Lòng Tin Bất Động 2 - Tùy Niệm Phật - Kinh SARAKANI, Tương Ưng 5
NIKĀYA GIẢNG GIẢI
LÒNG TIN BẤT ĐỘNG 2
TÙY NIỆM PHẬT
KINH SARAKANI, TƯƠNG ƯNG 5
–Thích Minh Thành–
"Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Ðược tốt hơn, không xấu.
Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Ðược tuệ, không gì khác.
Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Không sầu, giữa sầu muộn.
Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh sanh thiện thú.
Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh thường hưởng lạc.
Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, ai đã nói lên một cách tốt đẹp?
-- Về vấn đề này, tất cả các Ông đều nói lên một cách tốt đẹp. Tuy vậy, hãy nghe lời Ta nói:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Giải thoát mọi khổ đau." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, I. Với Người Thiện)
Kính bạch chư tôn hiền đức và chư vị hiền trí trong mấy ngày qua chúng ta thật là ấm áp, dù cho ngoài trời có giông bão chúng ta có thật nhiều cảm giác ngọt ngào, nhiều tình thương, nhiều từ tâm đối với nhau, tràn đầy những cảm thọ biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn và mong nguyện báo ơn, đền ơn. Chúng ta như nước với sữa hòa hợp những tư kiến cá nhân, những tự ngã riêng tư, riêng biệt, riêng lẽ đều hòa nhập, đều tan chảy.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật cũng chỉ có một vị là vị giải thoát." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX). A-Tu-La Pahàràda)
Trăm sông khi đổ vào biển thì tất cả đều trở thành một vị là vị mặn, dù cho ở ngoài đời vua chúa, quan quyền, ăn xin, kỹ nữ, đi ở đợ, đi làm mướn hay là bác sĩ, kỹ sư tất cả khi chuyển tộc, khi được nghiêng về chánh pháp, hướng về chánh pháp, nhập vào chánh pháp thì tất cả đều cùng một thể, không có sự khác biệt của giàu nghèo, của sang hèn, của đẹp xấu, của cao thấp ở trong giáo pháp chánh trí chánh giải thoát này. Tất cả đều cùng một vị thôi là vị giải thoát, còn nếu chúng ta nói những cái vị căn bản, thiết thực, hiện tại là vị hiền lành, cái hương vị của sự hiền hòa, cái đạo vị của sự hiền nhân, cái đạo tình, đạo hạnh, đạo đức, đạo tâm.
Chúng ta như hòa quyện trở thành một thể trong những nội tâm hiền đức, chúng ta hòa đồng, tan chảy và tiêu dung trong đại dương của giác ngộ, trong biển cả của chánh trí, trong tình thương vô lượng của từ tâm. Chúng ta khéo cảm nhận, cảm động và cảm hóa tâm của mình. Giờ này biết bao nhiêu là những nỗi thống khổ, vừa rồi con cho quý vị coi là cách đây có mấy ngày thôi ở Trung Quốc là bốn tỉnh ngập chìm trong nước, bốn tỉnh và mỗi một tỉnh là hơn nước Việt Nam mình. Tứ đại đều đang thuyết pháp, động đất, sóng thần, lũ lụt, gió bão và hỏa hoạn, cả cái biển lửa đó là tứ đại đang thuyết pháp, hàng trăm người, hàng ngàn người, hàng chục ngàn người, hàng ba chục, năm chục, bảy chục ngàn người, trăm ngàn người, hàng triệu người nhà tan cửa nát, không biết đi về đâu, chồng chết, cha chết, mẹ chết, con chết, anh chết, em chết, vợ chết, chị chết, cháu chết, chú chết.
Những cái tiếng kêu gào mà kêu trời không thấu, những cái tiếng "Trời ơi… Trời ơi… Trời ơi", đó là con cắt bớt rồi để cho chúng ta coi gọn thôi chứ nhiều lắm. Nhà của tôi, xe của tôi, tiền của tôi, tài sản của tôi, con ta, tài sản ta, người ngu nghĩ như vậy, tự ta ta không có con đâu, tài sản đâu.
"Con tôi, tài sản tôi,
Người ngu sanh ưu não,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 62)
Núi lửa thì phun trào lên, người ta phải ôm đồ chạy bỏ nhà bỏ cửa, bế con trẻ thơ như vậy chạy, những căn nhà, những thành phố rung chuyển với những cơn địa chấn kinh hoàng, khủng khiếp và sợ hãi, hoảng loạn trong những dòng nước mắt, trong những giọt mồ hôi rồi trong những biển máu lửa của chiến tranh. Bây giờ mình ngồi đó suốt một tiếng đồng hồ thiền quán thử đặt mình vào trong những đất nước đang chiến tranh đó thì mình sẽ làm gì, cha mẹ của mình ngã ra, cái thây bầy nhầy trúng đạn như vậy, trúng bom, nhà mình tan nát thành đống tro, thành một cái đống đổ nát hoang tàn như vậy rồi mình sẽ làm cái gì, sẽ sống như thế nào. Nhà cửa của mình, con gái mình, cha mẹ, người thân của mình bị nước cuốn trôi hết trơn rồi mình làm cái gì?
Cho nên Đức Thế Tôn dạy mình là phải quán nguy hiểm, quán biến hoại, quán hoại diệt, quán đoạn diệt, quán diệt tận, quán đoạn tận và những người đó suốt cả cuộc đời từ sanh ra cho đến chết còn chưa biết cái chữ Nikāya là cái gì. Làm sao biết được ngũ uẩn, làm sao họ biết được chánh kiến, nằm chiêm bao họ còn chưa thấy gì nữa bởi vì họ chưa từng được tiếp xúc với những cái âm thanh như vậy, rồi lớn lên sanh ra ở trong những cái gia đình tà kiến, mê tín dị đoan, sanh ra ở trong cái vùng biên địa hạ tiện, biên giới, chữ còn không biết lấy gì mà biết được điều thiện, lấy gì biết được chánh pháp. Mình thấy như vậy mình mới hết sức trân quý, trân trọng và trân kính, cung kính từng giây, từng phút mỗi một chữ, mỗi một câu ở trong pháp. Mở được cuốn kinh ra đọc được lời thánh ngữ, ngồi được những cái giây phút Ở trên bồ đoàn, ở trong thiền đường là nghìn kiếp người ta ao ước còn chưa được mà người ta cũng không biết để mà ao ước nữa.
Trong bài về núi con có nói là đã ước mong biết bao nhiêu lần rồi phải khao khát, phải ước mong. Mình quán chiếu giống như mình cầm trên tay một cái viên kim cương vậy đó, mình cầm thận trọng biết là bao nhiêu, mình cất kỹ biết là bao nhiêu, để tâm vào đó rất là nhiều. Cũng vậy mình đang cầm cái quý hơn gấp tỷ lần kim cương, mình đang được thấy vô thượng, nghe vô thượng, học tập vô thượng, lợi đắc vô thượng, phục vụ vô thượng vậy mà nhiều khi xem thường, có khi mới thì siêng năng, ở thời gian rồi thôi, uổng lắm.
Chúng ta biết Đức Thế Tôn trước khi thành đạo mình đọc kinh mình thấy chín mươi mốt đại kiếp là ngài đã tu tập. Nếu mà ngài như mình thì học được mấy tháng rồi chán, học được mấy năm rồi bỏ thì làm sao có vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cho nên cái nhìn của mình là phải nhìn ra cả cái hành tinh này, cả cái địa cầu này mà còn nhìn xa hơn thế nữa, tức là những cái thế giới khác của thế giới con người, thường quán địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chúng ta nhìn thấy trước mắt người thật, việc thật, sự thật, lẽ thật, còn những cái chúng ta không thấy được nó còn đau khổ không biết bao nhiêu.
Mình đọc trong Tương Ưng Lakkana là lơ lửng trong không gian này là biết bao nhiêu những cô hồn, những ngạ quỷ, những chúng sanh vất vơ vất vưởng đói khổ, đói khát. Nói như trong loài người thì giờ này đâu có được ở nhà ấm áp, đâu có được ngồi trong nhà, trời mưa, trời bão, trời gió như vậy người ta cũng phải cày sâu cuốc bẫm, chạy xuôi chạy ngược cơm áo gạo tiền, dầu cho bệnh cũng phải ráng lê lết cái thân đi, không có lấy đâu mà nuôi vợ, nuôi con, nuôi chồng, nuôi cha mẹ đang nằm bệnh mà mình lên mình học, mình ngồi thiền có chút lại ngủ gục, mệt mỏi, chán chường thì những cái đó mình phải biết quán, biết mắng chửi cái tâm của mình. Làm sao khởi lên trong lòng mình một ngọn lửa rực cháy nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác và tới chết mình cũng chưa có thỏa mãn đối với diệu pháp mình đã được học của bậc thánh Bất Lai Hatthaka.
Khi mình biết tác ý, khi mình biết quán chiếu như vậy mình rất là trân trọng, trân quý, trân kính từng chút, từng chút, từng chút một. Có bao nhiêu chúng sanh tám tỷ người trên hành tinh này, ngàn ngàn, vạn vạn, triệu triệu, ức ức, tỷ tỷ, một con người chưa từng biết được chánh pháp, họ mò mẫm, họ quờ quạng ở trong cái trường dạ, cái đêm dài hắc ám của vô minh rồi họ khổ mà không biết tại sao khổ, vì sao khổ rồi cũng không biết cách nào để thoát ra hết. Vì vậy mình mới tinh tấn, hoan hỉ ngày đêm tu tập tất cả các thiện pháp.
Hồi nãy con bước từng bước ra đây con nghĩ "đại chúng này có người dở nhất đi nữa đó thì một ngày cũng được tám tiếng đồng hồ ở trong chánh pháp, ở trong cái lẽ thật, ở trong cái trí tuệ", tức là ra khỏi thiền đường rồi cho quên là dở nhất một ngày cũng được tám tiếng mà tệ cũng được sáu tiếng thì chúng ta thấy quý không? Cái thời khóa của mình đã đưa ra như vậy mà người kém nhất, dở tệ nhất luôn tức là bước ra rồi là quên thì tối thiểu cũng được sáu tiếng, tám tiếng đồng hồ, còn cái người khá ngoài tám tiếng này ra thì ở ngoài còn trú thêm nữa thì được mười tiếng, mười hai tiếng, nó quý biết là bao nhiêu.
Ngay cả những người xuất gia giờ lấy hai thời khóa tụng là lên tụng ro ro trả bài rồi xong xuống, không hiểu, không có thể nhập, không có cảm thọ gì hết mà mình ở đây được thấm thía như vậy, thấm đẫm như vậy, thấm nhuần, thấm gội, thẩm thấu vô tim gan như vậy, máu tủy như vậy mà con vừa bước đi con cười. Mình có chết thì chỉ có cái mình chưa có hoàn thành công việc của mình thì mình hối hận thôi, chứ đại chúng cứ tinh tấn tu như vậy rồi càng ngày càng tăng thượng lên là con ngậm cười nơi chín suối dữ lắm, hạnh phúc lắm.
Mình chết ở trong chánh pháp mà có ai tu ngồi đây chết đâu, chưa có ai hết, mình coi những cái giọt mưa vầy mà ở ngoài những bà già còn đi mua gánh bán bưng, những ông cụ còn phải cầm những tờ vé số mà có khi bệnh ở trong người rồi mù nữa mà còn bị gạt, những người chạy xe ôm, chạy xe Grab sáng đêm tới hai - ba giờ sáng, thậm chí chạy sáng đêm kiếm được bao nhiêu đồng phải lo từng chén cơm, từng cái manh áo. Chưa kể con bệnh, vợ đau rồi cha mẹ bao nhiêu những cái gian khổ nằm ở trong bệnh viện, hay là mắc những chứng bệnh nan y, còn mình bây giờ thảnh thơi thì tối ngày chỉ có tu học thôi mà nếu mình làm không được nữa thì cái tội này không biết nói như thế nào.
Mình phải tác ý quán chiếu như vậy, mình không tu học được mình là tội đồ, mình là bất hiếu, mình là kẻ vong ơn bội nghĩa, là cái kẻ lưỡng đồ câu thất, hai đường đều mất hết. Ngoài đời thì không báo hiếu cho mẹ cha, cho anh chị em, bà con, ông bà, vô trong đạo thì tu không thành tựu được, cái tâm hiền cũng không thành tựu được. Mình tác ý như vậy, nhắc nhở tâm mình như vậy, những cái trí tuệ mà mình được học, được hiểu mà cái tâm mình nó còn cách xa như vậy thì mình phải là huấn luyện, quản giáo, nhắc nhở, rầy la, quở trách tâm, đánh phạt cái tâm. Có khi mình phải phạt cái tâm và có khi mình phải nâng cái tâm mình lên.
Thí dụ mình thấy nó tệ quá rồi, sao mà nó suy sụp như vậy là xin nhập thất, nó có những cái mầm móng đi xuống núi, nó muốn lùi lại, thối lui thì một là mình nương chúng tinh tấn, mình phát lồ, mình hỏi còn mình có khả năng là "bây giờ ta phạt ngươi, ta cho ngươi phải độc cư, một mình ngươi chiêm nghiệm hết cái cuộc đời này đi. Ngươi quán chiếu đi". Mình tạo đủ mọi cách hết, có người ở trong thất thì tăng tiến, có người thì ở trong chúng thì tăng tiến, có người phải sám hối phát lồ, có người phải thân cận các bậc thiện hữu để chia sẻ, trình bày, đủ thứ mọi cách hết chứ không phải ai cũng giống như ai.
Có người cho vô thất còn tệ hơn ở ngoài nữa rồi đi xuống núi luôn, có một số vị vô thất xong rồi âm thầm xách giỏ đi luôn. Thành ra mình coi mưa bão như vậy là những cái cơ hội quý báo để cho mình tu, để cho mình tưởng nhớ. Ngày hôm qua chúng ta đọc những bài kinh quán vô thường tưởng, quán nguy hại tưởng, quán diệt tận tưởng. Đức Phật của chúng ta rất là tuyệt diệu, cũng cái tưởng đó làm cho mình khổ đau, cái vọng tưởng, cái ảo tưởng, cái mộng tưởng, cái huyễn tưởng, cái hư tưởng, cái điên đảo tưởng mà Đức Phật dùng cái tưởng đó để làm cho mình phá cái vô minh thì lấy tưởng diệt tưởng. Có nhiều người không hiểu nên nói tu là ngồi yên chứ sao tu tưởng này tưởng kia, vậy người ta không có hiểu thì đâu có học cho nó thấu đáo ở trong tạng kinh.
Học được cái đoạn đầu của bài kinh Tứ niệm xứ à, chừa cái đoạn sau trong khi đoạn sau là Đức Phật dạy quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt là dùng tưởng diệt tưởng. Chữ quán đó là quán tưởng, là dùng cái hình ảnh này để diệt cái hình ảnh kia, dùng thọ diệt thọ, dùng hành diệt hành mà hôm trước chúng ta học rồi, dùng cái suy nghĩ này để diệt cái suy nghĩ kia, dùng cái hình bóng này để thay cho hình bóng kia, dùng cái cảm giác này để thanh lọc cái cảm giác nọ, dùng cái hình sắc này để đánh phá cái hình sắc kia.
Chúng ta thấy tuyệt diệu lắm, pháp ở trong lòng bàn tay của mình, nó đâu có rộng, đâu có nhiều, đâu có mênh mông gì đâu, sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhìn như bàn tay Như Lai Phật Tổ. Tôn Ngộ Không bay hoài không ra khỏi bàn tay được vì ngũ uẩn thì làm sao ra khỏi được, chỉ có thánh trí mới đi ra được chứ, pháp ở trong lòng bàn tay của mình thôi. Dùng sắc diệt sắc, dùng thọ diệt thọ, dùng tưởng diệt tưởng, dùng hành diệt hành, dùng thức diệt thức, "bây giờ cái tâm mày ngu, mày mê phải không? Mày mê đẹp, mày mê hấp dẫn, mày mê khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đế dục hấp dẫn, tao cho mày mê nha, tao đưa cái tử thi ra cho mày mê nè". Chúng ta thấy tuyệt vời không?
"Mày tưởng là mày ngon lắm phải không, tao đưa cho mày ra một cái đống tro cho mày nhìn thấy đi", đó là dùng sắc diệt sắc. "Giờ mày mê dầu thơm hả, mày mê nước hoa rồi tao cho mày coi nước miếng nè, nước đái nè, mủ máu nè, mày mê không hả cái tâm ngu?". "Bây giờ mày hất cái mặt mày lên phải không? Mày vênh váo phải không? Tao cho mày nhìn cái nùi giẻ nè, mày làm cái nùi giẻ cho tao, ta cho nhìn cái bộ xương nè còn hất mặt lên nữa không".
"Không bao lâu thân này,
Sẽ nằm dài trên đất,
Bị vất bỏ, vô thức,
Như khúc cây vô dụng"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 41)
Chúng ta thấy thánh trí của Đức Phật tuyệt diệu lắm, nhiều khi con nghe tới cái chỗ thấy vô thượng, nghe vô thượng mà con tiếc, con đi tìm hết cái địa cầu này con gặp bậc đại sư, tôn sư, đạo sư truyền thánh pháp tới chừng con về con truyền thì mấy người học bỏ đi hết trơn. Trời đất ơi! Ngày hôm qua con ngồi con nói với ông Năm "con thương… con thương… con thương" rồi đi ra học tôn giáo học, học tâm lý học, học kim cương thì bỏ đi ra tìm ngói gạch, xà bần vậy đó. Giờ có một hạng người nữa, trong kinh sách sau này ví dụ là người này đi vô rừng vô chặt được mấy đống củi, vác đi đường rất là xa, tới cái chỗ đó người ta có trầm hương, mấy người kia người ta lấy còn anh này nói "tôi không lấy, cái này tôi vác nãy giờ xa dữ lắm, tôi bỏ uổng, tôi phải vác cái này".
Anh này lại đi tới cái chỗ có mỏ vàng, mấy người kia quăng trầm hương xuống lấy vàng còn anh vẫn nói không "tôi không lấy, tôi vác cái này từ nãy giờ xa lắm. Tôi bỏ xuống uổng, tôi phải vác đi về tới nhà". Cái người đó có khôn không ạ? Mình tu học không khéo cũng giống vậy đó "tôi học cái này từ đó giờ, giờ kêu tôi đổi cái này hả?", sao may mắn con cũng hơi ít ít ngu chút con mới dám bỏ cái đống củi đó xuống để lượm kim cương của bậc đạo sư. Mọi người chịu lượm kim cương không? Chứ nói "bây giờ con vác cái này ba chục năm rồi bây giờ kêu con bỏ cái này sao bỏ được?".
Mình nhìn rồi mình thấy quý lắm, nhiều khi quý vị ở đây còn con ở dưới thất rồi con lên con tu với quý vị thấy hạnh phúc lắm, con sung sướng "Trời ơi thỏa mãn rồi, mình thỏa mãn rồi, mình không còn đi tìm bất cứ một cái pháp gì ở trên cuộc đời này nữa, chỉ có hành nỗ lực thực hành thôi". Cái thấy của mình là cái thấy vô thượng, cái nghe tối thượng, học tập tối thượng, không có cái gì cao hơn nữa và tất cả những cái học của thế gian đều là tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Học để tăng thêm cái tham, để thêm cái muốn, học để tăng thêm cái tôi, cái ta, cái ngu si, học để giành giật, để đấu đá, để sâu xé, để mưu mô, để mưu sĩ, càng học giỏi chừng nào, càng hiểu biết nhiều chừng nào thì cái tính mưu mô, mưu sĩ càng sâu, càng thâm độc hơn người bình thường.
Nếu người không biết tu, không có tâm hiền thiện thì càng hiểu biết nhiều chừng nào thì cái ác của nó càng khủng khiếp chừng đó. Cho nên có bài kinh Đức Phật khen ngợi cái ông đó vì ông nói đó dễ thương thay, ngây thơ thay, đơn giản, đơn thuần thay là cái loài vật, con thỏ nó dễ thương, con nai, con hươu, còn thật là phức tạp thay, thật là không thể lường được thay là con người, cái miệng họ nói vậy mà cái tâm họ nghĩ khác.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không quán thấy một bộ loại nào khác lại đa dạng như tâm. Như các hữu tình thuộc loại bàng sanh; các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, do tâm tư duy (mà thành). Do vậy, này các Tỳ-kheo, tâm ấy lại đa dạng hơn các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Mình thấy như con thỏ ăn cà rốt, phải không? Con trâu, con bò ăn cỏ đơn giản nhưng mà con người mình ăn cái gì? Con gì cũng ăn, khủng khiếp vậy đó, nhiều lắm, cho nên mình mới thấy được cái quý báo của việc học của mình, còn nếu mình không thấy được cái giá trị, cái công năng, cái tác dụng, cái lợi ích vĩ đại của chánh pháp là tại vì mình không có niệm pháp thường cho nên bài kinh mà chúng ta đang học quý lắm. Đức Phật dạy Mahanama niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên gọi là lục niệm và mấy ngày hôm nay là chúng ta niệm tăng đó, niệm bạn lành đó.
Mình thấy ấm áp, ngọt ngào không? Bây giờ hiểu được hai chữ ngọt ngào chưa? Thấm được không? Thưởng thức được hai chữ ngọt ngào chưa? Ngọt ngào là vậy đó cho nên hồi đó bậc đạo sư dạy con mới đầu ngài vô nói ngọt ngào thì con thấy "trời ngọt gì đâu ngọt". Bây giờ mình tu mình mới thấy thật là ngọt, hai cái chữ ngọt ngào đó vi diệu lắm, ngọt mà cái mật ong và tất cả cái loại mật ở trên thế gian này không có so sánh được. ở thấy đọc mình thương mà mình mến
"Ở đây, này Mahànàma, Ông hãy tùy niệm Như Lai: 'Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'. Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai, trong khi ấy, tâm không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh, tâm không bị si ám ảnh, trong khi ấy, tâm được chánh trực nhờ duyên Như Lai." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Bây giờ con đọc cái câu này giống như nó thấm vô tim vậy đó, đọc những cái chữ này thôi mà ấm lòng, nó thấm đẫm vô cái trái tim của mình. Ông đừng có đi nhớ nghĩ những cái chuyện tào lao, đừng có nhớ nghĩ người này, người nọ, người kia để sân si, hơn thua, đúng sai. Ông bỏ cái đó, ông hãy nhớ nghĩ về Đức Như Lai, nhớ nghĩ về bậc Thiên Nhân Sư, bậc tối thượng, tối tôn, tối thắng, tối cao. Ông hãy nhớ đi, ông nhớ như vậy đó ông không có bị thêm sân si, tâm ông sẽ được chánh trực.
Chúng ta thấy cái niệm Phật trong Nikāya con đã chia sẻ không biết bao nhiêu lần rồi, chúng ta về nghe kỹ lại những cái bài đó. Con nói giờ đơn giản thôi, cái bài kinh này đã học rồi nhưng bây giờ học ngàn lần cũng phải học vì đây là pháp hành cho đến khi mình chứng đắc mà.
"Vị Thánh đệ tử, này Mahànàma, với tâm chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Mình hiểu được cái ý nghĩa của Đức Như Lai là thập hiệu, mười trí đức và mình tin nhận được cái pháp ở trong đó thì tâm mình sẽ hân hoan liên hệ đến pháp, vui lắm, mình nhớ về Đức Phật mình hân hoan, mình rất là tự hào, rất là hãnh diện vì mình là đệ tử của bậc tối tôn, tối thượng giữa mười ngàn thế giới. Mình có một cái vị thầy là tối cao hết trong tất cả các vị thầy mà mình nhớ là mình hân hoan, mình vui.
"Khi có hân hoan, hỷ sanh; khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định tĩnh." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Trên đây là cái tiến trình vận hành của tâm khi mình niệm Phật. Khi mình niệm pháp, niệm tăng mà hân hoan lên rồi, nó vui thì lúc đó thân tâm nhẹ nhàng cho nên có những vị trình pháp là ngồi thiền hay là nghe pháp mà có khi ra vườn trúc, cây giác ngộ, có những lúc đi giống như không có thân, giống như bước ở trên cái đám mây nó nhẹ, đó là cái trạng thái khinh an ở trong thất giác chí mà cũng là trạng thái khinh an ở trong niệm Phật đây.
Khinh an là nhẹ nhàng, thân tâm nó nhẹ như bông gòn, nó nhẹ như đám mây, có khi nó giống như không có thân vậy đó, phơi phới cho nên có cái bài con nói là "ngồi thiền dưới đất tợ mây bay". Bài con nói đó là cái trạng thái khinh an, "về núi yên tu đẹp tuyệt trần, ngồi thiền dưới đất tợ mây bay" như mình cưỡi mây vậy đó. Cái trạng thái cái tâm hiền thiện, cái tâm hướng thượng, cái tâm cung kính, cái tâm dạt dào trong cái sự biết ơn, cái tâm nó ngọt ngào ở trong cái tình thương của từ, của bi, của hỷ, của xả thì cái lúc đó nó vui rồi nó nhẹ, cho nên nó cảm giác được lạc thọ. Nó có một cái niềm vui nhè nhẹ ở trong cái cảm thọ của mình và tâm lúc đó định tĩnh, yên lặng, nó an tịnh, chúng ta tu thì chúng ta sẽ nếm trải hết những cái cung bậc, những cái tiến trình vận hành của tâm khi thực hành pháp.
Mình không có tu nên học xong mình hỏi hoài à. Mình không có học thì tới cái lúc nó xuất hiện mình không có biết, mình vô minh mà mình có học mà không chịu thực hành thì mình cũng không nếp được cái hương vị của nó.
"Này Mahànàma, như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống đạt được vô sân với chúng sanh có sân, nhập được pháp lưu, tu tập Phật tùy niệm." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Mấy cái lạc thú của cái ăn ngon, cái lạc thú của cái đi chơi, cái lạc thú của những chất gây nghiện, rượu chè, bài bạc, xì ke, ma túy, những cái lạc thú đó là nó thấp kém, thấp hèn, phàm phu, hạ liệt, đau khổ, vui ít khổ nhiều, ưu não trong đó càng nhiều hơn. Còn những cái lạc này siêu thế lạc, thưởng thức được cái lạc này là chánh giác lạc, là Niết-bàn lạc, là cái lạc của thượng nhân pháp và cái người thưởng thức được cái hương vị này rồi từ từ người ta sẽ có công năng bỏ những cái dục lạc của thế gian, tự động nó có. Giống như cái người đốn củi hồi nãy họ thích thú, họ vui ở trong cái đống củi nhưng tới khi họ gặp được cái đống vàng, đống kim cương thì họ có niềm vui khác, họ bỏ cái niềm vui nhỏ đạt được cái niềm vui to lớn gấp trăm ngàn lần.
Cũng vậy niềm vui của thế gian, của dục lạc là niềm vui thấp hèn, hạ liệt, phàm phu, bẩn thỉu, thấp kém mà cái niềm vui của thượng nhân pháp là cái niềm vui từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, những thánh pháp này trong ba mươi bảy chánh giác phần. Khi mình thực tập bất cứ một phần nào mình đều có sự hỷ lạc trong đó, đều có cái trạng thái như vậy, tiến trình vận hành vậy hết, tâm mình hân hoan rồi hỷ lạc, khinh an, định tĩnh, những cái này mình có trải qua không ạ? Có nếm không? Có thưởng thức chưa? Khi mình có nhận diện ngũ uẩn, có quán tâm trên tâm, quán thọ trên thọ, quán pháp trên pháp thì những cái này nó sanh khởi là mình biết, nếu mình không có sự thiện xảo khéo léo quán chiếu tâm mình thì nó khởi lên mình không biết.
Thành ra nhiều khi có những cái hỷ lạc rất là tuyệt vời nhưng mà mình bỏ qua, hoặc là có thì mình cũng biết sơ sơ, mình không an trú vào nó, không làm cho nó lớn mạnh, tăng trưởng cho nên sự tu học của mình cứ lê thê lết thết, nó cứ rề rề. Tại vì cứ nhìn người này, người nọ kia đúng sai, hay dở thì đâu có nhìn cái tâm nó được, trong khi có những cái thiện pháp sanh khởi mà không nhận diện được, không có hộ trì trong tứ chánh cần, cái cuối cùng là giữ gìn các thiện pháp cho nên lên trình pháp toàn là trình con này, con nọ, con kia, trình chán chê, ê chề thôi đánh chuông cái boong cho khỏi nói.
Mình phải trình thấy những cái xấu, cái dở, cái hư của mình đồng thời mình thấy được những cái hay, cái tốt, cái tiến bộ của mình. Đằng này mình nhìn có một chiều, mình nhìn có một hướng riết rồi mình hết tu luôn à. cái gì nhìn được mấy cái tâm đó, cái gì thấy được cái tâm đó, thành ra cái nhìn của mình phải đồng đều, đầy đủ nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ rồi thành ra thật sự phải khéo lắm. Kỹ sư tâm hồn phải khéo lắm, chứ còn nếu không là mình chỉ có cái tâm mình thôi vì mình nhìn không ra, cái vô minh nó che, cái bản ngã nó che, cái dục ái nó che rồi nó cứ nhìn cái xấu, cái dở, cái tiêu cực không mà cái tích cực không thấy.
Thí dụ như bảy mươi người hiền lành, dễ thương, chăm sóc, quan tâm mình, có một người nào đó lỡ nói cái câu gì đó là mình ghim "tôi đi xuống núi tôi không tu nữa". Khôn quá ha, có thấy ngu không? Bị cái vô mình nó che, cái sân nó che, cái bản ngã nó che là lúc đó nó mù, không thấy gì hết, chỉ có thấy cái người đó sân không à, nó không thấy ai nữa hết. Sáu mươi chín người kia ở đâu? Cái tâm nó không thoát ra, nó bị phong tỏa, nó bị ám ảnh chính như vậy mà con hay nhắc ngẩng mặt lên nhìn bầu trời, nhìn mây bay, thoát ra khỏi cái tâm chấp nhặt đó. Cái này hay lắm, thích thú, mình vui sướng, mình hạnh phúc, còn hơn tìm được kho báo nữa cho nên bậc thánh đệ tử là sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng.
Cái câu "sống đạt được vô sân đối với chúng sanh có sân hận, nhập được pháp lưu, tu tập Phật tùy niệm", chỉ riêng cái niệm Phật này thôi là chứng thánh quả A-la-hán luôn đó, đặc biệt giáo pháp của Đức Phật là vậy. Cái người tu chánh kiến thì tu cái pháp nào cũng tới chí cực hết, thành ra mỗi một cái gì mà Đức Thế Tôn bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trình bày là trình bày đến tột cùng, viên mãn hết cho nên mình nhớ ở trong bài kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm có nói trong chúng Tỳ-kheo này có những vị Tỳ-kheo chuyên tu hơi thở vô hơi thở ra, có những vị chuyên tu tâm từ, có những vị chuyên tập trung tâm tu tập quán bất tịnh, có vị tu tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn ngũ lực, thức bồ đề phần, bát chánh đạo phần mà tức cả các vị đó là từ hướng dự lưu, từ nhập lưu cho đến thánh quả A-la-hán. Mới tu một pháp đó, tập trung tâm ý thì một pháp đó đưa đến đoạn tận năm hạ phần kiết sử, năm thượng phần kiết sử.
"Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn niệm xứ. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn chánh cần. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong hội chúng này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bốn như ý túc. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm căn. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm lực. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bảy giác chi. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này có những Tỳ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập Thánh đạo tám ngành. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập từ tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bi tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập hỷ tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập xả tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bất tịnh. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này có những Tỳ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập vô thường tưởng. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập nhập tức xuất tức niệm." (Trung Bộ Kinh, 118. Kinh Nhập tức, Xuất tức niệm (Kinh Quán niệm hơi thở))
Thành ra bây giờ nhiều khi mình học hơi thở là "Tôi học hơi thở vô thở ra thôi" là cứ ngồi thở vô ra, đi đâu cũng thở vô thở ra thì chết. Học như vậy là chết, Đức Phật không có dạy vậy, chúng ta đã học mười sáu hơi thở rất là nhiều cái bài. Chúng ta thấy Đức Phật dạy mười sáu hơi thở trong đó có tứ niệm xứ không? Có thánh trí ngũ uẩn không? Có bát chánh đạo trong đó không? Có ngũ căn ngũ lực trong đó không? Có đủ hết, trong một cái hơi thở nhưng mà vận dụng ba mươi bảy chánh giác phần chứ không phải là bình thường đâu, trong đây cũng vậy một cái niệm Phật nhưng mà đủ pháp ở trong đó hết.
"Vị thánh đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng", câu này không phải dễ hiểu à. Thí dụ ở trong chúng có hai dạng người, một dạng người thương mình và người ghét mình, mình có đạt được bình đẳng giữ không bình đẳng không? Cái người thấy pháp là sẽ khác, người thấy pháp thương thì mình sẽ không luyến ái, ghét thì mình sẽ không sân hận vì cái này cũng là nghiệp quả với nhau, chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả, là nhân quả với nhau thôi. Trong Tương Ưng Vô Thỉ Đức Phật nói các ông bị tai nạn, hoạn nạn đủ thứ hết, cho các ông phải nhớ rằng cái này chúng ta đã chịu bao nhiêu ngàn vạn lần không phải mới đây. Khi các ông được khen thưởng, các ông được lợi đắc, được này nọ kia các ông phải nhớ rằng cái này cũng phải bao nhiêu lần, không phải tự nhiên, cái này là những cái kết quả của quá khứ, tâm mình bình đẳng giữa cái chỗ bất bình đẳng.
"Cái này là nhiều hơn, này các Tỳ-kheo, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.
... các Ông chịu đựng con chết…
... các Ông chịu đựng con gái chết...
... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...
... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.
Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo... bị tham ái trói buộc.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Cho nên khi mình có niệm Phật, có niệm pháp, có an trú vào trong pháp thì giữa cái người đưa lên và cái người hạ bệ mình xuống tâm mình vẫn trú được ở trong pháp, nhập được pháp lưu, tu tập pháp tùy niệm. Ai đây mà thương? Ai ở đây mà ghét? Ai ở đây? Thành ra trú được như vậy là chúng ta thấy cả một cái sự thiện xảo và công phu thâm hậu để hành trì, không phải là đơn giản. Chính như vậy tại sao nhiều khi quý vị những cái nhỏ nhỏ con bắt là vậy đó, vì lâu lâu mới có được cái cơ hội chỉ cho chúng ta, nếu mà chúng ta không trú trong pháp thì mình ra cái phi pháp mình không biết, mà cái tâm vô minh này nó khủng khiếp, nó phong tỏa hết trơn, không biết gì biết. Cái bản ngã nó che là không biết, nói chung năm triền cái nó sanh khởi lên là còn một kiết sử nào nó cũng che hết, sanh khởi bán ngã lên là nó không thấy sự thật rồi, thấy trật rồi, sanh khởi tham dục lên là thấy sai sự thật rồi, sân lên là thấy trật lất rồi, trạo hối tâm dao động giống như nước cứ gợn sống thì sao nhìn thấy mặt hồn phản chiếu được, cái nghi ngờ là xong.
Năm triền cái che đậy tâm, tác thành mù lòa, tác thành không mắt, yếu ớt trí tuệ cho nên hàng ngày mình phải gia công dụng hạnh để mình nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận năm triền cái.
"-- Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Thế nào là năm? Dục tham triền cái, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Sân triền cái... Hôn trầm thụy miên triền cái... Trạo hối triền cái... Nghi hoặc triền cái, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), IV. Phẩm Triền Cái, X. Triền Cái)
Thành ra cái này mà mình học ba tháng cũng chưa hết cái bài kinh này nữa nếu học mỗi ngày, không phải nói đơn giản đọc kinh mà hiểu đâu, không có đơn giản. Bây giờ đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, giữa một người xấu người đẹp, giữa người giàu người nghèo, giữa người cao và người thấp hèn ở dưới sao tâm mình đạt được bình đẳng?
"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Đang thấy Ta, là thấy Pháp." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Bây giờ mấy vị mà con mắt không thấy đường lúc đó có đọc được không? Có thấy pháp không? Không thấy đường là con mắt n nói cái pháp vô thường, pháp suy lão, sanh, già, bệnh, chết, pháp vô thường, pháp biến hoại là không đọc được cái chữ đó mà vẫn đọc được pháp, chứ không phải mắt nhìn không thấy rồi là không đọc được pháp. Đọc pháp ở ngay con mắt không thấy đó, như vậy gọi là không thấy mà thấy, còn có người mở mắt nhìn thấy mà đọc cái miệng không à, không chịu quán chiếu theo thì thấy mà không thấy. Chỗ này sâu sắc, lúc đầu pháp là cuốn kinh, là bài tụng nhưng lần lần mình tu pháp chính là ở bên trong con người của mình, vận dụng cái pháp ra để thấy, để nghe, để ngửi, để nếm, để xúc, để biết, để cảm thọ, để tưởng, để suy nghĩ, để nhận thức.
Pháp an trú trong con người của mình thì như vậy mình nghĩ rằng mình nhìn đọc cái chữ đó, đọc cái câu đó, mấy người con mắt sáng đọc được còn mình con mắt mình già nên mờ rồi, con thấy có mấy người nheo neo con mắt là không thấy. Mình nghĩ mình nheo nheo như vậy là mình không đọc được nhưng không phải, mình đọc cái pháp sống dầu cho cái miệng mình không đọc nhưng mà mình tác ý "con mắt này là khổ nè, con mắt này là vô thường, con mắt này là biến hoại, con mắt này giờ không thấy đường nữa, cận thị, loạn thị, viễn thị, khiếm thị".
Nếu ngay lúc đó mình tác ý như vậy thì có phải mình đang thấy pháp không? Mà đang thấy pháp là có phải thấy Phật không? Đang thấy Phật như vậy mình có niệm Phật không? Đó gọi là đệ tử của Đức Phật, bậc thánh đệ tử tùy niệm Phật, nhập được pháp lưu, con đi cái đường vô thất tả tơi hết trơn, lá tre rồi cây rớt trên đầu, chậu rớt bể nè, phải nhập được pháp lưu, phải niệm vô thường, niệm biến hoại, niệm huỷ hoại, niệm hoại diệt chứ không phải thấy "bữa nay bão nên dơ tùm lum, một hồi đi quét". Cái đó là đương nhiên rồi nhưng mà cái để nhập được pháp lưu đó quan trọng như vậy gọi là niệm pháp mà niệm pháp là niệm Phật đó.
Phật chính là pháp, pháp chính là Phật mà niệm pháp với Phật nhập một thì gọi là pháp thân của Phật. Hồi xưa con học ở trường mấy chục năm mà con không biết pháp thân là cái gì, cứ ngồi tưởng tượng là hư không, bây giờ pháp thân rất là rõ. Hôm nay là pháp thân đó, pháp thân ấm không? Pháp thân lớn không? Pháp thân rộng không? Pháp thân ngọt không? Pháp thân có thương không? Pháp thân có độ lượng không? Có từ bi không? Có tha thứ không? Có bao dung, có hỷ xả không? Đó là đức của pháp thân và khi tất cả những người trong tăng đoàn đều thực hành pháp, sống trong pháp, nhìn với nhau bằng pháp, suy nghĩ bằng pháp, cảm thọ bằng pháp, nhận thức bằng pháp thì pháp thân hòa nhập với tăng thân làm một. Đó là đồng thể tam bảo, vi diệu không? Đâu có riêng đâu.
Nếu mình tách riêng ra thì Phật thân riêng, pháp thân riêng, tăng thân riêng. Nếu mình thể nhập cái pháp thì ba cái này nhập thành một nhất thể, đồng thể tam bảo, cho nên ai thấy ta người đó thấy pháp mà đang thấy pháp tức là đang thấy ta, đang thấy ta là đang thấy pháp. Như vậy Phật với pháp là một thôi, chẳng qua khi Đức Thế Tôn còn thì nhìn cái nhục thân mình nói là Đức Phật nhưng mà đâu phải, cái đó là sanh tử pháp cho nên vị Tỳ-kheo nói con trông, con nhớ, con đợi, con chờ, con hy vọng, con khát khao để nhìn thấy Thế Tôn thì Thế Tôn nói thôi vừa rồi, cái thây thúi này, nhơ nhớp, bẩn thỉu có đáng gì đâu để mà nhìn.
"-- Này Vakkali, nếu Ông không có gì tự trách mình về giới luật, vậy Ông có gì phân vân, có gì hối hận?
-- Ðã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được thấy Thế Tôn. Nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn.
-- Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Khi Đức Thế Tôn còn tại thế ngài đã phủ nhận cái thân ba mươi hai tướng hảo này, ngài đã nêu cao cái chánh lý, cái chánh trí, cái chánh pháp và cái pháp. Thôi ông nhìn thấy là nhìn thấy tứ thánh đế, ông nhìn thấy là nhìn thấy khổ thánh trí, ông nhìn thấy là nhìn thấy ngũ uẩn thì lúc đó ông thấy ta, còn nếu ông thấy cái thân này là thân ta thì thôi vừa rồi, cái thân hôi thối này. Vi diệu lắm, lúc nào muốn thấy Phật là thấy được liền, lúc nào muốn thấy pháp là thấy được liền.
Bây giờ xào xạc mưa gió, cây rơi lá đổ thì có thấy pháp không? Vô nhà bếp lửa đốt lên có thấy pháp không? Đó là thấy lửa sân, phải thấy pháp, nhập được pháp lưu, tu tập pháp tùy niệm. Cho nên con chỉ quý vị cách niệm Phật nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, nhiều góc độ tác ý lắm, không phải niệm Phật là như mình hiểu đơn giản đâu. Có ai còn nhớ đọc cho con ý nghĩa câu "Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác" ra tiếng Việt không?
Thầy Thiện Huệ:
Con chân thành đảnh lễ
Bậc tôn kính nhất đời
Tâm hoàn toàn thanh tịnh
Diệt tận tham, sân, si
Bậc thấu suốt tột cùng
Thân tâm và thế giới
Đấng giác ngộ hoàn toàn
Phật Thích-ca Mâu-ni
Sư Phụ: Đó là con dịch ra tiếng Việt cái câu "Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác". Khi mình niệm, mình nhớ Đức Phật là mình soi lại mình, thí dụ như mình nhớ chữ "bậc tôn kính nhất đời" là hai chữ Thế Tôn, Thế Tôn là được cả thế gian tôn kính, cả thế giới tôn thờ, cả lịch sử tôn trọng. Bây giờ mình coi cái đời sống của mình như vậy có nhục không? Tại sao mình hơn thua với huynh đệ cùng tu với mình? Mình có đáng tôn kính không hay là mình đáng nhục? Tại sao mình còn tham dục nhiều như vậy? Mình có xấu hổ không? Đó là mình niệm Thế Tôn rồi mình xoay lại mình. Tại sao mình còn bản ngã như vậy? Thế Tôn diệt tận bản ngã thành tựu thánh trí vô ngã, thể nhập pháp thân Niết-bàn bất động, tại sao là mình còn yêu, còn thích, còn khoái, còn nắm, còn giữ cái bản ngã nhục nhã này?
Đó là mình đang niệm Phật, mình niệm Phật rồi mình đối chiếu lại mình, rồi mình ngưỡng vọng lên, mình hướng thượng lên, mình mới thấy mình còn thấp hèn thì từ chỗ đó cái tâm mình mới hướng tới, mới có thể bỏ được những cái đáng bỏ và những cái không có ra gì hết, cái thứ rác rưởi, cặn bã, vô ích, vô nghĩa trong cuộc đời này. Thế Tôn là thân tâm hoàn toàn thanh tịnh là ý nghĩa của chữ A-la- hán đó. Tại sao thân tâm của mình cấu nhiễm như vậy? Chuyện có chút xíu là mình bỏ không được, đi vô lạy Phật đi, đi vô quỳ trước tượng Phật sám hối đi. Tức là nó khởi trong tâm của mình thôi chưa nói ra ngoài là mình thấy xấu hổ, mình đi ra quỳ, mình ra niệm Phật
Chữ Như Lai là làm sao nói vậy, nói sao làm vậy mà giờ mình nói dóc, mình nói dối với người ta, mình có xứng đáng làm con Đức Như Lai chưa? Như vậy đó là mình đang niệm đó, mình niệm Phật để mình hướng thượng chứ không phải niệm Phật là chỉ niệm Đức phật không thôi, phải quay trở lại soi chiếu với mình từ đó mình có công năng, tác dụng đưa mình lên, như vậy là pháp có khả năng hướng thượng. Đức Phật là bậc xứng đáng cúng dường giờ mình bưng bát cơm này mình ngồi mình ăn hỷ hả như vậy, thích thú, đam mê, khoan khoái như vậy, ở trong cái lạc thú của miệng lưỡi như vậy mình có xứng đáng cúng dường không? Đam mê trong cái ăn uống, mình bỏ giờ tu học chạy theo những cái lạc thú của cái môi, cái lưỡi, cái miệng này mình có xứng đáng được cúng dường không? Mình sân si ở trong những cái này mình có xứng đáng với bậc Ứng Cúng không?
Đó là mình niệm Phật đó và có khả năng hướng thượng, có gì ăn nấy, ai cho gì dùng nấy, mình không có đòi hỏi, mình không có bày ra. Có khi mình làm mất thời giờ của đại chúng, mất thời giờ của người khác, khi mình bày ra cái này thì mấy người phải phụ mình rồi người ta bỏ giờ tu, giờ học của người ta. Có khi nó trá hình nữa, rồi tôi cúng cái này, tôi cúng cái kia rồi đem ra bày làm tùm lum hết trơn, bắt người khác phải đi làm theo ý của mình mà mình tưởng đâu đó là tốt nhưng cái đó là bất thiện. Thành ra mới nhận diện nó sâu sắc lắm không phải là đơn giản, những cái món ăn phụ, ăn chơi, một tuần lễ mới làm một lần, không phải thích là xuống làm, nói "con cúng con xuống con làm", bắt người ta phải đi làm theo bỏ giờ tu học với mình, không phải vậy.
Thành ra phải rất sức vi tế, sát sao, mình niệm Ứng Cúng, mình niệm Minh Hạnh Túc là như thế nào? Là đức hạnh, là tam minh, những đức hạnh, những giới đức của Đức Phật. Bây giờ mình vậy thì mình thấy xấu hổ, thấp kém, mình thấy mình buồn tủi, mình vô mình quỳ hướng lên Đức Phật, mình xúc động ở trước Phật, thậm chí mình khóc với Phật rồi mình lạy Phật. "Lạy Đức Thế Tôn con không muốn xấu hổ như vậy, con không muốn thấp hèn như vậy, con muốn cao thượng lên, con muốn đi theo bước chân của ngài", đó là mình niệm Phật đó, mình niệm cái đức Chánh Biến Tri là cái biết thấu đáo, phổ quát cùng khắp hết chứ không phải mình biết chút là mình hài lòng, mình hiểu chút là mình thỏa mãn.
Mình phải học thêm, mình phải hiểu thêm, mình phải quán thêm, mình phải tư duy thêm, mình phải nghiền ngẫm thêm, mình phải thể nhập được những cái trí tuệ thượng nhân này, những cái trí tuệ thù thắng để cho đến ngày cuối cùng cuộc đời các bậc đồng phạm hạnh hỏi mình "hiền giả có đạt được tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh không?". Ngày cuối cùng của cuộc đời mình sẽ không có hối hận cho nên mình tăng thượng, hướng thượng về cái tuệ, về thánh trí và trong khi niệm Chánh Biến Tri mình có vượt qua được cái bốn dòng thác lũ này chưa, dục – hữu – kiến – vô minh mình có vượt qua được chưa, mình niệm bậc Thiện Thệ đó.
Mình niệm mỗi một cái đức của Phật là mình phải soi lại mình, mình coi mình đã làm được cái gì ở trong những cái đức hạnh của Thế Tôn, đó là niệm Phật. Có khi mình niệm rồi mình sẽ buồn mình, trầm tư, mình hối hận, mình đau khổ, mình ray rứt, mình buồn tủi là cái đó cũng tốt, đó là thiện pháp nhưng có khi mình niệm rồi mình sẽ hân hoan, mình vui sướng, mình hạnh phúc. Cái đó cũng tốt cho nên cái buồn hay cái vui không quan trọng mà cái đó thiện hay là bất thiện mới quan trọng. Nó đi sâu vào bên trong kiểm tra, kiểm soát lại mình, chứ không phải cái niệm ở trên môi, trên miệng, đọc đi qua trong bụng có gì hết.
Niệm là nó phải sâu sắc, phải thấm thía, phải nội soi vào bên trong rọi lại hết. Mình đem cái đức của Phật, cái hạnh của Phật, cái trí của Phật để mình soi chiếu lại thân tâm của mình đó là mình niệm Phật, niệm Phật cũng là niệm mình, cái cách mình niệm dục – hữu – kiến – vô minh thì mình có vượt qua bốn vòng thác lũ này không. Dòng thác lũ của dục, vòng thác lũ của hữu ái, dòng thác lũ của thân kiến và dòng thác lũ của vô minh mình vược qua được bao nhiêu. Khi mình đọc lên là bậc Thiện Thệ là bậc khéo vượt qua bốn dòng thác lũ mà mình còn ở trong này đắm chìm, ở trong này trôi dạt, phiêu bạt ở trong này.
Mình niệm Thế Gian Giải mình niệm thông giải hết tất cả cái ngũ uẩn thế gian này, thế giới này, có cái gì đâu thế giới này, có cái giống gì đâu, có những thứ vô thường, biến hoại, tan nát, huỷ hoại, hoại diệt thôi. Sáng nay con mới nói với chú Nam chuẩn bị đổ mấy xe đá vô bao để đưa lên nóc nhà, vài bữa nó thổi bay hết trơn. Cái đợt mấy năm trước tụi con ngồi đang học pháp ở đây mà gió thổi nửa cái nóc nhà ni xá bay lên như mà vẫn ngồi đây học, vẫn ngồi đây học pháp, có số người nhìn con nói không sao hết, cứ ngồi học pháp, nhà nó bay mà pháp không bay, thân nó có chết nhưng mà pháp bất tử.
Quý vị tưởng tượng mấy năm trước, con không nhớ chính xác hai ba năm gì đó, đang nghe pháp mà gió thổi nửa cái nóc nhà bay lên như lá chuối. Con nói mọi người an trú vô pháp, sập cái nhà này xuống ngay cái nhà này cũng phải an trú vô pháp, đừng có để tâm giao động ra khỏi pháp. Đó là nhập pháp lưu, tùy niệm pháp, ngoài pháp ra tất cả đều vô nghĩa, ngoài pháp ra tất cả đều vô thường, ngoài pháp ra tất cả đều vô giá trị, ngoài pháp ra tất cả đều là vô tích sự, ngoài pháp ra là tất cả là vô phận sự, không có phận sự gì ngoài pháp hết. Làm bất cứ cái gì mà không an trú pháp thì coi như vô tích sự, không làm được trò trống gì hết, cả một cuộc đời con là một chữ pháp thôi mà cả một cuộc đời chúng ta cũng là một chữ pháp mà cả cuộc đời thánh đệ tử là một chữ pháp thôi.
Pháp là mẹ sanh ra Chư Phật, từ pháp mà Đức Phật chứng ngộ thành Phật, sau nó ngài truyền lại chánh pháp thì mới có cái dòng thánh tạng này, mới có đạo Phật trên cuộc đời này. Như vậy mình làm cái gì mà không có pháp ở trong đó thì đừng có làm, bỏ làm đi tu đi, nếu mình làm có pháp thì cho làm, được không? Phải nhập cho được pháp lưu, ở trên núi này là phải nhập cho được pháp lưu thành ra chữ Phật là thấy và thoát cấu uế. Tuyệt vời lắm, trong mỗi cái suy nghĩ của mình, mỗi cái hình bóng, mỗi cái nhận thức, mỗi cái cảm xúc, cảm thọ phải đem pháp ra, áp đặt pháp vô, khi nó chống cự lại cũng bắt phải áp đặt vô pháp "không cho mày nghĩ ra ngoài pháp, tao xử lý mày, mày dám đi ra ngoài pháp tao xử mày". Đó là người chiến đấu, là người dũng sĩ, là người chiến sĩ, là người đi theo gót chân của bậc Vô Thượng Sĩ, chịu không?
Đi tu rồi cứ nghĩ cái đời, nghĩ cái chuyện thường tình thế gian, cứ nghĩ ông thầy la mình, ông khó, cứ nghĩ mấy vị lớn sao rầy mình. Mình ở đâu? Vừa nghĩ cái đó là không có pháp rồi, mù rồi, phải nghĩ mình học được cái gì trong lời dạy đó, mình sửa đổi được cái gì trong cái sự giáo huấn đó, mình hướng thượng được cái gì trong cái pháp hành cao đẹp này, gạt bỏ cái tôi, cái ta qua một bên thì mới học được cái pháp không có tôi, có tôi hoài thì sao mà học. Nhiều khi không có chuyện gì cũng phiền não nữa, tâm này là đại ảo thuật gia, nó vẽ vời ra đủ thứ kiểu hết trơn, vẽ để đi xuống núi, vẽ để đi vô trong nhà lửa, nó vẽ để đi lang thang, sống vất vơ vất vưởng vậy đó, nó dắt đi, nó dẫn đi, nó kéo đi, nó lôi đi. Cho nên thương sao là thương mà ấm sao là ấm, ngọt sao là ngọt.
"- 'Hãy nhập cuộc, này Mahànàma với lòng tin, không phải với không lòng tin. Hãy nhập cuộc với tinh cần tinh tấn, không với biếng nhác. Hãy nhập cuộc với trú niệm, không với thất niệm. Hãy nhập cuộc với định, không với không định. Hãy nhập cuộc với trí tuệ, không với liệt tuệ'." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Phải nhớ nha con, con nhớ nha con, không nhớ là con khổ lắm nha, con đừng có quên con cái đống cát bụi này, con đừng có quên cái đống đất này, con đừng có quên cái làn gió này, con đừng có quên cái đốm lửa nhỏ của sinh mạng này. Con đừng có quên nha, con quên là con khổ lắm, con sẽ chết dài dài, chết hoài hoài, chết mãi mãi, chết vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp, con chết tức tưởi, chết bờ chết bụi, chết nhục chết nhã, chết cay chết đắng, chết oan chết ức, chết thối, chết bẩn, chết thỉu, con chết dài dài, con chết hoài hoài, con chết mãi mãi, con chết trong khốn nạn, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, hiểm nạn, nguy nan, con phải nhớ, con đừng có quên.
Thế Tôn thương mình sao là thương, mình nói mình thương giống như ngài đang ở kế bên mình, đang ngồi ở trên đầu mình, "Này tụi con, ta đã nói hết lời với tụi con, sao con không nghe?". Thế Tôn kêu niệm Phật có nghe không? Đức Phật kêu mình niệm Phật mình có nghe không?
"Ở đây, này Mahànàma, Ông hãy tùy niệm Như Lai: 'Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Hãy nhớ về Như Lai, đây là Thế Tôn là bậc thế gian tôn kính, tâm hoàn toàn thanh tịnh, bậc thấu suốt tận cùng thân tâm và thế giới, bậc đầy đủ những đức hạnh, những trí tuệ tam minh, bậc khéo vượt qua bốn dòng thác lũ, bậc thông hiểu hết tất cả thế gian, thế giới này, bậc vô thượng, bậc điều phục và chế ngự những người có trí, bậc thầy trời người, bậc đại giác ngộ.
"Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai, trong khi ấy, tâm không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh, tâm không bị si ám ảnh, trong khi ấy, tâm được chánh trực nhờ duyên Như Lai. Vị Thánh đệ tử, này Mahànàma, với tâm chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có hân hoan, hỷ sanh; khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định tĩnh." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Tin nhận được cái nghĩa lý, tinh nhận được thánh pháp, tâm sẽ được hân hoan liên hệ đến pháp, tâm được phấn khởi, được phơi phới, được sung sướng. Khi có hân hoan hỷ sanh, tâm được phấn khởi, tâm được phơi phới, tâm được sung sướng thì lúc này cảm thọ vui. Khi có cảm thọ vui rồi thân sẽ được nhẹ nhàng, cảm giác sẽ được dễ chịu và bấy giờ tâm định tĩnh. Tâm định tĩnh dầu cho mái nhà có tóc mái vẫn ngồi an trú vào pháp, đó là tâm định tĩnh, dầu có tai nạn xảy ra đối với thân này vẫn không quên vô thường, khổ, vô ngã, biến hoại và chứng kiến, chứng nhập, chứng ngộ sự thật về khổ ngay khi cái thân xác này tan hoại, rã nát.
Tâm được định tĩnh giữa thiên hạ đại loạn, tâm này được bình tĩnh giữa giông tố, bão bùng, thân này được ngồi yên giữa những người sân hận hơn thua, tâm này cúi đầu vô tranh đối với thế gian, giữa sóng cả của dục vọng trên cuộc đời này tâm này mát lạnh, nguội lạnh. Tâm này ngao ngán, nhàm chán, yểm ly, chán lì, tâm này bình an, tâm này rời xa, tâm này thoát ra, tâm này phát giác, phát hiện ra một cái cao thượng hơn, cao cấp hơn, cao quý hơn, cao đẹp hơn những thứ thấp hèn, tồi bại của thế gian này.
"Này Mahànàma, như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống đạt được vô sân với chúng sanh có sân, nhập được pháp lưu, tu tập Phật tùy niệm" (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Bậc thánh đệ tử sống với tâm hiền, tâm từ, tâm ngọt ngào tràn đầy tình thương giữa những người hung hăng, hung tợn, hung bạo, hung tàn, hung dữ. Tâm bậc thánh đệ tử hiền lành, dễ thương, ngọt ngào. Ôi đẹp biết bao nhiêu là tâm của thánh đệ tử, đáng kính biết bao, đáng ngưỡng mộ biết bao, đáng lễ lạy, đáng chấp tay, đáng cúng dường, đáng tôn trọng. Hãy hướng về tâm này, hãy nghiêng về tâm này, hãy nhập vào tâm này, hãy hòa cùng một thể với tâm này, nhập được pháp lưu, tu tập Phật tùy niệm, pháp tùy niệm, tăng tùy niệm. Hạnh phúc quá đi, hân hoan quá đi thôi, hỉ lạc quá đi thôi.
Khi thánh đệ tử nhớ Như Lai, nghĩ về Như Lai, niệm Đức Như Lai trong khi ấy tâm không bị tham ám ảnh, không bị sân ám ảnh, không bị si ám ảnh che đậy, trong khi ấy tâm được chánh trực nhờ nhớ nghĩ về Như Lai tâm được thể nhập vào dòng pháp. Chúng ta đang tắm mình trong hồ sen trong xanh, sạch thơm, mát và đẹp, rộng lớn, thấy cả thiền đường này là đại liên trì thanh lương, trong sạch, mát mẻ, ngọt ngào và tươi đẹp. Mỗi người cầm trên tay mình một đóa sen, mỗi người trong tim mình một liên hoa, mỗi người toàn thân này là trổ hoa, nở hoa từ đảnh tóc cho tới gót chân, từng lỗ chân lông là một đóa sen nở ra, tỏa ra tròn đầy viên mãn, tươi đẹp, thơm ngát, có sắc và có hương.
Những đóa sen này bay về Linh Thứu và trên Linh Thứu nở ra ngàn vạn đóa liên hoa, những đài sen của các bậc thánh hiền và những đóa sen tâm này hòa nhập cùng những đóa sen tâm hiền trí, hiền đức, hiền thánh. Những đóa sen của hiện tại xuyên không hòa nhập vào những đóa sen của quá khứ thánh hiền và trăm ngàn vạn đóa sen này hòa nhập vào một đóa sen vĩ đại, vô lượng, đầy khắp hư không giới của Đức Thế Tôn. Tất cả đều tan chảy nhập vào pháp lưu, thuận theo pháp tánh và cả địa cầu này là một hoa sen vĩ đại tỷ cánh. Và những địa cầu khác nở hoa, cả thái dương hệ này, cả hành tinh này đều nở hoa sen trong giải ngân hà, tam thiên, đại thiên, mười ngàn thế giới đều là những đóa hoa sen hiền thiện, thánh thiện và hòa nhập với nhau trở thành một đóa hồng liên chánh giác giải thoát, thanh tịnh, thanh cao, cao thượng, thánh thiện.
Trăm ngàn, vạn ức, tỷ đóa sen dung hòa tan chảy làm một và đóa sen vĩ đại này được Đức Thế Tôn cầm lên và ngài kêu gọi các con ơi về đi, về bên Như Lai, về bên chánh trí, về bên thánh chúng để hưởng hạnh phúc tối thượng của Niết-Bàn tịnh lạc.
Sư cô Ấn Hạnh: Con xin được cung kính đảnh lễ ân đức Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con xin được cung kính đảnh để ân đức trên bậc đạo sư, con xin được cung kính đảnh để ân đức bậc ân sư tôn kính, con xin được cung kính đảnh lễ ân đức chư tôn thiền đức cùng tất cả các bậc hiền trí. Khi vào đầu bài giảng thì sư phụ có nhắc chúng con là sư phụ cho chúng con được xem những hình ảnh vô thường và những hình ảnh ấy được xảy ra chỉ có mấy ngày trước, đó là sự thật đang hiện hữu trong đời sống mà chúng con đang sống thì trong con cảm xúc thật là dâng trào.
Khi được nhắn đến hai chữ vô thường nó luôn cho con một cái cảm thọ thật là rung chấn trong tâm của con những cái tưởng nó hiện khởi trong con. Con cảm nhận được sự vô thường trên chính tự thân này, những hình ảnh trong quá khứ lại hiện về, cái hình ảnh mà làm con khắc sâu nhất là con nhớ lúc đó con học lớp hai. Khi con đi học tan trường về thì nhà của con gần ở chợ, khu chợ ấy rất là đông và khi con đi về thì trên đường đi ngang chợ dù là con đi sát cái bờ lề nhưng có một cái chiếc xe. Do con còn nhỏ và chú chở đông không thấy con đứng, chiếc xe ấy vô tình chạy đến và khi chú nhìn thấy con thì chiếc xe ấy đã đụng vào con, chú đạp thắng và bóp thắng rất là mạnh và cái thắng ấy nó trúng vào ngay cái tầm mắt của con.
Lúc đó thì con cũng gần tới nhà thì người thân mới đưa con đến trạm y tế thì máu chảy rất là nhiều, khi cô y tá may cho con và nói với mẹ con rằng "cô bé này may mắn chỉ cần lệch một chút xíu thì có thể là bé sẽ bị mù suốt cả một đời bởi vì nó cách mắt chỉ có một tí thôi nhưng mà may mắn là nó rách ngoài da". Cái vết thẹo ấy nó vẫn theo con, con nhớ câu nói của cái cô y tá ấy là "cô bé này may mắn nếu không thì sẽ bị mù" và con lại nhớ tiếp tục một cái hình ảnh khi con được học lớp tám thì trường có tổ chức dã ngoại. Cô giáo cho chúng con về một gia đình có khu đất rất là rộng để tổ chức cái buổi dã ngoại để kết thúc năm học, lúc đó con không có biết bơi, con thấy cái hồ nước cái ao nước ở trong cái nơi nhà bạn học của con thì chúng con leo lên chiếc xuồng gọi là xuồng ba lá theo miền tây gọi.
Con không có biết là cái ao đó sâu và con với một cái người bạn lên chiếc xuồng đó bơi và con cứ nghĩ là ao đó rất là cạn, ví dụ mình có té xuống thì mình leo lên nhưng con không ngờ khi bơi giữa cái ao đó thì bạn con cắt cớ lắc chiếc chông chênh làm con té xuống và chìm thẳng xuống dưới nước. Lúc đó cảm giác con là con không có con ý thức được rằng mình không biết bơi nhưng mà lúc đó thì có một cái suy nghĩ "mình không biết bơi mà nước này sao mà nó chìm mình xuống tuốt ở dưới rất là sâu". Ngay lập tức trong con nhớ lại con nói "nếu mà mình không biết bơi mình té xuống thì mình chết như vậy ba mẹ mình mà hay chắc là đau lòng lắm"
Khi con nhớ đến như vậy thì tự nhiên con cảm nhận có một cái lực đẩy con vọt lên trên mặt nước, có những người đứng ở trên bờ mới nhảy xuống và kéo con lên được. Khi kéo con lên được thì lúc đó con cũng đã uống rất là nhiều nước, con nghe chú đó chạy ra nói với mọi người "cái ao này rất là sâu, nó sâu bốn – năm mét lận mà cái cô này chắc không biết bơi nên là uống rất là nhiều nước, mà cổ cũng mạng lớn chứ nếu không biết bơi mà với cái độ sâu bốn – năm mét như vậy thì có thể không thể nào sống được".
Con nhớ lại hai cái hình ảnh đó trên tự thân của mình mà lúc đó con không biết gọi là vô thường là như thế nào nhưng khi con hiểu được cái chữ vô thường, con nhớ lại thì nó cho con một cái cảm xúc rất là dạt dào. Con cảm nhận được cái đời sống này nó rất là nguy hiểm, bất kỳ lúc nào mình cũng có thể rời cái cuộc sống này và những hình ảnh con coi đêm qua, lũ lụt hay là giông bão thì con cũng quê con sống thì vùng Cà Mau thì rất là ít bạo tố, cái thời con sống mà nói đến bão là người dân nơi đó thật sự không có cảm nhận được cái bão. Nhưng mà con nhớ năm 1997 đài thông báo có cơn bảo số năm mà hoàn toàn mọi người ai cũng rất là bình thường, cứ nghĩ bão là những cơn gió hơi mạnh một tí, một chút thôi thì kêu là chuẩn bị để phòng bão.
Con thấy mọi người nhất là cái khu người dân nơi con sống rất là thờ ơ với những lời kêu gọi ấy, họ nói "trời chỉ là những cái cơn gió thôi" nhưng mà trong cái ngày hôm đó lúc ba giờ đến bốn giờ chiều thì giông nổi lên rất là lớn mạnh mà cúp điện. Nhà con nằm đường quốc lộ thì bên đây nhà cũng kiên cố nhưng mà phía sau nhà của chúng con thì có một cái bờ sông và phía bên người dân ở bên cái phía bờ sông là nhà chỉ là cấp bốn và nhà lá, đa phần là nhà lá. Con nhớ hoài hình ảnh khi con đứng trên lầu một để con nhìn qua cái hướng bờ sông khi bão ập đến thì gần như là một cái dãy mười mấy căn nhà gió thổi y như cái cảm giác lau sậy mà gió thổi đến đâu là nó nghiêng như vậy theo chiều gió.
Con nhìn cái hình ảnh đó con cứ nhớ hoài, con nói mọi người cứ nói là bão chỉ những cái cơn gió bình thường thôi. Chính vì những cái cảm nhận đó từ cái cuộc sống thì có một cái sự chấn động trong tâm của mình, và khi con được trở để tu học trên Linh Quy con đọc được những cái bài kinh mà Đức Thế Tôn nói trong bài kinh Tất Cả Lậu Hoặc ngài nói là ngài giảng pháp cho những người thấy và người biết chứ không phải người không thấy không biết thì câu đó làm cho con xúc động rất là nhiều. Khi con ở ngoài đời thì những gì con được thấy là những gì mà con được cảm nhận cái sự vô thường trong cuộc sống này, sự nguy hại trong cái cuộc sống này, những cái biến cố, những cái thiên tai, những cái nguy hiểm trong cuộc sống này. Con xin cảm ơn lời dạy của Đức Thế Tôn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 1: Con xin kính đảnh lễ Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni, con xin được phép sư phụ con được đảnh lễ sư phụ cũng như tất cả các sư thầy, sư cô, các bậc hiền trí đã cùng nhau ở trong ngôi nhà Nikāya tại Linh Quy Pháp Ấn này. Giờ phút này hôm nay sư phụ cho con được chia sẻ, được cảm nhận ngũ uẩn và đây cũng là những ngày vừa qua con rất là may mắn, hạnh phúc, hạnh phúc vô bờ khi được sống trong cái thiện pháp này, cái chánh pháp này mà nhiều năm nay con đã đi, đã hằng mong ước và tìm cầu và con không nghĩ rằng sự thật đã hiện ra tại nơi đây. Con vô cùng biết ơn và con xin sư phụ cho con một những cái ân đức những cái phát tâm, những cái ước nguyện của con để sau này con có thể được học tiếp, được sư phụ chỉ dạy tiếp để con được sống trong cái giáo pháp này, cái giáo pháp mà sư phụ đang dẫn dắt chúng con, đang dìu dắt chúng con, cho chúng con được thể nhập vào cái dòng thánh pháp này. Chúng con vô cùng hạnh phúc, con vô cùng hạnh phúc và buổi tối hôm qua được xem, thấy biết những cái hiện tượng vô thường diễn ra thì trong tâm con cũng cảm nhận được, cũng nhận được cái sự vô thường đó.
Cụ thể là sáng nay sư phụ giảng lại thì chúng con càng rõ biết ơn và con cũng suy nghĩ rằng một ngày nào đó, thậm chí là có xảy ra trong lúc này con cũng sẵn sàng bất động giữa những các vô thường này diễn ra. Và chính những sự sách tấn cũng như những lời, những giọng nói nhấn mạnh, những giọng nói đầy xác quyết của sư phụ mà con đây cũng được một lần nữa được thể nhập vào cái dòng giáo pháp này mà con hằng mong ước. Đây cũng là cơ hội cho con được về đây tiếp tục được trải nghiệm, được cảm nhận, được sống trong những sự yêu thương, sự đùm bọc, sự dẫn dắt, chỉ bảo của các vị thầy, các vị bậc hiền trí, các vị đồng tu, các quý vị cùng chúng con hằng ngày. Mong rằng cũng tiếp tục được sự chỉ bạo tiếp theo và được gần gũi các quý vị cũng như gần gũi giáo pháp, gần gũi sư phụ để chúng con được sống những mảnh cuộc sống, những phần sống còn lại, mặc dù con năm nay 44 tuổi nhưng con cũng thấm nhuần được việc phải lên đường học Phật, lên đường tu Phật, lên đường để chúng ta cảm nhận được cái giáo pháp, cảm nhận được cái sự sống, cảm nhận được sự vô thường này. Dạ bằng đấy những suy nghĩ, những trăn trở, những cảm nhận của con, con xin biết ơn trên sư phụ cũng như các quý sư thầy, sư cô, các vị hiền trí đã cho được nói ra cái trải lòng của mình, cái cảm nhận của mình, biết ơn tất cả thầy ạ.
Giới tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính bạch sư phụ và chư tăng, chư ni và các bậc hiền trí. Dạ con xin kính thưa sư phụ, từ lúc con lên đây một tháng nay con rất là biết ơn sư phụ.
Sư Phụ: Cô hướng vô trong lồng ngực niệm an tịnh, lắng dịu.
Giới tử 1: Dạ con lên đây con định cúng chay tăng cho cha con xong rồi con đi xuống núi, nhưng mà không ngờ con lên đây con gặp được sư phụ và con gặp được những sư cô rất là hiền thiện, hiền trí cho nên con quyết định ở đây con không có xuống núi nữa. Con học những cái tâm hiền, cái tâm ngã mạn, cái tâm kiêu mạn của con. Con xin hết, con xin cảm ơn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Không sao hết, cứ từ từ hít thở vô, an tịnh, lắng dịu, từ từ chia sẻ thêm chút, không sao, cảm nhận được gì.
Giới tử 1: Con xin chia sẻ thêm là lúc con lên thì bữa đó trời bảo, con mua vé rồi mà con chưa hề biết đường đi nước bước như thế nào, con nói "trời bão lên đó chết làm sao", con hồi vé con không đi thì nguyên một ngày đó cái cảm thọ của con cứ thôi thúc bắt buộc phải đi, xong rồi con nói "chết con cũng phải đi".
Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay.
Giới tử 1: 10:00 giờ con đặt vé xong 12:00 giờ là con quyết định là con đi. Con nói giờ chết con cũng đi nữa, con đi lên hỏi người ta người mấy tiếng tới, người ta nói sáu tiếng mà trong khi đó mới bốn tiếng tới là 4:00 giờ con ở dưới chân núi mà con sợ cướp rồi con sợ người này người kia, con không biết tại vì con thấy trên núi vắng vẻ. Con đợi thì người ta kêu con lên núi Linh Quy không, con nói con chưa lên được để 7:00 giờ rồi con lên tại vì tối quá con không biết đường như thế nào. Con ngồi đó trời mưa xong rồi tới 6:00 giờ mấy người ta kêu thì con nói con lên, con thấy được những cái tình cảm của sư phụ và những tình cảm của chư tăng chư ni đối với người chung quanh, người mới hay người cũ như thế nào đó mà con cảm thấy ấm áp, con quyết định ở đây. Con nói với con con là con sẽ chết cũng ở trên đây luôn. Con xin cảm ơn sư phụ.
Sư Phụ: Vậy là cô huỷ cái vé rồi cô mua lại vé khác?
Giới tử 1: Con huỷ cái vé đó xong rồi nguyên một ngày từ sáng tới chiều đó là con người con thôi thúc, con cứ mở cái trực tiếp ở trên đây là con muốn đi mà cái chân con nói "Ủa bão vậy sao đi" cái con huỷ vé. Nguyên một ngày đó cảm thọ của con cứ khóc, khóc rồi không, không rồi khóc, tối đó tới 10:00 giờ con quyết định là con đặt vé lại, 12:00 giờ con đi là 4:00 giờ con tới đây.
Sư Phụ: Chắc Nhờ thầy Huệ cô lên, thầy Huệ tu cô thấy rồi cô lên.
Giới tử 1: Dạ hết luôn mà sư phụ rồi, mấy sư cô rồi này kia nữa, trong lòng con nó thôi thúc, con muốn đi dữ lắm.
Sư Phụ: Vậy là chuyến đi này không có uổng công phải không?
Giới tử 1: Mà con cũng không về luôn, con xin sư phụ cho con ở đây tu đến chết luôn con cũng không về.
Sư Phụ: Cứ cố gắng từ từ ha.
Giới tử 1: Dạ con xin cảm ơn sư phụ và các cô, các chú ở đây. Con xin cảm ơn.
Sư Phụ: Đó là tình thương của quý ni sư, quý sư cô và các hiền giả đã cho các vị cảm nhận được, cảm động được và cảm hóa cho nên ở đây mình người thật, việc thật, sự thật, thành ra mình cố gắng cái tâm hiền. Cô bước lên đây cô lạy hết tứ chúng đi, lạy cảm ơn, biết ơn và con nguyện con sẽ được lòng tin bất động đối với chánh pháp cao thượng này. Nếu đổi ngược lại là con ba mươi mấy năm trước đi cầu đạo mà con gặp được đây con cũng chết không về, hạnh phúc không? Thấy cái công của mình, cái sự tu của mình dầu chưa có tới nơi tới chốn nhưng mà ít nhất thì tu học của mình cũng có đôi phần kết quả khởi sắc để mọi người chung quanh cảm nhận được. Chúng ta lấy đó là một sự tinh tấn, nỗ lực, vui vẻ, hoan hỉ ngày đêm tu học được không? Bởi vậy lên đây mà người nào bỏ đi thương lắm, thôi trải tâm thương đi.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.
LÒNG TIN BẤT ĐỘNG 2
TÙY NIỆM PHẬT
KINH SARAKANI, TƯƠNG ƯNG 5
–Thích Minh Thành–
"Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Ðược tốt hơn, không xấu.
Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Ðược tuệ, không gì khác.
Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Không sầu, giữa sầu muộn.
Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh sanh thiện thú.
Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh thường hưởng lạc.
Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, ai đã nói lên một cách tốt đẹp?
-- Về vấn đề này, tất cả các Ông đều nói lên một cách tốt đẹp. Tuy vậy, hãy nghe lời Ta nói:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Giải thoát mọi khổ đau." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, I. Với Người Thiện)
Kính bạch chư tôn hiền đức và chư vị hiền trí trong mấy ngày qua chúng ta thật là ấm áp, dù cho ngoài trời có giông bão chúng ta có thật nhiều cảm giác ngọt ngào, nhiều tình thương, nhiều từ tâm đối với nhau, tràn đầy những cảm thọ biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn và mong nguyện báo ơn, đền ơn. Chúng ta như nước với sữa hòa hợp những tư kiến cá nhân, những tự ngã riêng tư, riêng biệt, riêng lẽ đều hòa nhập, đều tan chảy.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật cũng chỉ có một vị là vị giải thoát." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX). A-Tu-La Pahàràda)
Trăm sông khi đổ vào biển thì tất cả đều trở thành một vị là vị mặn, dù cho ở ngoài đời vua chúa, quan quyền, ăn xin, kỹ nữ, đi ở đợ, đi làm mướn hay là bác sĩ, kỹ sư tất cả khi chuyển tộc, khi được nghiêng về chánh pháp, hướng về chánh pháp, nhập vào chánh pháp thì tất cả đều cùng một thể, không có sự khác biệt của giàu nghèo, của sang hèn, của đẹp xấu, của cao thấp ở trong giáo pháp chánh trí chánh giải thoát này. Tất cả đều cùng một vị thôi là vị giải thoát, còn nếu chúng ta nói những cái vị căn bản, thiết thực, hiện tại là vị hiền lành, cái hương vị của sự hiền hòa, cái đạo vị của sự hiền nhân, cái đạo tình, đạo hạnh, đạo đức, đạo tâm.
Chúng ta như hòa quyện trở thành một thể trong những nội tâm hiền đức, chúng ta hòa đồng, tan chảy và tiêu dung trong đại dương của giác ngộ, trong biển cả của chánh trí, trong tình thương vô lượng của từ tâm. Chúng ta khéo cảm nhận, cảm động và cảm hóa tâm của mình. Giờ này biết bao nhiêu là những nỗi thống khổ, vừa rồi con cho quý vị coi là cách đây có mấy ngày thôi ở Trung Quốc là bốn tỉnh ngập chìm trong nước, bốn tỉnh và mỗi một tỉnh là hơn nước Việt Nam mình. Tứ đại đều đang thuyết pháp, động đất, sóng thần, lũ lụt, gió bão và hỏa hoạn, cả cái biển lửa đó là tứ đại đang thuyết pháp, hàng trăm người, hàng ngàn người, hàng chục ngàn người, hàng ba chục, năm chục, bảy chục ngàn người, trăm ngàn người, hàng triệu người nhà tan cửa nát, không biết đi về đâu, chồng chết, cha chết, mẹ chết, con chết, anh chết, em chết, vợ chết, chị chết, cháu chết, chú chết.
Những cái tiếng kêu gào mà kêu trời không thấu, những cái tiếng "Trời ơi… Trời ơi… Trời ơi", đó là con cắt bớt rồi để cho chúng ta coi gọn thôi chứ nhiều lắm. Nhà của tôi, xe của tôi, tiền của tôi, tài sản của tôi, con ta, tài sản ta, người ngu nghĩ như vậy, tự ta ta không có con đâu, tài sản đâu.
"Con tôi, tài sản tôi,
Người ngu sanh ưu não,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 62)
Núi lửa thì phun trào lên, người ta phải ôm đồ chạy bỏ nhà bỏ cửa, bế con trẻ thơ như vậy chạy, những căn nhà, những thành phố rung chuyển với những cơn địa chấn kinh hoàng, khủng khiếp và sợ hãi, hoảng loạn trong những dòng nước mắt, trong những giọt mồ hôi rồi trong những biển máu lửa của chiến tranh. Bây giờ mình ngồi đó suốt một tiếng đồng hồ thiền quán thử đặt mình vào trong những đất nước đang chiến tranh đó thì mình sẽ làm gì, cha mẹ của mình ngã ra, cái thây bầy nhầy trúng đạn như vậy, trúng bom, nhà mình tan nát thành đống tro, thành một cái đống đổ nát hoang tàn như vậy rồi mình sẽ làm cái gì, sẽ sống như thế nào. Nhà cửa của mình, con gái mình, cha mẹ, người thân của mình bị nước cuốn trôi hết trơn rồi mình làm cái gì?
Cho nên Đức Thế Tôn dạy mình là phải quán nguy hiểm, quán biến hoại, quán hoại diệt, quán đoạn diệt, quán diệt tận, quán đoạn tận và những người đó suốt cả cuộc đời từ sanh ra cho đến chết còn chưa biết cái chữ Nikāya là cái gì. Làm sao biết được ngũ uẩn, làm sao họ biết được chánh kiến, nằm chiêm bao họ còn chưa thấy gì nữa bởi vì họ chưa từng được tiếp xúc với những cái âm thanh như vậy, rồi lớn lên sanh ra ở trong những cái gia đình tà kiến, mê tín dị đoan, sanh ra ở trong cái vùng biên địa hạ tiện, biên giới, chữ còn không biết lấy gì mà biết được điều thiện, lấy gì biết được chánh pháp. Mình thấy như vậy mình mới hết sức trân quý, trân trọng và trân kính, cung kính từng giây, từng phút mỗi một chữ, mỗi một câu ở trong pháp. Mở được cuốn kinh ra đọc được lời thánh ngữ, ngồi được những cái giây phút Ở trên bồ đoàn, ở trong thiền đường là nghìn kiếp người ta ao ước còn chưa được mà người ta cũng không biết để mà ao ước nữa.
Trong bài về núi con có nói là đã ước mong biết bao nhiêu lần rồi phải khao khát, phải ước mong. Mình quán chiếu giống như mình cầm trên tay một cái viên kim cương vậy đó, mình cầm thận trọng biết là bao nhiêu, mình cất kỹ biết là bao nhiêu, để tâm vào đó rất là nhiều. Cũng vậy mình đang cầm cái quý hơn gấp tỷ lần kim cương, mình đang được thấy vô thượng, nghe vô thượng, học tập vô thượng, lợi đắc vô thượng, phục vụ vô thượng vậy mà nhiều khi xem thường, có khi mới thì siêng năng, ở thời gian rồi thôi, uổng lắm.
Chúng ta biết Đức Thế Tôn trước khi thành đạo mình đọc kinh mình thấy chín mươi mốt đại kiếp là ngài đã tu tập. Nếu mà ngài như mình thì học được mấy tháng rồi chán, học được mấy năm rồi bỏ thì làm sao có vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cho nên cái nhìn của mình là phải nhìn ra cả cái hành tinh này, cả cái địa cầu này mà còn nhìn xa hơn thế nữa, tức là những cái thế giới khác của thế giới con người, thường quán địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chúng ta nhìn thấy trước mắt người thật, việc thật, sự thật, lẽ thật, còn những cái chúng ta không thấy được nó còn đau khổ không biết bao nhiêu.
Mình đọc trong Tương Ưng Lakkana là lơ lửng trong không gian này là biết bao nhiêu những cô hồn, những ngạ quỷ, những chúng sanh vất vơ vất vưởng đói khổ, đói khát. Nói như trong loài người thì giờ này đâu có được ở nhà ấm áp, đâu có được ngồi trong nhà, trời mưa, trời bão, trời gió như vậy người ta cũng phải cày sâu cuốc bẫm, chạy xuôi chạy ngược cơm áo gạo tiền, dầu cho bệnh cũng phải ráng lê lết cái thân đi, không có lấy đâu mà nuôi vợ, nuôi con, nuôi chồng, nuôi cha mẹ đang nằm bệnh mà mình lên mình học, mình ngồi thiền có chút lại ngủ gục, mệt mỏi, chán chường thì những cái đó mình phải biết quán, biết mắng chửi cái tâm của mình. Làm sao khởi lên trong lòng mình một ngọn lửa rực cháy nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác và tới chết mình cũng chưa có thỏa mãn đối với diệu pháp mình đã được học của bậc thánh Bất Lai Hatthaka.
Khi mình biết tác ý, khi mình biết quán chiếu như vậy mình rất là trân trọng, trân quý, trân kính từng chút, từng chút, từng chút một. Có bao nhiêu chúng sanh tám tỷ người trên hành tinh này, ngàn ngàn, vạn vạn, triệu triệu, ức ức, tỷ tỷ, một con người chưa từng biết được chánh pháp, họ mò mẫm, họ quờ quạng ở trong cái trường dạ, cái đêm dài hắc ám của vô minh rồi họ khổ mà không biết tại sao khổ, vì sao khổ rồi cũng không biết cách nào để thoát ra hết. Vì vậy mình mới tinh tấn, hoan hỉ ngày đêm tu tập tất cả các thiện pháp.
Hồi nãy con bước từng bước ra đây con nghĩ "đại chúng này có người dở nhất đi nữa đó thì một ngày cũng được tám tiếng đồng hồ ở trong chánh pháp, ở trong cái lẽ thật, ở trong cái trí tuệ", tức là ra khỏi thiền đường rồi cho quên là dở nhất một ngày cũng được tám tiếng mà tệ cũng được sáu tiếng thì chúng ta thấy quý không? Cái thời khóa của mình đã đưa ra như vậy mà người kém nhất, dở tệ nhất luôn tức là bước ra rồi là quên thì tối thiểu cũng được sáu tiếng, tám tiếng đồng hồ, còn cái người khá ngoài tám tiếng này ra thì ở ngoài còn trú thêm nữa thì được mười tiếng, mười hai tiếng, nó quý biết là bao nhiêu.
Ngay cả những người xuất gia giờ lấy hai thời khóa tụng là lên tụng ro ro trả bài rồi xong xuống, không hiểu, không có thể nhập, không có cảm thọ gì hết mà mình ở đây được thấm thía như vậy, thấm đẫm như vậy, thấm nhuần, thấm gội, thẩm thấu vô tim gan như vậy, máu tủy như vậy mà con vừa bước đi con cười. Mình có chết thì chỉ có cái mình chưa có hoàn thành công việc của mình thì mình hối hận thôi, chứ đại chúng cứ tinh tấn tu như vậy rồi càng ngày càng tăng thượng lên là con ngậm cười nơi chín suối dữ lắm, hạnh phúc lắm.
Mình chết ở trong chánh pháp mà có ai tu ngồi đây chết đâu, chưa có ai hết, mình coi những cái giọt mưa vầy mà ở ngoài những bà già còn đi mua gánh bán bưng, những ông cụ còn phải cầm những tờ vé số mà có khi bệnh ở trong người rồi mù nữa mà còn bị gạt, những người chạy xe ôm, chạy xe Grab sáng đêm tới hai - ba giờ sáng, thậm chí chạy sáng đêm kiếm được bao nhiêu đồng phải lo từng chén cơm, từng cái manh áo. Chưa kể con bệnh, vợ đau rồi cha mẹ bao nhiêu những cái gian khổ nằm ở trong bệnh viện, hay là mắc những chứng bệnh nan y, còn mình bây giờ thảnh thơi thì tối ngày chỉ có tu học thôi mà nếu mình làm không được nữa thì cái tội này không biết nói như thế nào.
Mình phải tác ý quán chiếu như vậy, mình không tu học được mình là tội đồ, mình là bất hiếu, mình là kẻ vong ơn bội nghĩa, là cái kẻ lưỡng đồ câu thất, hai đường đều mất hết. Ngoài đời thì không báo hiếu cho mẹ cha, cho anh chị em, bà con, ông bà, vô trong đạo thì tu không thành tựu được, cái tâm hiền cũng không thành tựu được. Mình tác ý như vậy, nhắc nhở tâm mình như vậy, những cái trí tuệ mà mình được học, được hiểu mà cái tâm mình nó còn cách xa như vậy thì mình phải là huấn luyện, quản giáo, nhắc nhở, rầy la, quở trách tâm, đánh phạt cái tâm. Có khi mình phải phạt cái tâm và có khi mình phải nâng cái tâm mình lên.
Thí dụ mình thấy nó tệ quá rồi, sao mà nó suy sụp như vậy là xin nhập thất, nó có những cái mầm móng đi xuống núi, nó muốn lùi lại, thối lui thì một là mình nương chúng tinh tấn, mình phát lồ, mình hỏi còn mình có khả năng là "bây giờ ta phạt ngươi, ta cho ngươi phải độc cư, một mình ngươi chiêm nghiệm hết cái cuộc đời này đi. Ngươi quán chiếu đi". Mình tạo đủ mọi cách hết, có người ở trong thất thì tăng tiến, có người thì ở trong chúng thì tăng tiến, có người phải sám hối phát lồ, có người phải thân cận các bậc thiện hữu để chia sẻ, trình bày, đủ thứ mọi cách hết chứ không phải ai cũng giống như ai.
Có người cho vô thất còn tệ hơn ở ngoài nữa rồi đi xuống núi luôn, có một số vị vô thất xong rồi âm thầm xách giỏ đi luôn. Thành ra mình coi mưa bão như vậy là những cái cơ hội quý báo để cho mình tu, để cho mình tưởng nhớ. Ngày hôm qua chúng ta đọc những bài kinh quán vô thường tưởng, quán nguy hại tưởng, quán diệt tận tưởng. Đức Phật của chúng ta rất là tuyệt diệu, cũng cái tưởng đó làm cho mình khổ đau, cái vọng tưởng, cái ảo tưởng, cái mộng tưởng, cái huyễn tưởng, cái hư tưởng, cái điên đảo tưởng mà Đức Phật dùng cái tưởng đó để làm cho mình phá cái vô minh thì lấy tưởng diệt tưởng. Có nhiều người không hiểu nên nói tu là ngồi yên chứ sao tu tưởng này tưởng kia, vậy người ta không có hiểu thì đâu có học cho nó thấu đáo ở trong tạng kinh.
Học được cái đoạn đầu của bài kinh Tứ niệm xứ à, chừa cái đoạn sau trong khi đoạn sau là Đức Phật dạy quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt là dùng tưởng diệt tưởng. Chữ quán đó là quán tưởng, là dùng cái hình ảnh này để diệt cái hình ảnh kia, dùng thọ diệt thọ, dùng hành diệt hành mà hôm trước chúng ta học rồi, dùng cái suy nghĩ này để diệt cái suy nghĩ kia, dùng cái hình bóng này để thay cho hình bóng kia, dùng cái cảm giác này để thanh lọc cái cảm giác nọ, dùng cái hình sắc này để đánh phá cái hình sắc kia.
Chúng ta thấy tuyệt diệu lắm, pháp ở trong lòng bàn tay của mình, nó đâu có rộng, đâu có nhiều, đâu có mênh mông gì đâu, sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhìn như bàn tay Như Lai Phật Tổ. Tôn Ngộ Không bay hoài không ra khỏi bàn tay được vì ngũ uẩn thì làm sao ra khỏi được, chỉ có thánh trí mới đi ra được chứ, pháp ở trong lòng bàn tay của mình thôi. Dùng sắc diệt sắc, dùng thọ diệt thọ, dùng tưởng diệt tưởng, dùng hành diệt hành, dùng thức diệt thức, "bây giờ cái tâm mày ngu, mày mê phải không? Mày mê đẹp, mày mê hấp dẫn, mày mê khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đế dục hấp dẫn, tao cho mày mê nha, tao đưa cái tử thi ra cho mày mê nè". Chúng ta thấy tuyệt vời không?
"Mày tưởng là mày ngon lắm phải không, tao đưa cho mày ra một cái đống tro cho mày nhìn thấy đi", đó là dùng sắc diệt sắc. "Giờ mày mê dầu thơm hả, mày mê nước hoa rồi tao cho mày coi nước miếng nè, nước đái nè, mủ máu nè, mày mê không hả cái tâm ngu?". "Bây giờ mày hất cái mặt mày lên phải không? Mày vênh váo phải không? Tao cho mày nhìn cái nùi giẻ nè, mày làm cái nùi giẻ cho tao, ta cho nhìn cái bộ xương nè còn hất mặt lên nữa không".
"Không bao lâu thân này,
Sẽ nằm dài trên đất,
Bị vất bỏ, vô thức,
Như khúc cây vô dụng"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 41)
Chúng ta thấy thánh trí của Đức Phật tuyệt diệu lắm, nhiều khi con nghe tới cái chỗ thấy vô thượng, nghe vô thượng mà con tiếc, con đi tìm hết cái địa cầu này con gặp bậc đại sư, tôn sư, đạo sư truyền thánh pháp tới chừng con về con truyền thì mấy người học bỏ đi hết trơn. Trời đất ơi! Ngày hôm qua con ngồi con nói với ông Năm "con thương… con thương… con thương" rồi đi ra học tôn giáo học, học tâm lý học, học kim cương thì bỏ đi ra tìm ngói gạch, xà bần vậy đó. Giờ có một hạng người nữa, trong kinh sách sau này ví dụ là người này đi vô rừng vô chặt được mấy đống củi, vác đi đường rất là xa, tới cái chỗ đó người ta có trầm hương, mấy người kia người ta lấy còn anh này nói "tôi không lấy, cái này tôi vác nãy giờ xa dữ lắm, tôi bỏ uổng, tôi phải vác cái này".
Anh này lại đi tới cái chỗ có mỏ vàng, mấy người kia quăng trầm hương xuống lấy vàng còn anh vẫn nói không "tôi không lấy, tôi vác cái này từ nãy giờ xa lắm. Tôi bỏ xuống uổng, tôi phải vác đi về tới nhà". Cái người đó có khôn không ạ? Mình tu học không khéo cũng giống vậy đó "tôi học cái này từ đó giờ, giờ kêu tôi đổi cái này hả?", sao may mắn con cũng hơi ít ít ngu chút con mới dám bỏ cái đống củi đó xuống để lượm kim cương của bậc đạo sư. Mọi người chịu lượm kim cương không? Chứ nói "bây giờ con vác cái này ba chục năm rồi bây giờ kêu con bỏ cái này sao bỏ được?".
Mình nhìn rồi mình thấy quý lắm, nhiều khi quý vị ở đây còn con ở dưới thất rồi con lên con tu với quý vị thấy hạnh phúc lắm, con sung sướng "Trời ơi thỏa mãn rồi, mình thỏa mãn rồi, mình không còn đi tìm bất cứ một cái pháp gì ở trên cuộc đời này nữa, chỉ có hành nỗ lực thực hành thôi". Cái thấy của mình là cái thấy vô thượng, cái nghe tối thượng, học tập tối thượng, không có cái gì cao hơn nữa và tất cả những cái học của thế gian đều là tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Học để tăng thêm cái tham, để thêm cái muốn, học để tăng thêm cái tôi, cái ta, cái ngu si, học để giành giật, để đấu đá, để sâu xé, để mưu mô, để mưu sĩ, càng học giỏi chừng nào, càng hiểu biết nhiều chừng nào thì cái tính mưu mô, mưu sĩ càng sâu, càng thâm độc hơn người bình thường.
Nếu người không biết tu, không có tâm hiền thiện thì càng hiểu biết nhiều chừng nào thì cái ác của nó càng khủng khiếp chừng đó. Cho nên có bài kinh Đức Phật khen ngợi cái ông đó vì ông nói đó dễ thương thay, ngây thơ thay, đơn giản, đơn thuần thay là cái loài vật, con thỏ nó dễ thương, con nai, con hươu, còn thật là phức tạp thay, thật là không thể lường được thay là con người, cái miệng họ nói vậy mà cái tâm họ nghĩ khác.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không quán thấy một bộ loại nào khác lại đa dạng như tâm. Như các hữu tình thuộc loại bàng sanh; các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, do tâm tư duy (mà thành). Do vậy, này các Tỳ-kheo, tâm ấy lại đa dạng hơn các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Mình thấy như con thỏ ăn cà rốt, phải không? Con trâu, con bò ăn cỏ đơn giản nhưng mà con người mình ăn cái gì? Con gì cũng ăn, khủng khiếp vậy đó, nhiều lắm, cho nên mình mới thấy được cái quý báo của việc học của mình, còn nếu mình không thấy được cái giá trị, cái công năng, cái tác dụng, cái lợi ích vĩ đại của chánh pháp là tại vì mình không có niệm pháp thường cho nên bài kinh mà chúng ta đang học quý lắm. Đức Phật dạy Mahanama niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên gọi là lục niệm và mấy ngày hôm nay là chúng ta niệm tăng đó, niệm bạn lành đó.
Mình thấy ấm áp, ngọt ngào không? Bây giờ hiểu được hai chữ ngọt ngào chưa? Thấm được không? Thưởng thức được hai chữ ngọt ngào chưa? Ngọt ngào là vậy đó cho nên hồi đó bậc đạo sư dạy con mới đầu ngài vô nói ngọt ngào thì con thấy "trời ngọt gì đâu ngọt". Bây giờ mình tu mình mới thấy thật là ngọt, hai cái chữ ngọt ngào đó vi diệu lắm, ngọt mà cái mật ong và tất cả cái loại mật ở trên thế gian này không có so sánh được. ở thấy đọc mình thương mà mình mến
"Ở đây, này Mahànàma, Ông hãy tùy niệm Như Lai: 'Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'. Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai, trong khi ấy, tâm không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh, tâm không bị si ám ảnh, trong khi ấy, tâm được chánh trực nhờ duyên Như Lai." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Bây giờ con đọc cái câu này giống như nó thấm vô tim vậy đó, đọc những cái chữ này thôi mà ấm lòng, nó thấm đẫm vô cái trái tim của mình. Ông đừng có đi nhớ nghĩ những cái chuyện tào lao, đừng có nhớ nghĩ người này, người nọ, người kia để sân si, hơn thua, đúng sai. Ông bỏ cái đó, ông hãy nhớ nghĩ về Đức Như Lai, nhớ nghĩ về bậc Thiên Nhân Sư, bậc tối thượng, tối tôn, tối thắng, tối cao. Ông hãy nhớ đi, ông nhớ như vậy đó ông không có bị thêm sân si, tâm ông sẽ được chánh trực.
Chúng ta thấy cái niệm Phật trong Nikāya con đã chia sẻ không biết bao nhiêu lần rồi, chúng ta về nghe kỹ lại những cái bài đó. Con nói giờ đơn giản thôi, cái bài kinh này đã học rồi nhưng bây giờ học ngàn lần cũng phải học vì đây là pháp hành cho đến khi mình chứng đắc mà.
"Vị Thánh đệ tử, này Mahànàma, với tâm chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Mình hiểu được cái ý nghĩa của Đức Như Lai là thập hiệu, mười trí đức và mình tin nhận được cái pháp ở trong đó thì tâm mình sẽ hân hoan liên hệ đến pháp, vui lắm, mình nhớ về Đức Phật mình hân hoan, mình rất là tự hào, rất là hãnh diện vì mình là đệ tử của bậc tối tôn, tối thượng giữa mười ngàn thế giới. Mình có một cái vị thầy là tối cao hết trong tất cả các vị thầy mà mình nhớ là mình hân hoan, mình vui.
"Khi có hân hoan, hỷ sanh; khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định tĩnh." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Trên đây là cái tiến trình vận hành của tâm khi mình niệm Phật. Khi mình niệm pháp, niệm tăng mà hân hoan lên rồi, nó vui thì lúc đó thân tâm nhẹ nhàng cho nên có những vị trình pháp là ngồi thiền hay là nghe pháp mà có khi ra vườn trúc, cây giác ngộ, có những lúc đi giống như không có thân, giống như bước ở trên cái đám mây nó nhẹ, đó là cái trạng thái khinh an ở trong thất giác chí mà cũng là trạng thái khinh an ở trong niệm Phật đây.
Khinh an là nhẹ nhàng, thân tâm nó nhẹ như bông gòn, nó nhẹ như đám mây, có khi nó giống như không có thân vậy đó, phơi phới cho nên có cái bài con nói là "ngồi thiền dưới đất tợ mây bay". Bài con nói đó là cái trạng thái khinh an, "về núi yên tu đẹp tuyệt trần, ngồi thiền dưới đất tợ mây bay" như mình cưỡi mây vậy đó. Cái trạng thái cái tâm hiền thiện, cái tâm hướng thượng, cái tâm cung kính, cái tâm dạt dào trong cái sự biết ơn, cái tâm nó ngọt ngào ở trong cái tình thương của từ, của bi, của hỷ, của xả thì cái lúc đó nó vui rồi nó nhẹ, cho nên nó cảm giác được lạc thọ. Nó có một cái niềm vui nhè nhẹ ở trong cái cảm thọ của mình và tâm lúc đó định tĩnh, yên lặng, nó an tịnh, chúng ta tu thì chúng ta sẽ nếm trải hết những cái cung bậc, những cái tiến trình vận hành của tâm khi thực hành pháp.
Mình không có tu nên học xong mình hỏi hoài à. Mình không có học thì tới cái lúc nó xuất hiện mình không có biết, mình vô minh mà mình có học mà không chịu thực hành thì mình cũng không nếp được cái hương vị của nó.
"Này Mahànàma, như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống đạt được vô sân với chúng sanh có sân, nhập được pháp lưu, tu tập Phật tùy niệm." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Mấy cái lạc thú của cái ăn ngon, cái lạc thú của cái đi chơi, cái lạc thú của những chất gây nghiện, rượu chè, bài bạc, xì ke, ma túy, những cái lạc thú đó là nó thấp kém, thấp hèn, phàm phu, hạ liệt, đau khổ, vui ít khổ nhiều, ưu não trong đó càng nhiều hơn. Còn những cái lạc này siêu thế lạc, thưởng thức được cái lạc này là chánh giác lạc, là Niết-bàn lạc, là cái lạc của thượng nhân pháp và cái người thưởng thức được cái hương vị này rồi từ từ người ta sẽ có công năng bỏ những cái dục lạc của thế gian, tự động nó có. Giống như cái người đốn củi hồi nãy họ thích thú, họ vui ở trong cái đống củi nhưng tới khi họ gặp được cái đống vàng, đống kim cương thì họ có niềm vui khác, họ bỏ cái niềm vui nhỏ đạt được cái niềm vui to lớn gấp trăm ngàn lần.
Cũng vậy niềm vui của thế gian, của dục lạc là niềm vui thấp hèn, hạ liệt, phàm phu, bẩn thỉu, thấp kém mà cái niềm vui của thượng nhân pháp là cái niềm vui từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, những thánh pháp này trong ba mươi bảy chánh giác phần. Khi mình thực tập bất cứ một phần nào mình đều có sự hỷ lạc trong đó, đều có cái trạng thái như vậy, tiến trình vận hành vậy hết, tâm mình hân hoan rồi hỷ lạc, khinh an, định tĩnh, những cái này mình có trải qua không ạ? Có nếm không? Có thưởng thức chưa? Khi mình có nhận diện ngũ uẩn, có quán tâm trên tâm, quán thọ trên thọ, quán pháp trên pháp thì những cái này nó sanh khởi là mình biết, nếu mình không có sự thiện xảo khéo léo quán chiếu tâm mình thì nó khởi lên mình không biết.
Thành ra nhiều khi có những cái hỷ lạc rất là tuyệt vời nhưng mà mình bỏ qua, hoặc là có thì mình cũng biết sơ sơ, mình không an trú vào nó, không làm cho nó lớn mạnh, tăng trưởng cho nên sự tu học của mình cứ lê thê lết thết, nó cứ rề rề. Tại vì cứ nhìn người này, người nọ kia đúng sai, hay dở thì đâu có nhìn cái tâm nó được, trong khi có những cái thiện pháp sanh khởi mà không nhận diện được, không có hộ trì trong tứ chánh cần, cái cuối cùng là giữ gìn các thiện pháp cho nên lên trình pháp toàn là trình con này, con nọ, con kia, trình chán chê, ê chề thôi đánh chuông cái boong cho khỏi nói.
Mình phải trình thấy những cái xấu, cái dở, cái hư của mình đồng thời mình thấy được những cái hay, cái tốt, cái tiến bộ của mình. Đằng này mình nhìn có một chiều, mình nhìn có một hướng riết rồi mình hết tu luôn à. cái gì nhìn được mấy cái tâm đó, cái gì thấy được cái tâm đó, thành ra cái nhìn của mình phải đồng đều, đầy đủ nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ rồi thành ra thật sự phải khéo lắm. Kỹ sư tâm hồn phải khéo lắm, chứ còn nếu không là mình chỉ có cái tâm mình thôi vì mình nhìn không ra, cái vô minh nó che, cái bản ngã nó che, cái dục ái nó che rồi nó cứ nhìn cái xấu, cái dở, cái tiêu cực không mà cái tích cực không thấy.
Thí dụ như bảy mươi người hiền lành, dễ thương, chăm sóc, quan tâm mình, có một người nào đó lỡ nói cái câu gì đó là mình ghim "tôi đi xuống núi tôi không tu nữa". Khôn quá ha, có thấy ngu không? Bị cái vô mình nó che, cái sân nó che, cái bản ngã nó che là lúc đó nó mù, không thấy gì hết, chỉ có thấy cái người đó sân không à, nó không thấy ai nữa hết. Sáu mươi chín người kia ở đâu? Cái tâm nó không thoát ra, nó bị phong tỏa, nó bị ám ảnh chính như vậy mà con hay nhắc ngẩng mặt lên nhìn bầu trời, nhìn mây bay, thoát ra khỏi cái tâm chấp nhặt đó. Cái này hay lắm, thích thú, mình vui sướng, mình hạnh phúc, còn hơn tìm được kho báo nữa cho nên bậc thánh đệ tử là sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng.
Cái câu "sống đạt được vô sân đối với chúng sanh có sân hận, nhập được pháp lưu, tu tập Phật tùy niệm", chỉ riêng cái niệm Phật này thôi là chứng thánh quả A-la-hán luôn đó, đặc biệt giáo pháp của Đức Phật là vậy. Cái người tu chánh kiến thì tu cái pháp nào cũng tới chí cực hết, thành ra mỗi một cái gì mà Đức Thế Tôn bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trình bày là trình bày đến tột cùng, viên mãn hết cho nên mình nhớ ở trong bài kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm có nói trong chúng Tỳ-kheo này có những vị Tỳ-kheo chuyên tu hơi thở vô hơi thở ra, có những vị chuyên tu tâm từ, có những vị chuyên tập trung tâm tu tập quán bất tịnh, có vị tu tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn ngũ lực, thức bồ đề phần, bát chánh đạo phần mà tức cả các vị đó là từ hướng dự lưu, từ nhập lưu cho đến thánh quả A-la-hán. Mới tu một pháp đó, tập trung tâm ý thì một pháp đó đưa đến đoạn tận năm hạ phần kiết sử, năm thượng phần kiết sử.
"Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn niệm xứ. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn chánh cần. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong hội chúng này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bốn như ý túc. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm căn. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm lực. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bảy giác chi. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này có những Tỳ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập Thánh đạo tám ngành. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập từ tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bi tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập hỷ tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập xả tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bất tịnh. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này có những Tỳ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập vô thường tưởng. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập nhập tức xuất tức niệm." (Trung Bộ Kinh, 118. Kinh Nhập tức, Xuất tức niệm (Kinh Quán niệm hơi thở))
Thành ra bây giờ nhiều khi mình học hơi thở là "Tôi học hơi thở vô thở ra thôi" là cứ ngồi thở vô ra, đi đâu cũng thở vô thở ra thì chết. Học như vậy là chết, Đức Phật không có dạy vậy, chúng ta đã học mười sáu hơi thở rất là nhiều cái bài. Chúng ta thấy Đức Phật dạy mười sáu hơi thở trong đó có tứ niệm xứ không? Có thánh trí ngũ uẩn không? Có bát chánh đạo trong đó không? Có ngũ căn ngũ lực trong đó không? Có đủ hết, trong một cái hơi thở nhưng mà vận dụng ba mươi bảy chánh giác phần chứ không phải là bình thường đâu, trong đây cũng vậy một cái niệm Phật nhưng mà đủ pháp ở trong đó hết.
"Vị thánh đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng", câu này không phải dễ hiểu à. Thí dụ ở trong chúng có hai dạng người, một dạng người thương mình và người ghét mình, mình có đạt được bình đẳng giữ không bình đẳng không? Cái người thấy pháp là sẽ khác, người thấy pháp thương thì mình sẽ không luyến ái, ghét thì mình sẽ không sân hận vì cái này cũng là nghiệp quả với nhau, chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả, là nhân quả với nhau thôi. Trong Tương Ưng Vô Thỉ Đức Phật nói các ông bị tai nạn, hoạn nạn đủ thứ hết, cho các ông phải nhớ rằng cái này chúng ta đã chịu bao nhiêu ngàn vạn lần không phải mới đây. Khi các ông được khen thưởng, các ông được lợi đắc, được này nọ kia các ông phải nhớ rằng cái này cũng phải bao nhiêu lần, không phải tự nhiên, cái này là những cái kết quả của quá khứ, tâm mình bình đẳng giữa cái chỗ bất bình đẳng.
"Cái này là nhiều hơn, này các Tỳ-kheo, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.
... các Ông chịu đựng con chết…
... các Ông chịu đựng con gái chết...
... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...
... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.
Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo... bị tham ái trói buộc.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Cho nên khi mình có niệm Phật, có niệm pháp, có an trú vào trong pháp thì giữa cái người đưa lên và cái người hạ bệ mình xuống tâm mình vẫn trú được ở trong pháp, nhập được pháp lưu, tu tập pháp tùy niệm. Ai đây mà thương? Ai ở đây mà ghét? Ai ở đây? Thành ra trú được như vậy là chúng ta thấy cả một cái sự thiện xảo và công phu thâm hậu để hành trì, không phải là đơn giản. Chính như vậy tại sao nhiều khi quý vị những cái nhỏ nhỏ con bắt là vậy đó, vì lâu lâu mới có được cái cơ hội chỉ cho chúng ta, nếu mà chúng ta không trú trong pháp thì mình ra cái phi pháp mình không biết, mà cái tâm vô minh này nó khủng khiếp, nó phong tỏa hết trơn, không biết gì biết. Cái bản ngã nó che là không biết, nói chung năm triền cái nó sanh khởi lên là còn một kiết sử nào nó cũng che hết, sanh khởi bán ngã lên là nó không thấy sự thật rồi, thấy trật rồi, sanh khởi tham dục lên là thấy sai sự thật rồi, sân lên là thấy trật lất rồi, trạo hối tâm dao động giống như nước cứ gợn sống thì sao nhìn thấy mặt hồn phản chiếu được, cái nghi ngờ là xong.
Năm triền cái che đậy tâm, tác thành mù lòa, tác thành không mắt, yếu ớt trí tuệ cho nên hàng ngày mình phải gia công dụng hạnh để mình nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận năm triền cái.
"-- Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Thế nào là năm? Dục tham triền cái, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Sân triền cái... Hôn trầm thụy miên triền cái... Trạo hối triền cái... Nghi hoặc triền cái, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), IV. Phẩm Triền Cái, X. Triền Cái)
Thành ra cái này mà mình học ba tháng cũng chưa hết cái bài kinh này nữa nếu học mỗi ngày, không phải nói đơn giản đọc kinh mà hiểu đâu, không có đơn giản. Bây giờ đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, giữa một người xấu người đẹp, giữa người giàu người nghèo, giữa người cao và người thấp hèn ở dưới sao tâm mình đạt được bình đẳng?
"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Đang thấy Ta, là thấy Pháp." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Bây giờ mấy vị mà con mắt không thấy đường lúc đó có đọc được không? Có thấy pháp không? Không thấy đường là con mắt n nói cái pháp vô thường, pháp suy lão, sanh, già, bệnh, chết, pháp vô thường, pháp biến hoại là không đọc được cái chữ đó mà vẫn đọc được pháp, chứ không phải mắt nhìn không thấy rồi là không đọc được pháp. Đọc pháp ở ngay con mắt không thấy đó, như vậy gọi là không thấy mà thấy, còn có người mở mắt nhìn thấy mà đọc cái miệng không à, không chịu quán chiếu theo thì thấy mà không thấy. Chỗ này sâu sắc, lúc đầu pháp là cuốn kinh, là bài tụng nhưng lần lần mình tu pháp chính là ở bên trong con người của mình, vận dụng cái pháp ra để thấy, để nghe, để ngửi, để nếm, để xúc, để biết, để cảm thọ, để tưởng, để suy nghĩ, để nhận thức.
Pháp an trú trong con người của mình thì như vậy mình nghĩ rằng mình nhìn đọc cái chữ đó, đọc cái câu đó, mấy người con mắt sáng đọc được còn mình con mắt mình già nên mờ rồi, con thấy có mấy người nheo neo con mắt là không thấy. Mình nghĩ mình nheo nheo như vậy là mình không đọc được nhưng không phải, mình đọc cái pháp sống dầu cho cái miệng mình không đọc nhưng mà mình tác ý "con mắt này là khổ nè, con mắt này là vô thường, con mắt này là biến hoại, con mắt này giờ không thấy đường nữa, cận thị, loạn thị, viễn thị, khiếm thị".
Nếu ngay lúc đó mình tác ý như vậy thì có phải mình đang thấy pháp không? Mà đang thấy pháp là có phải thấy Phật không? Đang thấy Phật như vậy mình có niệm Phật không? Đó gọi là đệ tử của Đức Phật, bậc thánh đệ tử tùy niệm Phật, nhập được pháp lưu, con đi cái đường vô thất tả tơi hết trơn, lá tre rồi cây rớt trên đầu, chậu rớt bể nè, phải nhập được pháp lưu, phải niệm vô thường, niệm biến hoại, niệm huỷ hoại, niệm hoại diệt chứ không phải thấy "bữa nay bão nên dơ tùm lum, một hồi đi quét". Cái đó là đương nhiên rồi nhưng mà cái để nhập được pháp lưu đó quan trọng như vậy gọi là niệm pháp mà niệm pháp là niệm Phật đó.
Phật chính là pháp, pháp chính là Phật mà niệm pháp với Phật nhập một thì gọi là pháp thân của Phật. Hồi xưa con học ở trường mấy chục năm mà con không biết pháp thân là cái gì, cứ ngồi tưởng tượng là hư không, bây giờ pháp thân rất là rõ. Hôm nay là pháp thân đó, pháp thân ấm không? Pháp thân lớn không? Pháp thân rộng không? Pháp thân ngọt không? Pháp thân có thương không? Pháp thân có độ lượng không? Có từ bi không? Có tha thứ không? Có bao dung, có hỷ xả không? Đó là đức của pháp thân và khi tất cả những người trong tăng đoàn đều thực hành pháp, sống trong pháp, nhìn với nhau bằng pháp, suy nghĩ bằng pháp, cảm thọ bằng pháp, nhận thức bằng pháp thì pháp thân hòa nhập với tăng thân làm một. Đó là đồng thể tam bảo, vi diệu không? Đâu có riêng đâu.
Nếu mình tách riêng ra thì Phật thân riêng, pháp thân riêng, tăng thân riêng. Nếu mình thể nhập cái pháp thì ba cái này nhập thành một nhất thể, đồng thể tam bảo, cho nên ai thấy ta người đó thấy pháp mà đang thấy pháp tức là đang thấy ta, đang thấy ta là đang thấy pháp. Như vậy Phật với pháp là một thôi, chẳng qua khi Đức Thế Tôn còn thì nhìn cái nhục thân mình nói là Đức Phật nhưng mà đâu phải, cái đó là sanh tử pháp cho nên vị Tỳ-kheo nói con trông, con nhớ, con đợi, con chờ, con hy vọng, con khát khao để nhìn thấy Thế Tôn thì Thế Tôn nói thôi vừa rồi, cái thây thúi này, nhơ nhớp, bẩn thỉu có đáng gì đâu để mà nhìn.
"-- Này Vakkali, nếu Ông không có gì tự trách mình về giới luật, vậy Ông có gì phân vân, có gì hối hận?
-- Ðã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được thấy Thế Tôn. Nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn.
-- Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Khi Đức Thế Tôn còn tại thế ngài đã phủ nhận cái thân ba mươi hai tướng hảo này, ngài đã nêu cao cái chánh lý, cái chánh trí, cái chánh pháp và cái pháp. Thôi ông nhìn thấy là nhìn thấy tứ thánh đế, ông nhìn thấy là nhìn thấy khổ thánh trí, ông nhìn thấy là nhìn thấy ngũ uẩn thì lúc đó ông thấy ta, còn nếu ông thấy cái thân này là thân ta thì thôi vừa rồi, cái thân hôi thối này. Vi diệu lắm, lúc nào muốn thấy Phật là thấy được liền, lúc nào muốn thấy pháp là thấy được liền.
Bây giờ xào xạc mưa gió, cây rơi lá đổ thì có thấy pháp không? Vô nhà bếp lửa đốt lên có thấy pháp không? Đó là thấy lửa sân, phải thấy pháp, nhập được pháp lưu, tu tập pháp tùy niệm. Cho nên con chỉ quý vị cách niệm Phật nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, nhiều góc độ tác ý lắm, không phải niệm Phật là như mình hiểu đơn giản đâu. Có ai còn nhớ đọc cho con ý nghĩa câu "Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác" ra tiếng Việt không?
Thầy Thiện Huệ:
Con chân thành đảnh lễ
Bậc tôn kính nhất đời
Tâm hoàn toàn thanh tịnh
Diệt tận tham, sân, si
Bậc thấu suốt tột cùng
Thân tâm và thế giới
Đấng giác ngộ hoàn toàn
Phật Thích-ca Mâu-ni
Sư Phụ: Đó là con dịch ra tiếng Việt cái câu "Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác". Khi mình niệm, mình nhớ Đức Phật là mình soi lại mình, thí dụ như mình nhớ chữ "bậc tôn kính nhất đời" là hai chữ Thế Tôn, Thế Tôn là được cả thế gian tôn kính, cả thế giới tôn thờ, cả lịch sử tôn trọng. Bây giờ mình coi cái đời sống của mình như vậy có nhục không? Tại sao mình hơn thua với huynh đệ cùng tu với mình? Mình có đáng tôn kính không hay là mình đáng nhục? Tại sao mình còn tham dục nhiều như vậy? Mình có xấu hổ không? Đó là mình niệm Thế Tôn rồi mình xoay lại mình. Tại sao mình còn bản ngã như vậy? Thế Tôn diệt tận bản ngã thành tựu thánh trí vô ngã, thể nhập pháp thân Niết-bàn bất động, tại sao là mình còn yêu, còn thích, còn khoái, còn nắm, còn giữ cái bản ngã nhục nhã này?
Đó là mình đang niệm Phật, mình niệm Phật rồi mình đối chiếu lại mình, rồi mình ngưỡng vọng lên, mình hướng thượng lên, mình mới thấy mình còn thấp hèn thì từ chỗ đó cái tâm mình mới hướng tới, mới có thể bỏ được những cái đáng bỏ và những cái không có ra gì hết, cái thứ rác rưởi, cặn bã, vô ích, vô nghĩa trong cuộc đời này. Thế Tôn là thân tâm hoàn toàn thanh tịnh là ý nghĩa của chữ A-la- hán đó. Tại sao thân tâm của mình cấu nhiễm như vậy? Chuyện có chút xíu là mình bỏ không được, đi vô lạy Phật đi, đi vô quỳ trước tượng Phật sám hối đi. Tức là nó khởi trong tâm của mình thôi chưa nói ra ngoài là mình thấy xấu hổ, mình đi ra quỳ, mình ra niệm Phật
Chữ Như Lai là làm sao nói vậy, nói sao làm vậy mà giờ mình nói dóc, mình nói dối với người ta, mình có xứng đáng làm con Đức Như Lai chưa? Như vậy đó là mình đang niệm đó, mình niệm Phật để mình hướng thượng chứ không phải niệm Phật là chỉ niệm Đức phật không thôi, phải quay trở lại soi chiếu với mình từ đó mình có công năng, tác dụng đưa mình lên, như vậy là pháp có khả năng hướng thượng. Đức Phật là bậc xứng đáng cúng dường giờ mình bưng bát cơm này mình ngồi mình ăn hỷ hả như vậy, thích thú, đam mê, khoan khoái như vậy, ở trong cái lạc thú của miệng lưỡi như vậy mình có xứng đáng cúng dường không? Đam mê trong cái ăn uống, mình bỏ giờ tu học chạy theo những cái lạc thú của cái môi, cái lưỡi, cái miệng này mình có xứng đáng được cúng dường không? Mình sân si ở trong những cái này mình có xứng đáng với bậc Ứng Cúng không?
Đó là mình niệm Phật đó và có khả năng hướng thượng, có gì ăn nấy, ai cho gì dùng nấy, mình không có đòi hỏi, mình không có bày ra. Có khi mình làm mất thời giờ của đại chúng, mất thời giờ của người khác, khi mình bày ra cái này thì mấy người phải phụ mình rồi người ta bỏ giờ tu, giờ học của người ta. Có khi nó trá hình nữa, rồi tôi cúng cái này, tôi cúng cái kia rồi đem ra bày làm tùm lum hết trơn, bắt người khác phải đi làm theo ý của mình mà mình tưởng đâu đó là tốt nhưng cái đó là bất thiện. Thành ra mới nhận diện nó sâu sắc lắm không phải là đơn giản, những cái món ăn phụ, ăn chơi, một tuần lễ mới làm một lần, không phải thích là xuống làm, nói "con cúng con xuống con làm", bắt người ta phải đi làm theo bỏ giờ tu học với mình, không phải vậy.
Thành ra phải rất sức vi tế, sát sao, mình niệm Ứng Cúng, mình niệm Minh Hạnh Túc là như thế nào? Là đức hạnh, là tam minh, những đức hạnh, những giới đức của Đức Phật. Bây giờ mình vậy thì mình thấy xấu hổ, thấp kém, mình thấy mình buồn tủi, mình vô mình quỳ hướng lên Đức Phật, mình xúc động ở trước Phật, thậm chí mình khóc với Phật rồi mình lạy Phật. "Lạy Đức Thế Tôn con không muốn xấu hổ như vậy, con không muốn thấp hèn như vậy, con muốn cao thượng lên, con muốn đi theo bước chân của ngài", đó là mình niệm Phật đó, mình niệm cái đức Chánh Biến Tri là cái biết thấu đáo, phổ quát cùng khắp hết chứ không phải mình biết chút là mình hài lòng, mình hiểu chút là mình thỏa mãn.
Mình phải học thêm, mình phải hiểu thêm, mình phải quán thêm, mình phải tư duy thêm, mình phải nghiền ngẫm thêm, mình phải thể nhập được những cái trí tuệ thượng nhân này, những cái trí tuệ thù thắng để cho đến ngày cuối cùng cuộc đời các bậc đồng phạm hạnh hỏi mình "hiền giả có đạt được tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh không?". Ngày cuối cùng của cuộc đời mình sẽ không có hối hận cho nên mình tăng thượng, hướng thượng về cái tuệ, về thánh trí và trong khi niệm Chánh Biến Tri mình có vượt qua được cái bốn dòng thác lũ này chưa, dục – hữu – kiến – vô minh mình có vượt qua được chưa, mình niệm bậc Thiện Thệ đó.
Mình niệm mỗi một cái đức của Phật là mình phải soi lại mình, mình coi mình đã làm được cái gì ở trong những cái đức hạnh của Thế Tôn, đó là niệm Phật. Có khi mình niệm rồi mình sẽ buồn mình, trầm tư, mình hối hận, mình đau khổ, mình ray rứt, mình buồn tủi là cái đó cũng tốt, đó là thiện pháp nhưng có khi mình niệm rồi mình sẽ hân hoan, mình vui sướng, mình hạnh phúc. Cái đó cũng tốt cho nên cái buồn hay cái vui không quan trọng mà cái đó thiện hay là bất thiện mới quan trọng. Nó đi sâu vào bên trong kiểm tra, kiểm soát lại mình, chứ không phải cái niệm ở trên môi, trên miệng, đọc đi qua trong bụng có gì hết.
Niệm là nó phải sâu sắc, phải thấm thía, phải nội soi vào bên trong rọi lại hết. Mình đem cái đức của Phật, cái hạnh của Phật, cái trí của Phật để mình soi chiếu lại thân tâm của mình đó là mình niệm Phật, niệm Phật cũng là niệm mình, cái cách mình niệm dục – hữu – kiến – vô minh thì mình có vượt qua bốn vòng thác lũ này không. Dòng thác lũ của dục, vòng thác lũ của hữu ái, dòng thác lũ của thân kiến và dòng thác lũ của vô minh mình vược qua được bao nhiêu. Khi mình đọc lên là bậc Thiện Thệ là bậc khéo vượt qua bốn dòng thác lũ mà mình còn ở trong này đắm chìm, ở trong này trôi dạt, phiêu bạt ở trong này.
Mình niệm Thế Gian Giải mình niệm thông giải hết tất cả cái ngũ uẩn thế gian này, thế giới này, có cái gì đâu thế giới này, có cái giống gì đâu, có những thứ vô thường, biến hoại, tan nát, huỷ hoại, hoại diệt thôi. Sáng nay con mới nói với chú Nam chuẩn bị đổ mấy xe đá vô bao để đưa lên nóc nhà, vài bữa nó thổi bay hết trơn. Cái đợt mấy năm trước tụi con ngồi đang học pháp ở đây mà gió thổi nửa cái nóc nhà ni xá bay lên như mà vẫn ngồi đây học, vẫn ngồi đây học pháp, có số người nhìn con nói không sao hết, cứ ngồi học pháp, nhà nó bay mà pháp không bay, thân nó có chết nhưng mà pháp bất tử.
Quý vị tưởng tượng mấy năm trước, con không nhớ chính xác hai ba năm gì đó, đang nghe pháp mà gió thổi nửa cái nóc nhà bay lên như lá chuối. Con nói mọi người an trú vô pháp, sập cái nhà này xuống ngay cái nhà này cũng phải an trú vô pháp, đừng có để tâm giao động ra khỏi pháp. Đó là nhập pháp lưu, tùy niệm pháp, ngoài pháp ra tất cả đều vô nghĩa, ngoài pháp ra tất cả đều vô thường, ngoài pháp ra tất cả đều vô giá trị, ngoài pháp ra tất cả đều là vô tích sự, ngoài pháp ra là tất cả là vô phận sự, không có phận sự gì ngoài pháp hết. Làm bất cứ cái gì mà không an trú pháp thì coi như vô tích sự, không làm được trò trống gì hết, cả một cuộc đời con là một chữ pháp thôi mà cả một cuộc đời chúng ta cũng là một chữ pháp mà cả cuộc đời thánh đệ tử là một chữ pháp thôi.
Pháp là mẹ sanh ra Chư Phật, từ pháp mà Đức Phật chứng ngộ thành Phật, sau nó ngài truyền lại chánh pháp thì mới có cái dòng thánh tạng này, mới có đạo Phật trên cuộc đời này. Như vậy mình làm cái gì mà không có pháp ở trong đó thì đừng có làm, bỏ làm đi tu đi, nếu mình làm có pháp thì cho làm, được không? Phải nhập cho được pháp lưu, ở trên núi này là phải nhập cho được pháp lưu thành ra chữ Phật là thấy và thoát cấu uế. Tuyệt vời lắm, trong mỗi cái suy nghĩ của mình, mỗi cái hình bóng, mỗi cái nhận thức, mỗi cái cảm xúc, cảm thọ phải đem pháp ra, áp đặt pháp vô, khi nó chống cự lại cũng bắt phải áp đặt vô pháp "không cho mày nghĩ ra ngoài pháp, tao xử lý mày, mày dám đi ra ngoài pháp tao xử mày". Đó là người chiến đấu, là người dũng sĩ, là người chiến sĩ, là người đi theo gót chân của bậc Vô Thượng Sĩ, chịu không?
Đi tu rồi cứ nghĩ cái đời, nghĩ cái chuyện thường tình thế gian, cứ nghĩ ông thầy la mình, ông khó, cứ nghĩ mấy vị lớn sao rầy mình. Mình ở đâu? Vừa nghĩ cái đó là không có pháp rồi, mù rồi, phải nghĩ mình học được cái gì trong lời dạy đó, mình sửa đổi được cái gì trong cái sự giáo huấn đó, mình hướng thượng được cái gì trong cái pháp hành cao đẹp này, gạt bỏ cái tôi, cái ta qua một bên thì mới học được cái pháp không có tôi, có tôi hoài thì sao mà học. Nhiều khi không có chuyện gì cũng phiền não nữa, tâm này là đại ảo thuật gia, nó vẽ vời ra đủ thứ kiểu hết trơn, vẽ để đi xuống núi, vẽ để đi vô trong nhà lửa, nó vẽ để đi lang thang, sống vất vơ vất vưởng vậy đó, nó dắt đi, nó dẫn đi, nó kéo đi, nó lôi đi. Cho nên thương sao là thương mà ấm sao là ấm, ngọt sao là ngọt.
"- 'Hãy nhập cuộc, này Mahànàma với lòng tin, không phải với không lòng tin. Hãy nhập cuộc với tinh cần tinh tấn, không với biếng nhác. Hãy nhập cuộc với trú niệm, không với thất niệm. Hãy nhập cuộc với định, không với không định. Hãy nhập cuộc với trí tuệ, không với liệt tuệ'." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Phải nhớ nha con, con nhớ nha con, không nhớ là con khổ lắm nha, con đừng có quên con cái đống cát bụi này, con đừng có quên cái đống đất này, con đừng có quên cái làn gió này, con đừng có quên cái đốm lửa nhỏ của sinh mạng này. Con đừng có quên nha, con quên là con khổ lắm, con sẽ chết dài dài, chết hoài hoài, chết mãi mãi, chết vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp, con chết tức tưởi, chết bờ chết bụi, chết nhục chết nhã, chết cay chết đắng, chết oan chết ức, chết thối, chết bẩn, chết thỉu, con chết dài dài, con chết hoài hoài, con chết mãi mãi, con chết trong khốn nạn, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, hiểm nạn, nguy nan, con phải nhớ, con đừng có quên.
Thế Tôn thương mình sao là thương, mình nói mình thương giống như ngài đang ở kế bên mình, đang ngồi ở trên đầu mình, "Này tụi con, ta đã nói hết lời với tụi con, sao con không nghe?". Thế Tôn kêu niệm Phật có nghe không? Đức Phật kêu mình niệm Phật mình có nghe không?
"Ở đây, này Mahànàma, Ông hãy tùy niệm Như Lai: 'Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Hãy nhớ về Như Lai, đây là Thế Tôn là bậc thế gian tôn kính, tâm hoàn toàn thanh tịnh, bậc thấu suốt tận cùng thân tâm và thế giới, bậc đầy đủ những đức hạnh, những trí tuệ tam minh, bậc khéo vượt qua bốn dòng thác lũ, bậc thông hiểu hết tất cả thế gian, thế giới này, bậc vô thượng, bậc điều phục và chế ngự những người có trí, bậc thầy trời người, bậc đại giác ngộ.
"Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai, trong khi ấy, tâm không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh, tâm không bị si ám ảnh, trong khi ấy, tâm được chánh trực nhờ duyên Như Lai. Vị Thánh đệ tử, này Mahànàma, với tâm chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có hân hoan, hỷ sanh; khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định tĩnh." (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Tin nhận được cái nghĩa lý, tinh nhận được thánh pháp, tâm sẽ được hân hoan liên hệ đến pháp, tâm được phấn khởi, được phơi phới, được sung sướng. Khi có hân hoan hỷ sanh, tâm được phấn khởi, tâm được phơi phới, tâm được sung sướng thì lúc này cảm thọ vui. Khi có cảm thọ vui rồi thân sẽ được nhẹ nhàng, cảm giác sẽ được dễ chịu và bấy giờ tâm định tĩnh. Tâm định tĩnh dầu cho mái nhà có tóc mái vẫn ngồi an trú vào pháp, đó là tâm định tĩnh, dầu có tai nạn xảy ra đối với thân này vẫn không quên vô thường, khổ, vô ngã, biến hoại và chứng kiến, chứng nhập, chứng ngộ sự thật về khổ ngay khi cái thân xác này tan hoại, rã nát.
Tâm được định tĩnh giữa thiên hạ đại loạn, tâm này được bình tĩnh giữa giông tố, bão bùng, thân này được ngồi yên giữa những người sân hận hơn thua, tâm này cúi đầu vô tranh đối với thế gian, giữa sóng cả của dục vọng trên cuộc đời này tâm này mát lạnh, nguội lạnh. Tâm này ngao ngán, nhàm chán, yểm ly, chán lì, tâm này bình an, tâm này rời xa, tâm này thoát ra, tâm này phát giác, phát hiện ra một cái cao thượng hơn, cao cấp hơn, cao quý hơn, cao đẹp hơn những thứ thấp hèn, tồi bại của thế gian này.
"Này Mahànàma, như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống đạt được vô sân với chúng sanh có sân, nhập được pháp lưu, tu tập Phật tùy niệm" (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (I). Mahànàma (1))
Bậc thánh đệ tử sống với tâm hiền, tâm từ, tâm ngọt ngào tràn đầy tình thương giữa những người hung hăng, hung tợn, hung bạo, hung tàn, hung dữ. Tâm bậc thánh đệ tử hiền lành, dễ thương, ngọt ngào. Ôi đẹp biết bao nhiêu là tâm của thánh đệ tử, đáng kính biết bao, đáng ngưỡng mộ biết bao, đáng lễ lạy, đáng chấp tay, đáng cúng dường, đáng tôn trọng. Hãy hướng về tâm này, hãy nghiêng về tâm này, hãy nhập vào tâm này, hãy hòa cùng một thể với tâm này, nhập được pháp lưu, tu tập Phật tùy niệm, pháp tùy niệm, tăng tùy niệm. Hạnh phúc quá đi, hân hoan quá đi thôi, hỉ lạc quá đi thôi.
Khi thánh đệ tử nhớ Như Lai, nghĩ về Như Lai, niệm Đức Như Lai trong khi ấy tâm không bị tham ám ảnh, không bị sân ám ảnh, không bị si ám ảnh che đậy, trong khi ấy tâm được chánh trực nhờ nhớ nghĩ về Như Lai tâm được thể nhập vào dòng pháp. Chúng ta đang tắm mình trong hồ sen trong xanh, sạch thơm, mát và đẹp, rộng lớn, thấy cả thiền đường này là đại liên trì thanh lương, trong sạch, mát mẻ, ngọt ngào và tươi đẹp. Mỗi người cầm trên tay mình một đóa sen, mỗi người trong tim mình một liên hoa, mỗi người toàn thân này là trổ hoa, nở hoa từ đảnh tóc cho tới gót chân, từng lỗ chân lông là một đóa sen nở ra, tỏa ra tròn đầy viên mãn, tươi đẹp, thơm ngát, có sắc và có hương.
Những đóa sen này bay về Linh Thứu và trên Linh Thứu nở ra ngàn vạn đóa liên hoa, những đài sen của các bậc thánh hiền và những đóa sen tâm này hòa nhập cùng những đóa sen tâm hiền trí, hiền đức, hiền thánh. Những đóa sen của hiện tại xuyên không hòa nhập vào những đóa sen của quá khứ thánh hiền và trăm ngàn vạn đóa sen này hòa nhập vào một đóa sen vĩ đại, vô lượng, đầy khắp hư không giới của Đức Thế Tôn. Tất cả đều tan chảy nhập vào pháp lưu, thuận theo pháp tánh và cả địa cầu này là một hoa sen vĩ đại tỷ cánh. Và những địa cầu khác nở hoa, cả thái dương hệ này, cả hành tinh này đều nở hoa sen trong giải ngân hà, tam thiên, đại thiên, mười ngàn thế giới đều là những đóa hoa sen hiền thiện, thánh thiện và hòa nhập với nhau trở thành một đóa hồng liên chánh giác giải thoát, thanh tịnh, thanh cao, cao thượng, thánh thiện.
Trăm ngàn, vạn ức, tỷ đóa sen dung hòa tan chảy làm một và đóa sen vĩ đại này được Đức Thế Tôn cầm lên và ngài kêu gọi các con ơi về đi, về bên Như Lai, về bên chánh trí, về bên thánh chúng để hưởng hạnh phúc tối thượng của Niết-Bàn tịnh lạc.
Sư cô Ấn Hạnh: Con xin được cung kính đảnh lễ ân đức Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con xin được cung kính đảnh để ân đức trên bậc đạo sư, con xin được cung kính đảnh để ân đức bậc ân sư tôn kính, con xin được cung kính đảnh lễ ân đức chư tôn thiền đức cùng tất cả các bậc hiền trí. Khi vào đầu bài giảng thì sư phụ có nhắc chúng con là sư phụ cho chúng con được xem những hình ảnh vô thường và những hình ảnh ấy được xảy ra chỉ có mấy ngày trước, đó là sự thật đang hiện hữu trong đời sống mà chúng con đang sống thì trong con cảm xúc thật là dâng trào.
Khi được nhắn đến hai chữ vô thường nó luôn cho con một cái cảm thọ thật là rung chấn trong tâm của con những cái tưởng nó hiện khởi trong con. Con cảm nhận được sự vô thường trên chính tự thân này, những hình ảnh trong quá khứ lại hiện về, cái hình ảnh mà làm con khắc sâu nhất là con nhớ lúc đó con học lớp hai. Khi con đi học tan trường về thì nhà của con gần ở chợ, khu chợ ấy rất là đông và khi con đi về thì trên đường đi ngang chợ dù là con đi sát cái bờ lề nhưng có một cái chiếc xe. Do con còn nhỏ và chú chở đông không thấy con đứng, chiếc xe ấy vô tình chạy đến và khi chú nhìn thấy con thì chiếc xe ấy đã đụng vào con, chú đạp thắng và bóp thắng rất là mạnh và cái thắng ấy nó trúng vào ngay cái tầm mắt của con.
Lúc đó thì con cũng gần tới nhà thì người thân mới đưa con đến trạm y tế thì máu chảy rất là nhiều, khi cô y tá may cho con và nói với mẹ con rằng "cô bé này may mắn chỉ cần lệch một chút xíu thì có thể là bé sẽ bị mù suốt cả một đời bởi vì nó cách mắt chỉ có một tí thôi nhưng mà may mắn là nó rách ngoài da". Cái vết thẹo ấy nó vẫn theo con, con nhớ câu nói của cái cô y tá ấy là "cô bé này may mắn nếu không thì sẽ bị mù" và con lại nhớ tiếp tục một cái hình ảnh khi con được học lớp tám thì trường có tổ chức dã ngoại. Cô giáo cho chúng con về một gia đình có khu đất rất là rộng để tổ chức cái buổi dã ngoại để kết thúc năm học, lúc đó con không có biết bơi, con thấy cái hồ nước cái ao nước ở trong cái nơi nhà bạn học của con thì chúng con leo lên chiếc xuồng gọi là xuồng ba lá theo miền tây gọi.
Con không có biết là cái ao đó sâu và con với một cái người bạn lên chiếc xuồng đó bơi và con cứ nghĩ là ao đó rất là cạn, ví dụ mình có té xuống thì mình leo lên nhưng con không ngờ khi bơi giữa cái ao đó thì bạn con cắt cớ lắc chiếc chông chênh làm con té xuống và chìm thẳng xuống dưới nước. Lúc đó cảm giác con là con không có con ý thức được rằng mình không biết bơi nhưng mà lúc đó thì có một cái suy nghĩ "mình không biết bơi mà nước này sao mà nó chìm mình xuống tuốt ở dưới rất là sâu". Ngay lập tức trong con nhớ lại con nói "nếu mà mình không biết bơi mình té xuống thì mình chết như vậy ba mẹ mình mà hay chắc là đau lòng lắm"
Khi con nhớ đến như vậy thì tự nhiên con cảm nhận có một cái lực đẩy con vọt lên trên mặt nước, có những người đứng ở trên bờ mới nhảy xuống và kéo con lên được. Khi kéo con lên được thì lúc đó con cũng đã uống rất là nhiều nước, con nghe chú đó chạy ra nói với mọi người "cái ao này rất là sâu, nó sâu bốn – năm mét lận mà cái cô này chắc không biết bơi nên là uống rất là nhiều nước, mà cổ cũng mạng lớn chứ nếu không biết bơi mà với cái độ sâu bốn – năm mét như vậy thì có thể không thể nào sống được".
Con nhớ lại hai cái hình ảnh đó trên tự thân của mình mà lúc đó con không biết gọi là vô thường là như thế nào nhưng khi con hiểu được cái chữ vô thường, con nhớ lại thì nó cho con một cái cảm xúc rất là dạt dào. Con cảm nhận được cái đời sống này nó rất là nguy hiểm, bất kỳ lúc nào mình cũng có thể rời cái cuộc sống này và những hình ảnh con coi đêm qua, lũ lụt hay là giông bão thì con cũng quê con sống thì vùng Cà Mau thì rất là ít bạo tố, cái thời con sống mà nói đến bão là người dân nơi đó thật sự không có cảm nhận được cái bão. Nhưng mà con nhớ năm 1997 đài thông báo có cơn bảo số năm mà hoàn toàn mọi người ai cũng rất là bình thường, cứ nghĩ bão là những cơn gió hơi mạnh một tí, một chút thôi thì kêu là chuẩn bị để phòng bão.
Con thấy mọi người nhất là cái khu người dân nơi con sống rất là thờ ơ với những lời kêu gọi ấy, họ nói "trời chỉ là những cái cơn gió thôi" nhưng mà trong cái ngày hôm đó lúc ba giờ đến bốn giờ chiều thì giông nổi lên rất là lớn mạnh mà cúp điện. Nhà con nằm đường quốc lộ thì bên đây nhà cũng kiên cố nhưng mà phía sau nhà của chúng con thì có một cái bờ sông và phía bên người dân ở bên cái phía bờ sông là nhà chỉ là cấp bốn và nhà lá, đa phần là nhà lá. Con nhớ hoài hình ảnh khi con đứng trên lầu một để con nhìn qua cái hướng bờ sông khi bão ập đến thì gần như là một cái dãy mười mấy căn nhà gió thổi y như cái cảm giác lau sậy mà gió thổi đến đâu là nó nghiêng như vậy theo chiều gió.
Con nhìn cái hình ảnh đó con cứ nhớ hoài, con nói mọi người cứ nói là bão chỉ những cái cơn gió bình thường thôi. Chính vì những cái cảm nhận đó từ cái cuộc sống thì có một cái sự chấn động trong tâm của mình, và khi con được trở để tu học trên Linh Quy con đọc được những cái bài kinh mà Đức Thế Tôn nói trong bài kinh Tất Cả Lậu Hoặc ngài nói là ngài giảng pháp cho những người thấy và người biết chứ không phải người không thấy không biết thì câu đó làm cho con xúc động rất là nhiều. Khi con ở ngoài đời thì những gì con được thấy là những gì mà con được cảm nhận cái sự vô thường trong cuộc sống này, sự nguy hại trong cái cuộc sống này, những cái biến cố, những cái thiên tai, những cái nguy hiểm trong cuộc sống này. Con xin cảm ơn lời dạy của Đức Thế Tôn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 1: Con xin kính đảnh lễ Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni, con xin được phép sư phụ con được đảnh lễ sư phụ cũng như tất cả các sư thầy, sư cô, các bậc hiền trí đã cùng nhau ở trong ngôi nhà Nikāya tại Linh Quy Pháp Ấn này. Giờ phút này hôm nay sư phụ cho con được chia sẻ, được cảm nhận ngũ uẩn và đây cũng là những ngày vừa qua con rất là may mắn, hạnh phúc, hạnh phúc vô bờ khi được sống trong cái thiện pháp này, cái chánh pháp này mà nhiều năm nay con đã đi, đã hằng mong ước và tìm cầu và con không nghĩ rằng sự thật đã hiện ra tại nơi đây. Con vô cùng biết ơn và con xin sư phụ cho con một những cái ân đức những cái phát tâm, những cái ước nguyện của con để sau này con có thể được học tiếp, được sư phụ chỉ dạy tiếp để con được sống trong cái giáo pháp này, cái giáo pháp mà sư phụ đang dẫn dắt chúng con, đang dìu dắt chúng con, cho chúng con được thể nhập vào cái dòng thánh pháp này. Chúng con vô cùng hạnh phúc, con vô cùng hạnh phúc và buổi tối hôm qua được xem, thấy biết những cái hiện tượng vô thường diễn ra thì trong tâm con cũng cảm nhận được, cũng nhận được cái sự vô thường đó.
Cụ thể là sáng nay sư phụ giảng lại thì chúng con càng rõ biết ơn và con cũng suy nghĩ rằng một ngày nào đó, thậm chí là có xảy ra trong lúc này con cũng sẵn sàng bất động giữa những các vô thường này diễn ra. Và chính những sự sách tấn cũng như những lời, những giọng nói nhấn mạnh, những giọng nói đầy xác quyết của sư phụ mà con đây cũng được một lần nữa được thể nhập vào cái dòng giáo pháp này mà con hằng mong ước. Đây cũng là cơ hội cho con được về đây tiếp tục được trải nghiệm, được cảm nhận, được sống trong những sự yêu thương, sự đùm bọc, sự dẫn dắt, chỉ bảo của các vị thầy, các vị bậc hiền trí, các vị đồng tu, các quý vị cùng chúng con hằng ngày. Mong rằng cũng tiếp tục được sự chỉ bạo tiếp theo và được gần gũi các quý vị cũng như gần gũi giáo pháp, gần gũi sư phụ để chúng con được sống những mảnh cuộc sống, những phần sống còn lại, mặc dù con năm nay 44 tuổi nhưng con cũng thấm nhuần được việc phải lên đường học Phật, lên đường tu Phật, lên đường để chúng ta cảm nhận được cái giáo pháp, cảm nhận được cái sự sống, cảm nhận được sự vô thường này. Dạ bằng đấy những suy nghĩ, những trăn trở, những cảm nhận của con, con xin biết ơn trên sư phụ cũng như các quý sư thầy, sư cô, các vị hiền trí đã cho được nói ra cái trải lòng của mình, cái cảm nhận của mình, biết ơn tất cả thầy ạ.
Giới tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính bạch sư phụ và chư tăng, chư ni và các bậc hiền trí. Dạ con xin kính thưa sư phụ, từ lúc con lên đây một tháng nay con rất là biết ơn sư phụ.
Sư Phụ: Cô hướng vô trong lồng ngực niệm an tịnh, lắng dịu.
Giới tử 1: Dạ con lên đây con định cúng chay tăng cho cha con xong rồi con đi xuống núi, nhưng mà không ngờ con lên đây con gặp được sư phụ và con gặp được những sư cô rất là hiền thiện, hiền trí cho nên con quyết định ở đây con không có xuống núi nữa. Con học những cái tâm hiền, cái tâm ngã mạn, cái tâm kiêu mạn của con. Con xin hết, con xin cảm ơn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Không sao hết, cứ từ từ hít thở vô, an tịnh, lắng dịu, từ từ chia sẻ thêm chút, không sao, cảm nhận được gì.
Giới tử 1: Con xin chia sẻ thêm là lúc con lên thì bữa đó trời bảo, con mua vé rồi mà con chưa hề biết đường đi nước bước như thế nào, con nói "trời bão lên đó chết làm sao", con hồi vé con không đi thì nguyên một ngày đó cái cảm thọ của con cứ thôi thúc bắt buộc phải đi, xong rồi con nói "chết con cũng phải đi".
Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay.
Giới tử 1: 10:00 giờ con đặt vé xong 12:00 giờ là con quyết định là con đi. Con nói giờ chết con cũng đi nữa, con đi lên hỏi người ta người mấy tiếng tới, người ta nói sáu tiếng mà trong khi đó mới bốn tiếng tới là 4:00 giờ con ở dưới chân núi mà con sợ cướp rồi con sợ người này người kia, con không biết tại vì con thấy trên núi vắng vẻ. Con đợi thì người ta kêu con lên núi Linh Quy không, con nói con chưa lên được để 7:00 giờ rồi con lên tại vì tối quá con không biết đường như thế nào. Con ngồi đó trời mưa xong rồi tới 6:00 giờ mấy người ta kêu thì con nói con lên, con thấy được những cái tình cảm của sư phụ và những tình cảm của chư tăng chư ni đối với người chung quanh, người mới hay người cũ như thế nào đó mà con cảm thấy ấm áp, con quyết định ở đây. Con nói với con con là con sẽ chết cũng ở trên đây luôn. Con xin cảm ơn sư phụ.
Sư Phụ: Vậy là cô huỷ cái vé rồi cô mua lại vé khác?
Giới tử 1: Con huỷ cái vé đó xong rồi nguyên một ngày từ sáng tới chiều đó là con người con thôi thúc, con cứ mở cái trực tiếp ở trên đây là con muốn đi mà cái chân con nói "Ủa bão vậy sao đi" cái con huỷ vé. Nguyên một ngày đó cảm thọ của con cứ khóc, khóc rồi không, không rồi khóc, tối đó tới 10:00 giờ con quyết định là con đặt vé lại, 12:00 giờ con đi là 4:00 giờ con tới đây.
Sư Phụ: Chắc Nhờ thầy Huệ cô lên, thầy Huệ tu cô thấy rồi cô lên.
Giới tử 1: Dạ hết luôn mà sư phụ rồi, mấy sư cô rồi này kia nữa, trong lòng con nó thôi thúc, con muốn đi dữ lắm.
Sư Phụ: Vậy là chuyến đi này không có uổng công phải không?
Giới tử 1: Mà con cũng không về luôn, con xin sư phụ cho con ở đây tu đến chết luôn con cũng không về.
Sư Phụ: Cứ cố gắng từ từ ha.
Giới tử 1: Dạ con xin cảm ơn sư phụ và các cô, các chú ở đây. Con xin cảm ơn.
Sư Phụ: Đó là tình thương của quý ni sư, quý sư cô và các hiền giả đã cho các vị cảm nhận được, cảm động được và cảm hóa cho nên ở đây mình người thật, việc thật, sự thật, thành ra mình cố gắng cái tâm hiền. Cô bước lên đây cô lạy hết tứ chúng đi, lạy cảm ơn, biết ơn và con nguyện con sẽ được lòng tin bất động đối với chánh pháp cao thượng này. Nếu đổi ngược lại là con ba mươi mấy năm trước đi cầu đạo mà con gặp được đây con cũng chết không về, hạnh phúc không? Thấy cái công của mình, cái sự tu của mình dầu chưa có tới nơi tới chốn nhưng mà ít nhất thì tu học của mình cũng có đôi phần kết quả khởi sắc để mọi người chung quanh cảm nhận được. Chúng ta lấy đó là một sự tinh tấn, nỗ lực, vui vẻ, hoan hỉ ngày đêm tu học được không? Bởi vậy lên đây mà người nào bỏ đi thương lắm, thôi trải tâm thương đi.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.