Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm - Học Phải Để Tâm - Nùi Giẻ Rách - Thế Nào Là Bốn Đôi Tám Chúng (XGGD10)

2026-03-18 06:54:26
PHÁP ĐÀM NIKĀYA

HỌC PHẢI ĐỂ TÂM - NÙI GIẺ RÁCH

THẾ NÀO LÀ BỐN ĐÔI TÁM CHÚNG?

(XGGD10)

–Thích Minh Thành–

Giới tử 1: Con kính bạch tôn sư cùng quý sư phụ và các vị hiền trí ở đây. Thân tứ đại của con đang ngồi ở đây cùng với quý vị và cảm thọ của con là cảm thấy hơi nóng nên là người hơi không được thoải mái.

Sư Phụ: Trước khi đứng lên cảm thọ như thế nào?

Giới tử 1: Trước khi đứng lên là cảm thọ của con nhẹ nhàng và không có thấy giao động gì, sư phụ. Tưởng của con lúc đó trong đầu con chỉ có chăm chú nhìn vào một chỗ nên con không có thấy mình tưởng gì cả, cái hành của con cũng suy nghĩ là "sao mà sư phụ ngồi yên không thấy nói gì cả", cái thức của con là nhận biết được thọ của con, nhận biết được tưởng và nhận biết được hành của con.

Sư Phụ: Mấy ngày qua huynh học được cái gì?

Giới tử 1: Dạ con học về ngũ uẩn và học về duyên sanh pháp và nhiều bài nữa.

Sư Phụ: Huynh trình bày những cái mà mình được học.

Giới tử 1: Dạ vâng, con xin trình bày duyên sanh pháp. Do duyên có mắt và do duyên có cảnh, có sắc và khi mà mắt tiếp xúc với sắc thì sinh ra nhãn thức, khi ba pháp hội tụ thì thành nhãn xúc và từ nhãn xúc sinh ra được cảm thọ do nhãn xúc sanh, sanh ra nhãn tưởng và nhãn tư ạ.

Sư Phụ: Sao lại có nhãn tưởng, nhãn tư nữa?

Giới tử 1: Dạ, sắc tưởng và sắc tư ạ. Dạ con xin hết ạ.

Sư Phụ: Cái duyên sanh pháp đó là mục đích dạy mình để làm gì?

Giới tử 1: Dạ thưa để mỗi khi mình nhìn thấy một vật gì đó thì mình quán chứ mình không có chạy theo cái vật đó.

Sư Phụ: Duyên sanh pháp là cái mục đích là để mình thấy mình không có một cái tôi. Nó chỉ là lắp ráp, kết hợp. Bây giờ cảm thọ đang như thế nào? Nhắm mắt lại và nhìn vào trong.

Giới tử 1: Con cảm thấy hơi run khi đứng phát biểu trước mọi người.

Sư Phụ: Nhắm mắt lại, hướng vào bên trong, kêu an tịnh, lắng dịu, dễ chịu.

Giới tử 1: Con thấy nó run hơn, sư phụ ạ.

Sư Phụ: Nhắm mắt, tiếp tục tác ý cho đến khi nào nó an tịnh, lắng dịu.

Giới tử 1: Bây giờ con thấy thoải mái hơn rồi.

Sư Phụ: Nhắm mắt lại tiếp tục tác ý.

Giới tử 1: Bây giờ con không thấy gì nữa.

Sư Phụ: Nhắm mắt lại tiếp tục tác ý, ngồi xuống tiếp tục tác ý. Thấy cái thọ nó vô thường không?

Giới tử 1: Dạ vâng, con có thấy.

Sư Phụ: Tiếp tục tác ý đi, mở mắt ra tiếp tục tác ý.

Giới tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch Sư Phụ, kính bạch các chư Tăng, chư Ni và các chư vị hiền trí. Sư Phụ có nhắc lại câu hỏi cho con được không ạ?

Sư Phụ: Mấy ngày vừa qua huynh học được cái gì?

Giới tử 2: Dạ, con tham gia từ khóa chín và khóa này là lần thứ 2 con tham gia thì những cái pháp mà con học được từ khóa trước đến giờ Là học về định nghĩa ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn trong tâm và học về duyên pháp, cách dạy tâm từ, cách dạy tâm hiền, vào đây thì con có được thêm cách trải tâm xả.

Sư Phụ: Bây giờ trải tâm hiền như thế nào? Thực tập tâm hiền như thế nào?

Giới tử 2: Dạ thực tập thông tin là mình dùng ý trí tuệ của mình để quan sát và nhận biết mọi người cũng như mình, cũng từng vô minh và bị ngũ uẩn điều hành. Qua đó mình phát tâm từ cho những người ví dụ như những người mình khó chịu, mình bực dọc thì mình cũng nhận diện ngũ uẩn và quán là mọi người cũng vì vô minh, vì ngũ uẩn mà họ mới làm như thế, nên là không có gì mình phải khó chịu hay là ghét lại họ cả.

Sư Phụ: Rồi trả tâm từ cho mình sao?

Giới tử 2: Dạ, trải tâm từ cho mình mở cảm thọ của mình ra và cảm nhận cái sự từ bi của tự tâm mình phát ra ngoài.

Sư Phụ: Thương mình như thế nào? Mình chưa có thương mình được, mình lo thương người ta không à. Thương mình sao?

Giới tử 2: Thương mình là mình còn vô minh, mình còn bị ngũ uẩn điều khiển, đang còn bị những cái tham, sân, si tác động vào mình, chưa thể nhìn nhận ra nó một cách rõ ràng.

Sư Phụ: Huynh có thuộc duyên sanh pháp không?

Giới tử 2: Dạ có.

Sư Phụ: Rồi đọc đi.

Giới tử 2: Dạ đọc hết luôn hả sư phụ?

Sư Phụ: Đọc duyên sanh pháp?

Giới tử 2: Do căn có mắt, do có mắt và sự tiếp xúc giữa mắt và các sắc và nhãn thức. Ba pháp đó hội tụ gọi là nhãn xúc sinh ra thọ cho nhãn xúc sinh và nhãn tưởng và nhãn tư.

Sư Phụ: Trật lất hết trơn rồi, về học bài lại đi. Còn khoe con đi từ khóa trước nữa. Thôi ngồi xuống học bài lại. Rồi từ đây tới bữa cuối khóa là sư phụ cho trả bài chú lại đó nha. Tại vì nếu mà mới khóa này thì còn tha thứ, còn khóa trước nữa cho nên phải trả bài kỹ hơn.

Giới tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính thưa sư phụ, kính thưa chư Tăng Ni và các bậc hiền trí ở đây ạ. Dạ, thưa thư phụ con xin nhận diện ngũ uẩn của con ở đây. Thân sắc con đang ngồi tại đây, về cảm thọ thì con đang có cảm thấy yên tĩnh và thoải mái, có một luồng không khí gì đó mát mẻ, tưởng của con thì con đang tưởng mình đang ngồi đây cùng sư phụ và các chư Tăng Ni và đại chúng ở đây, về suy nghĩ thì con đang nghĩ "một tí sư phụ sẽ trả lời những câu hỏi như thế nào và quý đại chúng sẽ hỏi những gì". Con kính thưa sư phụ, về những gì con học bảy ngày vừa qua là con học được về ngũ uẩn.

Sư Phụ: Hồi nãy ngũ uẩn nó tới uẩn nào rồi?

Giới tử 3: Dạ, con trả lời đến hành ạ. Và rõ biết là con rõ biết thọ; tưởng; hành đó là thức ạ.

Sư Phụ: Rồi bây giờ học được cái gì?

Giới tử 3: Dạ thưa thầy, trong thời gian vừa qua thì con học được ngũ uẩn, học được ba pháp về thiền định, học được cách nhiếp phục tham, sân, si và thức ăn của tham, sân, si, học được duyên sanh pháp và học được cách thân, khẩu, ý của mình, đặc biệt hơn là học được sự tâm từ.

Sư Phụ: Rồi bây giờ huynh nói tham, sân, si đã học được cái gì?

Giới tử 3: Dạ thưa thầy tham, sân, si tất cả là do cảm thọ của mình phát sinh ra. Về Tham là có trong cảm giác dễ chịu, sân có trong cảm giác khó chịu và si có trong cảm giác không dễ chịu và không khó chịu. Thức ăn của tham là tịnh tướng và cách trị nó là bất định tướng, thức ăn của sân là chứng ngại tướng và cách trị của nó là dùng tâm từ để trị tâm ác, thức ăn của si là lười biếng, uể oải, ăn no, chán nản, những sự tiêu cực và cách trị nó là phải dũng mãnh, tinh tấn, tinh cần, cần cù và siêng năng. Về tham thì sự phát hiện của nó là ở trong thúc giục ở trong chính bản thân mình thúc giục ra và sân thì nó phát từ lồng ngực và si là nó phát ở con mắt và cái đầu.

Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay. Rồi tốt lành thay! Lành thay!

Giới tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính thưa sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni Sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí, con là Trí Hải, con xin được nhận diện ngũ uẩn từ lúc vào được ngồi đây thì con nhận thấy có một mùi hương rất là thơm nên là con xin được nhận diện duyên sanh pháp về tỷ thức. Nhờ có mũi và mùi hương và nhận biết được các mùi hương đó, gọi là tỷ thức và ba pháp đấy gọi là tỷ xúc. Và con nhận biết được đó là mùi hương trầm và do duyên do tỷ xúc nên sanh ra các cảm thọ, con thấy rất là bình yên và có cảm giác được mùi hương nên rất là cảm thấy thanh tịnh. Con nghĩ những cái mùi hương đấy được lấy từ trong những cái ngọn núi ra và qua rất là nhiều công đoạn mới có được những cái mùi hương đấy để mình được ngồi đây và có thể ngửi thấy được những cái mùi hương đấy nên là con rất là trân quý và cảm thấy rất là bình yên. Dạ, đó là con nhận diện về tỷ thức, về duyên sanh pháp ạ.

Sư Phụ: Trong tuần lễ vừa qua, huynh học pháp tâm đắc nhất là cái điều gì?

Giới tử 4: Dạ, con tâm đắc nhất là cái duyên sanh pháp được học từ hôm qua, con thấy trước đây mình cứ bị những cái cảm xúc, những cái bên ngoài nó cuốn theo và không có dừng lại được nhưng khi học được duyên sanh pháp thì con thấy là thì ra đấy chỉ là một cái nhân duyên do mắt mình nhìn thấy, hoặc là do tai nghe thấy, hoặc là từ những cái xúc chạm mà sinh ra được những cái cảm xúc đấy thôi chứ bản thân mình, con người mình khác. Và con học cách tách ra được những cái đó nên con cảm thấy khi thực hành thì mình có thể tách ra và làm cho những cái cảm xúc đấy nó dịu dần và mất đi.

Sư Phụ: Rồi huynh thuộc lòng duyên sanh pháp không?

Giới tử 4: Dạ con thuộc được tám mươi phần trăm thôi ạ.

Sư Phụ: Đọc cái nào thuộc nhất.

Giới tử 4: Dạ, nhờ có mắt và các sắc mà nhận biết rõ các sắc đấy là nhãn thức, hội tụ đủ pháp ba pháp ấy là nhãn xúc, duyên do nhãn xúc nên sinh ra thọ do nhãn xúc sinh và sắc tưởng và sắc tư. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật

Sư Phụ: Thôi được rồi, cảm ơn. Bên mấy ông nam là làm biếng học thuộc lòng lắm, không có người nào đọc mà chính xác hết, về phải học vì kinh Nikāya không giống như những cách học khác mà học đại khái, hiểu cái ý. Kinh Nikāya là những cái định lý chứng ngộ của Đức Thế Tôn, chỉ cần sai một chữ thôi là sẽ sai hết toàn bộ cho nên nếu một cái người có một cái tâm cẩu thả, cái tâm không có cẩn thận thì không thể nào thể nhập vô dòng pháp Nikāya được, chỉ hiểu đại khái, hiểu chung chung, hiểu qua loa chơi vậy thôi.

Cho nên cái người trong những cái pháp mà để thể nhập vào dự lưu thánh quả là phải có cái pháp cẩn trọng, pháp đóng cửa dự lưu là pháp không cẩn trọng, tức là cẩu thả, đó là lý do tại sao mà hồi nãy con nói với một giới tử là sai hết trơn, là để cho huynh đó phải tập cái tánh cẩn thận. Cái tâm thức của chúng sanh là cái tâm thức hời hợt, cẩu thả, qua loa, học cái gì mà biết được chút là "tôi biết hết rồi, tôi rành rồi". Tại vì cái tâm thức như vậy không thể nào đột phá được vô minh, diệt tận được lậu hoặc, tại vì lậu hoặc, vô minh, tham ái, chấp thủ nó ghê gớm lắm, nó xảo quyệt lắm, nó là những con yêu tinh trong Tây Du Kí. Cho nên một người không cẩn trọng, không cẩn thận thì người này học không đi đến được thánh trí tuệ. Chúng ta để ý, nhớ kỹ nha.

Bây giờ mình khoan hãy nói tới thánh đạo, thánh quả, thánh trí mình nói người bình thường làm công chuyện thôi mà nếu một người ẩu tả thì sao? Công việc có thành không? Thậm chí là còn mang họa cho nên mình học cái tính cẩn trọng trong khi học pháp, nãy giờ các vị giới tử mới, cái này là cũng mới thôi thành ra cũng châm chước được nhưng mà tới cuối khóa trả bài là phải thuộc, không đọc thì thôi, đọc là phải thuộc, không được sai một chữ, lỡ có quên thì quên một hai chữ chứ không có quên nhiều, mình sửa lại trong kinh luôn đó cũng là cái lý do mạt pháp. Danh từ chuyên môn trong kinh Nikāya gọi là chánh pháp bị nhiễu loạn, chúng ta học chúng ta để ý nha.

Cũng như trong kinh là cái từ là sắc tư, mình mới vừa học thôi mà đổi thành nhãn tu, tự mình sửa lại luôn thành ra rất nguy hiểm. Hồi xưa trên truyền hình đó có chương trình tam sao thất bản, tam sao thất bổn, cái người này sẽ nói với người kia một câu chuyện ngắn, người kia nói lại người nọ, nói qua tới người thứ ba thì trật lất, gọi là tam sao thất bổn. Tam sao nghĩa đen của nó là viết lại ba lần thì mất cái bản gốc, thất bổn là mất bản gốc, cũng vậy giáo pháp của Đức Phật bây giờ người ta học không có được chánh pháp là vì mình học sơ sơ, học phớt phớt rồi mình không có học thuộc lòng, mình nhớ mang máng rồi mình nói cái này Phật nói. Cái này chúng ta có gặp nhiều không ạ? Cuối cùng mình nói mà đi nói Phật nói luôn thì đó là lý do chánh pháp bị nhiễu loạn, đó là lý do tại sao Linh Quy Pháp Ấn chúng con phải học thuộc lòng.

Mỗi buổi sáng đọc tụng pháp bảo đó là tập cho mình cái tánh cẩn trọng, kỹ lưỡng và phải nhớ cho thật là chính xác. Từ cái lý thuyết mình thuộc rồi mình vô tới cái thực hành, từ cái thực hành đi đến cái sự thành tựu là cả một chặng đường dài. Mà từ cái bước đầu lý thuyết mình đã sai rồi thì những bước khác làm sao mà có? Đó là lý do tại sao người tu rất nhiều mà không có người chứng. Tức là nó sai từ cái phần đầu tiên, Phật nói một đường mình hiểu một nẻo rồi mình chế ra pháp tu tùm lum hết, là vậy đó cho nên mình học Nikāya mình để ý phải hết sức cẩn thận, chính xác từng chữ, còn nếu không là mình nói mình chưa có thuộc. Cái đó là người thành thật, còn mình không thuộc mà mình nói mình thuộc là mình nói dối.

Chúng ta thấy nó vi tế không? Còn ai xung phong nữa? Cứ mạnh dạn lên, không phải nói gì rồi là im hết, cứ mạnh dạn lên, học được cái gì.

Giới tử 5: Con xin nhận diện ngũ uẩn của con. Ngũ uẩn của con là sắc của con đang ở đây, thân hình của con đang ở đây. Cảm thọ của con là rất là ấm áp, rất là vui nhưng mà cũng có một chút buồn tại vì ngày mai tụi con phải xuống núi đi về Đà Nẵng có việc. Hình ảnh của con là thấy được sư phụ, các thầy, các chư Tăng Ni và các bạn đồng tu của con, hình ảnh rất là hiền hòa, vui vẻ và từ bi. Còn suy nghĩ của con là con rất cảm ơn các sư phụ, các thầy, các chư Tăng Ni và các bạn đồng tu đã cho con một môi trường rất là vui vẻ, từ bi, an lành, ấm áp và con sẽ trở lại đây nhiều lần nữa.

Còn những điều con học được từ sư phụ qua mấy ngày là sư phụ dạy cho con biết thế nào là đau khổ, thế nào là tình yêu, thế nào là sự vô thường và cái chết, ai cũng đang trên hành trình chuẩn bị cho cái chết của mình. Cái đó là lời cuối cùng con xin gửi đến sư phụ, các thầy, các chư Tăng Ni, các bạn đồng tu của con là lời cảm ơn, lòng biết ơn chân thành nhất và một lời chào tạm biệt vì sáng mai tụi con phải về sớm.

Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!

Giới tử 6: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ cùng tất cả quý Tăng Ni cùng tất cả các vị hiền trí. Con xin nhận diện ngũ uẩn của con, n sắc là thân của con đang ở tại Vân Thủy Đường, thọ của con bây giờ đang cảm giác là rất là dễ chịu, thoải mái, tưởng của con là con đang hồi tưởng lại những giờ phút được cùng quý thầy, quý bạn đồng tu ở nơi đây tu học, ý hành của con là con rất biết ơn, những suy nghĩ trong đầu con là rất là biết ơn, rất là hạnh phúc, rất là vui vẻ trong quá trình sinh hoạt ở đây, thức của con là con rõ biết những cái thọ; tưởng; hành đang vận hành. Con xin hết.

Sư Phụ: Mấy câu hỏi này mấy câu hỏi vĩ đại không à, hỏi bát chánh đạo, tứ vô lượng tâm, những câu bự không à.

Giới tử 7: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ và kính bạch các chư hiền Tăng và các chư hiền Ni và cùng tất cả các vị hiền trí ở đây. Con xin trả lời về ngũ uẩn, thân con đang hiện diện nơi đây và mọi người đều là sắc, cảm thọ của con là con được an yên tự tại vì có thầy, có sư phụ và các thầy, các ni sư cùng tất cả các hiền trí ở đây ngồi xung quanh con cho nên là con thấy an yên và tự tại. Cái hình bóng của thầy là luôn luôn hiện trong con, cũng lâu rồi bây giờ con mới được về, con trực tiếp được gặp thầy, con suy nghĩ là không biết con có phước được về đây với thầy tu cho đến cuối đời hay không và con rõ biết là con đã được về đây và được tu học được hơn một tuần nay, con cũng thấy an yên và tự tại, con cũng mong là sau này con được về với thầy và tu ở đây. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Mô Phật. lành thay! Lành thay! Rồi cái phần chúng ta chia sẻ tới đó là được rồi. Con giải thích cái bản đồ này sơ lược một chút để chúng ta phải tập cái tánh cẩn trọng, cẩn thận trong sự học pháp, nếu chúng ta học mà chúng ta không cẩn trọng là chúng ta phụ công ơn của Đức Phật. Thánh trí ngũ uẩn không có đơn giản mà như chúng ta mới vừa học được có mấy ngày nay đâu, và con nói cái tánh cẩn trọng không phải nhắm vào một cá nhân, đây là cơ hội để cho tất cả các ngũ uẩn chúng ta nắm vững được cái tinh thần học pháp. Đa số cái tâm thức chúng sanh rất là cạn cợt, rất là hời hợp, rất là dễ dàng, rất là qua loa, rất là cục bộ, rất là nghiêng lệch. Cho nên mình mãi mãi trong vô minh, ở trong chấp thủ, ở trong tham ái, ở trong luân hồi.

Đầu tiên khi mình bước vào trong Phật pháp, mình bước vào trong cửa pháp, tức là pháp môn thì Đức Phật không có kêu mình làm một cái gì xa xôi, học cái gì cao siêu hết, chỉ kêu "con biết cái thân con là gì không con? Con có biết cái mà con gọi là mình đó, cái thân của mình đó, cái mà con gọi là tôi, là của tôi đó, cái hình hài này, cái hình sắc này, cái hình tướng này, cái hình thể này là cái gì con có biết không con?". Mình mù tịt à, mình nói con có mắt, con có lỗ tai, con có cái mũi, cái miệng, con có tứ chi, hai tay, hai chân, con có cái mình, cái bụng.

Không phải, cái đó chỉ là cái thấy của phàm phu, Đức Phật mới trình bày cho mình cái thân được làm từ bốn thứ đất, nước, gió, lửa cái thân này là bốn thứ đó chứ không có cái gì ở trong này khác bốn thứ đó hết đó con. Đó là bốn yếu tố, bốn nguyên tố, bốn thành phần, bốn cái thứ kết hợp lại để hình thành ra cái thân thể, cái hình thể, cái sắc tướng, cái thân tướng, cái hình tướng, cái dáng dấp của một con người. Có bốn thứ đó thôi, bốn thứ đó là bốn cái nền tảng cấu thành cái thân này. Sáng nay chúng ta được thiền quán cái gì ạ? Chúng ta thấy khiêng cái gì ra? Bộ cương, rồi chúng ta nghe cái bài nhạc gì? Cát bụi. Đó là nói về cái gì ở trong bốn đại? Cát bụi là gì? Là đất.

Con nhớ không con? Cái thân này làm bằng đất nè con, cát bụi nè, con nhớ không con? Con hãy hiểu cho đúng sự thật về cái thân của con, con đừng có kiêu ngạo, con đừng có vênh váo, con đừng có ta đây, con đừng có hống hách, con đừng có bản ngã, con có biết con là ai không? Dạ, con là cát bụi. Con là cát bụi thì con vênh váo với ai? Con là cát bụi thì con hống hách với ai? Con là cát bụi thì con ta đây với ai? Con là cát bụi thì con lên mặt với ai? Con chỉ là cát bụi trên cuộc đời này thôi à, con có nhớ không con? Tâm có nhớ không tâm? Tâm nhớ không tâm?

Mỗi ngày mình đều nhắc vậy đó. Mình đi mà bụi bay vô ngời là vội vàng phủi liền vì thấy dơ mà mình không biết rằng cái thân này làm bằng bụi. Mình nhìn thấy ngoài đó là đất này dơ, sình này dơ, bụi này dơ, cát này dơ, khói này dơ, tôi sạch thì cái đó là vô minh, đó là không thấy sự thật, mình không biết rằng cái này cũng là sình, là đất, là cát, là bụi, là dơ, là bẩn, hiểu được như vậy là giác ngộ một phần rồi đó. Được không? Dễ không? Đâu có khó đâu, không có khó gì đâu, đó là niệm tứ đại, niệm đất và từ nay tới cái ngày cuối chúng ta sẽ nghe cái thiền tâm hiền như đất.

"Tâm ơi là tâm, tâm đừng có quên nha tâm, thân này làm bằng đất nha, thân này làm bằng đất nha, bằng cát nha, bằng bụi nha". Mỗi một cái bước chân mình đi mình đạp lên cái gì? Mọi thứ mình ngồi là ngồi ở đâu? Mình nằm ở đâu? Vậy mà mình không có nhớ đất, mình nhìn thấy cục đất kia mình không ưa, mình nhớ cục đất thì mình đâu có sân nhưng mà mình thấy cái người kia và tôi đây, xem thường tôi, coi tôi không ra gì hả? Mình không nhớ đất chứ nếu mình nhớ đây là đất thì người ta có xem thường là đúng rồi cho nên mình phải thường quán chiếu mình nhắc cái cục đất này, cái vũng nước này, cái làn gió này và cái đốm lửa chứ không có ai ở đây hết.

Gió trong người bị ngừng lại không lưu thông nữa là xong nó không lưu thông nữa Rồi xong Mình có nhớ mình là làn gió không hay là mình nhớ mình là tôi? Tôi là cái gì đó, tôi là giám đốc, tôi là kỹ sư, tôi là cô giáo, tôi là thầy giáo, tôi là sư phụ, tôi là sư bà, sư ông gì đó, tôi là giáo sư, tôi là bà chủ gì đó mà mình không nhớ tôi là làn gió, chỉ cần làn gió này để dừng lại là xong. Dễ hay khó con thưa các ngài? Chỉ là vũng nước thôi à, vũng nước đang ngồi đây, hằng ngày mình bưng nước uống vô, mình hít thở vô, mình ăn vô, nuốt thì phải đó là đất, nước, gió, lửa thôi. Đất, nước, gió, lửa bên trong và đất, nước, gió, lửa bên ngoài. Chúng ta thấy Đức Phật dạy mình kỹ không?

Các Tỳ-kheo thời xưa tu bao nhiêu đó mà chứng thánh quả A-la-hán, quán tứ đại thôi là chứng thánh quả A-la-hán. Mình giờ nói cho mình cũng "dạ… dạ rồi con biết hết trơn rồi, biết hết rồi, con biết con giỏi lắm", trở ra con cũng chình ình một đống. Con biết không? Các ngài là thọ trì thánh pháp, nhận, giữ gìn và thực hành, sống với nó giống như được trao cho cái hộp kim cương vậy đó, mình biết đó là kim cương thì mình có dám đụng đâu bỏ đó không hay là mình cất thiệt kỹ? Nếu mình cầm trong tay hộp kim cương, mình biết ra hộp kim cương thiệt mình có dám bỏ chỗ này chỗ kia không? Có cất kỹ không? Kim cương thánh trí, nhớ hoài cái đống cát bụi này, cái làn gió này, đốm lửa này và vũng nước này, không có ai ở đây cả, nó chỉ là duyên sanh thôi.

Sáng nay con kể bé đó là mới vừa tốt nghiệp lớp 12, cha mẹ cho chiếc xe đạp điện mừng quá chạy thì chiếc xe tải này chạm vô cán văng ra làm hai phần, một cái phần dưới nhừ ra hết từng miếng từng miếng và bà mẹ với người cha là kêu gào thảm thiết. nước mắt đầy mặt "con ơi con, con ơi con" và đi nhặt từng cái miếng thịt văng ra từng mảnh. Mình thường nhớ đất, nước, gió, lửa để mình từ bỏ cái ý nghĩ tôi là, của tôi, tự ngã của tôi và tất cả cái pháp quán của Đức Phật để phá cái tôi là đó, là phá thân kiến, kiến chấp về thân. Một ngày mình nhớ cái này được bao nhiêu? Được mấy tiếng đồng hồ hay là lúc nào mình cũng vác chình ình một cái tôi của mình đi, đi tới đây, đi đến kia, trong cái ánh nhìn, trong lời nói, trong hành động cử chỉ là một cái bản ngã rất là to lớn. Không nhìn thấy, không nhiếp phục, không chế ngự, vậy là học thì học, hiểu thì hiểu nhưng ai đụng vô một cái là sừng sộ, là phẫn nộ, là sân si, là hơn thua, là đau khổ, là sầu bi, là ưu não.

Cho nên mới bước vô thôi bao nhiêu đó mà đã chứng thánh quả, còn biết bao nhiêu pháp Đức Phật dạy, riêng về phần sắc này Đức Phật dạy ba mươi hai thể trược.

Sư cô Ấn Hoa: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính bạch trên sư phụ tôn kính, con xin kính bạch trên quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí, con xin đọc ba mươi hai thể trược.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: 'Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu'. Này các Tỳ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: 'Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi'. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: 'Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu'." (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Đức Phật nói cho mình biết bốn cái thành phần để cấu tạo thành cái thân và trên thân này là ba mươi hai thứ không sạch sẽ. Phải nhìn thấy được từng thứ, từng thứ, từng thứ như vậy chứ không phải là chỉ nói một cách suông hay là nói cái lý không có sự rõ ràng mà phải nói từng món "tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu'". Từng thứ, từng thứ, ngài kêu "con nhìn đi, con coi thử coi, con dòm vô đây con coi, hàng ngày con dòm vô, con nhìn vô, con nhìn cho sâu vô con coi thử có cái nào sạch không con?". Như vậy đó, rảnh là mình cứ ngồi lại mình coi trong cái này, mình phải xuyên qua cái lớp da này rồi đi vào trong cái lớp gân, đi vô trong cái thịt, đi vô cái xương, đi vô trong cái ủy giống như mình chiếu X-quang vậy đó, mình nhìn vô là hiện ra cái bộ xương đó.

Mình phải xuyên qua da, qua thịt, qua gân, qua xương đi vào trong tủy để mình nhìn thấy cái bản chất của nó. Mình thấy được như vậy để làm phá dần dần cái lớp mê, cái tâm hôn mê, cái tâm vô minh, cái tâm cho là sạch, là đẹp, là hấp dẫn, là ta, là tôi, cái tâm khao khát, thèm khát, khát ái, cái tâm ham thích, ham muốn, chấp chặt, nắm chặt, dính mắt, chấp thủ vào trong này. Sắp tới đây chúng ta sẽ được quán bất tịnh, nếu ai xuống núi thì thôi còn ở đây là sẽ được quán, mình ngồi gỡ mắt ra để xuống, móc hai mắt ra để xuống, bứt hết tất cả tóc để xuống, nếu ai có tóc bứt để xuống, rút từng cái móng tay để xuống, bứt hết tất cả lòng trên cơ thể để xuống một đống, lột hết cái da bỏ xuống, lột cái mặt này ra để xuống. Lấy từng cái trái tim, từng cái thận, từng cái bao tử để từng phần ra mình nhìn vô để mình quán chiếu.

Đó là phơi bày những cái gì bị che kính của Đức Phật chứ Phật đâu có nói gì cao siêu, Đức Phật nói nhìn là cái sự thật của thân con. Mình tu học là mình tìm hiểu cái sự thật của thân tâm chính mình chứ không có tìm hiểu cái gì xa xôi hết. Mình coi thử coi cái này nó là cái gì, bên trong nó là cái gì, là bao nhiêu thành phần, nó cấu tạo như thế nào. Con có thấy không con? Con dòm kỹ coi có mắt là bệnh mắt nha con, có lỗ tai là bệnh tai nha, có họng là bệnh họng, có mũi là bệnh mũi nha, có thận là bệnh thận mà có tim là bệnh tim, có lá phổi là bệnh phổi, có lá gan là bệnh gan, bệnh hệ hô hấp, hệ tuần hoàn. Mỗi một cái nào ở trên thân trong tất cả ba mươi hai thể trược đó cái nào cũng có thể ung thư. Ung thư da cũng có, rồi ung thư gan, ung thư phổi, đủ thứ tất cả những chứng bệnh.

Có cái nào là có bệnh cái nấy, có cái nào là có lo cái nấy, có cái nào là phải có sầu với cái đó, lo sợ với cái đó, bất an với cái đó. Đức Phật dạy mình rất thực tế, rõ ràng, cụ thể, nó ngay nơi cái thân của mình thôi chứ không có nói cái gì đâu xa hết mà mình không chịu, mình đòi bay lên trên mây, mình đòi có ai lại đưa mình đi chứ mình không chịu quay trở về tự thân của mình để mình coi. Tại sao mình phải khổ cho cái thân này dữ vậy? Tại sao mình phải chấp cái thân này dữ vậy? Tại sao mình phải lo cho cái thân này dữ vậy? Tại sao tối ngày trong tâm mình ám ảnh cái hình ảnh của tự thân hoài vậy? Ở trong cái tâm mình có hình ảnh của ai là nhiều nhất? Đó là hình ảnh của chính mình, hình ảnh của một tự ngã.

Phật tử 8: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính trên bạch sư phụ cùng các quý thầy, quý ni sư, sư cô cùng các hiền trí có mặt tại đây A. Dạ, con xin đọc định nghĩa của ngũ ẩn.

Thân người là sắc.

Cảm giác là thọ.

Hình bóng là tưởng,

Suy nghĩ là hành,

Rõ biết là thức.

Sư Phụ: Cái hình bóng trong tâm của mình nhiều nhất là cái hình bóng của chính mình phải không ạ? Phải cái hình bóng nhiều nhất trong tâm là hình bóng của chính mình không mà mình không biết. Kêu mình hỏi nhận diện tưởng uẩn thì nói "con không có hình bóng gì hết, tâm con không có ai hết". Vô minh, mình nói thì nói vậy chứ nó không có trúng. Kêu mình nhận diện, nhắm mắt lại để nhìn thì nói "con thấy không có ai, con thấy không có gì hết" trong khi cái hình bóng của mình nó sờ sờ vậy đó, cái đó gọi là vô minh. Giờ con nói ra quý vị có bắt đầu thấy chưa? Có thấy hình bóng của mình nhiều không? Thí dụ như mình nói "chút xíu tôi xuống tôi đi ngủ, tối nay phải ngủ một giấc cho thiệt ngon để sáng mai xuống núi nha" thì mình có cái hình bóng mình nhảy vô trùm cái mềm lại ngáy phò, có hình bóng đó không? Nhưng hỏi mình vậy bây giờ có hình bóng gì không thì "con không có tưởng gì hết".

Lúc nào ở trong tâm mình cái hình bóng của mình rất là rõ ràng, rất là cứng chắc, rất là kiên cố, chính hình bóng này hồi xưa bậc đạo sư dạy là lúc đó con sốc lắm. Hình bóng đó là thân kiến, là sự kiến chấp về thân ở trong tâm, chỗ này là cái chỗ sâu sắc mà người tu có khi suốt đời đến chết, học kinh suốt cả cuộc đời, bảy mươi năm ở trong chùa cũng chưa chắc gì hiểu được thân kiến là cái gì mà chỉ có bậc đạo sư là bậc thành tựu pháp mới chỉ cho mình thấy. Hồi đó con học hoài, học mấy chục năm ở trong trường không biết thân kiến là cái gì, không biết bản ngã là cái gì mà tới ngài chỉ một cái rồi mình thấy liền mà mình sốc toàn tập, không ngờ chính là cái hình bóng của mình ở trong tâm là một ảo tưởng về tự ngã.

Bây giờ chúng ta mới thấy cái pháp tu vi diệu của Nikāya nè, đầu tiên khi mình chưa tu thì mình hất mặt, ưỡn vai, vươn vai, một cái tôi rất là lớn nhưng mà khi mình tu mình chắp tay cúi đầu xá xá xuống, rồi cúi thấp xá xuống. Rồi mình quỳ xuống, cuối cùng mình lạy rạp xuống. Như vậy mình an trú một cái hình ảnh là khiêm cung, khiêm hạ. Chúng ta thấy từ bữa mình lên núi tới nay mình có hiền hiền được chút nào không à? Có đỡ không? Ở nhà chưa chắc là được à, ở đây kêu tới cái là quỳ ra lạy liền, cuối xuống ngọt ngào, ngọt từ trong ruột ngọt ra, ngọt như mía lau vậy đó, nhờ tất cả mọi người ngọt cho nên mình cũng ngọt theo, chứ ở nhà mà cũng hơi đắng lắm à. Có không? Thế nên mình nhờ cái sự tu tập an trú tâm, nhờ cái sự tác ý mỗi ngày, mình cứ đọc "hiền nha con", rồi vô nghe giảng hiền, hiền, hiền, vô quán hiền, hiền, hiền, đừng có dữ, nghe riết thì tự nhiên trong tâm hiền xuống, có không?

Đó tất cả pháp là lấy như lý tác ý làm sanh khởi, mình kêu riết đi rồi nó sẽ có cái pháp đó trong tâm của mình. Như vậy do mình an trú cái tưởng đó, khiêm cung, khiêm hạ, cúi xuống rồi đó, dần dần mình an tưởng cái nùi giẻ rách là bắt đầu mình thế dần dần mình thế cái hình bóng dần dần. Mình tu là mình dùng cái tưởng để tu, mình dùng cái suy nghĩ để tu, mình dùng cái cảm thọ để tu, mình dùng cái thức để tu. Nhiều cái cách lắm.

Hồi xưa mình chưa biết tu ngũ uẩn là mình tu trên suy tưởng, nó phớt phớt, nói miệng rồi xong, gió thổi mây bay. Bây giờ mình tu là mình có lập cước, mình có căn cứ, mình có cơ sở, mình có y cứ, mình có chỗ đứng, cái nào ra cái nấy. Cái tâm nó đang hoạt động theo cái gì là mình thấy được cái đó hết. Hồi đó hỏi mình tâm là gì thì ngơ ngơ ngáo ngáo nhiều khi tu suốt luôn chục năm, hai chục năm mà hỏi tâm là gì thì quờ quạng, ú ớ. Bây giờ biết tâm là gì chưa? Biết rõ chưa? Rõ chưa? Sáng tỏ không?

Bây giờ mình đang nói cái tưởng, bắt đầu mình thay thế cho một cái hình bóng to cao, hất mặt, ưỡn ngực, vươn vai ta đây thì thay thế vô "mày không biết xấu hổ hả mày? Mày biết nhục không?". Thằng hành này nó dạy thằng tưởng, cái thằng suy nghĩ là nó dạy "mày có nhục không mày, tưởng? Tao dạy mày nghe không? Hồi đó mày không tu là mày đi đến đâu mà cũng hất cái mặt mày lên, đi đâu cũng kiếm chuyện người ta hả? Bây giờ tao dạy mày tu nha, cúi đầu xuống, khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, mày có nghe bậc đạo sư dạy mày năm khiêm chư? Thằng hành này nó dạy tưởng "ngươi đừng có tưởng ngươi ngon nghe không, ta cho ngươi tập ăn xin. Trước nay làm bà chủ quen rồi phải không? Hôm nay lên núi ta cho ngươi tập ăn xin nè, đầu trần chân đất ôm bình bát đi ăn xin để hạ cái bản ngã người xuống nha. Bây giờ người nhìn thấy cái hình tướng người chưa Đẹp không Hiền không? Dễ thương không? Ngoan không?" – "Dạ, ngoan. Em nghe lời chị, em nghe lời anh, em nghe lời ông, em nghe lời bà. Dạ, em bây giờ tâm hiền rồi".

Mình dùng cái như lý tác ý mình dạy, mình dùng cái suy nghĩ này mình dạy "tập làm ăn xin đi, tập làm cái người khiêm cung, khiêm hạ, làm cái người thấp kém nhất trên cuộc đời này đi". Mình lấy cái hình bóng, cái đồ chùi chân thế vô cái hình bóng to, cao, vạm, vỡ, ta đây của mình trong tâm, đó là phá thân kiến, đó là đang sử dụng thánh trí tuệ, đó là đang bào mòn, nhiếp phục và chế ngự cái bản ngã. Mọi người nghe tuyệt diệu không? Hồi xưa con đi tu mấy chục năm mà con không biết bây giờ làm sao phá cái ngã mình tức, mình không biết cái chấp ngã này nó ở đâu rồi bây giờ mình muốn bắt đầu mà không biết từ đâu hết. Cho nên các ngài là sướng lắm, các ngài phước quá trời quá đất, phước hơn con quá trời quá đất. Ba chục năm con đi tìm, bây giờ con dọn lên rồi gấp đưa vô họng mà không thèm ăn, quay chỗ khác thì con chịu thôi, nấu hết bao nhiêu tiệc rồi dọn lên rồi năn nỉ ăn. Trời đất ơi, sướng không? Mình đưa cái hình ảnh cái nùi giẻ này vào tâm "Mày dẹp cái ta ở đây của mày đi, nó nhục lắm, nó nhục mà nó tồi mà nó hèn hạ, nó bẩn thỉu, nó hạ liệt. Mày có thấy mày tồi bại không? Bây giờ mày phải nghe lời ta nha, từ đây về sau phải hạ thấp xuống, mỗi khi nói chuyện hạ cái đầu thấp xuống xưng con. Mày không có chủ trì, không có sư phụ".

Hôm bữa con ngồi ở bên vườn tre, quý vị ngồi thiền quý vị đâu có biết đâu, con không nói là quý vị không có biết đâu. Lúc đó có vị nào không biết ra chấp tay nói sư phụ này kia, sư phụ tuyệt vời, sư phụ này nọ đủ thứ hết con nhìn thấy cục cứt chó ngay trước mặt con, con mới quay vô nói "mày sư phụ hả, mày là cục cứt chó", mọi người đang lạy, đang xưng tán mà trong bụng con chửi "ngươi là cục cứt chó, không có sư phụ nào hết. Ngươi đừng có hỉnh lỗ mũi ngươi lên. Ta diệt tận ngươi ngay tại đây". Quý vị đâu có biết đâu, con đang ngồi đó tác ý chửi cái tâm để không thôi người ta quỳ, người ta lại người ta xưng thán thì trong tâm mình hỉnh lỗ mũi, mình phựt cái ta mình lên. Như vậy là mình đang rơi xuống vực sau.

"Cái bản ngã ngươi là cái tấm chùi chân, là cái nùi giẻ, là cái cục phân. Ngươi đừng có hất cái mặt ngươi lên, ngươi đừng có ta đây trên cuộc đời này, ngươi đừng có không có biết xấu hổ, không có biết nhục nhã". Không biết tự nhiên sao ngay lúc đó nó có một cục cứt chó ngay trước mặt, rất cảm ơn, cứ tác ý như vậy, quán chiếu như vậy, an trú như vậy. Đó là mình đang phá cái tưởng uẩn này, phá cái bản ngã này, rồi mình lấy bộ xương mình thế vô cái hình bóng của mình, mình lấy cái đống cát bụi mình thế vô, hủ cốt thế vô, cái quan tài thế vô, cái huyệt mộ thế vô. Được không? Chính những cái hành, cái tưởng này mình tu đó là mình đang hướng về cái thọ, cái chỗ này giải mã cho quý vị thấy nhiều cái tuyệt vời lắm, nói tới chết không hết.

Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ và tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, mình muốn biết tâm mình có cái gì thì chỉ cần nhìn vô trong cái cảm thọ thôi, mình nhìn lại cái cảm thọ thì mình biết cái tâm mình đang như thế nào. Nhưng mà bây giờ mình muốn cho cái pháp đó sanh khởi trong tâm mình thì phải nhắc nhớ nó, mình phải dạy nó, mình nhắc nó, mình niệm lên, mình tác ý lên là mình phải nhắc liên tục. Ví dụ như mấy hôm nay mình liên tục trong một tuần lễ tác ý tâm hiền, cả một tuần lễ chúng ta tác ý tâm hiền, khi chúng ta tác ý như vậy thì mình sẽ có hình bóng, có suy nghĩ, có cảm thọ, có nhận thức và cái thân của mình sẽ làm theo là lúc đó cả ngũ uẩn này nè bao trùm một chữ hiền bự thiệt là bự. Nó lan tỏa hết sắc; thọ; tưởng; hành; thức hiền ơi lại hiền, hiền sao là hiền, hiền vô cùng hiền, hiền thiệt là hiền, hiền dễ chịu, hiền ngọt ngào, hiền dạt dào, hiền thắm đẫm, hiền yêu thương đầy khắp hết.

Từ cái chỗ tác ý, từ cái chỗ quán tưởng này đưa tới cái cảm thọ hiền. Chúng ta thấy nó kết hợp với nhau hết, thật ra mình nói một nhưng mà thật sự là năm cái này nó cùng hoạt động cùng lúc hết, nhất tề, nhất thời, cùng lúc nó sanh khởi nhưng chủ lực là cái gốc nó nằm chỗ này. Bây giờ mới giải mã tại sao có một số người mới lên tu thấy khóc quá sợ "sao khóc hoài vậy? Sao khóc vậy?". Con xin thưa với các vị mình tu là đầu tiên mình biết được cái tên của cảm thọ, tên tuổi, kế đó mình biết cái mặt mũi cảm thọ, sau đó mình biết tính tình cảm thọ và sau đó mình biết được bản chất cảm thọ. Nhưng mà đầu tiên là mình nhận ra cái cảm thọ, một cái điều rất là tuyệt vời là cái trí tuệ đầu tiên mình nhận ra được cái cảm thọ và mình biết an trú vào cái cảm giác toàn thân. Đây là một bước rất tuyệt vời rồi, an trú cảm giác toàn thân của cảm thọ, nhận ra cảm thọ và an trú cái cảm giác toàn thân.

Sau khi mình nhận ra được cảm thọ là cảm thọ là mình đã thành tựu trí tuệ về cảm thọ và mình an trú được cái cảm giác toàn thân nơi cảm thọ. Khi mình an chút được cảm giác toàn thân nơi cảm thọ, khi mình nhận diện được cảm thọ rồi bây giờ mình bắt đầu huấn luyện, giáo dục, dạy vỗ cái cảm thọ. Tại sao chúng ta khóc, chúng ta cảm xúc, cảm động, chấn động? Là vì mình chạm tới trái tim của mình, đâu phải dễ khóc đâu, giờ tự nhiên kêu người lên đây khóc được không? Vì cái sự thật của bậc thánh chạm tới trái tim của mình và lúc đó mình nhận ra được một sự thật, mình thấy được một sự thật và mình thấy mình rất bất ngờ, mình vỡ lẽ ra nào giờ nó như vậy mà mình không biết.

Cái cảm thọ đó là cảm thọ giác ngộ, cái cảm thọ đó chạm tới trái tim, cảm thọ đó là rúng động, là chấn động, cảm thọ đó là một cái cảm thọ vô cùng ngọt ngào, vô cùng dạt dào và nó đầy ấp, tràn ngập thân tâm của mình. Đó là tin vui mà sợ cái gì? Khi nghe pháp mà mình cảm xúc, mình dạt dào, mình nước mắt, mình đầy mặt, mình tràn ngập, mình rung động, trấn động hết là con xin chúc mừng. Sợ cái giống gì? Sân sao không sợ? Tham sao không sợ? Bản ngã sao không sợ? Giờ tu sợ? Không sợ, càng khóc nhiều cho nó càng tốt, không sao hết. Nhưng mình đừng có khóc dỏm nha, đừng có khóc giả, khóc tự nhiên, có cảm xúc thì cứ để cho khóc, còn không có khóc thì không có nước mắt gì mà cũng hít hít mũi, đó là giả dối. Lâu lâu cũng có nữa, mình phải thật, mình tu thì cứ để cho nó tự nhiên, cái cảm thọ này chạm tới trái tim của mình, nó trào dâng những cái cảm xúc hoặc là nó hân hoan, hoặc là nó vui sướng, hoặc là nó hoan hỉ, hoặc là nó ưu tư, hoặc là nó chấn động, cảm động.

Thường thường đó là hai cái cảm thọ ưu và hỷ. Cảm thọ buồn đau, xót xa vì sao mình vô minh như vậy, tại sao mình ngu si vậy, tại sao mình cứ hơn thua, bản ngã như vậy mình thấy mình xót xa. Một cái cảm thọ là vui vì bây giờ mình mới biết, bây giờ mình mới thấy, bây giờ mình hiểu là được mình mừng quá. Một cái cảm thọ an tịnh, lắng dịu, chúng ta thấy nhiều cái cảm thọ hỷ, ưu và một cái cảm an tịnh, lắng dịu là cảm thọ xả, nó nhẹ nhàng. Cũng như quý vị quán thiền tâm xả thì tâm quý vị tâm có buông nhẹ không? Cái cảm thọ nó buông xuống, nó nhẹ ra, vậy là chúng ta đi vào trong cái cảm thọ này để tu tập, khai mở cảm thọ, huấn luyện cảm thọ, giáo dục cảm thọ, dạy dỗ cảm thọ và làm cho cái cảm thọ này an tịnh, lắng dịu, nó dễ chịu, ngọt ngào, nó hiền hòa, từ ái, nó biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn, một cái tâm hoan hỉ, một cái tâm hỷ xả. Chúng ta đang thực tập và huấn luyện cái cảm thọ này.

Như vậy chúng ta thấy rằng khi mình chỉ nói tổng quát là hết sức là đơn giản và dễ thôi thì mình thấy cái trí ngũ uẩn không phải là cái chuyện học sơ sơ, học phớt phớt, học qua loa mà phải để tâm rất là nhiều, để tâm rất là nhiều vào cái sự quay trở lại để mà dòm ngó, để nhận diện, để giáo dục, huấn luyện, dạy dỗ sắc; thọ; tưởng; hành; thức này. Mình dạy nó từng cái nhìn, từng cái nói, từng cái bước đi, từng cái cử chỉ, hành động, mình phải dạy cái thằng sắc này. Bây giờ, mình tu có ra được năm đứa con sắc là thằng con thứ nhất, thằng thọ con thứ hai, tưởng là con thứ ba, con thứ tư là hành, thằng con thứ năm là thức. Mình có năm đứa con để mình dạy nó.

Trước nay mình không biết nó, mình sống ở trong hôn mê, mình sống trong bóng tối, mình sống ở trong mù loà thì bây giờ Đức Phật cho mình thần dược, cho mình thánh dược, cho mình Phật dược, cho mình linh dược, diệu dược, mình mở con mắt rồi, mình nhìn thấy được không có cái tôi mà chỉ có năm cái thằng này quậy phá này, năm cái nhóm này, năm cái hợp thể này, năm cái đống này, năm cái uổng này thì bây giờ mình phải giáo dục, dạy dỗ từng đứa một. Nhưng mà cái chủ lực của nó là nhắm vào trong cảm thọ cho nên lúc nào mình cũng an trú cái cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt và nội tâm tỉnh giác. Bất cứ mọi lúc mọi nơi phải thực hành ba pháp, bất cứ lúc nào mình cũng phải an trú cảm giác toàn thân, rõ biết ở trước mặt và nội tâm tỉnh giác, biết rõ được thọ; tưởng; hành bên trong.

Đặc biệt để ý cái cảm thọ đang như thế nào. mình làm cho cái cảm thọ này nó dịu xuống, nó lắng xuống bằng cách thường nhắc nhớ nó, mình dùng cái hành uẩn, cái tác ý để mình nhắc nó, nhắc chừng nó hoài "đừng có tham nha, tham nhiều là khổ nha con. Đừng có giận nghe không, giận nhiều là nóng bức lắm nha, đốt cháy nha. Đừng có si mê nữa, tỉnh đi, mở con mắt ra để nhìn sự đau khổ trên cuộc đời này, nhìn những cái tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã này làm cho mình khổ, làm cho người thân mình khổ, nó làm cho hữu tình chúng sanh khổ nè. Tâm ơi là tâm, tỉnh giác lên, tỉnh lên, đừng có mê nữa". Nhắc hoài, nhắc chừng, nhắc chừng, nhắc chừng hoài.

Ngài Xá-lợi-phất dạy mình chín pháp an trú tâm nên mình đưa những hình ảnh đó vô, mình đưa vô hình ảnh khiêm cung, khiêm hạ, những hình ảnh luôn luôn là sự cúi đầu, luôn luôn là sự an trú vào một tâm gọi là nùi giẻ, cái tâm bộ xương, cái tâm hủ cốt, nấm tro, chiếc mồ, hay là cái huyệt, hay là những hình ảnh cái ngã này trống rỗng, trống không, không có gì hết, trong cái thọ này luôn luôn trú trong sự an tịnh. Chỗ này là thánh trí huệ ở đây, là ông chủ ở đây để nhìn ra hết tất cả những cái này, thánh trí này mình học được là cái trí tuệ để mình nhìn ra được năm cái này thì cái trí này nó là chủ. An trú trong cái thánh trí đó chứ không phải là an trú trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là đối tượng của cái tâm trí tuệ để quán chiếu, quan sát.

Lúc trước là năm cái này nó dính chùm lại thành một cái nắm tay. Bây giờ mình có một bộ trí tuệ để mình thường nhìn thì năm cái chấp thủ này, năm ngũ thủ uẩn này mở mở ra từ từ thì mình thấy rõ là năm nhóm, năm thứ, không có một cái gì mà nó là năm thứ. Khi mình tác ý mình dạy dỗ, mình huấn luyện, mình giáo dục, quán tưởng từ từ sắc; thọ; tưởng; hành; thức an tịnh, lắng dịu xuống, bắt đầu mình tu thời gian thì mình hạ các bản ngã, sám hối diệt ngã hoài thì từ từ nó nhẹ nhàn. Lúc đầu thì nó nắm chặt, sau đó nó mở bung ra, sau đó là cúi đầu diệt ngã và cuối cùng là xả bỏ. Đó là mượn hình ảnh để mình thấy mình tu, lúc đầu vô nhìn thấy cái mặt là thấy ớn, cái bản ngã chình hình muốn kiếm chuyện, muốn gây sự, muốn cự lộn, đó là chưa biết tu. Khi biết nhận diện ngũ uẩn thì từ từ khiêm cung, khiêm hạ, khiêm dường, khiêm tốn, khiêm nhã, năm khiêm đúng năm ngón tay luôn, sám hối diệt ngã, dập cái bản ngã, riết thì từ từ diệt tận cái bản ngã, thể nhập vào thánh trí vô ngã.

Đó là chúng ta nói tổng quát, sơ lược để chúng ta thấy cái sự vi diệu và cũng hết sức là thực tế rõ ràng, cụ thể, đơn giản dễ dàng chứ không khó trong cái sự tu tập về trí tuệ năm uẩn. Mình nhìn thấy được thân tâm của mình, mình có hoan hỉ không? Mình thoát cái kiếp mù, mình có thấy hạnh phúc không? Mình hạ gục được cái bản ngã, mình đánh cho cái bản ngã này nó gục ngã xuống để nó chịu quỳ xuống, nó lạy cha, lạy mẹ, lạy ông, lạy bà, lạy vợ, lạy chồng, lạy bạn đồng tu, lạy cả người thấp hơn mình. Lúc đó mình có thấy mình được nhẹ nhàng mà nó đẹp không? Có không? Rồi mình quỳ ra giữa cả trăm người, mình phơi bày, mình trình bày, mình vạch trần tất cả những cái lỗi lầm sai quấy của mình mà ngay lúc đó mình vẫn ngọt ngào, vẫn thấy dễ chịu, vẫn hạnh phúc, mình thấy cái lúc đó nó có tuyệt vời không?

Cho nên những cái pháp hành của chúng ta thiết thực, hiện tại, có hiệu quả tức thì, có khả năng hướng thượng, không có đợi trải qua bao nhiêu thời gian hết, làm là hiệu quả ngay lập tức. Quán tâm như cái nùi giẻ rách để tan biến đi cái hình ảnh chấp thủ trong thân tâm này, chỉ có sự tu tập mới đưa mình đến sự bình an. Con mới nói rằng không có cái bảo hiểm nào an toàn bằng cái sự thực hành pháp, không có một sự bảo vệ nào ở bên ngoài bằng cái sự bảo vệ, hộ trì sáu căn ba nghiệp của mình, không có một sự an toàn nào bằng trú trong cái cảm thọ tâm hiền thiện.

Con nói ví dụ người kia hung hăng, hung dữ tới gây sự, kiếm chuyện với mình, đem lửa tới họ muốn đốt, muốn phóng hỏa nhưng mà mình là cái hồ nước mênh mông thì phóng hỏa được hông? Cháy được không? Đốt nước cháy không? Thì đó tâm hiền thiện, tâm từ này mới là một sự bình an, bảo an, an toàn, an lành, an ổn, an yên, an tịnh, an lạc, any. Vui vậy mà sao trước đây mình không chịu tu tâm hiền ta? Bây giờ từ đây về sau chịu không? Chết sống với tâm hiền, chết là chết mà không bỏ tâm hiền được không? Tại vì giờ chết thì cái thân này chết nhưng còn cái tâm hiền thì nó đưa mình lên cao nhân thiên, mà chết mất cái tâm hiền thì nó đưa xuống tam đồ ác đạo. Thân có thể chết nhưng tâm hiền không được chết, tứ đại này có thể tan rã, ngũ uẩn có thể diệt tận nhưng thánh trí, lòng từ là phải bao la vô tận.

Mình tu tập được như vậy, mình an trú được như vậy, mình hành trì được như vậy rồi mình có một kho báo vĩ đại ở trong trái tim của mình, trở thành người giàu có, tỷ phú tâm linh, nội tâm phong phú, sung túc, đầy ấp những châu báo, ngọc ngà, đầy đủ từ, bi, hỷ, xả tâm hiền, tâm từ trí tuệ, tình thương bao la, dạt dào. Đó là tiết mục thứ hai của chúng ta tổng quát sơ lược về sự tu tập ngũ uẩn. Giờ còn lại là tiết mục thứ ba để trả lời câu hỏi cho quý vị. Những cái câu hỏi lớn quá đó thì chúng ta phải từ từ, chưa cần hỏi những câu hỏi quá lớn vì thời gian chúng ta không có nhiều. Chúng ta hãy hỏi những cái gì mà nó thực tế, gần gũi trong sự mình đang thực tập, còn mình hỏi những cái câu siêu, lớn quá, nói rồi mình nghe qua cũng xong, mình không có hiểu được đâu.

Kính bạch thầy con quy y tam bảo và tu tịnh độ đến nay được gần sáu năm nhưng chỉ đọc kinh, niệm Phật và chưa thấy sự chuyển hóa nhiều. Nhiều lúc con đọc kinh chỉ dừng lại ở việc đọc tụng, đọc thuộc và không có hiểu sâu, có một khoảng thời gian con có bế tắc trong cuộc sống và phát tâm tụng kinh địa tạng, con có thấy sự chuyển hóa tích cực. Không biết sau khóa tu này con có thể vận dụng những gì đã học từ kinh Nikāya để tiếp tục tu Tịnh Độ hay phải bỏ hẳn Tịnh Độ ạ? Con kính mong thầy giải đáp giúp con.

Bảy ngày nay là những pháp để pháp hành đó. Cái này hỏi chính mình chứ con không trả lời được tại vì tất cả pháp hành hướng dẫn hết rồi, bây giờ hỏi con có vận dụng không sao con làm giùm được? Phải tự mình làm, tự mình học rồi, hiểu rồi, thực hành, cảm nhận được rồi thì tự mình làm thì mình sẽ được kết quả. Còn vấn đề quý vị tu pháp môn gì thì cái đó tự quý vị chọn, con không có ý kiến.

Kính bạch trên sư phụ, con xin đặt câu hỏi như sao ạ: Trong khi ngồi thiền và nghe pháp con hay bị trạo cử. Con có tác ý nhưng mười lăm phút sau nó vẫn quay trở lại. Kính xin sư phụ chỉ dạy giúp cho con ạ.

Trạo cử là sự giao động, trạo cử ở đây có cả hai là thân và tâm. Có những vị lên ngồi thiền, ngồi một hồi cứ gãi chỗ này, gãi chỗ kia, chở chân chỗ nọ, rồi bắt con này, bắt con kia. Cái đó không phải là ngồi thiền vì vậy là không có sự phòng hộ các căn, không có sự nhiếp phục, chế ngự. Khi mình ngồi thiền mới biết thiền là sự an tịnh, sự lắng dịu, mình phải tập trung vào sự làm cho an tịnh, lắng dịu toàn thân. Bất cứ thời thiền nào mình vào cũng kêu an tịnh, lắng dịu, mình cố gắng tối đa trong sự an tịnh, lắng dịu càng ít chừng nào càng tốt chừng nấy, không có để cho thân nhúc nhích. Thậm chí là mình tập luôn cái con kiến, con muỗi, hay con ruồi gì đó đậu vô mình cũng tập tác ý "cái thân này là cái tử thi chết rồi thì đâu có còn biết nhúc nhích nữa".

Phải tập từ từ từng bước, lúc đầu mình kêu an tịnh, lắng dịu và mình nhắc, mười lăm phút sau nó trạo cử trở lại thì kêu nó an tịnh, lắng dịu tiếp. Mười lăm phút là giỏi rồi đó, có người ngồi năm phút yên cũng không được, khi nào nó trạo cử thì lúc đó mình kêu an tịnh, lắng dịu rồi mình cố gắng tập từ từ nó sẽ thành quen thôi. Làm sao vô là ngồi im ru vô bức tượng được? Mấy thầy, mấy cô phải ngồi mấy chục năm, ngồi mười năm, ngồi bảy năm, ngồi tám năm, ngồi năm năm, ba năm, phải tập từ từ thì mình mới cũng phải tập từ từ. Mình nhớ là mình phải để tâm, bây giờ trở lại tứ thần túc, tứ như ý túc muốn ngồi thiền, cố gắng ngồi thiền, để tâm vào việc ngồi thiền và phải tìm đủ mọi cách làm cho mình ngồi thiền được. Đó là chìa khóa thành công của sự ngồi thiền.

Khi mình đã muốn ngồi thiền thì cái đó tốt rồi, rồi phải cố gắng ngồi, cố gắng đừng cho đến nhúc nhích, cố gắng niệm an tịnh, lắng dịu rồi để tâm vào sự ngồi thiền. Ngồi thiền phải có chất lượng, ngồi thiền phải có nội hàm, nội dung, phải có thực hành được ba pháp chứ không thì vô ngồi là ngủ nhắm mắt há họng, rồi chảy dãi ra. Con đi qua mấy cái trường thiền lớn nhất, bây giờ ta ngồi thiền một ngày nhiều tiếng lắm, cứ một tiếng đi - một tiếng ngồi, một tiếng đi - một tiếng ngồi. Nói chung những cái hay thì cũng rất là tốt nhưng mà có cái hình ảnh mình khó quên là có ông đó ngồi làm sao ngủ gục cái đầu ông đụng tới chai nước suối trước mặt luôn.

Hồi xưa con ở trong thiền viện ba giờ thức dậy ngồi thiền. Ôi cha ơi! Cái giờ đó nhìn như sóng biển đánh nhấp nhô, từng hàng ngồi thiền nhưng do ngủ gục nên nhìn cái hàng nhấp nhô lên xuống như sóng biển. Con đại kỵ ngồi thiền mà ngủ, thà ở dưới không lên, khi mình lên thiền đường là mình phải tỉnh bởi vì ngồi thiền là tỉnh, là sáng mà bây giờ ngồi thiền mà mình còn mê hơn không ngồi thì đừng có ngồi. Nếu mình vô mình ngồi mà mình mê hơn thì mình không ngồi, ngồi làm chi? Đứng dậy, đi kinh hành, đứng dậy lạy Phật chứ còn vô đó ngồi ngủ thì mình dối Phật, dối với mình luôn, dối với tất cả mọi người hết. Cho nên hồi xưa con ở trong thiền viện hình như con bị đánh hình như hai lần, ở cả năm mà bị đánh hai lần là ngồi thiền bị hôn trầm, ngồi mà không biết nó đi đâu, chưa có ngủ gục mà nó đơ đơ.

Hôn trầm tức là mình chìm vô cái chỗ lờ mờ thì bị đánh một cái thấy ba chục con trời, giống như tới tam thập tâm thiền nhưng mà không biết cái gì. Con bị đánh hai lần thôi, ở hơn năm mà đánh hai lần là từ đó về sau vĩnh viễn không còn ngủ gục nữa. Quý vị biết ở Đà Lạt hồi đó lạnh lắm năm 1992 ở thiền viện Trúc Lâm, mỗi buổi ngồi thiền cũng hết chịu nổi rồi, mình nhỏ xíu lúc đó mới cứ 19-20 tuổi thôi, nhỏ xíu xiu, buồn ngủ vì đang tuổi ăn tuổi ngủ thì không biết làm sao nên lấy cái khăn với cái ly nước mà nước lạnh lắm, ba giờ khuya Đà Lạt lạnh khủng khiếp lắm. Nó lạnh quá thì lấy cái khăn rửa mặt, lên ngồi thiền đem trà lên chịu không nổi nữa thì lấy dầu xanh xoa vô hai mắt, rồi xong ngồi nhép bắp đùi, bởi vì ngồi hai tiếng lận. Chứ không phải ở đây mà bây giờ con lên con thấy thiền lủng không. Trời đất ơi! Thiền ngủ, đệ ngủ thiền. Thành ra mình ở đây đa số là cho thiền quán, cho thiền chỉ là ngủ hết từ trên xuống dưới.

Thành ra bây giờ con mới thấy rằng thiền quán rất thích hợp với thời đại này. Cái thời đại này cái tâm chúng sanh nó lao xap, nó dao động mà nhờ cái câu pháp, cái bài pháp mà lâu lâu con đánh vào chuông cái boong, lâu lâu con hét lên cho giật mình thức dậy. Thấy không? Có thấy cái công năng đó chưa? Con đâu có muốn tự nhiên giảng pháp rồi hét lên, hét lên vậy mà còn ngồi ngủ, thiệt là khổ, khổ không thể nào nói nổi. Nhiều khi đi mà thấy thương, nhiều khi muốn cầm cái thiền bảng đánh như một cái chát, đánh một hai người, không có đau vì nó mỏng. Người ta cầm thiền bảng đi ngang và nhìn kỹ nha, thấy mình ngồi ngủ thì người ta nhịp hai cái lên vai thì mình phải chấp tay cuối xuống và xá thật sâu. Còn gõ hai cái mà không thấy động tĩnh thì người ta sẽ gõ một cái lực mạnh hơn vào vai để mình tỉnh thì mình cũng chấp tay xá xuống.

Đó là cái cách mà thiền là vậy, mình được đánh mà mình phải cảm ơn tại vì người ta bỏ giờ ngồi thiền đi giúp cho mình ngồi thiền tỉnh, mình phải cảm ơn. Đó là cách giúp cho mình tỉnh thức bởi vì chỗ đó là những cái dây thần kinh, tác động vô đó để tỉnh ngủ chứ không có đau. Hồi đó cái ông ngồi kế bên con bị đánh thì con ngồi kế bên tim đập thình thịch, lúc đầu mình không biết, sau này bị đánh rồi mới thấy không có đau, giúp cho mình tỉnh. Người ta phải hy sinh giờ ngồi thiền của người ta để người ta giúp cho mình được tỉnh, mình phải cảm ơn. Mình ngồi đó là mình phải nhắc chừng, mình phải để tâm vào cái giờ ngồi thiền của mình, cái giờ đó còn quý hơn tất cả những cái giờ khác. Ngồi thiền mình phải có cái sự hành pháp ở trong đó là mình đã được hướng dẫn ba pháp rồi cho nên không nói lại nữa.

"Sự rõ biết trở thành trong sáng khi tưởng, hành bất chợt lặng yên, tâm sáng trong tưởng đó là mình. Đây là chỗ dễ lầm nhận nhất", cái này trích cửa vào bất tử. Và bạch trên sư phụ quan hỷ giải nghĩa giúp con ý của đoạn trên, vì sao sự rõ biết đã trong sáng, tâm cũng sáng trong mà sao lại là chỗ dễ lầm nhận nhất? Con cảm ơn sư phụ".

Chỗ này rất sâu sắc, để nói cái câu dễ, cái câu khó để cuối cùng.

Con muốn hỏi về một trạng thái khi thiền mà con gặp phải mấy năm rồi mà con chưa có lời giải đáp. Lần đầu con chưa biết gì về thiền, lên mạng con tìm hiểu thì họ dạy quán hơi thở, thở ra, thở vào và con chỉ làm theo đơn giản như vậy. Rồi khoảng năm - mười phút thì một trạng thái trống rỗng, rỗng không, có một cảm giác như thân mình không còn nhẹ nhàng, hỷ lạc, tĩnh lặng, tầm khoảng mấy chục giây thôi và khi xả thiền thì trạng thái hỷ lạc đó vẫn còn và tự nhiên miệng mỉm cười. Bẵng đi hai năm thì con mới quay lại học Phật và ngồi thiền, thời gian này ngồi thiền đang vào trạng thái trống rỗng, rỗng không thì tự nhiên có một cảm giác như mình đang rơi xuống vực thẳm. Con sợ hãi và xả thiền, từ đó về sau mỗi khi ngồi thiền sắp sửa đang vào trạng thái trống rỗng, rỗng không đó thì một nỗi sợ hãi trong con khởi lên làm cho con không muốn bước vào trạng thái đó. Và nhiều lần con cũng tự hỏi mình tại sao tại sao lại sợ trạng thái đó trong khi lần đầu mình trải nghiệm qua rồi. Mong sư phụ giải đáp giúp con cho con được thông suốt ạ.

Ở đây có hai trạng thái, một là cái trạng thái nhẹ nhàng và hai là cái trạng thái sợ hãi. Ở cái trạng thái nhẹ nhàng là tốt, là hỷ lạc trong cái thiền, người nào ngồi thiền nhiều là sẽ có cái trạng thái này thôi, khi cái tâm của mình được lắng dịu xuống, cái thân mình nó yên, cái tâm mình nó lặng, cảm thọ mình nó lắng thì nó sẽ nhẹ nhàng. Trong thất giác chi gọi là khinh an giác chi tức là cái tâm nó nhẹ nhàng, cái thân nó an tịnh thì điều đó là bình thường, là tốt trong sự tu học. Nhưng rồi đó là có cái trạng thái thứ hai là "ngồi thiền một thời gian rơi vào trạng thái trống rỗng, rỗng không, tự nhiên có một cảm giác như mình đang rơi xuống vực thẳm, con sợ hãi và xả thiền". Cái này không biết đang ngủ hay đang thức, rất nhiều khả năng là người này đang nhắm mắt và đang trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê.

Tại vì mình đang ngồi đây thì sao mình lọt xuống vực thẳm được? Thấy không? Cho nên cái sự ngồi thiền không có thực hành ba pháp nó khác, rất là khác so với sự thực hành mà mình đang thực tập ở đây. Vì khi mà mình nhắm mắt lại như vậy là mình sẽ rơi vào cái tưởng cho nên mình phải mở mắt thực hành ba pháp, an trú cảm giác toàn thân và rõ biết ở trước mặt thì tự nhiên cái trạng thái này nó sẽ mất, tỉnh giác chánh niệm thì nó sẽ mất chứ không có gì phải sợ hết. Quý vị này về sau "mỗi khi ngồi thiền sắp sửa đang vào trạng thái trống rỗng, rỗng không thì nỗi sợ hãi khởi lên làm cho con không muốn bước vào trạng thái đó, cũng nhiều lần con tự hỏi mình tại sao, tại sao lại sợ trạng thái đó trong khi lần đầu mình trải nghiệm qua rồi".

Trống rỗng, trống không ở đây nhiều cái phương diện, khía cạnh lắm, mấy người này phải gặp con để trình bài kỹ một chút. Tại vì cái trống rỗng, trống không đó là có khi là mình tưởng, có khi là mình hôn trầm, có khi cũng là trống rỗng, trống không một cái tâm nó nhẹ. Quan trọng là đó mình có tỉnh giác không? Mình có thấy biết không? Hay lúc đó nó lờ mờ, nó nửa tỉnh nửa mê thì đó là khác, nếu nó tỉnh táo là khác, còn nếu như bây giờ mình thực hành ba pháp thì chỉ cần mở mắt ra thôi là cái trạng thái đó sẽ hết, mình kêu an tịnh, lắng dịu, dễ chịu là trạng thái đó sẽ hết thôi, đó chỉ là tưởng thôi.

Câu hồi nãy cũng là câu trong ngòi thiền sâu sắc, khi tưởng với hành nó lặng, nó an tịnh, lắng dịu thì tâm của mình sẽ trong sáng thì đa số người tu, nhất là tu thiền, hồi xưa là con cũng ở cái chỗ này rất là nhiều, có khi là nó yên tịnh, trong sáng, hàng nhiều giờ, thậm chí cả ngày, tắt luôn cái vọng niệm. Hồi xưa con hành trì theo cái pháp môn hòa thượng Trúc Lâm dạy đó, có những lúc con nhập thất là nó im bật hoàn toàn, không có vọng tưởng nữa, một thời gian rất là dài, nhiều tiếng đồng hồ, thậm chí suốt cả ngày luôn cực kỳ ít khởi niệm, tâm nó trong sáng, thanh tịnh. Lúc đó mình chưa có học ngũ uẩn, mình nghĩ đây là chân tâm, là Phật tánh, đây là bản lai diện mục rồi, ngon quá rồi, khoái rồi, mà thật, những chỗ đó nó tiến bộ nhưng mà nó không phải. Cái trong sáng như vậy mà mình giải tỏa hết bao nhiêu một ngàn mấy trăm công án của Thiền Tông là con giải tỏa hết, thông hiểu ra hết, không cần ai chỉ cho hết, đọc tất cả công án là khai thông hết, giải mã hết nhưng mà cái đó không phải.

Quý vị nghe cuộc đời tiểu sử của bậc đạo sư, quý vị sẽ thấy ngài trú trong đó dài lâu luôn mà ngài biết cái đó cũng chưa phải, sau đó ngài xả cái đó, ngài mới đi qua Nikāya rồi sau này mới thành tựu thánh trí ngũ uẩn. Vì vậy, chẳng qua là khi tưởng với hành này giống như những cái đám mây, nó lắng lặng xuống, nó không có còn giống như mình nhìn lên bầu trời có mây này mây kia, mây trắng mây đen này kia, bây giờ không có mây nào hết nó, thuần thanh tuyệt điểm nhưng mà tất cả cái đó chỉ là tưởng nó lắng dịu xuống, hành nó lắng dịu xuống đó, cảm thọ nó lắng dịu xuống mà thôi. Cho nên khi xả thiền ra mình trở lại ai đụng vô mình còn sân không? Còn bản ngã không? Nhìn thấy cái đẹp còn khoái, còn tham không? Đó là cái chỗ vấn đề ở đó, tức là cái thọ; tưởng; hành nó lắng dịu xuống mà nó tạm thời thôi, nó không có chánh tri kiến, nó không có thánh trí tuệ thì cái đó cũng là cái trạng thái của tâm bình thường thôi.

Nó khởi quá, nó mệt quá giờ nó lặng, nó không khởi nữa, vậy thôi. Mình cũng tu cũng có tiến bộ nhưng mà cái đó cũng không là gì hết, nó chỉ là sự an tịnh, lắng dịu của thọ; tưởng; hành thôi. Giống như một mấy đứa em bé chạy tới chạy luôn giỡn, nó cười la rồi nó khóc, bây giờ nó không cười la nữa, nó nằm ngủ nhưng mà đâu phải là không có nó đâu. Nó thức dậy rồi bắt đầu chạy tiếp, nó giỡn tiếp, quậy tiếp nữa thì cũng vậy, cái tâm lúc đó ó lắng xuống thôi nhưng mà cái bản chất của nó mình chưa thấu hiểu đây là sắc, đây là thọ, đây là tưởng, đây là hành, đây là thức, cái nhân duyên tập khởi và sanh diệt, cái guồng máy vận hành hoạt động của nó, mình chưa thấu hiểu một cách triệt để hoàn toàn thì mình không có thể nào đi đến yểm ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Cho nên vẫn còn luân hồi sanh tử, vẫn còn chấp thủ trong ngũ uẩn, vẫn còn khổ đau.

Chính vì vậy mà các người tu hồi xưa thời Đức Phật, chính thái tử cũng chứng tứ thiền bát định mà ngài cũng từ bỏ là tại vì vô đó thì nó định nhưng mà trở ra thì vẫn còn bản ngã, vẫn còn tham, sân, si, dục ái, vô minh không phá cho nên ngài muốn cầu cái pháp không có bị sanh, không bị già, không bị bệnh, không bị chết, muốn đạt được cái cảnh giới bất tử. Cho nên cuối cùng ngài mới tìm ra được tứ thánh đế, bát chánh đạo, thật sự thấu suốt hoàn toàn sự tập khởi và sự đoạn diệt tất cả cái guồng máy vận hành, hoạt động, cái mô típ, cái cấu trúc của tất cả ngũ uẩn này vận hành như thế nào, sự sanh diệt của nó như thế nào, hoạt động của nó như thế nào, bản chất của nó như thế nào. Và ngài dùng thánh trí của ngài phá hết tất cả căn - trần - thức - xứ - giới - uẩn ra khỏi cái tôi và của tôi, tự ngã của tôi một cách hoàn toàn diệt tận thì mới chấm dứt được tử sanh.

Cho nên ở đây nói sự rõ biết đã trong sáng tâm cũng sáng trong mà sao lại là chỗ dễ lầm nhất? Tức là người ta lầm, cho rằng đây là cứu cánh nhưng đó là không phải, đó chỉ là sự an tịnh, lắng dịu của thọ; tưởng; hành thôi. Chỗ này chúng ta thấy rõ không ạ? Những cái câu hỏi sau này là cái này cần phải học nhiều lắm, câu hỏi sau này là những câu hỏi lớn tứ niệm xứ, bát thánh đạo, tứ vô lượng tâm và bốn đôi tám chúng. Bốn đôi tám chúng thì con có giải thích trong những bài giảng á nhưng ở đây thì có thể nói tóm tắt thôi. Bốn đôi tám chúng còn gọi là bốn đôi tám vị, có sơ quả, nhị quả, tam quả và tứ quả, bốn thánh quả và bốn đạo, tức là bốn cái bậc này là đang hướng đến quả gọi là đạo.

Ví dụ mình ngồi ở Văn Thủy Đường này là mình đang ở trong Văn Thủy Đường này là mình đến rồi. Nhưng hồi nãy mình đi từ ngoài đi vô đó thì cái đó gọi là đạo. Mình vô mình ngồi trong đây rồi là quả tức là đang hướng tới cái chỗ đó mà chưa tới, giống như luyện thi đại học vậy đó, đang luyện thi đại học chứ chưa phải là học đại học. Nói gì chúng ta dễ hiểu phải không ạ? Đó là bốn đạo, bốn quả. Quả thứ nhất, quả thứ hai, quả thứ ba, quả thứ tư, bốn cái thánh quả này thì có bốn cái đạo là hướng tới quả thứ nhất, hướng tới quả thứ hai, hướng tới quả thứ ba và hướng tới quả thứ tư. Đó là bốn đạo, bốn quả nhưng cái đặc biệt là gì? Cái quan trọng là bốn đạo, bốn quả này là cái gì?

Cái tâm của các vị này là như thế nào? Là bốn đạo, bốn quả này, bốn đôi tám chúng này, tất cả những cái vị này là hướng đến sự nhàm chán, ly tham, thoát ra khỏi ngũ uẩn, còn tất cả phàm phu là không có chán ngũ uẩn, không có muốn thoát ra ngũ uẩn, yêu ngũ uẩn, thích ngũ uẩn, ham ngũ uẩn, khoái ngũ uẩn. Nói ví dụ hết sức đơn giản là còn khoái ăn không? Ăn món ngon còn thích không? Thấy không? Khi mình xem vô gương nhìn thấy cái mặt mình trong gương mình nhìn thấy coi cũng được, có không? Đẹp nữa "mặt tôi đẹp" vậy là chưa có đạo quả gì, còn là vô văn phàm phu, là còn yêu sắc này, yêu thọ; tưởng; hành thức này. Còn bốn đạo bốn quả là các vị hướng đến sự rời xa, nhàm chán, từ bỏ, thoát ra ngũ uẩn và không muốn ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này nữa, muốn giải thoát ra khỏi sắc hợp tưởng hình thức. Đó là bốn đạo bốn quả.

Cái tâm nào hướng tới sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ, thoát ra sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì những cái tâm thức đó theo cái mức độ sâu cạn, nhỏ lớn, dày mỏng mà có chia ra các thứ bậc của bốn đạo, bốn quả. Như sáng nay mình học chúng ta thấy không? Phá hết cái thân này, tuổi già rồi bệnh, ỉa chay, đái dầm, nằm một chỗ trên đống phân và nước tiểu của mình rồi cuối cùng chết, trương phình lên, nứt nẻ, chảy ra những thứ hôi thúi rồi giòi ăn, tới bộ xương rồi rải rác ra ở đây là xương tay, đằng kia xương chân, xương sọ, kia xương đầu, cuối cùng nát ra thành cát bụi hết trơn là gì? Là để cho mình thấy được sự thật, để mình không còn ham, không còn thích, còn khoái, còn chấp, còn mê, còn khao khát, thèm khát, khát ái đối với cái thân này nữa, tâm mình muốn hướng thoát ra. Được cái tâm hướng thoát ra một cách mạnh mẽ 70-80%, 90% cái này gọi là hướng dự lưu, hướng sơ quả, mà cái tâm xác quyết thoát ra 100% nhập lưu thánh quả, chịu không? Xác quyết ở trên cái thấy biết nhưng mà còn tham, sân, si, bản ngã.

Bước thứ hai là dọn những cái tham sân này, dọn được một mớ, muội lược tham sân thì tới quả thứ hai. Tham sân hết thì lên quả thứ ba. Phá luôn si mê, vô minh, bản ngã, sạch hết trơn năm hạ phần kiến sử, năm thượng phần kiến sử hết luôn là quả thứ tư. Bốn quả, chịu không? Còn đa số chúng sanh thì thích ở trong ngũ uẩn thì tu nhân thiên pháp, tức là bố thí, giữ giới, làm lành này kia, tu tâm từ, bi, hỷ, xả này kia, tất cả những cái nhưng mà họ muốn cho cái ngũ uẩn họ càng ngày càng đẹp, càng ngày càng tốt, đời sau họ càng sung sướng, phước báo này kia thì cái đó là cũng tu nhưng mà nhân thiên phước báo ở trong ngũ uẩn. Đức Phật cũng không có trách cứ gì hết đó, tùy theo mình chọn nhân đạo, thiên đạo và thánh đạo.

Nhân đạo là những cái nhân nghĩa, đạo đức, lễ giáo, mình đã được học thiền biết ơn đó. Thiên đạo là tu thập thiện, tứ vô lượng tâm, tu cái tâm rộng lớn, vô lượng, giữ giới hành, những cái tâm cao thượng, rộng lớn là chư thiên thậm chí là vua trời luôn coi ba mươi ba cung điện, tam thập tam thiên, tứ thiền vương… có nhiều lắm vì tới mấy chục tầng trời, còn yêu thích ở trong ngũ uẩn. Thánh đạo là cái ra khỏi ngũ uẩn, chỗ này đó gọi là gì Thiên Nhân Sư, là vô thượng phước điền, là mảnh ruộng phước cho chư thiên và loài người, là những bậc hướng đến rời xa, thoát ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Những bậc đó là đáng được chấp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người. Đó là bốn đôi tám bậc hiền thánh và chúng ta quy y với Tăng là quy y với bốn đôi tám chúng đó.

Chúng ta thấy Tăng Bảo cao quý dường nào không? Những bậc như vậy mới đúng là chân tu, mới là tam bảo ở trong Tăng Bảo, đó là mỗi ngày chúng ta điều lại bốn đôi tam chúng là lạy các vị đó, các vị hướng tâm để thoát ra sắc; thọ; tưởng; hành; thức, là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người. Vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho đời, vì thương tưởng cho thế gian này mà Đức Thế Tôn truyền trao chánh pháp, các bậc thánh hiền thực hành chánh pháp, thực chứng chánh pháp, lưu truyền chánh pháp và dài cho đến chúng ta 2.600 năm. Và hiện tại chúng ta đang học chánh pháp tối thượng nguyên chất vi diệu, thần diệu, thắng diệu kinh tạng Nikāya, đó là pháp bảo tối tôn, tối thượng của chư thiên và loài người.

Mong rằng tất cả chúng ta sẽ thấm nhuần được lợi ích, lợi lạc, hạnh phúc, an lạc dài lâu trong tránh pháp này dù là thiên đạo, nhân đạo hay là thánh đạo.

Tâm thương này tỏa rộng,

Cùng khắp thế giới này,

Tâm thương này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.

./.