đi đến đạo quả A-la-hán là sự chấm dứt khổ đau. Do đó cái nguyên tắc đó và cái mục tiêu khi con đã thấy được điều này thì con đã có một cái khái niệm nhàm chán về cái sự sinh tử luân hồi, và khi nhàm chán với sự sinh tử luân hồi thì con muốn xuất ly nó và bây giờ con thấy được cái bản đồ rồi. Khi con đã có cái hướng tâm, khi con đã có một cái định hướng thì với cái bản đồ này con chắc được rằng con sẽ thành tựu được cái chánh tri kiến.
Nãy giờ cũng như suốt cái thời gian học vừa qua cũng như ngay trong thời điểm của buổi học hôm nay, tại sao con dám tin rằng con có thể thành tựu được cái chánh tri kiến này mặc dầu hiện giờ con chưa hoàn toàn tuệ tri nhưng hồi nãy cái từ của thượng tọa nói nó làm cho con sáng thêm hơn nữa. Tức là con đã có cái vốn rồi, khi con học như thế này con thấy được cái bản đồ rồi, con có một cái vốn mặc dầu cái vốn nó nhỏ, cái vốn nhỏ hay cái vốn lớn tùy thuận vào cái năng lực làm cái vốn đó phát sinh.
Sư Phụ: Cái vốn của Ni trưởng không có nhỏ đâu, con thấy vốn bự lắm.
Ni trưởng: Dạ con chưa thành tựu, con không thấy con bự và con dám tin khi con thấy nó nhỏ. Thượng tọa khen con lớn thì thôi con cũng mừng.
Sư Phụ: Bây giờ con thưa Ni trưởng nè, cái tuổi già như vậy bỏ chùa chiền, bỏ công việc, bỏ đại chúng, không biết đường xá để mà đi mà dám đưa hết chúng lên trên núi rừng như vậy ở để tu học, cái vốn này vốn cỡ nào ạ?
Ni trưởng: Mô Phật, kính bạch thượng tọa con có niềm tin ở cái chỗ này, con có cái niềm tin ở chỗ là cái vốn này con sẽ tăng trưởng ở ngay cái chỗ này. Hôm trước con có bạch với thượng tọa giống như con bò ăn cỏ vậy đó, ăn vô chứ chưa trở thành chất bổ nhưng mà con có một cái niềm tin rằng với cái câu kinh Căn Bản Pháp Môn, cái câu này không phải tự dưng mà con học được mà cũng không tự dưng mà con có niềm tin được vì câu này con được sự giáo dẫn và vị thầy giáo dẫn cho con cái câu này con đã thâm nhập nó nhưng mà ngày hôm nay con càng thâm nhập hơn nữa giống như con được chứng nghiệm: Hãy thân cận bậc thánh, bậc chân nhân. Hãy học hỏi pháp bậc thánh, bậc chân nhân. Hãy tu tập pháp bậc thánh, bậc chân nhân. Hãy thuần thục pháp bậc thánh, bậc chân nhân.
Câu này con được học hỏi, con được giáo dẫn và con có thấy và bây giờ càng ngày cái thấy đó càng sâu hơn, chính cái điểm này con tiếp tục học nghe nữa thì cái vốn của con, con có niềm tin rằng cái vốn của con, dạ như thượng tọa nói con lớn bây giờ con cho nó hơn nữa là con kết xù. Cái vốn của con nó sẽ kết xù tại vì cái người mà lo mầm ăn hoài thì họ sẽ giàu thôi, cái nào con chưa rõ thì về con vừa tu vừa nghe lại, tại vì trong những thời thiền của con có những lúc con ngồi thiền không yên nhưng mà chỉ cần con nghe lại một bài pháp là con sẽ ngồi thiền một cách rất là êm dịu, an tịnh và lắng dịu, tức là con sẽ lắng dịu được năm triền cái khi con nghe được pháp.
Bây giờ con có vốn rồi thì chỉ cần khơi lại nữa giống như thượng tọa nói con dùng từ miền Tây nhưng mà con nghĩ không phải miền Tây đâu mà nó có cái gì hơn cái miền tây đó nữa, tức là con dùng nó đúng cái trạng thái tâm. Thành thử ra khi về rồi con sẽ tiếp tục nghe nữa như cái bài kinh Pháp Môn Căn Bản, tiếp tục nghe nữa vì những bài pháp này đưa đến sự giải thoát, đưa đến con đường đối chiếu với kinh nó không khác, và cái lộ trình này chiêm nghiệm qua con thấy nó rất là chính xác rồi con nương tựa vào những lời dạy này, rồi con kinh nghiệm, trải nghiệm qua cái sự thiền định của con, con trải nghiệm qua sự nghe lắng nghe lại tâm của con rồi con sẽ thấy nó diễn biến cái tâm của con, tiếp tục cái đó nó sẽ nuôi dưỡng con tức là con tiếp tục nghe lại. Những bài pháp này con sẽ thu lại và nhiều bài nữa những vị mà đã từng giảng cho con nghe, được gọi là bậc thầy đó mà thầy này không phải là bổn sư con mà những vị thầy này gọi là đạo sư của con.
Thành thử ra do từ chỗ đó mà con sẽ tiếp tục lắng nghe, nghe nữa rồi con sẽ phát huy thêm nữa thì con tin con mới dám nói với Thượng Tọa, nếu mà nói khơi khơi giống nói dối, mà nói dối thượng tọa chắc tội nhiều lắm tại vì nói đối với một bậc chân tu, một bậc chân tu thật đức mà con nói dối là tự nhiên nó chiêu cảm, đương nhiên nó có một cái chiêu cảm thì con rất là có tội. Vì thế con dám nói như vậy là tại vì con có tin, tin là con có vốn, bây giờ con làm ăn thêm nữa thì vốn con sẽ giàu do vậy bây giờ hôm nay con kính bạch thượng tọa lát con xin phép ngày mai con sau khi độ điểm tâm xong con xin trở về, chắc ngày mai con lên kính lễ thượng tọa để con được xin trở về. Tại vì tiếp tục nữa là con có nhiều công việc cho nên con không ở tiếp tục nữa được.
Con cảm thấy một điều là ngày xưa khi còn nhỏ con đi xuất gia thì sao cái đời sống xuất gia nó an tịnh quá, nó không có bận rộn, còn cái duyên sự của người xuất gia ngày hôm nay sao nó bận rộn nhiều quá, nó duyên sự nhiều quá. Nếu mình ở trong một hoàn cảnh như thế nào tùy nhưng mà hãy chọn được con đường, chọn được cái điều kiện để tu tập và con rất là mừng là trong một cái thời đại ngày hôm nay mà người ta dụng từ là mạt pháp mà con được gặp chánh pháp, con gặp con đường tu tập để đưa con đến cái mục tiêu, đến định hướng của con là để thoát ly sinh tử mà có một cái lộ trình rất là rõ ràng, cái bước đầu của nó phải là Tu-đà-hoàn và con đã được hướng dẫn con đường này rất từ lâu mà nhưng tới ngày hôm nay thì con cũng chưa có được hoàn bị nên con luôn được các bậc thầy của con cũng hướng dẫn là hãy nên học hỏi hãy, nên thân cận, luôn luôn khuyên nhắc cho con là hãy thân cận bậc thánh, bậc chân nhân, học hỏi pháp bậc thánh, bậc chân nhân, tu tập pháp bậc thánh, bậc chân nhân, thuần thục pháp bậc thánh, bậc chân nhân.
Con nói được câu này là con học nó nhiều lắm rồi mà con không học nó trên ngôn ngữ nữa mà con học nó trên trải nghiệm và cả trải nghiệm từ từ và ngày hôm nay tại Linh Quy Pháp Ấn này cái câu đó nó còn làm cho con tăng trưởng cái niềm tin đối với câu đó trong kinh Căn Bản Pháp Môn vì con biết chắc rằng câu nói đó sẽ làm cho cái đạo nghiệp của con sẽ lớn mạnh, sẽ vững chắc và sẽ thành tựu mà nãy con dám hứa thượng tọa một trăm phần trăm. Dạ đó là cái cảm xúc của con, cái cảm nhận của con trong những ngày qua con được lắng nghe để phối hợp hai cái, là con thấy được cái vô thường, phá hoại, tiêu diệt, không an ổn đó là vô thường, thêm nữa hôm nay con thấy được cái chữ vô ngã nữa, hồi nào con nghe vị thầy dạy con phá được thân kiến thì con nói cái này chắc khó vô cùng nhưng mà hôm nay thì không phải là nó dễ nhưng mà không còn đến nỗi quá khó đối với con nữa khi con đã thấy nó, con đã biết nó và con sẽ lý giải nó qua sự thực tập, sự tu của con thì con biết cách rồi, giống như con dùng từ là con có vốn rồi, con mần ăn lên thì chắc con sẽ giàu thôi.
Những điều mà con được tiếp nhận từ khi mấy ngày nay, đến ngày nay là ngày thứ ba, ngày mai mới là ngày thứ bốn mà con được học hỏi từ nơi thượng tọa từ chia sẻ cái trải nghiệm, cái quan trọng ở cái chỗ trải nghiệm và chứng nghiệm. Cái chỗ đó mà thượng tọa là dùng tất cả cái tâm từ đối với con, tất cả những bài pháp của thượng tọa, những lời dạy của thượng tọa đều hướng vào cái cái trọng tâm mà con đã bạch với thượng tọa ngay từ buổi đầu và thượng tọa đã hết lòng để hướng dẫn cho con. Chính cái chỗ đó mà con bắt gặp được cái tâm từ của thượng tọa và con xin thành kính kính ơn thượng tọa, con cầu nguyện tam bảo gia hộ cho thượng tọa luôn có một sức khỏe dồi dào để phụng sự giáo pháp, để giáo pháp của Đức Thế Tôn sẽ được tiếp tục truyền thừa và để đưa chúng sinh từ bến mê qua bờ giác. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Và sẵn dịp hôm nay được gặp đầy đủ chư tôn đức Tăng, chư tôn đức Ni, con trò cũng xin để từ giã để trở về trú xứ, cũng cầu nguyện tam bảo luôn gia hộ cho chư tôn đức Tăng, chư tôn đức Ni luôn được dồi dào sức khỏe để tinh tấn tu tập, để thành tựu được mục tiêu giải thoát, được gặp được sự hướng dẫn của thượng tọa thì con đường đó sẽ chống vánh thành công, sẽ chống vánh thành tựu và cũng xin từ giã luôn tất cả quý Phật tử được trong duyên, mặc dầu không gặp trực tiếp, không được tiếp xúc nhưng mà cũng gặp trong những pháp hội, cũng cầu nguyện tam bảo gia hộ cho tất cả quý Phật tử cũng được dồi dào sức khỏe để tinh tấn tu tập để hướng đến mục tiêu giải thoát để sớm chấm dứt khổ đau. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Sư Phụ:
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
KINH TRĂNG RẰM 2
THẾ NÀO LÀ KHÔNG CÓ THÂN KIẾN?
ĐỊNH LÝ GIẢI THOÁT
–Thích Minh Thành–
Cảm nhận cơ thể, hít vào dễ chịu, ngọt ngào, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác thấy rõ thọ; tưởng; hành.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc tôn quý nhất đời, ngoài sự hành pháp ra tất cả đều vô nghĩa, ngoài thể nhập pháp ra tất cả đều trống không, ngoài thành tựu pháp ra tất cả là nước mắt.
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, chúng ta tiếp tục nghe bài kinh Trăng Rằm, bên Hán tạng gọi là kinh Mãn Nguyệt.
"-- Như thế nào, bạch Thế Tôn, là không có thân kiến?" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Bạch bậc thế gian tôn kính như thế nào là không có kiến chấp về thân, như thế nào là không có sự hiểu sai lầm về thân này, như thế nào là không có ngộ nhận, lầm nhận, hiểu lầm lạc, sai trái về thân, như thế nào là không có thân kiến, không có kiến chấp về thân.
"-- Ở đây, này Tỳ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, khéo thuần thục pháp các bậc Thánh, khéo tu tập pháp các bậc Thánh; thấy rõ các bậc Chân nhân, khéo thuần thục pháp các bậc Chân nhân, khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc, không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành... không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỳ-kheo, là không có thân kiến." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Không có cho rằng sắc thân này là tôi, không có cho rằng tôi là sắc thân này, không có cho rằng sắc thân này là ở trong tôi, không có cho rằng tôi là ở trong sắc thân này, không có cho rằng cảm thọ này là tôi, không có cho rằng tôi là cảm thọ này, là cảm giác này, không có cho rằng cảm giác này ở trong tôi, không có cho rằng tôi ở trong cảm giác này, không có cho rằng hình bóng trong tâm là tôi, không có cho rằng tôi là hình bóng trong tâm đó là tưởng, không có cho rằng bóng trong tâm tưởng đó là ở trong tôi, không có cho rằng tôi ở trong cái hình bóng đó, tưởng đó. Vị Đa văn Thánh đệ tử gặp được các bậc thánh, thuần thục pháp các bậc thánh, tu tập theo pháp các bậc thánh, khéo tu tập pháp của các bậc thánh, không có cho rằng những suy nghĩ đó là tôi, không có cho rằng tôi là những suy nghĩ đó, không có cho rằng những suy nghĩ đó nó ở trong tôi, không có cho rằng tôi ở trong những suy nghĩ đó.
Chúng ta thấy khi nói ra nghĩa Tiếng Việt thì cái nghĩa nó rực sáng, sáng như mặt trời, những cái câu nói đó là thánh trí, là thánh chuông, là thánh ngữ đó, là thánh đạo đó, thánh quả nằm trong đó. Đệ tử của Đức Phật được nghe nhiều giáo pháp Nikāya, được nghe nhiều những lời dạy của bậc thánh nguyên chất, gặp được các bậc thánh, khéo thuần thục pháp của các bậc thánh, tu tập pháp các bậc thánh thì những vị này không có cho rõ biết này là tôi, không có cho rằng tôi là ở trong cái rõ biết này, không có cho rằng rõ biết này ở trong tôi, không có cho rằng tôi ở trong cái rõ biết này. Như vậy này Tỳ-kheo là không có thân kiến, cái người nhìn nhận như vậy, người thấy như vậy, người biết như vậy, người cho là như vậy, người quán sát như vậy thì người đó không có kiến chấp về thân, không có những cái nhìn, không có cái thấy lệch lạc về thân, không có cái thấy mù lòa về thân, không có cái thấy loạn thị, cận thị, viễn thị, khiếm thị về thân. Người này thấy rõ một sự thật sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không phải là tôi, như vậy là không có thân kiến.
"- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỳ-kheo ấy... hỏi thêm một câu nữa:
-- Bạch Thế Tôn, cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của sắc?... của thọ... của tưởng... của các hành? Cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của thức?" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Thế nào là vị ngọt của năm uẩn? Dạ thưa thế nào là sự nguy hiểm và tác hại của năm uẩn? Dạ thưa thế nào là cái lối thoát ra, xuất ly ra khỏi năm uẩn?
"-- Này Tỳ-kheo, do duyên sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đó là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc, đó là sự xuất ly của sắc. Do duyên thọ... Do duyên tưởng... Do duyên các hành... Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của thức. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thức, đó là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với thức, đó là sự xuất ly của thức." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Cái bản này chúng ta đã được học nhưng cắt ra từng phần và đến cho đến hôm nay chúng ta mới được học trọn vẹn bài kinh. Vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly đối với thọ cũng vậy, cảm giác cũng vậy, do duyên cái cảm giác khởi lên những cái vui sướng, thích thú, lạc hỉ thì đó là vị ngọt của cảm giác, vị ngọt của tưởng, hình bóng trong tâm khởi lên những cái vui sướng, thích thú đó là vị ngọt của tưởng. Trong suy nghĩ khởi lên vui sướng, thích thú, vui sướng là lạc hỷ đó, trong cái suy nghĩ nó khởi lên vui sướng đó là vị ngọt của hành, vị ngọt của suy nghĩ, trong cái nhận thức rõ biết cũng vậy, nó khởi lên vui sướng thì đó là vị ngọt của thức, vị ngọt của sự rõ biết.
Nếu như nó chỉ có vị ngọt không thì chúng sanh đâu có cần phải tìm lối thoát, vì có sự nguy hại, vị có sự vô thường, sự khổ đau, chịu sự biến hoại ở trong những cái vui sướng đó cho nên chúng sanh mới đi tìm một cái lối thoát ra, mới tìm cái lối xuất ly này. Nếu như nó không có cái sự nguy hiểm và tác hại, cái sự vô thường, khổ đau, tan nát, huỷ hoại, hoại diệt, rệu rã, đổi thay, biến hoại thì chúng sanh đâu có đi tìm cái lối thoát. Vì nó có sự vô thường, vì nó đổi trắng thay đen, vì nó bạc như vôi, vì nó tan vỗ, tan hoang, tan tành, tan nát, tan vụng, đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, vì nó thương rồi giận, nó yêu rồi hận, nó thân rồi sơ, vì nó trở giống như cái bánh phồng, giống như cái bánh tráng, nó thay giống như là thay áo vậy, nó xảo trán, nó điêu ngoa, tan biến, nó hủy hoại, nó hoại diệt, nó vô thường, nó khổ đau, nó biến hoại như vậy, đó là sự nguy hiểm và tai hại, tai họa của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này. Đó là sự nguy hiểm, sự hoạn nạn của nó, sự tai hại của nó, thảm họa của nó, tai nạn của nó, đại họa của nó, đại nạn của nó, là một sự lo lắng lớn lao khi ở trong cái sắc này.
Có một cái nhà thì lo cái nhà, có chiếc xe lo cái xe, có một người thân yêu thì lo cái người thân yêu, có một cái thân của chính mình thì sợ lo, bất an cho cái thân của chính mình và có một cái thân của cái đứa con, của đứa cháu là lo lắng, sợ hãi. Sợ cái gì? Sợ nó đổi thay, sắc này là thay đổi, sợ nó vô thường, nó bất trắc, bại hoại, nó hoại diệt, nó tiêu vong. Chính vì có sự nguy hiểm và tác hại này cho nên ta mới nói con đường xuất ly.
"-- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỳ-kheo ấy hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn thêm câu nữa:
-- Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, do thấy như thế nào, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên?" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Bạch Thế Tôn do thấy như thế nào mà đối với cái thân có thức này, đối với tất cả tướng không có cho rằng đó là tôi, đó là của tôi, không còn cái bản ngã, cái ngã mạn mà nó đi theo miên man. Làm sao để mà diệt được cái thấy về tự ngã, cái thấy về ngã sở, cái thấy là tôi, là của tôi rồi sanh ra một cái tâm ngạo mạn, kiêu mạn. Biết như thế nào, thấy như thế nào để không còn cái chấp cho rằng tôi, của tôi nữa, bản ngã nữa.
"-- Này Tỳ-kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc, Tỳ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: 'Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi'. Phàm thọ gì... Phàm tưởng gì... Phàm các hành gì... Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức, Tỳ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: 'Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi!' Này Tỳ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Có một cái tấm hình chụp mình hồi lúc mình hai mươi tuổi, bây giờ người ta đưa cái hình ra hỏi ai, mình nhận liền không? Có nhận liền không? Đây là tôi nè, hình của tôi, có không? Như vậy là có phá thân kiến chưa? Tất cả sắc trước kia, sau này và bây giờ, đẹp hay xấu, xa hay gần, thô hay tế, thù thắng hay là hạ liệt, cao sang hay là thấp hèn, nó vi tế hay là nó thô phù, cái vi tế, thô phù này nhiều nghĩa lắm, ngay cả thân của chư thiên nữa, vi tế là những cái sắc tưởng ở trong tâm mình cũng là sắc tế, cái hình bóng của chính mình ở trong tâm là sắc tế, sắc tưởng. Nhưng tất cả sắc Tỳ-kheo như thật quán xét với chánh trí tuệ như sau: Đây không phải là của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi.
Tất cả các cảm giác, tất cả các hình bóng trong tâm, tất cả những suy nghĩ và tất cả nhận thức, quá khứ, vị lai, hiện tại trong ngoài, thô tế, thắng liệt, xa gần, tất cả thọ; tưởng; hành; thức Tỳ-kheo như thật quán sát với một cái trí tuệ chân chánh như sau: Đây không phải là của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi. Thánh đạo nó rực sáng như vậy mà hồi đó mình đọc mười năm trời mà mình không biết tu làm sao, sáng con mắt chưa? Tin cái lỗ tai chưa? Mở cái tâm ra chưa? Cái cảm thọ nó có bừng lên chưa? Khai thông hết chưa? Đả thông kinh mạch hết chưa? Máu huyết lưu thông hết chưa? Tâm trí nó sáng ngời lên chưa? Mở con mắt pháp ra chưa?
Cho nên con thưa với chư tôn và chư hiền cái người chân tu khổ lắm, thật sự là cái người chân tu ăn không ngon ngủ không yên, ngày đêm thao thức, trăn trở, ưu tư, buồn khổ, sầu đau giống như má mình chết nằm cái hòm ngay trong nhà đó. Tại vì lời Phật dạy chưa có làm xong, sáng đọc pháp bảo mình thấy trong lòng hổ thẹn, mỗi lần nghe pháp mình thấy nó nhục nhã, mỗi lần nhìn lại thân tâm mình thấy xấu hổ, ăn không ngon ngủ không yên, trăn trở, thao thức, ray rứt, buồn khổ, sầu đau, xấu hổ, sợ hãi, lo lắng, ưu tư, nước mắt đầy mặt đó là vị chân tu vì mình đối chiếu lời của Phật dạy thì mình còn xa thật là xa. Mình đừng có ảo tưởng, mình tưởng mình học chút vậy rồi mình tới nơi rồi, đừng có ảo tưởng, còn xa lắm, Thế Tôn nói giữa thiện pháp và bất thiện pháp xa như trời dưới đất, như bờ biển bên này với bờ biển bên kia, xa vời vợi, xa xăm.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn sự việc này, rất xa, rất xa với nhau. Thế nào là bốn?
Trời và đất, này các Tỳ-kheo, là sự việc thứ nhứt rất xa, rất xa với nhau.
Bờ biển bên này, này các Tỳ-kheo với bờ biển bên kia, là sự việc thứ hai rất xa, rất xa với nhau.
Từ chỗ mặt trời mọc lên, này các Tỳ-kheo, đến chỗ mặt trời lặn xuống, là sự việc thứ ba rất xa, rất xa với nhau.
Pháp của hạng người bất thiện, này các Tỳ-kheo, với pháp của hạng người thiện, là sự việc thứ tư rất xa, rất xa với nhau.
Này các Tỳ-kheo, đây là bốn sự việc rất xa, rất xa với nhau này" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (VII). Rất Xa Xăm)
Xa thật là xa là giữa cái người mê và cái người giác, người tỉnh, người thức và người ngủ, người ngu và cái người trí, người thể nhập pháp và người chưa thể nhập pháp là nó xa vô cùng vô tận mà bây giờ mình không thao thức, mình không trăn trở, mình không vận dụng tứ như ý túc, mình có muốn không, có nỗ lực trong cái sự muốn đó không, mình có để tâm trong cái sự muốn mà tập trung toàn bộ tâm ý, hướng tâm, để tâm vào sự đoạn tận khát ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức không, hướng tâm, để tâm và toàn tâm đối với sự đoạn tận các khát ái, dục tham, vô minh, bản ngã, chấp thủ ở trong cái khối máu mủ tanh hôi, nhơ nhớp, bẩn thiểu này.
Thật sự là ưu tư!
Thật sự là thao thức, trăn trở!
Ngày đêm cứ trầm tư, cứ suy tư, cứ ưu tư, cứ chiêm nghiệm, lúc nào cũng trầm tư, lúc nào cũng nhìn trở lại năm cái thằng giặc dữ này, năm cái kẻ giết người này, năm cái thằng ăn cướp này là mầm móng của tai họa, của đau khổ, của khổ nạn, của sự sống chết. Nó còn chình ìn một đống như vậy làm sao mình có thể buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, sao mà mình hỷ hả được, sao mà mình lại chạy đi lo những cái chuyện vô ích, vô nghĩa, vô thường, những cái thứ vô giá trị trên cuộc đời này. Tất cả đều là vô nghĩa một khi mình không làm xong lời Phật dạy, một khi mình còn thân kiến, một khi mình còn nhập ở trong cái thế lưu mà chưa có nhập vào cái Pháp lưu, mình còn bị cái dòng đời nó cuốn phăng mình đi, mình trôi dạt, mình phiêu bạc, lưu lạc, mình đắm chìm. Mỗi khi mắt mình thấy sắc, tai mình nghe tiếng, ngửi mình ngửi mùi, lưỡi mình nếm vị, thân mình xúc chạm, ý mình nhận thức các pháp thọ; tưởng; hành bên trong, mình thấy còn dục, còn tham, còn ái, còn trách, còn tôi, còn ta, còn hơn, còn thua, ganh tỵ, đố kỵ, cao bằng rồi thấp.
Như vậy là mình thật sự là đau lòng, đau xót quặn thắc "trời ơi là trời mình xuất gia bao nhiêu năm rồi nè trời. Mẹ mình chết, cha mình chết, ông mình chết, bà mình chết, cô bác, dì, thím mình chết, tất cả bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, bao nhiêu thân phận của mình chết, bây giờ mình sống lăn lóc như vậy, sống như một cái bao thịt, như một cái túi da, như một cái thây ma để ngày đêm mình cứ hướng ra bên ngoài để đi tìm những cái vui ảo mộng, ảo ảnh". Vui mà phù dung, sớm nở tối tàn, vui mà thoáng chốc, giờ phải chịu khổ ngàn thu vạn đại, muôn kiếp trầm luân, đau lòng xót dạ, trăn trở và ưu tư cho nên các bậc Tỳ-kheo xưa thời Đức Phật các ngài chỉ có hai cái công việc, ngoài cái chuyện đi khất thực một là trở về im lặng của bậc thánh tức là tu tập bốn cái tăng thượng tâm sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, hai là triển khai thiền quán, tối thắng tuệ pháp quán là chiêm nghiệm để gỡ sắc ra cũng như Ni trưởng dùng cái chữ khều nó ra, nại nó ra, khự nó ra. Mình thấy cái cây xà beng nại mấy cái đinh, cái tâm này là một cái tâm mê như đinh đóng cột, đinh cỡ đóng cái hòm chứ không phải đinh bình thường đâu.
"Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh" (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Bây giờ mình cầm cái xà beng nại hết sức, thậm chí nại không nổi mình kêu anh em lại phụ, "giữ nó đi để tôi đè vô rồi tôi cố gắng bật nó", có khi bật ra đập cái đầu té xuống cũng phải làm, đổ máu cũng phải nại ra. Nhất trí không? Đầu rơi máu đổ, hy sinh thân mạng này cũng phải nại cho được năm cái thứ chấp thủ ác độc này, si mê, hôm ám này. Chúng ta nghĩ từ đây cho tới mình tàn hơi mà mình dốc hết cái khả năng của mình chưa chắc gì được, mà cái thời đó mình còn không lên tu nữa thì thôi, đừng có thưởng tu ở đâu, chính là những cái thời này là những cái thời để cho mình ôm, mình nhắc, mình đồ, mình tô cho nó đậm, nó khắc sâu vào rồi xả ra, đi ra, bước ra khỏi đây là mình vận dụng, thực hành, thực tập, thực nghiệm để mình chứng nghiệm, thể nhập, mình chứng đắc, mình chứng ngộ, mình chứng đạt. Đó là như thật quán sát, quán chiếu với một trí tuệ chân chánh đây không phải là của tôi, cái thân hình này, ba cái cảm giác này, một cái đống suy nghĩ này, những cái nhận thức này, tất cả xưa nay hay là sau, quá khứ, vị lai, hiện tại, trong ngoài, thô tế, thù thắng hay hạ liệt, xa hay gần, tất cả hình hài, cảm giác, tưởng, suy nghĩ, nhận thức đều không phải là của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi.
Niệm cái câu này thay cho câu niệm Phật, sáng, trưa, chiều, tối, nửa đêm, nửa hôm, bất cứ lúc nào đi toilet, đi tiểu, đi ăn cơm, đi ngủ, đi làm công chuyện, bất cứ một cảm giác gì sanh khởi lên thì niệm "cái này không phải là tôi, đây không phải là của tôi, đây không phải là tự ngã của tôi". Hình bóng khởi lên trong tâm "đây không phải là tôi, đây không phải của tôi, đây không phải tự ngã của tôi", những suy nghĩ sanh khởi lên hơn thua, đúng sai "đây không phải là tôi, đây không phải của tôi, đây không phải tự ngã của tôi". Nếu mình thường niệm, mình thường nhớ, mình thường an trú, mình thường quán sát, tư duy liên tục ngày đêm như vậy thì lỡ người ta chửi thì sao? "Đâu có cái nào là tôi đâu", chính ở trong này mà mình còn từ bỏ thì huống hồ gì ngoài kia nó là cái gì, chẳng có dính dáng gì.
Cho nên ở trong rừng Thắng Lâm mà người ta chặt cây, chặt cành, chặt lá, người ta gom lại một đống người ta đốt. Như vậy ông có nghĩ rằng người ta đang chặt tay, chặt chân, thiêu đốt ông không? Hỏa thiêu ông không? Bạch Thế Tôn không có, cũng vậy con mắt này không phải là ông, lỗ mũi này không phải là ông, cái lưỡi này không phải là ông, cái thân không phải là ông, cái ý không phải là ông, sắc này không phải là ông. Tại sao người ta mới nói mà mình phừng phừng lên vậy?
"Ví như, này các Tỳ-kheo, trong rừng Thắng Lâm này có người mang đi, hay mang đốt, hay làm theo những gì người ấy muốn, tất cả cỏ, củi, nhánh cây hay lá, thời các Ông có nghĩ như sau: 'Người ấy mang chúng tôi đi, hay đốt chúng tôi, hay làm gì chúng tôi theo ý người ấy muốn?'
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Vì sao? Vì chúng không phải tự ngã hay không thuộc về tự ngã.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, mắt không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các sắc không phải của các Ông... Nhãn thức không phải của các Ông... Nhãn xúc không phải của các Ông... Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho các Ông" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, VIII. Không Phải Của Các Ông)
Nếu mình an trú được cái trí tuệ như vậy thì quý vị nghĩ ai làm cho mình khổ được? Niết-bàn rồi, khổ diệt rồi, chịu không? Lúc nào mình cũng nhớ cái này không phải tôi, không phải của tôi, cái này không phải tự ngã của tôi, lỡ ai đi ngang làm rớt bể thì thôi, nó là tứ đại, nó là duyên sanh, là vô thường. Còn nếu mình không quán thì món đồ đó rớt bể là mình cũng rớt theo luôn, đó là cái ở ngoài mà mình còn vậy thì tới cái trong thân làm sao? Cho nên mới nói là trong hay ngoài là vậy đó, đây là sắc ngoài, đây là sắc trong chứ không phải nói là sắc trong sắc ngoài không có, cái nhà này là sắc ngoài, cái bàn này là sắc ngoài, cái món đồ đó là sắc ngoài, còn cái thân này là sắc trong, tim, gan, bao tử, mắt, tai này là sắc ở trong, sắc sâu hơn nữa là sắc tưởng.
Chúng ta thấy ba bốn lớp sắc vi tế, sắc thô là mình cầm, mình nắm bắt, mình rờ mó được, còn cái sắc tế là không có, nó ở trong tâm gọi là sắc tế. Cái cảm giác thô mình nhìn ngoài mình thấy được người đó, thương người đó, ghét hay người đó hay không thương không ghét mình nhìn thấy nhưng mà cái cảm giác nó vi tế ở trong mà mình có mến mến, hay mình có hờn hờn, những cái đó gọi là thọ vi tế. Nếu mình không nhận diện ra được cái hờn hờn đó thì từ từ nó sẽ trở thành lớn mạnh lên và nó không ưa, từ từ tới nó ghét, ghét mà nhiều lần lập tới lập lui thì nó thành thù, rồi từ thù thành hận. Mỗi một lần cái cảm thọ đó khởi lên mà nó khởi trong vô minh tức là mình không nhận diện ngũ uẩn, mình không biết thì mỗi lần vậy giống y như người vẽ bút chì mà họ quẹt thêm một đường vậy đó.
Mình có biết vẽ bút chì, tô bút chì không ạ? Như vậy cứ mỗi lần khởi lên rồi quẹt thêm đường, mỗi lần khởi lên tô thêm như vậy thì cái cảm thọ đó nó tô đậm, nó nổi bật lên và từ từ cái này nó trở thành chấp thủ gỡ không ra. Cái sân hận cũng vậy, cái ái dục, yêu thương cũng giống vậy, mỗi lần suy nghĩ lên mình chấp nhận cái ái đó, cái ái của món đồ, cái ái căn nhà, cái ái phòng ngủ hay cái ái của con người mà nó khởi lên mình chấp nhận thì mình tô thêm một nét, tô thêm một cái màu vô. Lần thứ hai khởi lên tô thêm một cái màu nữa, lần thứ ba khỏi lên như vậy mình tô đủ màu hết thì như vậy hình bóng của người đó gọi là ý trung nhân, người ở trong tim nó ám ảnh mình. Yêu và hận giống hệt nhau thôi, thương và ghét là một thứ thôi, tất cả là khổ đau hết.
Chúng ta thấy cái chữ thô tế mà Đức Thế Tôn dùng nó rất là nhỏ nhiệm, còn cái thọ này khủng khiếp lắm, nó không có biểu hiện ra nên bậc đạo sư mới nói mình lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động. Cái người có tu thì người này lúc nào cũng lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động trong khi nói, trong khi nhìn, trong khi ăn, trong khi đi, trong khi ứng xử, tiếp xúc qua lại người này lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động. Cái động cơ ở trong cái bộ máy của ngũ uẩn này là thúc giục, yêu thích ở bên trong, cái khoan khoái bên trong hay là cái khó chịu, bực bội bên trong, sự cuốn hút hay cái sự dính, hay là cái sự quay cuồng điên đảo theo các dục quay cuồn. Người này luôn luôn quán nhì,n dò xét và xử lý nội tâm của mình như vậy thì có thời giờ để dòm người này người kia, nói người này người nọ không? Sân si với ai không? Người này nội quán, nội tỉnh, nội soi, nội chiếu ở nơi nội tâm, không có một cái giây phút nào rảnh trừ khi mình quên là thất niệm, nhớ là lập tức quay trở lại liền.
Người này quay lại nhắc nhở tâm mê "tâm mê ơi mày mê cái đống sắc này mày ngu, cái đống máu mủ này, ung nhọt này mà mày thèm khát, mày khao khát. Ngươi ngu quá để ta dạy cho ngươi khôn lên một chút". Đó là mình quán bất tịnh, triển khai bất cứ lúc nào, không phải đợi tới lúc lên thiền đường mở cái bài quán bất tịnh lúc đó mình mới quán, không phải thụ động vậy mà là nhiệt tâm. Nhiều khi mở lên ngồi đó còn không chịu nữa, còn chống đối nữa, muốn tu cái khác vì thế chúng ta thấy cái tâm ghê không? Đó là thiện pháp, là thánh pháp, là thánh trí mà nó chống đối chứ đừng nói chi… Cho nên mình không nhìn thấy là mình không biết, nó thô lắm nên làm sao cứ gỡ hoài từng cái suy nghĩ, gỡ từng cái hình bóng, gỡ từng cái nhận thức, gỡ từng cái cảm giác, có những cái bài kinh Đức Thế Tôn nói một người thành tựu chánh kiến không có sự kiện này xảy ra tức là chấp nhận một cái sắc nào đó nó là thường còn, một người thành tựu chánh tri kiến không có thể chấp nhận một cái sắc nào đó nó là tôi, nó là của tôi không thể có sự kiện xảy ra đối với một bậc chánh tri kiến. Một người thành tựu chánh kiến tức là Nhập Lưu không thể chấp nhận bất cứ một cái hành nào, hành đây là sự là sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không có chấp nhận bất cứ một cái sắc nào nó là vui, nó là đẹp, đó là bậc Dự Lưu đó.
"Sự kiện này không xảy ra, này các Tỳ-kheo, không có được: Một người thành tựu chánh kiến có thể chấp nhận các hành là thường còn, sự kiện này không xảy ra. Và sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo, kẻ phàm phu có thể chấp nhận các hành là thường còn, sự kiện này có xảy ra.
Sự kiện này không xảy ra, này các Tỳ-kheo, không có được: Một người thành tựu chánh kiến có thể chấp nhận các hành là lạc, sự kiện này không xảy ra Và sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: Kẻ phàm phu có thể chấp nhận các hành là lạc, sự kiện này có xảy ra.
Sự kiện này không xảy ra, này các Tỳ-kheo, không có được: Một người thành tựu chánh kiến có thể chấp nhận các pháp là ngã, sự kiện này không xảy ra. Và sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo, kẻ phàm phu có thể chấp nhận các pháp là ngã, sự kiện này có xảy ra" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XV. Phẩm Không Thể Có Được, Chấp Nhận Các Hành Là Thường Còn)
Khi con phát giác, phát hiện ra cái này thì con hạnh phúc tuyệt diệu luôn tại vì mình biết cái tâm của bậc Dự Lưu là như thế nào, hồi đó mình tu không biết các bậc thánh ra sao. Tức là ở trong cái cảm giác, ở trong cái hình bóng, ở trong cái suy nghĩ, ở trong cái nhận thức không có chấp nhận bất cứ một cái suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, nhận thức nào là tôi, là của tôi, không có chấp nhận bất cứ một cái suy nghĩ nào là vui, là đẹp, là thường còn, không có chấp nhận bất cứ một cái sự vật nào ở trên đời này thường, lạc, ngã, tịnh, thường, vui, ta, sạch, đẹp. Đó là bậc Dự Lưu, thí dụ nó suy nghĩ "cái này tôi" thì lập tức có một cái trí tuệ phá cái đó liền, tuyệt vời không? Khi nó khởi lên "cái này là của tôi á nha" thì lập tức có một cái trí tuệ phá cái suy nghĩ này liền, đánh cho cái bản ngã gục ngã sau đó người đó mỉm cười. Như vậy có được không? Tu vậy sướng không?
Bây giờ một cái hình bóng nào sanh khởi lên thì người này không bao giờ chấp nhận có bất cứ một cái hình bóng nào là vui sướng, là thường còn, là tôi, ta, là hấp dẫn, không chấp nhận bất cứ một cái hình bóng nào sanh khởi trong tâm mà người này cho rằng vui, là ta, là thường còn, là hấp dẫn, đẹp đẽ. Chúng ta thấy chỉ như vậy thì còn có cái chỗ nào mà không rõ nữa? Sáng như mặt trời, con thưa Ni trưởng đó là tri kiến của bậc Dự Lưu đó, Tu-đà-hoàn đó, Mình quyết nổi không? Tới không? Sinh mạng này mình còn dám bỏ mà có cái suy nghĩ thì có gì khó, chuyển suy nghĩ, chuyển cái cảm thọ, chuyển cái tưởng, cái hình bóng, chuyển cái nhận thức. Nếu mà như vậy thì người này liên tục tác ý ngày đêm không gián đoạn, có mấy vị hỏi "không biết tác ý xa là sao sư phụ?" tức là không có đợi tới cái lúc nó nổi sân mình mới tác ý mà bình thường mình tác ý, không có đợi tới lúc mà nó tham dục mình mới tác ý bình thường mình tác ý gọi là tác ý từ xa.
Mình đợi tới lúc mà nó tham dục khởi lên rồi mình tác cái gì nổi? Nó tát mình chứ mình tác gì nổi, mình đợi tới lúc nó phừng phừng lên rồi mình tát nước cái gì, xe cứu lửa chạy tới bốn năm chiếc còn không xong, nó lan hết trơn rồi. Vì thế cần tác ý từ xa, quán chiếu từ xa, tư duy từ xa, đó là lý do tại sao con cứ nhắc là như lý tác ý, như lý giác sát. Như lý giác sát là canh chừng như mèo rình chuột vậy đó, canh me nó như điệp viên 007, theo dõi bất cứ mọi lúc mọi nơi coi cái tâm này còn sống trong hôn mê, còn sống trong tham dục, nó còn sống trong chấp thủ nắm chặt, nó còn ta, tôi, tao, mi, nhân ngã bỉ thử không, dập nó liền. Tu vậy có thú vị không? Có thất nghiệp không? Đại Nghiệp chứ không có thất nghiệp, thánh nghiệp chứ không có thất nghiệp.
Như vậy mình thấy Đức Phật diễn rất là rõ, đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi, tu như vậy mới phá được mạn tùy miên là cái tôi, cái ngã mạn đi theo mình miên man. Tùy miên là lúc nào nó cũng ở bên cạnh mình như bóng với hình vậy đó, mình không có như lý giác sát, mình không có biết nó như bóng với hình. Ví dụ mình đang thoải mái nằm nhẹ nhàng giống như không có thân, nhẹ như bông gòn tự nhiên có người đem cái cây nhang đang cháy châm vô người mình thì mình giật mình, la lên liền. Như vậy cái ngã nó nằm ở đâu? Hồi nãy mình đang nằm hay là mình đang ngồi thiền thấy nhẹ nhàng giống như không có thân vậy "con nhẹ quá, giống như mây bay vậy, giống như gió thổi" mà châm cái cây nhang cháy vô thì nhảy giật mình lên, đó là lý do tại sao phải sám hối diệt ngã, như lý tác ý, tác ý từ xa. Mọi người đã thấy được bí kiếp tu hành chưa? Giải mã được cái bí mật chưa?
Trong từng cái suy nghĩ, trong mỗi cái hình bóng, trong mỗi cái cảm giác, trong mỗi cái nhận thức mình đều để tâm, để ý, dòm ngó để đánh phá cái tôi, cái suy nghĩ tôi, của tôi, cái tự ngã của tôi. Dập nó hoài, sáng, trưa, chiều, tối, nửa đêm giật mình thức dậy cũng dập nó, bất cứ lúc nào đánh cho nó bầm dập, tả tơi, tan tành, tan nát, nhừ như tương, diệt tận nó một cách hoàn toàn. Trong khi con nhập thất có rất nhiều bài tác ý về cái bản ngã, sẵn đây rồi con đọc vài bài để chúng ta có cái vốn để tác ý, con tác ý thì nó hơi mạnh lắm, chữ dùng nó nặng lắm nhưng vậy mới thấm.
Thật là khốn nạn cái ta này
Sáng chiều suy nghĩ thể hiện mình
Mình cao, mình thấp, mình bằng họ
Luẩn quẩn trong đầu không lối ra
Thật là cay đắng cái ta này
Suốt ngày suy nghĩ để khoe khoan
Phô trương danh tiến cùng thanh thế
Để được mọi người tới biểu dương
Bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu công sức, người ta tới khen cái thôi là suốt cuộc đời cực khổ à. Chùa đẹp quá, cái nhà đẹp quá, giường đẹp quá, khen một cái là bắt đầu làm con trâu luôn, chết vì tiếng khen đó.
Khổ ơi là khổ cái ta này
Thương giận, buồn vui, đúng với sai
Bắt bẻ đủ điều không chịu nổi
Chẳng ai vừa ý, chẳng hợp ai
Khổ ơi là khổ cái ta này
Ganh tỵ, dối gian ta với mi
Gia đình tan nát thêm buồn khổ
Vợ chồng anh em thành kẻ thù
Khổ ơi là khổ cái ta này
So đo ăn uống dở với ngon
Khen chê đủ chuyện người tốt xấu
Thị phi đôi chối ôm sầu bi
Khổ ơi là khổ cái ta này
Con dao hai lưỡi giết mình người
Tự mình bản ngã làm mình khổ
Người ở cùng ta khổ hơn ta
Cái người ở chung mình có khổ với mình không?
Đắng cay ác độc cái ta
Tự mình giết mình thật vô minh
Sét sinh từ sắt hủy hoại sắc
Bản thân cao ngạo ở một mình
Đắng cay ác độc cái ta này
Thầy trò trở mặt kiện thưa nhau
Cha con ly biệt trong ngấn lệ
Bạn bỗng hóa thù chỉ phút dây
Tớ tàn sát chủ án mạng kinh
Chủ bóc lột người giúp việc mình
Tập đoàn đổ vỡ cùng phá sản
Thủ phạm chính là một cái ta
Ôi hiểm nạn thay, hiểm nạn thay
Bản ngã này nguyên tử giết người
Nổ tung thế giới gây tranh chiến
Tan thương sầu hận khắp trên đời
Đông tây kim cổ Âu sang Á
Lịch sử ngàn năm chẳng đổi dời
Ôi hoạn nạn thay, hoạn nạn thay
Bản ngã tên sát nhân đại tài
Giết cha, giết mẹ, giết tộc,
Hại anh, hại em, hại cháu con
Phân thây chồng vợ bao nhiêu mảnh
Bóp cổ người yêu nhận xuống sông
Đốt nhà, trộm cướp, phá xóm làng
Đâm cha, chém chú, hạ độc thủ
Phóng hỏa, tạt A-xít đánh ghen.
Ta quá sợ mi, quá sợ mi
Bản ngã bài trò lắm khéo khôn
Sát nhân ngọt lịm n hư mật đường
Bao nhiêu ruồi kiến mê vị ngọt
Chết nổi, chết chìm trong khốn cùng
Ôi bản ngã này, bản ngã này
Ngày nào bản ngã chưa phát giác
Ngày ấy ta còn trong u mê
Ngày nào bản ngã chưa thấy rõ
Ngày ấy ta còn nô lệ nó
Ngày nào bản ngã chưa soi tỏ
Ngày ấy ta còn trong bóng đêm
Ngày nào bản ngã chưa vạch mặt
Ngày ấy ta còn trong dại khờ
Ngày nào bản ngã chưa nhiếp phục
Ngày ấy ta còn nhục, xấu xa
Ngày nào bản ngã chưa đánh gục
Ngày ấy ta còn phẫn nộ tham
Ngày nào bản ngã chưa tê liệt
Ngày ấy ta còn phân biệt hơn thua
Ngày nào bản ngã chưa chết hẳn
Ngày ấy ta còn phải khổ đau
Ngày nào bản ngã chưa diệt chủng
Ngày ấy ta còn trong nguy nan
Ta quyết diệt mi, quyết diệt mi
Diệt mi đến tận mức cực vi
Tan ra cát bụi, thành mây khói
Chẳng còn mãi mới an vui
Ta quyết diệt mi, quyết diệt mi
Diệt mi đến tận cả hào ly
Đào rễ, nhổ gốc, băm ngàn mảnh
Diệt sạch tan tành thành khói mây
Bài đó con đặt tên là "Bản Ngã Sát Thủ Ẩn Mặt", sát thủ dấu mặt, kẻ giết người giấu mặt. Kính mời chư tôn, chư hiền chúng ta đứng lên đảnh lễ thánh trí vô ngã của Đức Thế Tôn.
Kính Bạch Đức Thế Tôn con nguyện từ nay cho đến mạng chung xuyên thủng, phá vỡ thân kiến.
Kính Bạch Đức Thế Tôn con nguyện Từ nay cho đến mạng chung đập nát bản ngã tan tành, tan vỡ, tan vụn, tan hoang thành mây thành khói.
Kính bạch Đức Thế Tôn con nguyện từ nay cho đến mạng chung chôn vùi bản ngã, diệt tận bản ngã, không thể tái sanh, không còn sanh trở lại trong tương lai, diệt tận hoàn.
"Lúc bấy giờ, một Tỳ-kheo khác khởi lên suy nghĩ sau đây: 'Nếu Ngài nói sắc là vô ngã, thọ... tưởng... các hành... thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã tạo ra, thời ngã nào lãnh thọ?'." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Ở trong chúng có một vị Tỳ-kheo ngồi im lặng nhưng khởi lên suy nghĩ nếu Thế Tôn nói sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô ngã thì các nghiệp do vô ngã tạo ra thì cái ngã nào lãnh thọ? Không có cái tôi nhưng nếu tạo ra biết bao ác nghiệp thì cái gì lãnh thọ các nghiệp đó?
"Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết rõ suy nghĩ của Tỳ-kheo ấy, liền nói với các Tỳ-kheo:
-- Sự kiện này xảy ra, này các Tỳ-kheo, là có kẻ ngu si, vô trí, chìm đắm trong vô minh, tâm bị khát ái chi phối, nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy bậc Ðạo Sư, nghĩ rằng: 'Nếu Ngài dạy rằng sắc là vô ngã, thọ... tưởng... các hành... thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã làm, các nghiệp ấy do ngã nào lãnh thọ?' Này các Tỳ-kheo, các câu vấn nạn đã được Ta khéo dạy cho các Ông, chỗ này, chỗ kia trong các pháp ấy" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Thế Tôn với tâm tư của mình biết rõ suy nghĩ của vị Tỳ-kheo thì đó là tha tâm thông, Đức Phật đọc suy nghĩ của vị Tỳ-kheo đó nên ngài nói có chuyện đang xảy ra trong chúng là có kẻ ngu si, vô trí, chìm đắm trong tối tăm, trong mù lòa, trong khát ái, tâm bị khát ái chi phối nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy của bậc đạo sư, nghĩ rằng nếu ngài dạy sắc là vô ngã, thọ, tưởng, các hành, thức là vô ngã thời các nghiệp do vô ngã làm, các nghiệp ấy do ngã nào lãnh thọ. Cái câu này từ thời Đức Phật là đã có, sau này người ta đặt ra rất là nhiều vì không có học Nikāya, Đức Phật quở liền kẻ ngu si, vô trí, chìm đắm trong vô minh, tâm bị khát ái chi phối nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy của bậc đạo sư. Bởi vậy con hay nói học thánh điển Nikāya này, thánh pháp nguyên chất này chỉ cần nghe lời Đức Phật là Nhập Lưu, chịu không?
Đây là cái chỗ hết sức là dễ mà hết sức là khó vì cái tâm mình không nghe lời, là cái bản ngã. Cho nên Đức Thế Tôn hay rầy câu này "cái vị này nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy của bậc đạo sư", bây giờ mình nghĩ đi, đối với một cái kẻ dốt, mù, đui, sanh ra đã mù và dốt mà bây giờ mình gặp một nhà vua hay là một bậc thầy vĩ đại trên thế giới vì tình thương hướng dẫn cho mình thì mình nên nghe lời hay mình cãi, mình có ý nghĩ chống đối. Chính vì vậy mà con đem một cái tâm cung kính pháp cho nên con học được, ngay cả với những vị cư sĩ, nói chung là cũng phải chiến đấu lắm con thưa các vị, dằn co lắm nhưng mà cuối cùng rồi mình cũng quy phục, mình bắt nó quỳ xuống vậy cho nên mới có ngày hôm nay chúng ta được ngồi đây để tu học lời dạy nguyên chất của đức Phật.
Nếu mình thua cái bản ngã này thì giờ này mình trôi lăn chìm đắm rồi, mình cũng dương dương tự đắc, ta đây, ngạo mạn rồi cho nên cái chỗ hết sức dễ của Nikāya là chỉ cần nghe lời rồi thực chứng tại vì lời của Phật là định lý, là khẩu quyết, là cái sự chứng ngộ được ấn ở trong đó, pháp ấn, không có suy suyển chút nào hết, chỉ cần mình làm đúng theo cái định lý đó thì nó ra kết quả, những cái định lý, định luật có sẵn cái đáp án đó mình cứ làm sao nó ra đúng cái đó là được. Đó ví dụ thôi chứ còn Đức Phật thì còn hơn cái nó gấp tỷ lần, lời ngài nói thì không thể có một người thứ hai thành ra cái chỗ Nikāya nó rất dễ, con thấy chưa có bao giờ mà nó dễ như vậy với một cái người mà hiền thiện, ngoan, nghe lời cho nên tại sao trong bài đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc đạo sư nói nguyện làm con ngoan của ngài, đó là Dự Lưu. Cứ việc nghe lời làm y như vậy là thể nhập cho nên mình nhớ ở trong cái những bài kinh mà ở trong đảnh lễ trí đức Như Lai cũng có lập lại cái ý từ bồ đề đạo tràng đến song thọ những lời gì Như Lai Đã nói không thể có sai khác, đó gọi là tịnh tín bất động đối với pháp và đối với sự giác ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Đương nhiên mình phải thực nghiệm, thực hành, thể nghiệm, thực chứng thì mình mới tịnh tín bất động được, nhiều khi mình chưa có hành cái đó thì mình sẽ khó mà tin, mà có thực hành là mình tin liền. Mình càng tin thì mình càng hiểu, mà càng hiểu thì mình càng tin, một nhà đại bác học khoa học đã nói vậy, tôi càng tin ngài thì tôi càng hiểu ngài, mà càng hiểu ngài tôi càng tin ngài.
"Càng hiểu biết Ngài, tôi càng quý mến Ngài. Càng quý mến Ngài, tôi càng hiểu biết Ngài"
(Fausboll – Triết gia người Đan Mạch)
Thành ra ở đây bị rầy, Đức Thế Tôn mới vừa nói cái vô ngã cái khởi lên cái ý vô ngã vậy rồi tạo nghiệp này kia rồi cái ngã nào lãnh thọ, chúng ta phải để ý cái chỗ này. Như hồi sáng con ví dụ đó mình nằm chiêm bao thấy mình cự lộn, cãi lộn, đánh lộn với người ta, nó có cái cảm thọ, có cái hình bóng, có cái suy nghĩ, có cái nhận thức nhưng mà tới chừng mình được người ta lay tỉnh, đánh thức mình vậy thì nó đâu có, nhưng mà cái lúc cãi lộn là rõ ràng là mình ngước cổ họng lên, thậm chí mình khóc là thức vậy thì nước mắt có khi vẫn là ướt cái gối. Như vậy người nằm kế bên thấy người kia bị ác mộng nói "cái người đó mộng, đâu có thiệt đâu, thôi kệ", mộng nhưng mà nó có khổ, nó có vui, nó là vô ngã nhưng mà nó có ác nghiệp và thiện nghiệp, vô thường nhưng lại lắm tham sân.
Nhiều khi mình thấy chỉ có giờ chạy xe thôi thì mình nhường chút xíu thì chứ có cái gì đâu, không chịu, phải trường lên rồi cán dẹp lép hết trơn rồi phải đi vô tù, phải chung thân, phải tử hình, phải đau khổ như vậy mới chịu mà cái đó có cái gì đâu. Cái đó giống như trò chơi vậy đó, không có gì hết nhưng mà có ở tù, có chung thân, cái vô ngã nhưng mà nó có nghiệp, đó là cái chỗ đặc biệt của đạo Phật, tuyệt vời của thánh trí. Chính vì vậy Đức Phật mới dạy mình nghiệp rõ ràng như hình với bóng bám sát theo gót ta, mình phải tạo cái nghiệp thiện, nghiệp lành chứ không phải nói là vô ngã rồi sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, cái này là cái đau đớn cho chúng ta. Nó vô thường, nó trống rỗng, nó vô ngã, nó không có nhưng mà nó khổ, có nghiệp thì nó phải lãnh lấy cái hậu quả, địa ngục có, ngạ quỷ có, súc sanh có, nó khổ đau ở trong cái dục ái, nó khao khát, nó thèm khát, nó đói khát, nó khốn khổ, nó sân hận, nó phựt cháy, nó thù hằng.
Đó là cái mình cần tu, cẩn trọng trong cái nghiệp quả, từng cái ý nghĩ, từng lời nói, từng hành động, cẩn thận nghiệp quả, sợ hãi với ác nghiệp. Bởi vì chúng ta thấy thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác rồi mà Đề-bà-đạt-đa còn xô đẩy mấy viên đá cho Đức Thế Tôn chảy máu chân, những cái chứng bệnh khởi lên mà mình đọc kinh đại bát Niết-bàn mình thấy Đức Thế Tôn phải chịu đựng, rất là đau đớn. Còn ở trong cái thân hữu lậu, hữu vi này, còn ở trong cái ngũ uẩn này là cái dòng nghiệp quả nó khủng khiếp lắm, nó kinh hoàng, cái dòng luân hồi oan nghiệt này, trừ khi nào mình đi diệt tận, thoát ly, xuất ly ra khỏi ngũ uẩn, còn ở trong đây là còn bao nhiêu những cái thứ máu, nước mắt, xương tuỷ và sinh mạng. Có thấy ngán không? Chán chưa? Chán chê, ê chề, gớm ghê chưa? Tới đây là vừa đủ chưa hay còn muốn nữa? Thôi chạy lẹ lên núi tu, chạy lẹ đi ra khỏi cái tham, sân, si, bản ngã, vô minh này đi, cho nên Thế Tôn mới nói "Này các Tỳ-kheo, các câu vấn nạn đã được Ta khéo dạy cho các Ông, chỗ này, chỗ kia trong các pháp ấy" tức là Đức Thế Tôn nói mấy cái này ta đã giải thích rồi ta không có nói nữa, mất thời gian. Ngài không có trả lời, ngài chỉ rầy thôi ngài không trả lời rồi bây giờ Ngài nói cái quan trọng.
"Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Thọ... tưởng... các hành...
Thức là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, nếu quán cái ấy là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Do vậy... thấy vậy... vị ấy biết: 'Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa'." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)
Câu cuối cùng này là cái câu khẩu quyết, thánh quyết, là mật mã, là đạo lộ, là thánh pháp ấn. Thấy vậy bậc thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, thấy được cái tính vô thường, cái tính khổ não, cái tính biến hoại, thấy được cái tính không phải là ta, là của ta, là tự ngã của ta, thấy được như vậy thì bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với thân xác, tài sản, vào cảnh vật này, thấy như vậy bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với những cảm giác, nó sanh rồi nó diệt, nó đổi thay, nó thương ghét, nó phũ phàng, nó vô tình vô nghĩa, nó trống rỗng như vậy. Bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán, ngao ngán, ê chề, gớm ghê, chán chê, não nề đối với những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ nhàm chán, nhàm chán đối với cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, những nhận thức, những rõ biết này, bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với thân xác, đối với cảm giác, đối với tưởng, đối với những suy nghĩ và những nhận thức.
Do nhàm chán vị ấy ly tham, không tham, không ham nữa, do ly tham, do không ham vị ấy thoát ra sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Giải Thoát, không ham nữa, không chơi với nó nữa, không muốn nó nữa, không thích, không khoái nó nữa, từ bỏ nó ra khỏi nó, xuất ly khỏi nó, thoát ra khỏi nó, giải thoát khỏi nó vì chán nó, vì ngán nó. Tại sao chán? Tại sao ngán? Vì nó không có một cái tự ngã. Tại sao nó không có tự ngã? Vì nó là cái thứ vô thường, khổ đau, chịu sự biến hoại, vì nó vô thường, nó khổ, nó chịu sự biến hoại, nó không có một tự thể, tự ngã, không có một cái ta, cái tôi, cái lõi chắc thật bên trong, vì các vị thánh đệ tử thấy như vậy cho nên chán chường. Vì nhàm chán, vì chán trường cho nên không ham nữa, không ham nữa thì từ bỏ, thoát ra và đi ra khỏi nó, lìa xa, từ bỏ, thoát ra nó, chấm dứt nó, giải thoát khỏi nó. Trong sự giải thoát trí khởi lên ta đã được giải thoát.
Đây là cái chỗ đặc biệt của Nikāya, cái người giải thoát sẽ biết mình đã giải thoát, không phải là không biết. Tâm mình còn dục, còn tham, còn ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức mình biết tại mình nhận diện ngũ uẩn, tâm mình giảm bớt dục, tham, ái, chấp đối với ngũ uẩn mình biết, tâm mình nhiếp phục, chế ngự hoàn toàn, không còn dục, tham, ái đối với ngũ uẩn, không còn sự không thấy, không biết và không còn sự yêu thích, khoái nữa, vô minh và khát ái diệt thì lúc đó mình có biết, mình rõ biết. Do nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham vị ấy giải thoát, trong sự giải thoát trí khởi lên ta đã được giải thoát. Nếu không có thánh trí mình sẽ không biết, mà mình không biết thì làm sao mà mình đi ra khỏi nó? Bây giờ có một căn nhà bị mục, nhìn ở ngoài thì nó còn y nguyên nhưng mà ở dưới sàn mục rồi, đất cái chỗ đó có khả năng sẽ có động đất mà người này hoàn toàn không biết gì hết thì người này có ý muốn đi ra không? Làm sao ra nổi? "Nhà này nhà của tôi mà", đừng nói chi nhà của tôi mà cái người đi thuê thôi, thuê bảy ngày mà giờ ở mới có một ngày mà còn không nỡ bỏ nữa chứ đừng nói chi là cái căn nhà thâm căn cố đế, vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp.
Như vậy một người không biết về thánh trí ngũ uẩn có khả năng giải thoát ngũ uẩn không? Sự kiện đó không thể xảy ra, mà ngũ uẩn là thân tâm của mình, một người không biết về thân tâm của mình có thể giải thoát khỏi thân tâm này không? Có thể phá vỡ vô minh đối với thân tâm này, diệt tận khát ái đối với thân tâm này không? Sự kiện đó không thể xảy ra. Làm sao mình cắt đứt được dòng luân hồi trong khi mình không biết được cái gì nó luân hồi, tại sao nó luân hồi và cái sự đau khổ trong luân hồi, tai họa trong luân hồi mình không biết thì làm sao mình giải thoát luân hồi, xuất ly luân hồi, đi ra khỏi luân hồi? Mình không biết gì về thân kiến hết thì làm sao mình nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận thân kiến? Cho nên ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết để đoạn tận tất cả các lậu hoặc, ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết để phá vỡ vô minh, diệt tận khát ái để xuất ly năm thủ uẩn.
"Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy" (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)
Ta nói cho người thấy năm thủ uẩn, ta nói cho người biết năm thủ uẩn, ta nói cho người quán chiếu về năm thủ uẩn, ta nói cho người muốn thoát ra khỏi năm thủ uẩn. Ta không nói cho người không thấy không biết về năm uẩn và ta không thể nói cho cái người mà không muốn giải thoát ra khỏi năm uẩn thì nói cho họ để làm cái gì. Nó tràn ngập cảm thọ hỷ lạc, hân hoan, vi diệu tối thượng mà nói không nổi nữa, nó vi diệu, nó tối thượng như vậy mà không đọc, không tụng, không học, không hành thì đáng tiếc thay, đáng thương thay, đáng tội nghiệp thay.
Như vậy thì vị này trong sự giải thoát trí khởi lên biết rằng ta đã được giải thoát, ta đã thoát ra sắc, ta đã thoát ra cảm thọ, ta đã thoát ra tưởng, những hình bóng trong tâm, ta đã thoát ra mọi suy nghĩ lầm thầm, ta đã thoát ra rõ biết này, chấp thủ trong các cái thức này ta đã thoát ra. Trí khởi lên biết được ta đã giải thoát khỏi năm thủ uẩn, vị ấy biết rõ sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn chở lui trạng thái này nữa. Chúng ta chỉ chờ đến cái ngày đó thôi, sống đây là để chờ đến ngày đó thôi chứ không có cái gì ý nghĩa hết, cái ngày đó mới là cái ngày thật sự hạnh phúc nhất trong vô lượng kiếp luân hồi này, chỉ chờ cái ngày đó thôi.
Con thường nói chúng ta có chỉ có hai ngày vui trong cuộc đời này thôi, lần thứ nhất là Nhập Lưu Tu-đà-hoàn là cái ngày vui thứ nhất và cái ngày vui vĩ đại thứ hai là lậu tận, tất cả các lậu hoặc đều bị diệt tận. Chỉ có hai ngày đó là hạnh phúc tối thượng mà thôi, ngoài ra không có cái gì vui hết, chuẩn bị ngày thứ nhất chưa? Phải hướng tới, nuôi dưỡng tâm Nhập Lưu. Dạ, như vậy là chúng ta học xong bài kinh Trăng Rằm, con thỉnh Ni trưởng có vài lời chia sẻ cảm thọ của mình trong cái bài kinh Trăng Rằm này về sự phá thân kiến.
Ni trưởng: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thượng Tọa chứng minh, kính bạch chư tôn đức Tăng, kính bạch chư tôn đức Ni, kính thưa toàn thể quý Phật tử hiện diện. Hôm nay là ngày cuối trong cái thời gian con về đây vì ngày mà con xin phép là ngày mai các con trở về, kính bạch thượng tọa trong những ngày qua khi con được biết những lời dạy của thượng tọa, những bài giảng của thượng tọa hướng đến cái mục tiêu giải thoát, hướng đến thánh quả con rất là vui mừng vì nó đang trùng hợp cái mục tiêu tu tập của con đang hướng tới. Cũng chính từ đó mà con tìm đến Linh Quy mặc dầu con chưa biết cái đường đi như thế nào, nhưng mà ngày hôm nay cái việc đi đường đó cũng không gọi là khó khăn.
Trong những ngày qua con là tiếp nhận được lòng từ của thượng tọa, thượng tọa dồn tất cả những tâm lực trí lực và tất cả những sự trải nghiệm tu tập của thượng tọa dồn vào cái mục đích mà con đang hướng đến qua những bài kinh, qua những trải nghiệm tu tập của thượng tọa và kết quả ngày hôm nay con đã tiếp thu. Trước tiên hôm trước con có trình bày cái sự tiếp thu đầu tiên của con đó là người có chánh tri kiến là người phải thấy rõ Tứ Đế, trước đó con trình bày với thượng tọa là con bị xà quần ở cái Khổ Đế, con không nhận ra được và sau những cái buổi giảng đó con đã nhận ra được Khổ Đế và Tập Đế và con dùng cái từ là con khớp nó được rồi tại vì con bị mắc kẹt ngôn từ giữa cái nói rằng Khổ Đế sanh, già, bệnh, chết, thương yêu xa lìa, muốn không đặng, cầu muốn không đặng rồi sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, thương yêu xa lìa, thù ghét gặp gỡ, còn muốn không đặng và chấp thủ năm uẩn thì lúc bấy giờ con bị kẹt.
Hồi xưa con nghĩ là đâu phải là có cái thân này, cái sanh, già, bệnh, chết là khổ, có những vị người ta đâu có khổ thì sao lại gọi là khổ được. Con bị kẹt cái chỗ đó, đồng thời cái từ Khổ Đế là Dukkha, là phá hoại, tiêu diệt, tan rã, không ăn ổn, hai cái này con không khớp nó được. Do đó con không tuệ tri được Khổ Đế nhưng khi thượng tọa giảng và phân tích chính cái già, cái sanh khổ đó nó cũng là Dukkha, nó cũng là phá hoại, tiêu diệt, không ăn ổn thì con khớp nó được rồi. Tất cả các cái con đều khớp được hết, lúc bấy giờ con ngồi là con dung thông được nó tức là con thấy được Khổ Đế, khi thấy được Khổ Đế là thấy được Tập Đế và rồi đó là cái ngộ, tức là con như lý tác ý được điều đó rồi.
Tiếp tục nữa thì thượng tọa giảng thêm về chấp thủ năm uẩn, cái chấp thủ năm uẩn đó nó cho con ngộ thêm một điều, một cái nguyên tắc để đưa đến cái đạo quả Tu-đà-hoàn đó là thân kiến. Kết quả của ngày hôm nay hai cái này con khớp lại được rồi, mặc dầu con chưa có phải là hoàn toàn tuệ tri nhưng con đã khái niệm được nó, cái bản vẽ này con đã thấy thì bước chân trên cái bản vẽ này con sẽ đi được khi có bản đồ. Hồi nãy thượng tọa hỏi là con tin một trăm phần trăm không thì con mới dám nói là con tin một trăm phần trăm tại vì khi thấy được bản đồ và mình đã thấy được con đường, cái đạo quả Tu-đà-hoàn là cái cửa ngõ để đi đến đạo quả A-la-hán là sự chấm dứt khổ đau. Do đó cái nguyên tắc đó và cái mục tiêu khi con đã thấy được điều này thì con đã có một cái khái niệm nhàm chán về cái sự sinh tử luân hồi, và khi nhàm chán với sự sinh tử luân hồi thì con muốn xuất ly nó và bây giờ con thấy được cái bản đồ rồi. Khi con đã có cái hướng tâm, khi con đã có một cái định hướng thì với cái bản đồ này con chắc được rằng con sẽ thành tựu được cái chánh tri kiến.
Nãy giờ cũng như suốt cái thời gian học vừa qua cũng như ngay trong thời điểm của buổi học hôm nay, tại sao con dám tin rằng con có thể thành tựu được cái chánh tri kiến này mặc dầu hiện giờ con chưa hoàn toàn tuệ tri nhưng hồi nãy cái từ của thượng tọa nói nó làm cho con sáng thêm hơn nữa. Tức là con đã có cái vốn rồi, khi con học như thế này con thấy được cái bản đồ rồi, con có một cái vốn mặc dầu cái vốn nó nhỏ, cái vốn nhỏ hay cái vốn lớn tùy thuận vào cái năng lực làm cái vốn đó phát sinh.
Sư Phụ: Cái vốn của Ni trưởng không có nhỏ đâu, con thấy vốn bự lắm.
Ni trưởng: Dạ con chưa thành tựu, con không thấy con bự và con dám tin khi con thấy nó nhỏ. Thượng tọa khen con lớn thì thôi con cũng mừng.
Sư Phụ: Bây giờ con thưa Ni trưởng nè, cái tuổi già như vậy bỏ chùa chiền, bỏ công việc, bỏ đại chúng, không biết đường xá để mà đi mà dám đưa hết chúng lên trên núi rừng như vậy ở để tu học, cái vốn này vốn cỡ nào ạ?
Ni trưởng: Mô Phật, kính bạch thượng tọa con có niềm tin ở cái chỗ này, con có cái niềm tin ở chỗ là cái vốn này con sẽ tăng trưởng ở ngay cái chỗ này. Hôm trước con có bạch với thượng tọa giống như con bò ăn cỏ vậy đó, ăn vô chứ chưa trở thành chất bổ nhưng mà con có một cái niềm tin rằng với cái câu kinh Căn Bản Pháp Môn, cái câu này không phải tự dưng mà con học được mà cũng không tự dưng mà con có niềm tin được vì câu này con được sự giáo dẫn và vị thầy giáo dẫn cho con cái câu này con đã thâm nhập nó nhưng mà ngày hôm nay con càng thâm nhập hơn nữa giống như con được chứng nghiệm: Hãy thân cận bậc thánh, bậc chân nhân. Hãy học hỏi pháp bậc thánh, bậc chân nhân. Hãy tu tập pháp bậc thánh, bậc chân nhân. Hãy thuần thục pháp bậc thánh, bậc chân nhân.
Câu này con được học hỏi, con được giáo dẫn và con có thấy và bây giờ càng ngày cái thấy đó càng sâu hơn, chính cái điểm này con tiếp tục học nghe nữa thì cái vốn của con, con có niềm tin rằng cái vốn của con, dạ như thượng tọa nói con lớn bây giờ con cho nó hơn nữa là con kết xù. Cái vốn của con nó sẽ kết xù tại vì cái người mà lo mầm ăn hoài thì họ sẽ giàu thôi, cái nào con chưa rõ thì về con vừa tu vừa nghe lại, tại vì trong những thời thiền của con có những lúc con ngồi thiền không yên nhưng mà chỉ cần con nghe lại một bài pháp là con sẽ ngồi thiền một cách rất là êm dịu, an tịnh và lắng dịu, tức là con sẽ lắng dịu được năm triền cái khi con nghe được pháp.
Bây giờ con có vốn rồi thì chỉ cần khơi lại nữa giống như thượng tọa nói con dùng từ miền Tây nhưng mà con nghĩ không phải miền Tây đâu mà nó có cái gì hơn cái miền tây đó nữa, tức là con dùng nó đúng cái trạng thái tâm. Thành thử ra khi về rồi con sẽ tiếp tục nghe nữa như cái bài kinh Pháp Môn Căn Bản, tiếp tục nghe nữa vì những bài pháp này đưa đến sự giải thoát, đưa đến con đường đối chiếu với kinh nó không khác, và cái lộ trình này chiêm nghiệm qua con thấy nó rất là chính xác rồi con nương tựa vào những lời dạy này, rồi con kinh nghiệm, trải nghiệm qua cái sự thiền định của con, con trải nghiệm qua sự nghe lắng nghe lại tâm của con rồi con sẽ thấy nó diễn biến cái tâm của con, tiếp tục cái đó nó sẽ nuôi dưỡng con tức là con tiếp tục nghe lại. Những bài pháp này con sẽ thu lại và nhiều bài nữa những vị mà đã từng giảng cho con nghe, được gọi là bậc thầy đó mà thầy này không phải là bổn sư con mà những vị thầy này gọi là đạo sư của con.
Thành thử ra do từ chỗ đó mà con sẽ tiếp tục lắng nghe, nghe nữa rồi con sẽ phát huy thêm nữa thì con tin con mới dám nói với Thượng Tọa, nếu mà nói khơi khơi giống nói dối, mà nói dối thượng tọa chắc tội nhiều lắm tại vì nói đối với một bậc chân tu, một bậc chân tu thật đức mà con nói dối là tự nhiên nó chiêu cảm, đương nhiên nó có một cái chiêu cảm thì con rất là có tội. Vì thế con dám nói như vậy là tại vì con có tin, tin là con có vốn, bây giờ con làm ăn thêm nữa thì vốn con sẽ giàu do vậy bây giờ hôm nay con kính bạch thượng tọa lát con xin phép ngày mai con sau khi độ điểm tâm xong con xin trở về, chắc ngày mai con lên kính lễ thượng tọa để con được xin trở về. Tại vì tiếp tục nữa là con có nhiều công việc cho nên con không ở tiếp tục nữa được.
Con cảm thấy một điều là ngày xưa khi còn nhỏ con đi xuất gia thì sao cái đời sống xuất gia nó an tịnh quá, nó không có bận rộn, còn cái duyên sự của người xuất gia ngày hôm nay sao nó bận rộn nhiều quá, nó duyên sự nhiều quá. Nếu mình ở trong một hoàn cảnh như thế nào tùy nhưng mà hãy chọn được con đường, chọn được cái điều kiện để tu tập và con rất là mừng là trong một cái thời đại ngày hôm nay mà người ta dụng từ là mạt pháp mà con được gặp chánh pháp, con gặp con đường tu tập để đưa con đến cái mục tiêu, đến định hướng của con là để thoát ly sinh tử mà có một cái lộ trình rất là rõ ràng, cái bước đầu của nó phải là Tu-đà-hoàn và con đã được hướng dẫn con đường này rất từ lâu mà nhưng tới ngày hôm nay thì con cũng chưa có được hoàn bị nên con luôn được các bậc thầy của con cũng hướng dẫn là hãy nên học hỏi hãy, nên thân cận, luôn luôn khuyên nhắc cho con là hãy thân cận bậc thánh, bậc chân nhân, học hỏi pháp bậc thánh, bậc chân nhân, tu tập pháp bậc thánh, bậc chân nhân, thuần thục pháp bậc thánh, bậc chân nhân.
Con nói được câu này là con học nó nhiều lắm rồi mà con không học nó trên ngôn ngữ nữa mà con học nó trên trải nghiệm và cả trải nghiệm từ từ và ngày hôm nay tại Linh Quy Pháp Ấn này cái câu đó nó còn làm cho con tăng trưởng cái niềm tin đối với câu đó trong kinh Căn Bản Pháp Môn vì con biết chắc rằng câu nói đó sẽ làm cho cái đạo nghiệp của con sẽ lớn mạnh, sẽ vững chắc và sẽ thành tựu mà nãy con dám hứa thượng tọa một trăm phần trăm. Dạ đó là cái cảm xúc của con, cái cảm nhận của con trong những ngày qua con được lắng nghe để phối hợp hai cái, là con thấy được cái vô thường, phá hoại, tiêu diệt, không an ổn đó là vô thường, thêm nữa hôm nay con thấy được cái chữ vô ngã nữa, hồi nào con nghe vị thầy dạy con phá được thân kiến thì con nói cái này chắc khó vô cùng nhưng mà hôm nay thì không phải là nó dễ nhưng mà không còn đến nỗi quá khó đối với con nữa khi con đã thấy nó, con đã biết nó và con sẽ lý giải nó qua sự thực tập, sự tu của con thì con biết cách rồi, giống như con dùng từ là con có vốn rồi, con mần ăn lên thì chắc con sẽ giàu thôi.
Những điều mà con được tiếp nhận từ khi mấy ngày nay, đến ngày nay là ngày thứ ba, ngày mai mới là ngày thứ bốn mà con được học hỏi từ nơi thượng tọa từ chia sẻ cái trải nghiệm, cái quan trọng ở cái chỗ trải nghiệm và chứng nghiệm. Cái chỗ đó mà thượng tọa là dùng tất cả cái tâm từ đối với con, tất cả những bài pháp của thượng tọa, những lời dạy của thượng tọa đều hướng vào cái cái trọng tâm mà con đã bạch với thượng tọa ngay từ buổi đầu và thượng tọa đã hết lòng để hướng dẫn cho con. Chính cái chỗ đó mà con bắt gặp được cái tâm từ của thượng tọa và con xin thành kính kính ơn thượng tọa, con cầu nguyện tam bảo gia hộ cho thượng tọa luôn có một sức khỏe dồi dào để phụng sự giáo pháp, để giáo pháp của Đức Thế Tôn sẽ được tiếp tục truyền thừa và để đưa chúng sinh từ bến mê qua bờ giác. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Và sẵn dịp hôm nay được gặp đầy đủ chư tôn đức Tăng, chư tôn đức Ni, con trò cũng xin để từ giã để trở về trú xứ, cũng cầu nguyện tam bảo luôn gia hộ cho chư tôn đức Tăng, chư tôn đức Ni luôn được dồi dào sức khỏe để tinh tấn tu tập, để thành tựu được mục tiêu giải thoát, được gặp được sự hướng dẫn của thượng tọa thì con đường đó sẽ chống vánh thành công, sẽ chống vánh thành tựu và cũng xin từ giã luôn tất cả quý Phật tử được trong duyên, mặc dầu không gặp trực tiếp, không được tiếp xúc nhưng mà cũng gặp trong những pháp hội, cũng cầu nguyện tam bảo gia hộ cho tất cả quý Phật tử cũng được dồi dào sức khỏe để tinh tấn tu tập để hướng đến mục tiêu giải thoát để sớm chấm dứt khổ đau. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Sư Phụ:
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.