Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Lộ Trình Tâm Hành Pháp - Tầm - Tứ - Hỷ - Lạc - Xả (Kinh Pháp Lược Thuyết TăngChiBộ 3)

2026-03-18 06:54:26
NIKĀYA GIẢNG GIẢI

LỘ TRÌNH TÂM HÀNH PHÁP

TẦM - TỨ - HỶ - LẠC - XẢ

(KINH PHÁP LƯỢC THUYẾT TCB 3)

–Thích Minh Thành–

Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền sĩ, hôm nay chúng ta trùng tuyên bài kinh Pháp Lược Thuyết, Tăng Chi Bộ, tập III.

"Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

- Lành thay! bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (III). Pháp Lược Thuyết)

Xin Thế Tôn nói pháp vắn tắt cho con để con đi ở một mình, để con thực hành, con đem hết lòng nhiệt thành, nhiệt tâm, nhiệt huyết của con để con thực tập những lời dạy.

"- Như vậy, ở đây, một số người ngu si, thỉnh cầu Ta, sau khi pháp được giảng, họ nghĩ Ta là người họ cần phải đi theo." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (III). Pháp Lược Thuyết)

Một số người ngu si thỉnh cầu ta thuyết pháp, sau khi ta đã giảng xong họ nghĩ ta là người họ cần phải đi theo.

"- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, Thiện Thệ hãy thuyết pháp vắn tắt. Con có thể hiểu được ý nghĩa lời của Thế Tôn thuyết giảng. Con có thể trở thành kẻ thừa tự lời Thế Tôn thuyết giảng" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (III). Pháp Lược Thuyết)

Câu ở phía trên thì chúng ta phải hiểu như thế nào? Một số người ngu si thỉnh cầu ta, sau khi pháp được gi họ nghĩ ta là người họ cần phải đi theo, cái câu này được tô đậm chữ đỏ và được gạch dưới. Đa số người tu chúng ta chạy theo trên sắc, trên tướng, chạy theo một con người, cái người chỉ chạy theo cái bề ngoài, cái hình, cái tướng, cái sắc của con người nào đó dầu cho người đó mang cái thân tướng là Đức Phật vẫn bị ngài gọi là kẻ ngu si. Vì cái thân tướng của Đức Phật cũng là một cái thân tướng tứ đại, một cái hình hài biến hoại, một cái đống bất tịnh rồi cũng tan rã, trở về với cát bụi mà Đức Phật dạy cho mình là dạy cái pháp thấy được cái sự sinh diệt, thấy được cái lý duyên khởi đó, thấy được cái tính vô thường, trống rỗng đó mà mình không nắm cái pháp đó, mình lại chạy theo con người, chạy theo cái sắc tướng của người đó thì Đức Phật gọi người đó là người ngu si.

Cái chỗ này hết sức là sâu sắc, mình hiểu được cái điều này rồi mình mới hiểu được cái bài kinh mà Đức Phật nói:

"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Đang thấy Ta, là thấy Pháp." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)

Dù ở kế bên cạnh mà không thấy vô thường, khổ, vô ngã, không thấy ngũ uẩn, không có nhiếp phục, chế ngự tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã thì ở kế bên vẫn là cách xa ngàn dặm. Cho nên nhiều khi cái tâm mình có pháp mình không nhất thiết là phải gần kế bên thầy, gần kế bên bậc đạo sư mới gọi là gần, trong tâm con không có thấy bậc đạo sư nhập diệt, con thấy bậc đạo sư là bất tử. Chính như vậy mà mỗi lần con cảm ơn là cảm ơn pháp thân, pháp thân đó là bất diệt, con không thấy ngài chết, ở trong tim con là ngài bất tử, cũng vậy đối với Đức Thế Tôn là bất tử, đó là pháp thân, pháp thân nó bàn bạc ở trước mặt mình đó. Nãy giờ những cái lá tre, lá trúc rơi trước mặt mình, xung quanh mình, trong hơi thở của mình, trong hình hài, trong cảm giác, trong hình bóng, trong suy nghĩ, trong nhận thức nếu mình luôn luôn quán chiếu nhìn nhận tính sinh diệt của ngũ uẩn.

"Người luôn luôn chánh niệm,

Sự sanh diệt các uẩn,

Ðược hoan hỉ, hân hoan,

Chỉ bậc bất tử biết"

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 374)

Người đó là không lúc nào không thấy Phật, không lúc nào không thấy pháp, sau này chúng ta sẽ học những cái bài kinh Bất Đoạn ở trong Trung Bộ để mình thấy được cái ngài Xá-lợi-phất tối thượng lắm, xuyên suốt ở trong nửa tháng trời tâm của ngài bất đoạn quán pháp và chứng thánh quả A-la-hán tức là tâm không có một cái gì mà nó xen vô hết, bất đoạn tức là không có bị gián đoạn. Như vậy lúc nào cũng thấy Phật, lúc nào cũng thấy pháp hết, còn cứ chạy theo một con người, cứ chạy theo một cái hình tướng, cứ chạy theo một cái giả danh mà không có nhìn thấy được cái pháp thân, cái sự thật, cái điều mà Đức Phật muốn dạy. Mình thấy được điều đó, mình không sống được cái điều đó, không thể nhập được cái điều đó thì Đức Phật gọi là người ngu si.

Sau khi vị Tỳ-kheo này cầu thỉnh thêm Đức Phật mới bắt đầu nói những cái pháp sau, bài kinh này tuy là ngắn nhưng mà bao gồm hết những cái pháp hành căn bản rất là quan trọng.

"- Vậy này Tỳ-kheo, Thầy cần phải học tập như sau:

'Nội tâm ta sẽ an trú, khéo vững trú. Các pháp ác, bất thiện sanh khởi không có xâm chiếm tâm và không có chân đứng'. Như vậy, này Tỳ-kheo, Thầy cần phải học tập" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (III). Pháp Lược Thuyết)

Câu phía trước là cái câu cốt tủy, là cái lõi, giờ tới câu thứ hai là cái câu tổng quát của sự hành pháp. "Nội tâm ta sẽ an trú, khéo vững trú. Các pháp ác, bất thiện sanh khởi không có xâm chiếm tâm và không có chân đứng" mấy câu này đọc không phải là dễ hiểu, an trú là ở yên, vững trú là đứng vững. Ở yên ở đâu và đứng vững ở đâu? Đứng vững trong pháp hành của mình đó, mình đang thực hành cái pháp gì, đang thực hành cái đề mục gì, thí dụ như sáng nay mình thực hành cái đề mục thiền ân đức Phật thì như vậy nội tâm mình khéo an trú vô cái đề mục đó, khéo vững trú trong đề mục đó. Ngay lúc đó có những cái tư tưởng tạp nhạp sanh khởi vô mà nó không xâm chiếp được tâm mình, nó không có chân đứng.

"Này Tỳ-kheo, khi nào nội tâm của Thầy được an trú, khéo vững trú, các pháp ác, bất thiện sanh khởi xâm chiếm tâm và có chân đứng, khi ấy, này Tỳ-kheo, Thầy cần phải học tập như sau" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (III). Pháp Lược Thuyết)

Nếu như lúc đó các ác bất thiện pháp xâm chiếm và nó có chân đứng tức là chẳng những nó khởi lên mà nó còn tồn tại trong đó nữa. Ví dụ như giận ai, ghét ai, khó chịu với ai hay là có những cái dục, tham, ái, hình bóng của ai, những cái cảm giác bất thiện sanh khởi lên, nó tồn tại ở trong đó thì gọi là xâm chiếm tâm và có chân đứng thì lúc đó Đức Phật dạy mình phải làm sao?

"Từ tâm giải thoát sẽ được ta tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành'. Như vậy, này Tỳ-kheo, Thầy cần phải học tập" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (III). Pháp Lược Thuyết)

Cái bước quan trọng mà tổng quát của pháp hành là nội tâm ta sẽ an trú, khéo vững trú và các pháp ác bất thiện khởi không có xâm chiếm tâm và không có chân đứng. Do vì mình an trú, do vì mình vững trú ở trong cái pháp hành cho nên những cái ác bất thiện nó khởi lên trong tâm nhưng nó không xâm chiếm được tâm mình, nó không có tồn tại trong nó được lâu dài. Cái này là pháp hành sâu sắc, có một cảm giác khó chịu sanh khởi lên, bực tức hay là giận sanh khởi lên là lập tức mình có một cái pháp đối trị cái đó liền, xử lý nó liền, giải tỏa nó liền, giải phá nó liền, giải phóng nó liền và giải thoát nó liền, không để cho cái cảm thọ đó nó xâm chiếm tâm và càng không để cho nó có chân đứng, tức là nó tồn tại ở trong đó một cách vững chắc.

Vì vậy ở trong chúng hay là ở trong gia đình mà mình giận một người nào đó thì tới hai, ba, bốn ngày là quá dở rồi, đó là không có biết cách tu mới có như vậy. Đó là nó vừa xâm chiếm tâm mà nó vừa có chân đứng nữa, mình phải lập tức tìm đủ mọi cách trừ khử, tống khứ, giải phá, giải phóng, giải tỏa, giải thoát khỏi cái cảm thọ đó bằng tất cả những cái gì mà mình đã được học về những cái loại thuốc phổ thông hay là những cái loại thuốc đặc trị. Dùng như lý tác ý, đủ thứ kiểu cách hết để làm sao mình không cho cái ác và bất thiện pháp đó nó xâm chiếm tâm, những cái dục tham, những cái sân hận, những cái bản ngã, những cái vô minh khởi lên phải lập tức là xử lý nó liền. Như vậy gọi là nhiệt tâm, như vậy gọi là tinh cần, như vậy gọi là không phóng dật.

Không có cho qua, không có bỏ qua, không có phớt phớt qua, không có phớt lờ mà là nghiêm khắc đối với tự tâm của mình. Nếu phớt lờ được cái này thì mình sẽ phớt lờ được cái kia, phớt lờ được cái kia thì mình sẽ phớt lờ được cái nọ và từ những cái nhỏ nhặt lần lần nó sẽ có những cái to lớn, nó xâm chiếm, nó có chân đứng ở trong tâm của mình, nó đâm chòi nảy lộc rồi cho đến nó thâm căn cố đế, tới cái lúc mà mình không bứng nó được, nhổ nó được nữa thì lúc đó là nó nguy hiểm. Cho nên Đức Thế Tôn nói nếu như các cái ác và bất thiện pháp sanh khởi lên xâm chiếm tâm và có chân đức thì Đức Phật dạy cái phương pháp tiếp theo là tu tập tâm từ, tâm thương rộng lớn, thương mình và thương người.

Cái tâm thương đó nó có thể làm cho mình thoát ra được những cái cảm giác bực bội, khó chịu, sân hận, hơn thua, bức xúc, bất mãn, bất bình, bất hòa đó. Nếu mình có cái tâm thương mà sâu sắc và rộng lớn đó thì cái tâm thương đó sẽ đưa mình thoát ra tất cả cái cảm giác đó, gọi là từ tâm giải thoát. Vì mình không có đủ cái tâm thương, vì cái tâm thương của mình không có đầy, nó không có viên mãn cho nên mình có giận ai là mình đi ra không được, mình khó chịu với ai đó mình tha thứ không được, mình có bực bội với ai cứ ghim gút ở trong tâm, nó ghim mà mình không thấy cái ghim đó thì cái này nó càng nguy hiểm, ít nhất là mình thấy, mình biết là nó đang còn tồn tại ở đây, nó còn ở đây, nó còn ở trong này nó chưa có hết.

Tại sao mà nó ghim hút như vậy? tại sao mà nó khó chịu hết ngày này qua ngày khác vậy? Hết tuần này qua tuần nọ, hết tháng này qua tháng kia vậy? Còn âm ĩ trong cái cảm thọ đó, tại vì mà cái tâm thương mình không có đủ. Tại sao cái tâm thương mình không đủ? Tại vì cái tâm hiểu của mình nó chưa có thấu, hiểu thì mới thương, thương thì mới thông cảm, thông cảm thì mới tha thứ, tha thứ thì mình mới có sự bao dung, độ lượng, có bao dung độ lượng thì cái tâm mình mới rộng lớn, quảng đại, cái tâm quảng đại này mới đưa đến cái tâm vô lượng, mới trú được vô ở trong tứ vô lượng tâm.

Nếu không hiểu thì sao mình thương? Mình cứ nhìn cái xấu của người này, nhìn cái khuyết điểm của người này, mình cứ chăm chăm vô cái chỗ dở, cái chỗ sai của người ta trong khi người ta có nhiều cái tốt không nhìn, cứ ghim vô cái chỗ xấu đó rồi mình nghĩ về cái đó, mình tưởng tượng ra, mình suy diễn ra. Cứ mỗi lần tưởng tượng, mỗi lần suy diễn thì cảm thọ nó sanh khởi, nó cứ tô đậm, tô đậm, tô đậm thành thành kiến, nó thành cái kiến chấp, nó thành cái định kiến. Như vậy thì làm sao cái tâm thoát ra cái đó được? Cho nên "từ tâm giải thoát" bốn cái chữ này không phải dễ hiểu, đọc thì đọc vậy đó, đó là một cái tâm thương có khả năng đưa mình đi ra những cái tâm giận, cái tâm ghét, cái tâm bực, cái tâm khó chịu, cái tâm hận thù, cái tâm hờn mác, cái tâm thương có khả năng đưa mình ra khỏi tất cả những cái đó gọi là từ tâm giải thoát.

Cho nên người tu tập cái tâm từ giải thoát này lúc nào cũng dễ chịu hết, lúc nào cũng nhẹ nhàng, lúc nào cũng mát dịu, tâm không có không có một cái vết hằn đối với ai. Không có cái sự bức xúc hay là ghim gút ở bên trong, bây giờ cái tu cái tâm này thì Đức Phật dạy mình phải tu tập làm cho sung mãn, tức là nó đầy tràn hết, sung mãn là đầy tràn hết, đầy ấp hết, đầy ngập hết. mình cứ quán tưởng đi một cái lu mà đầy, một cái thau đầy, một cái hồ đầy, một cái con sông mà nó tràn như vậy đại dương vậy.

Chúng ta nghĩ là ngồi đây có bao nhiêu viên đá này? Không có đếm được, mình tu cái tâm từ cũng phải giống như vậy đó, tích tập, tích lũy còn hơn cái này, nó thành một cái ngọn núi. Còn giờ mình tu có một chút xíu cái tâm từ thôi là mình thấy tự mãn rồi, thấy thỏa mãn rồi không tu nữa, bỏ không có tu nữa cho nên Đức Phật dùng cái từ là "kiên trì" và "tích tập". Kiên trì là giữ chặt, nắm chắc cái tâm từ, khi mình thực tập rồi mình mới thấy quý cái tâm bình an lắm, mình thấy là trong cả cái thế gian này, tất cả nhà cửa, xe cộ, tiền bạc, đất đai, chùa chiền, thậm chí sinh mạng của mình cũng không qúy bằng cái tâm bình an, tâm thanh tịnh. Người trí là cái người giữ được cái tâm bình an đó, gìn cái tâm thanh tịnh đó, bảo hộ, bảo trì cái tâm an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào và từ ái, rộng lớn đó, còn không phải là người trí thì họ giữ đất, giữ giường, giữ tiền, giữ xe, giữ nhà, chưa chắc là họ giữ được.

Giả sử cho họ có giữ được cái đó mà cái tâm họ bất an thì họ đâu có hạnh phúc, hai anh em kiện thưa nhau ra tòa để dành căn nhà hương quả mà đứa em là một đứa què ngồi xe lăn. Người anh này có kiện thắng đi, người anh này có hai ba căn nhà mà dành với đứa em nhà hương quả, giả sử cho kiện thắng đi thì người này cái tâm được an không? Từ lúc thắng được cái nhà đem về rồi thì từ đó cho tới khi chết cái tâm được an không? Như vậy thì được hay là mất? Người thế gian, người không có trí tuệ họ nghĩ cái đó là được nhưng thật sự đó là mất cái tâm, nói theo đời là cái nghĩa tình, nói theo đạo là một cái tâm an tịnh, lắng dịu, cái tâm dễ chịu bị mất cho nên người có trí tuệ là người giữ cái tâm an tịnh đó, giữ cái tâm dễ chịu, cái tâm bình an, cái tâm đó là quý giá nhất trên cuộc đời này, là thế gian chí bảo.

Tất cả chúng ta tu tập là làm cái bàn thờ cho cái tâm bình an đó, cái báu vật của mình giống như con rồng có long châu hay con rắn tu bao nhiêu ngàn năm mới được cái hạt ngọc. Đó là cái quý giá nhất của nó, cũng vậy cái quý giá nhất của người tu chính là cái tâm an tịnh, lắng dịu, cái tâm dễ chịu, cái tâm đại từ đại bi, giữ được cái tâm đó là mình có kho báu tâm linh. Mình không biết giữ cái tâm này, mình đi giữ cái món đồ, nhiều khi có tô hủ tiếu mà hai người sân hận nhau, có khi có cái đôi dép hay cái áo thôi mà hai người có thể trở thành kẻ thù với nhau, thậm chí là giết hại lẫn nhau vì một chút mấy đồng bạc tiền thối. Như vậy là người ngu không biết cái nào quý, cái nào là tiện, cái nào là đáng giá và cái nào là vô giá trị, không có phân biệt được cho nên mới nói rằng lành dữ chẳng tỏ tường là vậy đó.

Lang thang trong sanh tử,

Lành dữ chẳng tỏ tường,

Mượn nghiệp hiền, nghiệp thiện

Làm chỗ để náo nương.

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Không có biết được cái nào là quý, cái nào là tiện, cái nào là đáng và cái nào là không đáng. Trong khi cái quý báu nhất là cái tâm an tịnh, cái tâm dễ chịu, cái tâm ngọt ngào, cái tâm từ ái, yêu thương rộng lớn, quảng đại như vậy. Ngay giờ này chúng ta ngồi đây có thấy an lành không? Có thưởng thức được cái tâm quý báu của mình không? Mình đi tìm ở đâu vậy? Mình đi tìm hạnh phúc ở đâu? Chính cái tâm không có sân của mình, cái tâm không giận, cái tâm không tham, cái tâm không có vật vờ, cái tâm không có vất vơ vất vưởng, cái tâm tỉnh giác đó, cái tâm an tịnh, lắng dịu, tỏ rõ đó là báo vật, là thế gian chí bảo, là ngọc như ý, là ngọc minh châu, là long châu, là thần châu, là Phật châu, là trí châu. Cho nên đâu phải là mình làm cái này làm cái kia làm nọ để cho mình trở thành một con người bị cuốn trôi vào ở trong những cái việc làm đó, nó mất đi cái mục đích thật sự của người tu rồi, mình có làm bất cứ cái gì đi nữa thì cái làm tối thượng đó là làm cho cái tâm mình thanh tịnh.

Chúng ta phải nắm vững cái điều này, mình có nói bất cứ cái gì đi nữa thì cái lời nói phải đưa đến một cái tâm ngọt ngào, yêu thương. Mình có nghĩ bất cứ cái gì đi nữa thì đưa tất cả cái nghĩ đó về chỗ cái tâm thiện lành thì đó là cái chỗ gọi là Sa-môn Gotama luôn luôn hướng tới cái chỗ chí thiện cho người nghe pháp của ngài. Chí thiện là thân, miệng, ý đều hướng tới cái chỗ thiện lành hết, đằng này mình không biết, mình học trong cái kiến thức hơn thua với nhau "tôi biết chị không biết", "tôi giỏi chị dở", "tôi rành chị không rành" thì như vậy học sai rồi, đó đâu phải là học chánh pháp. Học cái đó là học cái hơn thua, làm việc cũng vậy, làm tất cả cái công việc để phục vụ đại chúng để đạt đến cái tâm thiện lành, đó là bí kiếp, bí quyết, cho càng làm nhiều chừ nào thì công đức càng lớn chừng đó, cái tâm vô lậu của mình càng tăng trưởng chừng đó và cái đức hạnh từ, bi, hỷ, xả, khiêm cung của mình càng quảng đại chừng đó thì cái đó là đi đúng đạo lộ vô vi.

Như vậy mới nói là làm nhưng không có bị cái bản ngã xâm chiếm, chi phối vì trong khi làm đó mình có sự quán chiếu, mình có chánh niệm, mình có tỉnh giác, mình có thiền quán, mình có tuệ quán, vô thượng tối tuệ pháp quán, tối thắng tuệ pháp quán. Tất cả cái làm đó để đưa đến một cái tâm bình an cho mình và tâm bình an cho tất cả những người tiếp xúc với mình và cho tất cả hữu tình chúng sanh. Mọi người có chịu làm cái này không? Nấu bếp như vậy đó, quét nhà như vậy, rửa chén như vậy, lau chùi toilet vệ sinh như vậy và phụng sự tất cả chúng sanh như vậy. Không có cái mình làm, không có ai ở đây để làm hết, những cái làm này để đưa đến phá vỡ tất cả cái hữu ái, đập tan hết tất cả những cái vô minh và chấp thủ, những cái làm này chẳng qua là để đủ hành trang, đủ tư lương để mình bước lên cái chỗ không còn làm nữa. Không còn làm ra sanh tử nữa, không còn làm ra thân kiến nữa, không còn làm ra tham, sân, si nữa chứ không phải cái làm này để sanh ra tham, sân, si, không phải làm này để kể công, để khoe công, để phô công, để cư công thì cái làm như vậy đó là cái làm của thánh đệ tử.

Cho nên càng làm càng thương, càng tiếp xúc thì càng hiểu và từ từ đó do mình tiếp xúc với nhiều người, do mình lắng nghe nhiều người, do mình va chạm với nhiều người, do mình gặp nhiều cảnh xót xa, đau nhói con tim thì càng gặp những cái đó nhiều chừng nào thì tâm từ của mình, cái sự hiểu và thương của mình càng lớn mạnh, càng vững chắc, càng quảng đại, nó càng sâu thẳm và như vậy thì ta sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa. Còn nếu mình không có nghe một cách sâu sắc thì có lỗ tai như điếc thôi, không nghe được cái tiếng khổ, phải nghe cho được nỗi khổ niềm đau của mình và của hữu tình chúng sanh, mình càng nghe được cái này thì mình sẽ càng hiểu, mình càng hiểu thì mình sẽ càng thương, mình càng thương thì mình sẽ càng cảm thông, mình càng cảm thông thì mình sẽ càng tha thứ, mình càng tha thứ thì cái tâm mình càng bao dung, độ lượng mà cái tâm càng bao, dung độ lượng thì nó càng rộng lớn, quảng đại và từ cái rộng lớn, quảng đại đó mới đưa đến bốn cái tâm gọi là vô lượng.

Mình có thể ngồi bất cứ ở đâu, đi bất cứ ở đâu, nằm bất cứ ở đâu cũng có thể trải cái tâm mình trùm cả trời đất, địa cầu hết. Bất cứ ở chỗ nào mình có thể trú vô tứ vô lượng tâm, cái tâm này phải được tu tập, cái tâm từ này, cái tâm thương này phải được tu tập cho nhuần nhuyễn, cho điêu luyện, cho thiện xảo, cho thuần thục, trở thành cỗ xe, thành căn cứ địa, trở thành sung mãn với một cái sự kiên trì, được làm cho tích tập rồi khéo tinh cần thực hiện. Một ngày một chút thôi, không phải là nhiều mà cứ để dành, để dành rồi chúng ta sẽ thấy, cứ nghe người này nói chút là mình thấy họ khổ mình thương, mình hoán đổi vị trí đặt mình vào người đó. Khi mình nghe một câu chuyện đau khổ của người kia không phải mình ngồi đó mình bực, mình khó chịu "Sao khóc hoài vậy? Nói dài dòng hà", không phải vậy, cái đó là cái tâm không biết tu, mình phải hòa nhập cái cảm thọ mình với người đang khóc lóc, họ đau khổ đó và mình thấy mình với họ là một, những dòng nước mắt của họ cũng là những dòng nước mắt của mình, những giọt máu của họ cũng cùng là màu đỏ và những dòng nước mắt cùng là mặn. Mình có thể hòa được cái hơi thở của mình với họ, mình có thể đồng cảm, chảy những giọt nước mắt với họ, có thể cùng rỉ được những giọt máu với hữu tình chúng sanh.

Khi mình nhìn thấy cái cảnh chiến tranh, khi mình nhìn thấy những cái cảnh tai nạn giao thông, trong mấy ngày lễ này là chết một trăm ba mươi tám người và bị thương là hai trăm mấy chục người, trên bốn trăm người chết với bị thương, con mở để cho quý vị thiền quán đó. Mình nghe cái đó thôi thì cái tim mình nó nhói, nó đau, mình thấy những cái cảnh tai nạn giao thông đó, mình chịu đựng ở trong đó, mình đã từng như vậy, mình sẽ như vậy. Cái từ tâm của mình nó lan tỏa, nó thấm đẫm, nó dào dạt, trải tâm từ đến một trăm ba mươi mấy người chết đó, hai trăm mấy chục người bị thương đó. Mà đó là chỉ là con số được báo, còn không báo cáo là bao nhiêu và có một nước thôi, còn hai trăm nước kia thì bao nhiêu, một ngày bao nhiêu người chết về tai nạn giao thông, bao nhiêu người chết tai nạn lao động.

Vừa rồi là cái máy mà nó xay đá thành xi măng mà bảy người chui vô trong sửa mà ngoài đây không biết ai bấm cái nút lên thì như vậy nó nghiền bảy người này không biết là thành cái gì luôn, đá mà nó còn nghiền thành xi măng được mà con người thì sao, bảy người đã chết. Những cái dòng nước mắt của những người thân thương là nó uất ức, nó nghẹn ngào, nó tức tưởi, nó trào dâng, bảy gia đình và ba người ở bên ngoài là văng đập đầu cũng bị thương. Đó là mình chỉ thấy một chút xíu vậy thôi, còn bao nhiêu nước rồi bao nhiêu nghề, bao nhiêu ngành, bao nhiêu tai nạn, bao nhiêu những cảnh chiến tranh. Khi cái nghe như vậy, thấy như vậy, cảm nhận như vậy, thức tri như vậy, rõ biết như vậy, cảm thông và đặt mình vào trong những cái cảnh đó, đó là thiền quán, từ đó cái cảm thọ của mình mới có một cái sự cảm động, rung động, xót thương.

Cứ như vậy, mỗi lần nghe, mỗi lần thấy, mỗi lần gặp hoặc là cái nhân duyên, hoặc là mình cố tình mình tạo cái duyên để tiếp xúc được những cái cảnh khổ đau đó, những cảnh bi thương, những cái cảnh nghẹn ngào đó thì từ từ cái tâm mình bớt cái sự cứng cỏi, cứng chắc, ương ngạnh, nó mềm ra, nó tan ra, nó nhũng ra, nó chảy ra và bắt đầu cái cảm thọ của mình sẽ được thay đổi, nó sẽ được biến đổi và tình thương của mình sẽ đầy tràn sung mãn.

Điều này đòi hỏi một cái sự tu tập thường xuyên và liên tục, thậm chí một tiếng tắc kè kêu, một tiếng chó sủa, một tiếng chim hót, một tiếng con chuột bị con mèo cắn vô, tất cả những cái âm thanh mình tập nghe bằng cái tâm thương, tất cả cái nhìn của mình phải tập nhìn bằng cái tâm thương, Thậm chí người đó họ xỉ vả, nói nặng nó nhẹ mình nhưng cái tâm mình có thể ngọt ngào, dòng nước mắt mình tuôn ra là thương cho họ, cảm động, xúc động, thương chứ không có giận. Mình biết rằng người này đang bệnh, họ đang khổ đau, họ đang rất là tội nghiệp, họ đang rất là đáng thương, tất cả hữu tình chúng sanh đều là đáng thương, không có một người nào mà đáng giận hết. Chỉ vì mình chưa hiểu thôi nếu mình hiểu ra rồi không có không có bất cứ một hữu tình nào, hay là một loài vô tình nào chứ đừng nói chi là hữu tình đáng giận hết. Vì mình mù lòa, vì mình chột, loạn thị, khiếm thị cho nên mình không thấy rằng tất cả mọi người rất là cần thương, mình cũng rất là muốn được thương, người ta cũng rất là thiếu tình thương và mình tu tập cái tâm thương.

"Này Tỳ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy, này Tỳ-kheo, Thầy cần phải tu tập định này với tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, chỉ với tứ; cần phải tu tập không tầm không tứ; cần phải tu tập có hỷ, cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này Tỳ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy này Tỳ-kheo, Thầy cần phải học tập như sau:

'Bi tâm giải thoát sẽ được Thầy tu tập ... Hỷ tâm giải thoát sẽ được Thầy tu tập ... Xả tâm giải thoát sẽ được Thầy tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành'. Như vậy, này Tỳ-kheo, Thầy cần phải học tập" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (III). Pháp Lược Thuyết)

Cần phải tu tập định này với tầm với tứ là mình phải tạo cái duyên, mình phải học, mình phải nghe, mình phải hiểu, mình phải tập tác ý khởi cái tâm lên chứ không phải tự động mà có được. Hướng tâm về tình thương đó tức là mình đặt tâm mình theo cái chiều hướng xót thương tức là tâm từ, tâm bi, chẳng những thương mà mình còn xót xa nữa đối với một người mà họ rất là khó nói, rất là ương ngạnh, rất là bản ngã nhưng họ có tâm hướng muốn tu. Có khi mình phải thấy giống như không thấy, phớt lờ rồi lâu lâu mình để ý, mình khéo léo chăm sóc họ, chăm sóc cái vết thương của một bệnh nhân, một thương binh.

Mình đừng có rạch ròi quá, rành rõ quá, mình mà cứ cái nào cũng rõ cái nấy hết nhiều khi không ai ở với mình nổi hết, nhưng nếu cái gì mình cũng không biết hết thì cũng tiêu luôn. Cho nên cái chỗ khéo léo biết được người, biết được mình, biết được cái tâm, cái căn cơ mà biết bằng một cái tình thương rộng lớn thì mình mới bao dung được, mình mới dung chứa họ được, mình phải tập xót thương thật là nhiều, xót xa. Bây giờ mình thấy trong gia đình bốn chị em mà ba người thì hiểu biết, nhận thức sáng suốt, thông minh nhưng có một người em út lại khờ khạo, đầu óc không có được minh mẫn, nó có bệnh vậy mình thương người nào nhiều hơn?

Có khi cái người được thương là ỷ lại nữa tại vì tôi bệnh, họ mượn cớ cái thương đó để sanh cái bản ngã ở trong cái bệnh đó nữa, nó vi tế lắm. Nói chung là nhận diện ngũ uẩn rồi mình mới thấy nó đủ thứ kiểu, đủ thứ trò hết, mà không phải cái bản ngã trong cái tự cao, tự tôn, tự đại, tự thị mà cái bản ngã tự ti nữa, cũng là bản ngã luôn nhưng mà mình phải khéo léo biết là lúc nào giúp và lúc nào cứ để bình thường vậy, lúc nào mà giúp ít, lúc nào giúp vừa, lúc nào giúp nhiều, lúc nào để y nguyên vậy và thiện xảo, khéo léo tới lúc nào đó mình có thể cho họ uống liều thuốc tăng lên từ từ. Có khi cho uống sữa nhưng mà có khi cho uống thuốc, cái đó là mình nói bên ngoài chứ mình quay vô trong tâm mình cũng giống vậy đó, đừng có nghĩ tối ngày mình trị người ta, mình thương mình đi, thương mình không hết.

Cho nên mình phải có cái sự để tâm. Có tầm, có tứ là có một cái sự suy tầm, có một sự suy nghĩ, có một cái chiến lược, có một cái phương pháp, có cái chiến thuật, có những cái kế hoạch để mình làm cho cái tâm từ của mình lớn mạnh. Bây giờ mình đi buông rồi mình cứ kệ lời lỗ hay sao? Mình có tính không tính không? Mình tu mỗi ngày mình có tính mình tăng lên thêm và một tuần qua mình tu có được cái gì thêm hay tháng qua có thêm được gì không? Phải tính còn hơn đi làm ở ngoài nữa, coi cái tâm từ mình có lớn lên thêm không từ ngày lên núi đến bây giờ. Một tuần qua, hai tuần qua, một tháng qua, hai tháng qua, ba tháng qua, sáu tháng vừa qua, một năm vừa qua mình nhìn lại tâm từ mình nó như thế nào để mình tu tập.

Tầm là hướng tới và tứ là mình trú vào trong đó, tầm giống như là mình đi từ ngoài kia vô, tứ giống như mình ngồi lại tại chỗ đây. Mình tìm tới nó, mình hướng tới cái tâm từ, cái tâm thương đó và mình an trú vào trong đó càng lâu càng tốt, càng nhiều càng hay, kiên trì, duy trì và bền chí trường viễn, dài lâu ở trong đó. Có khi cần phải tu tập không tầm, chỉ với tứ, cần phải tu tập không tầm không tứ, đây là những cái cấp độ từ cừ cao lên, lúc đầu mình phải làm cho nó sanh khởi, mình phải quán, phải tác ý thật là nhiều, sau đó khi nó có nhiều rồi mình an trú ở trong đó, giống như cái người mới làm ăn được ít tiền họ phải đếm từng chút, khi họ làm mà nhiều tiền rồi họ có cần tính nữa không, mấy cái lẻ họ đâu cần tính nữa, nó nhiều rồi, tự động nó có trong đó rồi không còn tính từng chút nữa.

Khi nghèo khó thì được hai cắt, ba xu gì cũng phải đếm kỹ, tới chừng giàu nhiều rồi cứ để vô tủ thôi, cũng vậy khi tâm từ rộng lớn, nó nhiều rồi thì mình ở trong đó không có cần phải cố gắng để khởi lên nữa, chỉ cần nó nhìn thấy một cái thôi, chỉ cần nó nghe một cái thôi là có thể nó dào dạt, nó sung mãn, nó đầy ấp, nó ngập tràn ở trong tâm mình khi mình đã phong phú, giàu có trong cái cảm thọ của tâm từ, tâm bi. Cần phải tu tập có hỷ, cần phải tu tập không hỷ tức là lúc đầu mình tu tập tâm từ mình vui lắm vì bây giờ mình có tâm thương hơn hồi xưa, lúc trước mình hay sân, hay giận, hay bực bội, hay cọc cằn, hay cáu gắt, thậm chí là ghim gút, khó chịu, sau này mình bớt những cái đó mình thấy dễ chịu, an tịnh, lắng dịu rồi có tình thương thì khi đó tự nhiên mình nhìn lại thấy vui quá ta, thấy hoan hỉ quá. Nhiều khi mình cười một mình, có không? Mình thấy "sao giờ mình dễ thương quá vậy".

Mình dễ thương và mình thương, tình thương của mình nó rộng rãi, nó chang hòa, rất là dễ làm cho nó sanh khởi lên, nhiều khi nó Automatic tự động vừa nhìn, vừa nghe là dào dạt lên, vừa nói lên Đức Phật là nước mắt chảy vì tâm ân đức, cái tâm biết ơn của mình nó được tu tập. Đây mà tâm từ nhưng mà mình rộng ra là nhiều cái tâm, trong đây Đức Phật nói luôn bi, hỷ, xả, bi tâm giải thoát, hỷ tâm giải thoát, xả tâm giải thoát hay là khi nãy mình nói là tâm biết ơn đó. Như vậy mình sẽ thấy mình hoan hỉ ở trong cái tâm từ này, mình vui trong cái tâm xót thương này khi mình có được cái tâm này, rồi mình hỷ ở trong cái tâm hỷ nữa tức là mình vui trong cái tâm gặp Phật pháp, mình vui ở trong cái niềm vui đó cho nên Đức Phật nói rằng là cần phải tu tập có hỷ.

Một cái pháp nào mà mình được học, được thực hành và mình có được những cái sự cảm nhận, có những cái thành tích dầu cho nhỏ mình cũng phải cho nó có niềm vui lên. Nhớ kỹ cái này là quan trọng lắm, cái này là sức sống, cái này là chất bổ dưỡng, chất dinh dưỡng, là thuốc bổ đó, khi mình học cái này rồi mình mới thấy bất ngờ lắm. Hồi xưa mình nghĩ là vui là cái gì đó nhưng bây giờ mình học vô tâm hỷ đó, vui vì nay ta biết chán, thấy tuyệt vời không? Tuyệt diệu không?

Vui vì ta biết ngán

Ngán nhân quả, trả vay,

Ngán nghiệp lực thúc đẩy

Sanh vào chỗ đắng cay.

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Mình biết chán nhưng mà mình rất vui. Tại vì hồi xưa mình ngu mình không biết chán, mình cứ nhào vô kiếm ăn u đầu sức trán, bây giờ mình vui vì mình biết chán rồi, mình bắt đầu mình biết chán rồi. Biết chán cái lò lửa rồi, biết chán cái hố than hừng rồi, biết chán cái nhà đang bóc cháy rồi, biết chán dầu sôi lửa bỏng rồi, biết chán cái sự ganh đua, cái sự ganh tị, cái sự đố kỵ, sự hơn thua, sự cạnh tranh, sự đấu tranh, sự chiến tranh. Mình biết ngán rồi, biết chán rồi, mình vui vì biết chạy xa ra, chạy lẹ ra, chạy mau ra, chạy nhanh lên cho nên nhiều khi mình thấy thích thú, thú vị, mình tu mình nghiệm rồi mình cười trong sung sướng quá, hoan hỉ quá, hạnh phúc quá, trúng mánh rồi, trúng số độc đắc rồi. Còn hơn trúng số gấp ngàn lần nữa, mình tu mình vui xong đó, mình thích thú, mình hoan hỉ vậy đó.

"-- Này Hiền giả Sàriputta, trong Pháp luật này, cái gì là khó làm?

-- Xuất gia, này Hiền giả, là điều khó làm trong Pháp luật này.

-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, cái gì là khó làm?

-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, hoan hỉ (abhirati) là điều khó làm.

-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỉ, cái gì là khó làm?

-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỉ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp.

-- Có lâu không, này Hiền giả, một người đã thực hành đúng pháp và tùy pháp có thể thành vị A-la-hán?

-- Không lâu, này Hiền giả". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, XVI. Khó Làm)

Cho nên các vị Tỳ-kheo hỏi sau khi xuất gia cái gì là khó thì ngài Xá-lợi-phất nói là vui ở trong đời sống viễn ly là khó nhưng biết tu cái vui này là cả một cái nghệ thuật, có cái này mới làm cho mình lớn mạnh được trong pháp, mới làm cho mình tăng thượng được, không có cái hỷ này gặp cái mặt bí xị, lên ngồi nghe pháp mà mặt buồn "phải ráng chứ không lẽ giờ không lên". Đó là không có cái pháp hỷ thì như vậy làm sao đúng là pháp hỷ thắng mọi hỷ, pháp vị thắng họ mọi vị, pháp thí thắng mọi thí? Nó trật rồi, đâu có đúng cái đạo lộ của Đức Phật, nếu mình càng khóc mà mình lại càng vui, vui vì ta được khóc tại hồi xưa ta khóc với những cái ta tham, ta không được nên khóc, ta khóc vì ta sân, ta bực bội, ta khóc vì cái ta, bản ngã.

Bây giờ ta khóc vì ta thấy được ta tham là khổ, ta thấy ra được cái tham này là khổ, ta vui vì hồi xưa ta tưởng cái tham đó là sướng, bây giờ ta lại vui sướng vì ta biết cái tham này là khổ, ta biết cái sân này là khổ, ta biết cái bản ngã này là khổ, ta biết cái đó cho nên ta vui. Ta từ bỏ cái đó cho nên ta vui, ta đè cái đầu nó xuống, ta bắt nó lạy người ta nhưng mà ta vui, vui không? Hở chút là ta bắt nó quỳ xuống "lạy cái ngũ uẩn này nha mày, mày phải khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã. Mày không khiêm mày biết mặt với chị nha, chị xử lý mày nha". Như vậy mình vui, mình thích, mình hân hoan, mình thú vị, mình thích thú, giống như là đại tiệc của chánh pháp vậy đó, mình vui hoài, bất cứ lúc nào mình muốn tâm hỷ là khởi lên giống như là búng ngón tay vậy đó, là bắt đầu nó hiện ra như có phép màu vậy đó, giống như cái chiếc xe có đề thì bấm vô là chạy liền, khỏi cần đạp gì hết.

Cái tâm mình khi mình tu tập nhiều về tứ vô lượng tâm thì mình muốn khởi cái tâm nào thì mình sẽ khởi lên tâm đó rồi muốn trú bao lâu thì mình sẽ trú bao lâu. Giống như bữa nay mình muốn mặc cái bộ đồ màu gì thì mình mặc cái bộ đồ màu nấy, cũng vậy khi mình tu thuần thục bốn cái tâm vô lượng này hay là tâm hiền, hoặc là tâm biết ơn, mình muốn khởi tâm nào là lập tức nó sanh khởi lên liền mà nó sanh khởi một cách sung mãn, đầy ấp, dào dạt, muốn trú bao lâu cũng được hết cho nên các cái vị thánh Tăng hồi xưa, các vị thánh đệ tử hồi xưa muốn trú vô đó bao nhiêu lâu cũng được, trú về tâm từ bao nhiêu lâu cũng được.

Cho nên mình đọc cái bài kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm tối thượng lắm, có những vị chuyên tâm, chú tâm vô tu tập từ vô lượng tâm, các vị thành tựu chánh kiến rồi tu môn nào cũng tới thánh quả A-la-hán hết, giống như đi xe Honda, đi máy bay, hay là đi xe hơi gì cũng tới Linh Quy vì biết đường. Có những vị chuyên chú tu tập bi tâm giải thoát, chuyên tâm, chú tâm tập trung vô tu bi tâm giải thoát, có những vị chuyên tâm chú tâm tu tâm hỷ, mặt như hoa sen nở suốt ngày, trưa, sáng, chiều, tối nhìn như hoa sen nở vậy đó, lâu lâu ai chọc giận thì héo, còn người đạt được cái định đó, người ta chứng được cái định đó luôn người ta không bị mất, người ta chứng được cái định đó luôn nhưng với một điều kiện phải thành tựu chánh tri kiến thì cái hỷ vô lượng tâm vẫn đưa đến thánh quả.

Nếu không có chánh kiến thì những cái tu này đi tới thiên giới thôi, làm phàm phu thiên thôi chứ không phải là thánh đệ tử thiên cho nên mình cần phải tu tập có hỷ và cần phải tu tập không hỷ. Đây mức độ sâu rồi, tức là lúc đầu mình rất cần giống như khi mình còn nhỏ thì mình cần nhiều dinh dưỡng lắm nhưng mình tới một cái độ tuổi như bốn mươi tuổi, năm mươi tuổi mà ăn nhiều vô là đầy bụng, chướng bụng cho nên không cần ăn nhiều nữa. Mấy người lớn tuổi ít ăn thì càng khỏe, đặc biệt vậy đó, ở người nhỏ tuổi thì cần ăn, cái tu cũng vậy lúc đầu cần những cái pháp hỷ, cần nỗ lực, quyết liệt nhưng khi tới một cái mức độ thì cái đó vẫn làm cho cái tâm dao động vì mình hướng tới cái tâm bất động.

Cho nên mức độ sâu sắc thì cái hỷ này sẽ từ từ lắng dịu xuống và nó bước qua cần phải tu tập câu hữu với lạc, tức là vui nhè nhẹ trong tâm, Nhiều khi con cho chúng ta vỗ tay tại vì con thấy chúng ta thụ động, con muốn làm cho nó sinh động lên cho bớt cái buồn ngủ, bớt thụ động nhưng có những lúc con đang đi vào cái chỗ tịnh, muốn đi sâu thì vỗ tay lên. Thành ra nhiều khi thật là khó nói tại vì cái này cũng phải tế nhị và chánh niệm tỉnh giác mới biết, khi nào con thấy chúng thụ động, có buồn ngủ thì con làm cho năng động lên, hoạt động lên, sinh động lên để mà kéo lên. Có những lúc đang đi vào trong cái chỗ thâm thúy, thâm sâu để cho thiền quán, đang triển khai vô tự nhiên lúc đó vỗ tay lên thì đành chịu trận thôi chứ biết sao giờ. Vì thế phải có chánh niệm tỉnh giác mới biết được, phải khéo léo, thiện xảo.

Như vậy khi mình tu tập cần phải tu tập có hỷ rồi cần phải tu tập không hỷ, cần phải tu tập câu hữu với lạc tức là cùng có một cái vui nhè nhẹ trong tâm. Chẳng hạn như mình đang thiền quán về khổ thánh đế, khổ thánh trí hay là hồi nãy mình tụng giải thoát trí chẳng hạn mình có cái vui nhè nhẹ không? Mình không có cười, mình không có vỗ tay gì hết nhưng mà lúc đó mình có cái vui nhè nhẹ không? Đó là có hỷ có lạc đó cho nên cần phải tu tập là câu hữu với lạc, rồi cần phải tu tập câu hữu với xả, cuối cùng đi ra cái tâm rỗng rang, bất động, chỉ có đi tới cái chỗ bất động thì mới bất tử, ra khỏi luân hồi. Thành ra cái động của ban đầu để mình vui, mình hoan hỉ, mình xúc động, mình khóc này kia, mình chấn động là cái vui ban đầu giống như mở chiếc xe lên cái trớn để chạy lên. Khi chạy tới chỗ rồi còn nổ máy nữa không? Còn rồ ra phóng nữa không? Lắng dịu là tới nơi, chịu không? Hay là muốn rồ máy hoài? Tới cái chỗ thì phải lắng dịu xuống, an tịnh chứ.

Chỗ khéo léo, thiện xảo trong khi mình tu là lúc nào mình thấy buồn chán là mình phải cho nó hỷ lên, lúc nào hỉ nhiều quá thì mình cho nó lạc, lúc nào mình muốn cho thanh thịnh luôn là cho nó xả luôn. Cho nên thường những buổi học của chúng ta là con thường thường cho lý thuyết và thực hành cùng lúc, những cái buổi chúng ta lên cùng nhau chia sẻ là thường con cho có chỉ, có quán, có giảng nhưng mà cũng có thiền trong đó luôn chứ không phải chỉ là một cái buổi học không. Con nhìn vòng quanh là con cũng biết được cái tâm của mọi người đang vận hành như thế nào. Có hỷ thì nhìn mặt biết không ạ? Có lạc biết không? Có hôn trầm nhìn biết không? Có trạo cử nhìn biết không? Biết hết trơn, trong khi đó nếu có ngũ cái, năm triền cái xuất hiện hoặc là không xuất hiện mình quán sát nó, năm triền cái là thức ăn của vô minh cho nên lúc đó thể hiện ra ngay chỗ đó tức là người này đang cho vô minh ăn, đang ngồi nghe pháp mà cho vô minh ăn, vô minh xâm chiếm.

Nếu nhìn người đó mà thấy trầm tĩnh, rong sáng, trước mặt sáng rỡ, sáng rực luôn từ cái ánh mắt, từ cái dáng ngồi thì mình thấy là cái người này nhiếp phục được năm triền cái, đó là tốt. Thành ra mình vừa học vừa hành đồng thời cùng một cùng một lúc, cần phải tu tập câu hữu với xả, cái tâm buông xả, tới cái lúc pháp đàm, trình pháp thì đừng có tu cái tâm xả nha. Nhiều khi kẹt vậy đó, nhiều khi lạc quẻ lắm cho nên cái thích hợp là phải có chánh niệm và tỉnh giác thiện xảo, thích ứng với cái hoàn cảnh, cái tình huống lúc đó cũng là một sự chánh niệm và tỉnh giác, sự uyển chuyển, linh hoạt và khéo léo của tâm.

Ví dụ như mình trình pháp là mình lên lạy ba lạy rồi xuống lạy ba lại, mình thưa tám cái thưa là hết trơn giờ của người ta rồi. Mình cứ làm mà không để ý đến đại chúng, mình phải để ý những cái nhỏ đó mình học, tuy rằng có cảm thọ rất là tốt nhưng mà trong đó mình không có tỉnh giác chánh niệm. Thành ra từng cái nhỏ nhỏ phải về coi lại, coi lúc đó cái tâm mình có tỉnh không cho nên mình thưa là hết năm phút thì những người khác muốn nói mà không được nói vì mình giành hết trơn rồi mà lúc đó mình không biết, cái vô minh không biết thành ra rất tế nhị.

Như vậy thì chúng ta thấy Đức Thế Tôn dạy mình tu cái pháp nào cũng có tầm, tứ, hỷ, lạc, xả cho nên mình để cái tâm trống không như vậy đâu có đúng, phải có một cái sự hướng tâm. Thí dụ mình ở chùa hoặc ở nhà mà mình muốn đi Linh Quy, mình ở cứ ở nhà vậy thôi, muốn lên Linh Quy mà chân không có không có dời gì hết, không có bước gì hết rồi tới không? Cái đó là tầm đó, là tầm cầu đó, mình đi lên chụp hình xong rồi hay là chào hỏi, thưa rồi là đi mất tức là không có tứ. Tứ là ở lại, an trú lại, bây giờ mình ở lại nhưng mà mình trơ trơ à, đơ đơ vậy đó, tu không lên tu, học cũng chả lên học, đi vòng vòng chơi hoặc nằm ngủ, đi kiếm bạn, như vậy là không có hỷ, không có vui thì đương nhiên làm sao có lạc được.

Học cái bài kinh này chúng ta mới thấy cái lộ trình tâm của sự thực hành pháp, trước nay có khi mình có mà mình không biết, cho nên tại sao mình nghe kinh mình học là vậy đó, tại vì trong mỗi một bài kinh, trong mỗi một phương diện thì Đức Phật sẽ trình bày cái trí tuệ về cái phương diện đó thì càng ngày mình sẽ càng đầy đủ những cái cách thức, những cái phương pháp, những cái trí tuệ, những cái sự hiểu biết, những cái thiện xảo để cho mình đi đến đích, để mình thực hành pháp. Như vậy thì mỗi một pháp tu ở đây Đức Phật đều kêu mình tầm, tứ, hỷ, lạc và xả, có một sự hướng tâm về cái pháp đó.

Thí dụ mình muốn quán về bất tịnh thì đương nhiên mình phải hướng tâm về cái pháp đó và mình phải giữ được cái pháp quán đó, hình ảnh đó, những cái cảm thọ đó, những cái sự tác ý đó, mình trú ở trong đó, mình thể nhập vô trong trí tuệ đó thì mình sẽ hoan hỉ ở trong cái pháp hành đó vì nó đưa mình đến cái sự giảm dục, ly tham, nó làm cho cái tâm mình được nhẹ nhàng, khinh an, hỷ lạc. Xả ở đây là xả được cái dục tham khi mình quán về bất tịnh, khi mình quán về tâm từ thì nó xả được cái sân hận, khi mình quán về trí tuệ, về sự sanh diệt của năm thủ uẩn thì nó sẽ xả được cái vô minh chứ không phải là xả cái pháp quán thôi.

Nhớ kỹ cái này, mỗi cái pháp hành thì nó sẽ tương ứng với những cái trí tuệ mà mình tu trong đó, nó sẽ sanh khởi ra cho mình thấy biết, nó sẽ thành tựu không nhiều thì ít, không sâu thì cạn, nó sẽ có nếu mình càng đào sâu vô thì nó sẽ có những cái lợi đắc ở trong cái pháp hành đó. Bây giờ mình tu mà mình cứ ngồi êm ru không có tầm, không có tứ gì hết, cứ để tự như nó muốn, nó khởi thì khởi, nó hết thì hết rồi nó muốn diệt thì diệt, như vậy mình tu tới đâu? Nhiều người hiểu lầm cái này rất nhiều, vậy cho nên tu hoài không có sanh trí tuệ, cái niệm không có tăng thượng, tập trung tâm ý của mình không có mạnh có, nếu có tập trung tâm ý thì chỉ tập trung trong cái hơi thở thôi.

Phải tập trung vào cái trí nhìn ra được năm uẩn, tập trung vào trong cái trí sắc bén nhìn ra được tham, sân, si, bản ngã, dục ái, tập trung vào trong một cái trí thiện xảo, sắc bén và nhiệt tâm ở trong cái sự đánh phá các cấu uế, lậu hoặc. Đó là mình phải biết cái chỗ để mình tập trung vô, mình phải biết cái huyệt của nó nằm ngay chỗ nào, gọi là cái tử huyệt của nó nằm ở chỗ nào, cái sức mạnh là mình gom vô cái chỗ nào thì mình dùng ngay cái chỗ đó mình đánh phá vô thì lúc đó mới có hiệu quả lớn, không thôi là cái tâm nó lan man, nó bị phân tán sức mạnh thì nó cứ đều đều, thường thường vậy thôi, nó không có một sức mạnh. Mình phải gom một cái sức mạnh lại, tập trung cái đó gọi là định, định là tập trung tất cả sức mạnh của mình.

Mình thấy hồi xưa dùng kính lúp để gom ánh sáng mặt trời lại một điểm trong mấy cái bùi nhùi là nó cháy lên, phải gom lại như vậy mới có sức mạnh thì cái gom lại đó là định. Từ cái định mới đốt phiền não, định là gom, tuệ là đoạn, là nó cắt, giống như người lấy lưỡi hái cắt nắm lúa thì cái gom đó là định, cắt cái phiền não đó là tuệ. Cái trí tuệ là đoạn, là diệt cho nên hồi xưa con không có hiểu Tứ Thánh Đế, tới cái chữ Diệt Đế con không hiểu "Ủa sao Niết-bàn là diệt?", diệt là diệt cái gì, diệt hết trơn rồi làm sao, nghe tới cái từ diệt mình cũng hơi không có được khoái khoái, thích thích, không hoan hỉ. Nhưng bây giờ cái chữ đó mình thích thú, mình sung sướng, diệt là diệt tham, sân, si, diệt đó là diệt hết bản ngã, vô minh, dục ái, diệt sạch hết. Đó là sự đoạn diệt đối với năm thủ uẩn.

Diệt cái tâm nắm giữ vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, cái tâm đó hoàn toàn diệt tận, đoạn diệt, diệt hết. Đã không? Sướng không? Khỏe không? vậy mình tới cái chữ Diệt Đế mình sung sướng, mình thích thú quá, mà mục tiêu tu tập của mình là đi tới đó. Ngày xưa đọc cái chữ Diệt Đế mình không thích, giờ mà thấy cái chữ đó hay sao là hay, một chữ diệt đó thôi là thành tựu cứu cánh phạm hạnh của người tu, giống như Đức Phật dạy bà Maha Ba-xà-ba-đề đại ái đạo Tỳ-kheo Ni vậy đó, thấy đâu đoạn đó, thấy đâu diệt đó, thấy ái đâu đoạn đó, thấy ái đâu diệt đó, thấy ái đâu là xử lý nó liền ngay tại chỗ đó rồi chứng thánh quả A-la-hán đoạn và diệt đó, nhớ chữ đó thôi là cũng đủ rồi đó.

Tham nó nổi lên "tao diệt mày, diệt mày", sân nổi lên "tao diệt mày", si, vô minh, bản ngã khởi lên "tao diệt mày", được không? Một chữ đó là đủ, nó là bom nguyên tử, nhiều khi "tội nghiệp quá, diệt uổng quá", lâu lâu có tiếc không? Mấy cái tham, cái ái, mấy cái mình khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, nó khoái khoái, cái bóng thôi mà nó còn không dám bỏ, cha mẹ nó bỏ, anh chị em bỏ, vợ chồng con bỏ, sự nghiệp, gia tài, tình thương, tình yêu bỏ mà cái bóng trong tâm không bỏ. Cái bóng sâu thẳm nhất trong tất cả cái hình bóng là hình bóng của tự thân, là thân kiến, nếu bỏ được hình bóng đó là tất cả mấy cái khác bỏ dễ ẹc. Cứ tập xưng cái nùi giẻ, tập xưng cái bộ xương, tập xưng là bọt nước, tập xưng ra nhắc cho mình nhớ với mấy người nghe cũng sững sờ luôn đó, tập xưng đi "con bọt nước Ấn Thương", "con nùi giẻ Ấn Hạ", đã Ấn mà còn Hạ nữa, đặc biệt đó, cái tên này không cũng đủ chứng quả rồi đó.

Phải tập xóa nhòa cái hình bóng của mình đi, chẳng là gì trên cuộc đời này hết. Đừng có ảo tượng, mình mấy ngày lễ thôi mà chết với bị thương là bốn trăm người, mình ngồi đây chưa tới một trăm người mà chết với bị thương là bốn trăm người là bốn trăm cái thây chất ở đây. Đừng nó chi chiến tranh, vậy đời sống này nó có cái gì? Nó quá ư là mỏng manh, nó quá ư là vô thường, nó quá ư là nhanh chóng nhưng vì cái tâm vô minh cứ nghĩ rằng nó như vậy thôi, bữa nay nó vậy, ngày mai cũng vậy, tuần sau cũng vậy, tháng sau cũng vậy, năm sau cũng vậy, năm năm, ba năm, bảy năm, mười năm nó cũng vậy. Chính vì nó nghĩ vậy cho nên nó mới vậy, chứ nếu nó không nghĩ vậy thì nó đâu có vậy, nếu nó nghĩ là nó tan nát, huỷ hoại, hoại diệt, tiêu vong, tan biến, diệt tận thì nó sẽ đổi thay tư duy nhận thức, tu tập.

Đức Phật dạy bi tâm giải thoát, hỷ tâm giải thoát, xả tâm giải thoát, khi mình tu tập cái tâm xót thương thì tất cả những cái sự oán hại sẽ được thoát ra, cái tâm mình thoát ra tất cả cái sự oán hại. Khi mình tu tập một cái tâm hoan hỉ đối với pháp thì tất cả những cái tâm buồn, chán nản, cái tâm vật vờ, cái tâm lơ đơ, cái tâm trơ trơ sẽ được thoát ra tất cả những cái tâm đó khi mình tu hỷ tâm giải thoát. Khi mình tu tập xả tâm giải thoát thì sẽ thoát ra được những cái tâm nắm chặt, tâm nặng nề, cái tâm trì trệ, những cái tâm chấp giữ, mình tu cái xả tâm giải thoát thì cái tâm buông này có khả năng, công năng, tác dụng, hiệu quả của nó là đưa mình ra khỏi tất cả cái tâm nặng nề, nắm chấp, trì trệ, bám chặt. Như vậy gọi là xả tâm giải thoát sẽ được thầy tu tập làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, làm cho tích tập, được khéo tinh cần, thực hành, như vậy này Tỳ-kheo thầy cần phải học tập như vậy.

Chúng ta thấy Đức Phật thương mình quá chừng, tất cả ai ngài cũng thương, ngài nói hết tấm lòng.

"Này Tỳ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy, này Tỳ-kheo, Thầy cần phải tu tập định này với tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, với tứ; cần phải tu tập không tầm, không tứ; cần phải tu tập có hỷ, cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này Tỳ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy này Tỳ-kheo, Thầy cần phải học tập như sau:

'Ta sẽ sống quán thọ trên các cảm thọ ... quán tâm trên các tâm ... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời'. Như vậy, này Tỳ-kheo, Thầy cần phải học tập." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (III). Pháp Lược Thuyết)

Như vậy khi tu Tứ Niệm Xứ thì Đức Phật dạy thầy cần phải tu tập định này với tầm với tứ, không có tầm mình có quán thân mình được không ạ? Có không? Mình phải hướng về cái thân này coi cái hơi thở, coi cái oai nghi, cái hành động rồi mình hướng vào trong cái tứ đại để mình cảm nhận bốn cái yếu tố kết thành thân này, mình hướng vào trong ba mươi hai thể trược và mình an trú ở trong đó, mình giữ những cái hình ảnh đó cũng như chín giai đoạn tử thi. Mình làm cho nó sanh khởi lên những cái hình ảnh, những cái cảm giác, những cái suy nghĩ đó là tầm, tứ, mình trú tâm vô trong đó, mình nhắc nhớ ở trong đó, tác ý ở trong đó, suy tư ở trong đó, nghiền ngẫm ở trong đó, gặm nhấm ở trong đó. Như vậy mỗi khi mình ra nghe pháp mà mình nhắc mấy cái đó là mình có tầm, có tứ không? Có hỷ, có lạc không? Còn nếu mình không nghe, mình ở ngoài đi vòng vòng, ngồi tâm sự thì lúc đó có tầm, có tứ không?

Khi Đức Thế Tôn còn tại thế thì có một cô này nấu đồ ăn cho chồng, cô xào rau cải, khoai tây, cà rốt, đậu hũ này kia, xào qua xào lại, xào tới xào lui, lửa phựt lên cháy hết nguyên cái đống đồ xào, cháy đen hết trơn thì cô này quán chiếu sắc này là vô thường, sắc này là nó biến hoại, nó biến đổi rồi nó bại hoại. Khi nãy nó màu mè đủ thứ màu hết, rồi nó thơm tho, cái hương, cái vị, cái sắc của nó bây giờ đen thùi lùi hết, khét hết, cái sắc thì tàn tạ, cái vị thì khét lẹt, cái hương thì không chịu nổi. Cô mới quán cái tính vô thường, cái tính biến hoại, cái tính đoạn diệt, tính tan rã của năm thủ uẩn ngay trong cái thiền quán mà chứng thánh quả thứ ba. Đó là nữ cư sĩ thời Đức Phật.

"Hãy ngủ trong an lạc

Hỡi nàng thân đẫy đà,

Ðắp phủ trong tấm y,

Chính mình tự làm lấy,

Lòng tham, nàng lắng dịu,

Như ghè khô trong lò!

Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình ở Vesàli (Tỳ-xá-ly). Vì thân hình đẫy đà, nàng được gọi là nàng đẫy đà. Nàng trở thành người vợ trung thành của một người quý tộc. Khi bậc Ðạo Sư đến Vesàli, nàng tin tưởng giáo pháp của đức Phật và trở thành một nữ cư sĩ. Khi nàng nghe Trưởng lão Ni Mahàpajàpati thuyết pháp, nàng muốn xuất gia và thưa với chồng ý nguyện của nàng. Người chồng không cho, nên nàng tiếp tục làm tròn bổn phận của nàng, suy tư đến những lời dạy dịu dàng của giáo pháp và chú tâm đến thiền quán. Rồi một ngày kia, trong khi đang ở trong bếp và nấu món ăn, một ngọn lửa mạnh bừng cháy và thiêu tất cả món ăn với những tiếng cháy xèo xèo, nàng lấy đó làm đề tài để thiền quán về tánh vô thường của sự vật, và chứng được quả Bất Lai. Rồi nàng không đeo các đồ trang sức nữa. Người chồng hỏi duyên cớ, nàng trả lời nàng không thể sống trong gia đình được nữa. Người chồng đưa nàng đến Trưởng lão Ni Mahàpajàpàti Gotami, và bằng lòng để nàng xuất gia. Mahàpajàpàti làm lễ xuất gia cho nàng và đưa nàng đến yết kiến đức Phật. Bậc Ðạo Sư giải thích về đề tài thiền quán của nàng và nói lên bài kệ này.

Khi nàng chứng quả A-la-hán, nàng lập lại bài kệ này và bài kệ trở thành bài kệ của nàng." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm I. Tập Một Kệ, (I) Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)

Nếu lúc đó không có tầm, có tứ thì làm sao quán? Nếu mà cái tâm không hướng về pháp, không có lấy pháp để an trú vào đó để mà từ cái vấn đề đó, cái sự việc đó, cái hoàn cảnh đó mà nhớ triển khai theo cái hướng của trí tuệ về thánh trí ngũ uẩn, về Tứ Niệm Xứ thì lúc đó làm sao có được cái tâm, cái trí, cái tuệ như vậy. Cho nên mình thấy tất cả đều phải có tầm tứ hết, chỗ này mình sáng tỏ không ạ? Rồi khi mình ra quét sân phải có tầm, có tứ, mình quét với một cái tâm không có tầm, tứ về pháp thì nó khác, nó giống như một người bình thường ở đời thôi, đâu có khác gì đâu, chỉ có khác có cái đầu với cái áo thôi còn cái tâm không khác.

Nếu mình ra quét mà mình có cái sự quán chiếu, mình coi lại rác bẩn ở trong tâm, cái thọ mình bây giờ đang ra sao, cái thân đang sao, cái tâm đang ra sao, những cái nội pháp ở bên trong vận hành như thế nào và ngay lúc đó mình có thể triển khai thiền quán. Mình nhớ là có một vị mà Đức Thế Tôn cạo tóc cho, ngay cái lúc cạo tóc là ngài chứng các thánh quả luôn cho nên trong những buổi xuất gia ngắn hạn con nhắc rất là nhiều trong lúc cạo tóc có người chứng quả mà bây giờ mình cạo lúc đó mà người cạo như thế nào và cái người được cạo như thế nào.

"Ngài sanh ra trong gia đình của dân tộc Mallà ở Anupiyà. Khi mới bảy tuổi, ngài được thấy bậc Đạo Sư khi Thế Tôn viếng thăm xứ sở và nhà của ngài.

Ngài bị ảnh hưởng đến nỗi ngài xin phép bà nội cho được xuất gia với bậc Đạo Sư, mẹ ngài đã mất khi sanh ngài. Bà nội ngài đưa ngài đến yết kiến đức Phật và đức Phật giao cho một Tỳ-kheo làm lễ xuất gia cho ngài. Ngài với nghiệp nhân quá khứ với ước vọng tương lai đang chín muồi, nên chứng được bốn quả liên tiếp chính trong khi ngài được cạo tóc.

Khi bậc Đạo Sư từ giã xứ Mallà để đi về Vương Xá, Dabba thiền quán một mình, và muốn dùng thân để phục vụ giáo hội và nhận công việc phân phối chỗ ngủ, tổ chức các buổi ăn. Bậc Đạo Sư chấp nhận công việc làm này, xác nhận sự thành công của ngài, khả năng thần thông của ngài, với ngón tay chói sáng của mình soi sáng cho các đồng Phạm hạnh về chỗ ngủ. Các sự việc này được nói đến trong Luật tạng." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Một, (V). Dabba (Thera. 2))

Con thấy một số vị không có đắp y, lúc cạo tóc là lúc thực hành quán Tứ Niệm Xứ, người cạo và người được cạo là hai người này phải là có một sự thực hành pháp, nếu trong lúc đó mà không thực hành pháp thì lúc nào thực hành pháp cho nên cạo không phải cho nhanh lẹ, cạo trong cái dục, cạo như vậy cạo trong cái thường tình thì làm sao giúp cho người kia tẩy sạch được phiền não. Mình phải đem hết cả cái tâm có tầm, có tứ, mỗi một nhát dao của mình xuống là mình quán "Đây là cái nhát dao của thánh tuệ" và mỗi một cọng tóc như vậy là rụng hết tất cả những cái phiền não của chính tự thân mình và của người đó, là ngay lúc đó mình triển khai thiền quán, chậm chút cũng không sao chứ không phải làm ào ào. Cho nên con để ý là thường thường khi làm việc là lúc đó mình quên tu, thường là như vậy, con chú trọng cái tu hơn cái giờ ở trên chánh điện.

Giờ trên chánh điện đâu có cần chú trọng nhiều tại vì ai cũng tu hết rồi, còn bây giờ ở ngoài chánh điện, ở ngoài thiền đường con chú trọng hơn. Giờ lên thiền đường, lên chánh điện thì giờ đó ai cũng tự ý thức được rồi, đâu có cần nhắc nhiều nữa đâu. nhưng mà cái giờ ngoài thiền đường làm sao trong những lúc mình làm việc, mình sinh hoạt vẫn có tầm, có tứ về pháp. Cái này là cái quyết định để thành công tại vì giờ lên thiền đường ít, mà cái giờ ở ngoài nhiều hơn, mình cứ tính cái giờ lên thiền đường thì mình tu được nhiêu. Cho nên ngay trong lúc cạo tóc mà chứng từ thánh quả thứ nhất cho đến thánh quả thứ ba, thứ tư.

Tại sao mình nghe pháp mà nghe cái tới câu nói đó chấn động thân tâm hết? Vì trong lời pháp đó là một cái lực, một sức mạnh ở trong đó, cái trí tuệ ở trong đó, còn nếu nói pháp mà nói không ra hơi, nói trong cái trạng thái tâm không có tuệ lực, không có hùng lực, nói mà không có quả quyết, không có dứt khoát thì người nghe chạm tới được, người ta rúng rộng được, khai mở được cái trí tuệ. Vì vậy trong khi thuyết pháp cũng vẫn phải có tầm, tứ trong cái chia sẻ pháp, không phải chia sẻ bằng kiến thức không mà trong đó gửi một cái lực ở trong đó, cả một cái cảm thọ trong đó, một sức mạnh trong đó.

Trong khi mình nấu ăn dưới bếp cũng vậy luôn, bất cứ mọi công việc đều đưa tầm, tứ vào đó hết, tầm tứ pháp làm sao cho nó thích hợp trong cái công việc đó là được. Rửa chén, quét nhà, lau toilet, thái, gọt, giặt giũ, nấu nướng, tất cả mọi công việc đều đưa tầm tứ pháp vào đó hết, mỗi bước chân của mình. Tại sao mình không đủ sức để tầm tứ? Thứ nhất là cái tâm mình buông lung, thứ hai là không hộ trì căn, thứ ba là không có an trú cảm giác toàn thân, thứ tư là không có như lý tác ý, thứ năm là mình không đủ trí tuệ để mình tác ý nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ về trường hợp đó, mình không biết tác ý làm sao vì mình học ít, hoặc là có nghe nhiều nhưng mà nghe rồi từ lỗ tai này qua lỗ tai bên kia, không có thọ trì được pháp tức là không nhận giữ được pháp.

Cho nên khi đụng chuyện rồi mình không biết làm sao tác ý, không biết cách tác ý vì cái vốn liếng không đủ. Hôm bữa chúng ta học hộ trì chân lý, giác ngộ chân lý và chứng đạt chân lý là tu tập tới, tu tập lui, luyện tập, thực hành lâu dài, kiên trì là vậy đó. Chúng ta phải có nhiều vốn liếng, nhiều cái thấy, cái biết, cái hiểu nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ trong đời sống này để chúng ta biết cách quán. Chúng ta thấy bậc đạo sư hướng dẫn phương pháp diệt dục mà đưa ra mấy chục pháp mà ngài nói với con là chưa có hết đó, mình biết cái trí tuệ nó khủng khiếp tới mức độ nào không, nó vừa sâu mà nó phải vừa rộng.

Tại sao mà như vậy? Thứ nhất là cái pháp học nó dày, nó nhiều, nó đầy. Thứ hai là cái sự thực hành nó sâu, nó chắc. Thứ ba là một cái sự để tâm, tứ như ý túc ở trong đó rất là nhiều, để tâm rất là nhiều, dụng công rất là nhiều, triển khai mọi mặt, những cái phương pháp tác chiến, những cái chiến thuật, những cái chiến lược để đánh phá ở bên trong tâm của mình chứ mình tu thường thường, mình tu theo cái kiểu thụ động "tới đâu nó tới, cố gắng chi mệt" tu cái kiểu đó thì nó không tiến bộ. Cho nên mình thấy chỗ này cái tầm, cái tứ là nó rất quan trọng về Tứ Niệm Xứ, quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp cho nên cái chữ nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ba cái chữ này là pháp hành, chữ "quán" đó là pháp hành.

"Ta sẽ sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời", Đức Phật dùng cái chữ sống này là có lúc nào mình không sống không? Vì vậy chữ "sống" này của Đức Phật là bất cứ mọi lúc mọi nơi chứ không phải đợi lên thiền đường mới quán, hoặc là tới lúc đó mở cái bài thiền quán thì mình mới quán. Cho nên mình đi vào trong đây mới thấy ở trong cái trí tuệ Nikāya là đại đa số, phần lớn tám mươi, chín mươi phần trăm là thiền quán mới làm cho vỡ ra cái khối vô minh uẩn, nó nổ ra, nó bể ra. Quán là quán sát, là nhìn sâu sắc, nhìn mọi phương diện, khía cạnh, góc độ, mình đào sâu vô các khía cạnh cho nên cái sự trình pháp của mình là rất là quan trọng và cái sự viết nhật ký tu học là rất quan trọng. Thí dụ bây giờ niệm ân đức Phật dào dạt, cảm xúc như vậy, tuyệt diệu như vậy đó rồi xong xuống nhiều khi mình sẽ quên, mình phải ghi chép lại, về mình viết ra, mình khắc sâu cái cảm thọ đó tức là mình vận dụng hết tất cả mọi cái gì mình đã học, đã hiểu, đã suy tư, đã nhận thức được, mình dụng tận lực của mình ra thì gọi là triển khai thiền quán.

Nhiều khi mình chưa có dùng hết sức tức là cái hiểu mình có khi hơn cái đó nữa nhưng mà mình nói nhiêu đó thôi, rồi mình làm biếng, mình thụ động, mình không có nhiệt tâm, tinh cần, viết cũng làm biếng viết nữa, nói thì sợ người ta chê. Cho nên phải nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời, bốn từ này đều là pháp hành, tham ưu ở đời tức là tham với sân, ham muốn và lo lắng.

"Này Tỳ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy, này Tỳ-kheo, Thầy cần phải tu tập định này với tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, với tứ; cần phải tu tập không tầm, không tứ; cần phải tu tập có hỷ, cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này Tỳ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy này Tỳ-kheo, chỗ nào, chỗ nào Thầy đi, chỗ ấy Thầy đi được an ổn; chỗ nào, chỗ nào Thầy sẽ đứng, chỗ ấy Thầy đứng được an ổn; chỗ nào, chỗ nào sẽ Thầy ngồi, chỗ ấy Thầy ngồi được an ổn; chỗ nào, chỗ nào Thầy sẽ nằm, chỗ ấy Thầy sẽ nằm được an ổn" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (III). Pháp Lược Thuyết)

Ở trên Đức Phật nói rõ ràng là quán Tứ Niệm Xứ rồi có tầm, có tứ, có hỷ, có lạc, có xả nhưng mà xuống dưới Đức Phật nói "định này thầy được tu tập" vậy là sao? Cho nên trong cái sự tu tập Nikāya khi con được bậc đạo sư hướng dẫn trong suốt ba năm trời thì ngài hướng dẫn cho con thiền định là giúp cho tâm mình lắng dịu để cho mình nhìn rõ. Nó là cái phương tiện thành ra trong các cái pháp mà Đức Phật dạy trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo này, trừ tứ thiền ra mà trong đó cũng có tầm, có tứ nữa, tất cả những cái pháp mà ngài nói trong kinh này, tất cả bài kinh Nikāya đều là thiền quán hết. Bây giờ nếu như mình muốn nhìn cái thân mình nó kỹ, nó rõ, cái tâm mình có yên định để nhìn không ạ? Mình có muốn lắng để mình nhìn cảm thọ thì cái tâm nó cần đủ độ yên để nhìn không ạ?

Thí dụ mình muốn nhận diện ngũ uẩn là cái tưởng mình có cần sự lắng yên không? Như vậy đó, tức là chỉ quán song vận, chỉ quán đồng hành, chỉ quán cùng tu. Mình đừng có nghĩ là chỉ là riêng, quán là riêng, chẳng hạn như trong khi mình thiền quán tại sao có những người cảm xúc dào dạt như vậy, có những người thì vừa vừa nhưng mà có những người đơ đâu có thấy cái gì đâu. Những cái người mà họ đơ đơ, họ không cảm nhận được bao nhiêu là trong họ lúc đó năm triền cái xâm chiếm, ngồi đó vậy chứ họ nghĩ lung tung chuyện này chuyện kia, Cái người vừa vừa là năm triền cái ít, còn người xúc động thiệt là nhiều có thể là cảm động, chấn động luôn thì người này rất là ít, thậm chí là không có năm triền cái cho nên cái pháp thọ được rất là nhiều, nó không có bị ngăn che, ngăn chướng, ngăn cản.

Chẳng hạn mình ngồi đây thì bây giờ gió thổi mình mát chứ mình ngồi ở trong nhà, bốn cái tấm vách thì gió đâu có thổi vô được đâu, thì năm cái pháp đó, năm triền cái đó là nó ngăn chướng cái trí tuệ như vậy. Đức Phật nói rằng mình tu được các cái định nói ở trên thì đi, đứng, nằm, ngồi cũng được an lành, an ổn, an yên, an vui, an bình hết. Mọi người chịu không? Có chịu bình an không? An lành, an ổn, an vui, an yên, an tịnh, an lạc, an bình biết bao nhiêu, cái an chỉ cần tu những cái pháp nãy giờ thôi.

"Tỳ-kheo ấy, được Thế Tôn giáo giới với bài giáo giới này, từ chỗ ngồi, đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Tỳ-kheo ấy sống một mình, thanh tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng đạt được mục đích mà các thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ðây là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ biết: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành. Những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'. Tỳ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (III). Pháp Lược Thuyết)

Để chúng ta dễ nhớ thì đầu tiên là Đức Phật nói cái người chỉ hướng vào hình tướng ở bên ngoài, đi theo cái hình tướng của Phật ở bên ngoài thôi mà không chịu học cái pháp, nắm cái pháp, thực hành cái pháp thì Đức Phật gọi đó là người ngu si. Chạy theo cái tượng Phật bằng ngọc, tượng Phật bằng ngà, tượng Phật bằng vàng, tượng Phật bằng đồng, tượng Phật bằng gỗ, đi theo những cái hình thức bên ngoài, ngay cả cái thân của Đức Phật ngài còn nói đây là cái thân hôi thúi, ngài còn nói "họ nghĩ ta là người họ cần phải đi theo" mà chính cái thân tướng của Đức Phật khi còn tại thế chứ đừng nói bây giờ chạy theo những cái đó thì Đức Phật gọi là người ngu si. Muốn thấy ngài là phải thấy pháp, ai đang thực hành pháp lúc đó là đang thấy Như Lai, như vậy Như Lai là bất tử, Như Lai là pháp thần, chỉ cần người nào sống trong pháp thì lúc đó là sẽ thấy được cảnh giới bất tử của Như Lai. Đó là tổng cương lĩnh mà Đức Phật muốn nói với vị thầy Tỳ-kheo này cũng là với chúng ta.

Bây giờ cái phương pháp tổng quát của pháp hành là "nội tâm ta sẽ an trú, khéo vững trú, các pháp ác và bất thiện khởi không có xâm chiếm tâm và không có chân đứng", tức là sau khi đã học pháp, đã hiểu pháp, đã thực hành pháp rồi thì phải an trú, vững trú ở trong cái pháp và an trú, vững trú trong cái pháp nó có một cái sức mạnh, nó có một cái năng lực không để cho các ác và bất thiện pháp xâm chiếm, áp đảo và có chân đứng trong tâm. Tức là tâm mình vẫn còn bị khởi lên ác và bất thiện pháp nhưng cái ác bất thiện pháp khởi đó không đủ sức để xâm chiếm tâm mình, không cho nó có chân đứng ở trong tâm mình. Đó là cái pháp tổng quát.

Bây giờ Đức Phật dạy tứ vô lượng tâm và Tứ Niệm Xứ, tất cả sự tu học đều phải có cái sự hướng tâm, sự an trú vào trong pháp, sự hoan hỉ ở trong cái pháp, sự vui ở trong cái pháp và cuối cùng là cái tâm buông xả. Thành ra một người đã thực hành được như vậy thì đi, đứng, nằm, ngồi bất cứ ở đâu và khi nào, lúc nào, trong trường hợp nào, trong hoàn cảnh nào người đó cũng đều an bình, an tịnh, an ổn, an yên, an lành, an lạc, an vui và vị Tỳ-kheo này về chuyên chú thực hành và thành tựu cứu cánh vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, thành tựu mục đích tối thượng của người xuất gia. Mình thấy sao mấy vị đó nhanh gọn lạ quá còn mình giờ trật lụi hoài, có ai ở đây xong rồi cho con hay con mừng.

./.