Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm - Kinh Giáo Giới NANDAKA- Trung Bộ

2026-03-18 06:54:27
PHÁP ĐÀM NIKĀYA

KINH GIÁO GIỚI NANDAKA

TRUNG BỘ

–Thích Minh Thành–

Thầy Thiện Huệ: Kính bạch trên chư tôn thiền đức cùng toàn thể các chư vị hiền trí vừa qua chúng ta được nghe bài kinh giáo giới Nandaka trong kinh Trung Bộ cũng như lúc sáng đại chúng cũng được nghe sư phụ thuyết giảng, giảng giải về bài kinh vừa rồi. Vào giờ này con kính cung thỉnh các chư hiền tỷ vì lợi ích, vì hạnh phúc cho tự thân và cho đa số chúng ta cùng nhau pháp đàm chia sẻ trong nội dung bài kinh để cho tất cả các chư hiền trí được lợi lạc ở trong pháp. Mô Phật.

Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch đạo sư cùng quý thầy, quý Sư Ni cùng với các bậc hiền trí, con xin được chia sẻ về phần cảm thọ của con qua bài giáo giới về tăng đoàn Ni trưởng. Là một vị Ni trưởng đầu tiên của Tăng đoàn Ni giới hơn năm trăm vị Tỳ-kheo, thật xót xa trong con, hơn 2600 năm con được nghe lại về người dẫn đầu năm trăm vị đường xa. "Gương xưa vẫn còn, Đức Kiều Đàm Di, giã từ hoàng gia, tóc xanh cắt bỏ, chân trần tan thương, nào ngại khó khăn. Ơn sâu nghĩa nặng, Đức Kiều Đàm Di, mẫu nghi thiên hạ, vượt ngàn dặm xa, cầu Phật xuất gia, lập nên Ni đoàn. Ngày nay chúng con, lịch đại truyền đăng, mở ra trang sử, Ni giới lưu truyền", trong con bây giờ thật hạnh phúc làm sao, một vị Ni trưởng đã làm cho cả bao nhiêu thế thế kỷ vừa qua noi theo, vượt lội biết bao nhiêu đường xa đến chân phải rướm máu để được Đức Thế Tôn Gia gia nhập vào Tăng đoàn.

Giờ đây chúng con được cơ hội được làm cư sĩ, được làm nữ sĩ, được thọ giới, được nghe pháp và hành theo phạm hạnh của Đức Thế Tôn. Tri ân công đức của người không biết bao là kể cho xiết, chúng con nguyện sẽ noi gương theo là hành trang, thấy pháp thấy Như Lai, đang thấy ta là thấy pháp. Chúng con nguyện là một người con Phật chân chánh. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin cảm ơn quý đạo hữu, quý thầy, quý sư cô đã lắng nghe bài chia sẻ của con.

Sư cô 1: Con chân thành đảnh lễ ân đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác, con chân thành đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát, pháp thân bậc đạo sư pháp nhãn thù thắng tôn kính, con chân thành đảnh lễ ân đức trên sư phụ bậc ân sư, bậc minh sư tôn kính, con chân thành đảnh lễ trên Tăng đoàn Nikāya tôn kính. Con run quá, cho con xin đọc bài.

Dạ con kính thưa trên sư phụ bộ xương con xin được trình pháp khi được sư phụ chỉ dạy cho thiền quán về bài kinh giáo giới Nandaka, kinh Trung Bộ tập III. Trong con có hai dòng cảm thọ, hỷ và ưu bi, cảm thọ bi thương, ưu tư cho bộ xương này thật là nhiều khi con được sư phụ chỉ dẫn, dạy dỗ mà con vẫn còn vô minh, vẫn còn bị dục, tham, ái, vẫn còn bị dính mắt vào sáu nội - ngoại xứ, luôn chấp vào những cái khổ vô thường này là tôi, là của tôi. Con thật là đáng thương và xấu hổ cho cái ngũ uẩn này khi đã gặp được chánh pháp rồi mà con vẫn bị thọ; tưởng; hành qua mặt, luôn bị nó làm cho bốc cháy. Con thấy thật là tàm quý, xấu hổ và nhục nhã cho cái đống thịt thối này.

Cảm thọ thứ hai là cảm thọ hỷ, con thật hạnh phúc và vô vàn biết ơn khi được gặp dòng chánh pháp, được gặp bậc hiền thánh, gặp bậc minh sư đã khai mở cho chúng con một cách minh minh, bạch bạch, tỏ tỏ, tường tường, giúp chúng con gột rửa những cấu uế về thân tâm, về những cái khổ, vô thường, về xấu nội - ngoại xứ này, chúng con luôn luôn bị những cái khổ vô thường này đè nặng thân tâm. Con thật là biết ơn sư phụ, biết ơn Tăng đoàn cho con được nhìn nhận về ngũ uẩn, về gột rửa thân tâm này, ngũ uẩn con xin nguyện cố gắng học kinh, lắng nghe pháp để pháp được khai mở, trí được tỏ, tuệ được sáng, giới được tăng. Con xin nguyện cố gắng thực hành chánh pháp theo lời chỉ dẫn, dắt dẫn của sư phụ, bộ xương con xin đê đầu thành kính tri ân trên sư phụ, bậc minh sư luôn sách tấn cho chúng con và ngũ uẩn con xin được phép đọc lên cảm thọ biết ơn với bài kệ mà sáng nay con được sư phụ chỉ dạy cho chúng con, với tứ vô lượng tâm của sư phụ đã dạy chúng con. Trong khi con học bài còn yếu kém nhiều, con ngưỡng mong trên Tăng đoàn hoan hỉ cho con.

Dạ con kính thưa Tăng đoàn khi ngũ uẩn ngồi nghe kim khẩu từ sư phụ:

Uy lực như vũ bão,

Dõng mãnh như sư tử,

Rộng lớn như hư không,

Tỏa sáng như mặt trời,

Bao la như biển cả,

Hiền hòa như dòng sông

Tắm mát cho chúng con.

Vị ân sư cao cả

Bậc chân nhân vĩ đại

Đã theo gót Thế Tôn

Truyền trao thánh trí tuệ

Ngài giáo giới giảng dạy

Thuyết pháp Tỳ-kheo Ni

Dao bén về thánh trí

Ngài giáo giới răn dạy

Nhắc nhở và hướng dẫn

Cung kính bát kỉnh pháp

Tôn kính với chư Tăng

Dạy oai nghi giới luật

Luôn nhớ khổ, vô thường

Với sáu nội ngoại xứ

Không có gì thường còn

Chúng con kính tri ân

Bậc minh sư tôn kính

Theo lời ân sư dạy

Từ bỏ dục, hỷ, tham

Sáu nội ngoại xứ này

Thịt - nội xứ bên trong

Da - ngoại xứ bên ngoài

Là dục hỷ và tham

Nội kiết sử triền phược

Thánh trí tuệ sắc bén

Cắt đứt, cắt đoạn, cắt tuyệt phải

Dừng ngay vọng niệm

Ý niệm cũng dừng theo

Do con dừng vọng niệm

Khẩu nghiệp cũng dừng theo

Do con dừng thân niệm

Thân nghiệp cũng dừng theo

Không thêm dầu vào lửa

Sẽ không còn tham sân

Hãy từ bỏ chấp thân

Luôn niệm khổ, vô thường

Không có gì thường còn

Không cho nó sanh khởi

Không gì là của tôi

Chấm dứt mọi khổ đau

Nguyện thân hiện tại này

Là cái thân cuối cùng

Thánh trí tuệ rực sáng

Dòng sanh tử chấm dứt

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con trò thành kính tri ân trên Tăng đoàn Nikāya tôn kính đã bằng tình thương kham nhẫn với ngũ uẩn con. Con còn yếu kém nhiều trong tu học, con kính mong trên Tăng đoàn cùng sư phụ bằng tình thương, bằng từ tâm chỉ dạy cho con trò được tăng thượng giới học. Con trò xin kính lễ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư cô 2: Nùi giẻ rách con xin chân thành đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, dạ con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý Ni Sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Qua bài kinh giáo giới tôn giả Nandaka cũng như sự giảng dạy của sư phụ sáng nay con thấy được trí tuệ phân tích thâm sâu vi diệu của Đức Phật, của tôn giả Nandaka. Cảm thọ con cảm thấy ấn tượng và rất thú vị với ba cái ví dụ mà tôn giả Nandaka đưa ra, trong bài kinh tôn giả Nandaka đã đưa ra ví dụ về người đồ tể. Một người đồ tể sau khi giết chết một con bò thì người đồ tể đó đã cầm một con dao sắc bén lột lớp da, phần thịt và cắt đứt những sợi gân, những sợi dây chằng của con bò, như vậy thì con bò không còn dính lại với nhau, không còn nguyên vẹn một con bò như trước nữa và ngài đã nói rằng cái lớp da tức là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ, phần thịt là đồng nghĩa với sáu nội xứ, những cái sợi gân sợi dây chằng đó tức là dục hỷ và tham, còn con dao sắc bén chính là thánh trí tuệ.

Đến đây con đặt một câu hỏi và con đã liên tưởng đến cái câu tâm mê làm ra cảnh, tâm gặp cảnh càng mê. Theo con hiểu trong trường hợp này chính vì cái tâm mê, cái tâm vô minh, cái tâm đầy dục hỷ và tham mà nó sanh ra sáu căn và sáu trần này. Chính vì tâm mê mà nó mới sanh ra sáu nội xứ, sáu ngoại xứ này và khi đã có sáu căn, sáu trần thì cái tâm mê đó lại càng thêm nặng hơn, đã dục hỷ và tham thì lại càng thêm dục hỷ và tham nữa là nó tác thành cho nhau, nó làm cho ràng buộc nhau và nó làm cho tăng trưởng lẫn nhau cũng giống như phần da, phần thịt và những sợi gân của một con bò. Như vậy những cái này nó chằng chịt với nhau, nó ràng buộc, nó dính chặt với nhau và chính cái thánh trí tuệ là một con dao sắc bén tuyệt vời có thể phân tích, có thể tách rời, chặt rời sáu nội xứ, sáu ngoại và sáu ngoại xứ này có thể chặt đứt cái sợi gân ràng buộc tức là dục hỷ và tham này bằng đôi mắt trí tuệ sáng suốt của Đức Phật, của các bậc thánh là thấu tỏ thấu rõ sự thật bản chất vô thường, duyên sanh, bản chất rỗng không và vô nghĩa của từng pháp, từng pháp đó.

Đó là con dao thánh trí rất tuyệt vời, chỉ có con dao thánh trí nhìn thấy đúng sự thật này mới có thể cắt đứt được dục hỷ và tham, mới có thể chặt đứt được những cái phiền não, những kiết sử, những nội triền phược ở bên trong do sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì sanh ra sáu thức, sanh ra sáu xúc, sáu tưởng, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, do vì có duyên xúc cho nên sanh ra thọ; tưởng; hành. Nếu như không có xúc, không có căn, không có trần thì những cái sự rõ biết này không có mặt cũng như những cảm giác, cảm thọ cũng không có mặt cho nên những cảm thọ khổ, lạc, bất khổ bất lạc này là do duyên của những pháp duyên sanh, vô thường, chịu sự biến hoại mà có những cảm giác này, nó được thiết lập dựa trên một nền tảng của sự vô thường, chịu sự biến hoại, trống rỗng.

Thành thử những cảm thọ này chắc chắn và đương nhiên cũng chịu chung số phận là nó cũng là vô thường, chịu sự biến hoại, rỗng không như vậy. Và cái điều này được nêu rất là rõ, rất là sáng tỏ trong hai ví dụ về cây đèn và ví dụ về cái cây thì con cũng rất là tâm đắc hai cái ví dụ này. Những cái bóng mát của cây và ánh sáng của ngọn đèn trong phần ví dụ của tôn giả là chỉ cho những cảm thọ đều được tạo nên từ những pháp duyên sanh, vô thường, chịu sự biến hoại cho nên mình cần phải tác ý tất cả tất cả những cái pháp, những mắt xích của cái chuỗi duyên sanh đó đều là vô thường, đều là biến đổi, tiêu tan, hoại diệt, là duyên sanh, là không cố định. Cho nên bản chất của chúng là khổ đau, cần phải tác ý đó không phải là mình, không phải là của mình và cần phải từ bỏ chúng. Dạ đó là cái những gì mà con tâm đắc ở trong bài kinh giáo giới tôn giả Nandaka con xin kính trình lên sư phụ, quý thầy, quý Ni Sư và đại chúng. Con xin hết. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư cô 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni Sư cùng bậc hiền trí. Qua bài kinh sáng nay nói về vị thánh Nandaka thì trong bài kinh đó con rất hoan hỉ về bát kỉnh pháp và con khởi lên cái tâm từ xưa giờ con rất thích điều này vì lòng từ bi của Đức Phật thương tưởng hàng Ni, người nữ chúng con mà cho bát kỉnh pháp. Chính vì nguồn gốc này mà chúng con được nhân duyên xuất gia, con rất biết ơn và con luôn tâm niệm suốt kiếp và luôn tôn trọng bát kỉnh pháp. Đức Phật vì lòng từ bi, thương tưởng chúng con và trong bài kinh này lúc đầu con thắc mắc là không biết vì sao vị thánh Nandaka tới ngày giáo giới nhưng lại không muốn qua chúng Ni chúng con giáo giới để Đức Phật nhắc ba lần. Ngay lúc này con có tâm khởi nghi con kính trình lên thầy để thầy giải nghi cho con để cho con hiểu biết hơn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Thầy Thiện Huệ: Con mời đại chúng chúng ta chúng ta tiếp tục pháp đàm chia sẻ, ngoài ra những câu hỏi gì chúng ta thắc mắc chúng ta sẽ chờ sư phụ về chúng ta hỏi trực tiếp sư phụ, sư phụ sẽ giải thích cho đại chúng.

Sư cô 4: Con chân thành kính lễ lên Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con đem hết lòng thành kính kính lễ lên bậc đạo sư tôn kính, con đem hết lòng thành kính kính lễ trên sư phụ, quý thầy, quý Ni Sư, quý chư hiền giả, hiền trí. Thực sự bài giảng buổi sáng hôm nay chúng con được nghe sư phụ giảng thì chúng con cũng đã trải qua được nhiều bài giảng trước đó được lặp đi lặp lại sư phụ giảng cho chúng con nghe về ngũ uẩn, cũng như là duyên sanh pháp và sáu nội xứ, ngoại xứ thì chúng con khi được nghe. Đến bài này thì chúng con mới thấm chứ trước đây cũng con đã được nghe nhưng mà thực sự nghe nó cũng phớt phớt ra bên ngoài, có hiểu nhưng mà nó cũng không có sâu sắc.

Rồi đủ duyên lành sáng hôm nay chúng con được nghe lại, con thấy cảm thọ của con rất là sung mãn, rất là thích thú và rất là hoan hỉ khi được nghe lại bài giảng hôm nay. Cái tưởng của con là một Tăng đoàn của Ni chúng ngày được giáo giới và được nghe giảng pháp định kỳ, hình ảnh rất rõ ràng hiện lên trong cái tưởng của chúng con và cái hình ảnh rất là đẹp, vị các vị Tỳ-kheo Tăng giáo giới và giảng giải từng kỳ được hiểu về pháp và được học pháp. Con thấy cái không khí rất là trang nghiêm và cái tưởng con nhìn thấy được ấm cúng, được trang nghiêm và được tôn kính. Cái cảm thọ của con rất là xúc động, một cái sự hy hữu hiếm có cho ai được học vào chánh pháp này, trước đây chưa bao giờ con tưởng được Ni chúng học cái gì và học như thế nào từ lời Đức Phật.

Đây là cái thể hiện hình ảnh rất là rõ, không chỉ Đức Phật giảng cho Ni chúng mà các vị Tỳ-kheo cũng hướng dẫn và dẫn dắt từng hiền tỷ trong Tăng đoàn Ni. Hình ảnh đó làm cho con được có cảm xúc rất là mãnh liệt và rất là xúc động, đến câu hỏi ngài Tỳ-kheo hỏi cho Tăng đoàn Ni rằng là các vị khi đặt câu hỏi hoặc là không hiểu gì thì những câu hỏi đó rất là cụ thể và nhìn thấy học rõ ràng, được sự hướng dẫn của một vị giảng sư Tỳ-kheo đứng sau Đức Phật để hướng dẫn thì rất gần gũi, thể hiện rằng sự quan tâm và sự học hỏi của các chúng Tăng Ni. Khi được hỏi những câu hỏi về khổ và cái gì là khổ là có lạc hay khổ, hay là sự khổ và lạc đó thì nó phải chịu sự biến hoại.

Tất cả những cái đó là về ngoại xứ và về nội xứ trong cái thân của chúng ta, đây là những bài chúng con cũng đã được học từ sư phụ, hỏi những câu hỏi này thì sư phụ cũng đã hỏi thì con thấy là thích thú khi được lặp lại vấn đề này. Cái gì được hỏi là sáu ngoại xứ là thường còn hay là vô thường thì con cũng được hiểu, nếu chưa học trước đây thì chỉ lần đầu nghe rất là khó, do đó khi được học duyên sanh pháp rồi khi hỏi thì con thấm thêm rằng khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tức là sáu nội xứ tiếp xúc với sáu ngoại xứ thì có khởi cái xúc, có thọ khởi lên thì thọ do cái sự hội tụ của ba pháp, sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà có sáu thức. Sau khi ba pháp này hội tụ và giao thoa nhau thì khởi lên thọ do cái nhãn súc sanh, nhĩ súc sanh, tỷ súc sanh, thiệt súc sanh hoặc là thân súc sanh thì vấn đề này do được học rồi thì con cũng thấm và càng thấm.

Sau đó thêm cái ví dụ mà con cũng rất là xúc động và cái ví dụ làm cho nó tỏ lên cái gì được khởi lên hoặc là tạo thành khổ và bị vô thường chi phối, bị hủy hoại chi phối thì cái gì mà sinh khởi sau cái đó nó sẽ là vô thường. Cái ví dụ như cái ngọn lửa có từ cái đèn dầu và cái bất, tất cả chúng Tỳ-kheo Ni hiểu rằng ngọn lửa vô thường, dầu vô thường, cái bất vô thường thì cái ánh sáng của ba cái này khi có mặt nó làm sao thường được là cái ánh sáng mà có từ ba cái ngọn lửa, cái bất và cái đèn dầu. Vì ba cái vật này tạo lên từ cái vô thường thì ánh sáng chắc chắn là vô thường, con cũng hiểu thấm thêm rằng là cái gì khởi lên từ cái vô thường thì chắc chắn là vô thường. Con nghĩ rằng ở trong cái thân thể này cũng do tứ đại được lắp ghép lại thành thân thể này, ngũ uẩn này từng cái chịu hủy hoại từ cái vô thường thì không có bấm chấp vào cái vô thường vì nó sẽ hủy hoại, không có còn nó, không có thường còn được, do đó nghe được cái mỗi ngày thấm thêm thì chắc chắn rằng chúng con sẽ nhàm chán nó từ từ và sinh khởi ra những cái không có thể chấp được ví dụ như là thân bệnh hoạn thì con hiểu rằng cái thân này đến ngày cũng phải bị hủy hoại thì nó có bệnh hoạn là chắc chắn, điều đó làm cho cảm thọ của mình dễ chịu hơn và không có thấy đau khổ khi mình phải chịu đựng cái cảm thọ có lên từ cái chỗ bệnh hoạn vì những cái đó cũng chịu hủy hoại, sự vô thường, sự biến hoại.

Ví dụ như cảm thọ cũng vậy, nếu mà cảm thọ khởi lên hoan hỉ hoặc buồn bực hay là sự chán ghét thì những cái đó cũng do duyên hợp duyên sanh, do xúc của mắt, hoặc là tai, hoặc là xúc của mũi, của thân, vân vân, những cái sinh ra cảm thọ dù cảm thọ đó khổ hay không, lạc hay khổ, hay bất khổ bất lạc thì cũng chịu sự hủy hoại, vô thường và không có bền vững thì mình biết dù cảm thọ gì thì cũng nên nhàm chán. Từ là cái chỗ không có hướng đến thì cái câu con rất tâm đắc những cái phần ví dụ của tôn giả Nandaka trong cái kinh giáo giới Nandaka, con cũng chia sẻ một phần mong quý thầy, quý Ni Sư, quý sư cô dạy dỗ thêm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư cô 5: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni Sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí đồng phạm hạnh. Sáng nay chúng con được nghe sư phụ giảng giải cho chúng con về bài kinh giáo giới ngài Nandaka, con thật là hạnh phúc khi nghe được bài kinh giáo giới này. Bài kinh giáo giới ngài Nandaka đã nhắc nhở cho Ni đoàn mắt này là vô thường hay là thường, tai này là vô thường hay là thường, mũi này là vô thường hay là thường, lưỡi này là vô thường hay là thường, thân này là vô thường hay là thường, ý này là vô thường hay là thường. Câu hỏi này đã cho con nhớ lại một cái nhân duyên tại Linh Quy Pháp Ấn các thầy đã cho đạo tràng thực hành ngay trên thân là từ một đôi mắt sáng trở thành một đôi mắt tối bằng một chiếc khăn bịch mắt để đi khất thực.

Ngay lúc đó khi con bị che một cái miếng vải ngang mắt thì một màu tối đen đã che phủ không còn thấy được gì nữa hết, khi đi khất thực bước chân đi khập khểnh, quờ quạng khi tới bàn để khất thực lấy thức ăn thì mắt cũng không còn thấy được màu sắc thức ăn để nơi nào và phải nhờ vào một người khác giúp đỡ, và múc thì cũng không biết múc như thế nào để bỏ vào tay quờ quạng. Khi múc bỏ vào bát xong trên đường đi về thì phải nhờ một người để giúp đỡ dẫn dắt bước xuống từng bậc thang của Vân Thủy Đường và dẫn vào nơi để ngồi khất thực. Trên đường đi con đã khóc rất nhiều, sự thực hành khi đôi mắt còn sáng chỉ trong giây phút vô thường một miếng vải che ngang thì đã tối tăm không còn nhìn thấy gì nữa và khi ngồi thật để ăn cái tay thì múc không có đụng đến cái bát, múc chỗ này múc chỗ kia rồi cũng không biết để mà đưa vào cái miệng mình nữa.

Lúc đó thức ăn cũng không còn ngon gì nữa mà khởi lên một cái sự đau khổ cho một người mắt vừa sáng mà bây giờ lại bị tối. Tuy chỉ là thực tập thôi nhưng trong con vừa là hạnh phúc để nhận ra sự thật của sự vô thường đôi mắt và có một cái sự khổ khi mình phải thực hành trên cái đôi mắt mình không còn thấy gì nữa. Lúc đó một hình ảnh của một chú ở gần nhà con, khi chú sanh ra thì rất là trọn vẹn nhưng vì một căn bệnh chú đã bị mù đôi mắt, chú phải sống một cuộc đời mù tối và chú phải đi bán vế số để kiếm tiền nuôi sống bản thân. Một ngày đó trên đường chú đi bán vé số chú đã bị tai nạn và chết vì đôi mắt không còn thấy và người chạy xe cũng không nhìn thấy rõ chú nên đã cán chú chết.

Những lời dạy của Đức Phật cho ngài Nandaka đã làm cho con thấy được sự vô thường của đôi mắt này, tuy là đôi mắt của con hiện giờ vẫn còn sáng nhưng con cũng đã thực hành qua là đôi mắt bị vô thường để thấy được sự vô thường của đôi mắt này. Hằng ngày ngủ con luôn niệm trên thân là vô thường sẽ tan hoại bất cứ lúc nào để ngũ uẩn này thoát ra cái sự yêu thích cái thân xác này để hướng đến một đời sống viễn ly, ly tham, đoạn diệt để không còn phải trở lại cái thân vô thường nay còn rồi lại mai không. Con xin tri ân lên sư phụ rất nhiều, sư phụ đã giảng dạy cho chúng con bài giáo giới của ngài Nandaka để chúng con có sự cung kính Đức Phật, cung kính pháp bảo, cung kính chúng Tăng trên bước đường tu tập giải thoát, con xin chân thành lên sư phụ rất nhiều. Trong sự tu học con còn yếu kém, con kính mong trên sư phụ, quý thầy, quý Ni Sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí đồng phạm hạnh chỉ dạy thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính thưa sư thầy cùng sư cô, các bạn, các huynh đệ thương mến, con xin chia sẻ khi nghe được bài kinh giáo giới vừa qua. Trong hành là suy nghĩ của con đang dự đoán cái cốt lõi của bài này là tôn giả Nandaka muốn chỉ ra cái điểm để Ni được dễ học tập, đó là sáu căn, sáu trần, những thứ này đều là không thật, đều là vô thường, hoại diệt, đừng có chấp vào. đừng có dính vào. dính vào thì đau khổ vì cái này sanh thì cái kia sanh, cái này diệt thì kia cái kia diệt cho nên đừng có dính vào là giảm bớt đau khổ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư cô 6: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin được cung kính đảnh lễ trên sư phụ bậc ân sư tôn kính, con xin được cung kính đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Sáng nay con được lắng nghe bài giảng của sư phụ về bài kinh giáo giới Nandaka, khi được đọc bài kinh này thì trong con có được một cái sự rất là biết ơn sâu sắc với di mẫu Kiều-đàm-di bởi vì ngay khi đầu bài giảng thì sư phụ có nhắc đến di mẫu thì dòng cảm thọ trong con rất là xúc động. Nếu như Ni chúng chúng con không được nhờ ân đức của ngài thì Ni chúng chúng con không có được cái hình tướng của người xuất gia, nghĩ đến đó thì tự nhiên sự biết ơn trong con dạt dào đối với di mẫu.

Cái hình ảnh mà ngài phải đi vượt rất là nhiều con đường rất là dài để đi đến tịnh xá gặp Đức Thế Tôn để xin được xuất gia, lúc đó Đức Thế Tôn cũng không có cho nữ giới xuất gia. Nhưng nhờ ân đức của ngài A-nan đã giúp cho Đức Thế Tôn cho nữ giới chúng con được xuất gia, điều này đối với con rất là thiêng liêng và rất là tối thượng trong con. Giây phút này thì con đang ở rừng trúc nhắc nhớ chúng con đến Trúc Lâm tinh xá, bài kinh miêu tả lại cuộc sống của Tăng đoàn thời Đức Thế Tôn, những cái buổi luận thuyết, trao đổi với nhau về chánh pháp và hình ảnh của bát kỉnh pháp vẫn được hiển hiện, vẫn được thực hành trong suốt thời gian Đức Thế Tôn còn tại thế. Cái hình ảnh mà Ni giới chúng con được giáo giới bởi bài pháp của các vị thánh đệ tử làm cho con rất là trân quý và từng lời rất là đơn giản.

Con đọc được cái câu kinh mà tôn giả bát kỉnh Pháp nói với Ni chúng chúng con "này các hiền tỷ, các hiền tỷ suy nghĩ như thế nào mắt này là thường hay vô thường", tự nhiên con cảm thấy rất là hạnh phúc bởi vì đời sống của Tăng đoàn thật là thiêng liêng, những gì được trao đổi, được đàm luận với nhau là dìu dắt và đưa chúng con về sống với sự thật, luôn nhắc nhở chúng con là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là vô thường và cái gì vô thường là khổ, cái gì khổ thì có hợp lý chăng khi mà chúng con nghĩ rằng đây là của chúng con, đây là chúng con và đây là tự ngã của chúng con. Những cái câu kinh rất là bình dị, rất là giản đơn nhưng là một sự thiêng liêng và quý giá đối với chúng con đã cách gần 2600 năm mà những cái lời kinh này khi chúng con được đọc cho chúng con một cái cảm xúc rất là dạt dào, những điều mà chúng con khi mà vô minh phủ trùm chúng con không thấy được cái giá trị, chúng con sống với vô minh mà chúng con không hề nhận ra. Chính những cái lời kinh thật là bình dị, giản đơn này nhưng nó chứa cả một cái trí tuệ, chứa cả chân lý đưa chúng con về hiện thực, sống với sự thật của cái thân này là vô thường và sáu ngoại xứ là sắc, những âm thanh, những hương thơm, những mùi vị, những sự xúc chạm và các pháp cũng đều là vô thường và sáu thức cũng là vô thường.

Khi mà con được nhắc tới hai từ vô thường nó không gói ghém trên con chữ mà ngay lập tức con liên tưởng đến những gì mà chúng con được về Linh Quy được sư phụ an trú cho chúng con vào chánh pháp mỗi ngày. Những hình ảnh mà chúng con được quán chiếu về sự thật, những hình ảnh ấy nó hiện khởi trong con, nó sống động trong con và những câu chuyện của đời thường mà chúng con được nghe, được thấy hằng ngày và cũng được áp dụng vào quán chiếu trên tự thân của chính chúng con mỗi ngày, từng phút, từng giây này, thì hai chữ vô thường đối với chúng con nó thiêng liêng, nó vô giá và nó tối thượng. Nó cho chúng con một cái niềm hạnh phúc thật là biết ơn đến Đức Thế Tôn, đến giáo pháp ly tham của ngài cũng như các vị thánh đệ tử của Đức Thế Tôn. Chính nhờ trí nhớ siêu việt của ngài A-nan đã lưu giữ lại tạng kinh, những lời dạy nguyên gốc và những sự thực hành của các vị thánh đệ tử đã thành tựu đã làm tấm gương để cho chúng con mãi noi theo.

Chúng con đã cách Đức Thế Tôn quá xa nhưng chúng con rất là hạnh phúc, rất là diễm phúc vì ngay trong thực tại này đời sống của chúng con nhìn, con cảm nhận như là chúng con đang được sống vào thời của Đức Thế Tôn, được dự trong pháp hội của Đức Thế Tôn mỗi ngày. Từ lúc chúng con thức dậy cho đến khi chúng con đi vào giấc ngủ thì những thời gian chúng con được tiếp xúc là những lời dạy nguyên gốc của Đức Thế Tôn giúp cho chúng con khai mở được đôi mắt tuệ của mình, và dùng ánh sáng trí tuệ của Đức Thế Tôn để soi sáng vào cái tâm vô minh tăm tối, cái tâm mê luôn phủ trùm chúng con để chúng con quán chiếu rằng chúng con luôn nhớ trong tâm rằng mắt này là vô thường thì lập tức hình ảnh của ông Năm lại hiện khởi trong con.

Đó là sự thật để chúng con biết rằng khi chúng con còn được ánh sáng là cả một sự hạnh phúc. Khi con đi ngang chỗ ông Năm con nhìn ông ngồi, hay là ông đứng, ông đi thì ngay lập tức con cũng nhắm đôi mắt lại để con cảm nhận được là ông phải sống trong bóng tối không có ánh sáng, nhưng ông Năm cũng là tấm gương sáng cho chúng con bởi sự an lạc của ông Năm cũng là một cái tấm gương sáng để cho chúng con nhìn thấy vào đó. Tuy đôi mắt ông mù nhưng mà nhờ ánh sáng, nhờ chánh pháp những lời dạy nguyên gốc của trong kinh tạng Nikāya giúp cho ông có được một cái tâm hồn cảm nhận được pháp và giúp cho cuộc sống của ông được an lạc. Đó là một sự sách tấn cho chúng con rất nhiều trong những câu chuyện mà con được lắng nghe, được tiếp xúc trong cuộc sống này, ngày xưa thì con còn nhìn thấy ở đó là một con người là người này người kia nhưng từ khi con được trở về Linh Quy thì những câu chuyện mà con được nhìn thấy hay con được lắng nghe thì con luôn tập đặt mình vào trong đó giống như câu chuyện con của cô Thảo, cậu bé 14 tuổi.

Khi con được nhìn thấy hình ảnh của chú vô thường, một cậu bé với sức sống tràn đầy như thế mà sau nửa tiếng đồng hồ thì trở thành một thân thể bất động, lạnh ngắt, xanh rờn. Ngay lập tức con có sự chấn động trong tâm, nhắc cái tâm mê con rằng vô thường đến bất kỳ lúc nào, bất thình lình đến với con bất kỳ lúc nào không hề có tuổi tác, không phải còn trẻ là cái vô thường nó không đến và nhờ những câu chuyện sống động ấy nhắc con rằng khi con được còn an trú được trong pháp, được sống ở Linh Quy đó là phước báo vô lượng cần phải cố gắng nỗ lực nhiều hơn, cần phải an trú trong pháp nhiều hơn.

Và điều mà con rất là cảm ơn là khi con đọc được những bài kinh với lời dạy nguyên gốc của Đức Thế Tôn thì những cái cảm xúc như đưa con được trở về với thời của Đức Thế Tôn và con thật sự là rất cảm ơn Tăng đoàn tại Linh Quy, chư tôn thiền đức luôn cho con một cái cảm nhận rằng con được sống trong thời của Đức Thế Tôn, chiếc Y Vàng đối với con nó thiêng liêng và nó luôn là động lực cho con để sách tấn cái tâm mê này không có cho phép mình buông lung, không cho phép mình phóng dật và càng phải nỗ lực hơn trong những tháng qua. Thời gian con càng đọc kinh thì con càng cảm thấy lòng biết ơn đối với tam bảo là vô hạn vô lượng.

Khi con tiếp xúc những lời dây nguyên chất của Đức Thế Tôn những cái lời kinh thật là bình dị nhưng khi con đọc vào nó cho con những cái cảm xúc, con cảm nhận được cái kiếp nhân sinh này khi mình được làm một thân con người mà mình được chạm vào chánh pháp của Đức Thế Tôn thì cái cuộc sống của mình có ý nghĩa, nó thiêng liêng và nó là vô giá. Nếu chúng con không được tiếp xúc những lời dạy nguyên gốc này thì chúng con không biết là mình sẽ sử dụng cái thời gian quý báu trong cái kiếp nhân sinh này để làm những việc vô nghĩa. Khi con chiêm nghiệm về hai từ vô nghĩa thì nó càng giúp cho con sanh khởi được một cái dòng cảm thọ là con càng trân quý cái thời gian mà chúng con được sống, được hiện hữu. Hiện hữu đây không phải để trôi qua lãng phí mà nó giúp cho con trân quý trong từng phút, từng giây, bởi vì từng lời dạy của Đức Thế Tôn luôn luôn đưa chúng con về với cái thực tại. Chính cái điều đó làm cho chúng con thấy giá trị trong từng phút, từng giây, trong từng hơi thở mà chúng con được có trong cái sinh mạng này là chúng con phải biết trân quý bởi vì một phút kế tiếp của tương lai chúng con không biết rằng chúng con sẽ như thế nào.

Khi con nhìn những cái chú gà đi vô trong thiền đường thì ngày xưa nhìn con gà thì con thấy chỉ là con gà nhưng bây giờ khi an trú được trong lời dạy của Đức Thế Tôn thì khi con nhìn hình ảnh của chú gà thì ngay lập tức nhắc con rằng nếu không cố gắng tu hành, không cố gắng nỗ lực để nhiếp phục cái tâm mê này thì hình ảnh đó, một phút của kế tiếp có thể con sẽ là con gà đó. Chính vì những cái suy nghĩ như thế, hay là con nghe thấy tiếng chó sủa, hay là nguyên một đàn chó, hay là những con côn trùng thì lúc nào con cũng có một cái nỗi sợ, sợ rằng mình không nỗ lực tinh tấn để nhiếp phục cái tâm mê này thì những hình ảnh đó sẽ là cái kiếp kế tiếp của con. Con không muốn cái điều đó và nếu như con không muốn cái điều đó thì con càng phải nỗ lực hơn, chính những cái lời dạy trong bài kinh mà chúng con được tiếp xúc và được sư phụ giảng dạy cho chúng con mỗi ngày là những cái phương pháp vô giá cho chúng con, chỉ cần chúng con lắng nghe và đặt tâm mình vào trong đó lắng nghe với toàn tâm toàn ý và trân quý từng lời dạy của Đức Thế Tôn, cố gắng để tâm mình thực hành thì khi chúng con thực hành được một phần nào đó là ngay lập tức lợi lạc cho chúng con ở cái phần đó liền.

Con rất là cảm ơn những bài giảng cũng như những bài kinh mà chúng con được học, đó là những cái dòng cảm xúc mà khi được con tiếp xúc với lời kinh. Do là con chiêm nghiệm thời gian cũng rất là ít mà trí nhớ con không nhớ về lời kinh nhiều nên con chỉ có được bao nhiêu cảm thọ và con kính trình lên sư phụ cũng như là chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí, xin hãy chỉ nhiều hơn nữa để trên con đường tu hành con vững bước và con có thể đền ơn được thâm ân vĩ đại trên Đức Thế Tôn, thâm ân vĩ đại của tam bảo, của bậc đạo sư, của bậc ân sư tôn kính cũng như chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Thầy Thiện Huệ:

Con chân thành đảnh lễ

Phật Thích Ca Mâu Ni

Đời này con xin nguyện:

“Thấy biết rõ ngũ uẩn,

Thấy biết rõ tự thân,

Thành tựu chánh tri kiến,

Thể nhập vào Thánh quả,

Con nguyện xứng đáng là

Người con Phật chân chánh”.

Con xin đảnh lễ Ngài

Phật Thích Ca Mâu Ni

Bậc đoạn tận tham ái,

Bậc đoạn tận sợ hãi,

Tâm Ngài không dao động,

Tâm không nhiễm thế gian.

Con xin đảnh lễ Ngài

Phật Thích Ca Mâu Ni

Bậc Vô Thượng giải thoát

Ngài là thầy của con

Ngài - vị dẫn đường con

Ngài - vị con quy ngưỡng

Con chân thành quy hướng

Đảnh lễ bậc Vô Thượng

Đảnh lễ bậc Chánh Giác

“Con xin quy phục Ngài,

Con xin làm đệ tử,

Làm con ngoan của Ngài”.



“Con xin quy phục Pháp,

Quy phục Pháp Tám Đúng,

Nguyện thành tựu Tám Đúng”.

“Con xin tôn kính Tăng,

Tôn kính đời Giới Đức,

Nguyện thành tựu Giới Đức”. (Nghi Thức Tu Học Nikāya)

Bạch Thế Tôn con cảm thấy không bao giờ vừa đủ khi được thấy Thế Tôn, con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc.

Bạch Thế Tôn con cảm thấy không bao giờ vừa đủ khi được nghe diệu pháp, con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc.

Bạch Thế Tôn con cảm thấy không bao giờ vừa đủ khi được hầu hạ phục vụ chúng Tăng, con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc.

Sư cô Tuệ Quý: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, con kính thưa quý Ni Sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Sau khi con được đọc, được nghe, được sư phụ giảng giải và chiêm nghiệm bài kinh giáo giới Nandaka con rút ra những bài học cho chính tự thân mình, bài học thứ nhất đó là bài học về lòng tri ân, biết ân, niệm ân đức thánh Kiều-đàm-di, nhờ có sự thỉnh cầu của thánh mẫu lên Đức Thế Tôn "bạch Thế Tôn xin hãy giáo giới Tỳ-kheo Ni, bạch Thế Tôn xin hãy giảng dạy cho Tỳ-kheo Ni, bạch Thế Tôn xin hãi thuyết pháp cho Tỳ-kheo Ni". Do lời thỉnh cầu này mà chúng con được nghe những lời giáo giới của tôn giả Nandaka đó là bài học thứ nhất về niệm ân đức của thánh mẫu.

Bài học thứ hai đó là con cảm nhận được lòng từ bi của Đức Phật đối với các vị thánh Ni thời Đức Phật, không chỉ có tôn giả Nandaka mà có rất nhiều vị tôn giả khác vì qua bài kinh con cảm nhận là Đức Thế Tôn chỉ dẫn cho các vị tôn giả luân phiên giáo giới cho Tỳ-kheo Ni. Bài học thứ ba đó là bài học về sự cung kính của các vị Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật đến với các vị chư Tăng qua việc chuẩn bị sửa soạn đón tiếp tôn giả Nandaka đến giáo giới. Bài học thứ tư đó là bài học mà con cảm nhận được Tăng đoàn thời Đức Phật là một Tăng đoàn trang nghiêm, thanh tịnh, hòa hợp và gặp nhau chỉ trong chánh pháp, đàm luận về pháp mà thôi. Bài học thứ năm đó là bài học cốt lỗi trong lời giáo giới của tôn giả Nandaka chính là bài học mà tôn giả Nandaka muốn nhắc nhở cho các Tỳ-kheo Ni, đó chính là dao bén thánh trí.

Dao bén thánh trí đây chính là sự vô thường, khổ và vô ngã. Chính con dao thánh trí này mới chặt đứt mắt xích của chuỗi duyên sanh sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư. Chỉ có con dao thánh trí này mới chặt đứt được cái dòng mắt xích này mà thôi, điều đó cũng là thông điệp đến với chúng con trong việc tu tập trong dòng pháp Nikāya này. Trên cái đạo lộ tu tập giải thoát phải luôn luôn nắm giữ trong tay con dao sắc bén này, con dao thánh trí về sự vô thường, khổ, vô ngã để trên con đường tu tập giác ngộ giải thoát không có bị lầm lạc. Chỉ có như vậy thì sự đau khổ của chúng con và tất cả chúng sanh trên hành tinh này mới chấm dứt và bài học cuối cùng con cảm nhận được trong bài kinh này là sau cái việc giáo giới của tôn giả Nandaka thì vị Tỳ-kheo Ni cuối cùng trong năm vị Tỳ-kheo đã chứng quả vào dự lưu.

Đó là tấm gương để cho chúng con học hỏi trên con đường tu tập của mình hướng đến và lời cuối cùng là con tri ân lên sư phụ sư phụ cũng vì tình thương đến với Ni chúng Linh Quy mà vẫn thường xuyên giảng dạy cho chúng con. Con tri ân sư phụ rất nhiều. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Ni sư: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên quý thầy, quý Ni Sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Hôm nay con được nghe bài kinh của sư phụ giảng về bài giáo giới Nandaka trong con một cảm thọ khởi lên rất là hoan hỉ, về ngược thời gian cách đây gần 2600 năm Đức Thế Tôn đã dạy ngài Nandaka giáo giới cho chúng Tỳ-kheo Ni. Những hình ảnh này đã hiện về chính nơi đây, chúng con thật là hoan hỉ, thật là phấn khởi khi được sống một trong một cái Tăng đoàn mà hiện tại nơi Linh Quy Pháp Ấn này đã được tái hiện trở lại và con thấy giữa Tăng chúng và Ni chúng có sự hòa hợp với nhau, có sự kính trọng với nhau, có sự thương yêu với nhau và ngồi lại với nhau để nói về chánh pháp. Và sư phụ là người rất là khéo léo, rất là thiện xảo, luôn luôn chỉ dạy cho chúng con về các pháp là vô thường.

Qua bài kinh giáo giới Nandaka thì ngài Nandaka cũng hỏi các vị Tỳ-kheo là mắt; tay; mũi; lưỡi là thường hay vô thường, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp là thường hay vô thường thì các vị trả lời là vô thường, cái gì vô thường là khổ, biến hoại, chịu sự biến hoại, tan nát thì khi bước vào dòng chánh pháp này sư phụ cũng luôn luôn dùng cái thánh trí để chỉ cho chúng con thấy được ngũ uẩn này là vô thường. Chính vì nhìn nhận ra ngũ uẩn này là vô thường, mắt; tai; mũi; lưỡi; này là vô thường, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp cũng là vô thường thì nhờ vậy mà chúng con nhìn vào tự thân tâm của mình thì càng sáng tỏ ra. Khi nó đã vô thường thì nó không còn sự cố chấp, không còn sự chấp chặt và con chiêm nghiệm tự thân con khi học như vậy, hành trì như vậy, thực hành như vậy thì khi ai làm cho mình buồn phiền thì mình khởi lên một cái cảm thọ chịu, dễ chịu, không dễ chịu không khó chịu thì mình nhận ngay ra đó là vô thường. Lúc đó thì mình có pháp như lý tác ý rất là vi diệu.

Con chiêm nghiện của tự thân con thì mỗi khi ai ghét con hay là chỉ trích con thì trong con không có buồn phiền, không có sân hận. Con nhìn tất cả mọi người không ai có lỗi hết, chỉ có một người duy nhất có lỗi chính là tự ngã của con, nó hành hạ, nó đay nghiến thì mình cố gắng tu tập để thoát ra bằng cách con quán chiếu quán con nai bị con linh cẩu moi ruột ra ăn thì con như lý tác ý "nhà ngươi muốn làm người hay là muốn làm súc vật, muốn làm câu linh cẩu kia ư? Nếu muốn làm người thì phải cố gắng tu tập để thoát ra nhờ cái dao sắc bén mà sư phụ chỉ dạy". Lúc đó trong con rất là hoan hỉ và khi con buồn phiền việc gì đó hoặc là ai đó thì con nhìn vào tự thân của mình cầu nguyện cho những vị nào ghét con, làm cho con buồn phiền, con cầu nguyện cho những vị ấy được mau thành tựu thánh đạo.

Nhiều người hỏi tại sao người ta làm phiền mình mà sao mình cầu họ đến cái quả ngon lành vậy thì con mới trả lời, vì mình cầu như vậy thì người ta không có tìm mình nữa, bởi vì người ta thành thánh đạo rồi, thành đạo quả thật rồi thì người ta không tìm mình nữa, chứ nếu như người ta vào địa ngục thì cái tâm sân hận của người ta nổi lên người ta tìm mình nữa rồi mình trả nợ tới kiếp nào đây. Cứ như thế con tu tập và như lý tác ý và cái hình ảnh trong bài kinh thật là ấn tượng, thật là sâu sắc, là một vị đồ tể cắt con bò ra từng thân phần rồi đem cái da của con bò đắp lại là con bò. Con thấy sư phụ chỉ ra cho chúng con thấy một sự rất là rõ ràng, rất là minh bạch và những miếng thịt thiệt đó là chỉ cho nội xứ, miếng da đó là chỉ ra ngoại xứ, những dây gân đó là chỉ cho tham ái, chỉ cho tham, hỷ, dục thì chúng con nhìn ra và thấy những cái này là nó vô thường, nó không là của mình, không là gì của mình hết.

Vì vậy trong thời gian sư phụ giảng dạy thì con nhớ lại khi mẹ con mất cũng vậy, trong con không hề buồn, không hề luyến tiếc. Khi bà mất trên tay con thì con biết đây là vô thường mà Đức Phật nói rằng là chết là phước báo đang dành đợi ai, nếu con luyến tiếc, buồn phiền thì con nhìn vào cảm thọ của mình và con thấy mình còn ác lắm. Bởi vì sao? Mình đã muốn thoát khỏi cái thân vô thường này tại sao mình lại bắt mẹ mình phải mang cái xác thân ngũ uẩn vô thường này để làm gì, để cho nặng nề như vậy. Khi con thiền quán tới đó thì bà nhắm mắt ra đi trong sự rất là thanh thản, nhẹ nhàng và con cũng thấy cái sự ra đi của bà không ai buồn phiền, không ai luyến tiếc mà gia đình con cũng chúc cho bà đi an lạc, nhẹ nhàng. Trong cái hình ảnh nữa là cái đèn dầu và một cái cây cổ thụ, bộ rễ cũng vô thường, cành lá cũng là vô thường, cái lõi cây cũng là vô thường thì cái ánh sáng đó làm gì thường còn.

Khi quán thấy cái sự vô thường như vậy thì con rất là lo âu vì giờ này chúng con còn được ở đây, được nghe sư phụ nói, một mai sư phụ không còn trên cõi đời này nữa thì chúng con luyến tiếc, hối hận ánh sáng đã dập tắt vì vậy mà cố gắng lo hành trì, lo tu tập, không dám buông lung phóng dật. Và một điều hy hữu cho Ni chúng con không có một nơi nào mà có Ni chúng hòa hợp như vậy, không có một nơi nào mà có chư Tăng luôn luôn chỉ dạy và giáo giới cho chúng con. Thật là hạnh phúc thay, thật là hy hữu thay cho chúng con đến giờ này mà phước duyên nào đó Ni chúng chúng con đã được tề tụ về đây tu tập dưới sự hướng dẫn của sư phụ, với thầy Thiện Huệ, với quý thầy và con đọc trong kinh con có thấy một đoạn Ni chúng xuất gia thì giáo pháp sẽ giảm năm trăm năm.

Con ngồi suy tư con hỏi vì sao mà Ni chúng lại là tu tập mà làm cho chánh pháp giảm năm trăm năm thì con thấy rất là rõ ràng vì lòng thương tưởng Ni chúng chúng con mà sư phụ và chư Tăng nơi này đã dành thời gian quý báu của mình thay vào đó quý ngài nhập thất tu tập để mau thành tựu chánh quả. Nhưng vì chúng con quý ngài phải ra giáo giới, quý ngài phải làm Ni xá cho chúng con ở, quý ngài phải làm toilet và những cái sự sinh hoạt. Chính những cái đó làm mất thời gian của quý ngài thì chúng con không biết lấy gì hơn để đền đáp quý ngài, nguyện ra sức cố gắng tu tập để hành trì chánh pháp, tu tập chánh pháp và tùy pháp để không phụ lòng quý ngài.

Một lần nữa con xin tri ân đến Đức Thế Tôn, tri ân đến các vị thánh đệ tử, tri ân đến bậc đạo sư, tri ân đến sư phụ, tri ân đến quý thầy đã ngày đêm chăm lo và bảo vệ, dẫn dắt chúng con trên bước đường tiến tu đạo nghiệp và một vầng trăng đã chói sáng bằng cái thánh trí huệ để chúng con nhận biết tất cả các pháp đạo là vô thường, để chúng con thoát ra và trong Ni chúng thời Đức Phật là năm trăm vị Ni chúng đều chứng quả và một vị cuối cùng cũng vào được dự lưu thì con mong đến ngày cuối đời Ni chúng tại Linh Quy Pháp Ấn này cũng tiếp theo chân của quý ngài. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Thầy Thiện Huệ: Qua lời Ni Sư chia sẻ đại chúng thấy xúc động không? Hạnh phúc không? Khi con vừa vào cái bài kinh Nandaka thôi Đức Thế Tôn có nhắc đến dì mẫu Mahapati Gotami – Maha Ba-xà-ba-đề làm trong con cũng dâng lên những cảm thọ, dùng những cái thọ, cái tưởng của mình, suy nghĩ của mình hồi tưởng, mình nhớ về những cái hình ảnh Ni đoàn thầy đó. Dì mẫu cũng là ở trong cung vàng điện ngọc, cũng hưởng biết bao nhiêu là những cái thú vui, ngài muốn cái gì mà không có nhưng khi Đức Phật về cảm hóa thì ngài cũng dẫn theo hàng năm trăm người hầu, đường xá xa xôi, đầu trần chân đất để chúng mình nghĩ lại đi, đó là nữ nhi, người nữ mà đi như vậy, chân nhiều khi đạp gai, đạp miểng rồi chảy máu, đến gặp Thế Tôn cầu thỉnh ba bốn lần.

Bên cạnh đó chúng ta cũng nhớ đến ngài Ananda, nhờ ngài Ananda đến cầu xin Thế Tôn ba bốn lần như vậy, đi ra đi vào xin, năn nỉ, cuối cùng Thế Tôn đồng ý nhưng mà với điều kiện là Ni chúng được thành lập là phải có bát kỉnh pháp. Dì mẫu chấp nhận bát kỉnh pháp thì Đức Phật mới cho xuất gia thành lập Ni đoàn, cuối cùng vì mẫu rất là hoan hỉ, rất là hạnh phúc chấp nhận bát kỉnh pháp. Con mong rằng bên ni chúng chúng ta hãy tôn thờ bát kỉnh pháp, đội lên đầu bát kỉnh pháp, nhớ giữ gìn bác kỉnh pháp vì con nghĩ đây là cả một cái tình thương của Đức Thế Tôn hướng về Ni đoàn cũng như là cả một cái tâm của ngài Ananda giúp cho chúng Ni được thành lập. Những hình ảnh ngài Ananda đến cầu xin Thế Tôn mình dùng cái tưởng mình nghĩ ngài Ananda chắc ngày xưa rất là hiền, nhã nhặn, hiền thiện, những cử chỉ của ngài Ananda rất là tốt đẹp, oai nghi, tế hạnh của ngài, không những ngài Ananda quan tâm đến người nữ mà rất, rất là nhiều các vị Tỳ-kheo thời xưa cũng quan tâm đến người nữ, tất cả vị lòng từ mẫn muốn giúp cho Ni chúng tu học.

Đó là một cái hình ảnh rất là đẹp để chúng ta hồi tưởng lại những cái ân đức của Thế Tôn, của ngài Ananda cũng như là Dì mẫu. Con mong rằng đại chúng ta bên Ni chúng luôn luôn giữ gìn, tôn trọng, cung kính bát kỉnh pháp vì đây là giúp cho Ni đoàn của mình được trường tồn lâu dài. Điều thứ hai trong bài kinh dùng cái từ hiền tỷ cũng là muốn nhắc nhở mình lúc nào cũng phải luôn luôn an trú trong một cái tâm hiền thiện, giữ cái tâm hiền, đừng cho mất tâm hiền là tai họa đến với mình, mất tâm hiền là sân si, phiền não đến với mình liền. Phải tôn thờ cái tâm hiền, tôn kính cái tâm hiền, thọ trì cái tâm hiền, thành tựu được cái tâm hiền. Một vấn đề nữa trong bài kinh Nandaka con cảm nhận được ngài Nandaka thuyết pháp cho Ni chúng, chúng Tỳ-kheo Ni cái chính vẫn là muốn giúp cho Ni chúng phá vỡ đi những cái sự chấp thủ đối với căn, trần và thức, đối với mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý và sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp bên ngoài. Đừng có xem những thứ đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi cho nên ngài Nandaka mới hỏi các chư Tỳ-kheo Ni:

"-- Các Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Mắt là thường hay vô thường?

-- Thưa Tôn giả, vô thường.

-- Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?

-- Thưa Tôn giả, là khổ.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi xem cái ấy: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?

-- Thưa không vậy, Tôn giả.

-- Các Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Tai là thường hay vô thường?... Mũi là thường hay vô thường?... Lưỡi là thường hay vô thường? Thân là thường hay vô thường?... Ý là thường hay vô thường?

-- Thưa Tôn giả, vô thường

-- Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?

-- Thưa Tôn giả, là khổ.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?

-- Thưa không vậy, Tôn giả." (Trung Bộ Kinh, 146. Kinh Giáo giới Nandaka

Có nhiều bài kinh Đức Phật nói về ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức là thường hay là vô thường, các Tỳ-kheo trả lời bạch Thế Tôn nó là vô thường nhưng bài kinh Nandaka này vị Tỳ-kheo này hỏi Chư Ni là nói về cái khía cạnh khác, nói về căn - trần - thức, nó cũng nằm trong ngũ uẩn hết, nó không có ra khỏi ngũ uẩn để chúng ta tập trung quán chiếu làm sao để phá đi những cái đó, đừng có cho sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư này là của mình, là mình là tự ngã của mình, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Do đó nhiệm vụ của chúng ta mỗi ngày pháp hành là mình phải gỡ từng cái ra, gỡ con mắt này xuống, đừng có cho con mắt này là của tôi, là tôi là tự ngã của tôi, gỡ xuống, gỡ những cái suy nghĩ luôn, cho cái con mắt này là tôi, là của tôi gỡ nó xuống. Khi con mắt mình tiếp xúc với các sắc mình xem coi nó có kiết sử trói cột không, tiếp xúc với sắc xem có kiết sử sanh khởi không, có dục, có tham, có ái trói buộc mình không. Nếu có mình phải như lý tác ý đánh đuổi, gỡ nó từ từ ra.

Bậc đạo sư có dạy chúng ta mỗi ngày mắt mình tiếp xúc với sắc, tai mình nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nhận thức các pháp thì xem coi nó có sợ dây tái sanh không, nó có dục, có tham, có lòng dục, lòng tham, lòng hỷ, lòng khát ái đối với con mắt này không, đối với lỗ tai này không hay mình nói gọn lại đối với ngũ uẩn này không. Nếu có mình phải tác ý gỡ ra từ từ, xem coi trong một ngày sợ dây tái sanh của mình nó như thế nào, nó nhiều hay là nó ít, nó giảm rồi bằng cách chúng ta phải thường xuyên quán bất tịnh, quán tứ đại, quán chín giai đoạn của một tử thi, quán bọt nước. Tất cả những pháp quán mà sư phụ đã hướng dẫn, đã chỉ dạy cho đại chúng bằng những gì mình học, mình hiểu, mình thực hành được, vận dụng hết sức mình để đánh phá, tập trung vào phá thân kiến.

Một cái điểm nữa rất là quan trọng mà nãy đại chúng quên không ai nhắc hết, cái này quan trọng lắm, đây cũng là cái định lý, đây cũng là cái cốt lõi, tất cả người tu chúng ta phải hướng đến cái này đó là tu tập thất giác chi y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, xa rời, viễn ly. Xa rời những cái lòe loẹt của thế gian, xa rời đối với những cái sắc; thanh; hương; vị; xúc bên ngoài, xa rời đối với ngũ uẩn vì ngũ uẩn là vô thường, nó khổ đau, nó bất tịnh, nó là duyên sanh, nó là thứ lắp ráp, nó là thứ phiền não, nó là thứ đau khổ. Mình có cái tâm hướng xa lìa, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, ly tham đối với ngũ uẩn, đối với mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, đối với căn - trần - thức – xúc - thọ - ái, xa lìa, nhàm chán, hướng đến sự đoạn diệt hết tất cả những cái dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã đối với ngũ uẩn và mình có hướng đến cái sự từ bỏ, chấm dứt, đoạn diệt khát ái, thành tựu tâm giải thoát, đoạn diệt vô minh, thành tựu tuệ giải thoát và mình an trú trong cái sự thấy biết của bậc thánh, thượng nhân pháp hoặc là những tri kiến thù thắng của bậc thánh.

Đó là thấy ngũ uẩn, thấy được sự vận hành của dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, đó là những nguyên nhân làm cho mình đau khổ, mình thấy được cái tính chất lắp ráp, vô thường, khổ đau, trống rỗng, duyên sanh, thấy được cái ung nhọt, cái tật bệnh, cái mũi tên. Thấy ngũ uẩn này là trống rỗng, là hoại diệt, thấy được những điều đó là cái thấy của bậc thánh, tri kiến của bậc thánh, thượng nhân pháp, là pháp của những người cao thượng, tức là nhiếp phục và đoạn tận vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn, đoạn tận dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã đối ngũ uẩn. Đó là pháp của những con người cao thượng cũng là tri kiến thù thắng xứng đáng của bậc thánh cho nên đại chúng để ý có nhiều bài kinh chúng ta thấy các thầy Tỳ-kheo ngày xưa đến lúc gần lâm chung nếu có Thế Tôn hoặc là các bạn đồng phạm hạnh đến khai thị, hướng dẫn là đại đa số các ngài nói phá mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, phá căn - trần - thức cũng như tôn giả Xá-lợi-phất hay là Mục-kiền-liên đến nói với ông Cấp-cô-độc con mắt này là vô thường không phải của ông, nói về căn - trần - thức, rất là nhiều bài kinh chúng ta để ý cái phần đó để mình thực tập.

Một cái điểm quan trọng nữa trong bài kinh có nhấn mạnh ba cái ví dụ như các Ni sư cũng như các đồng phạm hạnh hồi nãy có nói, đó là ví dụ về cái đèn dầu, về cái cây, về mổ con bò. Tất cả những cái đó tháo gỡ cho chúng ta để chúng ta phá đi khi căn tiếp xúc với trần, thức, xúc, thọ, nó sanh ra ba cảm thọ đó là cảm thọ khổ, cảm thọ dễ chịu, cảm thọ khó chịu hay là cảm thọ không dễ chịu không khó chịu. Mình đừng có cho những cảm thọ đó là mình, là của mình mà cảm thọ này là vô thường, là duyên sanh bởi vì những cảm thọ đó có được là do có cái thân này, mà cái thân này là bốn đại tác thành do cha mẹ sanh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, cái bản chất cái thân này là vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, thì cái thân này là nó vô thường mà cái cảm thọ này có được là do từ cái thân này, cái thân vô thường thì cái cảm thọ nó sanh ra làm sao mà thường được. Nó chỉ là một chuỗi duyên sanh pháp, lắp ráp, kết hợp để mình phá vỡ đi những cái cảm thọ mình cho là tôi, là của tôi.

Đức Phật dạy mình tách ra tách cảm thọ là cảm thọ, không phải là mình. Đó là bước đầu tiên tách ra cảm thọ, cảm thọ không phải là mình, bước thứ hai là mình xem trong những cảm thọ đó có tham, có sân, có si không, có dục, có ái trong đó không, bước thứ ba nữa mình quán trong cái cảm thọ vui đó Đức Phật dạy mình quán cảm thọ lạc đó khổ, cảm thọ khổ quán là mũi tên, cảm thọ bất khổ bất lạc quán vô thường. Cuối cùng Đức Phật tóm lại câu "phàm tất cả thọ đều nằm trong đau khổ". Nói tóm lại trong bài kinh Nandaka để chúng ta tập trung chú ý đánh phá thân kiến, căn - trần - thức – xúc - thọ - ái - thủ, đánh phá những cái đó theo một chuỗi duyên sanh pháp dài dài mà chúng ta đã học tập. Mình nghe lại những cái bài quán chiếu để tập trung phá thân kiến thì con rất mong rằng những gì nãy giờ con chia sẻ thì con cũng được học từ sư phụ, cũng được nghe sư phụ giảng, chia sẻ lại nhắc nhở lại cho đại chúng. Mong đại chúng chúng ta cố gắng tinh tấn tu học để hướng thượng.

Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này.

Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần và dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài.

Mong tất cả có được trí tuệ thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện sự an lạc, bình an, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.

./.