Pháp Đàm - Hãy Chuyên Sâu Đề Mục Thiền Quán
PHÁP ĐÀM NIKĀYA
HÃY CHUYÊN SÂU ĐỀ MỤC THIỀN QUÁN
–Thích Minh Thành–
Sư Phụ: Cảm giác hơi thở, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân. Cảm nhận vùng đất này, trời đất này, cảm nhận tâm thương rộng lớm, rõ biết tâm thương này rộng lớn. Mở tầm nhìn ra cùng khắp hư không, tâm được lắng dịu trong giây phút này, an tịnh, dễ chịu như bây giờ đây. Giây phút này thật là mát dịu, khoảnh khắc này thật là dễ chịu, tâm thương này thật là bao la, thật là rộng lớn, tâm thương này thật là an bình như sự an bình trong khoảnh khắc này của tâm thương rộng lớn. Tâm thường này là nguồn sống, lẽ sống, sức sống, là sự sống của bậc hiền trí, tâm thương này dễ chịu biết bao trong lòng, tâm thương ngọt dịu làm sao, tâm thương dễ chịu biết bao trong lòng, tâm thương này giống như làn gió mát bây giờ, giống như những đóa hoa sen đang chớm nở ở trước mặt chúng ta.
Tâm thương này là hơi thở của chúng ta, là sự hô hấp tuần hoàn của chúng ta, là huyết quản, là mạch máu của chúng ta, là thấm đẫm, thấm nhuần, thấm vào trong tim tủy của chúng ta. Người sống được với tâm thương này nước không nhận chìm được người đó, lửa không đốt cháy được, người sống được với tâm thương này lửa không thể cháy, nước không thể nhận chìm, bách độc bất xâm, gươm dao bất phạm. Tất cả những thứ những mũi tên độc, những gươm, những giáo đi tới người có đầy tâm thương đều biến thành ngàn hoa hết, đều biến thành hoa sen, đều biến thành hoa trời rơi trong tâm đại bi của Thế Tôn và trang sức làm đẹp cho Đức Như Lai. Mình con Phật cũng vậy, tất cả những ác hại những sân hận, những oán giận, oán thù oan gia đều được tâm thương này hóa giải, chuyển hóa và trở thành hoa sen, hoa trời, hoa thơm, đều trở thành ngàn hoa, vạn hoa, triệu hoa để tô điểm cho tâm thương này, để trang điểm cho tâm thương này, để làm đẹp thêm cho bậc hiền trí, để kết thành những cái tràng hoa trang nghiêm cho tự thân và dâng lên cúng dường cho Đức Phật.
Tâm thương này thật là kỳ diệu, tâm thương này thật là phép màu, tâm thương này thật là huyền nhiệm, không bất cứ một vũ khí nào trên cuộc đời này có thể làm tổn hại được bậc hiền trí viên mãn tâm thương này. Tâm thương này là tâm của bà mẹ hiền, tâm thương này sẽ ôm ấp, vỗ về, sẽ vuốt ve, sẽ nuôi dưỡng tất cả những oan trái, oán hận thù địch trên cuộc đời này. Tâm thương là mẹ đất nâng đỡ vạn vật, tâm thương là cha trời che chở muôn loài, tất cả cọp, sói, beo, gấu, rắn rít, trùng độc khi đi vào tới tâm thương đều trở thành hiền ngoan, đều trở thành thú cưng, đều là bất hại, vô hại, hoàn toàn không còn có khả năng làm tổn hại.
Làm sao có thể làm hại được mẹ của mình? Làm sao có thể làm tổn thương được tâm đại bi, đại từ? Trời đất bây giờ, không gian bây giờ, vạn vật bây giờ đang hòa đều với tâm thương của chúng ta, đang hòa nhịp từng hơi thở với tâm thương, đang hòa lẫn với cảm thọ hiền thiện, đại bi này, vũ trụ đang cúi đầu để nghe lời xuất phát từ tâm thương.
Xin mời chư tôn và chư hiền chia sẻ cảm thọ, trải tâm thương rộng lớn của mình.
Cô Hiền Châu: Con xin đem tất cả tấm lòng thành kính đảnh lễ trên Đức Thế Tôn, con xin đem tất cả tấm lòng thành kính đảnh lễ trên sư phụ tôn kính và con xin đem tất cả tấm lòng thành kính đảnh lễ trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và các bậc hiền trí. Đệ tử con Hiền Châu kính xin trình lên cảm thọ trong bài thiền quán về tâm từ, tâm thương mà sư phụ đã chia sẻ, chỉ bày cho chúng con. Thọ trong con sanh khởi lên cảm thọ thương xót và cảm thọ thứ hai là sanh khởi lên cảm thọ ân hận, sám hối. Tâm từ là tâm hiểu nỗi khổ của chúng sanh bị các nghiệp chi phối phải đi mãi trong tái sanh, vòng luân hồi sanh tử này và khi tưởng con hiện lên những hình ảnh của những chúng sanh ở dưới địa ngục, cõi ngạ quỷ, súc sanh, những chúng sanh vô hình, những chúng sanh mà con không thấy được sự hiện hữu của họ, những chúng sanh là oan gia trái chủ của chúng con nhiều đời nhiều kiếp.
Con thấu hiểu sự thống khổ của những chúng sanh bất hạnh đang phải trả những nghiệp quả, những ác nghiệp mà vì vô minh, vì không gặp được chánh pháp, vì không thấy được ngũ uẩn, vì không thấy được tham, sân, si, vì không được những bà mẹ có trí tuệ dẫn dắt, những chúng sanh đó đã gây tạo những ác nghiệp trong vô minh và giờ họ phải lãnh lấy những ác nghiệp đau đớn, thảm khốc trong ba cõi ác. Con nhìn lên bầu trời bầu trời bao la, rộng lớn, con hỏi chính cái tâm của con tại sao đất trời rộng lớn thênh thang lắm mà mãi chui vào cái nội tâm nhỏ bé, hẹp hòi như vậy. Tại sao không thấu hiểu những tất cả nỗi khổ của các chúng sanh đang phải hứng chịu trong sáu nẻo luân hồi đầy oan nghiệp như thế này. Tại sao cứ sống nhởn nhơ qua ngày đoạn tháng, không thấy được sự nguy hiểm của vòng luân hồi sanh tử này, không thấy được những chúng sanh đó, những hình ảnh đó cũng là những hình ảnh của mình trong quá khứ, những hình ảnh của mình đã phiêu bạt lang thang trong sáu nẻo, đã phải chịu hành hạ dưới địa ngục, phải bị mổ bụng, thọc cổ, sống vất vơ vất vưởng trong các cõi ngạ quỷ và cõi súc sanh.
Con trải tình thương cho tự thân con, con trải tình thương đến tất cả các hữu tình chúng sanh đang ở trong ba cõi ác và con trải tình thương bằng tất cả tấm lòng chân thành sám hối trong con đối với các vị oan gia trái chủ mà vì vô minh, mà vì ngu si, vì không thấy được khổ trong cuộc đời này mà các chúng sanh làm hại lẫn nhau, làm khổ lẫn nhau và con đã vì vô minh, ngu si đã làm hại các hữu tình chúng sanh. Con đã là khổ họ, con đã lấy đi sinh mạng của họ, con đã làm họ tức tưởi mạng chung vì con, bây giờ họ phải sống trong sự oán hận, trong sự sân hận, họ phải chịu những cái ngọn lửa sân hận thiêu đốt chính tự thân họ, họ đã phải trải qua những khổ đau trong quá khứ khi bị chính con làm họ đau khổ và đến giờ họ lại hứng chịu lòng sân hận đó .Con thành tâm sám hối những gì mà trong vô minh, trong sự ngu si con đã làm hại hữu tình chúng sanh. Cầu mong tất cả chúng sanh gặp được chánh pháp, tu tập được chánh pháp, thấy được cuộc sống này là vô thường, là đau khổ để cùng nhau thoát ra khỏi dòng sanh tử đau khổ này. Con chân thành, chân thành sám hối. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 1: Con chân thành đảnh lễ Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con chân thành cung kính đảnh lễ trên vị đạo sư mà chúng con tôn kính, con chân thành đảnh lễ cung kính trên sư phụ tôn kính, con chân thành đảnh lễ Ni Sư, con đảnh lễ chư Tăng, chư Ni cùng các vị Phật tử đang có mặt tại đây. Con Phật tử phát danh Từ Dung đến từ Hải Phòng, con về đây đã được một tuần hôm nay chính thức con xin đảnh lễ sư phụ và xin sám hối sư phụ qua một thời gian dài con không được về núi tu tập cũng là do điều kiện hoàn cảnh của con. Con mong sư phụ thông cảm cho con, khi con đặt chân về núi cảm thọ đầu tiên trong con thật là bâng khuâng và ngỡ ngàng trước sự thay đổi rất nhiều của Linh Quy này.
Con rất cảm ơn sư phụ cùng tất cả các vị Tăng Ni tại nơi đây công lao của sư phụ đã cho chúng con có một môi trường tu tập đầy đủ. Con cảm động vô cùng khi con quay về với dòng pháp này, ngày ngày, sáng, trưa, chiều, tối con đều được sống ở trong pháp, đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống con đều được sống ở trong pháp, đang dần tìm lại chính mình. Những năm tháng ở nhà con cũng học pháp nhưng dạo học pháp của con vẫn còn giải đãi, khi về đây con được mở mang tầm mắt thêm, mở mang trí tuệ thêm. Con rất cảm ơn sư phụ, con đang dần dần lấy lại tất cả những gì con đã học được mà sư phụ đã giảng dạy chúng con cách đây mấy năm.
Giờ đây khi con đã nhìn nhận ra được cảm thọ khi ngồi thiền khi sư phụ giảng pháp tất cả những bài thiền quán, hoặc những bài mà sư phụ giảng trong mấy bài đều cảm nhận được. Lần đầu tiên trong đời con được nghe thiền quán về khất thực cũng như là thực tế con được đi khất thực trong Tăng đoàn, con thật cảm động vô cùng. Giờ đây khi nghe tiếng chông mà sư phụ gióng lên tâm con khởi lên lời thiền quán của sư phụ về tâm thương, trải tâm từ rộng lớn, bao la đất trời với tất cả chúng sinh, tất cả những sinh linh nhỏ bé chúng sinh đang bị đọa trong địa ngục. Khi con quay lại với chính thân mình con đang được ngồi với thân hình đầy đủ ngũ căn, con nhận biết được sự cảm thương đến tất cả chúng sinh ở các cõi luân hồi.
Với con một tuần vẫn còn mới mẻ, con còn phải học hỏi hơn nữa những sự nhận thức của con. Con thấy rằng tâm thương của con đối với chúng sinh vẫn còn chưa được thấu đáo, con còn chưa được nhận rõ về tâm thương chúng sinh đến dường nào. Tuy rằng nghe lời sư phụ giảng con tác ý từng câu, từng lời sư phụ nhưng cảm nhận của con vẫn chưa được thấu đáo.
Sư Phụ: Từ từ học thêm.
Phật tử 1: Dạ con kính mong sư phụ cùng đại chúng thông cảm và sẽ giúp đỡ chúng con dần dần con sẽ hiểu thêm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Chúng ta đứng lên đánh lễ Đức Phật.S
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Thưa chư tôn và chư hiền trí sắp tới con cũng không có nhiều thời gian ở gần chúng ta, con khóa tu ở Sài Gòn, ở Nha Trang và ở Hà Nội, đặc biệt các quý Phật tử ở xa về nên trong thời gian con ở đây ba-bốn ngày này sẽ là khóa tu. Chúng ta có hoan hỉ để tu không? Chiều này con mới về tới chân núi là con thấy con khỏe rồi, đi xuống phố mới về tới khi lên tới vườn hoa đứng xa xa nhìn thấy cũng còn nở thì mới thông báo với mọi người là chiều nay tâm sự ngàn hoa cho mọi người hỏi, tại vì cái bữa trước con về có một số vị lên tính hỏi mà lúc đó không có thời gian, cho mọi người tính trải mấy cái tấm ngồi ở trong vườn hoa tới chừng lại gần coi héo queo hết, nhìn xa xa thì tưởng đâu nó còn tươi nhưng mà đến lại gần nó tàn tạ, nó tả tơi, đó là tâm sự ngàn hoa. Bây giờ chúng ta qua tiết mục tâm sự ngàn hoa hỏi đáp, ưu tiên cho các vị hỏi trực tiếp trước và chừng nào không có trực tiếp thì trả lời gián tiếp trong mấy tờ giấy này sau. Chúng ta cứ việc chia sẻ những gì còn nghi ngờ, thắc mắc, chưa rõ trong sự tu, sự học.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ân đức Thế Tôn, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ân đức sư phụ, chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Con hỏi câu hỏi thì rất ngắn nhưng mà để hỏi câu hỏi thì con có hơi dài dòng, con xin phép sư phụ cho con được giải thích những cái thắc mắc của con. Trước đây thì con niệm an tịnh, lắng chịu và mỗi ngày con nghe tâm hiền thì con thấy rất là dễ chịu, khi xúc với những cái này kia, ví dụ những tiếng em bé khóc ré lên có những cái ngũ uẩn khác các vị khó chịu nhưng mà con thấy là con không có khó chịu, hoặc là đi tới chỗ giống như có ống nước có mùi bốc lên thì con cũng thấy vẫn dễ chịu. Con để ý là khi con không có bám vào đề mục thì tâm của con rất là dao động, khi con đảnh lễ ngài Xá-lợi-phất thì những cái câu như "nay con ngao ngán nhìn thân xác" hay là "xấu hổ thân hôi thối" hay là "khốn khổ thân lủng lỗ" thì con đọc mà con không có cảm nhận được.
Gần đây khi một cô chia sẻ với con là cô mỗi ngày đều nghe quán bất tịnh và niệm chết sáu tiếng một ngày, ba tiếng buổi sáng, ba tiếng buổi tối và cô liên tục, liên tục không có ngừng nghỉ. Trong khi quán thì vừa nghe bằng tai vừa xem video bằng mắt thì cô nói là nó rất là hay, nó tác động rất là mạnh vào cô và sau một năm rưỡi thì nó đã trở thành định tướng và trong giữa ngày thì cô tu tập bốn vô lượng tâm để cho làm cho tâm mềm mại, dễ chịu, giữa ngày thì cô nghe thêm pháp của sư phụ và đạo sư. Khi con thử làm giống như cô thì con thấy con chấn động rất là mạnh và nó thấm những cái ý nghĩa trong kinh trong khi con xem video. Vậy thì con thấy là những cái câu kinh đó nó rõ ràng, con hiểu nó sâu hơn hồi xưa rất là nhiều, dù là trước đó con nghe giảng và con có quán nhưng mà con thấy nó rất là yếu.
Con cũng thử về cái hơi thở thì con thấy nó rất là khó cho con tại vì ngày xưa có lần đọc cuốn sách thì họ chỉ là hít vào đếm ba, rồi giữ lại đếm ba, rồi thở ra đếm là ba. Trước khi mà con đi thi thì con tập cái đó thì làm cho con rất là an lạc tại vì con không có quan tâm tới cái lo lắng cái thi nữa, làm như tập như vậy lâu rồi đến khi chuyển sang chỉ quán sát hơi thở thì con thấy khó chịu, cảm thấy giống như là mình khống chế hơi thở khó lắm. Con nghĩ là bây giờ con vẫn tiếp tục tập tâm hiền và con nghĩ là con nên quán về bất tịnh như xem video và nghe để cho kèm thêm vô, con có thể niệm bộ xương và giữ tưởng của cái bộ xương hay không thưa sư phụ? Khi con xem cái bộ xương thì làm như nó bằng nhựa, nó n không có như bộ xương thật, nó không có dơ, nó không có máu tanh, nó không có chấn động cho con lắm. Con nghĩ nếu ý hành mình niệm bộ xương thì khi con làm việc, tay chân cử động hay là cái đầu con quan sát thì con thấy là nó ảnh hưởng con.
Con có thể quán sát được cái điều đó, cái bộ xương thì bây giờ nó đang là bộ xương, mình hoạt động hàng ngày thì mình có thể theo dõi được cái bộ xương và đến khi chết thì nó cũng là bộ xương. Con nghĩ là thí dụ như khi mình tu tập thì mình phải có một cái gì đó, một cái đề mục nào đó mà nó sẽ xuyên suốt cho toàn bộ cái sự tu tập của mình về lâu về dài. Thí dụ như giống như người niệm Phật thì họ niệm xong họ thêm kèm thêm quán mất tịnh hay niệm chết, thì con muốn lựa chọn cho mình một cái đề mục giống như là nó sẽ về lâu dài như vậy. Trước đây thì sư phụ có nói là quán xem những cái video về bất tịnh cả ngàn lần thì con xem được vài lần thì không muốn xem nữa, nhưng khi con nghe thiền quán và khi xem cùng lúc như vậy thì con thấy rất là thích và cảm thọ được rất là nhiều,
Dạ con thấy là ở đây thì mình tu tập sâu về cảm Thọ, con thấy như ngài Châu-lợi-bàn-đặc thì giống như ngài dùng cái niệm các cái câu thì nó cũng thành tựu được. Nếu con niệm về cái bộ xương có thể là nó phù hợp với con thì con xin sư phụ chỉ dạy con xin lỗi là con nói hơi dài và có vẻ là nó lủng củng.
Sư Phụ: Nói vậy tốt mà, ở đây Ấn Đức cũng tu đề mục bộ xương, ở trong cái lời trình pháp của hiền giả Diệu An có được nhiều cái để mình nhìn ra được cái sự hành trì lắm. Về cái tu tập tâm hiền là nó phải xuyên suốt, nhiều khi mình tu được thời gian thì nghĩ vậy là được rồi đó nên mình thôi, chắc mình được rồi nhưng mà không phải vậy. Cái đó là tưởng tri, đụng chuyện rồi lúc đó nó sẽ mất cho nên các vị thiền sư Cao Tăng Myanmar nói tâm rời khỏi đề mục thì ngay lúc đó là buông lung phóng dật, lúc cái tâm mình lúc đó không có một cái đề mục nào hết thì lúc đó là mình đang sống trong buông lung phóng dật. Cái đề mục thường trực và xuyên suốt đối chúng ta là đề mục tâm hiền.
Hôm trước sư bà lên núi sư bà hỏi, sau đó sư bà mời về dưới tịnh xá vô sư bà hỏi lần nữa, hỏi thầy chỉ cho con cái bí kiếp coi chùa con có mười người thôi mà con cũng phải lo nhiều mà trên thầy đồ bảy tám chục người, có khi cả trăm mà an ổn vậy? Con thưa "Dạ thưa sư bà tâm hiền", hai chữ thôi chúng ta thấy có được an lành không? Luôn luôn lúc nào mình cũng nhắc mà không phải được tuyệt đối đâu, hơn trung bình chút thôi chứ chưa có đủ đâu, nhưng mà nó đỡ hơn nhiều không. Nếu mà ở đây không có tu tâm hiền thì người ta không ở được thành ra cái tâm hiền là tuyệt đối quan trọng, nhiều khi đang ngồi nghe pháp mà chưa chắc có tâm hiền, nhiều khi con ngồi chia sẻ pháp mà có mấy người nhìn làm con sợ nên cúi xuống, giảng xong là đi liền. Thành ra cái tâm hiền của Nikāya sâu sắc lắm.
Mình thấy có nhiều người ngồi chút họ bung chân họ đi ra, thấy không? Đó là rất là thô đó, còn nhiều cái tế hơn nữa, họ ngồi nghe nhưng mà mắt họ nhìn mình trừng trừng, thấy sợ quá. Tới những lúc đánh phá vô cái dục, cái ái, cái bản ngã là họ trợn lên, biểu hiện ra, thành ra cái tâm hiền này mình phải tu hoài cho tới chết thôi bởi vì cái tâm hiền này viên mãn là hiền thánh, mà hiền thánh Tăng ở đây là đoàn thể hiền thánh của Phật giáo chứ không phải hiền thánh Tăng là cái ông thầy. Nhớ kỹ, con nhắc rất là nhiều lần cái chữ Tăng đó là cái đoàn thể, mình nghe chữ hiền thánh Tăng cái mình nói là cái ông thầy thánh, trong đó có cư sĩ luôn, đoàn thể hiền thánh của Phật giáo. Thành ra không có thể dễ dàng cho qua mà cũng không có thể dễ dàng chấp nhận, dễ dàng mà tưởng rằng mình đã tu xong cái tâm hiền.
Có nhiều vị cái cách mình nói chuyện, cái cách mình ứng xử, cái cách mình làm việc, mình có tu tập tâm hiền là nó khác liền thôi. Mình nói chuyện mà mình không an trú tâm hiền cái giọng nói mình nó khác, cái cách làm việc của mình khác, đi tới đâu là đụng rầm rầm rớt đồ tới đó, dép mang vô thì để chiếc đây, chiếc văng lên đây, nói chuyện ra thì trách người ta không, đổ lỗi với người khác không, có chuyện ra là đổ người không mà đổ cha, đổ mẹ, đổ ông, đổ bà, đổ anh, đổ em, đổ vợ, đổ chồng, đổ con, đổ cái, "người ta lỗi hết trơn chứ tôi không có lỗi". Cái tâm không có hiền trí, cái này nói là hết giờ luôn, nhấn mạnh lại để chúng ta thấy cái tầm quan trọng của tâm hiền. Mình tu cái tâm hiền được rồi con người mình nó dễ chịu lắm, rất là dễ chịu, cái cảm thọ của mình nó nhẹ nhàng, nó khinh an ở trong thất giấc chi mình sẽ cảm nhận được lời nói mình cũng nhẹ, bước đi cũng nhẹ, cái hơi thở cũng trầm, cái cảm thọ trong mình lắng dịu.
Mình tu từ ở trong thọ, ở trong tưởng, trong hành, trong thức, đương nhiên cái sắc là có tu. Nó nhẹ, nó trầm, nó tịnh, nó lạc mà mình kết hợp với tâm từ thì tuyệt vời luôn, rất là dễ chịu, cũng như chú Trí Tùng mới đi với con về tức thì, mới làm tài xế đi lái mấy trăm cây số về nhưng vẫn lên ngồi tu bình thường. Khi mình có tâm hiền, mình có tâm từ sẽ dễ chịu, mình ít có thấy mệt, phải không? Ít có thấy mệt, đâu ai biết con chạy show đâu, nhiều khi công việc gấp thật là nhiều nhưng mà mình cũng vẫn phải nhẹ nhàng vì mình có tâm hiền, tâm từ mà mình không có tâm hiền, mình không thực tập tâm hiền thì trong cái chỗ nhẹ nhàng mình cũng nặng nề nữa, trong cái chỗ thảnh thơi mình cũng vội vàng nữa, trong cái chỗ bình an mình cũng căng thẳng nữa.
Ở trong chúng mình có các vị lớn tôn đức tu cái tâm hiền rất là tốt, trong chúng mình có nhiều vị tu tâm hiền cũng có nhiều vị tu tâm từ. Cô Diệu An lúc mới về với bây giờ khác nhiều lắm, thưa cô có khác nhiều không? Ở trong chúng mình cũng có nhiều người đổi khác lắm, giới tử già nhất này cũng khác nhiều đấy, khác lắm, nhiều vị thay đổi lắm. Đó là cái công năng, tác dụng của tâm hiền và bây giờ tới cái phần bất tịnh quán là quan trọng lắm, mình đừng có đòi làm theo ý mình, mình muốn cái gì tự mình nỗ lực riêng mình, trong chúng không thể làm giống mình được. Chúng là cái đại trà, là phổ thông là đại chúng, giờ nếu mà giờ con cho bảy ngày mà ngày nào cũng quán bất tịnh hết chắc xuống núi gần hết, hay là luôn cả nửa tháng hoặc một tháng thành ra tự mỗi người phải chọn cho mình một cái đề mục. Quán bất tịnh là thân hành niệm, là hương vị của bất tử, không thể không có để phá thân kiến, đó là cái đề mục rất quan trọng và quyết định của người tu cho nên hoặc là mình xin các vị dẫn chúng mở bài đó, cái đó lâu lâu mình xin, còn cá nhân của mình là tự mình đi nghe cái bài đó, tự mình đi tìm xem cái đó, tự mình để dành mấy cái bảo bối đó, mấy cái tài liệu đó để dành vô cái máy của mình.
Bây giờ mà ai không có cái điện thoại, đương nhiên mình vừa nghe vừa nhìn thì cái thọ sẽ mạnh hơn là nghe không, hoặc là nhìn không. Con cũng khích lệ các vị chịu khó chút, các cái vị ở trong cái ban thông tin, truyền thông hay là trách nhiệm mở bài cho đại chúng thì khi mình mở nên kết hợp có hình nó rất là tốt. Mình có hết tư liệu mà, mình có rất nhiều, chịu khó chút là được, một bên mình mở âm thanh, một bên mình mở hình ảnh. Thí dụ ba mươi hai thể trược thì mình có cái hình đó, còn nếu mà chưa có thì lên trên mạng lấy, những cái bài bậc đạo sư đưa lên có đầy đủ ba mươi hai thể trược rất là cần thiết, cực kỳ cần thiết, thường xuyên an trú vào cái tưởng đó, cái quán đó, cái định tướng đó.
Khi nào thấy ngán quá thì xả ra chút cho bớt ngán rồi quay lại tiếp, phải kiên trì, phải bền trí, còn mình học cái ban đầu thì mình học phổ quát, đại trà, chung chung nhưng mà muốn chuyên sâu thì phải nhất môn thâm nhập, luyện một môn đó thôi thì nó chuyên sâu. Cái môn đó là do mình chọn, mình nhớ cái bài kinh Nhập Tức Xuất tức Niệm, một vị thì tu bất tịnh, một vị tu vô thường tưởng, vị tu vô ngã tưởng, vị tu tập tâm xả, người ta chuyên một cái đề mục nhưng mà nói như vậy đó là mình phải cố gắng nhiều lắm chứ không phải dễ, tại vì cái tâm mình không có chịu ở một cái đâu, nó sẽ nhảy lung tung nhưng mà mình có cái chính và có những cái phụ. Nhớ kỹ cái đó, chẳng hạn như quý vị ăn cơm thì cơm là chính nhưng có thay đổi chút mấy cái món nhỏ nhưng cái chính là cơm thì phải có cơm.
Cái pháp tu chính của mình, cái đề mục của mình phải chọn bộ xương, hay là ba mươi hai thể trược, hay là chín giai đoạn tử thi, hay là quán tứ đại, quán bất tịnh là do mình chọn trong đó. Nếu mình tu từng môn hết như vậy càng tuyệt vời rồi cuối cùng mình chọn ra một cái thích hợp cho mình nắm cái đó, mình tu hoài chuyên sâu vô càng lâu càng tốt, tu cho tới thể nhập thì cái đó mới đúng đạo lộ, nó thể nhập mới phá thân kiến, mới diệt được ngã mạn, mới ly tham được, diệt dục được, phá ngã được. Như vậy đó là mình phải có một cái đề mục chính, chủ lực rồi mình có những cái đề mục phụ, còn cái bộ xương thì vậy là cũng được rồi chứ cô muốn bộ xương thiệt hả? Vấn đề là do mình quán chiếu chứ giờ kiếm mộ xương thiệt chắc cũng mệt à, không phải dễ, thành ra vấn đề quan trọng đây là vấn đề mình quán.
Cái quán của mình cho nó tầm tứ, vấn đề quan trọng đây là cái tứ của mình an trú và cái đề mục đó càng lâu càng tốt. Mình nhớ trong Trưởng Lão Tăng Kệ có vị trưởng lão này đi khất thực thì có một cô dâu này mặc hoa da phấn, quần là áo lụa, vàng bạc đỏ tay đeo đầy mình hết rất đẹp, cô giận ở bên nhà chồng bỏ về nhà cha mẹ mình thì bên nhà chồng chạy đi theo đi hỏi nãy giờ sư có thấy cô gái nào đi ngay đây thì ngài nói chỉ thấy bộ xương nhe cái răng, ngay lúc đó ngài thể nhập trí tuệ, thành tựu ở trong cái pháp quán, diệt tận cái dục tham và chứng thánh quả ngay tại chỗ nhìn đó.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình giàu có, được đặt tên là Bhaddiya, nhưng vì ngài rất thấp, nên được biết với tên là Lakuntaka Bhaddhiya (Bhaddiya người lùn). Nghe bậc Ðạo Sư giảng, ngài xuất gia, trở thành một nhà học giả và biện tài, ngài dạy cho các người khác với một giọng nói rất dịu ngọt. Một hôm, nhân ngài đang lễ, một phụ nữ đi xe với một Bà-la-môn, thấy ngài và cười lên, để lộ hàm răng của nàng. Vị Trưởng lão, lấy hàm răng ấy như một đề tài để thiền quán, khởi lên thiền định và trên căn cứ ấy, phát triển thiền quán và trở thành một vị Bất Lai" (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, (CCXXV) Lakuntaka-Bhaddiya (Thera. 49))
Mình thấy cái mức độ thiền quán của các vị xưa là thâm sâu lắm, tức là tất cả tâm ý người ta tập trung dồn vô cái đó như tường đồng vách sắc, không có gì công phá hết. Còn cái tâm mình không có gom lại, mình không có tập trung, mình không có an trú vào đề mục thì nó phân tán như bông gòn đứng thả ngoài ngã bảy, ngã tám, gió bão thổi bay tứ tung ta hết. Cho nên cái người mà dễ giận, dễ buồn, dễ hờn, dễ mác, dễ thị phi là không có tu, người tu không có vậy, người tu là đem tất cả cái tâm lực, sức lực, đạo lực, hạnh lực, nguyện lực, trí lực dồn vô cái đề mục của người ta, người ta không có thời gian, thậm chí đi tới nói với họ cũng không để ý chứ đừng nói đi kiếm chuyện, đi nghe ngóng chuyện của ai. Người ta không có thời gian vì họ tập trung vô cái đề mục, tập trung vô cái đề mục và an trú trong cái đề mục, nhớ về cái đề mục hoài, tầm tứ trong đó hoài, bám trú trong đó hoài.
Khi người này bám trú trong cái đề mục như vậy thì người này có bớt tham không? Có bớt sân không? Có nhiếp phục bản ngã bớt không? Như vậy người này sẽ hoan hỉ trong cái pháp hành đó và người này hỷ lạc trong đó, người này sẽ xả được những cái tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã. đúng cái đạo lộ Đức Phật dạy mình không? Đầu tiên là tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm, đây là cái tiến trình tâm khi mình thực hành pháp phải trải qua năm cái chi phần tầm, tứ, hỷ, lạc nhất tâm. Nhất tâm ở trong cái đề mục của mình, đó là cái tâm thuần nhất, nhất tâm là cái tâm thuần nhất chứ không phải là một tâm, là cái tâm thuần nhất trong cái đề mục đó. Ví dụ mình đang quán đề mục khổ thì nhìn cái đám cưới trước mắt mình thấy khổ, nhìn cửa Vu Quy đó là khổ chứ đừng nói chi nhìn đám tang, đừng nói chi là nhìn thấy tai nạn.
Mình đang quán về sanh diệt pháp thì nhìn đóa hoa mới vừa nở này thôi mà mình nhìn thấy nó rụng liền, nó rã ra hết, nó rụng xuống, cái ánh nhìn vừa nhìn vô thôi là nó rã ra hết, đó là sanh diệt trí, là người trú trong cái đề mục sanh diệt, quán về sanh diệt. Chỉ cần nhìn tới đâu là cái đó nó rã ra tới đó hết, đó là trú ở trong sanh diệt trí, thí dụ nhìn thấy một người trẻ đẹp thì nhìn cái là họ biến thành già liền và họ sụp xuống ngay tại chỗ đó thành bộ xương ngay tại chỗ đó. Cái trí quán nó mạnh vậy đó, cái này phải luyện, công phu thâm hậu, đó là cái đề mục thiền quán đó, là nhất tâm đó, là cái tâm thuần nhất và tập trung tâm ý vào trong cái đề mục đó.
Quán như vậy mới tan biến được những cái dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã. Tại vì đóa hoa đó có tàn không? Cái người đó có chết không? Rồi cái món đồ đó có bị huỷ hoại không? Mình nhìn vậy là có đúng hay sai? Đâu phải là mình ảo tưởng mà là mình tuệ tri cái pháp đó. biết nó bằng trí tuệ để mà nhìn xuyên thủng, xuyên thấu, xuyên qua nó, không bị cái hình tướng nhất thời lòe loẹt bề ngoài đó trói gạt mình. Nhìn cái đó là nhìn bằng trí tuệ, nhìn bằng tuệ tri, nhìn bằng sự thấu thị xuyên thủng thì đó là tuệ quán, thiền quán, cái đó phải luyện tập nhiều lắm, luyện nhiều lắm trong từng cái suy nghĩ, từng cái cảm thọ, từng cái hình bóng, từng cái nhận thức, cứ tập hoài, tập hoài, tập hoài, tập hết ngày này tới ngày khác, hết tuần này tới tuần khác, hết tháng này đến tháng khác, hết năm này đến năm khác, hết ba năm, năm năm, bảy năm, tám năm, chín năm, mười năm, mười hai năm, mười bốn, mười sáu, mười tám, mười chín, hai mươi năm, hai mươi ba năm, hai mươi bảy, ba chục năm, tập cho tới bốn-năm chục năm, tập cho tới nằm trên giường bệnh thở cái khì là từ bỏ ngũ uẩn, thể nhập thánh trí.
Phải như vậy đó thì nó trở thành định tướng, nó trở thành đề mục và cái trí tuệ đó đối với mình là hết sức là sắc bén giống như mình cầm cái thánh đao ở trong tay mình vậy đó, lạng quạng là trảm thì vậy mình mới cắt được mê tình, cắt được dục ái, tham ái, cắt được chấp thủ, vô minh, phá được bản ngã. Còn giờ tu mà nghe thì cũng gật đầu đúng rồi, nó giả, nhưng mà trở ra rồi thì vẫn sống lại với cái vô minh thì tu tới chừng nào thành công? Mình không có rèn luyện cái trí đó, mình không có giữ, không có thọ trì tức là không nhận và giữ được cái đó thì đó là cái lý do mình tu chuyên sâu.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con tên là Trương Ngọc Thạnh, pháp danh là Liên Nguyện, con xin đảnh lễ Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni và kế tiếp con xin đảnh lễ người thầy khả kính của chúng con, kế tiếp con xin đảnh lễ các chư vị Ni Sư và các vị thầy, con đảnh lễ các vị hiền trí đang có mặt tại nơi đây. Con có một câu hỏi, con đến đây cũng được sáu ngày rồi, con bị một cái trạng thái chưa có cởi mở được nên con nhờ thầy giúp đỡ, trong lúc mà ngồi thiền chung với đại chúng thì mọi thứ rất là ổn nhưng mình quan sát cảm thọ của mình là cái miệng của mình nó cứng hết giống như hai hàm răng của mình như nghiến răng vậy đó, kiểu vậy. Cho nên là khi xả thiền ra thì mình cảm thấy chưa có thoải mái lắm, chưa có bằng lòng với cái hành trình ngồi thiền của mình lắm tuy rằng mọi thứ rất là ổn. Cho nên con ờ muốn hỏi thầy có thể chỉ dạy thêm cho con để cho con có khoảng thời gian ngồi thiền cho nó hiệu quả, cảm thấy nhẹ nhàng tại vì con nghĩ có phải là mình gồng quá hay không tại người ngoài nhìn vô thì thấy mình rất là nghiêm, ở trong thì cũng rất là nghiêm luôn nên là cái chỗ còn chướng ngại. Dạ con xin cảm ơn.
Sư Phụ: Khi mình ngồi mình ngồi thiền hay là mình tu thì tránh hai cái thái cực, một là quá dùng hai là quá căng. Khi mình thả lỏng hết thì mình sẽ dễ đi vào cái buông lung phóng dật tức là vọng tưởng hoặc là hôn trầm trong khi mình ngồi thiền, nếu mình thả lỏng hết, không có cái đề mục gì hết thì ngồi như có cái xác vậy thôi, mình sẽ dễ dàng hôn trầm hay là buồn ngủ, ngủ gục hoặc là mình dễ dàng cho cái tâm mình đi rong chơi. Còn nếu như mình căng quá thì nó làm cho cái thân, cái tâm mình mệt mỏi, cho nên con mời quý Ni sư hướng dẫn cho cô kỹ về cái pháp an trú cảm giác toàn thân, hướng dẫn cho thật là kỹ cái đó và lúc đó mình hướng cái cảm thọ mình cảm nhận hàm răng của mình. Lúc đó hai cái hàm răng cắn lại phải không? Mình cảm nhận cái cảm giác toàn thân, quý Ni sư sẽ hướng dẫn cho mình kỹ cũng như chúng ta nên mở bài cảm giác toàn thân cho đại chúng để cho tập, có cái bài chi tiết từng chút, từng chút từng chút đó.
Mình cảm giác toàn thân làm cho nó nhẹ nhàng hết toàn bộ cơ thể của mình từ đỉnh đầu cho tới gót chân, và đặc biệt là chỗ nào có cái vấn đề chẳng hạn như cái hàm răng thì mình phải để ý tới cái chỗ đó và mình làm cho cái chỗ đó cái cảm giác đó nó thư giãn ra. Thí dụ như đưa nhẹ cái chót lưỡi mình lên hàm răng ở phía trên và mình phải cảm nhận cái chỗ đó, mình thả lỏng nó ra, tại vì khi mình không có cảm giác toàn thân, mình không biết cái thân hiện tại nó như thế nào, nó căng thẳng ở đâu, nó có vấn đề ở chỗ nào mình không biết như cái căn nhà mình không có dòm ngó, hoặc mình đi chơi ở đâu hoài, hoặc là mình nằm ngủ thì có cái vấn đề gì ở trong nhà mình không biết. Còn bây giờ mình chăm sóc, mình dòm ngó cái nhà của mình, mình dòm nhà khách, mình dòm nhà bếp, mình dòm trong toilet, dòm phòng ngủ này kia, mình coi xung quanh thì có cái gì là mình điều chỉnh liền.
Thí dụ dơ chỗ nào mình quét chỗ đó liền, hay là cái đồ nào mà nó rớt xuống thì mình nhặt lên liền, mình chỉnh, mình để ngay ngắn lại liền. Cũng vậy khi mình có cái cảm giác toàn thân thì cái chỗ nào trong thân mà nó không có thoải mái, nó không có nó an tịnh, lắng dịu thì chỗ đó mình chỉnh lại liền. Nó siết chỗ đó quá thì mình nới ra cho nó lỏng, nó căng cho đó thì mình làm cho nó dùng trở lại, mình điều chỉnh đó. Đó là nghệ thực thiền, tức là mình thực tập cái cảm giác toàn thân trước của cái phần thân thôi là mình phải làm cho nó dễ chịu cho nên cái bài đầu tiên vô là thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng, cảm giác toàn thân làm cho mình để ý vào cái chỗ căng thẳng đó và mình làm cho cái chỗ đó nhẹ nhàng ra, thoải mái ra, nó tự nhiên ra thì để ý mình làm thì nó sẽ hết thôi. Cái đó không có gì khó hết, đơn giản thôi.
Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch các vị Tăng Ni cùng các bậc hiền trí, con có một câu hỏi tâm sự vườn hoa với sư phụ. Ngày xưa con tu ở trên này thì con được sư phụ cho xem hình ảnh về quán thân bất tịnh, ba mươi hai thể trược bằng hình ảnh khi xẻ cái thân ra thì con thấy ở trong đấy những bầy nhầy, gọi là không có gì ta, không có ta ở trong thì luôn luôn con quán từ trong cái phèo, phổi, mỡ, máu mủ hôi tanh ở trong đó. Con lại quán cái thân đang di động với tất cả những người mà con đã gặp, tứ đại, con luôn luôn quán, khi con bắt gặp thấy một người nào là con lại quán người, già thì da nhăn nheo, tanh hôi, cái mắt thì ghèn. Con lại nhìn lại cái thân mình con thấy cũng y chang như thế rồi con nghĩ con quán như vậy thì lúc nào con cũng thấy người quanh mình từ cái răng, cái mắt, cái tai và con lại liên tưởng đến bài Đức Phật giảng ngài A-nan được nàng Ma-đăng-già đem lòng yêu mến. Đức Phật giảng giải cho nàng Ma-đăng-già vì yêu mến ngài A-nan ở điểm gì.
Sư Phụ: Mấy cái đó trong kinh Nikāya không có nói.
Phật tử 3: Dạ mô Phật, con xin lỗi sư phụ nhưng con quán như vậy mà con luôn luôn ghê tởm những cái bất tịnh ở trên cơ thể con người, bất cứ ai cũng thế. Thực sự con xin hỏi sư phụ là con quán như vậy có sai hay là con có đi quá xa với lại những cái mà con đã ghê tởn tòm hay không ạ. Kính bạch sư phụ, sư phụ giải thích cho con.
Sư Phụ: Quán như vậy là đúng rồi, không có sai, mục đích của quán bất tịnh là đưa đến yểm ly, đưa đến ly tham, hướng đến từ bỏ. Tại vì cái tâm mê của mình là nó ham, nó thích, nó muốn, nó khoái, nó dục, nó ái, nó đam, nó mê, nó khao khát, bây giờ cái pháp quán bất tịnh này là làm cho nó nhàm chán, nó không đam mê nữa, không có thèm khát, khao khát nữa, thấy ghê tởm, gớm ghiếc, dơ bẩn, hôi tanh để cái tâm này nó nhả ra, nó ngao ngán, nó nhàm chán, nó không tham muốn nữa, nó từ bỏ những cái thân xác vô thường, bất tịnh, hôi tanh, bẩn thỉu, nhơ nhớp đó. Đó là cái hướng đi của pháp quán bất tịnh cũng như tất cả ba mươi bảy phẩm trợ đạo đều liên hệ đến viễn ly, hướng đến ly tham, hướng đến sự từ bỏ, đều đưa đến sự yểm ly, tức là chán lìa, không tham muốn nữa, từ bỏ, thoát ra tất cả.
Ba mươi bảy phẩm trợ đạo công năng đều như vậy hết, tu tập những cái pháp đó là làm cho mình chán lìa đối với cái thân xác này, đối với ngũ uẩn này, làm cho mình muốn rời xa, muốn thoát ra, muốn từ bỏ, hướng đến sự từ bỏ. Tất cả công dụng của pháp tu đó là vậy hết. Có một vị hỏi: Trước khi con vào dòng pháp Nikāya con có thời gian mười hai năm ở một mình, không có giao tiếp với một ai, nay đã bốn tháng được học pháp nhưng con chỉ nhận diện được tham, sân ở mặt thô, con ở trong trạng thái trơ trơ, đơ đơ, vô minh, con không nhìn thấy sự vận hành của thọ; tưởng; hành, con nghe pháp chăm chú nhưng nghe xong buông xuống thì không nhớ được gì. Con kính xin sư phụ chỉ dạy cho con.
Nhiều khi mình nói hay là mình viết ra như vậy đó nhưng mà có khi nó trật lất à, con chỉ cho chúng ta không phải là nhắm vào một cá nhân nào hết, tất cả là ngũ uẩn hết, có khi mình nói nó lố sự thật, có khi mình trình pháp nó không có trúng mà mình không có biết, mình nói giống như mình tới rồi vậy đó nhưng mà mọi người nhìn thấy mình chưa có tới. Mình phải để ý cái đó tức là cái tâm mình nó không có tỉnh giác chánh niệm, nó không có nhìn đúng cái vấn đề, nó tưởng tri nhiều quá cho nên hồi xưa bậc đạo sư dạy con ngay cả cái câu hỏi mà họ nói không có trúng, họ nói trong vô minh. Ngài chỉ rất là kỹ và ngài quay ngược trở lại rồi cuối cùng mới hỏi một câu hỏi khác với câu hỏi trong cái họ đang hỏi vì họ không biết cái tâm, họ không biết cái sự vận hành. Họ tưởng vậy đó rồi hỏi vậy nhưng mà cái câu hỏi nó trật lất, những cái này là phải sâu sắc.
Cho nên thí dụ như mình nói rằng là mình có thời gian mười hai năm ở một mình không giao tiếp với một ai. Câu này chính xác không? Thành ra đây là con chỉ cho chúng ta thấy có khi mình nói lố sự thật dữ lắm, cái đó là vọng ngữ mà mình không có biết, cái khổ là mình không có biết. Cho nên phải rất là chánh niệm, tập rất là chánh niệm, nhiều khi mình nói vậy mà nói cái gì á, hai người ngồi đó rồi nói cái gì đâu mà cái thực tại họ không thấy gì hết, họ cứ nói chuyện hồi xưa, chuyện chồng con, anh em, huynh đệ mà mình cũng không biết là đang ngồi nói chuyện với ai, rồi đang cảm nhận được cái gì, tâm trong lúc đó là sao, không biết gì hết. Ăn không biết cái vì, uống họ cũng chẳng có biết cái nước đó làm sao, rồi cái không gian, cảnh không có cảm giác toàn thân gì hết, cái tâm họ hôn mê, nó cuộn ở trong những cái quá khứ, trong cái sân hận không thôi là trong cái tham muốn, hay những cái phiền não, sống ở trong cái hôn mê.
Thành ra muốn nhìn ra được cái tâm là cả một cái sự tu tập không phải đơn giản. Khi mình nói là nói trong hôn mê, làm trong hôn mê, nghĩ trong hôn mê, đây là cái duyên mình học cái chỗ đó chút, tức là chủ yếu ở đây là nhận diện được tham, sân ở mặt thô, con ở trong trạng thái đơ đơ, trơ trơ, vô minh, con không có nhìn thấy sự vận hành của thọ; tưởng; hành, nghe pháp chăm chú nhưng nghe xong buông xuống thì không nhớ được gì hết. Cái này con đã chia sẻ rất là nhiều lần rồi, phải quán về vô thường, quán về khổ, quán về sự nguy hiểm, nguy hại của ngũ uẩn để phá cái tâm si, phải tác ý thường xuyên, quán thường xuyên, phải nhắc thường xuyên thì nó mới ra khỏi cái trạng thái đơ đơ, vô minh, còn không nhắc thì nó cứ vậy hoài thôi.
Quý vị hỏi là làm sao để biết mình chọn con đường xuất gia là đúng và phù hợp, không phải là cảm giác nhất thời, xin ơn trên sư phụ chỉ soi sáng làm sao biết mình có thể đi trên con đường này không bao giờ thối lui và ý chí dũng mãnh ban đầu. Làm sao để biết mình chọn đường xuất gia là đúng? Tự mình phải cảm nhận được, đừng có vội vàng, đừng có hấp tấp mà phải có một sự trầm tĩnh, có một cái sự điềm tĩnh, có nhiều cái sự suy xét cho nó sâu sắc và có thời gian ở đây. Con đâu có cho xuất gia sớm đâu, cả năm mới được xuất gia, dầu cho là được xuất gia gieo duyên rồi vẫn phải ở hàng năm trời. Chính trong cái thời gian đó để cho quý vị suy xét cho sâu sắc coi có phải là nhất thời không? Một năm có phải là nhất thời không? Tám tháng có phải là nhất thời không? Không phải tám ngày, không phải một tháng mà gần cả năm trời, thậm chí dài hơn nữa cho nên mình tìm thấy được chánh pháp, mình thấy ra được cái nguyên nhân của khổ nằm trong con người mình và mình đang thực hành những cái diệt cái nguyên nhân khổ đó. Cái đó là tự bằng mắt mình thấy, tâm mình cảm nhận, trí của mình rõ biết rồi sau đó mình quyết định.
Làm sao mà biết mình có thể đi trên con đường này không bao giờ thối lui với ý chí dũng mãnh ban đầu? Không bao giờ thối lui là Nhập Lưu, ráng Nhập Lưu đi thì không có thối lui nữa, nhất trí không? Nhập Lưu là không có còn cái suy nghĩ nào cho là vui nữa hết, không còn cái cảm giác nào cho là vui nữa hết, không còn cái hình bóng nào cho là ta, là của ta nữa hết, không có một cái nhận thức nào mà cho nó là thường, lạc, ngã, tịnh, thấm hoàn toàn cái sự thật về khổ và xác quyết trăm phần trăm, tuyệt đối là mình đi trên con đường diệt khổ, không còn một chút nghi ngờ, do dự, phân vân, lưỡng lự gì nữa hết, xác quyết một trăm phần trăm, đó là mình nhập lưu rồi đó. Hằng ngày mình nghe pháp, hằng ngày mình tác ý, hằng ngày mình tưới tẩm là để cho mình đi đến sự xác quyết trăm phần trăm đó.
Hồi sáng này con đọc bài kinh Sư Tử Hống mà con bất ngờ cái đoạn cuối Thế Tôn nói ngài tám mươi tuổi rồi và cái trí tuệ của ngài, cái thiền định của ngài nó không có suy suyển một chút nào, dầu cho có gánh ta ở trên võng thì cái trí tuệ của ta nó cũng có không suy giảm chút nào, tức là ngài nằm trên võng gần chết được khiêng đi thì cái trí tuệ Chánh Đẳng Chánh Giác của Như Lai không có suy suyển một chút nào hết.
"Này Sariputta, nếu Ông có gánh Ta trên giường đi chỗ này chỗ kia, thật sự trí tuệ biện tài của Như Lai không có gì thay đổi." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)
Nghe tới cái câu đó cũng chợt nhớ bậc đạo sư ngay trên giường bệnh mà cái thánh trí rực sáng, bừng sáng, thấy quá tuyệt vời luôn, tức là nó tương ưng giữa bật đạo sư và Đức Thế Tôn. Chính Đức Phật nói ta tám mươi tuổi, già như vậy đó, bệnh như vậy mà cái trí tuệ Chánh Đẳng Chánh Giác của ta không có suy suyển một chút nào, không có đổi thay một chút nào dù có khiêng ta đi, tức là ta già, ta bệnh, ta đi không nổi mà cái thánh trí của ta là không có suy suyển chút xíu nào hết, không có bị thay đổi, bất động. Khi đọc tới cái câu đó hình ảnh bậc đạo sư mà nằm ở trên giường bệnh mà rống cái tiếng sư tử nó rung chuyển trời đất hết trơn, chấn động thân tâm hết trơn, tái hiện2600 năm mà nó giống như là hiện giờ, giống như mấy ngày hôm qua vậy đó. Mình có tin tưởng không? Mình chứng hùng hồn trước mắt mình luôn.
"Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: 'Khi một thiếu niên còn trẻ tuổi, tóc đen nhánh, huyết khí sung mãn, trong tuổi thanh xuân, người ấy thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng. Nhưng khi người ấy già cả, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi đến đoạn cuối cuộc đời, khi đã tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi, khi ấy trí tuệ biện tài tối thượng ấy bị đoạn trừ'." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)
Tức là quên, là lú lẫn, người ngoài đời khi đến bày mươi tuổi, tám mươi tuổi, chín mươi tuổi hay trăm tuổi là già cả, nhớ trước quên sau thậm chí là lãng, là lẫn.
"Này Sariputta, chớ có quan niệm như vậy. Này Sariputta, nay Ta đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi dến đoạn cuối cuộc đời, tuổi Ta nay đã đến tám mươi. Này Sariputta, ở đây Ta có bốn vị đệ tử, tuổi thọ đến một trăm, đã sống một trăm tuổi, thành tựu chánh niệm đệ nhất, thành tựu chuyên tâm đệ nhất, thành tựu tinh cần đệ nhất và đầy đủ trí tuệ biện tài tối thượng. Này Sariputta, ví như một người bắn cung thiện xảo, có huấn luyện, khéo tay, thuần thục, với một mũi tên nhẹ, có thể dễ dàng bắn ngang qua bóng một cây ta-la. Cũng vậy, những vị này với chánh niệm đệ nhất như vậy, được thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng như vậy, nếu những vị này hỏi Ta nhiều lần một câu hỏi về Bốn Niệm xứ, và nếu Ta, được hỏi nhiều lần như vậy, phải giải thích cho họ hiểu và nếu họ được Ta giải thích như vậy, có thể hiểu như đã giải thích, và nếu họ không hỏi Ta về những vấn đề phụ thuộc và các vấn đề khác, trừ khi ăn, uống, nhai, nếm, trừ khi đi đại tiện, tiểu tiện, trừ khi ngủ để lấy lại sức. Này Sariputta, dầu vậy, sự thuyết pháp của Như Lai cũng chưa hoàn tất, sự giải thích cú pháp của Như Lai cũng chưa hoàn tất, sự trả lời các câu hỏi của Như Lai cũng chưa hoàn tất, khi mà bốn đệ tử của Ta, tuổi thọ đến một trăm tuổi, đã sống một trăm tuổi, đã từ trần sau một trăm tuổi. Này Sariputta, nếu Ông có gánh Ta trên giường đi chỗ này chỗ kia, thật sự trí tuệ biện tài của Như Lai không có gì thay đổi.
Này Sariputta, những ai nói một cách chân chánh sẽ nói như sau: 'Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người'. Vị ấy sẽ nói về Ta một cách chân chánh như sau: 'Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người'.
Lúc bấy giờ Tôn giả Nagasamala đứng sau lưng Thế Tôn và quạt cho Ngài! Tôn giả Nagasamala bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Sau khi nghe pháp môn này, lông tóc con dựng ngược. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên gọi là gì?
-- Này Nagasamala, do vậy pháp môn này gọi là 'Pháp môn Lông tóc dựng ngược'. Ông hãy như vậy thọ trì.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Nagasamala hoan hỉ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)
Tiếng Việt mình gọi là lông tóc dựng đứng, pháp môn lông tóc dựng đứng hết, sởn tóc gáy hết, nổi da gà hết, chấn động hết. Thế Tôn nói nếu có bốn người, mỗi người sống một trăm tuổi mà bốn người này chánh niệm đệ nhất, thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng mà có hỏi ngài bao nhiêu câu hỏi trừ lúc mà ăn, lúc ngủ thôi mà trả lời một trăm năm ngài cũng trả lời không hết nữa. Tức là sao? Là cái trí tuệ của ngài, cái khả năng của ngài là nó không thể tưởng tượng nổi dù cho ngài tám mươi tuổi. Mình tu là để đạt tới vậy, đó mới là bất biến, đó mới là tâm bất động, chứ còn bình thường tỉnh táo, chánh niệm trí huệ tới bệnh là quên kinh hết trơn, không còn nhớ gì hết thì vậy tu là, chi. Nhất trí không?
Mình nhìn lại hình ảnh của bậc đạo sư chúng ta trong như vậy phút cuối cùng sắp ra đi trên giường bệnh mà rống lên tiếng gầm của sư tử rung chuyển đất trời hết rồi mới ra đi. Con gái của Như Lai đó sau 2600 năm. "Này Sariputta, nếu Ông có gánh Ta trên giường đi chỗ này chỗ kia, thật sự trí tuệ biện tài của Như Lai không có gì thay đổi", đọc cái câu này con cũng nổi gai ốc luôn, bài kinh này Đức Phật gọi là pháp môn lông tóc dựng đứng. Như vậy mấy người già đừng có sợ, trẻ càng không sợ, tịnh tín bất động, thành tựu thánh trí, làm sao mà quên được, làm sao mà lãng được, làm sao mà lẫn được, chỉ sợ mình chưa thể nhập được trí tuệ thôi chứ không sợ mình quên. Nếu như mỗi một cái suy nghĩ mình đều tác ý hết, mỗi một cái cảm giác mình đều quán hết, mỗi một cái hình bóng mình đều dụng công phu ở trong đó, mỗi một cái nhận thức mà đều đưa cái thánh trí, thánh pháp vô thì quý vị nghĩ như vậy có quên được không?
Mình luyện năm năm, mười năm, hai chục năm, ba chục năm, mình luyện tới cái hơi thở cuối cùng của cuộc đời này mình quên không? Có xác quyết không quên không? Mạnh mẽ lên, sợ cái gì, chết cũng không sợ, chỉ sợ không thể nhập vào cái chân thật trí thôi, cái sự thật thôi. Đức Phật đã nói hãy tin tưởng nơi ta, ta đã chứng đắc, chứng đạt, các ông hãy tin tưởng nơi ta, nỗ lực thực hành và các ông cũng chứng đắc, chứng đạt như ta. Câu nói nó giống như lời của mẹ hiền, giống lời của cha yêu, như là cái lời mà cha mẹ nói "con ráng cố gắng lên nha, gia tài này là của con, sự nghiệp này là của con, kho báu này là của con. Con chỉ cần đủ khả năng thừa kế thôi, tất cả là có sẵn hết", chịu thừa kế gia tài của bậc thánh không hay là đi chùi cầu tiêu, đi hốt phân, làm cùng tử? Cứ chìa cái bàn tay ra rồi đi xin những cái tình cảm của người khác, đi xin sự bố thí, yêu thương của người khác, xin sự quan tâm người khác, người ta không quan tâm là khổ đau, là sầu hận.
Sao nghèo nàn vậy? Sao khổ sở vậy? Mình phải đi ra khỏi tất cả những cái tham ái, chấp thủ này chứ không phải mình đi tìm tham ái. Mình đã tìm vô lượng vô biên vô thỉ kiếp tới nay rồi mình đâu có đầy đâu, có đủ đâu, bản chất của nó là thiếu tốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái mà. Mình phải thấy và xác quyết rõ cái vấn đề, chỉ có một con đường một thôi là mình phải tự bỏ nó, thoát ra khỏi nó thì mình mới được an ổn. Mình từ bỏ, mình thoát ra khỏi nó thì mình được thừa hưởng gia, ái tận giải thoát, gia tài của bậc thánh cho nên liên hệ tới vấn đề chữ dục, chữ ái đây có cái câu hỏi trong kinh Niết-bàn, "các tưởng tác ý câu hữu với dục vẫn hiện hành và đệ tử trống không, con chưa hiểu rõ câu này, ngưỡng mong cho sư phụ chỉ dạy cho con được rõ".
Các tưởng tác ý tức là những cái hình bóng, những cái suy nghĩ ở trong tâm vẫn còn cái ham, cái muốn, cái thích ở trong, dục vẫn còn thì mình phải ra công, mình quán chiếu, mình tác ý đánh đuổi nó, mình nỗ lực, mình nhận diện nó rồi mình nhiếp phục, chế ngự, mình đánh đuổi, mình diệt tận nó bằng một cái sự rất là cam go, rất là ra công dồn sức chứ không phải là chỉ là là ầm ầm rồi anh hùng rơm phựt lên rồi vài bữa tắt lạnh. Phải là một sự trường kì kháng chiến từ đây cho đến hơi thở cuối cùng của cuộc đời mới biết thắng thua nhưng chỉ sợ mình không biết cách, không biết giặc ở đâu thôi chứ mình biết giặc ở đâu rồi thì mình nỗ lực, thua keo này ta bày keo khác, cứ đánh hoài, tỉa riết thì từ từ cũng có khả năng nhiếp phục, chế ngự và đi đến đoạn tận.
Bằng chứng mình nhiếp phục, chế ngự, mình từ bỏ được mới ngồi ở đây, không từ bỏ được sao ngồi đây, không nhiếp phục, chế ngự được sao cạo đầu, không từ bỏ được sao đắp y, không quyết tâm được sao lên đây ở núi rừng viễn ly, không nhiếp phục và chế ngự thì làm sao ngày nào lên cũng nghe pháp đánh thẳng vào trong dục, tham, ái, vô minh, bản ngã. Vì thế sự tu của mình là cả một sự trường kì kháng chiến chống giặc nội tâm, khi nghe tiếng con chó đi đến uống nước là lấy cái đó làm đề mục quán nỗi khổ của súc sanh, phải chụp bắt thật nhanh, thật sắc bén những gì thấy, nghe, thức tri làm đề mục quán chiếu.
Chúng ta ngồi đây bây giờ vậy là hạnh phúc so với Sài Gòn là nó vô cùng luôn, mấy vị ở dưới bệnh cảm nửa tháng rồi chưa hết. Khi chúng ta đứng lên xả thiền có cảm thọ dễ chịu nhưng phải thấy khổ, cái dễ chịu này có là do cái khó chịu mà nó có cái dễ chịu. Nhiều khi mình hiểu lầm mình tưởng đâu đứng lên là sướng, không phải vậy, nó đỡ khổ chứ không phải sướng, nhất trí không? Nhớ kỹ cái này, ví dụ mình đói bụng quá mà được ăn vô thì mình tưởng sướng quá sướng nhưng không phải, nó chỉ bớt khổ chứ có sướng gì đâu. Bây giờ mình mệt quá mà được nằm nghỉ thì thấy sướng, không phải vậy, chỉ đỡ mệt thôi, đỡ khổ chứ không có sướng. Mình đau nhức chỗ này chỗ kia được bác sĩ trị cho bớt thì mình nghĩ khỏe quá rồi nhưng khỏe thật không? Nó chỉ đỡ bệnh thôi, bớt bệnh thôi cho nên mình thấy trong kinh Nikāya dùng từ "thánh ngữ" "chánh ngữ" không phải đơn giản như mình hiểu đâu. Thường thường mình nói dóc không à, nó sai rất là nhiều mà mình không biết, vọng ngữ rất nhiều mà không biết thành ra mình đọc ở trong kinh Đức Phật nói là không có ly tham, những từ của Đức Phật nói hết sức là bình dị.
Mình thấy Đức Phật chỉ nói từ bỏ ác và bất thiện pháp chứ Đức Phật không có nói những cái từ cao siêu, mà có cánh là không có, từ bỏ ác và bất thiện pháp, chỉ bao nhiêu đó là tới cái tâm của bậc thánh rồi, hết trơn cái ác, bất thiện là lúc đó thuần hiện, là thánh thiện rồi nhưng bây giờ con người ta không chịu cái đơn giản vậy. Nói cái gì mà phải nói cho tới trên trời nhưng mà chân thì đạp không có chạm đất nhưng người ta thích vậy cho nên thật sự mọi cái mình đứng lên như vậy là để cho mình đỡ khổ, đỡ đau, đỡ mỏi chứ không phải đứng lên là được vui, được sướng, ăn cũng không phải là được vui sướng mà là nó đỡ cái khổ, nó đói quá rồi. Bây giờ mắc tiểu nè, quýnh quáng lên, tay chân run hết trơn mà ráng đi xả ra được thì thấy khỏe quá, hạnh phúc quá nhưng hạnh phúc cái gì, khổ muốn gần chết mà hạnh phúc gì, mình xả ra thì bớt khổ chứ có hạnh phúc gì đâu nhưng mình hiểu lầm hết, mình tưởng đâu là vui, là sướng, là hạnh phúc là cái đó là vô minh đó.
Trời mới đi gầm lên là có pháp quán liền, bây giờ nắng hạn quá chừng rồi mưa xuống thấy hạnh phúc, nó chỉ đỡ khổ, cà phê rồi cây trồng chết hết trơn rồi, lúa gạo, mấy cây trồng hư hết rồi, có mưa xuống nó đỡ khổ một chút chứ có hạnh phúc gì đâu. Bây giờ rồi nói rộng chút nữa, kiếm con vợ hoài không được, khổ quá, nó bức bách quá đi, dục ái làm bức bách quá, đến khi tìm được thì thấy hạnh phúc nhưng không phải, chỉ đỡ khổ thôi rồi ở chung lại khổ tiếp. Ở một mình khổ quá nên muốn tìm một người về ở chung đỡ khổ nhưng ai dè làm khổ nhau thêm nữa.
Đó là mình cứ tưởng hạnh phúc nhưng không phải vậy, nó chỉ đỡ cái khổ lúc đó thôi, giảm bớt khổ chút thôi nhưng đa số là mình khỏa lấp, mình chạy trốn, mình tránh né cái khổ, mình không có dám đối diện với cái khổ nên mình không thể giải quyết nó được. Còn Đức Phật là phơi bày những cái gì bị che kín, ngài khai thị, mở ra, bày ra hết cho mình đối diện, trực diện, trực chỉ, trực tiếp nhìn thấy cái khổ đó. Ai mà chấp nhận thì con đường thoát khổ đây, đi theo thì hết, còn cái này không chịu, khổ nhưng mà không chịu "Tôi đâu có khổ đâu, sao nói tôi khổ, sao vô mà cứ nói khổ, tham, sân, si không vậy, chết không vậy, giảng gì mà giảng cứ nói mấy cái này hoài vậy". Tức là người không chấp nhận sự thật, người không có cái tâm chánh trực, ngay thẳng thì người này không có đi vào trong đạo được, người này sẽ tránh né, khỏa lấp, che đậy, mãi mãi không giải quyết được vấn đề đau khổ của chính mình. Và ngồi đây là những con người dám thừa nhận, sự thật con xin cúi lạy các bậc tâm chánh trực, dám thừa nhận sự thật, chấp nhận sự thật.
Khi mình chấp nhận được sự thật rồi mình không còn đi tìm cái gì nữa, không còn tìm ai nữa hết, chỉ tìm lại những cái gì trong con người mình làm cho mình khổ. Giải quyết, xử lý cái vấn đề đó nó khỏe hơn biết bao nhiêu mà nói, chỉ tìm lại cái nguyên nhân khổ nằm trong con người mà mình giải quyết trong đó chứ không còn chạy đi ra ngoài đi kiếm ai nữa hết, không có ai làm cho mình hết khổ, giải quyết được trong thân tâm là hết khổ. Mọi người có thấy được cái góc rễ của vấn đề chưa? Cái căn bản, cái căn nguyên, cái căn cội, ở trên núi vậy nhìn mây bay, hít thở không khí trong lành, mỗi ngày quay vô trong đánh phá các thứ nguyên nhân làm cho mình khổ, càng ngày nó giảm, nó đoạn giảm từ từ, nó bớt từ từ, nó nhẹ từ từ, tâm nó an, nó lắng dịu từ từ, nó ngọt ngào từ từ.
./.
HÃY CHUYÊN SÂU ĐỀ MỤC THIỀN QUÁN
–Thích Minh Thành–
Sư Phụ: Cảm giác hơi thở, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân. Cảm nhận vùng đất này, trời đất này, cảm nhận tâm thương rộng lớm, rõ biết tâm thương này rộng lớn. Mở tầm nhìn ra cùng khắp hư không, tâm được lắng dịu trong giây phút này, an tịnh, dễ chịu như bây giờ đây. Giây phút này thật là mát dịu, khoảnh khắc này thật là dễ chịu, tâm thương này thật là bao la, thật là rộng lớn, tâm thương này thật là an bình như sự an bình trong khoảnh khắc này của tâm thương rộng lớn. Tâm thường này là nguồn sống, lẽ sống, sức sống, là sự sống của bậc hiền trí, tâm thương này dễ chịu biết bao trong lòng, tâm thương ngọt dịu làm sao, tâm thương dễ chịu biết bao trong lòng, tâm thương này giống như làn gió mát bây giờ, giống như những đóa hoa sen đang chớm nở ở trước mặt chúng ta.
Tâm thương này là hơi thở của chúng ta, là sự hô hấp tuần hoàn của chúng ta, là huyết quản, là mạch máu của chúng ta, là thấm đẫm, thấm nhuần, thấm vào trong tim tủy của chúng ta. Người sống được với tâm thương này nước không nhận chìm được người đó, lửa không đốt cháy được, người sống được với tâm thương này lửa không thể cháy, nước không thể nhận chìm, bách độc bất xâm, gươm dao bất phạm. Tất cả những thứ những mũi tên độc, những gươm, những giáo đi tới người có đầy tâm thương đều biến thành ngàn hoa hết, đều biến thành hoa sen, đều biến thành hoa trời rơi trong tâm đại bi của Thế Tôn và trang sức làm đẹp cho Đức Như Lai. Mình con Phật cũng vậy, tất cả những ác hại những sân hận, những oán giận, oán thù oan gia đều được tâm thương này hóa giải, chuyển hóa và trở thành hoa sen, hoa trời, hoa thơm, đều trở thành ngàn hoa, vạn hoa, triệu hoa để tô điểm cho tâm thương này, để trang điểm cho tâm thương này, để làm đẹp thêm cho bậc hiền trí, để kết thành những cái tràng hoa trang nghiêm cho tự thân và dâng lên cúng dường cho Đức Phật.
Tâm thương này thật là kỳ diệu, tâm thương này thật là phép màu, tâm thương này thật là huyền nhiệm, không bất cứ một vũ khí nào trên cuộc đời này có thể làm tổn hại được bậc hiền trí viên mãn tâm thương này. Tâm thương này là tâm của bà mẹ hiền, tâm thương này sẽ ôm ấp, vỗ về, sẽ vuốt ve, sẽ nuôi dưỡng tất cả những oan trái, oán hận thù địch trên cuộc đời này. Tâm thương là mẹ đất nâng đỡ vạn vật, tâm thương là cha trời che chở muôn loài, tất cả cọp, sói, beo, gấu, rắn rít, trùng độc khi đi vào tới tâm thương đều trở thành hiền ngoan, đều trở thành thú cưng, đều là bất hại, vô hại, hoàn toàn không còn có khả năng làm tổn hại.
Làm sao có thể làm hại được mẹ của mình? Làm sao có thể làm tổn thương được tâm đại bi, đại từ? Trời đất bây giờ, không gian bây giờ, vạn vật bây giờ đang hòa đều với tâm thương của chúng ta, đang hòa nhịp từng hơi thở với tâm thương, đang hòa lẫn với cảm thọ hiền thiện, đại bi này, vũ trụ đang cúi đầu để nghe lời xuất phát từ tâm thương.
Xin mời chư tôn và chư hiền chia sẻ cảm thọ, trải tâm thương rộng lớn của mình.
Cô Hiền Châu: Con xin đem tất cả tấm lòng thành kính đảnh lễ trên Đức Thế Tôn, con xin đem tất cả tấm lòng thành kính đảnh lễ trên sư phụ tôn kính và con xin đem tất cả tấm lòng thành kính đảnh lễ trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và các bậc hiền trí. Đệ tử con Hiền Châu kính xin trình lên cảm thọ trong bài thiền quán về tâm từ, tâm thương mà sư phụ đã chia sẻ, chỉ bày cho chúng con. Thọ trong con sanh khởi lên cảm thọ thương xót và cảm thọ thứ hai là sanh khởi lên cảm thọ ân hận, sám hối. Tâm từ là tâm hiểu nỗi khổ của chúng sanh bị các nghiệp chi phối phải đi mãi trong tái sanh, vòng luân hồi sanh tử này và khi tưởng con hiện lên những hình ảnh của những chúng sanh ở dưới địa ngục, cõi ngạ quỷ, súc sanh, những chúng sanh vô hình, những chúng sanh mà con không thấy được sự hiện hữu của họ, những chúng sanh là oan gia trái chủ của chúng con nhiều đời nhiều kiếp.
Con thấu hiểu sự thống khổ của những chúng sanh bất hạnh đang phải trả những nghiệp quả, những ác nghiệp mà vì vô minh, vì không gặp được chánh pháp, vì không thấy được ngũ uẩn, vì không thấy được tham, sân, si, vì không được những bà mẹ có trí tuệ dẫn dắt, những chúng sanh đó đã gây tạo những ác nghiệp trong vô minh và giờ họ phải lãnh lấy những ác nghiệp đau đớn, thảm khốc trong ba cõi ác. Con nhìn lên bầu trời bầu trời bao la, rộng lớn, con hỏi chính cái tâm của con tại sao đất trời rộng lớn thênh thang lắm mà mãi chui vào cái nội tâm nhỏ bé, hẹp hòi như vậy. Tại sao không thấu hiểu những tất cả nỗi khổ của các chúng sanh đang phải hứng chịu trong sáu nẻo luân hồi đầy oan nghiệp như thế này. Tại sao cứ sống nhởn nhơ qua ngày đoạn tháng, không thấy được sự nguy hiểm của vòng luân hồi sanh tử này, không thấy được những chúng sanh đó, những hình ảnh đó cũng là những hình ảnh của mình trong quá khứ, những hình ảnh của mình đã phiêu bạt lang thang trong sáu nẻo, đã phải chịu hành hạ dưới địa ngục, phải bị mổ bụng, thọc cổ, sống vất vơ vất vưởng trong các cõi ngạ quỷ và cõi súc sanh.
Con trải tình thương cho tự thân con, con trải tình thương đến tất cả các hữu tình chúng sanh đang ở trong ba cõi ác và con trải tình thương bằng tất cả tấm lòng chân thành sám hối trong con đối với các vị oan gia trái chủ mà vì vô minh, mà vì ngu si, vì không thấy được khổ trong cuộc đời này mà các chúng sanh làm hại lẫn nhau, làm khổ lẫn nhau và con đã vì vô minh, ngu si đã làm hại các hữu tình chúng sanh. Con đã là khổ họ, con đã lấy đi sinh mạng của họ, con đã làm họ tức tưởi mạng chung vì con, bây giờ họ phải sống trong sự oán hận, trong sự sân hận, họ phải chịu những cái ngọn lửa sân hận thiêu đốt chính tự thân họ, họ đã phải trải qua những khổ đau trong quá khứ khi bị chính con làm họ đau khổ và đến giờ họ lại hứng chịu lòng sân hận đó .Con thành tâm sám hối những gì mà trong vô minh, trong sự ngu si con đã làm hại hữu tình chúng sanh. Cầu mong tất cả chúng sanh gặp được chánh pháp, tu tập được chánh pháp, thấy được cuộc sống này là vô thường, là đau khổ để cùng nhau thoát ra khỏi dòng sanh tử đau khổ này. Con chân thành, chân thành sám hối. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 1: Con chân thành đảnh lễ Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con chân thành cung kính đảnh lễ trên vị đạo sư mà chúng con tôn kính, con chân thành đảnh lễ cung kính trên sư phụ tôn kính, con chân thành đảnh lễ Ni Sư, con đảnh lễ chư Tăng, chư Ni cùng các vị Phật tử đang có mặt tại đây. Con Phật tử phát danh Từ Dung đến từ Hải Phòng, con về đây đã được một tuần hôm nay chính thức con xin đảnh lễ sư phụ và xin sám hối sư phụ qua một thời gian dài con không được về núi tu tập cũng là do điều kiện hoàn cảnh của con. Con mong sư phụ thông cảm cho con, khi con đặt chân về núi cảm thọ đầu tiên trong con thật là bâng khuâng và ngỡ ngàng trước sự thay đổi rất nhiều của Linh Quy này.
Con rất cảm ơn sư phụ cùng tất cả các vị Tăng Ni tại nơi đây công lao của sư phụ đã cho chúng con có một môi trường tu tập đầy đủ. Con cảm động vô cùng khi con quay về với dòng pháp này, ngày ngày, sáng, trưa, chiều, tối con đều được sống ở trong pháp, đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống con đều được sống ở trong pháp, đang dần tìm lại chính mình. Những năm tháng ở nhà con cũng học pháp nhưng dạo học pháp của con vẫn còn giải đãi, khi về đây con được mở mang tầm mắt thêm, mở mang trí tuệ thêm. Con rất cảm ơn sư phụ, con đang dần dần lấy lại tất cả những gì con đã học được mà sư phụ đã giảng dạy chúng con cách đây mấy năm.
Giờ đây khi con đã nhìn nhận ra được cảm thọ khi ngồi thiền khi sư phụ giảng pháp tất cả những bài thiền quán, hoặc những bài mà sư phụ giảng trong mấy bài đều cảm nhận được. Lần đầu tiên trong đời con được nghe thiền quán về khất thực cũng như là thực tế con được đi khất thực trong Tăng đoàn, con thật cảm động vô cùng. Giờ đây khi nghe tiếng chông mà sư phụ gióng lên tâm con khởi lên lời thiền quán của sư phụ về tâm thương, trải tâm từ rộng lớn, bao la đất trời với tất cả chúng sinh, tất cả những sinh linh nhỏ bé chúng sinh đang bị đọa trong địa ngục. Khi con quay lại với chính thân mình con đang được ngồi với thân hình đầy đủ ngũ căn, con nhận biết được sự cảm thương đến tất cả chúng sinh ở các cõi luân hồi.
Với con một tuần vẫn còn mới mẻ, con còn phải học hỏi hơn nữa những sự nhận thức của con. Con thấy rằng tâm thương của con đối với chúng sinh vẫn còn chưa được thấu đáo, con còn chưa được nhận rõ về tâm thương chúng sinh đến dường nào. Tuy rằng nghe lời sư phụ giảng con tác ý từng câu, từng lời sư phụ nhưng cảm nhận của con vẫn chưa được thấu đáo.
Sư Phụ: Từ từ học thêm.
Phật tử 1: Dạ con kính mong sư phụ cùng đại chúng thông cảm và sẽ giúp đỡ chúng con dần dần con sẽ hiểu thêm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Chúng ta đứng lên đánh lễ Đức Phật.S
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Thưa chư tôn và chư hiền trí sắp tới con cũng không có nhiều thời gian ở gần chúng ta, con khóa tu ở Sài Gòn, ở Nha Trang và ở Hà Nội, đặc biệt các quý Phật tử ở xa về nên trong thời gian con ở đây ba-bốn ngày này sẽ là khóa tu. Chúng ta có hoan hỉ để tu không? Chiều này con mới về tới chân núi là con thấy con khỏe rồi, đi xuống phố mới về tới khi lên tới vườn hoa đứng xa xa nhìn thấy cũng còn nở thì mới thông báo với mọi người là chiều nay tâm sự ngàn hoa cho mọi người hỏi, tại vì cái bữa trước con về có một số vị lên tính hỏi mà lúc đó không có thời gian, cho mọi người tính trải mấy cái tấm ngồi ở trong vườn hoa tới chừng lại gần coi héo queo hết, nhìn xa xa thì tưởng đâu nó còn tươi nhưng mà đến lại gần nó tàn tạ, nó tả tơi, đó là tâm sự ngàn hoa. Bây giờ chúng ta qua tiết mục tâm sự ngàn hoa hỏi đáp, ưu tiên cho các vị hỏi trực tiếp trước và chừng nào không có trực tiếp thì trả lời gián tiếp trong mấy tờ giấy này sau. Chúng ta cứ việc chia sẻ những gì còn nghi ngờ, thắc mắc, chưa rõ trong sự tu, sự học.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ân đức Thế Tôn, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ân đức sư phụ, chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Con hỏi câu hỏi thì rất ngắn nhưng mà để hỏi câu hỏi thì con có hơi dài dòng, con xin phép sư phụ cho con được giải thích những cái thắc mắc của con. Trước đây thì con niệm an tịnh, lắng chịu và mỗi ngày con nghe tâm hiền thì con thấy rất là dễ chịu, khi xúc với những cái này kia, ví dụ những tiếng em bé khóc ré lên có những cái ngũ uẩn khác các vị khó chịu nhưng mà con thấy là con không có khó chịu, hoặc là đi tới chỗ giống như có ống nước có mùi bốc lên thì con cũng thấy vẫn dễ chịu. Con để ý là khi con không có bám vào đề mục thì tâm của con rất là dao động, khi con đảnh lễ ngài Xá-lợi-phất thì những cái câu như "nay con ngao ngán nhìn thân xác" hay là "xấu hổ thân hôi thối" hay là "khốn khổ thân lủng lỗ" thì con đọc mà con không có cảm nhận được.
Gần đây khi một cô chia sẻ với con là cô mỗi ngày đều nghe quán bất tịnh và niệm chết sáu tiếng một ngày, ba tiếng buổi sáng, ba tiếng buổi tối và cô liên tục, liên tục không có ngừng nghỉ. Trong khi quán thì vừa nghe bằng tai vừa xem video bằng mắt thì cô nói là nó rất là hay, nó tác động rất là mạnh vào cô và sau một năm rưỡi thì nó đã trở thành định tướng và trong giữa ngày thì cô tu tập bốn vô lượng tâm để cho làm cho tâm mềm mại, dễ chịu, giữa ngày thì cô nghe thêm pháp của sư phụ và đạo sư. Khi con thử làm giống như cô thì con thấy con chấn động rất là mạnh và nó thấm những cái ý nghĩa trong kinh trong khi con xem video. Vậy thì con thấy là những cái câu kinh đó nó rõ ràng, con hiểu nó sâu hơn hồi xưa rất là nhiều, dù là trước đó con nghe giảng và con có quán nhưng mà con thấy nó rất là yếu.
Con cũng thử về cái hơi thở thì con thấy nó rất là khó cho con tại vì ngày xưa có lần đọc cuốn sách thì họ chỉ là hít vào đếm ba, rồi giữ lại đếm ba, rồi thở ra đếm là ba. Trước khi mà con đi thi thì con tập cái đó thì làm cho con rất là an lạc tại vì con không có quan tâm tới cái lo lắng cái thi nữa, làm như tập như vậy lâu rồi đến khi chuyển sang chỉ quán sát hơi thở thì con thấy khó chịu, cảm thấy giống như là mình khống chế hơi thở khó lắm. Con nghĩ là bây giờ con vẫn tiếp tục tập tâm hiền và con nghĩ là con nên quán về bất tịnh như xem video và nghe để cho kèm thêm vô, con có thể niệm bộ xương và giữ tưởng của cái bộ xương hay không thưa sư phụ? Khi con xem cái bộ xương thì làm như nó bằng nhựa, nó n không có như bộ xương thật, nó không có dơ, nó không có máu tanh, nó không có chấn động cho con lắm. Con nghĩ nếu ý hành mình niệm bộ xương thì khi con làm việc, tay chân cử động hay là cái đầu con quan sát thì con thấy là nó ảnh hưởng con.
Con có thể quán sát được cái điều đó, cái bộ xương thì bây giờ nó đang là bộ xương, mình hoạt động hàng ngày thì mình có thể theo dõi được cái bộ xương và đến khi chết thì nó cũng là bộ xương. Con nghĩ là thí dụ như khi mình tu tập thì mình phải có một cái gì đó, một cái đề mục nào đó mà nó sẽ xuyên suốt cho toàn bộ cái sự tu tập của mình về lâu về dài. Thí dụ như giống như người niệm Phật thì họ niệm xong họ thêm kèm thêm quán mất tịnh hay niệm chết, thì con muốn lựa chọn cho mình một cái đề mục giống như là nó sẽ về lâu dài như vậy. Trước đây thì sư phụ có nói là quán xem những cái video về bất tịnh cả ngàn lần thì con xem được vài lần thì không muốn xem nữa, nhưng khi con nghe thiền quán và khi xem cùng lúc như vậy thì con thấy rất là thích và cảm thọ được rất là nhiều,
Dạ con thấy là ở đây thì mình tu tập sâu về cảm Thọ, con thấy như ngài Châu-lợi-bàn-đặc thì giống như ngài dùng cái niệm các cái câu thì nó cũng thành tựu được. Nếu con niệm về cái bộ xương có thể là nó phù hợp với con thì con xin sư phụ chỉ dạy con xin lỗi là con nói hơi dài và có vẻ là nó lủng củng.
Sư Phụ: Nói vậy tốt mà, ở đây Ấn Đức cũng tu đề mục bộ xương, ở trong cái lời trình pháp của hiền giả Diệu An có được nhiều cái để mình nhìn ra được cái sự hành trì lắm. Về cái tu tập tâm hiền là nó phải xuyên suốt, nhiều khi mình tu được thời gian thì nghĩ vậy là được rồi đó nên mình thôi, chắc mình được rồi nhưng mà không phải vậy. Cái đó là tưởng tri, đụng chuyện rồi lúc đó nó sẽ mất cho nên các vị thiền sư Cao Tăng Myanmar nói tâm rời khỏi đề mục thì ngay lúc đó là buông lung phóng dật, lúc cái tâm mình lúc đó không có một cái đề mục nào hết thì lúc đó là mình đang sống trong buông lung phóng dật. Cái đề mục thường trực và xuyên suốt đối chúng ta là đề mục tâm hiền.
Hôm trước sư bà lên núi sư bà hỏi, sau đó sư bà mời về dưới tịnh xá vô sư bà hỏi lần nữa, hỏi thầy chỉ cho con cái bí kiếp coi chùa con có mười người thôi mà con cũng phải lo nhiều mà trên thầy đồ bảy tám chục người, có khi cả trăm mà an ổn vậy? Con thưa "Dạ thưa sư bà tâm hiền", hai chữ thôi chúng ta thấy có được an lành không? Luôn luôn lúc nào mình cũng nhắc mà không phải được tuyệt đối đâu, hơn trung bình chút thôi chứ chưa có đủ đâu, nhưng mà nó đỡ hơn nhiều không. Nếu mà ở đây không có tu tâm hiền thì người ta không ở được thành ra cái tâm hiền là tuyệt đối quan trọng, nhiều khi đang ngồi nghe pháp mà chưa chắc có tâm hiền, nhiều khi con ngồi chia sẻ pháp mà có mấy người nhìn làm con sợ nên cúi xuống, giảng xong là đi liền. Thành ra cái tâm hiền của Nikāya sâu sắc lắm.
Mình thấy có nhiều người ngồi chút họ bung chân họ đi ra, thấy không? Đó là rất là thô đó, còn nhiều cái tế hơn nữa, họ ngồi nghe nhưng mà mắt họ nhìn mình trừng trừng, thấy sợ quá. Tới những lúc đánh phá vô cái dục, cái ái, cái bản ngã là họ trợn lên, biểu hiện ra, thành ra cái tâm hiền này mình phải tu hoài cho tới chết thôi bởi vì cái tâm hiền này viên mãn là hiền thánh, mà hiền thánh Tăng ở đây là đoàn thể hiền thánh của Phật giáo chứ không phải hiền thánh Tăng là cái ông thầy. Nhớ kỹ, con nhắc rất là nhiều lần cái chữ Tăng đó là cái đoàn thể, mình nghe chữ hiền thánh Tăng cái mình nói là cái ông thầy thánh, trong đó có cư sĩ luôn, đoàn thể hiền thánh của Phật giáo. Thành ra không có thể dễ dàng cho qua mà cũng không có thể dễ dàng chấp nhận, dễ dàng mà tưởng rằng mình đã tu xong cái tâm hiền.
Có nhiều vị cái cách mình nói chuyện, cái cách mình ứng xử, cái cách mình làm việc, mình có tu tập tâm hiền là nó khác liền thôi. Mình nói chuyện mà mình không an trú tâm hiền cái giọng nói mình nó khác, cái cách làm việc của mình khác, đi tới đâu là đụng rầm rầm rớt đồ tới đó, dép mang vô thì để chiếc đây, chiếc văng lên đây, nói chuyện ra thì trách người ta không, đổ lỗi với người khác không, có chuyện ra là đổ người không mà đổ cha, đổ mẹ, đổ ông, đổ bà, đổ anh, đổ em, đổ vợ, đổ chồng, đổ con, đổ cái, "người ta lỗi hết trơn chứ tôi không có lỗi". Cái tâm không có hiền trí, cái này nói là hết giờ luôn, nhấn mạnh lại để chúng ta thấy cái tầm quan trọng của tâm hiền. Mình tu cái tâm hiền được rồi con người mình nó dễ chịu lắm, rất là dễ chịu, cái cảm thọ của mình nó nhẹ nhàng, nó khinh an ở trong thất giấc chi mình sẽ cảm nhận được lời nói mình cũng nhẹ, bước đi cũng nhẹ, cái hơi thở cũng trầm, cái cảm thọ trong mình lắng dịu.
Mình tu từ ở trong thọ, ở trong tưởng, trong hành, trong thức, đương nhiên cái sắc là có tu. Nó nhẹ, nó trầm, nó tịnh, nó lạc mà mình kết hợp với tâm từ thì tuyệt vời luôn, rất là dễ chịu, cũng như chú Trí Tùng mới đi với con về tức thì, mới làm tài xế đi lái mấy trăm cây số về nhưng vẫn lên ngồi tu bình thường. Khi mình có tâm hiền, mình có tâm từ sẽ dễ chịu, mình ít có thấy mệt, phải không? Ít có thấy mệt, đâu ai biết con chạy show đâu, nhiều khi công việc gấp thật là nhiều nhưng mà mình cũng vẫn phải nhẹ nhàng vì mình có tâm hiền, tâm từ mà mình không có tâm hiền, mình không thực tập tâm hiền thì trong cái chỗ nhẹ nhàng mình cũng nặng nề nữa, trong cái chỗ thảnh thơi mình cũng vội vàng nữa, trong cái chỗ bình an mình cũng căng thẳng nữa.
Ở trong chúng mình có các vị lớn tôn đức tu cái tâm hiền rất là tốt, trong chúng mình có nhiều vị tu tâm hiền cũng có nhiều vị tu tâm từ. Cô Diệu An lúc mới về với bây giờ khác nhiều lắm, thưa cô có khác nhiều không? Ở trong chúng mình cũng có nhiều người đổi khác lắm, giới tử già nhất này cũng khác nhiều đấy, khác lắm, nhiều vị thay đổi lắm. Đó là cái công năng, tác dụng của tâm hiền và bây giờ tới cái phần bất tịnh quán là quan trọng lắm, mình đừng có đòi làm theo ý mình, mình muốn cái gì tự mình nỗ lực riêng mình, trong chúng không thể làm giống mình được. Chúng là cái đại trà, là phổ thông là đại chúng, giờ nếu mà giờ con cho bảy ngày mà ngày nào cũng quán bất tịnh hết chắc xuống núi gần hết, hay là luôn cả nửa tháng hoặc một tháng thành ra tự mỗi người phải chọn cho mình một cái đề mục. Quán bất tịnh là thân hành niệm, là hương vị của bất tử, không thể không có để phá thân kiến, đó là cái đề mục rất quan trọng và quyết định của người tu cho nên hoặc là mình xin các vị dẫn chúng mở bài đó, cái đó lâu lâu mình xin, còn cá nhân của mình là tự mình đi nghe cái bài đó, tự mình đi tìm xem cái đó, tự mình để dành mấy cái bảo bối đó, mấy cái tài liệu đó để dành vô cái máy của mình.
Bây giờ mà ai không có cái điện thoại, đương nhiên mình vừa nghe vừa nhìn thì cái thọ sẽ mạnh hơn là nghe không, hoặc là nhìn không. Con cũng khích lệ các vị chịu khó chút, các cái vị ở trong cái ban thông tin, truyền thông hay là trách nhiệm mở bài cho đại chúng thì khi mình mở nên kết hợp có hình nó rất là tốt. Mình có hết tư liệu mà, mình có rất nhiều, chịu khó chút là được, một bên mình mở âm thanh, một bên mình mở hình ảnh. Thí dụ ba mươi hai thể trược thì mình có cái hình đó, còn nếu mà chưa có thì lên trên mạng lấy, những cái bài bậc đạo sư đưa lên có đầy đủ ba mươi hai thể trược rất là cần thiết, cực kỳ cần thiết, thường xuyên an trú vào cái tưởng đó, cái quán đó, cái định tướng đó.
Khi nào thấy ngán quá thì xả ra chút cho bớt ngán rồi quay lại tiếp, phải kiên trì, phải bền trí, còn mình học cái ban đầu thì mình học phổ quát, đại trà, chung chung nhưng mà muốn chuyên sâu thì phải nhất môn thâm nhập, luyện một môn đó thôi thì nó chuyên sâu. Cái môn đó là do mình chọn, mình nhớ cái bài kinh Nhập Tức Xuất tức Niệm, một vị thì tu bất tịnh, một vị tu vô thường tưởng, vị tu vô ngã tưởng, vị tu tập tâm xả, người ta chuyên một cái đề mục nhưng mà nói như vậy đó là mình phải cố gắng nhiều lắm chứ không phải dễ, tại vì cái tâm mình không có chịu ở một cái đâu, nó sẽ nhảy lung tung nhưng mà mình có cái chính và có những cái phụ. Nhớ kỹ cái đó, chẳng hạn như quý vị ăn cơm thì cơm là chính nhưng có thay đổi chút mấy cái món nhỏ nhưng cái chính là cơm thì phải có cơm.
Cái pháp tu chính của mình, cái đề mục của mình phải chọn bộ xương, hay là ba mươi hai thể trược, hay là chín giai đoạn tử thi, hay là quán tứ đại, quán bất tịnh là do mình chọn trong đó. Nếu mình tu từng môn hết như vậy càng tuyệt vời rồi cuối cùng mình chọn ra một cái thích hợp cho mình nắm cái đó, mình tu hoài chuyên sâu vô càng lâu càng tốt, tu cho tới thể nhập thì cái đó mới đúng đạo lộ, nó thể nhập mới phá thân kiến, mới diệt được ngã mạn, mới ly tham được, diệt dục được, phá ngã được. Như vậy đó là mình phải có một cái đề mục chính, chủ lực rồi mình có những cái đề mục phụ, còn cái bộ xương thì vậy là cũng được rồi chứ cô muốn bộ xương thiệt hả? Vấn đề là do mình quán chiếu chứ giờ kiếm mộ xương thiệt chắc cũng mệt à, không phải dễ, thành ra vấn đề quan trọng đây là vấn đề mình quán.
Cái quán của mình cho nó tầm tứ, vấn đề quan trọng đây là cái tứ của mình an trú và cái đề mục đó càng lâu càng tốt. Mình nhớ trong Trưởng Lão Tăng Kệ có vị trưởng lão này đi khất thực thì có một cô dâu này mặc hoa da phấn, quần là áo lụa, vàng bạc đỏ tay đeo đầy mình hết rất đẹp, cô giận ở bên nhà chồng bỏ về nhà cha mẹ mình thì bên nhà chồng chạy đi theo đi hỏi nãy giờ sư có thấy cô gái nào đi ngay đây thì ngài nói chỉ thấy bộ xương nhe cái răng, ngay lúc đó ngài thể nhập trí tuệ, thành tựu ở trong cái pháp quán, diệt tận cái dục tham và chứng thánh quả ngay tại chỗ nhìn đó.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình giàu có, được đặt tên là Bhaddiya, nhưng vì ngài rất thấp, nên được biết với tên là Lakuntaka Bhaddhiya (Bhaddiya người lùn). Nghe bậc Ðạo Sư giảng, ngài xuất gia, trở thành một nhà học giả và biện tài, ngài dạy cho các người khác với một giọng nói rất dịu ngọt. Một hôm, nhân ngài đang lễ, một phụ nữ đi xe với một Bà-la-môn, thấy ngài và cười lên, để lộ hàm răng của nàng. Vị Trưởng lão, lấy hàm răng ấy như một đề tài để thiền quán, khởi lên thiền định và trên căn cứ ấy, phát triển thiền quán và trở thành một vị Bất Lai" (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, (CCXXV) Lakuntaka-Bhaddiya (Thera. 49))
Mình thấy cái mức độ thiền quán của các vị xưa là thâm sâu lắm, tức là tất cả tâm ý người ta tập trung dồn vô cái đó như tường đồng vách sắc, không có gì công phá hết. Còn cái tâm mình không có gom lại, mình không có tập trung, mình không có an trú vào đề mục thì nó phân tán như bông gòn đứng thả ngoài ngã bảy, ngã tám, gió bão thổi bay tứ tung ta hết. Cho nên cái người mà dễ giận, dễ buồn, dễ hờn, dễ mác, dễ thị phi là không có tu, người tu không có vậy, người tu là đem tất cả cái tâm lực, sức lực, đạo lực, hạnh lực, nguyện lực, trí lực dồn vô cái đề mục của người ta, người ta không có thời gian, thậm chí đi tới nói với họ cũng không để ý chứ đừng nói đi kiếm chuyện, đi nghe ngóng chuyện của ai. Người ta không có thời gian vì họ tập trung vô cái đề mục, tập trung vô cái đề mục và an trú trong cái đề mục, nhớ về cái đề mục hoài, tầm tứ trong đó hoài, bám trú trong đó hoài.
Khi người này bám trú trong cái đề mục như vậy thì người này có bớt tham không? Có bớt sân không? Có nhiếp phục bản ngã bớt không? Như vậy người này sẽ hoan hỉ trong cái pháp hành đó và người này hỷ lạc trong đó, người này sẽ xả được những cái tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã. đúng cái đạo lộ Đức Phật dạy mình không? Đầu tiên là tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm, đây là cái tiến trình tâm khi mình thực hành pháp phải trải qua năm cái chi phần tầm, tứ, hỷ, lạc nhất tâm. Nhất tâm ở trong cái đề mục của mình, đó là cái tâm thuần nhất, nhất tâm là cái tâm thuần nhất chứ không phải là một tâm, là cái tâm thuần nhất trong cái đề mục đó. Ví dụ mình đang quán đề mục khổ thì nhìn cái đám cưới trước mắt mình thấy khổ, nhìn cửa Vu Quy đó là khổ chứ đừng nói chi nhìn đám tang, đừng nói chi là nhìn thấy tai nạn.
Mình đang quán về sanh diệt pháp thì nhìn đóa hoa mới vừa nở này thôi mà mình nhìn thấy nó rụng liền, nó rã ra hết, nó rụng xuống, cái ánh nhìn vừa nhìn vô thôi là nó rã ra hết, đó là sanh diệt trí, là người trú trong cái đề mục sanh diệt, quán về sanh diệt. Chỉ cần nhìn tới đâu là cái đó nó rã ra tới đó hết, đó là trú ở trong sanh diệt trí, thí dụ nhìn thấy một người trẻ đẹp thì nhìn cái là họ biến thành già liền và họ sụp xuống ngay tại chỗ đó thành bộ xương ngay tại chỗ đó. Cái trí quán nó mạnh vậy đó, cái này phải luyện, công phu thâm hậu, đó là cái đề mục thiền quán đó, là nhất tâm đó, là cái tâm thuần nhất và tập trung tâm ý vào trong cái đề mục đó.
Quán như vậy mới tan biến được những cái dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã. Tại vì đóa hoa đó có tàn không? Cái người đó có chết không? Rồi cái món đồ đó có bị huỷ hoại không? Mình nhìn vậy là có đúng hay sai? Đâu phải là mình ảo tưởng mà là mình tuệ tri cái pháp đó. biết nó bằng trí tuệ để mà nhìn xuyên thủng, xuyên thấu, xuyên qua nó, không bị cái hình tướng nhất thời lòe loẹt bề ngoài đó trói gạt mình. Nhìn cái đó là nhìn bằng trí tuệ, nhìn bằng tuệ tri, nhìn bằng sự thấu thị xuyên thủng thì đó là tuệ quán, thiền quán, cái đó phải luyện tập nhiều lắm, luyện nhiều lắm trong từng cái suy nghĩ, từng cái cảm thọ, từng cái hình bóng, từng cái nhận thức, cứ tập hoài, tập hoài, tập hoài, tập hết ngày này tới ngày khác, hết tuần này tới tuần khác, hết tháng này đến tháng khác, hết năm này đến năm khác, hết ba năm, năm năm, bảy năm, tám năm, chín năm, mười năm, mười hai năm, mười bốn, mười sáu, mười tám, mười chín, hai mươi năm, hai mươi ba năm, hai mươi bảy, ba chục năm, tập cho tới bốn-năm chục năm, tập cho tới nằm trên giường bệnh thở cái khì là từ bỏ ngũ uẩn, thể nhập thánh trí.
Phải như vậy đó thì nó trở thành định tướng, nó trở thành đề mục và cái trí tuệ đó đối với mình là hết sức là sắc bén giống như mình cầm cái thánh đao ở trong tay mình vậy đó, lạng quạng là trảm thì vậy mình mới cắt được mê tình, cắt được dục ái, tham ái, cắt được chấp thủ, vô minh, phá được bản ngã. Còn giờ tu mà nghe thì cũng gật đầu đúng rồi, nó giả, nhưng mà trở ra rồi thì vẫn sống lại với cái vô minh thì tu tới chừng nào thành công? Mình không có rèn luyện cái trí đó, mình không có giữ, không có thọ trì tức là không nhận và giữ được cái đó thì đó là cái lý do mình tu chuyên sâu.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con tên là Trương Ngọc Thạnh, pháp danh là Liên Nguyện, con xin đảnh lễ Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni và kế tiếp con xin đảnh lễ người thầy khả kính của chúng con, kế tiếp con xin đảnh lễ các chư vị Ni Sư và các vị thầy, con đảnh lễ các vị hiền trí đang có mặt tại nơi đây. Con có một câu hỏi, con đến đây cũng được sáu ngày rồi, con bị một cái trạng thái chưa có cởi mở được nên con nhờ thầy giúp đỡ, trong lúc mà ngồi thiền chung với đại chúng thì mọi thứ rất là ổn nhưng mình quan sát cảm thọ của mình là cái miệng của mình nó cứng hết giống như hai hàm răng của mình như nghiến răng vậy đó, kiểu vậy. Cho nên là khi xả thiền ra thì mình cảm thấy chưa có thoải mái lắm, chưa có bằng lòng với cái hành trình ngồi thiền của mình lắm tuy rằng mọi thứ rất là ổn. Cho nên con ờ muốn hỏi thầy có thể chỉ dạy thêm cho con để cho con có khoảng thời gian ngồi thiền cho nó hiệu quả, cảm thấy nhẹ nhàng tại vì con nghĩ có phải là mình gồng quá hay không tại người ngoài nhìn vô thì thấy mình rất là nghiêm, ở trong thì cũng rất là nghiêm luôn nên là cái chỗ còn chướng ngại. Dạ con xin cảm ơn.
Sư Phụ: Khi mình ngồi mình ngồi thiền hay là mình tu thì tránh hai cái thái cực, một là quá dùng hai là quá căng. Khi mình thả lỏng hết thì mình sẽ dễ đi vào cái buông lung phóng dật tức là vọng tưởng hoặc là hôn trầm trong khi mình ngồi thiền, nếu mình thả lỏng hết, không có cái đề mục gì hết thì ngồi như có cái xác vậy thôi, mình sẽ dễ dàng hôn trầm hay là buồn ngủ, ngủ gục hoặc là mình dễ dàng cho cái tâm mình đi rong chơi. Còn nếu như mình căng quá thì nó làm cho cái thân, cái tâm mình mệt mỏi, cho nên con mời quý Ni sư hướng dẫn cho cô kỹ về cái pháp an trú cảm giác toàn thân, hướng dẫn cho thật là kỹ cái đó và lúc đó mình hướng cái cảm thọ mình cảm nhận hàm răng của mình. Lúc đó hai cái hàm răng cắn lại phải không? Mình cảm nhận cái cảm giác toàn thân, quý Ni sư sẽ hướng dẫn cho mình kỹ cũng như chúng ta nên mở bài cảm giác toàn thân cho đại chúng để cho tập, có cái bài chi tiết từng chút, từng chút từng chút đó.
Mình cảm giác toàn thân làm cho nó nhẹ nhàng hết toàn bộ cơ thể của mình từ đỉnh đầu cho tới gót chân, và đặc biệt là chỗ nào có cái vấn đề chẳng hạn như cái hàm răng thì mình phải để ý tới cái chỗ đó và mình làm cho cái chỗ đó cái cảm giác đó nó thư giãn ra. Thí dụ như đưa nhẹ cái chót lưỡi mình lên hàm răng ở phía trên và mình phải cảm nhận cái chỗ đó, mình thả lỏng nó ra, tại vì khi mình không có cảm giác toàn thân, mình không biết cái thân hiện tại nó như thế nào, nó căng thẳng ở đâu, nó có vấn đề ở chỗ nào mình không biết như cái căn nhà mình không có dòm ngó, hoặc mình đi chơi ở đâu hoài, hoặc là mình nằm ngủ thì có cái vấn đề gì ở trong nhà mình không biết. Còn bây giờ mình chăm sóc, mình dòm ngó cái nhà của mình, mình dòm nhà khách, mình dòm nhà bếp, mình dòm trong toilet, dòm phòng ngủ này kia, mình coi xung quanh thì có cái gì là mình điều chỉnh liền.
Thí dụ dơ chỗ nào mình quét chỗ đó liền, hay là cái đồ nào mà nó rớt xuống thì mình nhặt lên liền, mình chỉnh, mình để ngay ngắn lại liền. Cũng vậy khi mình có cái cảm giác toàn thân thì cái chỗ nào trong thân mà nó không có thoải mái, nó không có nó an tịnh, lắng dịu thì chỗ đó mình chỉnh lại liền. Nó siết chỗ đó quá thì mình nới ra cho nó lỏng, nó căng cho đó thì mình làm cho nó dùng trở lại, mình điều chỉnh đó. Đó là nghệ thực thiền, tức là mình thực tập cái cảm giác toàn thân trước của cái phần thân thôi là mình phải làm cho nó dễ chịu cho nên cái bài đầu tiên vô là thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng, cảm giác toàn thân làm cho mình để ý vào cái chỗ căng thẳng đó và mình làm cho cái chỗ đó nhẹ nhàng ra, thoải mái ra, nó tự nhiên ra thì để ý mình làm thì nó sẽ hết thôi. Cái đó không có gì khó hết, đơn giản thôi.
Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch các vị Tăng Ni cùng các bậc hiền trí, con có một câu hỏi tâm sự vườn hoa với sư phụ. Ngày xưa con tu ở trên này thì con được sư phụ cho xem hình ảnh về quán thân bất tịnh, ba mươi hai thể trược bằng hình ảnh khi xẻ cái thân ra thì con thấy ở trong đấy những bầy nhầy, gọi là không có gì ta, không có ta ở trong thì luôn luôn con quán từ trong cái phèo, phổi, mỡ, máu mủ hôi tanh ở trong đó. Con lại quán cái thân đang di động với tất cả những người mà con đã gặp, tứ đại, con luôn luôn quán, khi con bắt gặp thấy một người nào là con lại quán người, già thì da nhăn nheo, tanh hôi, cái mắt thì ghèn. Con lại nhìn lại cái thân mình con thấy cũng y chang như thế rồi con nghĩ con quán như vậy thì lúc nào con cũng thấy người quanh mình từ cái răng, cái mắt, cái tai và con lại liên tưởng đến bài Đức Phật giảng ngài A-nan được nàng Ma-đăng-già đem lòng yêu mến. Đức Phật giảng giải cho nàng Ma-đăng-già vì yêu mến ngài A-nan ở điểm gì.
Sư Phụ: Mấy cái đó trong kinh Nikāya không có nói.
Phật tử 3: Dạ mô Phật, con xin lỗi sư phụ nhưng con quán như vậy mà con luôn luôn ghê tởm những cái bất tịnh ở trên cơ thể con người, bất cứ ai cũng thế. Thực sự con xin hỏi sư phụ là con quán như vậy có sai hay là con có đi quá xa với lại những cái mà con đã ghê tởn tòm hay không ạ. Kính bạch sư phụ, sư phụ giải thích cho con.
Sư Phụ: Quán như vậy là đúng rồi, không có sai, mục đích của quán bất tịnh là đưa đến yểm ly, đưa đến ly tham, hướng đến từ bỏ. Tại vì cái tâm mê của mình là nó ham, nó thích, nó muốn, nó khoái, nó dục, nó ái, nó đam, nó mê, nó khao khát, bây giờ cái pháp quán bất tịnh này là làm cho nó nhàm chán, nó không đam mê nữa, không có thèm khát, khao khát nữa, thấy ghê tởm, gớm ghiếc, dơ bẩn, hôi tanh để cái tâm này nó nhả ra, nó ngao ngán, nó nhàm chán, nó không tham muốn nữa, nó từ bỏ những cái thân xác vô thường, bất tịnh, hôi tanh, bẩn thỉu, nhơ nhớp đó. Đó là cái hướng đi của pháp quán bất tịnh cũng như tất cả ba mươi bảy phẩm trợ đạo đều liên hệ đến viễn ly, hướng đến ly tham, hướng đến sự từ bỏ, đều đưa đến sự yểm ly, tức là chán lìa, không tham muốn nữa, từ bỏ, thoát ra tất cả.
Ba mươi bảy phẩm trợ đạo công năng đều như vậy hết, tu tập những cái pháp đó là làm cho mình chán lìa đối với cái thân xác này, đối với ngũ uẩn này, làm cho mình muốn rời xa, muốn thoát ra, muốn từ bỏ, hướng đến sự từ bỏ. Tất cả công dụng của pháp tu đó là vậy hết. Có một vị hỏi: Trước khi con vào dòng pháp Nikāya con có thời gian mười hai năm ở một mình, không có giao tiếp với một ai, nay đã bốn tháng được học pháp nhưng con chỉ nhận diện được tham, sân ở mặt thô, con ở trong trạng thái trơ trơ, đơ đơ, vô minh, con không nhìn thấy sự vận hành của thọ; tưởng; hành, con nghe pháp chăm chú nhưng nghe xong buông xuống thì không nhớ được gì. Con kính xin sư phụ chỉ dạy cho con.
Nhiều khi mình nói hay là mình viết ra như vậy đó nhưng mà có khi nó trật lất à, con chỉ cho chúng ta không phải là nhắm vào một cá nhân nào hết, tất cả là ngũ uẩn hết, có khi mình nói nó lố sự thật, có khi mình trình pháp nó không có trúng mà mình không có biết, mình nói giống như mình tới rồi vậy đó nhưng mà mọi người nhìn thấy mình chưa có tới. Mình phải để ý cái đó tức là cái tâm mình nó không có tỉnh giác chánh niệm, nó không có nhìn đúng cái vấn đề, nó tưởng tri nhiều quá cho nên hồi xưa bậc đạo sư dạy con ngay cả cái câu hỏi mà họ nói không có trúng, họ nói trong vô minh. Ngài chỉ rất là kỹ và ngài quay ngược trở lại rồi cuối cùng mới hỏi một câu hỏi khác với câu hỏi trong cái họ đang hỏi vì họ không biết cái tâm, họ không biết cái sự vận hành. Họ tưởng vậy đó rồi hỏi vậy nhưng mà cái câu hỏi nó trật lất, những cái này là phải sâu sắc.
Cho nên thí dụ như mình nói rằng là mình có thời gian mười hai năm ở một mình không giao tiếp với một ai. Câu này chính xác không? Thành ra đây là con chỉ cho chúng ta thấy có khi mình nói lố sự thật dữ lắm, cái đó là vọng ngữ mà mình không có biết, cái khổ là mình không có biết. Cho nên phải rất là chánh niệm, tập rất là chánh niệm, nhiều khi mình nói vậy mà nói cái gì á, hai người ngồi đó rồi nói cái gì đâu mà cái thực tại họ không thấy gì hết, họ cứ nói chuyện hồi xưa, chuyện chồng con, anh em, huynh đệ mà mình cũng không biết là đang ngồi nói chuyện với ai, rồi đang cảm nhận được cái gì, tâm trong lúc đó là sao, không biết gì hết. Ăn không biết cái vì, uống họ cũng chẳng có biết cái nước đó làm sao, rồi cái không gian, cảnh không có cảm giác toàn thân gì hết, cái tâm họ hôn mê, nó cuộn ở trong những cái quá khứ, trong cái sân hận không thôi là trong cái tham muốn, hay những cái phiền não, sống ở trong cái hôn mê.
Thành ra muốn nhìn ra được cái tâm là cả một cái sự tu tập không phải đơn giản. Khi mình nói là nói trong hôn mê, làm trong hôn mê, nghĩ trong hôn mê, đây là cái duyên mình học cái chỗ đó chút, tức là chủ yếu ở đây là nhận diện được tham, sân ở mặt thô, con ở trong trạng thái đơ đơ, trơ trơ, vô minh, con không có nhìn thấy sự vận hành của thọ; tưởng; hành, nghe pháp chăm chú nhưng nghe xong buông xuống thì không nhớ được gì hết. Cái này con đã chia sẻ rất là nhiều lần rồi, phải quán về vô thường, quán về khổ, quán về sự nguy hiểm, nguy hại của ngũ uẩn để phá cái tâm si, phải tác ý thường xuyên, quán thường xuyên, phải nhắc thường xuyên thì nó mới ra khỏi cái trạng thái đơ đơ, vô minh, còn không nhắc thì nó cứ vậy hoài thôi.
Quý vị hỏi là làm sao để biết mình chọn con đường xuất gia là đúng và phù hợp, không phải là cảm giác nhất thời, xin ơn trên sư phụ chỉ soi sáng làm sao biết mình có thể đi trên con đường này không bao giờ thối lui và ý chí dũng mãnh ban đầu. Làm sao để biết mình chọn đường xuất gia là đúng? Tự mình phải cảm nhận được, đừng có vội vàng, đừng có hấp tấp mà phải có một sự trầm tĩnh, có một cái sự điềm tĩnh, có nhiều cái sự suy xét cho nó sâu sắc và có thời gian ở đây. Con đâu có cho xuất gia sớm đâu, cả năm mới được xuất gia, dầu cho là được xuất gia gieo duyên rồi vẫn phải ở hàng năm trời. Chính trong cái thời gian đó để cho quý vị suy xét cho sâu sắc coi có phải là nhất thời không? Một năm có phải là nhất thời không? Tám tháng có phải là nhất thời không? Không phải tám ngày, không phải một tháng mà gần cả năm trời, thậm chí dài hơn nữa cho nên mình tìm thấy được chánh pháp, mình thấy ra được cái nguyên nhân của khổ nằm trong con người mình và mình đang thực hành những cái diệt cái nguyên nhân khổ đó. Cái đó là tự bằng mắt mình thấy, tâm mình cảm nhận, trí của mình rõ biết rồi sau đó mình quyết định.
Làm sao mà biết mình có thể đi trên con đường này không bao giờ thối lui với ý chí dũng mãnh ban đầu? Không bao giờ thối lui là Nhập Lưu, ráng Nhập Lưu đi thì không có thối lui nữa, nhất trí không? Nhập Lưu là không có còn cái suy nghĩ nào cho là vui nữa hết, không còn cái cảm giác nào cho là vui nữa hết, không còn cái hình bóng nào cho là ta, là của ta nữa hết, không có một cái nhận thức nào mà cho nó là thường, lạc, ngã, tịnh, thấm hoàn toàn cái sự thật về khổ và xác quyết trăm phần trăm, tuyệt đối là mình đi trên con đường diệt khổ, không còn một chút nghi ngờ, do dự, phân vân, lưỡng lự gì nữa hết, xác quyết một trăm phần trăm, đó là mình nhập lưu rồi đó. Hằng ngày mình nghe pháp, hằng ngày mình tác ý, hằng ngày mình tưới tẩm là để cho mình đi đến sự xác quyết trăm phần trăm đó.
Hồi sáng này con đọc bài kinh Sư Tử Hống mà con bất ngờ cái đoạn cuối Thế Tôn nói ngài tám mươi tuổi rồi và cái trí tuệ của ngài, cái thiền định của ngài nó không có suy suyển một chút nào, dầu cho có gánh ta ở trên võng thì cái trí tuệ của ta nó cũng có không suy giảm chút nào, tức là ngài nằm trên võng gần chết được khiêng đi thì cái trí tuệ Chánh Đẳng Chánh Giác của Như Lai không có suy suyển một chút nào hết.
"Này Sariputta, nếu Ông có gánh Ta trên giường đi chỗ này chỗ kia, thật sự trí tuệ biện tài của Như Lai không có gì thay đổi." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)
Nghe tới cái câu đó cũng chợt nhớ bậc đạo sư ngay trên giường bệnh mà cái thánh trí rực sáng, bừng sáng, thấy quá tuyệt vời luôn, tức là nó tương ưng giữa bật đạo sư và Đức Thế Tôn. Chính Đức Phật nói ta tám mươi tuổi, già như vậy đó, bệnh như vậy mà cái trí tuệ Chánh Đẳng Chánh Giác của ta không có suy suyển một chút nào, không có đổi thay một chút nào dù có khiêng ta đi, tức là ta già, ta bệnh, ta đi không nổi mà cái thánh trí của ta là không có suy suyển chút xíu nào hết, không có bị thay đổi, bất động. Khi đọc tới cái câu đó hình ảnh bậc đạo sư mà nằm ở trên giường bệnh mà rống cái tiếng sư tử nó rung chuyển trời đất hết trơn, chấn động thân tâm hết trơn, tái hiện2600 năm mà nó giống như là hiện giờ, giống như mấy ngày hôm qua vậy đó. Mình có tin tưởng không? Mình chứng hùng hồn trước mắt mình luôn.
"Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: 'Khi một thiếu niên còn trẻ tuổi, tóc đen nhánh, huyết khí sung mãn, trong tuổi thanh xuân, người ấy thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng. Nhưng khi người ấy già cả, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi đến đoạn cuối cuộc đời, khi đã tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi, khi ấy trí tuệ biện tài tối thượng ấy bị đoạn trừ'." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)
Tức là quên, là lú lẫn, người ngoài đời khi đến bày mươi tuổi, tám mươi tuổi, chín mươi tuổi hay trăm tuổi là già cả, nhớ trước quên sau thậm chí là lãng, là lẫn.
"Này Sariputta, chớ có quan niệm như vậy. Này Sariputta, nay Ta đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi dến đoạn cuối cuộc đời, tuổi Ta nay đã đến tám mươi. Này Sariputta, ở đây Ta có bốn vị đệ tử, tuổi thọ đến một trăm, đã sống một trăm tuổi, thành tựu chánh niệm đệ nhất, thành tựu chuyên tâm đệ nhất, thành tựu tinh cần đệ nhất và đầy đủ trí tuệ biện tài tối thượng. Này Sariputta, ví như một người bắn cung thiện xảo, có huấn luyện, khéo tay, thuần thục, với một mũi tên nhẹ, có thể dễ dàng bắn ngang qua bóng một cây ta-la. Cũng vậy, những vị này với chánh niệm đệ nhất như vậy, được thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng như vậy, nếu những vị này hỏi Ta nhiều lần một câu hỏi về Bốn Niệm xứ, và nếu Ta, được hỏi nhiều lần như vậy, phải giải thích cho họ hiểu và nếu họ được Ta giải thích như vậy, có thể hiểu như đã giải thích, và nếu họ không hỏi Ta về những vấn đề phụ thuộc và các vấn đề khác, trừ khi ăn, uống, nhai, nếm, trừ khi đi đại tiện, tiểu tiện, trừ khi ngủ để lấy lại sức. Này Sariputta, dầu vậy, sự thuyết pháp của Như Lai cũng chưa hoàn tất, sự giải thích cú pháp của Như Lai cũng chưa hoàn tất, sự trả lời các câu hỏi của Như Lai cũng chưa hoàn tất, khi mà bốn đệ tử của Ta, tuổi thọ đến một trăm tuổi, đã sống một trăm tuổi, đã từ trần sau một trăm tuổi. Này Sariputta, nếu Ông có gánh Ta trên giường đi chỗ này chỗ kia, thật sự trí tuệ biện tài của Như Lai không có gì thay đổi.
Này Sariputta, những ai nói một cách chân chánh sẽ nói như sau: 'Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người'. Vị ấy sẽ nói về Ta một cách chân chánh như sau: 'Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người'.
Lúc bấy giờ Tôn giả Nagasamala đứng sau lưng Thế Tôn và quạt cho Ngài! Tôn giả Nagasamala bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Sau khi nghe pháp môn này, lông tóc con dựng ngược. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên gọi là gì?
-- Này Nagasamala, do vậy pháp môn này gọi là 'Pháp môn Lông tóc dựng ngược'. Ông hãy như vậy thọ trì.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Nagasamala hoan hỉ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn." (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)
Tiếng Việt mình gọi là lông tóc dựng đứng, pháp môn lông tóc dựng đứng hết, sởn tóc gáy hết, nổi da gà hết, chấn động hết. Thế Tôn nói nếu có bốn người, mỗi người sống một trăm tuổi mà bốn người này chánh niệm đệ nhất, thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng mà có hỏi ngài bao nhiêu câu hỏi trừ lúc mà ăn, lúc ngủ thôi mà trả lời một trăm năm ngài cũng trả lời không hết nữa. Tức là sao? Là cái trí tuệ của ngài, cái khả năng của ngài là nó không thể tưởng tượng nổi dù cho ngài tám mươi tuổi. Mình tu là để đạt tới vậy, đó mới là bất biến, đó mới là tâm bất động, chứ còn bình thường tỉnh táo, chánh niệm trí huệ tới bệnh là quên kinh hết trơn, không còn nhớ gì hết thì vậy tu là, chi. Nhất trí không?
Mình nhìn lại hình ảnh của bậc đạo sư chúng ta trong như vậy phút cuối cùng sắp ra đi trên giường bệnh mà rống lên tiếng gầm của sư tử rung chuyển đất trời hết rồi mới ra đi. Con gái của Như Lai đó sau 2600 năm. "Này Sariputta, nếu Ông có gánh Ta trên giường đi chỗ này chỗ kia, thật sự trí tuệ biện tài của Như Lai không có gì thay đổi", đọc cái câu này con cũng nổi gai ốc luôn, bài kinh này Đức Phật gọi là pháp môn lông tóc dựng đứng. Như vậy mấy người già đừng có sợ, trẻ càng không sợ, tịnh tín bất động, thành tựu thánh trí, làm sao mà quên được, làm sao mà lãng được, làm sao mà lẫn được, chỉ sợ mình chưa thể nhập được trí tuệ thôi chứ không sợ mình quên. Nếu như mỗi một cái suy nghĩ mình đều tác ý hết, mỗi một cái cảm giác mình đều quán hết, mỗi một cái hình bóng mình đều dụng công phu ở trong đó, mỗi một cái nhận thức mà đều đưa cái thánh trí, thánh pháp vô thì quý vị nghĩ như vậy có quên được không?
Mình luyện năm năm, mười năm, hai chục năm, ba chục năm, mình luyện tới cái hơi thở cuối cùng của cuộc đời này mình quên không? Có xác quyết không quên không? Mạnh mẽ lên, sợ cái gì, chết cũng không sợ, chỉ sợ không thể nhập vào cái chân thật trí thôi, cái sự thật thôi. Đức Phật đã nói hãy tin tưởng nơi ta, ta đã chứng đắc, chứng đạt, các ông hãy tin tưởng nơi ta, nỗ lực thực hành và các ông cũng chứng đắc, chứng đạt như ta. Câu nói nó giống như lời của mẹ hiền, giống lời của cha yêu, như là cái lời mà cha mẹ nói "con ráng cố gắng lên nha, gia tài này là của con, sự nghiệp này là của con, kho báu này là của con. Con chỉ cần đủ khả năng thừa kế thôi, tất cả là có sẵn hết", chịu thừa kế gia tài của bậc thánh không hay là đi chùi cầu tiêu, đi hốt phân, làm cùng tử? Cứ chìa cái bàn tay ra rồi đi xin những cái tình cảm của người khác, đi xin sự bố thí, yêu thương của người khác, xin sự quan tâm người khác, người ta không quan tâm là khổ đau, là sầu hận.
Sao nghèo nàn vậy? Sao khổ sở vậy? Mình phải đi ra khỏi tất cả những cái tham ái, chấp thủ này chứ không phải mình đi tìm tham ái. Mình đã tìm vô lượng vô biên vô thỉ kiếp tới nay rồi mình đâu có đầy đâu, có đủ đâu, bản chất của nó là thiếu tốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái mà. Mình phải thấy và xác quyết rõ cái vấn đề, chỉ có một con đường một thôi là mình phải tự bỏ nó, thoát ra khỏi nó thì mình mới được an ổn. Mình từ bỏ, mình thoát ra khỏi nó thì mình được thừa hưởng gia, ái tận giải thoát, gia tài của bậc thánh cho nên liên hệ tới vấn đề chữ dục, chữ ái đây có cái câu hỏi trong kinh Niết-bàn, "các tưởng tác ý câu hữu với dục vẫn hiện hành và đệ tử trống không, con chưa hiểu rõ câu này, ngưỡng mong cho sư phụ chỉ dạy cho con được rõ".
Các tưởng tác ý tức là những cái hình bóng, những cái suy nghĩ ở trong tâm vẫn còn cái ham, cái muốn, cái thích ở trong, dục vẫn còn thì mình phải ra công, mình quán chiếu, mình tác ý đánh đuổi nó, mình nỗ lực, mình nhận diện nó rồi mình nhiếp phục, chế ngự, mình đánh đuổi, mình diệt tận nó bằng một cái sự rất là cam go, rất là ra công dồn sức chứ không phải là chỉ là là ầm ầm rồi anh hùng rơm phựt lên rồi vài bữa tắt lạnh. Phải là một sự trường kì kháng chiến từ đây cho đến hơi thở cuối cùng của cuộc đời mới biết thắng thua nhưng chỉ sợ mình không biết cách, không biết giặc ở đâu thôi chứ mình biết giặc ở đâu rồi thì mình nỗ lực, thua keo này ta bày keo khác, cứ đánh hoài, tỉa riết thì từ từ cũng có khả năng nhiếp phục, chế ngự và đi đến đoạn tận.
Bằng chứng mình nhiếp phục, chế ngự, mình từ bỏ được mới ngồi ở đây, không từ bỏ được sao ngồi đây, không nhiếp phục, chế ngự được sao cạo đầu, không từ bỏ được sao đắp y, không quyết tâm được sao lên đây ở núi rừng viễn ly, không nhiếp phục và chế ngự thì làm sao ngày nào lên cũng nghe pháp đánh thẳng vào trong dục, tham, ái, vô minh, bản ngã. Vì thế sự tu của mình là cả một sự trường kì kháng chiến chống giặc nội tâm, khi nghe tiếng con chó đi đến uống nước là lấy cái đó làm đề mục quán nỗi khổ của súc sanh, phải chụp bắt thật nhanh, thật sắc bén những gì thấy, nghe, thức tri làm đề mục quán chiếu.
Chúng ta ngồi đây bây giờ vậy là hạnh phúc so với Sài Gòn là nó vô cùng luôn, mấy vị ở dưới bệnh cảm nửa tháng rồi chưa hết. Khi chúng ta đứng lên xả thiền có cảm thọ dễ chịu nhưng phải thấy khổ, cái dễ chịu này có là do cái khó chịu mà nó có cái dễ chịu. Nhiều khi mình hiểu lầm mình tưởng đâu đứng lên là sướng, không phải vậy, nó đỡ khổ chứ không phải sướng, nhất trí không? Nhớ kỹ cái này, ví dụ mình đói bụng quá mà được ăn vô thì mình tưởng sướng quá sướng nhưng không phải, nó chỉ bớt khổ chứ có sướng gì đâu. Bây giờ mình mệt quá mà được nằm nghỉ thì thấy sướng, không phải vậy, chỉ đỡ mệt thôi, đỡ khổ chứ không có sướng. Mình đau nhức chỗ này chỗ kia được bác sĩ trị cho bớt thì mình nghĩ khỏe quá rồi nhưng khỏe thật không? Nó chỉ đỡ bệnh thôi, bớt bệnh thôi cho nên mình thấy trong kinh Nikāya dùng từ "thánh ngữ" "chánh ngữ" không phải đơn giản như mình hiểu đâu. Thường thường mình nói dóc không à, nó sai rất là nhiều mà mình không biết, vọng ngữ rất nhiều mà không biết thành ra mình đọc ở trong kinh Đức Phật nói là không có ly tham, những từ của Đức Phật nói hết sức là bình dị.
Mình thấy Đức Phật chỉ nói từ bỏ ác và bất thiện pháp chứ Đức Phật không có nói những cái từ cao siêu, mà có cánh là không có, từ bỏ ác và bất thiện pháp, chỉ bao nhiêu đó là tới cái tâm của bậc thánh rồi, hết trơn cái ác, bất thiện là lúc đó thuần hiện, là thánh thiện rồi nhưng bây giờ con người ta không chịu cái đơn giản vậy. Nói cái gì mà phải nói cho tới trên trời nhưng mà chân thì đạp không có chạm đất nhưng người ta thích vậy cho nên thật sự mọi cái mình đứng lên như vậy là để cho mình đỡ khổ, đỡ đau, đỡ mỏi chứ không phải đứng lên là được vui, được sướng, ăn cũng không phải là được vui sướng mà là nó đỡ cái khổ, nó đói quá rồi. Bây giờ mắc tiểu nè, quýnh quáng lên, tay chân run hết trơn mà ráng đi xả ra được thì thấy khỏe quá, hạnh phúc quá nhưng hạnh phúc cái gì, khổ muốn gần chết mà hạnh phúc gì, mình xả ra thì bớt khổ chứ có hạnh phúc gì đâu nhưng mình hiểu lầm hết, mình tưởng đâu là vui, là sướng, là hạnh phúc là cái đó là vô minh đó.
Trời mới đi gầm lên là có pháp quán liền, bây giờ nắng hạn quá chừng rồi mưa xuống thấy hạnh phúc, nó chỉ đỡ khổ, cà phê rồi cây trồng chết hết trơn rồi, lúa gạo, mấy cây trồng hư hết rồi, có mưa xuống nó đỡ khổ một chút chứ có hạnh phúc gì đâu. Bây giờ rồi nói rộng chút nữa, kiếm con vợ hoài không được, khổ quá, nó bức bách quá đi, dục ái làm bức bách quá, đến khi tìm được thì thấy hạnh phúc nhưng không phải, chỉ đỡ khổ thôi rồi ở chung lại khổ tiếp. Ở một mình khổ quá nên muốn tìm một người về ở chung đỡ khổ nhưng ai dè làm khổ nhau thêm nữa.
Đó là mình cứ tưởng hạnh phúc nhưng không phải vậy, nó chỉ đỡ cái khổ lúc đó thôi, giảm bớt khổ chút thôi nhưng đa số là mình khỏa lấp, mình chạy trốn, mình tránh né cái khổ, mình không có dám đối diện với cái khổ nên mình không thể giải quyết nó được. Còn Đức Phật là phơi bày những cái gì bị che kín, ngài khai thị, mở ra, bày ra hết cho mình đối diện, trực diện, trực chỉ, trực tiếp nhìn thấy cái khổ đó. Ai mà chấp nhận thì con đường thoát khổ đây, đi theo thì hết, còn cái này không chịu, khổ nhưng mà không chịu "Tôi đâu có khổ đâu, sao nói tôi khổ, sao vô mà cứ nói khổ, tham, sân, si không vậy, chết không vậy, giảng gì mà giảng cứ nói mấy cái này hoài vậy". Tức là người không chấp nhận sự thật, người không có cái tâm chánh trực, ngay thẳng thì người này không có đi vào trong đạo được, người này sẽ tránh né, khỏa lấp, che đậy, mãi mãi không giải quyết được vấn đề đau khổ của chính mình. Và ngồi đây là những con người dám thừa nhận, sự thật con xin cúi lạy các bậc tâm chánh trực, dám thừa nhận sự thật, chấp nhận sự thật.
Khi mình chấp nhận được sự thật rồi mình không còn đi tìm cái gì nữa, không còn tìm ai nữa hết, chỉ tìm lại những cái gì trong con người mình làm cho mình khổ. Giải quyết, xử lý cái vấn đề đó nó khỏe hơn biết bao nhiêu mà nói, chỉ tìm lại cái nguyên nhân khổ nằm trong con người mà mình giải quyết trong đó chứ không còn chạy đi ra ngoài đi kiếm ai nữa hết, không có ai làm cho mình hết khổ, giải quyết được trong thân tâm là hết khổ. Mọi người có thấy được cái góc rễ của vấn đề chưa? Cái căn bản, cái căn nguyên, cái căn cội, ở trên núi vậy nhìn mây bay, hít thở không khí trong lành, mỗi ngày quay vô trong đánh phá các thứ nguyên nhân làm cho mình khổ, càng ngày nó giảm, nó đoạn giảm từ từ, nó bớt từ từ, nó nhẹ từ từ, tâm nó an, nó lắng dịu từ từ, nó ngọt ngào từ từ.
./.