Pháp Đàm - Tăng Ni Diễn Giảng
PHÁP ĐÀM NIKĀYA
TĂNG NI DIỄN GIẢNG
–Thích Minh Thành–
Để chuẩn bị chúng ta thi diễn giảng thì chúng ta có tổng cộng là sáu chủ đề. Chủ đề đầu tiên chúng ta là ý nghĩa Phật Đản, vì cái tư liệu thì nhiều lắm nhưng mà ở đây thời giờ chúng ta rất ngắn cho nên mỗi một cái chủ đề con sẽ đưa ra cho quý vị một bài kinh để quý vị lấy làm cái nguồn tư liệu và con sẽ chỉ chỗ để quý vị lấy tư liệu. Có rất là nhiều tư liệu ở trong cái phần phân loại kinh tạng Nikāya theo chuyên đề, ý nghĩa Phật Đản thì thông thường chung chung chúng ta đã biết rồi cho nên con chỉ đưa những cái điểm mà trước nay chúng ta ít có được nghe.
Trong bài kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp, bài kinh số 123, Trung Bộ kinh, tập III, bài kinh này sẽ diễn tả rất là chi tiết về hai mươi pháp chưa từng có, hiếm có, hy hữu của Đức Thế Tôn và đặc biệt là khi giáng sanh, khi đản sanh, khi giáng thần. Pháp thứ nhất là bồ tát sanh trong thiên chúng Đâu-suất, pháp thứ hai là chánh niệm tỉnh giác bồ tát trú trong thiên chúng Đâu-suất cho đến trọn thọ mạng tức là mạng chung ở cõi trời Đâu-suất. Sau đó thì chánh niệm tỉnh giác bồ tát sau khi từ thiên chúng Đâu-suất mạng chung nhập vào mẫu thai. Tới cái điều thứ năm là khi ấy một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư thiên hiện ra cùng khắp thế giới và tiếp theo là bốn vị thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói không cho một ai, người hay không phải loài người đến phiền nhiễu bồ tát hay mẹ của bồ tát.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, bốn vị Thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói: 'Không cho một ai, người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ-tát, hay mẹ vị Bồ-tát'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn'." (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Tức là khi mà bà mẹ mang thai thì có thiên tử bốn phương canh gác, tứ đại thiên vương. Và khi bồ tát nhập mẫu thai thì mẹ của bồ tát giữ giới một cách hồn nhiên, những điều này ở những bản kinh khác mình chưa có từng nghe tức là trong thời gian mang thai bồ tát tự động mẹ của ngài tròn đủ giới hạnh. Tức là không sát sanh. không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không sử dụng những cái chất rượu men, rượu nấu trong thời mang thai bồ tát. Tiếp theo mẹ của bồ tát không có khởi dục tâm đối với bất cứ Nam nhân nào và mẹ của bồ tát không bị xâm phạm bởi bất cứ một người đàn ông nào có nhiễm tâm và tiếp theo là mẹ của bồ tát tận hưởng năm dục công đức đầy đủ và không có bất cứ một bệnh tật gì trong khi bà mang thai.
Bà sống với một cái tâm vui vẻ, hoan hỉ, khoan khoái và thấy trong bào thai của mình vị bồ tát đầy đủ mọi bộ phận chân tay. Tức là mẹ của ngài nhìn thấy được ở trong bào thai luôn.
"Này Ananda, ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: 'Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt'. Cũng vậy, này Ananda, khi Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỉ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ bộ phận và chân tay'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn. (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Mẹ của ngài nhìn thấy rõ ở trong bụng của mình bồ tát như thế nào hiện rõ. Con nói hết cái này rồi cho chúng ta thấy là sau khi sanh bồ tát bảy ngày thì mẹ của bồ tát mệnh chung và sanh lên cõi trời Đâu-suất.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, mang bầu thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ Bồ-tát sanh Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát mang Bồ-tát trong bụng mười tháng rồi mới sanh'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, hoặc ngồi hoặc nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh Bồ- tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát đứng mà sanh Bồ-tát'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài người'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Bồ-tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: 'Hoàng hậu hãy hoan hỉ! Hoàng Hậu sanh một bậc vĩ nhân'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn." (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Do thời gian không có nhiều con chỉ đưa một vài điểm quan trọng, chúng ta về lấy cái bài kinh đó đọc thêm.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Bồ-tát khi sanh ra, này Ananda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: 'Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn." (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Những cái tư liệu này chúng ta sẽ không tìm gặp bất cứ ở trong sách vở nào hết. Thời gian chúng ta lên để trình bày cái bài thuyết giảng dự thi của mình không có nhiều cho nên chúng ta sẽ lấy những cái điểm đặc biệt nhất trong hai mươi điểm này. Thí dụ như cái câu vừa rồi là các kinh khác không có nói 'Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa', khi mình dẫn chứng mà y cứ thánh điển, mình đọc thuộc lòng mà đọc hùng hồn lên thì có một cái sức mạnh khủng khiếp lắm. Đó là mình tái hiện lên cái cảnh của bồ tát đản sanh tức là mình tạo ra từ ở trong cái cảm thọ của mình, từ ở trong cái sự thuộc bài của mình, từ ở trong cái sự tự tin của mình khi mình nói ra giống như mình đang dẫn người ta xuyên không, tái hiện lại cảnh đản sanh của Đức Phật.
Mình phải có một cái sức mạnh đó, nếu quý vị nào có theo dõi thì ở trên núi chúng con thường có những bài thiền quán xuyên không. Đó là con dẫn hội chúng về xuyên không hai mươi lăm thế kỷ và khi đó tất cả mọi người đều cảm nhận đang ở Trúc Lâm Tinh Xá hết, nước mắt ràng rụa, hạnh phúc trào dâng hết. Muốn vậy thì mình phải có cái tâm lực, phải có cái định lực, phải có cái tự tín, thuộc bài thì lúc đó mình sẽ có cái sức mạnh đó, mình dẫn tất cả hội chúng đi ngược về 25 thế kỷ và mình tái hiện cái cảnh bồ tát đản sanh.
Thí dụ trong hai mươi điều vi diệu vị tằng hữu này thì mình lấy chừng ba bốn điều đặc biệt thôi mình nêu ra mà người ta nghe sẽ bất ngờ, thậm chí mấy hòa thượng sẽ trố mắt ra luôn, ngỡ ngàng. Tại vì chưa bao giờ đọc, chưa thấy, thì mình lấy những cái điểm đó, nhiều cái tư liệu lắm, để con lấy thêm một cái tư liệu này nữa cho quý vị. Kinh Đại Bổn cũng có, về cái chủ đề ý nghĩa đản sanh này chúng ta có hỏi gì không ạ? Chúng ta có câu hỏi gì về cái này không? Hôm trước đã có nói rồi cho nên những cái chủ đề mới thì con mới khai triển nhiều thêm, cái chủ đề này hôm trước có nói rồi.
Mình nhớ mấy cái điểm trong mỗi cái chủ đề. Mình phải làm sáng tỏ được cái nội dung, cái ý nghĩa, cái tầm vóc quan trọng của cái chủ đề mình đang nói, tuyệt đối là không lạc đề, kế đó không được mông lung, tản mát mà phải tập trung vào cái cốt lõi của cái vấn đề. Thí dụ như bây giờ Phật đản thì sự xuất hiện của Đức Phật đem lại cái lợi ích gì cho nhân thế này, cho con người này, cho xã hội này, cho hành tinh này. Mình để ý những cái điểm mấu chốt ở trong đó chứ đừng nói lan man, đừng có nói mông lung, đừng có nói quá rộng mà tuyệt đối là không nói lạc đề.
Phải xoáy sâu vào cái chỗ đản sanh, còn không thì chúng ta để cho hỏi cuối cùng, hết bài là hỏi. Bây giờ vu lan báo hiếu thì ở đây con cung cấp cho chúng ta những cái tư liệu quý giá mà trước nay chúng ta ít có gặp. Tất cả cái tư liệu là con cung cấp cho chúng ta là ở trong tạng Nikāya không à, cái tạng kinh này có một cái giá trị quyết định và có cái quyền uy ở trên Phật giáo thế giới. Khi mình dẫn chứng tạng kinh này thì các vị tri thức, các tiến sĩ Phật học, các vị là nhà nghiên cứu sẽ rất là kính trọng, kính lễ nên chú trọng lấy cái nguồn tư liệu ở trong thánh điển Nikāya. Bởi vì đây là cái tạng kinh quyền uy của Phật giáo thế giới, bây giờ cái bài kinh Đất trong Tăng Chi Bộ tập I nói về cái chủ đề cha mẹ thì Đức Phật xác định cái địa vị của bậc chân nhân.
Chân nhân là con người thật sự là người mà bậc chân nhân ở đây nhiều cấp độ lắm, là bậc hiền trí, là bậc hiền thánh luôn, là bậc A-la-hán luôn thì Đức Phật cũng gọi là chân nhân. Địa vị của người chân nhân là biết ơn và nhớ ơn, đây là đặc tính của bậc chân nhân.
"Còn bậc Chân nhân, này các Tỳ-kheo, là biết ơn, là nhớ ơn. Ðối với những thiện nhân, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỳ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị bậc Chân nhân, này các Tỳ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn." (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng, Đất)
Đức Phật nhấn tới nhấn lui, lặp đi lặp lại nên khi mình đọc đoạn kinh này ra mình cũng phải đọc nguyên cái văn vậy. Tại vì mình nhấn tới nhấn lui, lặp đi lặp lại thì nó ấn tượng vô cái cảm xúc, cảm thọ thì người ta khắc ghi, người ta ghi nhớ chứ mình nói phớt qua một lần biết ơn, nhớ ơn rồi nó nhẹ lắm, mà mình nhấn tới nhấn lui. Đây là cái cách lý luận của bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác cho nên hồi xưa con chưa có hiểu, con nói "ủa sao cứ lập tới lặp tới lặp lui hoài vậy?" nhưng mà sau này mình hiểu cái giá trị của nó rất khủng khiếp.
Vì hồi xưa là khẩu truyền nếu không lặp tới lặp lui thì làm sao thuộc? Làm sao nhớ? Cái thứ hai nữa lặp tới lặp lui như vậy nó đi sâu vô lòng người, nó ấn tượng mà nó không quên và nó có cái cảm thọ và chính cái lặp tới lặp lui mà bây giờ mình mới có đạo Phật chứ nếu nói phớt qua, không lặp tới lui thì giờ không còn Phật giáo nữa. Thành ra cái mỗi một cái khi mình chưa hiểu mình đừng có vội phê phán, từ từ mình tu học sâu sắc mình sẽ hiểu. Đức Phật nói có hai hạng không thể trả ơn được đó là mẹ và cha.
"Có hai hạng người, này các Tỳ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỳ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỳ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này các Tỳ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỳ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này. Nhưng này các Tỳ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha." (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng, Đất)
Đây là những cái bản nguyên văn nhưng mà cái này mới là quan trọng, làm sao báo hiếu được mẹ và cha một cách chọn vẹn. Con thỉnh chư tôn đức và chư hiền trí làm sao có thể báo hiếu cha mẹ một cách trọn vẹn theo lời Phật dạy? Cái này rất quan trọng đó, xuất xứ trong kinh nào, nhiều khi mình học chung chung, nghe chung chung, cái bản kinh này là chính đức Phật nói thì mình dẫn chứng cái câu này lên là các vị trong ban giám khảo, các hòa thượng lớn sẽ rất là hoan hỉ và có khi sẽ bất ngờ.
Đức Phật nói nếu mình muốn báo đáp mẹ và cha một cách đầy đủ là khi cha mẹ chưa có niềm tin mình làm cho cha mẹ phát khởi niềm tin, cha mẹ theo ác giới tức là không có giữ giới gọi là ác giới thì làm cho cha mẹ sanh khởi lên thiện giới, cha mẹ chưa có biết là bố thí thì mình khuyến khích cha mẹ bố thí, hướng dẫn cho cha mẹ nghe pháp. Tín, giới, văn, thí và tuệ, năm pháp này là người đó có thể đền ơn đủ, trả ân đủ mẹ và cha, nếu người nào khích lệ, hướng dẫn cha mẹ năm cái điều này thì người đó đã trả ơn đủ đối với mẹ và cha.
Con nói thêm một chút đa số người tu chúng ta có một cái hiểu lầm rất lớn, nghĩ rằng mình tu mình đừng liên hệ gì đến cha mẹ nữa hết. Nhiều khi cha mẹ điện thoại mình không muốn nghe, không muốn bắt, tâm sự này kia những cái khổ buồn mình không nghe "thôi đừng nói với con mấy chuyện đó, con đi tu rồi", cái này bất hiếu rất lớn. Ở trong Nikāya không phải vậy, có thể giai đoạn đầu cái tâm mình yếu, mình giảm bớt cái tiếp xúc để cho mình giữ vững nhưng khi mình tu tương đối rồi mình phải đem hết tấm lòng của mình làm cho cha mẹ phát khởi lòng tin tam bảo hoặc qua điện thoại, hoặc qua tin nhắn, hoặc mỗi khi mình về nhà phải tạo cái duyên như thế nào để hướng dẫn cho cha mẹ trong bốn pháp tín, giới, văn, và tuệ.
Thầy của con là người mà con học pháp là ngài hướng cho mẹ của ngài và người chồng đi vào chánh tri kiến, dự lưu, sự báo hiếu là mình không thể tưởng tượng được. Báo hiếu với mẹ là từng chút một, quỳ lạy mẹ thường xuyên, cái hiếu hạnh là khó tìm được ở trên đời mà cái người tu chân chánh đúng pháp mà thành tựu chánh tri kiến thì cái từ tâm, cái hiếu kính là nó tràn ngập. Cho nên sẵn cái này con chia sẻ một chút chúng ta phải xét lại cái điều này, đối với cha mẹ và đối với người thân của mình phải để tâm thật nhiều.
Tại sao người dưng mình giúp được? Mình dạy người ta được mà tại sao mẹ của mình mà mình không chịu để hết tâm để giúp cho mẹ mình thành tựu lòng tin, giữ gìn các giới, tạo điều kiện cho mẹ biết bố thí, cúng dường, làm cái thiện lành và hướng dẫn cho mẹ tu tập trí tuệ? Thành ra cái chỗ này là cái chỗ rất quan trọng nhưng ở đây chúng ta chia sẻ riêng, cái bài thi đừng nói. Cái này rất quan trọng và chính con đã làm chưa có viên mãn nhưng con cũng mãn nguyện là con đem ba mẹ con lên núi và mẹ con chết ở trên tay của con. Con kêu mẹ buông xả ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, khổ thì mẹ gật đầu rồi ra đi và ba con là bị ung thư là bác sĩ kêu cắt bỏ cái bao tử nhưng sau đó con khuyến khích thôi đừng cắt lên núi tu và lên núi bây giờ sống mười mấy năm, tám mươi tuổi cứ mỗi hai tuần là con mời giảng pháp một lần, hồng hào, sáng suốt, minh mẫn, trí tuệ. Tức là sống mười mấy năm hết bệnh luôn và cái pháp Nikāya này là ổng giảng sâu sắc lắm.
Như vậy con mới thấy được nếu mình làm theo lời Đức Phật sẽ có lợi ích lớn lắm, rồi các cô của con, anh của con hồi xưa lúc mà con còn nhỏ nói "mày mà đi tu á tao cùi hết rồi nè. Tao cúng cái đầu con heo á" mà tới bây giờ lên quỳ lạy con mà kêu sư phụ hết, cả gia đình quy y hết. Nếu mình bằng tất cả tấm lòng, từ bi, tình thương mà mình nỗ lực tinh tấn tu tập, mình có khả năng giúp đỡ cha mẹ và người thân. Đó là một sự thật mà mình phải để tâm, phải để tâm nhiều chứ nhiều khi mình nghĩ "kỳ vậy ta?", lúc trước chưa vô Nikāyaa con có suy nghĩ tại sao người dưng ở đâu mình cũng thân thiết được mà tại sao cha mẹ mình thì mình lại không muốn tiếp, không muốn thân, không muốn nói chuyện nhiều "tôi tu rồi, tôi cắt ái ly da rồi" thậm chứ không có kêu bằng ba mẹ nữa mà gọi bằng bà thân, ông thân gì đó.
Tỏ vẻ ra tôi lạnh lùng vậy đó cho oai nhưng mà cái này thất bại. Mình phải lắng nghe nỗi khổ niềm đau của mẹ cha thật là nhiều, mình là chỗ dựa tinh thần của cha mẹ, mình phải vừa là người con, vừa là người thầy, vừa là người bạn của cha mẹ. Cái này rất quan trọng, cha mẹ mình mà mình không giúp được thì mình giúp được ai? Không có giúp được ai hết, chúng ta thấy Đức Thế Tôn có phải độ cha mẹ đầu tiên không? Ngài về cung điện thuyết pháp ba ngày thì vua Tịnh Phạn chứng thánh quả rất cao và các vị trong dòng họ Thích là độ rất nhiều, thánh tăng rất nhiều trong dòng họ Thích từ tại gia cho đến xuất gia.
Thành ra cái này nếu mình giảng cái đề tài hiếu là mình nên có chứng minh cuộc đời Đức Phật cho nên cái điểm này chúng ta để ý. Chúng ta sẽ giúp được cha mẹ, những người thân chúng ta bằng tấm lòng thương tưởng, bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng, mình sẽ giúp được với điều kiện mình phải có chánh kiến mới được. Mình còn mù mắt mình chưa sáng thì mình không dẫn ai đi được hết.
Bây giờ chúng ta bước qua cái đề tài thứ ba là nhân quả, đề tài này nhiều bài kinh lắm, rất là nhiều bản kinh. Trong bài kinh Hạt Muối của Tăng Chi Bộ tập I thì Đức Phật đưa cái hình ảnh rất là hay, thường thường mình nói là nhân nào quả nấy phải không? Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, phải không? Nhưng mà nó không phải là cố định vậy, Đức Phật ví dụ người hốt một cái nắm muối bỏ vô cái tô nước thì cái tô nước này mình uống được không ạ? Rất là mặn nhưng hốt nắm muối bỏ xuống dòng sông thì nước dòng sông bình thường, đâu có gì hề hấn gì đâu. Cũng vậy một người có phước đức lớn có, công đức lớn thì người ta cũng làm cái điều lỗi lầm nhỏ đó nhưng không có sao với người ta hết, còn người không có tu tập, thân không tu tập, tâm không tu tập, giới không tu tập thì một cái lỗi nhỏ đó cũng có thể đọa xuống địa ngục.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào trong một chén nước nhỏ. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỳ-kheo, nước trong chén ấy có vì nắm muối trở thành mặn và không uống được phải không?
- Thưa đúng vậy, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Nước trong chén nhỏ này là ít, do nắm muối này, nước trở thành mặn, không uống được.
- Ví như, này các Tỳ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào sông Hằng. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỳ-kheo, sông Hằng có vì nắm muối trở thành mặn và không uống được phải không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Lớn là cả khối nước sông Hằng. Khối nước ấy không vì nắm muối này, nước trở thành mặn và không uống được.
- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Ở đây, này các Tỷ kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.
Hạng người như thế nào, này các Tỳ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục? Ở đây, này các Tỳ-kheo có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Hạng người như vậy, này các Tỳ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Hạng người như thế nào, này các Tỳ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều. Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, nói gì là nhiều." (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, Hạt Muối)
Thành ra đây là những cái trường hợp rất là đặc biệt, thì cái đó là mình khuyến khích người ta tu tập thân, tu tập tâm, tu tập giới, tu tập tuệ. Khi giảng về nghiệp mình phải khuyến khích cái này, phải biết tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ thì mình có thể chuyển được nghiệp. Đức Phật đưa ra nhiều cái ví dụ lắm, thí dụ như một người bình thường nghèo đói mà họ lại ăn trộm con dê thì bị người ta đánh, thậm chí bị người ta giết luôn, đó là những cái giai cấp thấp ở Ấn Độ nhưng Đức Phật ví dụ cái ông đại quan mà lỡ như ổng bắt con dê thì mấy người đó có dám không đánh, dám giết không? "Dạ xin ngài làm ơn cho con lại", đâu có dám đánh giết gì đâu. Đức Phật ví dụ người có phước đức lớn, có công đức lớn, có tu tập lớn thì người ta có những cái nhỏ nhặt, nhỏ nhiệm đó người ta có thể nhận lấy cái quả báo rất là nhỏ trong đời này hoặc là nó rất là nhẹ nhàng, nhưng người không tu tập dầu có ăn cắp năm ngàn hay là mười đồng thôi cũng là chuyện lớn.
"Ví dụ một người đồ tể hay người giết dê, này các Tỳ-kheo, đối với một số người đánh cắp dê, có thể giết hay trói, hay tịch thu tài sản, hay làm như ý muốn. Ðối với một số người cũng đánh cắp dê, không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý muốn.
Như thế nào, này các Tỳ-kheo, người đồ tể hay người giết dê, đối với một số người đánh cắp dê, có thể giết, có thể trói, có thể tịch thu tài sản, hay có thể làm như ý người ấy muốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người nghèo khổ, ít sở hữu tài sản. Kẻ đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy có thể giết, hay trói, hay có thể tịch thu tài sản, hay có thể làm như ý người ấy muốn.
Như thế nào, này các Tỳ-kheo, người đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý muốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người giàu có, có sở hữu lớn, có tài sản lớn, hay nhà vua, hay đại thần của nhà vua. Người đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý người ấy muốn. Không có gì phải làm khác hơn là chắp tay và cầu xin như sau: 'Thưa ngài, hãy cho con lại con dê hay giá tiền con dê'.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, đối với một số người có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Nhưng ở đây, này các Tỳ-kheo, đối với một số người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều." (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, Hạt Muối)
Thí dụ người thật việc thật, chỗ giữ xe cự cãi qua cãi lại vì năm ngàn, mười ngàn tiền giữ xe mà nó lấy cái mũ bảo hiểm đập bể đầu người kia chết, có vài ngàn bạc giữ xe nhưng mà chết một sinh mạng. Còn giờ nếu người đại gia dám bố thí năm chục triệu, dám bố thí năm tỷ phải nhưng mà cái người nghèo có năm ngàn mà đập nhau lổ đầu chết. Như vậy cái tu tập, cái phước báo công đức rất quan trọng, mình thí dụ thêm nữa là tâm từ có thể chuyển hóa được tất cả các nghiệp. Bây giờ người này nói nặng nói nhẹ mà người kia có cái tâm từ, thấy người này là cái người đang bị thiêu đốt, người này là tâm đang bệnh, người này là đáng thương, người này là đáng tội nghiệp thì chẳng những người ta không cự lại, không sân lại mà người ta còn tội nghiệp, người ta thương nữa thì có phải tâm từ chuyển hóa nghiệp không?
Cho nên coi có cái quyển Tâm Từ Vi Diệu đó, hình như có tặng cho chùa mình rồi, đọc kỹ vì cái đó là pháp hành. Khi mình tu tập sẽ thay đổi được nghiệp quả, thay đổi được cảm thọ, thay đổi được cái suy nghĩ, thay đổi được cái nhận thức, thay đổi được cái tư duy, thay đổi được cái nghiệp quả trong sự tu tập của mình thì cái này rất quan trọng trong cái bài nhân quả nha. Mình cứ nói nhân này quả này mà mình không đưa ra cái cách để cho người ta tu, thành ra con hay nhấn mạnh chúng ta là pháp hành, pháp hành, pháp hành. Bữa nay con đem cúng dường cho quý vị 120 quyển pháp hành Nikāya, cái này ba mươi năm tóm thâu bí kiếp viết ra cuốn này.
Đó là pháp hành tại vì người ta đến chùa người ta tìm cái gì con thưa các vị? Mình chỉ cần đáp ứng một điều thôi là mình thành công vĩnh viễn, cho nên những cái chủ đề phía sau "Làm sao để cho Phật tử có lòng tin trong thời đại hiện nay", mình chỉ cho người ta phương pháp hóa giải được cái khổ là mình thành công kêu bằng trường cửu, vĩnh viễn, bất tận vào một tỷ năm sau cũng không lạc hậu. Nhất trí không? Mình chỉ cần nắm trong tay cái phương cách xử lý cái đau khổ, chuyển hóa cái đau khổ, giảm thiểu đau khổ và diệt tận đau khổ thì trong tay mình có ngọc như ý, mình có kho báu.
Mình chỉ cần nắm được cái đó thôi nhưng mà cái vấn đề quan trọng ở đây là cái khổ của mình thì mình có xử lý được chưa? Chưa được thì làm sao mình hướng dẫn người ta xử lý cái khổ? Mình muốn xử lý cái khổ của mình thì bát chánh đạo là tối thượng quan trọng là phải chánh kiến trước, mà chánh kiến không có đơn giản chút nào hết. Tại vì trong cái thời gian chúng ta đây ngắn, phải nhận diện được ngũ uẩn, phải biết được tâm mình là cái gì thì có các vị học ở bên trường con có chia sẻ đó.
Phải biết tâm là cái gì rồi trong ngũ uẩn tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã vận hành như thế nào và từng cái có từng loại xử lý khác nhau. Trong quyền này con có giới thiệu tổng quát, khi mình biết được thân tâm của mình, thấy được cái hang ổ trú ẩn của tham, sân, si, dục ái, bản ngã, vô minh thì có cách xử lý. Mình xử lý được cái phần nào thì lúc đó mình hướng dẫn người ta mới có kết quả, mình có một cái sự tự tin vĩnh hằng, bất diệt gọi là tịnh tín bất động đối với Đức Phật, chánh pháp, chúng tăng và thánh giới. Đó là bốn dự lưu phần, là một vị nhập lưu thánh quả thứ nhất trong bốn thánh quả là phải thành tựu chánh tri kiến.
Cho nên bát chánh đạo của chúng ta mới vừa bước cái cửa đầu tiên thôi là thánh quả thứ nhất. Con thưa các vị không có đơn giản như mình học bát chánh đạo mà đơn giản đâu, không có đâu, khủng khiếp lắm, trong Nikāya bát chánh đạo là siêu khủng lắm. Vừa bước vô cửa thứ nhất của chánh kiến là nhập lưu rồi, giờ mình tu tới chết biết lúc nào nhập lưu không? Bây giờ con nói tất cả những chủ đề của chúng ta đều phải đưa ra cái sự thực hành, đó là bí kiếp, bí quyết mà đó là nhiều giảng sư khác không có, hiếm, cái đó gọi là hàng hiếm, là tại vì lên cứ vô diễn kiến thức, cứ nói đông tây dẫn chứng kinh, còn bây giờ tu làm sao.
Bây giờ giảng đề tài hiếu thảo mà giờ con không biết hiếu thảo với mẹ cha là hiếu cái gì là xong rồi, vậy là thất bại rồi, thiếu cái quan trọng, cái lõi cây không có. Thí dụ bây giờ mình giảng cái đề tài báo hiếu mà báo hiếu là làm sao? Là phải làm cho cha mẹ phát khởi niềm tin, khuyến khích cha mẹ giữ giới, hướng dẫn cha mẹ bố thí và tu tập trí tuệ, đó là báo hiếu. Tin như thế nào, rồi giữ giới như thế nào, bố thí như thế nào và tu tập trí tuệ thế nào thì có thời gian rộng chúng ta tiếp tục hướng dẫn thêm vì trong khi thi mình nói rất ngắn.
Có thể nếu mình chia sẻ cái đó thì bài mình độc đáo hơn tất cả những bài khác tại vì người ta cứ lo khai triển công ơn cha mẹ mà ai cũng biết hết trơn rồi, bây giờ mình nói cảm ơn cha mẹ phớt nhẹ thôi nhưng mà mình khai triển làm sao để báo hiếu trọn vẹn cha mẹ theo lời Đức Phật dạy thì bài của mình mới độc đáo, nó nổi trội, nó nổi bật hơn, cái hàng hiếm, hàng quý, hàng độc. Mình phải để ý cái đó nữa. Tại sao mình cứ máy móc quá vậy? Con thấy thi diễn giảng của mình bây giờ sao máy móc quá, cái này nó xưa lắm rồi, hồi ba mươi năm trước là con đã nói cái này rồi, mấy hòa thượng đã đi học cái này rồi giờ mình nói y chang lại vậy thì mình tụt hậu biết bao nhiêu.
Cho nên cái bài của mình có ba cái điều quan trọng. Thứ nhất y cứ thánh điển thì mình nói trong kinh tạng Nikāya bộ nào, Tăng Chi Bộ, Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, nói ra cái đó là cái quyền uy, cái thứ nhất là y cứ thánh điển. Cái thứ hai từ cái cổ xưa ngàn năm mình lấy cái hiện thực của đời sống, nó xảy ra hằng ngày ở trên tin tức mình đưa vô để mình minh họa. Tức là mình quán thông kim cổ, thiết thực, hiện tại cho người ta thấy cái lời dạy Đức Phật rất là rõ ràng, bây giờ mình nói từ bỏ tham, sân, si người ta không có nghe, không có thấm gì hết mà mình kể câu chuyện.
Bà mẹ chia gia tài cho mấy đứa con, thằng trai được cái nhà ở mặt tiền mà đứa con gái thì ở miếng đất ở trong hẻm. Hai đứa nó ganh tị với nhau, nó sân si, đứa con gái nó bực bội nên đem can xăng đốt nhà mẹ bà thì lan qua cháy phỏng mẹ rồi cháy chính cái cô đốt luôn và cuối cùng cả hai chết. Chúng ta thấy cái lòng tham nó ác độc không? Đâu phải ai giết ai mà chính là cái cảm thọ tham này nó đốt chết tự thân của người tham và đốt chết cha mẹ ân đức sanh thành của mình thì cái lòng tham này là nó bất hiếu nè, cái lòng tham này là nó hủy diệt nè, cái lòng tham này nó thiêu rụi nè, cái lòng tham này là cái ác độc nhất ở trên đời này.
Mình thấy ấn tượng không? Nghe một cái mình cảm thọ không? Chấn động trong trái tim nhưng tại sao không lấy cái thí dụ này mà cứ kể chuyện hồi xửa hồi xưa, chuyện ai cũng biết hết. Cái này học hết trơn rồi, nói hoài có nhiêu đó, phải lấy những cái chuyện thiết thực, hiện tại, thực tế trước mắt, người thật việc thật, sự thật, lẽ thật chứng minh cho cái cổ xưa nhất thì mình biến 25 thế kỷ trước trở thành ngay trong cái giờ phút hiện tại. Đó gọi là pháp thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy có kết quả tức thời, không có trải qua thời gian, được người trí tự mình giác hiểu.
Chúng ta nói một hai cái ví dụ vậy thôi, đừng có kể hoài một câu chuyện. Mình kể cái ông chạy xích lô, ông chạy xe ôm đứng ông nhìn cái áo đẹp đó ông không đủ tiền nên cứ đứng nhìn hoài rồi nước mắt rưng rưng. Cô bán hỏi "chú sao vậy? Chú muốn mua gì?" thì ông nói "tôi muốn mua cái áo cho mẹ mùa vu lan mà tôi không đủ tiền". Cô chủ nghe xúc động nói "chú vô đây, chú muốn mua cái nào? Giờ chú có bao nhiêu?" thì ông chú xòe ra vài đồng bạc, chủ quần áo thấy vậy thì tặng luôn cái áo cho chú để chú đem về tặng mẹ nhân mùa vu lan. Chú này rưng mắt mà cái cô chủ bán cũng xúc động, những câu chuyện đó sao mình không lấy? Mình kể câu chuyện xong rồi mới vô bài giảng, tuyệt vời không? Cảm động không? Xúc động không? Chấn động không?
Cứ kể câu chuyện ai cũng biết hết trơn mà kể hoài, thành ra mình phải làm cho cái bài giảng của mình nó thực tế, nó sống động, nó sinh động, nó hiện thực, nó hiện tại, nó đời thật, nó lẽ thật rồi từ chỗ đó mình mới bắt đầu kể sơ công ơn cha mẹ rồi báo đáp cái vĩ đại nhất. Quý vị chịu khó nghe mấy cái bài thiền biết ơn của con đi, lấy tư liệu trong đó để giảng vu lan là mấy hòa thượng khóc hết, lên trang Linh Quy Pháp Ấn. Con nói không có gì xa xôi, con nói đơn giản lắm, nấu bữa ăn cho mẹ rồi xách đôi giày cho cha, ba mẹ đi làm về đẫm ướt, lam lũ đầu bù tóc rối, mình mẩy ướt nhem thì lấy cái khăn để lau tóc cho mẹ, xách đôi giày cho cha. Những cái hết sức là bình dị, đơn giản, đâu có cái gì khó làm đâu tại sao mình không làm không làm được?
Trong cái thời gian ngắn này thì con chỉ gợi ý chứ không có cái đề tài nào đi được hết. Chúng ta thấy từ cái những cái nhỏ rồi chúng ta đưa tới những cái lớn để báo hiếu cha mẹ, đầy đủ lý sự chứ không phải vô nói không cần báo hiếu vật phẩm, thức ăn gì hết mà báo hiếu pháp. Không được à, phải đầy đủ, có thể mình nói cái phần báo hiếu về cái vật chất nó nhẹ nhàng, phớt qua thôi, một câu chuyện thôi là được rồi nhưng mà mình triển khai cái báo hiếu về tín, về giới, về thí, về tuệ này nhiều lên, hướng dẫn cho cha mẹ.
Trong những cái bản kinh về nghiệp này nhiều lắm, để nữa con gửi cho cho ni sư rồi ni sư gửi cho các vị thi. Cái chủ đề tiếp theo là nhân quả, có bài kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt, bài kinh này hay lắm bài kinh 135 Trung Bộ tập III, Đức Phật giải mã thế giới này, giải mã thế gian này tại sao có sự sai biệt.
"Rồi thanh niên Subha Todeyyaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Subha Todeyyaputta bạch Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì giữa loài Người với nhau, khi họ là loài Người, lại thấy có người liệt, có người ưu?
Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi thấy có người đoản thọ, có người trường thọ; chúng tôi thấy có người nhiều bệnh, có người ít bệnh; chúng tôi thấy có người xấu sắc, có người đẹp sắc; chúng tôi thấy có người quyền thế nhỏ, có người quyền thế lớn; chúng tôi thấy có người tài sản nhỏ, có người tài sản lớn; chúng tôi thấy có người thuộc gia đình hạ liệt, có người thuộc gia đình cao quý; chúng tôi thấy có người trí tuệ yếu kém, có người có đầy đủ trí tuệ.
Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, giữa loài Người với nhau, khi họ là loài Người, lại thấy có người liệt, có người ưu?
-- Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Cái câu này phải học thuộc lòng, cái câu này là định lý chứng ngộ của Đức Phật. Khi mình giải về nhân quả hay là cái bài về nghiệp mình phải thuộc cái câu này "các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu". Nghiệp quyết định cái sự sống này, cái ông thanh niên nói Thế Tôn nói vắn tắt như vậy thì con không có hiểu, con mong Thế Tôn giải thích rộng rãi thì Đức Thế Tôn mới nói:
"-- Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loại chúng sanh. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, nếu được đi đến loài Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy phải đoản mạng. Con đường ấy đưa đến đoản mạng, này Thanh niên, tức là sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loài hữu tình." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Đó là Đức Phật giải mã tại sao có người đoản thọ, đoản mạng, chết yểu và ngược lại:
"Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay đàn ông, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh vào thiện thú, Thiên giới, ở đời. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào thiện thú, Thiên giới, ở đời, nếu người ấy đi đến loài Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy được trường thọ. Con đường ấy đưa đến trường thọ, này Thanh niên, tức là từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Cái này là giải nghĩa tại sao chết yểu, tại sao sống lâu mà cái này giải nhân quả tuyệt vời lắm, đưa ra năm cái cặp này, những trường hợp này là giải mã hết thế giới này. Bây giờ cái người nhiều bệnh là sao? Tại sao người nhiều bệnh? Chính Đức Phật giải thích, nào giờ mình chưa nghe phải không?
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, tánh hay não hại các loài hữu tình, với tay, hay với cục đất, hay với cây gậy, hay với cây đao. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, nếu người ấy đi đến loài Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy phải bị nhiều bệnh hoạn. Con đường ấy đưa đến nhiều bệnh hoạn, này Thanh niên, tức là tánh hay não hại các loài hữu tình với tay, hay với cục đất, hay với cây gậy, hay với cây đao." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Não là làm cho người ta phiền não, làm tổn hại đến người ta, làm cho ta sầu khổ, mình hành hạ người ta bằng lời nói hoặc bằng hành động. Não hãi là làm khổ người ta, làm đau người ta, đả thương cho người ta thí dụ như gặp mèo đánh mèo, gặp chó đập chó, gặp kiến là giết kiến, gặp chuột thì bẫy chuột, đó là con vật rồi con người cũng vậy, cứ hành hạ cho người ta khổ. Bây giờ mình giải mã tại sao bị bệnh nhiều chưa? Nhiều khi mình không biết, đó là não hại thì bệnh nhiều, còn sát sanh là chết yểu mà từ bỏ sát sanh là sống trường thọ cho nên các vị lớn tuổi phải nhiều đời nhiều kiếp từ bỏ sát sanh nên ít bệnh, cái tánh tâm hiền, tâm từ nhiều, ít có làm tổn thương, não hại, làm hành hạ, khổ cho người ta cho nên người này khỏe mạnh, thường thường chứ không phải bệnh rồi đổ thừa ai hết. Cứ đổ thừa cha mẹ sanh không đủ tháng hay là suy dinh dưỡng, không phải mà do cái nghiệp của mình, cái tánh mình não hại.
"Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, tánh không hay não hại các loài hữu tình, với tay, hay với cục đất, hay với cây gậy, hay với cây đao. Do nghiệp ấy thành đạt như vậy.. thiện thú... người ấy được ít bệnh hoạn. Con đường ấy đưa đến ít bệnh hoạn... tánh không não hại... hay với cây đao." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Tánh không có não hại là có tình thương đối với con người, cũng có tình thương với ngay cả loài vật và cái người này do nghiệp ấy thành đạt như vậy người này sanh lên cõi trời, nếu không sanh cõi trời mà sanh ở cõi người thì người này khỏe mạnh, ít bệnh. Vậy ai khỏe, ai bệnh nhiều biết liền phải không? Khỏi cần thắc mắc gì nữa hết, tự biết liền, mình bệnh hoài là biết cái tánh sao nên phải ráng tu tâm từ nhiều đi cho bớt bệnh. Tới cái thứ hai là đẹp với xấu, tại sao đẹp không phải chưng bông đâu, cái đó mấy sách sau này nói thôi.
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, phẫn nộ, nhiều phật ý, bị nói đến một chút thời bất bình, phẫn nộ, sân hận, chống đối, và tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy... cõi dữ... xấu sắc. Con đường ấy đưa đến xấu sắc, này Thanh niên, tức là phẫn nộ... bất mãn." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Dễ giận, dễ quạo, dễ bực, dễ cự, dễ sân, tánh gay gắt, khó chịu, ghim gút thì người này sau khi chết rơi thẳng vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nói chạm tới cái thôi là đùng đùng lên, bực bội, khó chịu, phẫn nộ, sân hận lên, sau khi chết rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Tâm giống như cái lò lửa, có chứa lựu đạn trong đó, ai đụng tới là quăng ra banh xác, lâu lâu mình có gặp không? Đức Phật nói sao sai được, vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nói là có mới nói, trong kinh tạng Nikāya ngài không dư một chữ, không thiếu một chữ. Đức Phật nói nếu có người nào đó bỏ một chữ hoặc thêm một chữ vô thì thấy mà không thấy giáo pháp của Như Lai, tức là lời của bậc Chánh Đẳng Chánh giác nói ra là không thừa một chữ, không thiếu một chữ.
"Nếu vị ấy trừ bớt một phương diện nào tại một chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy được viên mãn hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Như vậy gọi là "Thấy mà không thấy". (Trường Bộ Kinh, 29. Kinh Thanh tịnh)
Cho nên cố gắng đọc kinh tạng Nikāya thật là kỹ, đọc thật kỹ mình sẽ thấy cái tinh túy, tinh hoa, cốt tuỷ, thánh trí tuệ ở trong đây giải mã hết tất cả nhân sinh vũ trụ, thế giới, thân tâm của mình. Con đi vào con đường này thì con thưa thật với các ngài còn hơn trúng một cái mỏ kim cương vô giá trên cả hành tinh này cũng không sánh bằng, cả cái trái đất này, tài sản trên trái đất này không bằng một phần mười sáu của người nhập lưu, của người thành tựu chánh tri kiến cho nên mình thấy được đúng rồi đó là nó quý không có bất cứ một cái gì so được.
Cái ông giàu nhất hành tinh này cũng là đệ tử lạy dưới chân thôi, ổng đau khổ, ổng đầy tham, sân, si, bản ngã trong đó, ổng lo lắng, sợ hãi, ngủ đâu có an, trong đầu cứ nhảy mấy con số cái tự nhiên nhức đầu, chóng mặt lên tăng xông. Cái tài sản của ổng mỗi ngày nó dao động có khi chỉ cần bữa sau mất bao nhiêu tỷ đô la phải không? Ông đâu có ăn ngon ngủ yên đâu, còn người chứng đắc được cái trí tuệ tánh không rồi bình an, tâm bất động giải thoát. Chịu cái nào? Chịu thiệt là nhiều đẩ cho lên tăng xông, đứt gân máu, đột quỵ hay là chịu cái tâm bình an?
Bởi vì cái tâm đó tương ưng với ba đường ác, nhấn mạnh cái chữ nếu sanh làm người thì người này xấu xí, xấu đau xấu đớn, dị dạng, dị hình, dị tật, xấu như Chung Vô Diệm, xấu mà không dám nhìn vô gương, không muốn nhìn cái mặt của mình. Cái tâm ác, cái tâm sân, cái tâm khó chịu, bực bội, cau có, cọc cằn, phẫn nộ, sân hận, ghim gút, ganh tỵ, đố kỵ, tật đố, hơn thua từng chút thì cái này không thể ở cảnh giới cao được.
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, không phẫn nộ, không nhiều phật ý, dầu cho bị nói đến nhiều, cũng không bất bình, phẫn nộ, sân hận, chống đối, và không tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy.... thiện thú... đẹp sắc (pasadika: hoan hỉ) Con đường ấy đưa đến đẹp sắc, này Thanh niên, tức là không phẫn nộ... không bất mãn" (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Dù cho có bị nói nhiều mà không có bất bình, phẫn nộ, tu được cái này cũng hay lắm nha. Có bị người ta chỉ trích, người ta nói nặng nói nhẹ mà cái tâm người vẫn nhẹ nhàng thì người này sau khi thân hoại mạng chung sanh lên thiên giới thiện thú tức là cõi lành, nếu trở lại ở cõi người thì người này đẹp, hoa hậu của hoàn vũ, sanh ra đẹp đẽ như tiên nữ. Tâm người này không có phẫn nộ, sân hận, bị chỉ trích nói nặng nói nhẹ vậy mà cũng bình thản, nhẹ nhàng. Mọi người thấy tu cái này dễ hay khó? Phải tu tập cho nên con thưa chư tôn đức ở trên con khi vô là phải tu tám tháng tâm hiền, bất cứ người nào vô nhập chúng là phải tu tám tháng về tâm hiền, chuyên về tâm hiền, học về tâm hiền, nghiên cứu về tâm hiền, thiền quán về tâm hiền, thực tập về tâm hiền, lạy diệt ngã tám tháng.
Tám tháng là nói giai đoạn đầu thôi chứ còn tâm hiền của chúng con là tu cho tới chết luôn, ở trong Nikāya gọi các bậc Tỳ-kheo chung với nhau là hiền giả, các bậc hiền trí mà đó cũng là hiền thánh, là một chữ hiền thôi. Cho nên ở trên con là tu tâm hiền, sư bà lớn ở bên hệ phái Khất Sĩ sắp xếp dẫn đệ tử đi lên trên con thực hành pháp. Sư bà về có thỉnh con cũng ghé chùa để chia sẻ cho chúng cũng mấy chục vị Khất Sĩ thì sư bà hỏi "thưa thầy chỉ con cái cách sao mà con lên con thấy sáu bảy chục người mà sao im re, dễ thương, hiền hòa từ trong bếp cho đến chánh điện" – "dạ tụi con tu tâm hiền thôi à".
Rất nhiều vị đi lên trên con ở lại luôn không về nhà nữa, rất nhiều vị ở luôn không về nhà nữa. Người ta nói ở nhà cha mẹ, anh chị em ruột của người ta, vợ chồng người ta mà không cảm nhận được cái tình thương ngọt ngào ấm áp như vậy, hỏi tại sao ở trên núi lại được vậy thì do tu cái tâm hiền, tâm từ với nhau. Cái này tuyệt vời lắm, quý vị mở lên con mấy chục bài tâm hiền, mà cái tâm hiền này là trong bài kinh Sau Khi An Cư của tôn giả Xá-lợi-phất, ngài dạy chín pháp an trú tâm và cái bài kinh này chính là cái cốt lõi, cái linh hồn của đạo tràng Nikāya chúng con.
một vị Tỳ-kheo vu khống cho ngài Xá-lợi-phất và nói với Đức Thế Tôn ngài Xá-lợi-phất xúc phạm con, là ác Tỳ-kheo. Quý vị biết Đức Phật nói chỉ có Xá-lợi-phất và Mục-kền-liên là có thể thay thế Như Lai lãnh đạo tăng đoàn, ngài là bậc chí thượng thanh văn, tướng quân chánh pháp, bậc thánh tăng mà làm gì có chuyện xúc phạm người khác rồi bỏ đi.
"Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Mahamoggallana:
-- Này Moggallana, Ông đã nghĩ gì khi chúng Tỳ-kheo bị Ta đuổi?
-- Bạch Thế Tôn, khi chúng Tỳ-kheo bị Thế Tôn đuổi, con nghĩ như sau: 'Nay Thế Tôn sẽ được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. Và từ nay con và Tôn giả Sariputta sẽ lãnh đạo chúng Tỳ-kheo.
-- Lành thay, lành thay, Moggallana. Này Moggallana, chỉ có Ta hay Sariputta và Moggallana mới có thể lãnh đạo chúng Tỳ-kheo được'." (Trung Bộ Kinh, 67. Kinh Càtumà)
Đức Thế Tôn biết vậy rồi mời Xá-lợi-phất lên, lúc đó ngài A-nan đi gõ từng phòng mời các vị tôn đức, các vị trưởng lão chuẩn bị lên nghe tướng quân chánh pháp Xá-lợi-phất rống lên tiếng rống sư tử trước mặt Thế Tôn. Tất cả tập trung lên hết trước hội chúng, ngài Xá-lợi-phất bạch Thế Tôn nếu ai không có thực hành thân hành niệm thì mới xúc phạm người khác rồi bỏ đi không xin lỗi. Bạch Thế Tôn tâm con an trú như đất dầu ai có liệng phân, nước tiểu, máu, mủ lên, có làm gì thì đất cũng lặng yên, con đã tu tập tâm hiền như đất bất động từ lâu, làm sao con xúc phạm Tỳ-kheo khác.
"Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:
- Ở đây, này Sàriputta, một đồng Phạm hạnh có điều bất mãn với Thầy: "Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta xâm phạm con đã bỏ đi du hành, không có xin lỗi con".
- Thật vậy, bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm trên thân, người ấy, ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
Ví như, bạch Thế Tôn, trên đất, người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ bất tịnh, quăng phẩn uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không xấu hổ, hay không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như đất, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi." (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)
Bạch Thế Tôn con tu tâm như nước, mềm mại, nhu nhuyến, chảy xuống chỗ thấp rộng lớn, mênh mông, bao la, thấm nhuần vạn vật, làm sao con có thể xúc phạm người khác. Bạch Thế Tôn con tu tâm như gió, nhẹ nhàng, mát mẻ, không chấp thủ đối với bất cứ vật gì trên đời. Bạch Thế Tôn con tu tâm như lửa sưởi ấm, ấm áp, đốt cháy hết tất cả những sân si, bản ngã thì làm sao con xúc phạm người khác. Bạch Thế Tôn con từ lâu từ lâu an trú tâm là một kẻ ăn mày, là một kẻ ăn xin, là một kẻ khất sĩ, là một người hạ liệt, con an trú tâm con là cái ung nhọt chín lỗ ngày đêm rỉ chảy bất tịnh, hôi dơ. Con sống an trú khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã làm sao con xúc phạm vị Tỳ-kheo khác.
Ngài trình bài lên như vậy thì cuối cùng vị Tỳ-kheo này gục đầu xuống khóc, quỳ dưới chân ngài Xá-lợi-phất sám hối "con ganh tỵ ngài, con đố kỵ với ngài, cho con xin sám hối" và ngài Xá-lợi-phất quỳ xuống "thưa tôn giả nếu như mà con có lỗi gì xin tôn giả tha thứ cho con, dầu con không có lỗi nhưng nếu mà tôn giả không hài lòng về con thì con xin tôn giả tha thứ cho con". Vị đó đập đầu xuống và nước mắt ràng rụa hết và lạy ngài Xá-lợi-phất, tất cả thánh chúng lúc đó rúng động chấn động hết.
"Rồi Tỳ-kheo ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện. Con đã xuyên tạc Tôn giả Sàriputta, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Mong Thế Tôn chấp nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn đón về tương lai.
- Này Tỳ-kheo, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Thầy đã xuyên tạc Tôn giả Sàriputta, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Này Tỷ kheo, vì Thầy đã thấy tội ấy là một tội, đã phát lộ đúng pháp, Ta chấp nhận tội ấy cho Thầy. Ðây là một sự tiến bộ, này Tỳ-kheo, trong Pháp Luật của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, phát lộ đúng pháp, và ngăn đón trong tương lai.
Rồi Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta:
- Này Sàriputta, hãy tha thứ kẻ ngu si này, trước khi ở đây, đầu nó sẽ bị vỡ tan làm bảy mảnh.
- Bạch Thế Tôn, con tha thứ cho Tôn giả ấy, nếu Tôn giả ấy nói với con: 'Hãy tha thứ cho', và cũng mong Tôn giả ấy tha thứ cho con." (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)
Cái bài kinh đó là tiếng gầm sư tử của bậc tướng quân chánh pháp sau khi an cư Và chính bài kinh đó là linh hồn của đạo tràng Nikāya chúng con. Quý ngài mở lên cái Nghi Thức Tu Học Nikāya có bài đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất thì có chín pháp an trú tâm như đất, như nước, như gió, như lửa, như kẻ ăn mày, như ung nhọt, như người hạ liệt, quan trọng nữa là cái nùi giẻ rách.
"Ví như, bạch Thế Tôn, một miếng vải lau chùi lau các đồ tịnh, lau các đồ bất tịnh, lau phẩn uế, lau nước tiểu, lau nước miếng, lau mủ, lau máu; tuy vậy miếng vải lau chùi không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như miếng vải lau chùi, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi." (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)
Cái pháp tu của chúng con trên nùi là cái nùi giẻ rách, rất quan trọng là cái pháp tu thiền quán thường xuyên mà tự xưng "Dạ cái nùi dẻ rách Minh Thành con xin kính lễ chư tôn đức" rồi quỳ xuống lạy đại chúng luôn, lớn nhỏ gì cũng lạy hết. Đó là thực hành cái pháp vô ngã, cái pháp diệt ngã, cái pháp nhiếp phục bản ngã chứ không phải mình tu lâu, mình là trụ trì, mình là hòa thượng này kia nọ rồi mình cao cao tại thượng. Không phải, càng lớn chừng nào càng nhỏ chừng đó, càng cao chừng nào càng thấp chừng đó, đó là pháp hành của chúng con.
Mỗi khi con quỳ xuống con lạy đại chúng là khóc từ trên xuống dưới hết trơn, cùng nhau lạy nhau ngọt ngào, ấm áp, yêu thương, dạt vào tình thầy trò. Quý vị mở lên rồi thấy mấy cái khóa tu xả y hạ sơn, đó là mình nói cái tâm hiền thiện và tâm từ rất quan trọng của người tu.
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, tật đố, đối với người khác được quyền lợi, được tôn trọng, cung kính, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường, sanh tật đố, sanh tâm, ôm ấp tâm tật đố. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy... ác thú... quyền thế nhỏ. Con đường ấy đưa đến quyền thế nhỏ, này thanh niên, tức là tật đố... ôm ấp tâm tật đố." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Khi người ta được cúng dường, người ta được khen ngợi, được cung kính, được tôn trọng, đảnh lễ thì mình ghét, không ưa, không thích thì cái tâm ganh tị này do nghiệp ấy thành đạt như vậy cho nên người này sau này sanh ra ở trong một cái gia đình hạ liệt, thấp hèn, vì cái tâm tật đố đó sanh trong cái gia đình bị người ta khinh khi. Ví dụ đi ở đợi chẳng hạn bở đời trước ganh tị người ta cho nên sanh ra là thấp hèn, ai nhìn cũng khinh khi, khinh bỉ, phỉ nhổ hết.
"Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, không có tật đố, đối với những người khác được quyền lợi, được tôn trọng, cung kính, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường, không sanh tật đố, không sanh tâm, không ôm ấp tâm tật đố. Do nghiệp ấy... thiện thú... quyền thế lớn. Con đường ấy đưa đến quyền thế lớn, này Thanh niên, tức là không tật đố... không ôm ấp tật đố." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Người này không có tật đố mà người này có cái tâm tùy hỷ, vui vì người đó thành công, vui vì người đó thành đạt, vui người đó được đức hạnh, vui người đó thành tựu tốt như vậy, người này không có tâm ganh tị, tật đố thì người này hoặc là sanh lên cõi trời, nếu mà sanh ở cõi người thì người này được quyền thế lớn, có địa vị lớn, có chức vị lớn trong xã hội. Chúng ta thấy bài kinh này giải mã hết.
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, không bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, đồ ăn uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc. Do nghiệp ấy.. đọa xứ... tài sản nhỏ. Con đường đưa đến tài sản nhỏ. ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc". (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Người này không có biết chia sẻ gì hết thì người này hoặc là đọa đường ác, nếu sanh lại được làm người thì trong gia đình nghèo khổ, khó khăn, túng thiếu, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhà không có để ở, keo kiệt, bủn xỉn.
"Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông có bố thí cho Sa-môn hay cho Bà-la-môn các đồ ăn uống... ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc. Do nghiệp ấy... thiện thú... nhiều tài sản. Con đường đưa đến nhiều tài sản nhỏ... ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Còn cái người bố thí thì sanh lên cõi trời hoặc là sanh ở cõi người thì đại gia giàu có, sung túc, sung mãn tiền của vật chất.
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông ngạo nghễ, kiêu mạn, không đảnh lễ những người đáng đảnh lễ, không đứng dậy đối với người đáng đứng dậy, không mời ngồi những người đáng mời ngồi, không nhường chỗ đi cho những người đáng được nhường chỗ đi, không tôn trọng những người đáng tôn trọng, không cung kính những người đáng cung kính, không cúng dường những người đáng cúng dường. Do nghiệp ấy... đọa xứ... thuộc gia đình hạ liệt. Con đường đưa đến gia đình hạ liệt.. không cúng dường những người đáng cúng dường." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Tại vì người này bản ngã to lớn, ngạo nghễ, khinh mạn, khinh khi người ta thì người này sanh ra nghèo hèn, lùn thấp.
"Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, không có ngạo nghễ quá mạn, đảnh lễ những người đáng đảnh lễ... cúng dường những người đáng cúng dường. Do nghiệp ấy... thiện thú... vào gia đình cao quý. Con đường đưa đến gia đình cao quý... cúng dường những người đáng cúng dường" (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Được sanh trong gia đình cao quý là người này có cái tâm cung kính, có cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, đây là năm khiêm trong đạo tràng Nikāya. Cái người có cái tâm khiêm hạ, khiêm cung, hạ bản ngã của mình, đảnh lễ nhũng người đáng đảnh lễ, cung kính những người đáng cung kính, nhường chỗ ngồi những người đáng nhường chỗ ngồi, tôn trọng người đáng tôn trọng, phải đứng dậy chào mời những người đáng được đứng dậy chào mời như vậy, nhường chỗ thì người nay sanh trong gia đình cao quý, quý tộc, công tằng tôn nữ, mệnh phụ phu nhân, chánh cung hoàng hậu, vạn nhân chi thượng, vạn phụng chi vương, mẫu nghi thiên hạ là hoàng hậu.
Mình biết được sanh trong gia đình cao quý, quý tộc, cao sang, những địa vị như vậy người ta tu nhiều đời lắm chứ không phải dễ đâu, do cái tâm của người ta.
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn, không hỏi: 'Thưa Tôn giả, thế nào là thiện? Thế nào là bất thiện? Thế nào là phạm tội? Thế nào là không phạm tội? Thế nào là cần phải thực hành? Thế nào là không cần phải thực hành? Tôi đã làm gì để phải không lợi ích và đau khổ lâu dài? Hay tôi đã làm gì để được lợi ích và an lạc lâu dài? Do nghiệp ấy... đọa xứ... trí tuệ yếu kém. Con đường đưa đến trí tuệ yếu kém... lợi ích, hạnh phúc lâu dài?" (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Như vậy người này để tâm học hỏi những bậc có trí tuệ thì người này sanh ra có trí tuệ, còn người không học hỏi, không để tâm thì người này sanh ra là kém trí tuệ, không hiểu biết, ngu dốt, dại khờ thậm chí bị điên loạn, bệnh hoạn, bệnh tật. Như vậy thì mình thấy giải thích bao nhiêu cái trường hợp, cặp thứ nhất là sống lâu và chết yểu, cặp thứ hai là khỏe mạnh và bệnh tật, cái thứ ba là đẹp và xấu, cái thứ tư là hèn và sang, cái thứ năm là quyền thế lớn và người hạ liệt và cái thứ sáu là giàu với nghèo và cuối cùng là ngu và trí tuệ.
"Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu" (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Vậy là giới thiệu tổng quát cho quý vị về cái nhân quả, cái nghiệp. Bây giờ mình qua tiếp tục cái chủ đề tiếp theo tam pháp ấn vô thường, khổ, vô ngã thì có cái bài kinh Không Có Hạn Chế trong Tăng Chi Bộ tập III là Đức Phật nói về sáu lợi ích của người tu tập vô thường, khổ, không, vô ngã, ba lần sáu là mười tám cái lợi ích. Nhiều khi mình giảng vô thường, khổ, vô ngã là mình cứ xoáy vô nó hoài mà mình không nói thực trạng của nó ra sao và cái lợi ích của nó như thế nào thì cái này là những cái đó giờ mình chưa có thấy được.
"- Thấy được sáu lợi ích, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để vị Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng vô thường, không có hạn chế trong tất cả hành. Thế nào là sáu?
Tất cả hành hiện ra với tôi, không có an trú; ý của tôi không ưa thích tất cả thế giới; ý của tôi sẽ xuất khỏi tất cả thế giới; ý của tôi sẽ nghiêng về Niết-bàn; các kiết sử của tôi đi đến đoạn diệt; và tôi sẽ thành tựu tối thượng Sa-môn hạnh.
Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng vô thường, không có hạn chế trong tất cả hành." (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, X. Phẩm Lợi Ích, (VII). Không Có Hạn Chế (1))
Cái chữ vô thường, chữ khổ, vô ngã ở trong Nikāya nó sâu lắm. Thường thường mình giảng vô thường là mình giảng ở ngoài không à, thí dụ như người chết, xe đụng, bị tai nạn hay là động đất, sập nhà. Còn cái vô thường của Nikāya đi sâu vào thân của mình rồi sâu hơn nữa đó là vô thường trong cảm thọ, trong cảm giác của mình, vô thường trong hình bóng trong tâm. Nó đổi thay hoài, vô thường trong suy nghĩ, cái suy nghĩ của mình nó đổi liên miên là vô thường trong hành uẩn và vô thường trong thức uẩn, vô thường trong ngũ uẩn.
Cái vô thường ở bên ngoài chưa có khổ bằng cái vô thường của bên trong. Thí dụ mình chơi với người bạn mười năm, hai mươi năm, hai mươi lăm năm tự nhiên bữa nay nói "tôi không muốn gặp mặt của bà nữa, đi chỗ khác đi". Thế là mình đau khổ không? Có buồn không? Đó là cái thọ vô thường, cái cảm giác bữa nay nó đổi rồi, thương chuyển sang ghét rồi, có những người vì ở ngoài đời cái tình cảm nam nữ người ta tự vẫn chết, nhảy sông, nhảy lầu, nhảy cầu, treo cổ tự vẫn. Vì cái cảm thọ thay đổi đó mà người ta đau khổ, người ta không biết cái cảm thọ là vô thường mà người ta cứ nghĩ nó là vậy, hễ thương là thương hoài nhưng không phải, nó sẽ đổi thay.
Cho nên mình đưa sâu vào khai thác cái sự vô thường ở trong thọ; tưởng; hành; thức, cái này độc đáo, sâu sắc, mới, mấy người kia không có nói, mấy người khác giảng cái chủ đề này không có khai triển nổi. Bởi vì có ba thọ: Thọ lạc, thọ khổ, thọ bất khổ bất lạc, mình nói tiếng việt là cảm thọ vui, cảm thọ buồn, cảm thọ không vui không buồn thì ba cái cảm thọ này nó thay đổi liên tục. Nếu mình nhìn thấy cái cảm giác này nó luôn luôn đổi thay thường xuyên, khi nó đổi rồi mình thấy bình thường thôi, tại vì cái vô thường là thường mà, cái biến đổi này nó là thường mà, nó không biến đổi mới là bất thường cho nên nó đổi hoài.
Khi mình có ai thương thì cái tâm mình cũng bình tĩnh, chánh niệm tỉnh giác, đừng để cái thương nhận chìm mình xuống dòng sông ái. Khi có ghét, có lửa đốt thì đừng để cái lửa đó thiêu rụi mình trở thành tro tàn, tâm mình chánh niệm tỉnh giác trú xả. Đây là cái pháp hành Đức Phật luôn dạy mình khi xúc sanh ra thọ, có sáu xúc: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc, khi mình nhìn thấy, mình nghe, mình ngửi, nếm, mình xúc chạm hay là ý của mình duyên với các pháp thì lúc đó sanh ra cảm thọ. Mà thọ thì có ba cảm thọ, vui - đừng để cho cái vui đó nhận chìm trong tham ái, khổ - khó chịu, bực bội, đừng để cho cái khó chịu, bậc bội thiêu đốt, cháy rụi mình thành tro tàn, phải chánh niệm tỉnh giác trú xả.
Cái địa chỉ thường trú người xuất gia con thường hay nói là tâm xả, kinh Nikāya nói địa chỉ thường trú của mình không phải ở Bình Thuận, Sóc Trăng, Rạch Giá, Cà Mau, Huế, Hà Nội gì cả mà địa chỉ thường trú người xuất gia là an trú cái tâm buông xả. Lúc nào cũng buông xả, đừng chấp thủ, đừng dính mắt với tất cứ vật gì trên đời, bất cứ vật gì trên đời đừng để tâm dính mắt, chấp thủ vô nó. Phải quán vô thường, quán ly tham, quán từ bỏ, quán đoạn diệt, quán khổ đau, không có gì để cho mình ưa thích, không có gì để cho mình nắm giữ, nó trống rỗng, trống không, vô ngã thì có gì để cho mình nắm giữ.
Ngay cả cái cảm giác vui này phải biết cái cảm giác vui này là vô thường, đừng có để cho quá vui, đừng có để chìm vô trong đó mà ngay lúc vui phải chánh niệm tỉnh giác, coi chừng vui quá rồi nói buông lung phóng dật, nói một hồi rồi có chuyện, sau đó hối hận. Lâu lâu có bị không? Vui quá rồi cứ nói thả ra rồi hố, thế là có chuyện xảy ra rồi hối hận cho nên chủ lực là cảm thọ quyết định hết tất cả, tất cả các pháp quy tụ, hội tụ nơi cảm thọ, trong ngũ uẩn này cảm thọ là quan trọng nhất, cảm thọ điều khiển hết ngũ uẩn, thấy được cái cảm thọ vô thường, thấy được cái cảm thọ nó khổ.
"Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, khi con sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư như sau được khởi lên: 'Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ'. Ba thọ này được Thế Tôn thuyết dạy. Nhưng Thế Tôn lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Do liên hệ đến cái gì, lời nói này được Thế Tôn nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ"?
-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Chỗ này sâu lắm. Cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ? Thí dụ mình ăn ngon đó là vui nhưng một hồi trúng thực làm mệt, bao tử mình chịu không nổi, mới vua đó mà giờ đã khổ vì buffet cả trăm món nên vô cứ làm tới. Có cái cô này đi lại tiệm buffet bên Mỹ, vé vô tiệm chỉ cái mười mấy hai mươi đô thôi nên cô mua vé vào ăn, bây giờ trả tiền rồi mà không ăn nữa thì uổng quá vì đồ ăn vừa ngon vừa nhiều. Cô ăn một hồi thì tiệm phải gọi xe cấp cứu tới cứu gấp cho cô cho nên Đức Phật nói phải quán cái cảm thọ vui đó là khổ. Cái này sâu lắm, rất sâu, quán cái cảm thọ khổ là mũi tên độc để cho mình nhàm chán, đó là khổ thánh đế nên phải thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ.
Quán cái cảm thọ không khổ không vui đó là vô thường, nó biến hoại, nó đổi thay. Ngày nào mình ra mình cũng thấy sáng nghe bong bong là đi ăn sáng rồi đi làm, trưa nghe cốc cốc là vô ăn rồi chiều có đi học hay gì tối về lên ngủ. Ngày nào mình cũng nghĩ vậy là si mê, vô minh, phải thấy được nó vô thường, đây là sống tạm thôi, mình đang ăn trộm cái phước của quá khứ thì mình được an an, ổn ổn này mà mình tưởng đâu an an, bình bình, yên yên là mình chết ngay. Mình phải quán nguy hiểm và tai họa ở trong cái vô thường này, ở trong cái đều đều này, cái nguy hiểm chứa trong này nè, trong cái an này có cái bất an, trong cái bình này có cái bất ổn, trong cái đều đều này tiềm ẩn những tai họa nguy hiểm, vô thường nó rình rập trong này nên mình phải cẩn thận.
Nếu như mình an an, ổn ổn, bình bình, đều đều, mình cho cái cảm giác không khổ không vui này là mình thì mình chết. Phải quán cảm thọ này là vô thường cho nên mình đưa cái vô thường, khổ, vô ngã vào trong cảm thọ. Cái hình bóng trong tâm cũng vậy, nó làm cho mình khổ, nó ám ảnh, giận ai đó mà trong tâm hiện ra cái mặt của người đó là ăn không ngon rồi, nằm ngủ lăn qua trở lại, nó ám ảnh cái mặt thấy ghét hoài. Đó là cái tưởng khổ đó, như vậy mình thấy thọ; tưởng; hành; thức rồi cái suy nghĩ nữa, suy nghĩ có làm cho mình mệt không? Có làm cho mình căng không? Có làm cho mình lo không?
Thí dụ như chuẩn bị thi rồi cứ an tịnh, lắng dịu, hướng vô lồng ngực kêu "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", cứ hướng vô niệm vậy đó giống như niệm Phật vậy đó. Hướng vô ngay chỗ lồng ngực trung tâm, tất cả cảm thọ nằm ở đó rồi kêu "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", mình lấy cái sự điềm tĩnh, trầm tĩnh, bình tĩnh, thanh tịnh đó làm sức mạnh để mình tuyên dương thánh pháp, còn mình lo lắng, mình căng thẳng bài vở chạy ra mất tiêu hết trơn, lên mặt mài xanh lè xanh lét, chân run rồi nói không nổi. Vì thế tâm phải định tĩnh, cứ hướng vô ngay lồng ngực niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, giống như niệm Phật, niệm chú đại bi, niệm chú vãng sanh.
Khi mình thấy rõ ràng có sự lắng dịu xuống, sự an tịnh, sự dễ chịu xuống rồi mình đi ung dung, bình thản lên mình nói thôi mà cái này không phải thi diễn giảng mới thực hành, bất cứ lúc nào ở đâu, làm công chuyện lúc nào cũng thực hành hết. Năm cái từ mà đạo tràng Nikāya chúng con mới bước vô phải học thộc lòng hết để thực hành là "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương", niệm hoài, niệm cho dễ thương vì nhiều khi không dễ thương, niệm cho nó ngọt ngạo vì nhiều khi đắng chát à.
Cái cảm thọ của mình lúc nào cũng hiền hòa hết mà cảm thọ không hiền giống như cái tiếng đang kêu đó, cảm thọ không hiền mới đọa làm thân súc sanh, gặp ai nó cũng sủa, gặp ai nó cũng táp. Mình không tu cái cảm thọ hiền, cảm thọ từ thì đời sau mình thành nó đó, chỉ thẳng người thật việc thật luôn, một con chó sủa lên là cái cảm thọ sân hận, bản ngã cho nên đời trước nó cũng là một con người, nó cũng sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng vì cái nghiệp ác giờ nó đưa xuống vậy mà nếu mình không tu thì mình cũng giống vậy đó. Chỉ thẳng ngay lúc buổi giảng đó luôn nếu có chó sủa, đó là sự thật, người thật, việc thật, lẽ thật sự thật, nói người ta nghe ta rợn óc hết, sực tỉnh hết.
Chúng ta thấy không? Khổ lắm, gặp ai nó cũng sủa hết, gặp ai cũng nhào ra táp hết thì cũng vậy, cái tâm không có tu tập là nó đưa đến cái quả như vậy. Đời trước cũng là người đó mà nhiều khi còn sếp sòng nữa chứ không phải người bình thường đâu, sếp dữ lắm cho nên để bản ngã cao.
Cách tổ chức khóa tu cho Phật tử bát quan trai giới tu một ngày an lạc hay là khóa tu mùa hè. Cách tổ chức khóa tu thì cái này quý ngày rành hơn con, cái khóa tu của con thì nó khác biệt nhiều lắm, con không có xưa bày nay làm, người ta sao mình vậy, con không có chấp nhận cái đó mà lúc nào cũng phải tìm ra được cái cốt lõi của vấn đề và phải có một sự sáng tạo độc đáo, phải có sự thiết thực, giá trị, lợi ích thật sự. Mới ngày hôm qua là con kết khóa tu ba ngày tổ chức lần thứ hai ở chùa Bửu Liên, khóa tu Hiền Trí, nếu quý vị có thời gian con thỉnh quý ngài mở vô coi dạt dào nước mắt đầy mặt, xúc động ngọt ngào, hạnh phúc, người ta cảm ơn vô cùng luôn vì trong ba ngày người ta thay đổi nhận thức, thay đổi cảm thọ, thay đổi tư duy và người ta quỳ lạy sám hối, người ta tự khai hết những cái lỗi lầm, tội lỗi của người ta trước kia.
Cái thói quen của mình hiện nay đó vô chùa cứ thích vui không à, nói cho người ta cười, người ta vui, người ta vỗ tay, nói o bế người ta. Cái này cũng là một cái khéo nhưng mà nó khéo nhiều quá nó thành dụng, con không có, tại sao khóa tu của con nếu mà quý vị thấy sẽ hơi lạ là khóc nhiều lắm, khóc rất là nhiều mà khóc hạnh phúc. Cái giọt nước mắt đó thứ nhất là người ta vỡ lẽ ra những cái trước giờ người ta không hiểu, cái thứ hai là mình chạm tới trái tim của người ta, cái thứ ba là người ta mừng vui, hạnh phúc vì người ta chưa từng nghe, chưa từng thấy, chưa từng hiểu, chưa từng có những cảm thọ như vậy mà hôm nay người ta có.
Mình muốn vậy thì thật sự cái này không phải chuyện đơn giản, mình hãy chú trọng vào trong cái chất lượng, đừng có quá chú trọng vô hình thức, máy móc. Cứ sao là làm y như vậy rồi làm sao mà tiến bộ? Phật giáo mình một ngàn năm, hai ngàn năm mà bây giờ mình cứ xưa bày nay làm, người ta sao mình vậy. Con trở lại cái vấn đề làm sao mình giúp người ta xử lý đau khổ thì khóa tu thành công, mình có hiểu người ta đang khổ gì không, người ta đang cần cái gì không chứ không phải máy móc là mở ra tụng, mở ra cứ đọc không dính dáng gì tới người ta.
Bây giờ "con thưa ni sư, con thưa sư bà, con thưa sư cô là bây giờ vợ chồng con đang giận nhau mà không biết làm sao" thì kêu "thôi về tụng phổ môn" thì làm sao giải quyết được vấn đề? Mình phải cho người ta nói, mình phải lắng nghe người ta đang cần cái gì, "con thưa sư bà là bây giờ con với chồng con đang có một cái vấn đề, ai cũng bản ngã lớn hết trơn, ai cũng có tôi lớn, không ai chịu thua ai hết" cái này mình phải tích được cái nguy hiểm của cái bản ngã, cái bản ngã này làm cho mình rạn nứt, cái bản ngã này nó làm cho mình chia lìa, thì cái bản ái này nó làm cho mình đổ vỡ. Nếu như ai cũng chịu hạ thấp mình xuống, chịu lắng nghe với nhau, hiểu với nhau, cảm thông với nhau là tốt đẹp và con xin thưa bên thiền biết ơn của con không phải chỉ có cha mẹ mà con cho hai vợ chồng lạy với nhau.
Khi đó con qua bên Úc Châu ở tại thiền viện Tiêu Giao ở Melbourne, con có mở khóa tu ba bốn ngày, ni sư cũng là đệ tử của hòa thượng trúc lâm. Trước một ngày kết thúc khóa tu thì có cô này lại xin thực hành thiền biết ơn với chồng thì con cho, khi cô ra mời thì ông chồng giống như trên trời mới lọt xuống không biết chuyện gì hết. Cô quỳ xuống nói "Dạ thưa anh là em sống chung với anh là năm mươi năm mà em thấy cái bản ngã của em quá lớn, cái gì em cũng dành phần đúng, phần phải, phần hơn, phần thắng. Nay em thấy được cái lỗi lầm em quỳ xuống đây em xin lỗi anh". Ông chồng hoảng hồn luôn chảy nước mắt quỳ xuống nói "thầy ơi con cảm ơn thầy vô cùng, con không biết nói cái lời nào, con sống chung với bả năm mươi năm mà lần này là ngoài sức tưởng tượng của con".
Vì trong khóa tu con hướng dẫn sám hối diệt ngã, con hướng dẫn một cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, con hướng dẫn cho nhìn ra thấy được những cái tham của mình, cái sân của mình, cái tôi của mình, những cái nguy hiểm, tác hại, cái tai họa, cái ác độc của bản ngã. Họ nhận thức được nên quỳ xuống khóc và ông chồng cúi xuống lạy khóc, hai vợ chồng ôm nhau khóc mà chú này công quả trong chùa cả năm mà ông đi làm ở ngoài chứ ít vô tụng kinh ngồi thiền, không biết sao có khóa tu ổng vô. Tại mình bên Việt Nam qua lâu lâu hàng hiếm thì vô ổng ngồi dự, khi dự rồi xong hai vợ chồng đoàn kết nhau, đó là một cái giải tỏa với nhau.
Một gia đình khác là chủ tịch hội đồng quản trị, lên cúng trên chùa con là mẫu mẫu đất không á. Có khóa tu cũng hai ba ngày thì cũng ra quỳ "dạ bản ngã em lớn quá, em làm ra được nhiều tiền em có quyền. Bây giờ em thấy em sai lầm", cô quỳ trước chồng khóc, hai vợ chồng cúi lạy với nhau thật là đẹp, "thưa thầy trong cuộc đời con chưa bao giờ có cái này, sao tự nhiên sao vô khóa tu cái cảm thọ con nó mềm ra, nó nhũng ra, nó tan chảy ra và ở trong con thấy ngọt ngào, hạnh phúc, không có bất cứ cái gì trên cuộc đời này có thể so sánh được hết". Đó là vợ chồng, rồi mẹ con ngoài Hà Nội thì cô này là võ sư, phụ nữ còn trẻ mà là võ sư, đứa con thì nó còn nhỏ có mười mấy tuổi thôi mà nó mê game. Bà mẹ này cái bản ngã rất là cao, rất là lớn mà võ sư nữa, đứa con nó còn nhỏ mới lớn thì nó đâu có dễ dàng nghe thì hai bên có sự mâu thuẫn, không thể nói chuyện với nhau được, nói hai ba câu là có chuyện, nói hai ba câu là phải đi chỗ khác.
Khi bà mẹ đó nghe pháp con chia sẻ về sám hối diệt ngã, thực hành những cái tâm hiền thiện thì bà mẹ quỳ xuống trước đứa con "mẹ xin lỗi con, trước nay cái bản nhã mẹ rất là lớn". Vì ba nó cũng đi mất rồi, ở không nổi, "mẹ thấy mẹ sai lầm, ngày hôm nay mẹ quỳ trước con mẹ xin lỗi, mẹ sám hối với con" và đứa con đương nhiên nhìn thấy mẹ quỳ dưới chân mà nước mắt chảy xuống mà lạy thì nó hoảng hồn quỳ xuống, nó cũng khóc "mẹ ơi con sai rồi, con không nghe lời mẹ, con mê chơi game. Ba đã đi rồi, có một mình mẹ lo cho con mà bây giờ con lại hư đốn như vậy, con cúi đầu lạy xin lỗi mẹ". Hai mẹ con ràng rụa nước mắt và lạy dưới chân của nhau xúc động nghẹn ngào, ấm áp, yêu thương và như vậy không phải một lần mà hai, ba, bốn lần sau lâu lâu mẹ cũng lạy con nữa, hai mẹ con lạy nhau.
Cho đến một thời gian thì cô này dẫn con đi lên trên núi quỳ dưới chân con khóc mà con không biết chuyện gì hết trơn, mới gặp con đã khóc rồi, lạy dưới chân, ôm cái chân của con "con cảm ơn thầy, con cảm ơn sư phụ không biết dùng lời nào diễn tả hai mẹ con của con bây giờ ấm áp, yêu thương. Con con bây giờ rất là hiếu thảo, lo cho con từng chút nhờ chánh pháp đã làm thay đổi cuộc đời của hai mẹ con của con" mà nhiều lắm, con chỉ kể một hai câu chuyện thôi, còn rất nhiều chuyện.
Có một gia đình cô này với em chồng giận nhau mười mấy hai mươi năm, một câu nói thôi hai người không nhìn mặt nhau rồi lây luôn hai bên gia đình chồng ghét cô luôn tại vì không hóa giải được mười mấy hai chục năm. Khi vô chùa cô cũng học vậy rồi cuối cùng cô về quỳ lại mà không phải một lần đâu, cô xin lỗi rồi cô tặng quà, sau đó quỳ xuống sám hối và cuối cùng ngọt ngào, yêu thương, ấm áp, hóa giải được cái oán kết, cái nội kết trong tâm. Con kể mấy câu chuyện đó là để chứng minh cho chúng ta thấy cái khóa tu muốn hiệu quả không thể làm máy móc, hình thức.
Mình muốn làm cái này thì phải có sức mạnh lớn lắm, nói thiệt phải dám làm mà con biết ni chúng mình giỏi lắm, con qua Đài Loan là con thấy giỏi, quận Bình Thạnh mình cũng giỏi, Phật giáo Việt Nam mình cũng rất giỏi. Phải có thay đổi mới phát triển, mình có thay đổi thường không? Con vô là con thấy bữa có bộ bàn mới, bữa thấy có thêm bông mới, bữa thì có thiết kế Phật Đản mới, nó phải thay đổi chứ, không lẽ giờ vô có cái hình hoài mười năm cũng y vậy. Tại sao cái tu mình thay đổi mà cách mình làm việc không thay đổi?
Thành ra phải dám, con một mình con cứ làm, con thưa với quý ni sư là chắc quý ngài cũng biết hết rồi, ở Linh Quy của con một trăm phần trăm là lấy Nikāya làm hết. Tất cả nghi thức, ngồi thiền, tụng kinh, vọng chuông con lấy Nikāya hết, bây giờ mấy hòa thượng lớn rất hoan hỉ, hòa thượng pháp chủ lúc trước mời con vô hướng dẫn pháp hành ở trong học viện Phật giáo năm buổi đó, phụ giảng với hòa thượng, hòa thượng phó ban hoằng pháp Trung ương cũng mới lên thăm Linh Quy rồi mấy vị lớn thấy con làm các ngài hoan hỉ lắm.
Thành ra con nghĩ rằng chúng ta phải suy tư một chút nên làm cách nào cho có hiệu quả chứ không phải cái hình thức quan trọng đâu. Bây giờ thứ nhất mình phải lắng nghe được họ cần cái gì đã, như giờ ni sư đang khát nước mà con lại con không đưa nước con đem bông tặng thì đâu dính dáng gì đâu, ni sư đâu cần bông đâu, đang khát nước thì đưa nước mới đúng chứ, đang đói thì đưa cơm chứ. Cũng vậy, mình phải biết cái cần của người ta thì như vậy người ta đau khổ về cái gì, về mẹ con, hay là về vợ chồng, hay là về cái sự cái tôi, cái bản ngã của người ta trong gia đình thì những cái đó thật ra nếu mình nói sâu sắc thì Nikāya tổng cương lĩnh mấy chữ thôi dục ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã.
Mười chữ này là tóm thâu hết tất cả đau khổ của chúng sanh trong tam giới: Dục ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Nếu mình giải quyết được mười chữ này là mình thành công, mình cũng vậy thôi, mình cũng bị lòng tham làm đau khổ, mình bị lòng giận làm đau khổ, mình bị cái bản ngã, cái tôi làm cho khổ. Bây giờ làm sao để giải quyết mấy cái này thì trong này có, khóa tu muốn tổ chức thành công phải nhắm vô cái đó. Con thưa là khóa tu của con là không có khai mạc, không có làm lễ gì hết, không có gắn bảng gắn gì hết, vô là tu liền, làm việc liền mà chất lượng.
Đầu tiên mình phải cho người ta nói người ta cần cái gì nhưng cái quan trọng con trở lại vấn đề là mình cũng phải có chánh kiến trước mới được. Mình biết cách xử lý cái khổ mình mới được chứ bây giờ người ta khổ mà mình không biết cách xử lý thì làm sao mình giúp người ta được? Cái này là phải có thời gian học, phải có thời gian phải xử lý được cái khổ của mình thì mới giúp người ta xử lý được chứ. Bây giờ tham làm sao trị, sân làm sao trị, bản ngã làm sao trị, cái đó là con nói về cách để tổ chức khóa tu cho có hiệu quả. Vấn đề cuối cùng "Những Điều Kiện Giúp Giữ Vững Niềm Tin Chánh Pháp Trong Lòng Người Phật Tử Trong Bối Cảnh Hiện Nay", cái gì để giúp cho người Phật tử giữ vững niềm tin chánh pháp của họ trong bối cảnh hiện nay thì cũng trở lại vấn đề:
"Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ." (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Nếu mình nắm được cái phương pháp, cái cách thức, cái đạo lộ, cái con đường, cái tuần tự, cái nghệ thuật xử lý khổ đau thì chắc chắn người ta sẽ tin tưởng mình một cách bất động không lay chuyển. Mình có khả năng giải quyết cái đau khổ cho mình và cho họ bởi cái nỗi khổ của họ tham, sân, si và bản ngã. Ở đây con nhấn mạnh mấy cái điểm này, làm sao để giải quyết, xử lý cái tham giúp cho họ, tham ở đây chúng ta tạm chia làm hai để cho dễ: Tham tài sản vật chất và tham dục, tham ái về cái thân này, về cái ái dục.
Đức Phật chỉ cho mình hai cái phương pháp, tham về vật chất Đức Phật dạy mình quán vô thường. Trong tam pháp ấn mình nói cái này luôn, mình nói vô thường là phải nói người thật, việc thật, sự thật, lẽ thật chứ không có nói lý thuyết hoài này. Mới ở bên Đắk Nông có cái nhà ngoài mặt lộ, người ta ngủ trong phòng thì bất ngờ chiếc xe tải tông vô đưa đi hết ba người chết, hai người bị thương, bể sập hết ba cái nhà, chủ nhà chết ngay trong cái căn nhà, ngay trong cái phòng ngủ mà người ta nghĩ rằng đây là chỗ an toàn nhất, ấm áp nhất, vững chắc nhất của người ta nhưng cái chỗ đó là cái chỗ bất an ngay trong căn nhà của mình ở.
Mới động đất ở Nhật Bản 7,1 độ, bây giờ chuẩn bị 9.1 rung chuyển hết tất cả, mình thấy cái vật chất này, cái tài sản này mình tích lũy, chất chứa suốt cả cuộc đời nhưng chỉ một đốm lửa nhỏ xíu thôi trở thành tro bụi. Mình thấy lũ lụt cuốn trôi cùng khắp thế giới, trôi nhà, trôi cửa, trôi xe, trôi cộ, trôi người, trôi cả xóm làng. Rồi động đất vùi lấp hết, hai vợ chồng đang ngủ trong nhà thấy ấm áp nhưng đất sạt từ trên đồi xuống chôn vùi luôn chết ngay tại chỗ. Vì một chút xíu đất, một chút xíu lửa, một chút xíu gió thổi qua thôi thì tất cả đều tan hoang, tan tành, tan vỡ, tan dụng, tiêu vong, diệt vong, bại hoại, huỷ hoại, hoại diệt, tiêu tan. Đó là những cái từ trong Nikāya đó, từ ngữ của bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác đó.
Bà mẹ dẫn ba đứa con từ ở ngoài miền Trung đi vô trên Đà Lạt để thăm ngoại đi làm mướn ở một cái chái phía sau căn nhà của người ta, đứa con một tuổi, bốn tuổi, sáu tuổi. Buổi sáng bà mẹ nấu đồ ăn sáng rồi chợt nhớ đi ra ngoài mua sữa cho mấy đứa nhỏ nên khóa trái cửa lại, bà mẹ trở về là căn nhà bốc lửa lên và ba đứa con chết hết vì quên tắt cái bếp ga. Ba đứa con một tuổi, bốn tuổi và sáu tuổi chết hết chỉ vì quên tắt cái bếp ga thôi và trong đám tang của ba đứa nhỏ thì một người kè bên đây, một người vịn bên đây và cầm một cái chai nước biển đang vô nước rồi bà mẹ ngất xỉu, đi không nổi người. Cùng một lúc chết ba đứa con chỉ vì đi ra mua sữa mà quên tắt cái bếp, vì khóa trái cửa thì người ta đập cửa vô không kịp, lửa bốc lên hết rồi người ta hay tin lại thì đập vô không kịp, tới chừng đập ra được thì ba đứa nhỏ chết hết.
Vô thường như vậy, nó mau chóng như vậy, nó biến hoại như vậy, nó tan hoại, nó hủy hoại, nó hoại diệt, nó tiêu tan, tiêu vong, diệt vong như vậy. Đó là bản chất của cuộc đời này, đó là sự thật, là lẽ thật, là chân thật vì cái tâm vô minh, cái tâm hôn mê, cái tâm ngu si, cái tâm dại khờ không có tin. Đến khi xảy ra thì lúc đó tất cả là muộn màng, hối hận đâu có kịp cho nên mình nhớ cái vô thường đó thì mình bớt tham muốn những cái vật chất phù du, huyễn ảo, hư huyễn cuộc đời, không có cái gì hết. Mình lấy một cái câu chuyện đó thôi, mình thấy người thật, việc thật, sự thật, lẽ thật ngay trước mắt của mình để chứng minh cái sự vô thường đó và như vậy để bớt cái lòng tham vật chất.
Đất, nước, gió, lửa này, tứ đại này có thể hủy hoại mình bất cứ lúc nào, một đốm lửa nhỏ thôi, một ngọn gió thôi cũng có thể trúng gió độc rồi chết. Có chú Phật tử hộ pháp là kĩ sư bên Mỹ mấy chục năm, bất thình lình đột quỵ, đột tử, chúng ta thấy cái này để làm cho mình nhiếp phục và chế ngự, giảm thiểu, đi chỗ diệt tận lòng tham về vật chất. Thường quán chiếu, thường ghi nhớ, thường nhắc nhớ rồi lòng tham về thân xác, về dục thì Đức Phật dạy quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, quán bất tịnh, quán chín giai đoạn tử thi, quán về cốt tưởng, bộ xương, quán về nắm tro tàn. Về cái sân thì Đức Phật dạy về từ tâm giải thoát, còn si mê, vô minh Đức Phật dạy quán tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, nguy hiểm, tác hại của đời sống này để phá vô minh.
Hồi nãy con nói rồi đó, mình cứ mình nghĩ rằng an an, bình bình, yên yên, ổn ổn như vậy không có đâu. Con xin thưa tất cả những ác nghiệp đang rình rập mình bất cứ mọi lúc mọi nơi, nó chỉ chờ thời nó ra tay rồi nó theo mình, nó bén gót như hình với bóng. Chỉ cần mình hở, mình xê xích chút là nó ập vô là xong, nó giải quyết mình, những ác nghiệp, những oan gia trái chủ, những nghiệp báo mà mình đã từng tạo vô lượng vô biên kiếp nay là ở cùng khắp mọi nơi, nó ẩn nấp tiềm phục mà đúng lúc nó ập vô xử lý mình. Nếu mình không có chánh niệm tỉnh giác, không có tu tập, không có định lực, đạo lực, niệm lực, tuệ lực thì một nhân quả oan cha trái chủ ập tới lúc đó là mình thúc thủ, mình bó tay thôi nếu mình không có niệm lực, định lực, đạo lực, tuệ lực.
Cho nên bình thường mình phải tu là mình phá cái si mê, cái cảm giác đơ đơ, trơ trơ, ngơ ngơ, cái cảm giác đều đều, bình bình, an an đó là nó giết mình chết, cái cảm giác bình an đó là nó giết mình chết, mình chết với cái đó. Sân với lại tham thì thấy vậy chứ cũng đâu phải lúc nào cũng giận hoài tối ngày sao, lúc nào cũng tham hoài sao mà cái si này mới khủng khiếp, nó chiếm hết tám – chín chục phần trăm của một ngày là mình cứ đơ đơ, trơ trơ. Mình nghĩ sáng cũng vậy, trưa cũng vậy, nay cũng vậy, mai cũng vậy, tuần sau cũng vậy, tháng sau cũng vậy, năm sau cũng vậy là chết.
Cái đó là ngu si, là vô minh, là mù lòa, phải dùng cái thánh trí phá vô minh. Quán nguy hiểm, quán tác hại, quán vô thường, quán tiêu vong, quán diệt tận, quán ác nghiệp, quán khổ đau để mình phá cái tâm si mê đó thì nó cho mình một cái sức mạnh dũng lực, tinh tấn, tinh cần, mãnh hổ lực, tượng vương lực, sư dương lực, thánh hùng lực mới được sanh khởi lên. Đó là tứ chánh cần, tứ thần túc, vận dụng trong ba mươi bảy chánh giác phần.
Còn cái bản ngã có bài sám hối diệt ngã, quý vị cứ các ngài cứ vô coi ở trong Nghi Thức Tu Học Nikāya. Đánh phá sập hết, tan vỡ hết cái bản ngã, cái tôi, cái ta này cần phải nhiếp phục, chế ngự và diệt tận. Như vậy là con chia sẻ hết về sáu cái chủ đề, quý vị có muốn hỏi gì không ạ?
Sư cô: Dạ mô Phật bạch thượng tọa chúng con xin thượng tọa hoan hỉ giảng chi tiết về giáo lý vô ngã tại vì giáo lý này rất là khó hiểu, chúng con chưa có nhận diện được. Xin thượng tọa hoan hỉ.
Sư Phụ: Đức Phật nói:
"Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này." (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V). Một Ung Nhọt)
Cái thân mà mình đang thấy đây mình tưởng là mình, là tôi, là của tôi nhưng thật ra là nó là đất, nước, gió, lửa. Mỗi ngày nó phải được mượn đất, nước, gió, lửa vô, bên đây là bên trong tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim, gan, tuỳ phế thận, hoành cách mô, vân vân, nó thuộc về đất, chất cứng. Nước miếng, mủ, máu, mỡ, mồ hôi, nước tiểu, chất dịch nước trong khớp xương, nước mũi, vân vân, những cái đó thuộc về phần nước, phần thủy đại và cái hơi ấm trong cơ thể mình thuộc về hỏa đại. Những cái động như tim đập, mạch nhảy, máu huyết lưu thông, tuần hoàn hơi thở, những cái động trong cơ thể mình thuộc về gió.
Như vậy nó gồm có nội tứ đại là đất, nước, gió, lửa bên trong ngoại tứ đại là đất, nước, gió, lửa bên ngoài. Hằng ngày mình phải ăn vô, mình phải uống vô, mình phải thở, bây giờ mình ngưng thở là xong rồi, đâu có còn ai nữa đâu.
"Còn động còn ấm còn ta,
Động dừng ấm hết là ma ra đồng.
Thở than khóc lóc não lòng,
Thức thần theo nghiệp hết mong trùng phùng".
(Chiếc Thân Phút Chót - Thiền Viện Chân Không, 01.1985)
Bài kệ đó của hòa thượng trúc lâm, như vậy tứ đại bên trong, tứ đại bên ngoài kết hợp, vay mượn liên tục mà theo một cái sự vận hành của nó, một cái cấu trúc, cái mô thức của nó mà nó gặp trục trặc là đi vô bác sĩ. Ăn không được, đào thải ra không được, thở không được, uống không được thì khổ không? Đó là cái sự kết hợp phải không? Mới có phần sắc uẩn thôi là đã bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên như vậy, bao nhiêu cái sự kết hợp như vậy, lắp ráp, vay mượn liên tục không ngừng.
Con thưa quý vị, quý vị ra ngồi ở đây làm cái gì quan trọng nhất mà không làm là chết liền? Mình hỏi thính chúng vậy đó, mình có nhớ mình thở không? Một ngày mình nhớ được bao nhiêu mà mình biết cái tầm vóc quan trọng của cái thở này không? Cái thở này gọi là mạng căn, là căn bản của sự sống là cái thở này mà mình không nhớ, nhưng mà chuyện ai là mình nhớ kỹ lắm. Đó là cái sự sai lầm, mình đặt tâm hướng ngoại mà mình không có nội quán, nội tỉnh, nội chiếu, nội soi, quay lại nhìn mình nhìn để thấy cái tứ đại này vận hành. Nó là duyên sanh, nó là lắp ráp, nó là vay mượn, nó là vô thường, nó là biến đổi, nó là tan hoại, là huỷ hoại, là hoại diệt, là tan nát, là tiêu tan.
Mình lấy ngũ uẩn ra để phân tích cảm thọ, do tiếp xúc mới có sanh ra cảm thọ mà cảm thọ vui là mình thì cảm thọ khổ là ai, cảm thọ không vui không khổ là ai. Cảm thọ này là duyên sanh, nó là vô thường, nó là biến đổi, nó là tan hoại. Những hình bóng trong tâm hình là bóng nào, đủ thứ hình bóng thay đổi liên tục, nó ám ảnh trong mình rồi những cái suy nghĩ cứ nói hết cái này tới cái kia, hết cái kia tới cái nọ, Nó thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than, nó bép xép, nó nói hoài thì cái nào là mình và cái nhận thức này cũng vậy, cũng là duyên sanh, thay đổi liên tục, năm tuổi khác, bảy tuổi khác, mười tuổi khác, giờ ba mươi tuổi, bốn mươi tuổi khác, sáng thấy vầy, trưa đổi khác, tối nó đổi khác, ngày mai nó đổi khác. Cái nhận thức này nó biến đổi, nó vô thường, nó duyên sanh.
Đức Phật gọi cái nhận thức này giống như trò ảo thuật, trong bài kinh Bọt Nước Đức Phật chỉ quán sắc như hòn bọt, thọ như bông bóng nước, tưởng như ráng mặt trời, hành giống như là cái bẹ chuối giống như cái cây chuối, thức giống như trò ảo thuật. Mình lấy năm cái ví dụ đó để mình thấy rõ được cái ngũ uẩn này là một cái sự cấu kết, lắp ráp, kết hợp, duyên sanh, không có một cái chủ thể, không có một cái tự thể, không có một cái bản thể. Mình thấy được cái tính trống rỗng, trống không, duyên sanh, vô thường của nó để mình không chấp trước một cái tự ngã ở trong cái ngũ uẩn này.
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thượng tọa, con muốn thưa với thượng tọa về cái vấn đề của ý nghĩa Phật đản khi mình nói sự xuất hiện của Đức Phật mang lại lợi ích gì cho đời thì ở cái đoạn này mình có thể liên hệ về tứ diệu đế và mình nói sự xuất hiện của Đức Phật để cho con người nhìn nhận được sự thật của vô thường, vô ngã, thấy được khổ và con đường diệt khổ thì mình liên hệ tới cái vấn đề này nó có đúng trọng tâm không ạ? Cho con xin hỏi về cái vấn đề vu lan báo hiếu thì khi nói tới vu lan báo hiếu mình có thể liên hệ qua bên tứ trọng ân không hay là mình chỉ xoay quanh cái chỗ báo hiếu đối với cha mẹ thôi ạ?
Sư Phụ: Báo hiếu thôi, tứ trọng ân rộng lắm, thời gian mình rất ít.
Sư cô 2: Dạ với cho con hỏi thêm một cái vấn đề ở nhân quả thì cái nhân quả này nó rất là rộng nhưng khi mình nói về một đề tài mình có thể nói là do nhân quả. Ở đây con xin giới thiệu nhân quả xoay quanh đời sống của con người, mình có thể hạn chế trong cái vấn đề đó được không ạ?
Sư Phụ: Câu hỏi đầu là ở trong kinh Tăng Chi Bộ, mình phải thuộc lòng để lấy cái câu đó:
"vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
Cái câu này rất quan trọng, từ cái câu đó mình khai triển ra. Vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì thương tưởng cho đời Đức Phật nói ra năm giới. Giới là đạo đức mà xã hội hiện nay là đang là suy đồi đạo đức một cách nghiêm trọng, khủng hoảng về nhân đạo toàn cầu cho nên cái lòng từ ái không có giết hại chúng sanh, không có phá rừng cây là bảo vệ cái khí hậu, bảo vệ cái sự ngừng lại cái sự biến đổi thiên nhiên. Nói những cái mình điểm nóng hiện tại trên thế giới, đừng có nói quá xa, Đức Phật giúp cho con người có được cái đạo đức, có cái tâm hiền lành.
Bây giờ sát sanh hay là trộm cắp, tà dâm hay là nói dối, hay là say sưa, nghiện ngập đều làm đau khổ cho mình và đau khổ người thân, đau khổ xã hội. Mình nên khai chuyển về năm cái giới, cái lợi và cái hại của nó, cái đó hay nhất rồi sau đó mình nói mấy cái kia nói vừa vừa thôi tại vì đề tài Phật đản thì mình chú trọng vô cái lợi ích, cái hạnh phúc, an lạc cho chúng sanh. Thí dụ mình gia đình quý vị thử đặt trường hợp hai vợ chồng mà người vợ ngoại tình, hay người chồng ngoại tình có vợ bé thì quý vị thấy làm sao? Dù cho có ngồi trên đống vàng có hạnh phúc không? Mình đưa ra cái nguy hiểm, cái tác hại của nó, mình đưa ra cái lợi ích, hạnh phúc của nó để mình thấy rằng cái đạo đức của Phật giáo là cao quý, là cứu khổ độ sanh.
Chỉ với năm giới thôi thì một người mới bước vào cửa chùa, mới nhập môn đạo Phật thôi là đã có được sự bảo vệ, an lạc, hạnh phúc tuyệt vời như vậy thì huống hồ chi những cái thánh trí cao thượng của cái thượng nhân pháp cao hơn. Mình nhấn mạnh vô cái chỗ đạo đức, nhân văn hoặc mình nhấn mạnh vô giới, định, tuệ cũng được rồi, thiền định của đạo Phật là đưa cho mình có một cái nội tâm nhẹ nhàng mà xã hội ngày nay là căng thẳng, là trầm cảm, là hối hả, là tất bật, là gì dòng xoáy ở trong những cái dục vọng, tham lam, sân hận của con người. Thiền định của Đức Phật giúp cho mình có một cái nội tâm lắng dịu, một nội tâm an tịnh, một nội tâm nhẹ nhàng, một nội tâm bình tĩnh, trầm tĩnh, điềm tĩnh, một cái nội tâm sáng suốt để nhìn ra được cái nào nên làm, cái nào không nên làm, cái nào lợi, cái nào hại, cái nào thiện, cái nào bất thiện để giúp cho cuộc đời này.
Mình thấy cái giá trị của thiền định tuyệt vời đến mức độ nào cho nên tại sao trên thế giới các nước phát triển ví dụ như Nhật Bản rồi các nước đưa thiền định vô tất cả xí nghiệp, công nhân hay là bên Mỹ rồi các nước hiện giờ quý trọng thiền định. Như vậy cái cao quý của thiền định và cái sự nguy hiểm và tác hại của cái tâm và cái thân động loạn, bạo loạn của xã hội, thế giới ngày nay. Mình lấy cái thực tế đó, mình đưa cái sự an tịnh, lắng dịu, thiền định đó, trầm tĩnh, bình tĩnh, điềm tĩnh, nhẹ nhàng, thanh tịnh, an tịnh, trí tuệ sáng suốt để giúp cho bản thân người đó, giúp cho gia đình người đó, giúp cho cái công ty, xí nghiệp, giúp cho xã hội và giúp cho cả thế giới, hành tinh này.
Cái thông điệp vĩ đại của thiền định thì mình lấy giới, định, tuệ thôi là cũng tuyệt vời rồi. Mình khai triển cho nó sâu và nó rộng, đừng có ham quá nhiều cái vấn đề rồi nói phớt phớt không có cái nào ấn tượng. Chỉ cần ba điểm thôi mà mình nói cho đầy đủ mọi phương diện thì ấn tượng rất lớn, giới, định, tuệ thôi tức là Đức Phật đản sanh đưa ra ba cái pháp tối thượng cho chúng sanh an lạc, rồi cái tuệ thì đưa tứ thánh đế vô. Vì người ta không thấy vô thường, không thấy khổ, không, vô ngã cho nên người ta đầy rẫy cái lòng tham, đầy rẫy cái lòng sân hận, đầy rẫy những cái lòng hơn thua, bản ngã như vậy rồi làm khổ cho nhau và cái thánh trí tuệ này đưa cho người ta giảm sân, giảm si, giảm tham, giảm bản ngã để sống hòa bình, sống với từ tâm, sống với cái sự ngọt ngào, yêu thương với nhau.
Đó là cứu khổ độ sanh, đó là sự đản sanh của Đức Phật đem lại hạnh phúc, an lạc, lợi ích cho chúng sanh về lâu dài. Chúng ta khai chuyển cái phần đó, còn cái nhân quả thì mình nói gọn thôi, như cái bài kinh nãy thôi là nói là cũng độc đáo rồi, đó là không đụng hàng với bất cứ ai, thuộc lòng là năm hay là sáu cái cặp nãy đó là mình giải mã được cái đó. Cái bài đó con đề cái tựa trong cái bài con giảng là "Giải Mã Nhân Sinh Thế Giới Vũ Trụ", con giảng cái bài kinh đó bốn năm lần rồi quý vị mở ra coi. Bài kinh đó giải mã hết những câu hỏi lớn ở trên cuộc đời này, ở trên thế giới này, tại sao tôi nghèo, tại sao tôi xấu, tại sao tôi lại tật nguyền, tại sao con tôi chết yểu vậy. Giải mã hết tất cả, giải mã kiếp nhân sinh chỉ với cái bài kinh đó thôi Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt.
Sư cô 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thượng tọa con có thắc mắc về cái câu hỏi về cách tổ chức khóa tu cho Phật tử. Bây giờ khóa tu là được phổ biến rất là rộng rãi trong đó có khóa tu mùa hè, khóa tu bát quan trai hay khóa tu một ngày an lạc, nhưng khóa tu mùa hè thì nó được phổ biến rộng rãi hơn. Trong đó thì nó có về mặt tích cực và mặt tiêu cực, xin thượng tọa chỉ dạy thêm cho chúng con là làm sao để chúng con hạn chế được cái mặt tiêu cực bởi vì trong thời gian vừa qua thì cũng có rất nhiều cái mặt tiêu cực trong cái khóa tu mùa hè và để cho cái khóa tu đem lại cái lợi ích nhiều hơn cho Phật tử và cho cả Phật giáo thì chúng con phải như thế nào để cho nó đúng gọi là khóa tu mùa hè. Xin thượng tọa chỉ dạy thêm cho chúng con.
Sư Phụ: Cái gì cũng vậy hết, mình phải có cái chừng mực, đừng có thái quá, đừng có chạy theo trào lưu. Mình phải lấy cái tinh thần gốc của Đức Phật giới, định, tuệ để mình mở cái khóa tu, mình không cần phải đông, nhiều, to lớn, số lượng. Mình đi theo cái số lượng riết là mai mốt là mất cái chất, mất gốc, mình trở thành giống như những cái trại hè chứ không phải là khóa tu nữa. Chúng ta phân biệt rõ cái này không? Trại sao mình phải chạy theo ở ngoài? Trại hè người ta tổ chức vui chơi giải trí rồi mình tổ chức khóa tu phải ra khóa tu, nhớ kỹ cái điều này, phải nhớ là hai chữ khóa tu.
Người ta chịu tu thì người ta vô người ta tu, còn không ta đi tổ chức cắm trại khóa hè gì đó ngoài thị trường người ta làm được. Mình không cần quá chiều vô những cái dục của họ, những cái niềm vui của họ, những cái sự buông thả, buông lung. Không được, mình phải làm sao cho nó chất lượng thí dụ giờ người ta tổ chức một ngàn mà mình tổ chức một trăm thôi nhưng mà chất lượng sau cái khóa tu đó về có sự thay đổi rất nhiều. Như vậy thì mình phải có nhiều cái suy tư, phải nhiều cái sự nhìn nhận và phải nhiều cái sự động não để mình tìm ra được những cái cách thức nào hiệu quả nhất nhưng cũng không rời giới, định, tuệ.
Tức là mình nói rõ trong cái tiêu chí của khóa tu của mình là nhầm tô bồi, tăng trưởng để cho các bạn nâng cao về những cái phẩm chất đạo đức của một con người thì trong cái khóa tu đó phải khai triển về tam quy ngũ giới, bốn dự lưu phần. Phải khai chuyển là nguyên một ngày là hướng dẫn về cái đó, có thể mình cho vui chơi một cách nhẹ nhàng, lành mạnh ít thôi, cũng có nhưng mà ít, đó là cái phụ rất nhỏ thôi. Thí dụ cái vui cho mình cho chừng hai mươi, ba mươi phần trăm thôi, còn bảy mươi, tám mươi phần trăm là tu học, chẳng những mình cho tụng về giới, trong Nikāya có những bài kinh Đức Phật cho dạy bát quan trai giới hay lắm rồi giảng về giới như con đã nói cái nguy hiểm của giới, cái lợi ích của giới, cái giá trị, cái công năng, cái tác dụng của giới nhằm nâng cao phẩm chất, cái đạo đức, cái sự cao đẹp của một con người lên tới chỗ tối thượng nhất là trong Phật Giáo mới có.
Thí dụ nguyên một ngày đó mình học về giới, mình tụng về giới, mình giảng về giới, mình cho pháp đàm về giới. Bây giờ các con thấy không, thí gia đình có cậu hay chú đi nhậu về bệnh rồi gặp tai nạn vậy đó. Tự tụi nhỏ nói ra luôn vì mình cho nó pháp đàm mà, thí dụ như là những người thân mà phạm cái giới này rồi con thấy gia đình sao. Nó sẽ nói rồi mình lấy cái đó mình giải thích cái tai hại của nó, rồi bây giờ gia đình người có được giữ giới được lợi ích sao.
Như vậy thì một cái là mình cho thấy nguy hiểm, tai họa và một cái mình thấy lợi ích, hạnh phúc, an lạc thì nguyên một ngày tu về giới học thôi. Cái ngày sau là mình giải thích về cái tâm nhẹ nhàng, cái tâm mình cho thực tập tứ vô lượng tâm và the theo cái kiểu cấp độ từ từ thì cái này quý vị coi những cái bài con hướng dẫn tứ vô lượng tâm hay lắm, tuyệt vời lắm của Đức Phật dạy là tình thương, lòng bi mẫn, cái niềm vui ở trong tu học và cái tâm nhẹ nhàng. Ngày hôm sau đó mình hướng dẫn về định học tức là về cái tâm thương, tâm xót, tâm vui và tâm buông, nói tiếng việt dễ hiểu vậy đó. Khai triển cái này tùy theo khóa tu ba ngày hay là bảy ngày, nếu ba ngày thì cái ngày hôm sau là cái ngày mình triển khai thiền quán, thiền tập, thiền định ít thôi vì ngồi yên không được đâu, cho lắng tâm nhẹ nhàng thôi.
Mình khai triển các cái môn thiền tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả mà nhất là tâm hỷ đó, cái đó còn tuyệt vời hơn là mình cho nó chơi này nọ kia, cho nó thực tập giảng về tâm hỷ. Dạy tụng cái bài hỷ vô lượng tâm, pháp đàm hỷ vô lượng tâm, cho thực tập hỷ vô lượng tâm giống như y như thể dục, các vị mở ra coi cái bài con hướng dẫn hỷ vô lượng tâm là đứng trải tâm hỷ mười phương, vui lắm, giống như Yoga vậy đó. Rồi ngày cuối là tu về tuệ, mình hướng dẫn nhân quả nghiệp báo thì tùy theo cái độ tuổi, hướng dẫn cái hiếu thảo có được cái quả báo như thế nào, bất hiếu ra làm sao, những cái siêng năng tinh tấn rồi thanh niên hay tuổi trẻ thì mình phải chọn cái chủ đề cho phù hợp. Ví dụ như chủ đề tinh tấn, chủ đề nhẫn nại, chủ đề hiếu thảo, chủ đề là tứ nhiếp pháp chẳng hạn, thì mình chọn những cái phù hợp chứ bây giờ trẻ mình vô nói khổ nó đâu có chịu, đâu có giảng tứ thánh đế được, phải không?
Mình khéo léo như vậy thì chắc chắn là khóa tu được lợi ích, khi mình làm có chất lượng rồi đó tự động nó sẽ có sức lan tỏa như con tụi con ở trên núi xa xôi, đường đi rất là khó khăn mà thậm chí là con không có làm cái đường, con để cho khó vậy đó mà bảng hiệu chưa có nữa. Mình tổ chức là cả một – hai trăm người có khi hơn nữa, tại vì người ta đi người ta nếm được cái hương vị, người ta cảm nhận được cái lợi ích, người ta thấy người ta thay đổi và cái hiệu quả của nó rõ ràng, thiết thực, hiện tại, người ta cảm nhận được thì tự động người ta thôi. Mình không cần quảng cáo gì nhiều, mình cũng cần lấy lòng nhiều, mình cứ trú vững ở trong giá trị của chánh pháp thì tự nó là bất hữu, bất diệt. Nhớ kỹ nha, chánh pháp của Đức Phật là tối thượng không có bất cứ một cái gì ở trên thế giới này hay là mười ngàn thế giới không có cái gì so sánh được thánh pháp tối thượng hết, cứ trú vững. Mình phải có lòng tin thì mình mới truyền tải lòng tin được cho người ta, mình không có tin giáo pháp thì làm sao mình truyền tải chánh pháp cho người ta được.
Sư cô 4: A-di-đà Phật thưa đại chúng có huynh đệ nào muốn xin ý kiến để hỏi thượng tọa trong buổi sáng hôm nay nữa không ạ? Dạ nếu không thì chúng ta sẽ kết thúc.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thượng tọa trải qua hai tiếng đồng hồ thượng tọa đã vì lòng bi mẫn hết sức từ bi và hoan hỉ. Dù thời gian của thượng tọa rất là bận rộn nhưng vì đàn hậu tấn vì chúng con cho nên thượng tọa đã trở về ni trường Dược Sư trước hết là chỉ dạy tận tình và chia sẻ những cái phương pháp tu tập để chuyển hóa bản thân của chính mình. Từ cái chỗ được chánh kiến, được sự an lạc giải thoát đó thì mới có thể chia sẻ và dẫn dắt cho những người xung quanh và đồng thời cũng hướng dẫn cho chị em chúng con những cái phương pháp để thi tập, diễn giảng trong cái cuối kỳ thi của phân ban ni giới Trung ương thành phố tổ chức.
Với thời gian giờ này chúng con cũng như là chị em chúng con đã hiểu rõ và nghe rõ, sẽ cố gắng thực hành và tu tập để không cô phụ cái công ơn của thượng tọa để đến đây. Và giờ này chúng con xin đại lao cho tất cả ni chúng có mặt hôm nay xin một lòng tri ân đến thượng tọa và chúng con cũng sẽ nguyện y giáo phụng hành để thể hiện lời dạy của thượng tọa không cô phụ. Nam mô hoan hỉ tạng bồ tát. Nam mô công đức lâm bồ tát ma ha tát
Sư Phụ:
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.
TĂNG NI DIỄN GIẢNG
–Thích Minh Thành–
Để chuẩn bị chúng ta thi diễn giảng thì chúng ta có tổng cộng là sáu chủ đề. Chủ đề đầu tiên chúng ta là ý nghĩa Phật Đản, vì cái tư liệu thì nhiều lắm nhưng mà ở đây thời giờ chúng ta rất ngắn cho nên mỗi một cái chủ đề con sẽ đưa ra cho quý vị một bài kinh để quý vị lấy làm cái nguồn tư liệu và con sẽ chỉ chỗ để quý vị lấy tư liệu. Có rất là nhiều tư liệu ở trong cái phần phân loại kinh tạng Nikāya theo chuyên đề, ý nghĩa Phật Đản thì thông thường chung chung chúng ta đã biết rồi cho nên con chỉ đưa những cái điểm mà trước nay chúng ta ít có được nghe.
Trong bài kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp, bài kinh số 123, Trung Bộ kinh, tập III, bài kinh này sẽ diễn tả rất là chi tiết về hai mươi pháp chưa từng có, hiếm có, hy hữu của Đức Thế Tôn và đặc biệt là khi giáng sanh, khi đản sanh, khi giáng thần. Pháp thứ nhất là bồ tát sanh trong thiên chúng Đâu-suất, pháp thứ hai là chánh niệm tỉnh giác bồ tát trú trong thiên chúng Đâu-suất cho đến trọn thọ mạng tức là mạng chung ở cõi trời Đâu-suất. Sau đó thì chánh niệm tỉnh giác bồ tát sau khi từ thiên chúng Đâu-suất mạng chung nhập vào mẫu thai. Tới cái điều thứ năm là khi ấy một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư thiên hiện ra cùng khắp thế giới và tiếp theo là bốn vị thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói không cho một ai, người hay không phải loài người đến phiền nhiễu bồ tát hay mẹ của bồ tát.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, bốn vị Thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói: 'Không cho một ai, người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ-tát, hay mẹ vị Bồ-tát'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn'." (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Tức là khi mà bà mẹ mang thai thì có thiên tử bốn phương canh gác, tứ đại thiên vương. Và khi bồ tát nhập mẫu thai thì mẹ của bồ tát giữ giới một cách hồn nhiên, những điều này ở những bản kinh khác mình chưa có từng nghe tức là trong thời gian mang thai bồ tát tự động mẹ của ngài tròn đủ giới hạnh. Tức là không sát sanh. không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không sử dụng những cái chất rượu men, rượu nấu trong thời mang thai bồ tát. Tiếp theo mẹ của bồ tát không có khởi dục tâm đối với bất cứ Nam nhân nào và mẹ của bồ tát không bị xâm phạm bởi bất cứ một người đàn ông nào có nhiễm tâm và tiếp theo là mẹ của bồ tát tận hưởng năm dục công đức đầy đủ và không có bất cứ một bệnh tật gì trong khi bà mang thai.
Bà sống với một cái tâm vui vẻ, hoan hỉ, khoan khoái và thấy trong bào thai của mình vị bồ tát đầy đủ mọi bộ phận chân tay. Tức là mẹ của ngài nhìn thấy được ở trong bào thai luôn.
"Này Ananda, ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: 'Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt'. Cũng vậy, này Ananda, khi Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỉ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ bộ phận và chân tay'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn. (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Mẹ của ngài nhìn thấy rõ ở trong bụng của mình bồ tát như thế nào hiện rõ. Con nói hết cái này rồi cho chúng ta thấy là sau khi sanh bồ tát bảy ngày thì mẹ của bồ tát mệnh chung và sanh lên cõi trời Đâu-suất.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, mang bầu thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ Bồ-tát sanh Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát mang Bồ-tát trong bụng mười tháng rồi mới sanh'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, hoặc ngồi hoặc nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh Bồ- tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát đứng mà sanh Bồ-tát'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài người'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Bồ-tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: 'Hoàng hậu hãy hoan hỉ! Hoàng Hậu sanh một bậc vĩ nhân'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn." (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Do thời gian không có nhiều con chỉ đưa một vài điểm quan trọng, chúng ta về lấy cái bài kinh đó đọc thêm.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Bồ-tát khi sanh ra, này Ananda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: 'Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn." (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Những cái tư liệu này chúng ta sẽ không tìm gặp bất cứ ở trong sách vở nào hết. Thời gian chúng ta lên để trình bày cái bài thuyết giảng dự thi của mình không có nhiều cho nên chúng ta sẽ lấy những cái điểm đặc biệt nhất trong hai mươi điểm này. Thí dụ như cái câu vừa rồi là các kinh khác không có nói 'Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa', khi mình dẫn chứng mà y cứ thánh điển, mình đọc thuộc lòng mà đọc hùng hồn lên thì có một cái sức mạnh khủng khiếp lắm. Đó là mình tái hiện lên cái cảnh của bồ tát đản sanh tức là mình tạo ra từ ở trong cái cảm thọ của mình, từ ở trong cái sự thuộc bài của mình, từ ở trong cái sự tự tin của mình khi mình nói ra giống như mình đang dẫn người ta xuyên không, tái hiện lại cảnh đản sanh của Đức Phật.
Mình phải có một cái sức mạnh đó, nếu quý vị nào có theo dõi thì ở trên núi chúng con thường có những bài thiền quán xuyên không. Đó là con dẫn hội chúng về xuyên không hai mươi lăm thế kỷ và khi đó tất cả mọi người đều cảm nhận đang ở Trúc Lâm Tinh Xá hết, nước mắt ràng rụa, hạnh phúc trào dâng hết. Muốn vậy thì mình phải có cái tâm lực, phải có cái định lực, phải có cái tự tín, thuộc bài thì lúc đó mình sẽ có cái sức mạnh đó, mình dẫn tất cả hội chúng đi ngược về 25 thế kỷ và mình tái hiện cái cảnh bồ tát đản sanh.
Thí dụ trong hai mươi điều vi diệu vị tằng hữu này thì mình lấy chừng ba bốn điều đặc biệt thôi mình nêu ra mà người ta nghe sẽ bất ngờ, thậm chí mấy hòa thượng sẽ trố mắt ra luôn, ngỡ ngàng. Tại vì chưa bao giờ đọc, chưa thấy, thì mình lấy những cái điểm đó, nhiều cái tư liệu lắm, để con lấy thêm một cái tư liệu này nữa cho quý vị. Kinh Đại Bổn cũng có, về cái chủ đề ý nghĩa đản sanh này chúng ta có hỏi gì không ạ? Chúng ta có câu hỏi gì về cái này không? Hôm trước đã có nói rồi cho nên những cái chủ đề mới thì con mới khai triển nhiều thêm, cái chủ đề này hôm trước có nói rồi.
Mình nhớ mấy cái điểm trong mỗi cái chủ đề. Mình phải làm sáng tỏ được cái nội dung, cái ý nghĩa, cái tầm vóc quan trọng của cái chủ đề mình đang nói, tuyệt đối là không lạc đề, kế đó không được mông lung, tản mát mà phải tập trung vào cái cốt lõi của cái vấn đề. Thí dụ như bây giờ Phật đản thì sự xuất hiện của Đức Phật đem lại cái lợi ích gì cho nhân thế này, cho con người này, cho xã hội này, cho hành tinh này. Mình để ý những cái điểm mấu chốt ở trong đó chứ đừng nói lan man, đừng có nói mông lung, đừng có nói quá rộng mà tuyệt đối là không nói lạc đề.
Phải xoáy sâu vào cái chỗ đản sanh, còn không thì chúng ta để cho hỏi cuối cùng, hết bài là hỏi. Bây giờ vu lan báo hiếu thì ở đây con cung cấp cho chúng ta những cái tư liệu quý giá mà trước nay chúng ta ít có gặp. Tất cả cái tư liệu là con cung cấp cho chúng ta là ở trong tạng Nikāya không à, cái tạng kinh này có một cái giá trị quyết định và có cái quyền uy ở trên Phật giáo thế giới. Khi mình dẫn chứng tạng kinh này thì các vị tri thức, các tiến sĩ Phật học, các vị là nhà nghiên cứu sẽ rất là kính trọng, kính lễ nên chú trọng lấy cái nguồn tư liệu ở trong thánh điển Nikāya. Bởi vì đây là cái tạng kinh quyền uy của Phật giáo thế giới, bây giờ cái bài kinh Đất trong Tăng Chi Bộ tập I nói về cái chủ đề cha mẹ thì Đức Phật xác định cái địa vị của bậc chân nhân.
Chân nhân là con người thật sự là người mà bậc chân nhân ở đây nhiều cấp độ lắm, là bậc hiền trí, là bậc hiền thánh luôn, là bậc A-la-hán luôn thì Đức Phật cũng gọi là chân nhân. Địa vị của người chân nhân là biết ơn và nhớ ơn, đây là đặc tính của bậc chân nhân.
"Còn bậc Chân nhân, này các Tỳ-kheo, là biết ơn, là nhớ ơn. Ðối với những thiện nhân, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỳ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị bậc Chân nhân, này các Tỳ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn." (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng, Đất)
Đức Phật nhấn tới nhấn lui, lặp đi lặp lại nên khi mình đọc đoạn kinh này ra mình cũng phải đọc nguyên cái văn vậy. Tại vì mình nhấn tới nhấn lui, lặp đi lặp lại thì nó ấn tượng vô cái cảm xúc, cảm thọ thì người ta khắc ghi, người ta ghi nhớ chứ mình nói phớt qua một lần biết ơn, nhớ ơn rồi nó nhẹ lắm, mà mình nhấn tới nhấn lui. Đây là cái cách lý luận của bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác cho nên hồi xưa con chưa có hiểu, con nói "ủa sao cứ lập tới lặp tới lặp lui hoài vậy?" nhưng mà sau này mình hiểu cái giá trị của nó rất khủng khiếp.
Vì hồi xưa là khẩu truyền nếu không lặp tới lặp lui thì làm sao thuộc? Làm sao nhớ? Cái thứ hai nữa lặp tới lặp lui như vậy nó đi sâu vô lòng người, nó ấn tượng mà nó không quên và nó có cái cảm thọ và chính cái lặp tới lặp lui mà bây giờ mình mới có đạo Phật chứ nếu nói phớt qua, không lặp tới lui thì giờ không còn Phật giáo nữa. Thành ra cái mỗi một cái khi mình chưa hiểu mình đừng có vội phê phán, từ từ mình tu học sâu sắc mình sẽ hiểu. Đức Phật nói có hai hạng không thể trả ơn được đó là mẹ và cha.
"Có hai hạng người, này các Tỳ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỳ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỳ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này các Tỳ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỳ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này. Nhưng này các Tỳ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha." (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng, Đất)
Đây là những cái bản nguyên văn nhưng mà cái này mới là quan trọng, làm sao báo hiếu được mẹ và cha một cách chọn vẹn. Con thỉnh chư tôn đức và chư hiền trí làm sao có thể báo hiếu cha mẹ một cách trọn vẹn theo lời Phật dạy? Cái này rất quan trọng đó, xuất xứ trong kinh nào, nhiều khi mình học chung chung, nghe chung chung, cái bản kinh này là chính đức Phật nói thì mình dẫn chứng cái câu này lên là các vị trong ban giám khảo, các hòa thượng lớn sẽ rất là hoan hỉ và có khi sẽ bất ngờ.
Đức Phật nói nếu mình muốn báo đáp mẹ và cha một cách đầy đủ là khi cha mẹ chưa có niềm tin mình làm cho cha mẹ phát khởi niềm tin, cha mẹ theo ác giới tức là không có giữ giới gọi là ác giới thì làm cho cha mẹ sanh khởi lên thiện giới, cha mẹ chưa có biết là bố thí thì mình khuyến khích cha mẹ bố thí, hướng dẫn cho cha mẹ nghe pháp. Tín, giới, văn, thí và tuệ, năm pháp này là người đó có thể đền ơn đủ, trả ân đủ mẹ và cha, nếu người nào khích lệ, hướng dẫn cha mẹ năm cái điều này thì người đó đã trả ơn đủ đối với mẹ và cha.
Con nói thêm một chút đa số người tu chúng ta có một cái hiểu lầm rất lớn, nghĩ rằng mình tu mình đừng liên hệ gì đến cha mẹ nữa hết. Nhiều khi cha mẹ điện thoại mình không muốn nghe, không muốn bắt, tâm sự này kia những cái khổ buồn mình không nghe "thôi đừng nói với con mấy chuyện đó, con đi tu rồi", cái này bất hiếu rất lớn. Ở trong Nikāya không phải vậy, có thể giai đoạn đầu cái tâm mình yếu, mình giảm bớt cái tiếp xúc để cho mình giữ vững nhưng khi mình tu tương đối rồi mình phải đem hết tấm lòng của mình làm cho cha mẹ phát khởi lòng tin tam bảo hoặc qua điện thoại, hoặc qua tin nhắn, hoặc mỗi khi mình về nhà phải tạo cái duyên như thế nào để hướng dẫn cho cha mẹ trong bốn pháp tín, giới, văn, và tuệ.
Thầy của con là người mà con học pháp là ngài hướng cho mẹ của ngài và người chồng đi vào chánh tri kiến, dự lưu, sự báo hiếu là mình không thể tưởng tượng được. Báo hiếu với mẹ là từng chút một, quỳ lạy mẹ thường xuyên, cái hiếu hạnh là khó tìm được ở trên đời mà cái người tu chân chánh đúng pháp mà thành tựu chánh tri kiến thì cái từ tâm, cái hiếu kính là nó tràn ngập. Cho nên sẵn cái này con chia sẻ một chút chúng ta phải xét lại cái điều này, đối với cha mẹ và đối với người thân của mình phải để tâm thật nhiều.
Tại sao người dưng mình giúp được? Mình dạy người ta được mà tại sao mẹ của mình mà mình không chịu để hết tâm để giúp cho mẹ mình thành tựu lòng tin, giữ gìn các giới, tạo điều kiện cho mẹ biết bố thí, cúng dường, làm cái thiện lành và hướng dẫn cho mẹ tu tập trí tuệ? Thành ra cái chỗ này là cái chỗ rất quan trọng nhưng ở đây chúng ta chia sẻ riêng, cái bài thi đừng nói. Cái này rất quan trọng và chính con đã làm chưa có viên mãn nhưng con cũng mãn nguyện là con đem ba mẹ con lên núi và mẹ con chết ở trên tay của con. Con kêu mẹ buông xả ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, khổ thì mẹ gật đầu rồi ra đi và ba con là bị ung thư là bác sĩ kêu cắt bỏ cái bao tử nhưng sau đó con khuyến khích thôi đừng cắt lên núi tu và lên núi bây giờ sống mười mấy năm, tám mươi tuổi cứ mỗi hai tuần là con mời giảng pháp một lần, hồng hào, sáng suốt, minh mẫn, trí tuệ. Tức là sống mười mấy năm hết bệnh luôn và cái pháp Nikāya này là ổng giảng sâu sắc lắm.
Như vậy con mới thấy được nếu mình làm theo lời Đức Phật sẽ có lợi ích lớn lắm, rồi các cô của con, anh của con hồi xưa lúc mà con còn nhỏ nói "mày mà đi tu á tao cùi hết rồi nè. Tao cúng cái đầu con heo á" mà tới bây giờ lên quỳ lạy con mà kêu sư phụ hết, cả gia đình quy y hết. Nếu mình bằng tất cả tấm lòng, từ bi, tình thương mà mình nỗ lực tinh tấn tu tập, mình có khả năng giúp đỡ cha mẹ và người thân. Đó là một sự thật mà mình phải để tâm, phải để tâm nhiều chứ nhiều khi mình nghĩ "kỳ vậy ta?", lúc trước chưa vô Nikāyaa con có suy nghĩ tại sao người dưng ở đâu mình cũng thân thiết được mà tại sao cha mẹ mình thì mình lại không muốn tiếp, không muốn thân, không muốn nói chuyện nhiều "tôi tu rồi, tôi cắt ái ly da rồi" thậm chứ không có kêu bằng ba mẹ nữa mà gọi bằng bà thân, ông thân gì đó.
Tỏ vẻ ra tôi lạnh lùng vậy đó cho oai nhưng mà cái này thất bại. Mình phải lắng nghe nỗi khổ niềm đau của mẹ cha thật là nhiều, mình là chỗ dựa tinh thần của cha mẹ, mình phải vừa là người con, vừa là người thầy, vừa là người bạn của cha mẹ. Cái này rất quan trọng, cha mẹ mình mà mình không giúp được thì mình giúp được ai? Không có giúp được ai hết, chúng ta thấy Đức Thế Tôn có phải độ cha mẹ đầu tiên không? Ngài về cung điện thuyết pháp ba ngày thì vua Tịnh Phạn chứng thánh quả rất cao và các vị trong dòng họ Thích là độ rất nhiều, thánh tăng rất nhiều trong dòng họ Thích từ tại gia cho đến xuất gia.
Thành ra cái này nếu mình giảng cái đề tài hiếu là mình nên có chứng minh cuộc đời Đức Phật cho nên cái điểm này chúng ta để ý. Chúng ta sẽ giúp được cha mẹ, những người thân chúng ta bằng tấm lòng thương tưởng, bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng, mình sẽ giúp được với điều kiện mình phải có chánh kiến mới được. Mình còn mù mắt mình chưa sáng thì mình không dẫn ai đi được hết.
Bây giờ chúng ta bước qua cái đề tài thứ ba là nhân quả, đề tài này nhiều bài kinh lắm, rất là nhiều bản kinh. Trong bài kinh Hạt Muối của Tăng Chi Bộ tập I thì Đức Phật đưa cái hình ảnh rất là hay, thường thường mình nói là nhân nào quả nấy phải không? Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, phải không? Nhưng mà nó không phải là cố định vậy, Đức Phật ví dụ người hốt một cái nắm muối bỏ vô cái tô nước thì cái tô nước này mình uống được không ạ? Rất là mặn nhưng hốt nắm muối bỏ xuống dòng sông thì nước dòng sông bình thường, đâu có gì hề hấn gì đâu. Cũng vậy một người có phước đức lớn có, công đức lớn thì người ta cũng làm cái điều lỗi lầm nhỏ đó nhưng không có sao với người ta hết, còn người không có tu tập, thân không tu tập, tâm không tu tập, giới không tu tập thì một cái lỗi nhỏ đó cũng có thể đọa xuống địa ngục.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào trong một chén nước nhỏ. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỳ-kheo, nước trong chén ấy có vì nắm muối trở thành mặn và không uống được phải không?
- Thưa đúng vậy, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Nước trong chén nhỏ này là ít, do nắm muối này, nước trở thành mặn, không uống được.
- Ví như, này các Tỳ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào sông Hằng. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỳ-kheo, sông Hằng có vì nắm muối trở thành mặn và không uống được phải không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Lớn là cả khối nước sông Hằng. Khối nước ấy không vì nắm muối này, nước trở thành mặn và không uống được.
- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Ở đây, này các Tỷ kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.
Hạng người như thế nào, này các Tỳ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục? Ở đây, này các Tỳ-kheo có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Hạng người như vậy, này các Tỳ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Hạng người như thế nào, này các Tỳ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều. Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, nói gì là nhiều." (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, Hạt Muối)
Thành ra đây là những cái trường hợp rất là đặc biệt, thì cái đó là mình khuyến khích người ta tu tập thân, tu tập tâm, tu tập giới, tu tập tuệ. Khi giảng về nghiệp mình phải khuyến khích cái này, phải biết tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ thì mình có thể chuyển được nghiệp. Đức Phật đưa ra nhiều cái ví dụ lắm, thí dụ như một người bình thường nghèo đói mà họ lại ăn trộm con dê thì bị người ta đánh, thậm chí bị người ta giết luôn, đó là những cái giai cấp thấp ở Ấn Độ nhưng Đức Phật ví dụ cái ông đại quan mà lỡ như ổng bắt con dê thì mấy người đó có dám không đánh, dám giết không? "Dạ xin ngài làm ơn cho con lại", đâu có dám đánh giết gì đâu. Đức Phật ví dụ người có phước đức lớn, có công đức lớn, có tu tập lớn thì người ta có những cái nhỏ nhặt, nhỏ nhiệm đó người ta có thể nhận lấy cái quả báo rất là nhỏ trong đời này hoặc là nó rất là nhẹ nhàng, nhưng người không tu tập dầu có ăn cắp năm ngàn hay là mười đồng thôi cũng là chuyện lớn.
"Ví dụ một người đồ tể hay người giết dê, này các Tỳ-kheo, đối với một số người đánh cắp dê, có thể giết hay trói, hay tịch thu tài sản, hay làm như ý muốn. Ðối với một số người cũng đánh cắp dê, không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý muốn.
Như thế nào, này các Tỳ-kheo, người đồ tể hay người giết dê, đối với một số người đánh cắp dê, có thể giết, có thể trói, có thể tịch thu tài sản, hay có thể làm như ý người ấy muốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người nghèo khổ, ít sở hữu tài sản. Kẻ đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy có thể giết, hay trói, hay có thể tịch thu tài sản, hay có thể làm như ý người ấy muốn.
Như thế nào, này các Tỳ-kheo, người đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý muốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người giàu có, có sở hữu lớn, có tài sản lớn, hay nhà vua, hay đại thần của nhà vua. Người đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý người ấy muốn. Không có gì phải làm khác hơn là chắp tay và cầu xin như sau: 'Thưa ngài, hãy cho con lại con dê hay giá tiền con dê'.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, đối với một số người có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Nhưng ở đây, này các Tỳ-kheo, đối với một số người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều." (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, Hạt Muối)
Thí dụ người thật việc thật, chỗ giữ xe cự cãi qua cãi lại vì năm ngàn, mười ngàn tiền giữ xe mà nó lấy cái mũ bảo hiểm đập bể đầu người kia chết, có vài ngàn bạc giữ xe nhưng mà chết một sinh mạng. Còn giờ nếu người đại gia dám bố thí năm chục triệu, dám bố thí năm tỷ phải nhưng mà cái người nghèo có năm ngàn mà đập nhau lổ đầu chết. Như vậy cái tu tập, cái phước báo công đức rất quan trọng, mình thí dụ thêm nữa là tâm từ có thể chuyển hóa được tất cả các nghiệp. Bây giờ người này nói nặng nói nhẹ mà người kia có cái tâm từ, thấy người này là cái người đang bị thiêu đốt, người này là tâm đang bệnh, người này là đáng thương, người này là đáng tội nghiệp thì chẳng những người ta không cự lại, không sân lại mà người ta còn tội nghiệp, người ta thương nữa thì có phải tâm từ chuyển hóa nghiệp không?
Cho nên coi có cái quyển Tâm Từ Vi Diệu đó, hình như có tặng cho chùa mình rồi, đọc kỹ vì cái đó là pháp hành. Khi mình tu tập sẽ thay đổi được nghiệp quả, thay đổi được cảm thọ, thay đổi được cái suy nghĩ, thay đổi được cái nhận thức, thay đổi được cái tư duy, thay đổi được cái nghiệp quả trong sự tu tập của mình thì cái này rất quan trọng trong cái bài nhân quả nha. Mình cứ nói nhân này quả này mà mình không đưa ra cái cách để cho người ta tu, thành ra con hay nhấn mạnh chúng ta là pháp hành, pháp hành, pháp hành. Bữa nay con đem cúng dường cho quý vị 120 quyển pháp hành Nikāya, cái này ba mươi năm tóm thâu bí kiếp viết ra cuốn này.
Đó là pháp hành tại vì người ta đến chùa người ta tìm cái gì con thưa các vị? Mình chỉ cần đáp ứng một điều thôi là mình thành công vĩnh viễn, cho nên những cái chủ đề phía sau "Làm sao để cho Phật tử có lòng tin trong thời đại hiện nay", mình chỉ cho người ta phương pháp hóa giải được cái khổ là mình thành công kêu bằng trường cửu, vĩnh viễn, bất tận vào một tỷ năm sau cũng không lạc hậu. Nhất trí không? Mình chỉ cần nắm trong tay cái phương cách xử lý cái đau khổ, chuyển hóa cái đau khổ, giảm thiểu đau khổ và diệt tận đau khổ thì trong tay mình có ngọc như ý, mình có kho báu.
Mình chỉ cần nắm được cái đó thôi nhưng mà cái vấn đề quan trọng ở đây là cái khổ của mình thì mình có xử lý được chưa? Chưa được thì làm sao mình hướng dẫn người ta xử lý cái khổ? Mình muốn xử lý cái khổ của mình thì bát chánh đạo là tối thượng quan trọng là phải chánh kiến trước, mà chánh kiến không có đơn giản chút nào hết. Tại vì trong cái thời gian chúng ta đây ngắn, phải nhận diện được ngũ uẩn, phải biết được tâm mình là cái gì thì có các vị học ở bên trường con có chia sẻ đó.
Phải biết tâm là cái gì rồi trong ngũ uẩn tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã vận hành như thế nào và từng cái có từng loại xử lý khác nhau. Trong quyền này con có giới thiệu tổng quát, khi mình biết được thân tâm của mình, thấy được cái hang ổ trú ẩn của tham, sân, si, dục ái, bản ngã, vô minh thì có cách xử lý. Mình xử lý được cái phần nào thì lúc đó mình hướng dẫn người ta mới có kết quả, mình có một cái sự tự tin vĩnh hằng, bất diệt gọi là tịnh tín bất động đối với Đức Phật, chánh pháp, chúng tăng và thánh giới. Đó là bốn dự lưu phần, là một vị nhập lưu thánh quả thứ nhất trong bốn thánh quả là phải thành tựu chánh tri kiến.
Cho nên bát chánh đạo của chúng ta mới vừa bước cái cửa đầu tiên thôi là thánh quả thứ nhất. Con thưa các vị không có đơn giản như mình học bát chánh đạo mà đơn giản đâu, không có đâu, khủng khiếp lắm, trong Nikāya bát chánh đạo là siêu khủng lắm. Vừa bước vô cửa thứ nhất của chánh kiến là nhập lưu rồi, giờ mình tu tới chết biết lúc nào nhập lưu không? Bây giờ con nói tất cả những chủ đề của chúng ta đều phải đưa ra cái sự thực hành, đó là bí kiếp, bí quyết mà đó là nhiều giảng sư khác không có, hiếm, cái đó gọi là hàng hiếm, là tại vì lên cứ vô diễn kiến thức, cứ nói đông tây dẫn chứng kinh, còn bây giờ tu làm sao.
Bây giờ giảng đề tài hiếu thảo mà giờ con không biết hiếu thảo với mẹ cha là hiếu cái gì là xong rồi, vậy là thất bại rồi, thiếu cái quan trọng, cái lõi cây không có. Thí dụ bây giờ mình giảng cái đề tài báo hiếu mà báo hiếu là làm sao? Là phải làm cho cha mẹ phát khởi niềm tin, khuyến khích cha mẹ giữ giới, hướng dẫn cha mẹ bố thí và tu tập trí tuệ, đó là báo hiếu. Tin như thế nào, rồi giữ giới như thế nào, bố thí như thế nào và tu tập trí tuệ thế nào thì có thời gian rộng chúng ta tiếp tục hướng dẫn thêm vì trong khi thi mình nói rất ngắn.
Có thể nếu mình chia sẻ cái đó thì bài mình độc đáo hơn tất cả những bài khác tại vì người ta cứ lo khai triển công ơn cha mẹ mà ai cũng biết hết trơn rồi, bây giờ mình nói cảm ơn cha mẹ phớt nhẹ thôi nhưng mà mình khai triển làm sao để báo hiếu trọn vẹn cha mẹ theo lời Đức Phật dạy thì bài của mình mới độc đáo, nó nổi trội, nó nổi bật hơn, cái hàng hiếm, hàng quý, hàng độc. Mình phải để ý cái đó nữa. Tại sao mình cứ máy móc quá vậy? Con thấy thi diễn giảng của mình bây giờ sao máy móc quá, cái này nó xưa lắm rồi, hồi ba mươi năm trước là con đã nói cái này rồi, mấy hòa thượng đã đi học cái này rồi giờ mình nói y chang lại vậy thì mình tụt hậu biết bao nhiêu.
Cho nên cái bài của mình có ba cái điều quan trọng. Thứ nhất y cứ thánh điển thì mình nói trong kinh tạng Nikāya bộ nào, Tăng Chi Bộ, Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, nói ra cái đó là cái quyền uy, cái thứ nhất là y cứ thánh điển. Cái thứ hai từ cái cổ xưa ngàn năm mình lấy cái hiện thực của đời sống, nó xảy ra hằng ngày ở trên tin tức mình đưa vô để mình minh họa. Tức là mình quán thông kim cổ, thiết thực, hiện tại cho người ta thấy cái lời dạy Đức Phật rất là rõ ràng, bây giờ mình nói từ bỏ tham, sân, si người ta không có nghe, không có thấm gì hết mà mình kể câu chuyện.
Bà mẹ chia gia tài cho mấy đứa con, thằng trai được cái nhà ở mặt tiền mà đứa con gái thì ở miếng đất ở trong hẻm. Hai đứa nó ganh tị với nhau, nó sân si, đứa con gái nó bực bội nên đem can xăng đốt nhà mẹ bà thì lan qua cháy phỏng mẹ rồi cháy chính cái cô đốt luôn và cuối cùng cả hai chết. Chúng ta thấy cái lòng tham nó ác độc không? Đâu phải ai giết ai mà chính là cái cảm thọ tham này nó đốt chết tự thân của người tham và đốt chết cha mẹ ân đức sanh thành của mình thì cái lòng tham này là nó bất hiếu nè, cái lòng tham này là nó hủy diệt nè, cái lòng tham này nó thiêu rụi nè, cái lòng tham này là cái ác độc nhất ở trên đời này.
Mình thấy ấn tượng không? Nghe một cái mình cảm thọ không? Chấn động trong trái tim nhưng tại sao không lấy cái thí dụ này mà cứ kể chuyện hồi xửa hồi xưa, chuyện ai cũng biết hết. Cái này học hết trơn rồi, nói hoài có nhiêu đó, phải lấy những cái chuyện thiết thực, hiện tại, thực tế trước mắt, người thật việc thật, sự thật, lẽ thật chứng minh cho cái cổ xưa nhất thì mình biến 25 thế kỷ trước trở thành ngay trong cái giờ phút hiện tại. Đó gọi là pháp thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy có kết quả tức thời, không có trải qua thời gian, được người trí tự mình giác hiểu.
Chúng ta nói một hai cái ví dụ vậy thôi, đừng có kể hoài một câu chuyện. Mình kể cái ông chạy xích lô, ông chạy xe ôm đứng ông nhìn cái áo đẹp đó ông không đủ tiền nên cứ đứng nhìn hoài rồi nước mắt rưng rưng. Cô bán hỏi "chú sao vậy? Chú muốn mua gì?" thì ông nói "tôi muốn mua cái áo cho mẹ mùa vu lan mà tôi không đủ tiền". Cô chủ nghe xúc động nói "chú vô đây, chú muốn mua cái nào? Giờ chú có bao nhiêu?" thì ông chú xòe ra vài đồng bạc, chủ quần áo thấy vậy thì tặng luôn cái áo cho chú để chú đem về tặng mẹ nhân mùa vu lan. Chú này rưng mắt mà cái cô chủ bán cũng xúc động, những câu chuyện đó sao mình không lấy? Mình kể câu chuyện xong rồi mới vô bài giảng, tuyệt vời không? Cảm động không? Xúc động không? Chấn động không?
Cứ kể câu chuyện ai cũng biết hết trơn mà kể hoài, thành ra mình phải làm cho cái bài giảng của mình nó thực tế, nó sống động, nó sinh động, nó hiện thực, nó hiện tại, nó đời thật, nó lẽ thật rồi từ chỗ đó mình mới bắt đầu kể sơ công ơn cha mẹ rồi báo đáp cái vĩ đại nhất. Quý vị chịu khó nghe mấy cái bài thiền biết ơn của con đi, lấy tư liệu trong đó để giảng vu lan là mấy hòa thượng khóc hết, lên trang Linh Quy Pháp Ấn. Con nói không có gì xa xôi, con nói đơn giản lắm, nấu bữa ăn cho mẹ rồi xách đôi giày cho cha, ba mẹ đi làm về đẫm ướt, lam lũ đầu bù tóc rối, mình mẩy ướt nhem thì lấy cái khăn để lau tóc cho mẹ, xách đôi giày cho cha. Những cái hết sức là bình dị, đơn giản, đâu có cái gì khó làm đâu tại sao mình không làm không làm được?
Trong cái thời gian ngắn này thì con chỉ gợi ý chứ không có cái đề tài nào đi được hết. Chúng ta thấy từ cái những cái nhỏ rồi chúng ta đưa tới những cái lớn để báo hiếu cha mẹ, đầy đủ lý sự chứ không phải vô nói không cần báo hiếu vật phẩm, thức ăn gì hết mà báo hiếu pháp. Không được à, phải đầy đủ, có thể mình nói cái phần báo hiếu về cái vật chất nó nhẹ nhàng, phớt qua thôi, một câu chuyện thôi là được rồi nhưng mà mình triển khai cái báo hiếu về tín, về giới, về thí, về tuệ này nhiều lên, hướng dẫn cho cha mẹ.
Trong những cái bản kinh về nghiệp này nhiều lắm, để nữa con gửi cho cho ni sư rồi ni sư gửi cho các vị thi. Cái chủ đề tiếp theo là nhân quả, có bài kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt, bài kinh này hay lắm bài kinh 135 Trung Bộ tập III, Đức Phật giải mã thế giới này, giải mã thế gian này tại sao có sự sai biệt.
"Rồi thanh niên Subha Todeyyaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Subha Todeyyaputta bạch Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì giữa loài Người với nhau, khi họ là loài Người, lại thấy có người liệt, có người ưu?
Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi thấy có người đoản thọ, có người trường thọ; chúng tôi thấy có người nhiều bệnh, có người ít bệnh; chúng tôi thấy có người xấu sắc, có người đẹp sắc; chúng tôi thấy có người quyền thế nhỏ, có người quyền thế lớn; chúng tôi thấy có người tài sản nhỏ, có người tài sản lớn; chúng tôi thấy có người thuộc gia đình hạ liệt, có người thuộc gia đình cao quý; chúng tôi thấy có người trí tuệ yếu kém, có người có đầy đủ trí tuệ.
Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, giữa loài Người với nhau, khi họ là loài Người, lại thấy có người liệt, có người ưu?
-- Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Cái câu này phải học thuộc lòng, cái câu này là định lý chứng ngộ của Đức Phật. Khi mình giải về nhân quả hay là cái bài về nghiệp mình phải thuộc cái câu này "các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu". Nghiệp quyết định cái sự sống này, cái ông thanh niên nói Thế Tôn nói vắn tắt như vậy thì con không có hiểu, con mong Thế Tôn giải thích rộng rãi thì Đức Thế Tôn mới nói:
"-- Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loại chúng sanh. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, nếu được đi đến loài Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy phải đoản mạng. Con đường ấy đưa đến đoản mạng, này Thanh niên, tức là sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loài hữu tình." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Đó là Đức Phật giải mã tại sao có người đoản thọ, đoản mạng, chết yểu và ngược lại:
"Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay đàn ông, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh vào thiện thú, Thiên giới, ở đời. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào thiện thú, Thiên giới, ở đời, nếu người ấy đi đến loài Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy được trường thọ. Con đường ấy đưa đến trường thọ, này Thanh niên, tức là từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Cái này là giải nghĩa tại sao chết yểu, tại sao sống lâu mà cái này giải nhân quả tuyệt vời lắm, đưa ra năm cái cặp này, những trường hợp này là giải mã hết thế giới này. Bây giờ cái người nhiều bệnh là sao? Tại sao người nhiều bệnh? Chính Đức Phật giải thích, nào giờ mình chưa nghe phải không?
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, tánh hay não hại các loài hữu tình, với tay, hay với cục đất, hay với cây gậy, hay với cây đao. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, nếu người ấy đi đến loài Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy phải bị nhiều bệnh hoạn. Con đường ấy đưa đến nhiều bệnh hoạn, này Thanh niên, tức là tánh hay não hại các loài hữu tình với tay, hay với cục đất, hay với cây gậy, hay với cây đao." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Não là làm cho người ta phiền não, làm tổn hại đến người ta, làm cho ta sầu khổ, mình hành hạ người ta bằng lời nói hoặc bằng hành động. Não hãi là làm khổ người ta, làm đau người ta, đả thương cho người ta thí dụ như gặp mèo đánh mèo, gặp chó đập chó, gặp kiến là giết kiến, gặp chuột thì bẫy chuột, đó là con vật rồi con người cũng vậy, cứ hành hạ cho người ta khổ. Bây giờ mình giải mã tại sao bị bệnh nhiều chưa? Nhiều khi mình không biết, đó là não hại thì bệnh nhiều, còn sát sanh là chết yểu mà từ bỏ sát sanh là sống trường thọ cho nên các vị lớn tuổi phải nhiều đời nhiều kiếp từ bỏ sát sanh nên ít bệnh, cái tánh tâm hiền, tâm từ nhiều, ít có làm tổn thương, não hại, làm hành hạ, khổ cho người ta cho nên người này khỏe mạnh, thường thường chứ không phải bệnh rồi đổ thừa ai hết. Cứ đổ thừa cha mẹ sanh không đủ tháng hay là suy dinh dưỡng, không phải mà do cái nghiệp của mình, cái tánh mình não hại.
"Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, tánh không hay não hại các loài hữu tình, với tay, hay với cục đất, hay với cây gậy, hay với cây đao. Do nghiệp ấy thành đạt như vậy.. thiện thú... người ấy được ít bệnh hoạn. Con đường ấy đưa đến ít bệnh hoạn... tánh không não hại... hay với cây đao." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Tánh không có não hại là có tình thương đối với con người, cũng có tình thương với ngay cả loài vật và cái người này do nghiệp ấy thành đạt như vậy người này sanh lên cõi trời, nếu không sanh cõi trời mà sanh ở cõi người thì người này khỏe mạnh, ít bệnh. Vậy ai khỏe, ai bệnh nhiều biết liền phải không? Khỏi cần thắc mắc gì nữa hết, tự biết liền, mình bệnh hoài là biết cái tánh sao nên phải ráng tu tâm từ nhiều đi cho bớt bệnh. Tới cái thứ hai là đẹp với xấu, tại sao đẹp không phải chưng bông đâu, cái đó mấy sách sau này nói thôi.
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, phẫn nộ, nhiều phật ý, bị nói đến một chút thời bất bình, phẫn nộ, sân hận, chống đối, và tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy... cõi dữ... xấu sắc. Con đường ấy đưa đến xấu sắc, này Thanh niên, tức là phẫn nộ... bất mãn." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Dễ giận, dễ quạo, dễ bực, dễ cự, dễ sân, tánh gay gắt, khó chịu, ghim gút thì người này sau khi chết rơi thẳng vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nói chạm tới cái thôi là đùng đùng lên, bực bội, khó chịu, phẫn nộ, sân hận lên, sau khi chết rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Tâm giống như cái lò lửa, có chứa lựu đạn trong đó, ai đụng tới là quăng ra banh xác, lâu lâu mình có gặp không? Đức Phật nói sao sai được, vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nói là có mới nói, trong kinh tạng Nikāya ngài không dư một chữ, không thiếu một chữ. Đức Phật nói nếu có người nào đó bỏ một chữ hoặc thêm một chữ vô thì thấy mà không thấy giáo pháp của Như Lai, tức là lời của bậc Chánh Đẳng Chánh giác nói ra là không thừa một chữ, không thiếu một chữ.
"Nếu vị ấy trừ bớt một phương diện nào tại một chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy được viên mãn hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Như vậy gọi là "Thấy mà không thấy". (Trường Bộ Kinh, 29. Kinh Thanh tịnh)
Cho nên cố gắng đọc kinh tạng Nikāya thật là kỹ, đọc thật kỹ mình sẽ thấy cái tinh túy, tinh hoa, cốt tuỷ, thánh trí tuệ ở trong đây giải mã hết tất cả nhân sinh vũ trụ, thế giới, thân tâm của mình. Con đi vào con đường này thì con thưa thật với các ngài còn hơn trúng một cái mỏ kim cương vô giá trên cả hành tinh này cũng không sánh bằng, cả cái trái đất này, tài sản trên trái đất này không bằng một phần mười sáu của người nhập lưu, của người thành tựu chánh tri kiến cho nên mình thấy được đúng rồi đó là nó quý không có bất cứ một cái gì so được.
Cái ông giàu nhất hành tinh này cũng là đệ tử lạy dưới chân thôi, ổng đau khổ, ổng đầy tham, sân, si, bản ngã trong đó, ổng lo lắng, sợ hãi, ngủ đâu có an, trong đầu cứ nhảy mấy con số cái tự nhiên nhức đầu, chóng mặt lên tăng xông. Cái tài sản của ổng mỗi ngày nó dao động có khi chỉ cần bữa sau mất bao nhiêu tỷ đô la phải không? Ông đâu có ăn ngon ngủ yên đâu, còn người chứng đắc được cái trí tuệ tánh không rồi bình an, tâm bất động giải thoát. Chịu cái nào? Chịu thiệt là nhiều đẩ cho lên tăng xông, đứt gân máu, đột quỵ hay là chịu cái tâm bình an?
Bởi vì cái tâm đó tương ưng với ba đường ác, nhấn mạnh cái chữ nếu sanh làm người thì người này xấu xí, xấu đau xấu đớn, dị dạng, dị hình, dị tật, xấu như Chung Vô Diệm, xấu mà không dám nhìn vô gương, không muốn nhìn cái mặt của mình. Cái tâm ác, cái tâm sân, cái tâm khó chịu, bực bội, cau có, cọc cằn, phẫn nộ, sân hận, ghim gút, ganh tỵ, đố kỵ, tật đố, hơn thua từng chút thì cái này không thể ở cảnh giới cao được.
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, không phẫn nộ, không nhiều phật ý, dầu cho bị nói đến nhiều, cũng không bất bình, phẫn nộ, sân hận, chống đối, và không tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy.... thiện thú... đẹp sắc (pasadika: hoan hỉ) Con đường ấy đưa đến đẹp sắc, này Thanh niên, tức là không phẫn nộ... không bất mãn" (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Dù cho có bị nói nhiều mà không có bất bình, phẫn nộ, tu được cái này cũng hay lắm nha. Có bị người ta chỉ trích, người ta nói nặng nói nhẹ mà cái tâm người vẫn nhẹ nhàng thì người này sau khi thân hoại mạng chung sanh lên thiên giới thiện thú tức là cõi lành, nếu trở lại ở cõi người thì người này đẹp, hoa hậu của hoàn vũ, sanh ra đẹp đẽ như tiên nữ. Tâm người này không có phẫn nộ, sân hận, bị chỉ trích nói nặng nói nhẹ vậy mà cũng bình thản, nhẹ nhàng. Mọi người thấy tu cái này dễ hay khó? Phải tu tập cho nên con thưa chư tôn đức ở trên con khi vô là phải tu tám tháng tâm hiền, bất cứ người nào vô nhập chúng là phải tu tám tháng về tâm hiền, chuyên về tâm hiền, học về tâm hiền, nghiên cứu về tâm hiền, thiền quán về tâm hiền, thực tập về tâm hiền, lạy diệt ngã tám tháng.
Tám tháng là nói giai đoạn đầu thôi chứ còn tâm hiền của chúng con là tu cho tới chết luôn, ở trong Nikāya gọi các bậc Tỳ-kheo chung với nhau là hiền giả, các bậc hiền trí mà đó cũng là hiền thánh, là một chữ hiền thôi. Cho nên ở trên con là tu tâm hiền, sư bà lớn ở bên hệ phái Khất Sĩ sắp xếp dẫn đệ tử đi lên trên con thực hành pháp. Sư bà về có thỉnh con cũng ghé chùa để chia sẻ cho chúng cũng mấy chục vị Khất Sĩ thì sư bà hỏi "thưa thầy chỉ con cái cách sao mà con lên con thấy sáu bảy chục người mà sao im re, dễ thương, hiền hòa từ trong bếp cho đến chánh điện" – "dạ tụi con tu tâm hiền thôi à".
Rất nhiều vị đi lên trên con ở lại luôn không về nhà nữa, rất nhiều vị ở luôn không về nhà nữa. Người ta nói ở nhà cha mẹ, anh chị em ruột của người ta, vợ chồng người ta mà không cảm nhận được cái tình thương ngọt ngào ấm áp như vậy, hỏi tại sao ở trên núi lại được vậy thì do tu cái tâm hiền, tâm từ với nhau. Cái này tuyệt vời lắm, quý vị mở lên con mấy chục bài tâm hiền, mà cái tâm hiền này là trong bài kinh Sau Khi An Cư của tôn giả Xá-lợi-phất, ngài dạy chín pháp an trú tâm và cái bài kinh này chính là cái cốt lõi, cái linh hồn của đạo tràng Nikāya chúng con.
một vị Tỳ-kheo vu khống cho ngài Xá-lợi-phất và nói với Đức Thế Tôn ngài Xá-lợi-phất xúc phạm con, là ác Tỳ-kheo. Quý vị biết Đức Phật nói chỉ có Xá-lợi-phất và Mục-kền-liên là có thể thay thế Như Lai lãnh đạo tăng đoàn, ngài là bậc chí thượng thanh văn, tướng quân chánh pháp, bậc thánh tăng mà làm gì có chuyện xúc phạm người khác rồi bỏ đi.
"Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Mahamoggallana:
-- Này Moggallana, Ông đã nghĩ gì khi chúng Tỳ-kheo bị Ta đuổi?
-- Bạch Thế Tôn, khi chúng Tỳ-kheo bị Thế Tôn đuổi, con nghĩ như sau: 'Nay Thế Tôn sẽ được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. Và từ nay con và Tôn giả Sariputta sẽ lãnh đạo chúng Tỳ-kheo.
-- Lành thay, lành thay, Moggallana. Này Moggallana, chỉ có Ta hay Sariputta và Moggallana mới có thể lãnh đạo chúng Tỳ-kheo được'." (Trung Bộ Kinh, 67. Kinh Càtumà)
Đức Thế Tôn biết vậy rồi mời Xá-lợi-phất lên, lúc đó ngài A-nan đi gõ từng phòng mời các vị tôn đức, các vị trưởng lão chuẩn bị lên nghe tướng quân chánh pháp Xá-lợi-phất rống lên tiếng rống sư tử trước mặt Thế Tôn. Tất cả tập trung lên hết trước hội chúng, ngài Xá-lợi-phất bạch Thế Tôn nếu ai không có thực hành thân hành niệm thì mới xúc phạm người khác rồi bỏ đi không xin lỗi. Bạch Thế Tôn tâm con an trú như đất dầu ai có liệng phân, nước tiểu, máu, mủ lên, có làm gì thì đất cũng lặng yên, con đã tu tập tâm hiền như đất bất động từ lâu, làm sao con xúc phạm Tỳ-kheo khác.
"Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:
- Ở đây, này Sàriputta, một đồng Phạm hạnh có điều bất mãn với Thầy: "Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta xâm phạm con đã bỏ đi du hành, không có xin lỗi con".
- Thật vậy, bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm trên thân, người ấy, ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
Ví như, bạch Thế Tôn, trên đất, người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ bất tịnh, quăng phẩn uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không xấu hổ, hay không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như đất, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi." (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)
Bạch Thế Tôn con tu tâm như nước, mềm mại, nhu nhuyến, chảy xuống chỗ thấp rộng lớn, mênh mông, bao la, thấm nhuần vạn vật, làm sao con có thể xúc phạm người khác. Bạch Thế Tôn con tu tâm như gió, nhẹ nhàng, mát mẻ, không chấp thủ đối với bất cứ vật gì trên đời. Bạch Thế Tôn con tu tâm như lửa sưởi ấm, ấm áp, đốt cháy hết tất cả những sân si, bản ngã thì làm sao con xúc phạm người khác. Bạch Thế Tôn con từ lâu từ lâu an trú tâm là một kẻ ăn mày, là một kẻ ăn xin, là một kẻ khất sĩ, là một người hạ liệt, con an trú tâm con là cái ung nhọt chín lỗ ngày đêm rỉ chảy bất tịnh, hôi dơ. Con sống an trú khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã làm sao con xúc phạm vị Tỳ-kheo khác.
Ngài trình bài lên như vậy thì cuối cùng vị Tỳ-kheo này gục đầu xuống khóc, quỳ dưới chân ngài Xá-lợi-phất sám hối "con ganh tỵ ngài, con đố kỵ với ngài, cho con xin sám hối" và ngài Xá-lợi-phất quỳ xuống "thưa tôn giả nếu như mà con có lỗi gì xin tôn giả tha thứ cho con, dầu con không có lỗi nhưng nếu mà tôn giả không hài lòng về con thì con xin tôn giả tha thứ cho con". Vị đó đập đầu xuống và nước mắt ràng rụa hết và lạy ngài Xá-lợi-phất, tất cả thánh chúng lúc đó rúng động chấn động hết.
"Rồi Tỳ-kheo ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện. Con đã xuyên tạc Tôn giả Sàriputta, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Mong Thế Tôn chấp nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn đón về tương lai.
- Này Tỳ-kheo, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Thầy đã xuyên tạc Tôn giả Sàriputta, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Này Tỷ kheo, vì Thầy đã thấy tội ấy là một tội, đã phát lộ đúng pháp, Ta chấp nhận tội ấy cho Thầy. Ðây là một sự tiến bộ, này Tỳ-kheo, trong Pháp Luật của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, phát lộ đúng pháp, và ngăn đón trong tương lai.
Rồi Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta:
- Này Sàriputta, hãy tha thứ kẻ ngu si này, trước khi ở đây, đầu nó sẽ bị vỡ tan làm bảy mảnh.
- Bạch Thế Tôn, con tha thứ cho Tôn giả ấy, nếu Tôn giả ấy nói với con: 'Hãy tha thứ cho', và cũng mong Tôn giả ấy tha thứ cho con." (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)
Cái bài kinh đó là tiếng gầm sư tử của bậc tướng quân chánh pháp sau khi an cư Và chính bài kinh đó là linh hồn của đạo tràng Nikāya chúng con. Quý ngài mở lên cái Nghi Thức Tu Học Nikāya có bài đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất thì có chín pháp an trú tâm như đất, như nước, như gió, như lửa, như kẻ ăn mày, như ung nhọt, như người hạ liệt, quan trọng nữa là cái nùi giẻ rách.
"Ví như, bạch Thế Tôn, một miếng vải lau chùi lau các đồ tịnh, lau các đồ bất tịnh, lau phẩn uế, lau nước tiểu, lau nước miếng, lau mủ, lau máu; tuy vậy miếng vải lau chùi không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như miếng vải lau chùi, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi." (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)
Cái pháp tu của chúng con trên nùi là cái nùi giẻ rách, rất quan trọng là cái pháp tu thiền quán thường xuyên mà tự xưng "Dạ cái nùi dẻ rách Minh Thành con xin kính lễ chư tôn đức" rồi quỳ xuống lạy đại chúng luôn, lớn nhỏ gì cũng lạy hết. Đó là thực hành cái pháp vô ngã, cái pháp diệt ngã, cái pháp nhiếp phục bản ngã chứ không phải mình tu lâu, mình là trụ trì, mình là hòa thượng này kia nọ rồi mình cao cao tại thượng. Không phải, càng lớn chừng nào càng nhỏ chừng đó, càng cao chừng nào càng thấp chừng đó, đó là pháp hành của chúng con.
Mỗi khi con quỳ xuống con lạy đại chúng là khóc từ trên xuống dưới hết trơn, cùng nhau lạy nhau ngọt ngào, ấm áp, yêu thương, dạt vào tình thầy trò. Quý vị mở lên rồi thấy mấy cái khóa tu xả y hạ sơn, đó là mình nói cái tâm hiền thiện và tâm từ rất quan trọng của người tu.
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, tật đố, đối với người khác được quyền lợi, được tôn trọng, cung kính, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường, sanh tật đố, sanh tâm, ôm ấp tâm tật đố. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy... ác thú... quyền thế nhỏ. Con đường ấy đưa đến quyền thế nhỏ, này thanh niên, tức là tật đố... ôm ấp tâm tật đố." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Khi người ta được cúng dường, người ta được khen ngợi, được cung kính, được tôn trọng, đảnh lễ thì mình ghét, không ưa, không thích thì cái tâm ganh tị này do nghiệp ấy thành đạt như vậy cho nên người này sau này sanh ra ở trong một cái gia đình hạ liệt, thấp hèn, vì cái tâm tật đố đó sanh trong cái gia đình bị người ta khinh khi. Ví dụ đi ở đợi chẳng hạn bở đời trước ganh tị người ta cho nên sanh ra là thấp hèn, ai nhìn cũng khinh khi, khinh bỉ, phỉ nhổ hết.
"Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, không có tật đố, đối với những người khác được quyền lợi, được tôn trọng, cung kính, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường, không sanh tật đố, không sanh tâm, không ôm ấp tâm tật đố. Do nghiệp ấy... thiện thú... quyền thế lớn. Con đường ấy đưa đến quyền thế lớn, này Thanh niên, tức là không tật đố... không ôm ấp tật đố." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Người này không có tật đố mà người này có cái tâm tùy hỷ, vui vì người đó thành công, vui vì người đó thành đạt, vui người đó được đức hạnh, vui người đó thành tựu tốt như vậy, người này không có tâm ganh tị, tật đố thì người này hoặc là sanh lên cõi trời, nếu mà sanh ở cõi người thì người này được quyền thế lớn, có địa vị lớn, có chức vị lớn trong xã hội. Chúng ta thấy bài kinh này giải mã hết.
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, không bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, đồ ăn uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc. Do nghiệp ấy.. đọa xứ... tài sản nhỏ. Con đường đưa đến tài sản nhỏ. ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc". (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Người này không có biết chia sẻ gì hết thì người này hoặc là đọa đường ác, nếu sanh lại được làm người thì trong gia đình nghèo khổ, khó khăn, túng thiếu, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhà không có để ở, keo kiệt, bủn xỉn.
"Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông có bố thí cho Sa-môn hay cho Bà-la-môn các đồ ăn uống... ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc. Do nghiệp ấy... thiện thú... nhiều tài sản. Con đường đưa đến nhiều tài sản nhỏ... ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Còn cái người bố thí thì sanh lên cõi trời hoặc là sanh ở cõi người thì đại gia giàu có, sung túc, sung mãn tiền của vật chất.
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông ngạo nghễ, kiêu mạn, không đảnh lễ những người đáng đảnh lễ, không đứng dậy đối với người đáng đứng dậy, không mời ngồi những người đáng mời ngồi, không nhường chỗ đi cho những người đáng được nhường chỗ đi, không tôn trọng những người đáng tôn trọng, không cung kính những người đáng cung kính, không cúng dường những người đáng cúng dường. Do nghiệp ấy... đọa xứ... thuộc gia đình hạ liệt. Con đường đưa đến gia đình hạ liệt.. không cúng dường những người đáng cúng dường." (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Tại vì người này bản ngã to lớn, ngạo nghễ, khinh mạn, khinh khi người ta thì người này sanh ra nghèo hèn, lùn thấp.
"Nhưng ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, không có ngạo nghễ quá mạn, đảnh lễ những người đáng đảnh lễ... cúng dường những người đáng cúng dường. Do nghiệp ấy... thiện thú... vào gia đình cao quý. Con đường đưa đến gia đình cao quý... cúng dường những người đáng cúng dường" (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Được sanh trong gia đình cao quý là người này có cái tâm cung kính, có cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, đây là năm khiêm trong đạo tràng Nikāya. Cái người có cái tâm khiêm hạ, khiêm cung, hạ bản ngã của mình, đảnh lễ nhũng người đáng đảnh lễ, cung kính những người đáng cung kính, nhường chỗ ngồi những người đáng nhường chỗ ngồi, tôn trọng người đáng tôn trọng, phải đứng dậy chào mời những người đáng được đứng dậy chào mời như vậy, nhường chỗ thì người nay sanh trong gia đình cao quý, quý tộc, công tằng tôn nữ, mệnh phụ phu nhân, chánh cung hoàng hậu, vạn nhân chi thượng, vạn phụng chi vương, mẫu nghi thiên hạ là hoàng hậu.
Mình biết được sanh trong gia đình cao quý, quý tộc, cao sang, những địa vị như vậy người ta tu nhiều đời lắm chứ không phải dễ đâu, do cái tâm của người ta.
"Ở đây, này Thanh niên, có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn, không hỏi: 'Thưa Tôn giả, thế nào là thiện? Thế nào là bất thiện? Thế nào là phạm tội? Thế nào là không phạm tội? Thế nào là cần phải thực hành? Thế nào là không cần phải thực hành? Tôi đã làm gì để phải không lợi ích và đau khổ lâu dài? Hay tôi đã làm gì để được lợi ích và an lạc lâu dài? Do nghiệp ấy... đọa xứ... trí tuệ yếu kém. Con đường đưa đến trí tuệ yếu kém... lợi ích, hạnh phúc lâu dài?" (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Như vậy người này để tâm học hỏi những bậc có trí tuệ thì người này sanh ra có trí tuệ, còn người không học hỏi, không để tâm thì người này sanh ra là kém trí tuệ, không hiểu biết, ngu dốt, dại khờ thậm chí bị điên loạn, bệnh hoạn, bệnh tật. Như vậy thì mình thấy giải thích bao nhiêu cái trường hợp, cặp thứ nhất là sống lâu và chết yểu, cặp thứ hai là khỏe mạnh và bệnh tật, cái thứ ba là đẹp và xấu, cái thứ tư là hèn và sang, cái thứ năm là quyền thế lớn và người hạ liệt và cái thứ sáu là giàu với nghèo và cuối cùng là ngu và trí tuệ.
"Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu" (Trung Bộ Kinh, 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Vậy là giới thiệu tổng quát cho quý vị về cái nhân quả, cái nghiệp. Bây giờ mình qua tiếp tục cái chủ đề tiếp theo tam pháp ấn vô thường, khổ, vô ngã thì có cái bài kinh Không Có Hạn Chế trong Tăng Chi Bộ tập III là Đức Phật nói về sáu lợi ích của người tu tập vô thường, khổ, không, vô ngã, ba lần sáu là mười tám cái lợi ích. Nhiều khi mình giảng vô thường, khổ, vô ngã là mình cứ xoáy vô nó hoài mà mình không nói thực trạng của nó ra sao và cái lợi ích của nó như thế nào thì cái này là những cái đó giờ mình chưa có thấy được.
"- Thấy được sáu lợi ích, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để vị Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng vô thường, không có hạn chế trong tất cả hành. Thế nào là sáu?
Tất cả hành hiện ra với tôi, không có an trú; ý của tôi không ưa thích tất cả thế giới; ý của tôi sẽ xuất khỏi tất cả thế giới; ý của tôi sẽ nghiêng về Niết-bàn; các kiết sử của tôi đi đến đoạn diệt; và tôi sẽ thành tựu tối thượng Sa-môn hạnh.
Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng vô thường, không có hạn chế trong tất cả hành." (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, X. Phẩm Lợi Ích, (VII). Không Có Hạn Chế (1))
Cái chữ vô thường, chữ khổ, vô ngã ở trong Nikāya nó sâu lắm. Thường thường mình giảng vô thường là mình giảng ở ngoài không à, thí dụ như người chết, xe đụng, bị tai nạn hay là động đất, sập nhà. Còn cái vô thường của Nikāya đi sâu vào thân của mình rồi sâu hơn nữa đó là vô thường trong cảm thọ, trong cảm giác của mình, vô thường trong hình bóng trong tâm. Nó đổi thay hoài, vô thường trong suy nghĩ, cái suy nghĩ của mình nó đổi liên miên là vô thường trong hành uẩn và vô thường trong thức uẩn, vô thường trong ngũ uẩn.
Cái vô thường ở bên ngoài chưa có khổ bằng cái vô thường của bên trong. Thí dụ mình chơi với người bạn mười năm, hai mươi năm, hai mươi lăm năm tự nhiên bữa nay nói "tôi không muốn gặp mặt của bà nữa, đi chỗ khác đi". Thế là mình đau khổ không? Có buồn không? Đó là cái thọ vô thường, cái cảm giác bữa nay nó đổi rồi, thương chuyển sang ghét rồi, có những người vì ở ngoài đời cái tình cảm nam nữ người ta tự vẫn chết, nhảy sông, nhảy lầu, nhảy cầu, treo cổ tự vẫn. Vì cái cảm thọ thay đổi đó mà người ta đau khổ, người ta không biết cái cảm thọ là vô thường mà người ta cứ nghĩ nó là vậy, hễ thương là thương hoài nhưng không phải, nó sẽ đổi thay.
Cho nên mình đưa sâu vào khai thác cái sự vô thường ở trong thọ; tưởng; hành; thức, cái này độc đáo, sâu sắc, mới, mấy người kia không có nói, mấy người khác giảng cái chủ đề này không có khai triển nổi. Bởi vì có ba thọ: Thọ lạc, thọ khổ, thọ bất khổ bất lạc, mình nói tiếng việt là cảm thọ vui, cảm thọ buồn, cảm thọ không vui không buồn thì ba cái cảm thọ này nó thay đổi liên tục. Nếu mình nhìn thấy cái cảm giác này nó luôn luôn đổi thay thường xuyên, khi nó đổi rồi mình thấy bình thường thôi, tại vì cái vô thường là thường mà, cái biến đổi này nó là thường mà, nó không biến đổi mới là bất thường cho nên nó đổi hoài.
Khi mình có ai thương thì cái tâm mình cũng bình tĩnh, chánh niệm tỉnh giác, đừng để cái thương nhận chìm mình xuống dòng sông ái. Khi có ghét, có lửa đốt thì đừng để cái lửa đó thiêu rụi mình trở thành tro tàn, tâm mình chánh niệm tỉnh giác trú xả. Đây là cái pháp hành Đức Phật luôn dạy mình khi xúc sanh ra thọ, có sáu xúc: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc, khi mình nhìn thấy, mình nghe, mình ngửi, nếm, mình xúc chạm hay là ý của mình duyên với các pháp thì lúc đó sanh ra cảm thọ. Mà thọ thì có ba cảm thọ, vui - đừng để cho cái vui đó nhận chìm trong tham ái, khổ - khó chịu, bực bội, đừng để cho cái khó chịu, bậc bội thiêu đốt, cháy rụi mình thành tro tàn, phải chánh niệm tỉnh giác trú xả.
Cái địa chỉ thường trú người xuất gia con thường hay nói là tâm xả, kinh Nikāya nói địa chỉ thường trú của mình không phải ở Bình Thuận, Sóc Trăng, Rạch Giá, Cà Mau, Huế, Hà Nội gì cả mà địa chỉ thường trú người xuất gia là an trú cái tâm buông xả. Lúc nào cũng buông xả, đừng chấp thủ, đừng dính mắt với tất cứ vật gì trên đời, bất cứ vật gì trên đời đừng để tâm dính mắt, chấp thủ vô nó. Phải quán vô thường, quán ly tham, quán từ bỏ, quán đoạn diệt, quán khổ đau, không có gì để cho mình ưa thích, không có gì để cho mình nắm giữ, nó trống rỗng, trống không, vô ngã thì có gì để cho mình nắm giữ.
Ngay cả cái cảm giác vui này phải biết cái cảm giác vui này là vô thường, đừng có để cho quá vui, đừng có để chìm vô trong đó mà ngay lúc vui phải chánh niệm tỉnh giác, coi chừng vui quá rồi nói buông lung phóng dật, nói một hồi rồi có chuyện, sau đó hối hận. Lâu lâu có bị không? Vui quá rồi cứ nói thả ra rồi hố, thế là có chuyện xảy ra rồi hối hận cho nên chủ lực là cảm thọ quyết định hết tất cả, tất cả các pháp quy tụ, hội tụ nơi cảm thọ, trong ngũ uẩn này cảm thọ là quan trọng nhất, cảm thọ điều khiển hết ngũ uẩn, thấy được cái cảm thọ vô thường, thấy được cái cảm thọ nó khổ.
"Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, khi con sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư như sau được khởi lên: 'Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ'. Ba thọ này được Thế Tôn thuyết dạy. Nhưng Thế Tôn lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Do liên hệ đến cái gì, lời nói này được Thế Tôn nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ"?
-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Chỗ này sâu lắm. Cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ? Thí dụ mình ăn ngon đó là vui nhưng một hồi trúng thực làm mệt, bao tử mình chịu không nổi, mới vua đó mà giờ đã khổ vì buffet cả trăm món nên vô cứ làm tới. Có cái cô này đi lại tiệm buffet bên Mỹ, vé vô tiệm chỉ cái mười mấy hai mươi đô thôi nên cô mua vé vào ăn, bây giờ trả tiền rồi mà không ăn nữa thì uổng quá vì đồ ăn vừa ngon vừa nhiều. Cô ăn một hồi thì tiệm phải gọi xe cấp cứu tới cứu gấp cho cô cho nên Đức Phật nói phải quán cái cảm thọ vui đó là khổ. Cái này sâu lắm, rất sâu, quán cái cảm thọ khổ là mũi tên độc để cho mình nhàm chán, đó là khổ thánh đế nên phải thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ.
Quán cái cảm thọ không khổ không vui đó là vô thường, nó biến hoại, nó đổi thay. Ngày nào mình ra mình cũng thấy sáng nghe bong bong là đi ăn sáng rồi đi làm, trưa nghe cốc cốc là vô ăn rồi chiều có đi học hay gì tối về lên ngủ. Ngày nào mình cũng nghĩ vậy là si mê, vô minh, phải thấy được nó vô thường, đây là sống tạm thôi, mình đang ăn trộm cái phước của quá khứ thì mình được an an, ổn ổn này mà mình tưởng đâu an an, bình bình, yên yên là mình chết ngay. Mình phải quán nguy hiểm và tai họa ở trong cái vô thường này, ở trong cái đều đều này, cái nguy hiểm chứa trong này nè, trong cái an này có cái bất an, trong cái bình này có cái bất ổn, trong cái đều đều này tiềm ẩn những tai họa nguy hiểm, vô thường nó rình rập trong này nên mình phải cẩn thận.
Nếu như mình an an, ổn ổn, bình bình, đều đều, mình cho cái cảm giác không khổ không vui này là mình thì mình chết. Phải quán cảm thọ này là vô thường cho nên mình đưa cái vô thường, khổ, vô ngã vào trong cảm thọ. Cái hình bóng trong tâm cũng vậy, nó làm cho mình khổ, nó ám ảnh, giận ai đó mà trong tâm hiện ra cái mặt của người đó là ăn không ngon rồi, nằm ngủ lăn qua trở lại, nó ám ảnh cái mặt thấy ghét hoài. Đó là cái tưởng khổ đó, như vậy mình thấy thọ; tưởng; hành; thức rồi cái suy nghĩ nữa, suy nghĩ có làm cho mình mệt không? Có làm cho mình căng không? Có làm cho mình lo không?
Thí dụ như chuẩn bị thi rồi cứ an tịnh, lắng dịu, hướng vô lồng ngực kêu "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", cứ hướng vô niệm vậy đó giống như niệm Phật vậy đó. Hướng vô ngay chỗ lồng ngực trung tâm, tất cả cảm thọ nằm ở đó rồi kêu "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", mình lấy cái sự điềm tĩnh, trầm tĩnh, bình tĩnh, thanh tịnh đó làm sức mạnh để mình tuyên dương thánh pháp, còn mình lo lắng, mình căng thẳng bài vở chạy ra mất tiêu hết trơn, lên mặt mài xanh lè xanh lét, chân run rồi nói không nổi. Vì thế tâm phải định tĩnh, cứ hướng vô ngay lồng ngực niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, giống như niệm Phật, niệm chú đại bi, niệm chú vãng sanh.
Khi mình thấy rõ ràng có sự lắng dịu xuống, sự an tịnh, sự dễ chịu xuống rồi mình đi ung dung, bình thản lên mình nói thôi mà cái này không phải thi diễn giảng mới thực hành, bất cứ lúc nào ở đâu, làm công chuyện lúc nào cũng thực hành hết. Năm cái từ mà đạo tràng Nikāya chúng con mới bước vô phải học thộc lòng hết để thực hành là "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương", niệm hoài, niệm cho dễ thương vì nhiều khi không dễ thương, niệm cho nó ngọt ngạo vì nhiều khi đắng chát à.
Cái cảm thọ của mình lúc nào cũng hiền hòa hết mà cảm thọ không hiền giống như cái tiếng đang kêu đó, cảm thọ không hiền mới đọa làm thân súc sanh, gặp ai nó cũng sủa, gặp ai nó cũng táp. Mình không tu cái cảm thọ hiền, cảm thọ từ thì đời sau mình thành nó đó, chỉ thẳng người thật việc thật luôn, một con chó sủa lên là cái cảm thọ sân hận, bản ngã cho nên đời trước nó cũng là một con người, nó cũng sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng vì cái nghiệp ác giờ nó đưa xuống vậy mà nếu mình không tu thì mình cũng giống vậy đó. Chỉ thẳng ngay lúc buổi giảng đó luôn nếu có chó sủa, đó là sự thật, người thật, việc thật, lẽ thật sự thật, nói người ta nghe ta rợn óc hết, sực tỉnh hết.
Chúng ta thấy không? Khổ lắm, gặp ai nó cũng sủa hết, gặp ai cũng nhào ra táp hết thì cũng vậy, cái tâm không có tu tập là nó đưa đến cái quả như vậy. Đời trước cũng là người đó mà nhiều khi còn sếp sòng nữa chứ không phải người bình thường đâu, sếp dữ lắm cho nên để bản ngã cao.
Cách tổ chức khóa tu cho Phật tử bát quan trai giới tu một ngày an lạc hay là khóa tu mùa hè. Cách tổ chức khóa tu thì cái này quý ngày rành hơn con, cái khóa tu của con thì nó khác biệt nhiều lắm, con không có xưa bày nay làm, người ta sao mình vậy, con không có chấp nhận cái đó mà lúc nào cũng phải tìm ra được cái cốt lõi của vấn đề và phải có một sự sáng tạo độc đáo, phải có sự thiết thực, giá trị, lợi ích thật sự. Mới ngày hôm qua là con kết khóa tu ba ngày tổ chức lần thứ hai ở chùa Bửu Liên, khóa tu Hiền Trí, nếu quý vị có thời gian con thỉnh quý ngài mở vô coi dạt dào nước mắt đầy mặt, xúc động ngọt ngào, hạnh phúc, người ta cảm ơn vô cùng luôn vì trong ba ngày người ta thay đổi nhận thức, thay đổi cảm thọ, thay đổi tư duy và người ta quỳ lạy sám hối, người ta tự khai hết những cái lỗi lầm, tội lỗi của người ta trước kia.
Cái thói quen của mình hiện nay đó vô chùa cứ thích vui không à, nói cho người ta cười, người ta vui, người ta vỗ tay, nói o bế người ta. Cái này cũng là một cái khéo nhưng mà nó khéo nhiều quá nó thành dụng, con không có, tại sao khóa tu của con nếu mà quý vị thấy sẽ hơi lạ là khóc nhiều lắm, khóc rất là nhiều mà khóc hạnh phúc. Cái giọt nước mắt đó thứ nhất là người ta vỡ lẽ ra những cái trước giờ người ta không hiểu, cái thứ hai là mình chạm tới trái tim của người ta, cái thứ ba là người ta mừng vui, hạnh phúc vì người ta chưa từng nghe, chưa từng thấy, chưa từng hiểu, chưa từng có những cảm thọ như vậy mà hôm nay người ta có.
Mình muốn vậy thì thật sự cái này không phải chuyện đơn giản, mình hãy chú trọng vào trong cái chất lượng, đừng có quá chú trọng vô hình thức, máy móc. Cứ sao là làm y như vậy rồi làm sao mà tiến bộ? Phật giáo mình một ngàn năm, hai ngàn năm mà bây giờ mình cứ xưa bày nay làm, người ta sao mình vậy. Con trở lại cái vấn đề làm sao mình giúp người ta xử lý đau khổ thì khóa tu thành công, mình có hiểu người ta đang khổ gì không, người ta đang cần cái gì không chứ không phải máy móc là mở ra tụng, mở ra cứ đọc không dính dáng gì tới người ta.
Bây giờ "con thưa ni sư, con thưa sư bà, con thưa sư cô là bây giờ vợ chồng con đang giận nhau mà không biết làm sao" thì kêu "thôi về tụng phổ môn" thì làm sao giải quyết được vấn đề? Mình phải cho người ta nói, mình phải lắng nghe người ta đang cần cái gì, "con thưa sư bà là bây giờ con với chồng con đang có một cái vấn đề, ai cũng bản ngã lớn hết trơn, ai cũng có tôi lớn, không ai chịu thua ai hết" cái này mình phải tích được cái nguy hiểm của cái bản ngã, cái bản ngã này làm cho mình rạn nứt, cái bản ngã này nó làm cho mình chia lìa, thì cái bản ái này nó làm cho mình đổ vỡ. Nếu như ai cũng chịu hạ thấp mình xuống, chịu lắng nghe với nhau, hiểu với nhau, cảm thông với nhau là tốt đẹp và con xin thưa bên thiền biết ơn của con không phải chỉ có cha mẹ mà con cho hai vợ chồng lạy với nhau.
Khi đó con qua bên Úc Châu ở tại thiền viện Tiêu Giao ở Melbourne, con có mở khóa tu ba bốn ngày, ni sư cũng là đệ tử của hòa thượng trúc lâm. Trước một ngày kết thúc khóa tu thì có cô này lại xin thực hành thiền biết ơn với chồng thì con cho, khi cô ra mời thì ông chồng giống như trên trời mới lọt xuống không biết chuyện gì hết. Cô quỳ xuống nói "Dạ thưa anh là em sống chung với anh là năm mươi năm mà em thấy cái bản ngã của em quá lớn, cái gì em cũng dành phần đúng, phần phải, phần hơn, phần thắng. Nay em thấy được cái lỗi lầm em quỳ xuống đây em xin lỗi anh". Ông chồng hoảng hồn luôn chảy nước mắt quỳ xuống nói "thầy ơi con cảm ơn thầy vô cùng, con không biết nói cái lời nào, con sống chung với bả năm mươi năm mà lần này là ngoài sức tưởng tượng của con".
Vì trong khóa tu con hướng dẫn sám hối diệt ngã, con hướng dẫn một cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, con hướng dẫn cho nhìn ra thấy được những cái tham của mình, cái sân của mình, cái tôi của mình, những cái nguy hiểm, tác hại, cái tai họa, cái ác độc của bản ngã. Họ nhận thức được nên quỳ xuống khóc và ông chồng cúi xuống lạy khóc, hai vợ chồng ôm nhau khóc mà chú này công quả trong chùa cả năm mà ông đi làm ở ngoài chứ ít vô tụng kinh ngồi thiền, không biết sao có khóa tu ổng vô. Tại mình bên Việt Nam qua lâu lâu hàng hiếm thì vô ổng ngồi dự, khi dự rồi xong hai vợ chồng đoàn kết nhau, đó là một cái giải tỏa với nhau.
Một gia đình khác là chủ tịch hội đồng quản trị, lên cúng trên chùa con là mẫu mẫu đất không á. Có khóa tu cũng hai ba ngày thì cũng ra quỳ "dạ bản ngã em lớn quá, em làm ra được nhiều tiền em có quyền. Bây giờ em thấy em sai lầm", cô quỳ trước chồng khóc, hai vợ chồng cúi lạy với nhau thật là đẹp, "thưa thầy trong cuộc đời con chưa bao giờ có cái này, sao tự nhiên sao vô khóa tu cái cảm thọ con nó mềm ra, nó nhũng ra, nó tan chảy ra và ở trong con thấy ngọt ngào, hạnh phúc, không có bất cứ cái gì trên cuộc đời này có thể so sánh được hết". Đó là vợ chồng, rồi mẹ con ngoài Hà Nội thì cô này là võ sư, phụ nữ còn trẻ mà là võ sư, đứa con thì nó còn nhỏ có mười mấy tuổi thôi mà nó mê game. Bà mẹ này cái bản ngã rất là cao, rất là lớn mà võ sư nữa, đứa con nó còn nhỏ mới lớn thì nó đâu có dễ dàng nghe thì hai bên có sự mâu thuẫn, không thể nói chuyện với nhau được, nói hai ba câu là có chuyện, nói hai ba câu là phải đi chỗ khác.
Khi bà mẹ đó nghe pháp con chia sẻ về sám hối diệt ngã, thực hành những cái tâm hiền thiện thì bà mẹ quỳ xuống trước đứa con "mẹ xin lỗi con, trước nay cái bản nhã mẹ rất là lớn". Vì ba nó cũng đi mất rồi, ở không nổi, "mẹ thấy mẹ sai lầm, ngày hôm nay mẹ quỳ trước con mẹ xin lỗi, mẹ sám hối với con" và đứa con đương nhiên nhìn thấy mẹ quỳ dưới chân mà nước mắt chảy xuống mà lạy thì nó hoảng hồn quỳ xuống, nó cũng khóc "mẹ ơi con sai rồi, con không nghe lời mẹ, con mê chơi game. Ba đã đi rồi, có một mình mẹ lo cho con mà bây giờ con lại hư đốn như vậy, con cúi đầu lạy xin lỗi mẹ". Hai mẹ con ràng rụa nước mắt và lạy dưới chân của nhau xúc động nghẹn ngào, ấm áp, yêu thương và như vậy không phải một lần mà hai, ba, bốn lần sau lâu lâu mẹ cũng lạy con nữa, hai mẹ con lạy nhau.
Cho đến một thời gian thì cô này dẫn con đi lên trên núi quỳ dưới chân con khóc mà con không biết chuyện gì hết trơn, mới gặp con đã khóc rồi, lạy dưới chân, ôm cái chân của con "con cảm ơn thầy, con cảm ơn sư phụ không biết dùng lời nào diễn tả hai mẹ con của con bây giờ ấm áp, yêu thương. Con con bây giờ rất là hiếu thảo, lo cho con từng chút nhờ chánh pháp đã làm thay đổi cuộc đời của hai mẹ con của con" mà nhiều lắm, con chỉ kể một hai câu chuyện thôi, còn rất nhiều chuyện.
Có một gia đình cô này với em chồng giận nhau mười mấy hai mươi năm, một câu nói thôi hai người không nhìn mặt nhau rồi lây luôn hai bên gia đình chồng ghét cô luôn tại vì không hóa giải được mười mấy hai chục năm. Khi vô chùa cô cũng học vậy rồi cuối cùng cô về quỳ lại mà không phải một lần đâu, cô xin lỗi rồi cô tặng quà, sau đó quỳ xuống sám hối và cuối cùng ngọt ngào, yêu thương, ấm áp, hóa giải được cái oán kết, cái nội kết trong tâm. Con kể mấy câu chuyện đó là để chứng minh cho chúng ta thấy cái khóa tu muốn hiệu quả không thể làm máy móc, hình thức.
Mình muốn làm cái này thì phải có sức mạnh lớn lắm, nói thiệt phải dám làm mà con biết ni chúng mình giỏi lắm, con qua Đài Loan là con thấy giỏi, quận Bình Thạnh mình cũng giỏi, Phật giáo Việt Nam mình cũng rất giỏi. Phải có thay đổi mới phát triển, mình có thay đổi thường không? Con vô là con thấy bữa có bộ bàn mới, bữa thấy có thêm bông mới, bữa thì có thiết kế Phật Đản mới, nó phải thay đổi chứ, không lẽ giờ vô có cái hình hoài mười năm cũng y vậy. Tại sao cái tu mình thay đổi mà cách mình làm việc không thay đổi?
Thành ra phải dám, con một mình con cứ làm, con thưa với quý ni sư là chắc quý ngài cũng biết hết rồi, ở Linh Quy của con một trăm phần trăm là lấy Nikāya làm hết. Tất cả nghi thức, ngồi thiền, tụng kinh, vọng chuông con lấy Nikāya hết, bây giờ mấy hòa thượng lớn rất hoan hỉ, hòa thượng pháp chủ lúc trước mời con vô hướng dẫn pháp hành ở trong học viện Phật giáo năm buổi đó, phụ giảng với hòa thượng, hòa thượng phó ban hoằng pháp Trung ương cũng mới lên thăm Linh Quy rồi mấy vị lớn thấy con làm các ngài hoan hỉ lắm.
Thành ra con nghĩ rằng chúng ta phải suy tư một chút nên làm cách nào cho có hiệu quả chứ không phải cái hình thức quan trọng đâu. Bây giờ thứ nhất mình phải lắng nghe được họ cần cái gì đã, như giờ ni sư đang khát nước mà con lại con không đưa nước con đem bông tặng thì đâu dính dáng gì đâu, ni sư đâu cần bông đâu, đang khát nước thì đưa nước mới đúng chứ, đang đói thì đưa cơm chứ. Cũng vậy, mình phải biết cái cần của người ta thì như vậy người ta đau khổ về cái gì, về mẹ con, hay là về vợ chồng, hay là về cái sự cái tôi, cái bản ngã của người ta trong gia đình thì những cái đó thật ra nếu mình nói sâu sắc thì Nikāya tổng cương lĩnh mấy chữ thôi dục ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã.
Mười chữ này là tóm thâu hết tất cả đau khổ của chúng sanh trong tam giới: Dục ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Nếu mình giải quyết được mười chữ này là mình thành công, mình cũng vậy thôi, mình cũng bị lòng tham làm đau khổ, mình bị lòng giận làm đau khổ, mình bị cái bản ngã, cái tôi làm cho khổ. Bây giờ làm sao để giải quyết mấy cái này thì trong này có, khóa tu muốn tổ chức thành công phải nhắm vô cái đó. Con thưa là khóa tu của con là không có khai mạc, không có làm lễ gì hết, không có gắn bảng gắn gì hết, vô là tu liền, làm việc liền mà chất lượng.
Đầu tiên mình phải cho người ta nói người ta cần cái gì nhưng cái quan trọng con trở lại vấn đề là mình cũng phải có chánh kiến trước mới được. Mình biết cách xử lý cái khổ mình mới được chứ bây giờ người ta khổ mà mình không biết cách xử lý thì làm sao mình giúp người ta được? Cái này là phải có thời gian học, phải có thời gian phải xử lý được cái khổ của mình thì mới giúp người ta xử lý được chứ. Bây giờ tham làm sao trị, sân làm sao trị, bản ngã làm sao trị, cái đó là con nói về cách để tổ chức khóa tu cho có hiệu quả. Vấn đề cuối cùng "Những Điều Kiện Giúp Giữ Vững Niềm Tin Chánh Pháp Trong Lòng Người Phật Tử Trong Bối Cảnh Hiện Nay", cái gì để giúp cho người Phật tử giữ vững niềm tin chánh pháp của họ trong bối cảnh hiện nay thì cũng trở lại vấn đề:
"Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ." (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Nếu mình nắm được cái phương pháp, cái cách thức, cái đạo lộ, cái con đường, cái tuần tự, cái nghệ thuật xử lý khổ đau thì chắc chắn người ta sẽ tin tưởng mình một cách bất động không lay chuyển. Mình có khả năng giải quyết cái đau khổ cho mình và cho họ bởi cái nỗi khổ của họ tham, sân, si và bản ngã. Ở đây con nhấn mạnh mấy cái điểm này, làm sao để giải quyết, xử lý cái tham giúp cho họ, tham ở đây chúng ta tạm chia làm hai để cho dễ: Tham tài sản vật chất và tham dục, tham ái về cái thân này, về cái ái dục.
Đức Phật chỉ cho mình hai cái phương pháp, tham về vật chất Đức Phật dạy mình quán vô thường. Trong tam pháp ấn mình nói cái này luôn, mình nói vô thường là phải nói người thật, việc thật, sự thật, lẽ thật chứ không có nói lý thuyết hoài này. Mới ở bên Đắk Nông có cái nhà ngoài mặt lộ, người ta ngủ trong phòng thì bất ngờ chiếc xe tải tông vô đưa đi hết ba người chết, hai người bị thương, bể sập hết ba cái nhà, chủ nhà chết ngay trong cái căn nhà, ngay trong cái phòng ngủ mà người ta nghĩ rằng đây là chỗ an toàn nhất, ấm áp nhất, vững chắc nhất của người ta nhưng cái chỗ đó là cái chỗ bất an ngay trong căn nhà của mình ở.
Mới động đất ở Nhật Bản 7,1 độ, bây giờ chuẩn bị 9.1 rung chuyển hết tất cả, mình thấy cái vật chất này, cái tài sản này mình tích lũy, chất chứa suốt cả cuộc đời nhưng chỉ một đốm lửa nhỏ xíu thôi trở thành tro bụi. Mình thấy lũ lụt cuốn trôi cùng khắp thế giới, trôi nhà, trôi cửa, trôi xe, trôi cộ, trôi người, trôi cả xóm làng. Rồi động đất vùi lấp hết, hai vợ chồng đang ngủ trong nhà thấy ấm áp nhưng đất sạt từ trên đồi xuống chôn vùi luôn chết ngay tại chỗ. Vì một chút xíu đất, một chút xíu lửa, một chút xíu gió thổi qua thôi thì tất cả đều tan hoang, tan tành, tan vỡ, tan dụng, tiêu vong, diệt vong, bại hoại, huỷ hoại, hoại diệt, tiêu tan. Đó là những cái từ trong Nikāya đó, từ ngữ của bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác đó.
Bà mẹ dẫn ba đứa con từ ở ngoài miền Trung đi vô trên Đà Lạt để thăm ngoại đi làm mướn ở một cái chái phía sau căn nhà của người ta, đứa con một tuổi, bốn tuổi, sáu tuổi. Buổi sáng bà mẹ nấu đồ ăn sáng rồi chợt nhớ đi ra ngoài mua sữa cho mấy đứa nhỏ nên khóa trái cửa lại, bà mẹ trở về là căn nhà bốc lửa lên và ba đứa con chết hết vì quên tắt cái bếp ga. Ba đứa con một tuổi, bốn tuổi và sáu tuổi chết hết chỉ vì quên tắt cái bếp ga thôi và trong đám tang của ba đứa nhỏ thì một người kè bên đây, một người vịn bên đây và cầm một cái chai nước biển đang vô nước rồi bà mẹ ngất xỉu, đi không nổi người. Cùng một lúc chết ba đứa con chỉ vì đi ra mua sữa mà quên tắt cái bếp, vì khóa trái cửa thì người ta đập cửa vô không kịp, lửa bốc lên hết rồi người ta hay tin lại thì đập vô không kịp, tới chừng đập ra được thì ba đứa nhỏ chết hết.
Vô thường như vậy, nó mau chóng như vậy, nó biến hoại như vậy, nó tan hoại, nó hủy hoại, nó hoại diệt, nó tiêu tan, tiêu vong, diệt vong như vậy. Đó là bản chất của cuộc đời này, đó là sự thật, là lẽ thật, là chân thật vì cái tâm vô minh, cái tâm hôn mê, cái tâm ngu si, cái tâm dại khờ không có tin. Đến khi xảy ra thì lúc đó tất cả là muộn màng, hối hận đâu có kịp cho nên mình nhớ cái vô thường đó thì mình bớt tham muốn những cái vật chất phù du, huyễn ảo, hư huyễn cuộc đời, không có cái gì hết. Mình lấy một cái câu chuyện đó thôi, mình thấy người thật, việc thật, sự thật, lẽ thật ngay trước mắt của mình để chứng minh cái sự vô thường đó và như vậy để bớt cái lòng tham vật chất.
Đất, nước, gió, lửa này, tứ đại này có thể hủy hoại mình bất cứ lúc nào, một đốm lửa nhỏ thôi, một ngọn gió thôi cũng có thể trúng gió độc rồi chết. Có chú Phật tử hộ pháp là kĩ sư bên Mỹ mấy chục năm, bất thình lình đột quỵ, đột tử, chúng ta thấy cái này để làm cho mình nhiếp phục và chế ngự, giảm thiểu, đi chỗ diệt tận lòng tham về vật chất. Thường quán chiếu, thường ghi nhớ, thường nhắc nhớ rồi lòng tham về thân xác, về dục thì Đức Phật dạy quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, quán bất tịnh, quán chín giai đoạn tử thi, quán về cốt tưởng, bộ xương, quán về nắm tro tàn. Về cái sân thì Đức Phật dạy về từ tâm giải thoát, còn si mê, vô minh Đức Phật dạy quán tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, nguy hiểm, tác hại của đời sống này để phá vô minh.
Hồi nãy con nói rồi đó, mình cứ mình nghĩ rằng an an, bình bình, yên yên, ổn ổn như vậy không có đâu. Con xin thưa tất cả những ác nghiệp đang rình rập mình bất cứ mọi lúc mọi nơi, nó chỉ chờ thời nó ra tay rồi nó theo mình, nó bén gót như hình với bóng. Chỉ cần mình hở, mình xê xích chút là nó ập vô là xong, nó giải quyết mình, những ác nghiệp, những oan gia trái chủ, những nghiệp báo mà mình đã từng tạo vô lượng vô biên kiếp nay là ở cùng khắp mọi nơi, nó ẩn nấp tiềm phục mà đúng lúc nó ập vô xử lý mình. Nếu mình không có chánh niệm tỉnh giác, không có tu tập, không có định lực, đạo lực, niệm lực, tuệ lực thì một nhân quả oan cha trái chủ ập tới lúc đó là mình thúc thủ, mình bó tay thôi nếu mình không có niệm lực, định lực, đạo lực, tuệ lực.
Cho nên bình thường mình phải tu là mình phá cái si mê, cái cảm giác đơ đơ, trơ trơ, ngơ ngơ, cái cảm giác đều đều, bình bình, an an đó là nó giết mình chết, cái cảm giác bình an đó là nó giết mình chết, mình chết với cái đó. Sân với lại tham thì thấy vậy chứ cũng đâu phải lúc nào cũng giận hoài tối ngày sao, lúc nào cũng tham hoài sao mà cái si này mới khủng khiếp, nó chiếm hết tám – chín chục phần trăm của một ngày là mình cứ đơ đơ, trơ trơ. Mình nghĩ sáng cũng vậy, trưa cũng vậy, nay cũng vậy, mai cũng vậy, tuần sau cũng vậy, tháng sau cũng vậy, năm sau cũng vậy là chết.
Cái đó là ngu si, là vô minh, là mù lòa, phải dùng cái thánh trí phá vô minh. Quán nguy hiểm, quán tác hại, quán vô thường, quán tiêu vong, quán diệt tận, quán ác nghiệp, quán khổ đau để mình phá cái tâm si mê đó thì nó cho mình một cái sức mạnh dũng lực, tinh tấn, tinh cần, mãnh hổ lực, tượng vương lực, sư dương lực, thánh hùng lực mới được sanh khởi lên. Đó là tứ chánh cần, tứ thần túc, vận dụng trong ba mươi bảy chánh giác phần.
Còn cái bản ngã có bài sám hối diệt ngã, quý vị cứ các ngài cứ vô coi ở trong Nghi Thức Tu Học Nikāya. Đánh phá sập hết, tan vỡ hết cái bản ngã, cái tôi, cái ta này cần phải nhiếp phục, chế ngự và diệt tận. Như vậy là con chia sẻ hết về sáu cái chủ đề, quý vị có muốn hỏi gì không ạ?
Sư cô: Dạ mô Phật bạch thượng tọa chúng con xin thượng tọa hoan hỉ giảng chi tiết về giáo lý vô ngã tại vì giáo lý này rất là khó hiểu, chúng con chưa có nhận diện được. Xin thượng tọa hoan hỉ.
Sư Phụ: Đức Phật nói:
"Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này." (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V). Một Ung Nhọt)
Cái thân mà mình đang thấy đây mình tưởng là mình, là tôi, là của tôi nhưng thật ra là nó là đất, nước, gió, lửa. Mỗi ngày nó phải được mượn đất, nước, gió, lửa vô, bên đây là bên trong tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim, gan, tuỳ phế thận, hoành cách mô, vân vân, nó thuộc về đất, chất cứng. Nước miếng, mủ, máu, mỡ, mồ hôi, nước tiểu, chất dịch nước trong khớp xương, nước mũi, vân vân, những cái đó thuộc về phần nước, phần thủy đại và cái hơi ấm trong cơ thể mình thuộc về hỏa đại. Những cái động như tim đập, mạch nhảy, máu huyết lưu thông, tuần hoàn hơi thở, những cái động trong cơ thể mình thuộc về gió.
Như vậy nó gồm có nội tứ đại là đất, nước, gió, lửa bên trong ngoại tứ đại là đất, nước, gió, lửa bên ngoài. Hằng ngày mình phải ăn vô, mình phải uống vô, mình phải thở, bây giờ mình ngưng thở là xong rồi, đâu có còn ai nữa đâu.
"Còn động còn ấm còn ta,
Động dừng ấm hết là ma ra đồng.
Thở than khóc lóc não lòng,
Thức thần theo nghiệp hết mong trùng phùng".
(Chiếc Thân Phút Chót - Thiền Viện Chân Không, 01.1985)
Bài kệ đó của hòa thượng trúc lâm, như vậy tứ đại bên trong, tứ đại bên ngoài kết hợp, vay mượn liên tục mà theo một cái sự vận hành của nó, một cái cấu trúc, cái mô thức của nó mà nó gặp trục trặc là đi vô bác sĩ. Ăn không được, đào thải ra không được, thở không được, uống không được thì khổ không? Đó là cái sự kết hợp phải không? Mới có phần sắc uẩn thôi là đã bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên như vậy, bao nhiêu cái sự kết hợp như vậy, lắp ráp, vay mượn liên tục không ngừng.
Con thưa quý vị, quý vị ra ngồi ở đây làm cái gì quan trọng nhất mà không làm là chết liền? Mình hỏi thính chúng vậy đó, mình có nhớ mình thở không? Một ngày mình nhớ được bao nhiêu mà mình biết cái tầm vóc quan trọng của cái thở này không? Cái thở này gọi là mạng căn, là căn bản của sự sống là cái thở này mà mình không nhớ, nhưng mà chuyện ai là mình nhớ kỹ lắm. Đó là cái sự sai lầm, mình đặt tâm hướng ngoại mà mình không có nội quán, nội tỉnh, nội chiếu, nội soi, quay lại nhìn mình nhìn để thấy cái tứ đại này vận hành. Nó là duyên sanh, nó là lắp ráp, nó là vay mượn, nó là vô thường, nó là biến đổi, nó là tan hoại, là huỷ hoại, là hoại diệt, là tan nát, là tiêu tan.
Mình lấy ngũ uẩn ra để phân tích cảm thọ, do tiếp xúc mới có sanh ra cảm thọ mà cảm thọ vui là mình thì cảm thọ khổ là ai, cảm thọ không vui không khổ là ai. Cảm thọ này là duyên sanh, nó là vô thường, nó là biến đổi, nó là tan hoại. Những hình bóng trong tâm hình là bóng nào, đủ thứ hình bóng thay đổi liên tục, nó ám ảnh trong mình rồi những cái suy nghĩ cứ nói hết cái này tới cái kia, hết cái kia tới cái nọ, Nó thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than, nó bép xép, nó nói hoài thì cái nào là mình và cái nhận thức này cũng vậy, cũng là duyên sanh, thay đổi liên tục, năm tuổi khác, bảy tuổi khác, mười tuổi khác, giờ ba mươi tuổi, bốn mươi tuổi khác, sáng thấy vầy, trưa đổi khác, tối nó đổi khác, ngày mai nó đổi khác. Cái nhận thức này nó biến đổi, nó vô thường, nó duyên sanh.
Đức Phật gọi cái nhận thức này giống như trò ảo thuật, trong bài kinh Bọt Nước Đức Phật chỉ quán sắc như hòn bọt, thọ như bông bóng nước, tưởng như ráng mặt trời, hành giống như là cái bẹ chuối giống như cái cây chuối, thức giống như trò ảo thuật. Mình lấy năm cái ví dụ đó để mình thấy rõ được cái ngũ uẩn này là một cái sự cấu kết, lắp ráp, kết hợp, duyên sanh, không có một cái chủ thể, không có một cái tự thể, không có một cái bản thể. Mình thấy được cái tính trống rỗng, trống không, duyên sanh, vô thường của nó để mình không chấp trước một cái tự ngã ở trong cái ngũ uẩn này.
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thượng tọa, con muốn thưa với thượng tọa về cái vấn đề của ý nghĩa Phật đản khi mình nói sự xuất hiện của Đức Phật mang lại lợi ích gì cho đời thì ở cái đoạn này mình có thể liên hệ về tứ diệu đế và mình nói sự xuất hiện của Đức Phật để cho con người nhìn nhận được sự thật của vô thường, vô ngã, thấy được khổ và con đường diệt khổ thì mình liên hệ tới cái vấn đề này nó có đúng trọng tâm không ạ? Cho con xin hỏi về cái vấn đề vu lan báo hiếu thì khi nói tới vu lan báo hiếu mình có thể liên hệ qua bên tứ trọng ân không hay là mình chỉ xoay quanh cái chỗ báo hiếu đối với cha mẹ thôi ạ?
Sư Phụ: Báo hiếu thôi, tứ trọng ân rộng lắm, thời gian mình rất ít.
Sư cô 2: Dạ với cho con hỏi thêm một cái vấn đề ở nhân quả thì cái nhân quả này nó rất là rộng nhưng khi mình nói về một đề tài mình có thể nói là do nhân quả. Ở đây con xin giới thiệu nhân quả xoay quanh đời sống của con người, mình có thể hạn chế trong cái vấn đề đó được không ạ?
Sư Phụ: Câu hỏi đầu là ở trong kinh Tăng Chi Bộ, mình phải thuộc lòng để lấy cái câu đó:
"vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (X). Ðộng Ðất)
Cái câu này rất quan trọng, từ cái câu đó mình khai triển ra. Vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì thương tưởng cho đời Đức Phật nói ra năm giới. Giới là đạo đức mà xã hội hiện nay là đang là suy đồi đạo đức một cách nghiêm trọng, khủng hoảng về nhân đạo toàn cầu cho nên cái lòng từ ái không có giết hại chúng sanh, không có phá rừng cây là bảo vệ cái khí hậu, bảo vệ cái sự ngừng lại cái sự biến đổi thiên nhiên. Nói những cái mình điểm nóng hiện tại trên thế giới, đừng có nói quá xa, Đức Phật giúp cho con người có được cái đạo đức, có cái tâm hiền lành.
Bây giờ sát sanh hay là trộm cắp, tà dâm hay là nói dối, hay là say sưa, nghiện ngập đều làm đau khổ cho mình và đau khổ người thân, đau khổ xã hội. Mình nên khai chuyển về năm cái giới, cái lợi và cái hại của nó, cái đó hay nhất rồi sau đó mình nói mấy cái kia nói vừa vừa thôi tại vì đề tài Phật đản thì mình chú trọng vô cái lợi ích, cái hạnh phúc, an lạc cho chúng sanh. Thí dụ mình gia đình quý vị thử đặt trường hợp hai vợ chồng mà người vợ ngoại tình, hay người chồng ngoại tình có vợ bé thì quý vị thấy làm sao? Dù cho có ngồi trên đống vàng có hạnh phúc không? Mình đưa ra cái nguy hiểm, cái tác hại của nó, mình đưa ra cái lợi ích, hạnh phúc của nó để mình thấy rằng cái đạo đức của Phật giáo là cao quý, là cứu khổ độ sanh.
Chỉ với năm giới thôi thì một người mới bước vào cửa chùa, mới nhập môn đạo Phật thôi là đã có được sự bảo vệ, an lạc, hạnh phúc tuyệt vời như vậy thì huống hồ chi những cái thánh trí cao thượng của cái thượng nhân pháp cao hơn. Mình nhấn mạnh vô cái chỗ đạo đức, nhân văn hoặc mình nhấn mạnh vô giới, định, tuệ cũng được rồi, thiền định của đạo Phật là đưa cho mình có một cái nội tâm nhẹ nhàng mà xã hội ngày nay là căng thẳng, là trầm cảm, là hối hả, là tất bật, là gì dòng xoáy ở trong những cái dục vọng, tham lam, sân hận của con người. Thiền định của Đức Phật giúp cho mình có một cái nội tâm lắng dịu, một nội tâm an tịnh, một nội tâm nhẹ nhàng, một nội tâm bình tĩnh, trầm tĩnh, điềm tĩnh, một cái nội tâm sáng suốt để nhìn ra được cái nào nên làm, cái nào không nên làm, cái nào lợi, cái nào hại, cái nào thiện, cái nào bất thiện để giúp cho cuộc đời này.
Mình thấy cái giá trị của thiền định tuyệt vời đến mức độ nào cho nên tại sao trên thế giới các nước phát triển ví dụ như Nhật Bản rồi các nước đưa thiền định vô tất cả xí nghiệp, công nhân hay là bên Mỹ rồi các nước hiện giờ quý trọng thiền định. Như vậy cái cao quý của thiền định và cái sự nguy hiểm và tác hại của cái tâm và cái thân động loạn, bạo loạn của xã hội, thế giới ngày nay. Mình lấy cái thực tế đó, mình đưa cái sự an tịnh, lắng dịu, thiền định đó, trầm tĩnh, bình tĩnh, điềm tĩnh, nhẹ nhàng, thanh tịnh, an tịnh, trí tuệ sáng suốt để giúp cho bản thân người đó, giúp cho gia đình người đó, giúp cho cái công ty, xí nghiệp, giúp cho xã hội và giúp cho cả thế giới, hành tinh này.
Cái thông điệp vĩ đại của thiền định thì mình lấy giới, định, tuệ thôi là cũng tuyệt vời rồi. Mình khai triển cho nó sâu và nó rộng, đừng có ham quá nhiều cái vấn đề rồi nói phớt phớt không có cái nào ấn tượng. Chỉ cần ba điểm thôi mà mình nói cho đầy đủ mọi phương diện thì ấn tượng rất lớn, giới, định, tuệ thôi tức là Đức Phật đản sanh đưa ra ba cái pháp tối thượng cho chúng sanh an lạc, rồi cái tuệ thì đưa tứ thánh đế vô. Vì người ta không thấy vô thường, không thấy khổ, không, vô ngã cho nên người ta đầy rẫy cái lòng tham, đầy rẫy cái lòng sân hận, đầy rẫy những cái lòng hơn thua, bản ngã như vậy rồi làm khổ cho nhau và cái thánh trí tuệ này đưa cho người ta giảm sân, giảm si, giảm tham, giảm bản ngã để sống hòa bình, sống với từ tâm, sống với cái sự ngọt ngào, yêu thương với nhau.
Đó là cứu khổ độ sanh, đó là sự đản sanh của Đức Phật đem lại hạnh phúc, an lạc, lợi ích cho chúng sanh về lâu dài. Chúng ta khai chuyển cái phần đó, còn cái nhân quả thì mình nói gọn thôi, như cái bài kinh nãy thôi là nói là cũng độc đáo rồi, đó là không đụng hàng với bất cứ ai, thuộc lòng là năm hay là sáu cái cặp nãy đó là mình giải mã được cái đó. Cái bài đó con đề cái tựa trong cái bài con giảng là "Giải Mã Nhân Sinh Thế Giới Vũ Trụ", con giảng cái bài kinh đó bốn năm lần rồi quý vị mở ra coi. Bài kinh đó giải mã hết những câu hỏi lớn ở trên cuộc đời này, ở trên thế giới này, tại sao tôi nghèo, tại sao tôi xấu, tại sao tôi lại tật nguyền, tại sao con tôi chết yểu vậy. Giải mã hết tất cả, giải mã kiếp nhân sinh chỉ với cái bài kinh đó thôi Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt.
Sư cô 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thượng tọa con có thắc mắc về cái câu hỏi về cách tổ chức khóa tu cho Phật tử. Bây giờ khóa tu là được phổ biến rất là rộng rãi trong đó có khóa tu mùa hè, khóa tu bát quan trai hay khóa tu một ngày an lạc, nhưng khóa tu mùa hè thì nó được phổ biến rộng rãi hơn. Trong đó thì nó có về mặt tích cực và mặt tiêu cực, xin thượng tọa chỉ dạy thêm cho chúng con là làm sao để chúng con hạn chế được cái mặt tiêu cực bởi vì trong thời gian vừa qua thì cũng có rất nhiều cái mặt tiêu cực trong cái khóa tu mùa hè và để cho cái khóa tu đem lại cái lợi ích nhiều hơn cho Phật tử và cho cả Phật giáo thì chúng con phải như thế nào để cho nó đúng gọi là khóa tu mùa hè. Xin thượng tọa chỉ dạy thêm cho chúng con.
Sư Phụ: Cái gì cũng vậy hết, mình phải có cái chừng mực, đừng có thái quá, đừng có chạy theo trào lưu. Mình phải lấy cái tinh thần gốc của Đức Phật giới, định, tuệ để mình mở cái khóa tu, mình không cần phải đông, nhiều, to lớn, số lượng. Mình đi theo cái số lượng riết là mai mốt là mất cái chất, mất gốc, mình trở thành giống như những cái trại hè chứ không phải là khóa tu nữa. Chúng ta phân biệt rõ cái này không? Trại sao mình phải chạy theo ở ngoài? Trại hè người ta tổ chức vui chơi giải trí rồi mình tổ chức khóa tu phải ra khóa tu, nhớ kỹ cái điều này, phải nhớ là hai chữ khóa tu.
Người ta chịu tu thì người ta vô người ta tu, còn không ta đi tổ chức cắm trại khóa hè gì đó ngoài thị trường người ta làm được. Mình không cần quá chiều vô những cái dục của họ, những cái niềm vui của họ, những cái sự buông thả, buông lung. Không được, mình phải làm sao cho nó chất lượng thí dụ giờ người ta tổ chức một ngàn mà mình tổ chức một trăm thôi nhưng mà chất lượng sau cái khóa tu đó về có sự thay đổi rất nhiều. Như vậy thì mình phải có nhiều cái suy tư, phải nhiều cái sự nhìn nhận và phải nhiều cái sự động não để mình tìm ra được những cái cách thức nào hiệu quả nhất nhưng cũng không rời giới, định, tuệ.
Tức là mình nói rõ trong cái tiêu chí của khóa tu của mình là nhầm tô bồi, tăng trưởng để cho các bạn nâng cao về những cái phẩm chất đạo đức của một con người thì trong cái khóa tu đó phải khai triển về tam quy ngũ giới, bốn dự lưu phần. Phải khai chuyển là nguyên một ngày là hướng dẫn về cái đó, có thể mình cho vui chơi một cách nhẹ nhàng, lành mạnh ít thôi, cũng có nhưng mà ít, đó là cái phụ rất nhỏ thôi. Thí dụ cái vui cho mình cho chừng hai mươi, ba mươi phần trăm thôi, còn bảy mươi, tám mươi phần trăm là tu học, chẳng những mình cho tụng về giới, trong Nikāya có những bài kinh Đức Phật cho dạy bát quan trai giới hay lắm rồi giảng về giới như con đã nói cái nguy hiểm của giới, cái lợi ích của giới, cái giá trị, cái công năng, cái tác dụng của giới nhằm nâng cao phẩm chất, cái đạo đức, cái sự cao đẹp của một con người lên tới chỗ tối thượng nhất là trong Phật Giáo mới có.
Thí dụ nguyên một ngày đó mình học về giới, mình tụng về giới, mình giảng về giới, mình cho pháp đàm về giới. Bây giờ các con thấy không, thí gia đình có cậu hay chú đi nhậu về bệnh rồi gặp tai nạn vậy đó. Tự tụi nhỏ nói ra luôn vì mình cho nó pháp đàm mà, thí dụ như là những người thân mà phạm cái giới này rồi con thấy gia đình sao. Nó sẽ nói rồi mình lấy cái đó mình giải thích cái tai hại của nó, rồi bây giờ gia đình người có được giữ giới được lợi ích sao.
Như vậy thì một cái là mình cho thấy nguy hiểm, tai họa và một cái mình thấy lợi ích, hạnh phúc, an lạc thì nguyên một ngày tu về giới học thôi. Cái ngày sau là mình giải thích về cái tâm nhẹ nhàng, cái tâm mình cho thực tập tứ vô lượng tâm và the theo cái kiểu cấp độ từ từ thì cái này quý vị coi những cái bài con hướng dẫn tứ vô lượng tâm hay lắm, tuyệt vời lắm của Đức Phật dạy là tình thương, lòng bi mẫn, cái niềm vui ở trong tu học và cái tâm nhẹ nhàng. Ngày hôm sau đó mình hướng dẫn về định học tức là về cái tâm thương, tâm xót, tâm vui và tâm buông, nói tiếng việt dễ hiểu vậy đó. Khai triển cái này tùy theo khóa tu ba ngày hay là bảy ngày, nếu ba ngày thì cái ngày hôm sau là cái ngày mình triển khai thiền quán, thiền tập, thiền định ít thôi vì ngồi yên không được đâu, cho lắng tâm nhẹ nhàng thôi.
Mình khai triển các cái môn thiền tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả mà nhất là tâm hỷ đó, cái đó còn tuyệt vời hơn là mình cho nó chơi này nọ kia, cho nó thực tập giảng về tâm hỷ. Dạy tụng cái bài hỷ vô lượng tâm, pháp đàm hỷ vô lượng tâm, cho thực tập hỷ vô lượng tâm giống như y như thể dục, các vị mở ra coi cái bài con hướng dẫn hỷ vô lượng tâm là đứng trải tâm hỷ mười phương, vui lắm, giống như Yoga vậy đó. Rồi ngày cuối là tu về tuệ, mình hướng dẫn nhân quả nghiệp báo thì tùy theo cái độ tuổi, hướng dẫn cái hiếu thảo có được cái quả báo như thế nào, bất hiếu ra làm sao, những cái siêng năng tinh tấn rồi thanh niên hay tuổi trẻ thì mình phải chọn cái chủ đề cho phù hợp. Ví dụ như chủ đề tinh tấn, chủ đề nhẫn nại, chủ đề hiếu thảo, chủ đề là tứ nhiếp pháp chẳng hạn, thì mình chọn những cái phù hợp chứ bây giờ trẻ mình vô nói khổ nó đâu có chịu, đâu có giảng tứ thánh đế được, phải không?
Mình khéo léo như vậy thì chắc chắn là khóa tu được lợi ích, khi mình làm có chất lượng rồi đó tự động nó sẽ có sức lan tỏa như con tụi con ở trên núi xa xôi, đường đi rất là khó khăn mà thậm chí là con không có làm cái đường, con để cho khó vậy đó mà bảng hiệu chưa có nữa. Mình tổ chức là cả một – hai trăm người có khi hơn nữa, tại vì người ta đi người ta nếm được cái hương vị, người ta cảm nhận được cái lợi ích, người ta thấy người ta thay đổi và cái hiệu quả của nó rõ ràng, thiết thực, hiện tại, người ta cảm nhận được thì tự động người ta thôi. Mình không cần quảng cáo gì nhiều, mình cũng cần lấy lòng nhiều, mình cứ trú vững ở trong giá trị của chánh pháp thì tự nó là bất hữu, bất diệt. Nhớ kỹ nha, chánh pháp của Đức Phật là tối thượng không có bất cứ một cái gì ở trên thế giới này hay là mười ngàn thế giới không có cái gì so sánh được thánh pháp tối thượng hết, cứ trú vững. Mình phải có lòng tin thì mình mới truyền tải lòng tin được cho người ta, mình không có tin giáo pháp thì làm sao mình truyền tải chánh pháp cho người ta được.
Sư cô 4: A-di-đà Phật thưa đại chúng có huynh đệ nào muốn xin ý kiến để hỏi thượng tọa trong buổi sáng hôm nay nữa không ạ? Dạ nếu không thì chúng ta sẽ kết thúc.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thượng tọa trải qua hai tiếng đồng hồ thượng tọa đã vì lòng bi mẫn hết sức từ bi và hoan hỉ. Dù thời gian của thượng tọa rất là bận rộn nhưng vì đàn hậu tấn vì chúng con cho nên thượng tọa đã trở về ni trường Dược Sư trước hết là chỉ dạy tận tình và chia sẻ những cái phương pháp tu tập để chuyển hóa bản thân của chính mình. Từ cái chỗ được chánh kiến, được sự an lạc giải thoát đó thì mới có thể chia sẻ và dẫn dắt cho những người xung quanh và đồng thời cũng hướng dẫn cho chị em chúng con những cái phương pháp để thi tập, diễn giảng trong cái cuối kỳ thi của phân ban ni giới Trung ương thành phố tổ chức.
Với thời gian giờ này chúng con cũng như là chị em chúng con đã hiểu rõ và nghe rõ, sẽ cố gắng thực hành và tu tập để không cô phụ cái công ơn của thượng tọa để đến đây. Và giờ này chúng con xin đại lao cho tất cả ni chúng có mặt hôm nay xin một lòng tri ân đến thượng tọa và chúng con cũng sẽ nguyện y giáo phụng hành để thể hiện lời dạy của thượng tọa không cô phụ. Nam mô hoan hỉ tạng bồ tát. Nam mô công đức lâm bồ tát ma ha tát
Sư Phụ:
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.