Pháp Đàm - Tư Cụ Của Định & Định Tướng - Mình Hiền Mà Người Vẫn Dữ Thì Sao
PHÁP ĐÀM NIKĀYA
TƯ CỤ CỦA ĐỊNH & ĐỊNH TƯỚNG?
MÌNH HIỀN MÀ NGƯỜI VẪN DỮ THÌ SAO?
–Thích Minh Thành–
Sư Phụ: Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí, ở đây chúng ta có buổi pháp đàm, hỏi đáp những điều chưa được rõ trong pháp học, pháp hành Nikāya, con xin mời quý vị có những chỗ nào chưa có rõ còn nghi ngờ trong thời gian từ ngày đầu khóa tu cho đến bây giờ chúng ta có thể nêu lên những câu hỏi. Trong suốt khóa tu nửa tháng chỉ có một buổi này là hỏi đáp thôi, chúng ta nên nhiệt tâm để qua cái cơ hội này mai này muốn hỏi cũng không có thời gian để mình được hỏi.
Giới tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát.
Sư Phụ: Cô nói vắn thắt đưa vào câu hỏi đi.
Giới tử 1: Dạ, nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con xin kính trình lên sư phụ vì lòng từ mẫn, thương xót cho con, con xin hỏi bảy câu hỏi để con hiểu rõ để con thực hành, để con tiến sâu vào dòng pháp này, để con được hướng thượng trong tương lai. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Dạ mô Phật, câu hỏi của con là tự thân là gì, phá thân kiến mà phải làm như thế nào để phá thân kiến. Định là gì, định tướng là gì, định tướng mình phải tu tập như thế nào. Dạ định tư cụ là gì, định tu tập là gì. Dạ mô Phật, con kính trình lên sư phụ.
Sư Phụ: Dạ từ hôm ngày đầu cho tới nay là chúng ta học phá thân kiến đó. Thân kiến là kiến chấp về thân, là cái thấy sai lầm về thân, chúng ta cái tâm mê nắm chặt vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức và cho rằng có một cái bản ngã, có cái tôi, cái đó là thân kiến. Chúng ta đã tu học từ đầu khóa tới bây giờ là để tháo gỡ những cái thế sai lầm, phá vỡ những cái nhìn lệch lạc, đập đổ những cái chấp vào trong cái tôi, cái của tôi và cái sự tu học chúng ta muốn đạt được cái tâm an tịnh, an định thì đầu tiên chúng ta phải tập cái sự lắng dịu, an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương.
Đó là tư cụ đó, đó là những thứ sửa soạn chuẩn bị để cho cái tâm mình được an tịnh. Mình muốn có được cái tâm định thì mình phải chuẩn bị bằng bảy cái đúng ở phía trước, đó là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, hành đúng. Đúng đó là từ cụ của định đó, đó là cái hỗ trợ để làm cho cái tâm mình định đó.
Mình thấy có người đó sĩ nhục mình, tâm mình có định được không? Có không? Giờ thấy sao để mà thấy đúng? Có người nào không? Đó là ngũ uẩn và ngũ uẩn đó cũng giống như cái ngũ uẩn này đang trong vô minh hết, đang trong sân hận, đang tự phóng hỏa tự thiêu làm cho mình - người khổ, không có một cái tôi, cái ta nào mà cũng không có ai khinh ai, không ai hủy nhục ai, chỉ có những cái đống vô minh, chấp thủ, sân hận để làm đau khổ cho nhau. Đó là thấy đúng, nghĩ đúng đó, rồi nói đúng đó, mình nỗ lực tác ý như vậy, chiêm nghiệm như vậy, quán chiếu như vậy có đưa đến cái tâm an tịnh không? Đó là định tư cụ đó, rõ không? Dễ không? Là ngay cái lúc người ta tức, chọc mình giận lên nhưng mình vẫn có cái cách để làm cho tâm mình an tịnh, lắng dịu, đó gọi là chánh đạo, là thánh đạo, là Phật đạo, là giải thoát đạo, gọi là định đạo, con đường Dẫn đi đến thiền định mà nó phải được chánh kiến dẫn được, phải thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, phả siêng năng tác ý, nhớ nghĩ về cái chánh pháp thì mới làm cho cái tâm mình yên.
Bây giờ mình gặp món đồ, con người rất là đẹp, rất là hấp dẫn, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, đáng vui, đáng thích, dễ thương, đáng yêu. Ngay lúc đó mình thấy cái món đồ đó là đẹp, con người đó là đẹp thì lúc đó cái tâm mình có được an tịnh, lắng dịu không? Bây giờ làm sao? Phải thấy đúng nó là tứ đại, cái món đồ đó, con người đó có phải tứ đại không? Tứ đại thì nó làm bằng đất, nước, gió, lửa, mà đất nước gió lửa này là nó có cái gì sạch, có cái gì đẹp, có cái gì hấp dẫn đâu. Nó là thứ vô thường, là tan hoại, là huỷ hoại, là hoại diệt, là tan nát, là tan rã, là biến hoại, là tiêu vong, là diệt tận.
Chúng ta cứ tiếp tục tư duy, tiếp tục tác ý, tiếp tục nhắc nhở tâm mình như vậy, ít nhất là trong lúc nhắc nhở cái tâm cũng có bớt muốn lại, nó giảm cái tham lại, ngay lúc đó ít nhất là cái lúc mình nhắc. Mình nhắc thường thì nó giảm từ từ, nó bớt từ từ, nó lắng từ từ, nó dịu từ từ cộng với sự quán chiếu của mình thì như vậy lần lần cái tâm sẽ an tịnh, lắng dịu rồi nó đi đến định. Mọi người đã rõ chưa? Sáng ra chưa? Khi mà mình nhớ hoài, mình nghĩ hoài, mình quán hoài, thí dụ mình cứ nhớ bộ xương hoài thì hình ảnh bộ xương đó hiện trong tâm mình thường thì cái đó gọi là định tướng.
Mình nhớ hình ảnh một cái đống tro tàn, khi mình đi lấy cốt của cha mẹ, của ông bà, những người thân của mình thì mình thấy hình ảnh đó mình nhớ hoài, mình cứ giữ hình ảnh đó hoài, mình cứ nhắc lại hoài, mình làm cho sanh khởi cái tưởng lên hoài. Khi mình thấy cái đó, mình đem cái hình ảnh đó mình cất vô mình giữ nó giống như là của báu, giống như là bảo bối, giống như là báu vật, như là thánh sản, gia tài của bậc thánh, thánh vật của Linh Quy Pháp Ấn này tức là bộ xương và đống tro cốt. Quý vị về coi những khóa tu trước đó là con truyền thánh vật cho các giới tử sau khi xuống núi là bộ xương và đống tro cốt, đó là thánh vật, thánh sản, tài sản của bậc thánh. Vì mình nhớ nghĩ cái này mình có bớt tham không? Nhớ nghĩ tới cái bộ xương mình có bớt giận không? Nhớ nghĩ bộ xương mình phá luôn si mê nữa, làm cho mình tỉnh lên, tỉnh ngủ lên, chết không lo Ở đó lo ngủ thì như vậy đó là phá tham, sân, si.
Những cái hình ảnh đó mình giữ trong tâm mình thường xuyên thì nó trở thành định tướng. Thí dụ hình ảnh một cái thân giòi, mình nhớ hoài cái đó thì cái đó trở thành định tướng trong tâm, hoặc là hình ảnh của người cùi, hình ảnh của người nằm một chỗ sống đời sống thực vật chẳng hạn, những hình ảnh đó mình nhớ thường xuyên. Chúng ta có nhìn thấy được không ạ? Nổi mụt đầy mình hết trơn vậy đó, những hình ảnh đó mình cất giữ lại trong tâm, mình thấy được rằng đời sống này còn nhiều mặt khác, mình đừng có nhìn có một chiều, đừng có nhìn có một hướng, đừng có nhìn có một phía, đừng có nhìn một góc. Mình phải đa chiều, đa diện, nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, nhiều góc độ trong đời sống này thì chính cái nhìn đó, cái chiêm nghiệm đó, cái tư duy đó, cái quán chiếu đó gọi là quán đúng, quán niệm đúng.
Cái quán đó, cái nhớ đó, cái nghĩ đó thường xuyên, hình ảnh đó liên tục như vậy thì gọi là định tướng. Tức là cái hình ảnh mà cái tâm của mình thường xuyên nhớ nghĩ, thường xuyên nhìn thấy, thường xuyên có mặt ở trong tâm mình gọi là định tướng. Mình thấy một con người, hay cảnh vật bình thường không đẹp không xấu, không muốn cũng không phải khó chịu, cũng không phải là ham thích, thấy bình thường nhưng mình vẫn phá cái chấp thường đó, vẫn quán chiếu về duyên sanh pháp. Do có căn, có trần, có thức, có xúc, có thọ, có ái, có thủ, bất cứ mình gặp cái gì mình nhắc lại cái định lý chứng ngộ của Đức Phật.
Đó là định lý chứng ngộ Đức Phật, không phải bình thường đâu, thuộc cái đó tức là mình bóc tách, mình tháo gỡ, mình mở ra, cái khối vô minh của mình nó được vỡ ra, nó được mở ra, nó được chẻ ra, được tháo ra thì lúc đó là nó từng cái từng một, không có cái tôi ở trong cái nhìn này. Đây là những sự lắp ráp, sự kết hợp, những mắc xích, những duyên sanh, ngay lúc đó là mình đã phá được một phần vô minh ở trong cái nhìn đó rồi, dầu cái nhìn đó là không phải là thích cũng không phải là ghét, ngay lúc đó mình nhìn bằng cái duyên sanh đó thì nó phá được cái si. Như hồi nãy giờ con chia sẻ cái nhìn phá tham, sân, si cho chúng ta thấy.
Giới tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính trên sư phụ, con pháp danh Huệ Chánh, con xin sư phụ chỉ dạy cho con khi có con có bốn câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất là khi con ngồi thiền lâu thì chân và lưng con nó đau, con có tác ý thân này đau chứ tâm không đau nhưng con vẫn thấy nó còn đau, nó không có hết, xin sư phụ chỉ dạy cho con cách tác ý nào cho được hiệu quả. Câu hỏi thứ hai là khi con tác ý là ý hành con nó tác ý, hay là ý hành trong ngũ uẩn tác ý, hay là có một cái tâm nào khác để tác ý. Câu hỏi thứ ba là hành trong năm thủ uẩn và hành trong mười hai nhân duyên là một loại hành hay là hai. Câu hỏi thứ tư là trong kinh niệm sợi dây tái sanh con chưa hiểu "phàm những chấp thủ phương tiện tâm kiên trú thiên chấp tuỳ miên" có nghĩa là gì con chưa hiểu. Dạ xin sư phụ cho con chỉ dạy cho con, con xin tri ơn sư phụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Các vị mới trong khóa tu có hỏi gì không? Các vị hỏi đi, mình ở nhà nhiều thời gian lắm, nhường cho các vị trong khóa tu một hai bữa nữa đi xuống núi rồi.
Giới tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, được sự cho phép của sư phụ con xin được có câu hỏi như sau. Dạ thưa sư phụ nếu như khóa tu này chấm dứt chúng con xuống núi thì chúng con phải làm sao vẫn còn giữ được ngọn đuốc sáng trong tâm của chúng con. Kính mong sư phụ chỉ dẫn giúp cho chúng con.
Sư Phụ: Ở lại đây luôn là ngọn đuốc sáng luôn, khỏi cần phải lo gì hết. Chúng ta phải nhớ những cái căn bản trí, thực hành ba pháp, nhận diện ngũ uẩn, an trú cảm giác toàn thân, nhận diện tham, sân, si và nhiếp phục bản ngã. Những cái đó là cái căn bản nhất là phải nắm cho thật là vững, cái điều thứ hai là mỗi ngày phải nghe pháp, không được bỏ cái sự nghe pháp và sự thiền tập. Đó là những cái căn bản nhất bởi vì Đa văn Thánh đệ tử là đệ tử của Đức Phật là người nghe nhiều chánh pháp, nếu mình không có nghe pháp thì cái tâm mình nó sẽ sống ở trong hôn mê, nó sẽ trở lại cái vô minh, cái chấp thủ, cái bản ngã khi xưa.
Mình đối với pháp như là một cái em bé mới vừa được sanh ra đi chập chững vậy đó, dầu cho mình có bảy muôi tuổi đi nữa mình vẫn là con nít ở trong thánh pháp cho nên khi là con nít, là đứa trẻ thì phải cần có sữa mẹ để mà nuôi, để mà chăm sóc. Sữa mẹ đó chính là pháp nhũ, một người mà từ bỏ pháp thì người này từ từ sẽ suy dinh dưỡng, sẽ suy nhược, không có lớn mạnh được ở trong thánh pháp cho nên người tu đúng cái đạo lộ là càng tu lâu người này càng thích pháp, càng mến pháp, càng yêu pháp, càng quý pháp, càng chiêm nghiệm pháp, càng suy tư pháp, càng nghiền ngẫm pháp, càng đảnh lễ pháp, càng tôn thờ pháp, càng sống ở trong pháp thì người đó tu đúng pháp. Còn người tu mà chán không muốn nghe pháp, không muốn đọc kinh nữa thì như vậy là rồi xong rồi.
Cho nên là cái vấn đề nghe pháp là quan trọng, sau nghe pháp mình chiêm nghiệm rồi có thời gian mình ngồi yên tĩnh tâm để nhận diện ngũ uẩn. Nhất là trong mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh phải tập nhận diện ngũ uẩn, quán chiếu cảm thọ không phải đợi tới giờ ngồi thiền, những lúc hữu sự xảy ra công chuyện là lập tức mình phải an trú thì mình mới có thể giữ lửa được, mình mới có thể còn vốn để mình đem xuống núi, mới còn được cái tư lương, cái hành trang. Nếu không mình đi xuống núi, mình trở về nhà rồi là sẽ mất hết, trắng tay, rất là uổng.
Giới tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên quý Tăng Ni, quý thầy, các vị hiền trí, con pháp danh là Trí Trường, con tới đây tu học đã được mười ngày thì trong thời gian qua sư phụ và các quý thầy đã chỉ cho con nhận diện ngũ uẩn, nhận diện tham, sân, si, học duyên sanh pháp. Trong cuộc sống bình thường mắt con tiếp xúc với trần thì sanh thọ, lúc đó con có thể quán chiếu để cái cảm thọ đó, trong khi ngồi thiền con ngồi yên lại con không còn thấy cảm thọ đó nữa, không có tưởng nào nữa là do lúc đó trong con không còn hay là do con không nhìn thấy, xin sư phụ chỉ cho, con cảm ơn sư phụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Khi mình ở ngoài mình không có vô ngồi thiền thì cái ngũ căn của mình tức là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân của mình hướng đi tìm ngũ trần tức là con mắt đi tìm đối tượng của nó là sắc như chúng ta nhìn nguyên bãi cỏ nhưng mà chỗ nào có bông hoa con mắt mình nó dừng lại chỗ đó. Tại sao nó dừng lại chỗ đó? Do đẹp, con mắt nó luôn luôn đi tìm cái sắc đẹp, nó rất là vi tế nhiều khi mình nghĩ rằng mình chạy đi tìm cái người nào đó, hay tìm cái cảnh đẹp du lịch mới tìm nhưng mà nó vi tế lắm. Ngay trong cái bình thường thí dụ mình đang ngồi bình an vậy nhưng mà có cái một cái bóng người đi qua là mình phải nhìn cái bóng đó cho được, có không? Thì đó là nó luôn luôn nó đi tìm cái đối tượng, đó là dục, nó rất là vi tế, nó muốn nhìn, đó là thức ăn. Chúng ta có bốn loại thức ăn.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Hai là xúc thực,
Ba là tư niệm thực,
Bốn là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Con mắt nó muốn nhìn là thức ăn xúc thực, rồi còn thức thực là nó muốn thấy, nó muốn tiếp xúc, nó muốn nhìn thấy mà thấy không cũng chưa được nên muốn lại gần nói chuyện. Nếu mà cái đối tượng đó khả ái nữa thì nó vận hành liên tu bất thần cho nên con mắt luôn đi tìm cái sắc, cái lỗ tai nó luôn đi tìm cái âm thanh. Ví dụ như cái tiếng bình thường không có gì nhưng mà tự nhiên có một cái tiếng chim hót lảnh lót là mình chú ý, mình ngóng tai muốn nghe cái tiếng đó, có để ý không ạ? Nó ghê gớm vậy đó, nó có cái dục trong cái nghe đó, thí dụ cái tiếng hót xong rồi nhưng mà nó cũng muốn cái ý là thêm chút nữa, mong cho thời gian đừng trôi.
Trong cái đó có cái muốn đó là cái dục, nó có cái ái là nó yêu thích, nó yêu thích thì nó muốn kéo dài, nó có cái thủ, muốn giữ lại cái đó. Chúng ta thấy mười hai nhân duyên đó vi tế lắm, nó trong cái thấy, cái nghe của mình, cái ngửi, cái nếm, tiếp xúc của mình đó, mười hai nhân duyên mình thấy rõ đó. Mình phải tu học cho kỹ, mình nhận diện sâu sắc rồi từ từ mình mới thấy, tức là đầu tiên là nó muốn là dục, thúc giục, muốn thấy, muốn nghe, muốn tiếp xúc hay là muốn ngửi, muốn nếm, muốn đụng chạm. Mình thấy một em bé dễ thương da mơn mởn như vậy, mịn màng mà trắng hồng như vậy mình có thích lại nựng không? Nó rất là vi tế, từ cái thúc giục bên trong rồi nó có một cái sự thích khoái, rồi có cái sự muốn lưu giữ và kéo dài cái sự tiếp xúc đó ra.
Cho nên xúc sanh ra thọ, ở trong cái thọ đó nó có dục, có ái, có tham, nó có thủ và sau đó là nó có hữu, tức là muốn rước người đó về ở chung, có không? Bốn mươi năm trước có rước bả về không? Từ cái xúc nó sanh ra cái thọ, từ cái thọ nó có ra cái ái, trong cái ái đó là nó có cái dục, nó có cái tham và ở trong cái đó nó có cái thủ, nó muốn nắm giữ bởi vì cái lúc nó muốn nắm giữ thì nó tưởng vui lắm, nó tưởng hạnh phúc, nó tưởng ngon lành ai dè đâu nắm trúng lựu đạn. Thành ra chúng ta mới thấy cái sự vận hành của tâm, như vậy thì mắt luôn luôn tìm sắc, lỗ tai luôn luôn ngóng ngóng cái tiếng, cái lỗ mũi thì nó nghe cái mùi, cái mùi nào mà hấp dẫn bắt đầu nó men men tới cái lưỡi thì nó tối ngày đi kiếm cái vị, đối tượng của nó là đi tìm cái vị, còn thân thì tìm cái xúc.
Như vậy khi mình ở ngoài đó thì ngũ căn của mình mắt; tai; mũi; lưỡi; thân mình chạy theo ngũ trần sắc; thanh; hương; vị; xúc thường hướng ngoại, nhất là mình biết nhận diện ngũ uẩn, quay về cảm giác toàn thân không phải lúc đó là không có thọ. Đầu tiên là mình có tập cảm giác toàn thân tức là mình nhận diện cái cảm giác tại vì mình cứ lo đi kiếm cái thọ ở ngoài không à, mình không biết cái thọ ở thân mình. Chính vì mình đi tìm cái thọ ở ngoài cho nên cái tâm lang thang vất vưởng, tâm vô gia cư, cái tâm cô hồn, cái tâm của chúng sanh là cái tâm cái tâm vất vưởng, cái tâm vô gia cư nói cho nghĩa rõ ra luôn là cái tâm cô hồn, ngồi đây nhưng mà nó chạy kia không à.
Bây giờ cái mình ngồi thiền là đem tâm trở về thân để cảm nhận cái cảm giác ở nơi thân của mình, đó là cái bước đầu tiên hết sức là quan trọng, đó là mình cảm nhận được cái thọ thân, còn đi sâu vào bên trong nó còn có cái thọ tâm nữa. Bên trong tâm mình nó sẽ có cái hình bóng này, hình bóng kia, mà đi chung với cái hình bóng là nó có cảm giác, nó có suy nghĩ thì như vậy khi cái tâm mình có hình bóng bà vợ, hay ông chồng, hay đứa con, hay cha mẹ của mình hoặc là cái người thương, người ghét thì nó kèm theo thọ hạnh, trong đó tưởng ở trong đó thì làm gì mà không có thọ. Tại vì mình không có nhận diện được chứ còn lúc đó là nó có rất là nhiều, nó sanh diệt liên tục, hết tham, sân, si và dục ái, chấp thủ nó liên tục ở trong đó vì nó vi tế, nó cực vi tế.
"Tâm khó thấy, tế nhị,
Theo các dục quay cuồng.
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 36)
Tâm này không phải là dễ dàng để cho mình nhìn thấy, mình có thể là thiên văn mình giỏi, đại dương học mình hay, mình có thể lên trời xuống biển mình ra ngoài trái đất, ra khỏi hành tinh nghiên cứu nhưng mình không thể thấu triệt được cái tâm của mình, ngoài bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác mới là người thấu suốt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm ngũ uẩn và đời sống này, đó gọi là bậc Thế Gian Giải, bậc chánh giác thân tâm, bậc thấu suốt tận cùng về ngũ uẩn này. Còn chúng sanh là chỉ chạy ra bên ngoài thôi, mà chạy ra bên ngoài thì nó đau khổ, nó dục tham, nó truy tầm, nó đuổi tìm, nó luôn luôn ở trong cái cảm giác khao khát, thiếu thốn, bất toại nguyện, bất mãn, bất bình, bất trắc, bất thường, bất hòa, không có cái gì mà nó thỏa mãn hết. Cái bản chất của thọ là nó không có thỏa mãn cho nên cái chữ khổ trong cái tiếng Pali định nghĩa là bất toại nguyện tức là không có thỏa mãn.
"Dầu mưa bằng tiền vàng,
Các dục khó thỏa mãn.
Dục đắng nhiều ngọt ít,
Biết vậy là bậc trí"
(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 186)
Đức Phật nói mưa xuống bằng tiền vàng, mưa bằng hột xoàn các dục cũng không thỏa mãn nữa. Người giàu nhất hành tinh này thỏa mãn đủ chưa? Người đẹp nhất đăng quang hoa hậu hoàn vũ quốc tế có hài lòng với sắc đẹp mình chưa? Đó là các dục không thỏa mãn vì không thỏa mãn cho nên nó luôn luôn ở trong cái thiếu thốn, trong cái thèm khát, trong cái đau khổ, đó là cái bản chất của tâm cũng chính là cái sự thật thâm sâu của đời sống này. Tại sao người ta khổ? Không phải người ta thiếu đồ, mấy người giàu có thiếu ăn không? Mấy người đẹp có thiếu sắc không? Tại sao người ta cũng muốn đi tìm? Vì cái bản chất bên trong không thỏa mãn cho nên trong kinh Đức Phật nói thế giới này là thiếu thốn, thế giới này là khao khát, thế giới này là nô lệ cho tham ái.
"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái, thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình" (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Một câu đó là rung chuyển đất trời hết và tất cả người ở trong thế giới này luôn luôn ở trong thiếu thốn, trong khao khát, nô lệ cho tham ái. Một bà chưa đủ nữa kiếm thêm bà thứ hai, bà thứ hai chưa đủ nữa ra chuồng bò ngủ "một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ ngủ chuồng heo". Đó là cái dục nó không có thỏa mãn, nam cũng vậy mà nữ cũng vậy thôi, không thỏa mãn và như thế cái tâm nó đau khổ. Cho nên mình thấy cái thọ nó sâu lắm, khi mình ngồi yên tĩnh mình tưởng đâu vậy là ngon rồi, nó nằm yên trong đó nó ngủ nhưng mà nó gặp cái đối tượng là nó thức giấc. Chúng ta thấy ghê không? Cho nên mình tu là để mình phá vô cái tùy miên, cái ngủ ngầm ở trong, mình tu theo cái chánh pháp của Đức Phật là không phải đợi tới chuyện lúc đó mình mới đánh phá, mình mới tu mà ngay lúc bình thường là mình phải nhìn sâu, mình đào bới, mình móc ở trong ra để mình phá vô luôn ở trong cái tận cùng hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa sâu thẳm ở bên trong các cái cảm thọ thì như vậy mới đi tới lậu tận, sạch hết tất cả các lậu hoặc, cấu nhiễm bên trong tâm.
Giới tử 5: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý Ni sư và các bậc hiền trí, con pháp danh là Trí Phước, con xin hỏi một câu hỏi trong bài học niệm duyên sanh pháp. Trong bài giảng người có nhắc đến từ "tư" khi đặt trong ngũ uẩn thay vì nói là từ "hành" và con vẫn chưa hiểu sự khác biệt giữa từ "tư" và từ "hành" ở trong ngũ uẩn mong sư phụ có thể giảng thêm cho con ạ. Dạ con cảm ơn.
Sư Phụ: Chữ "tư" với chữ "hành" là một, cái chữ khác nhưng cái nghĩa nó cùng nhau nhưng mà ở trong cái trường hợp đó thì Đức Phật gọi là sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư và pháp tư. Mình sẽ được nghe cái bài giảng về cái duyên sanh pháp này chứ không có gọi là sắc hành, thanh hành mà gọi là sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Trong tất cả cái suy nghĩ của mình thì chúng ta mới thấy được cái trí tuệ của Đức Phật nó khủng khiếp lắm, mình cứ nghĩ là suy nghĩ là suy nghĩ đơn giản thôi phải không, mình nghĩ "ờ tôi suy nghĩ" nhưng mà không, Đức Phật phân loại cái suy nghĩ đó ra làm sáu nhóm: Từ đâu nó có cái suy nghĩ, tại sao nó có suy nghĩ, Đức Phật giải thích rồi nó suy nghĩ là nó suy nghĩ trong các cái dạng nào, cái nhóm nào và cái suy nghĩ nó vận hành như thế nào và làm sao cho cái suy nghĩ nó chấm dứt. Đức Phật chỉ cho mình luôn, chúng ta học đi thì chúng ta thấy trí tuệ của Đức Phật không thể tưởng tượng nổi đó mới gọi là thánh trí.
Như vậy trong cái suy nghĩ này Đức Phật phân gọi làm sáu nhóm, nhóm thứ nhất là suy nghĩ về sắc, nhóm thứ hai là suy nghĩ về tiếng, âm thanh, nhóm thứ ba là suy nghĩ về mùi, nhóm thứ tư là suy nghĩ về vị, suy nghĩ về tiếp xúc, về đụng chạm, gặp gỡ, nhóm thứ sáu là suy nghĩ về những cảm giác, những hình bóng, trong tâm và suy nghĩ về cái suy nghĩ của mình. Chúng ta thấy dễ sợ không? Là sáu cái nhóm suy nghĩ cho nên mình học cái này rồi mình thích thú lắm, nó thú vị lắm, mình học rồi mỗi một ngày là mình sáng ra thêm, mỗi một giờ mình thực hành nó sáng ra thêm, mỗi một tuần sáng ra thêm. Ở mới có mười ngày mà nó sáng như vậy mà, ở chừng mười năm là nó Nhập Lưu luôn.
Thánh trí tuệ là vi diệu, tối thượng như vậy. Mỗi một cái gì nhỏ nhiệm nhất ở trong tâm Đức Phật đều trình bày tại sao nó có mặt, nó vận hành như thế nào, theo một cái guồng máy như thế nào, nó hoạt động như thế nào, cái cơ cấu của nó, cái guồng máy của nó, cái cấu trúc của nó, cái mô tip của nó, cái hệ điều hành của nó, nó quản lý như thế nào và mình phá vô cái động cơ của nó thì nó lập tức là nó dứt hết, nó dừng lại hết tất cả. Đức Phật và các bậc thánh muốn ngưng suy nghĩ là ngưng, muốn cho suy nghĩ là cho, mà muốn cho suy nghĩ theo chiều nào thí dụ sáng nay mình mặc cái áo màu vàng là mặc áo vàng, mình mở cái tủ áo mặc bộ đồ xanh thì lấy đồ xanh mặc, bữa nay mình mặc bộ đồ hồng là lấy bộ màu hồng mặc.
Cũng vậy các bậc thánh muốn ngày hôm nay an trú tâm hỷ là trú suốt ngày vô cái tâm hỷ, vui suốt ngày. Các bậc thánh muốn một tuần lễ này trú trong tâm từ là suốt bảy ngày cái tâm thương không, các ngài muốn trú ba tháng vô trong tâm xả là luôn ba tháng cái tâm nó buông xả nhẹ nhàng. Các ngài sử dụng cái tâm này là làm chủ cái tâm, còn mình làm chủ tâm được không hay tâm làm chủ? Làm chủ ngũ uẩn hay ngũ uẩn làm chủ mình? Mình là ông chủ ngũ uẩn hay mình là đầy tớ ngũ uẩn? Cho nên mình khổ, vậy giờ muốn làm chủ hay muốn làm đầy tớ? Làm chủ là phải tu, phải nhận diện ngũ uẩn hoài, đầu tiên phải biết tên tuổi ngũ uẩn trước rồi biết mặt mũi ngũ uẩn, biết tánh tình của ngũ uẩn rồi biết bản chất của ngũ uẩn, sau đó mình nhiếp phục, chế ngự và diệt tận ngũ uẩn.
Bây giờ là mình đang biết tên tuổi, mặt mũi nó là nhận diện nó, mình chỉ mặt đó, mình điểm mặt, người nào làm biếng làm bài tập là không biết mặt ngũ uẩn. Cho nên biết tên tuổi rồi biết mặt mũi, sau đó mình nhận diện ngũ uẩn rồi từ từ mình sẽ biết được tánh tình của nó. Trời nó tham dữ dằn lắm, tham lắm, nó tham đủ thứ kiểu hết, nó dễ giận, dễ quạo, dễ bực, dễ hơn thua, ta đây, đó là tánh tình. Cái bản chất của nó là vô thường, khổ, vô ngã, chịu sự biến hoại, biết tên tuổi ngũ uẩn, biết mặt mũi ngũ uẩn, biết tánh tình ngũ uẩn, biết bản chất ngũ uẩn rồi mới bắt đầu nhiếp phục và chế ngự ngũ uẩn, làm cho nó đoạn giảm, làm cho nó giảm xuống từ từ đi chỗ đoạn tận, đoạn diệt luôn thì đó là đạo lộ của bậc thánh.
Mình tu cái này tối thiểu cũng chặng đứng được địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nếu mình giữ giới và thực tập chánh tri kiến chắc chắn mình đoạn tận địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mình đi trong cõi nhân thiên cho đến lúc thành chánh giác, chịu không? Cho nên cái quan trọng là giữ giới hạnh và chánh kiến, Đức Phật nói một người mất tiền của, phá sản chưa phải là cái mất lớn, người mất gia đình, gia đình đổ nát cũng chưa phải là cái sự mất mát lớn, thậm chí là cái thân này mất đi, chết đi Đức Phật nói cũng chưa phải là sự mất mát lớn. Sự mất mát lớn nhất là sự mất mát về giới, là sự mất mát về tri kiến, chánh kiến mà mình đã được học trước giờ mình xuống núi, mình về nhà có thể mình sẽ mất cái thấy biết đó, mình sẽ chạy trở lại những cái tham dục, những cái sân, những cái bản ngã.
Khi mất giới và mất chánh kiến thì cái sự mất mát này ta tuyên bố là sự mất mát to lớn tại vì sự mất mát này đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Còn sự mất mát tài sản, sự mất mát người thân, mất cả sinh mạng nhưng mà đời sau nhiều khi mình được cái sinh mạng tốt hơn rồi sao, cao thượng hơn nữa nếu mình có giới hạnh, mình có phước báo, mình có chánh kiến thì sanh thiên nữa. Còn mất mát giới và mất mát chánh kiến thì cái mất mát này đưa mình vào tam đồ ác đạo, vậy mà đa số chúng sanh chỉ biết giữ tài sản, giữ tình cảm, giữ gia đình, giữ sức khỏe, sinh mạng chứ chưa biết sự cao quý tối thượng của thánh giới và thánh tri kiến.
Đó là lý do ngày nào chúng ta niệm con cũng cho chúng ta đảnh lễ thánh giới tối thượng để nhắc chúng ta. Mỗi một lần niệm là một lần tác ý nhắc cái giới, cố gắng mình giữ hết khả năng của mình, còn cái giới nào chưa giữ được thì mình cũng có cái sự hướng thượng để cố gắng giữ, không dừng lại ở đó mà phấn đấu hoài cho đến hay hơi thở cuối cùng của mình, cũng cố gắng, cũng sẽ làm được, không có từ bỏ là con tác ý như vậy để chúng ta niệm bốn dự lưu phần, niệm thánh giới tối thượng để nhắc cái giới của mình.
Tùy theo cái giới của mình, thọ năm giới, tám giới, mười giới, mấy trăm giới và cái quan trọng cực kỳ nữa là chánh kiến, đừng có để cho mất, nhiều khi mình học ở đây là trào nước mắt, mình xúc động, mình chấn động, mình cảm động, mình thấy tuyệt diệu, đây đúng là chánh pháp rồi, tối thượng rồi, hạnh phúc mà trở về nhà thì những cái dục cái tham những cái vô minh bản ngã tràn vô giống như cái mặt hồ phủ đầy bèo. Mình quăng cái cục đá xuống thì nó dạt ra chút, sau đó nó che mặt hồ trở lại cho nên nãy con nhắc đi về nghe pháp, nhắc đi về tác ý là vậy đó. Tại vì nếu không thì nó dạt ra chút là bị bèo phủ lại cho nên mình nghe pháp, mình tác ý, mình thiền quán là để cho bèo dạt ra rồi mình dùng cây vớt bèo ra cho nó sạch thì mặt hồ được trong, khi nó trong thì lặng, khi lặng thì nói soi, nó phản chiếu được thì cái tâm mình nó mới sáng, tri kiến mình mới được trong sáng, mới được minh kiến, được chói sáng, tỏa sáng trong cái thấy biết về khổ và con đường diệt khổ.
Nói tóm lại giáo pháp của Đức Phật chỉ có hai điều thôi, là khổ và con đường diệt khổ. Thấy được hai cái này là thấy được giáo pháp, còn học suốt đời kinh điển mà không thấy được hai cái này thì cũng ở ngoài cổng chùa thôi, dù cho có cạo đầu đắp y vẫn không thấy được Phật, không thấy được pháp. Phải thấy được sự khổ trong năm thủ uẩn này và con đường diệt khổ, tức là nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Chúng ta thấy từ ngày đầu cho tới ngày thứ mười rồi cứ nhắc này hoài, phải nhớ kĩ đừng bao giờ quên, niệm cái đó thôi, cứ niệm bao nhiêu đó để thoát địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Niệm là nhất định phải nhiếp phục và chế ngự dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, niệm cái khâu đó giống như niệm Phật vậy đó, niệm hoài "nhất định là mình phải nhiếp phục được tham muốn này", "nhất định là phải dập tắt được cái cơn tức giận này", "nhất định là phải bẻ gãy được cái bản ngã này, đánh cho nó gục ngã", "nhất định là phải phá tan cái bóng tối, cái màn đen này".
Hãy nhìn thấy được ngũ uẩn, đừng có nắm chặt vào một cái tôi, cái của tôi, cái tự ngã của tôi thì như vậy đó là niệm tối thượng cũng là đang thấy Phật, đang thấy pháp, đang thấy Thánh chúng.
Giới tử 6: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên sư phụ, quý sư thầy, quý sư cô cùng các vị hiền trí, con muốn hỏi nhận diện ngũ uẩn về tưởng uẩn. Nhiều khi con nhận diện ngũ uẩn thì con thấy giống như mình không có tưởng uẩn nhưng trong bài Cửa Vào Bất Tử thì chỉ ra cái đó là cái tưởng rỗng không chứ không phải là không có tưởng. Thì con muốn sư phụ giảng thêm về pháp tưởng. Vâng con xin hết. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Bây giờ mình mới học thì mình chỉ đi từ từ, mình thấy những cái trước từ từ mình thấy cái tế. Ví dụ như ngồi đây mình nhớ về cái căn nhà của mình, nhớ về đứa con của mình, anh em gì đó thì cái hình bóng ở trong tâm của mình là mình nhận rõ phải không? Cái đó nhận rõ phải không? Cái đó là tưởng nhưng mà trong khi mình ngồi thiền có khi mình thấy tâm mình rất là yên lặng, nó rất là rỗng lặng nhưng mình ngồi mình để ý cái lưng thì nó có cái hình bóng của cái lưng, cái đó cũng là tưởng nữa đó. Bây giờ mình không có chú trọng tới mấy cái tưởng vi tế làm chi, mình chỉ chú trọng tới những cái tưởng dục, những cái tưởng sân, những cái tưởng bản ngã, mình phá mấy cái tưởng đó.
Những cái tưởng mà nó đưa đến dục thì mình phá cái tưởng đó, mình hướng cái tâm mình đến ly dục, những cái tưởng mà nó hướng đến về hình bóng của giận thì mình phá cái hình bóng giận đó, mình đưa cái hình bóng thương vô, hiểu thương vô. Những cái tưởng về hơn thua, về tranh chấp, về ta đây thì mình phá những cái hình bóng đó, mình đưa cái bóng sự khiêm cung, khiêm hạ, diệt ngã, chú trọng ở đây là được rồi, còn những cái tưởng vi tế thì từ từ chứ không thôi nhiều quá là lúc đó mình rối lên. Những cái tưởng bình thường thì cho qua không cần quan trọng, nhưng cái tưởng nào mà nó là tham, sân, si, dục ái, bản ngã là mình phải nhiếp phục, chế ngự và đánh đuổi nó ra khỏi tâm, vậy là được.
Pháp tưởng là mình hồi tưởng lại những cái cảm giác trước kia mà mình đã từng trải qua, những cái hình bóng trước kia, những cái suy nghĩ trước kia. Thí dụ như mình nghe nói rằng trưa nay ăn cơm bún bì, sườn chả chay thì có hình bóng không? Hình bóng đó là tưởng, do lúc trước mình đã tiếp xúc cái món đó rồi, tiếp xúc bằng mắt, mình tiếp xúc bằng mũi, mình tiếp xúc bằng miệng cho nên bây giờ khi nói cái món đó thì lập tức cái tưởng đó sanh khởi lên, có cái thọ, cái cảm giác lúc trước mình đã từng ăn, mình có cái suy nghĩ về cái món đó, cái đó là pháp tưởng, pháp tư. Đó là những hình bóng, những cái cảm giác, những cái suy nghĩ trước kia bây giờ mình hồi tưởng trở lại.
Hồi tưởng lại cái món cơm bì, sườn chả chay thì có cái hình bóng, có cái cảm giác, nó có suy nghĩ và đương nhiên là tiếp tục có một cái ngũ uẩn này sẽ có ngũ uẩn thứ hai, có ngũ uẩn thứ ba, có ngũ uẩn thứ tư, nó cứ tiếp tục như thế. Nếu mình không dừng lại là nó nhảy tiếp tục vậy đó, chúng nó sanh khởi cho nên gọi là chúng sanh. Chúng sanh là chúng nó cứ sanh khởi hoài nên gọi là chúng sanh, chính vì chúng nó sanh khởi sắc, sanh khởi thọ, sanh khởi tưởng, sanh khởi hành, sanh khởi thức, chúng nó sanh khởi hoài nên mới có ra mình ngồi đây, nếu cái đó không sanh khởi, nó tịch tịnh thì không có những sanh khởi ra những thân hình này cho nên các bậc thánh đạt được diệt thọ; tưởng; định, tâm bất động giải thoát.
Tại sao nó có sanh khởi? Vì nó có ham, nó thích, nó muốn cho nên nó có sanh khởi. Mình muốn ăn món nào thì món đó trong tâm mình hiện hoài không? Nếu mình không có muốn món gì hết thì nó có hiện không? Nó có nghĩ cái đó không? Nó theo cái chiều hướng của cái thọ đó, cái thích, cái muốn đó, hoặc là cái giận, cái tức, cái tầm, cái tứ đó, nó hướng tâm về cái đó, nó bám theo đối tượng đó. Và những hình bóng, những suy nghĩ, những cái nhận thức đó, những cái cảm giác đó cứ chập chờn hoài cho nên mình tác ý phá trừ cái tâm tham muốn, thích, khoái, nắm giữ trong đó thì từ từ nó nhả ra, từ từ nó mở ra, từ từ nó cắt ra, từ từ nó tháo ra, từ từ nó thoát ra, từ từ tâm mình sẽ được bình an. Mình ngồi đâu là êm ru đó, không còn chạy lăng xăng, nó an tịnh và lắng dịu.
Giới tử 7: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con bạch sư phụ lúc nãy thì con cũng run quá cũng chưa hỏi được nhiều. Con cũng xin hỏi sư phụ vài câu ạ, mọi khi trước đây chúng con hay gọi "nam mô A-di-đà phật" bây giờ thì chúng con có còn gọi nam mô A-di-đà phật nữa không ạ? Hay là chúng con phải niệm "Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật" là câu thứ nhất của con. Câu thứ hai là khi chúng con xuống núi thì chúng con nên thỉnh kinh Phật gì hay là tham khảo về Phật gì để chúng con học hỏi thêm. Câu thứ ba của con là trong tâm con thì con thấy con hiền nhưng mà cái hiền của con là hiền ngu dốt, ngu si, mê muội chứ không phải là hiền về trí tuệ cho nên con muốn nhờ sư phụ dạy thêm, chỉ dẫn thêm cho con và tất cả chư vị ở đây hiểu thêm và biết thêm ạ vì lúc sư phụ dạy thì không biết hồn vía con đi lang than ở đâu, con cũng chẳng biết nữa, con cũng không có hiểu thấm lắm. Bây giờ thì lần lần con mới thấm, con cũng hỏi thêm sư phụ dạy thêm cho chúng con được hiểu. Dạ con cảm ơn sư phụ, cảm ơn tất cả.
Sư Phụ: Mình niệm Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, chữ nam mô là quy mạng, con đem hết tất cả sinh mạng của mình quay về nương tựa với Đức Phật. Thích-Ca Mâu-Ni là Đức Phật sáng lập ra Phật giáo, là khai tổ ra Phật giáo, là Đức Phật gốc cho nên gọi là bổn sư, Phật bổn sư. Chữ bổn sư là gốc rễ của đạo Phật cho nên mình niệm Đức Phật bổn sư là nó chính đáng để mình nhớ nguồn, nhớ cội, nhớ gốc, nhớ rễ, nhớ vị khai tổ khai sáng ra đạo Phật.
Học kinh sách thì theo tinh thần ở đây thì chỉ nghiên cứu kinh tạng Nikāya, cô cần thì xin hỏi quý thầy sẽ gửi cho về học và lên trên trang linhquyphapan.vn trên đó có nhiều kinh sách, mình sẽ đọc những cái quyển nào dễ hiểu như "Pháp Hành Nikāya Căn Bản" những cái quyển sách "Tu Như Thế Nào", "Tâm Từ Vi Diệu", "Tâm Hỷ ngọt ngào", "Tâm Hiền Vạn An". Những cái căn bản đó đủ cho mình tu tập, hoặc là "Ai Thân Mình Nhất" để giải tỏa cho mình thấy được rõ cái nghiệp quả, những cái căn bản là vậy.
Câu hỏi cuối cô là tâm hiền thì tâm hiền đó vi tế lắm, không có đơn giản như mình nghĩ. Tâm hiền ở trong kinh Nikāya dùng cái chữ hiền giả hay là hiền trí là cũng gồm chung với Hiền thánh luôn, cái chữ hiền giả, chư hiền ở trong kinh Nikāya là chỉ cho các bậc thánh. Thành ra mình mới kêu cái từ là hiền thánh Tăng, muốn đi tới chữ thánh thì chữ hiền ở phía trước, chữ Hiền ở đây thì chúng ta mấy hôm nay cũng có thực tập các bài thiền, sắp tới từ đây tới ngày cuối chúng ta cũng sẽ có một hai buổi quý thầy sẽ mở cho mình thực tập hành thiền tâm hiền.
Về cái phần tâm hiền này con có chia sẻ rất là nhiều, mấy chục bài lận, khoảng hai mươi bài gồm có những bài pháp học và pháp hành luôn thì các vị chịu khó ngoài cái giờ, hoặc là sau này khi về nhà rồi, hoặc là ở lại đây thì vẫn mở ra thực hành. Thực hành tâm hiền như đất, tâm hiền như nước, tâm hiền như gió, tâm hiền như lửa, thực hành tâm hiền như là một người ăn xin, thực hành tâm hiền giống như là một cái nùi giẻ chùi chân, đó là những pháp tu của tôn giả Xá-lợi-phất. Khi mình an trú được cái tâm hiền này nó mình dễ chịu lắm cho nên hôm nay ngồi đây con đặt cho hai cây này luôn là cây hiền với cây từ.
Một cây là cây hiền, cây sau cây từ nhầm nhắc nhở chúng ta nhớ tâm hiền và tâm từ, ở đây cũng có cái tên nữa muốn kêu cho dễ thương là cây mát dịu, cây dễ chịu cũng được. nếu mình ngồi ngoài nắng đó mình có chịu được không? Mình ngồi dưới đây mình thấy mát dịu, mình thấy dễ chịu, đây là tâm hiền, tâm hiền đến đâu là làm cho người ta dễ chịu đến đó, người có tâm hiền thì những cái người đến gần mát dịu. Nếu mà ở đây mọi người không có tâm hiền chúng ta có còn ở tới đây mười ngày không hay là mới ba ngày chạy tuốt? Nhiều khi được chỉ một ngày, bữa sau chạy luôn cũng chừng nếu mà không có tâm hiền, phải không? Nhất trí không? Cho nên tâm hiền là sự sống, là lẽ sống, là nguồn sống, là sinh lực, là sự sinh tồn của người tu chúng ta, người tu mà không có tâm hiền thì giống như cái xác mà không có hồn, người ta chạy mất dép hết, mới vô nhìn thấy la hét là chạy ráo rồi.
Nhờ chư Tăng, chư Ni ở đây có tu cái tâm hiền cho nên ở núi rừng xa vắng mà được các giới tử, được các hiền trí thương yêu về đây quay quần cùng tu với nhau mát mẻ, ấm áp, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương. Cho nên tu tâm hiền này tuyệt vời lắm, mỗi bước chân của mình phải tập tâm hiền, bước cái bước cho nó nhẹ nhàng không có bước xẹp xẹp, không có lấy dép của người khác, nói chuyện không có ăn to nói lớn, thậm chí là tới cái lúc khó chịu mình vẫn có thể nhiếp được cái cảm thọ, chế ngự được cái cảm thọ và mình phải nhớ tác ý "hiền nha thọ, thọ hiền nha thọ". Mỗi ngày đều cho uống sữa ông thọ tức là tâm hiền cho thọ uống sữa chứ không phải uống lon sữa ông Thọ kia đâu, tức là cho cái tâm hiền uống sữa, cho nó uống nước, cho nó bồi bổ, cho nó chất dinh dưỡng. Chúng ta nuôi đó từ cái bước chân, từ cái lời nói, từ cái mình nhất cử nhất động, hành xử của mình.
Trong kinh Niệm Xứ nói một người tu khi đi phải rõ biết mình đang đi, khi ngồi biết rõ mình đang ngồi, khi nằm biết rõ mình đang nằm, thân thể sử dụng như thế nào phải biết rõ đang sử dụng như thế đó. Đưa tâm hiền vào, đưa cái tâm tỉnh giác chánh niệm vào khi nói, khi nín, khi yên lặng, khi thức, khi ngủ, tất cả đều phải có sự rõ biết, sự chánh niệm tỉnh thức và làm cho nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, hiền thiện, đó là Tứ Niệm Xứ, Thân Hành Niệm đó, là niệm thân trên thân. Nhiều khi mình đọc Tứ Niệm Xứ chứ mình không biết cái chỗ đó là Đức Phật dạy tâm hiền, sự tỉnh giác và chánh niệm đưa sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu vào để làm cho thân tâm mình khinh an, nhẹ nhàng, bao gồm thất giấc chi trong phần niệm thân ở trên thân của Tứ Niệm Xứ.
Từng cử chỉ, từng hành động, từng ngôn ngữ, từng lời nói của mình luôn làm cho nó lắng dịu, cho nó an tịnh, cho nó dễ chịu. Nhiều khi mình ở đây hai trăm người mà khách vô nói "Ủa sao im ru không nghe gì hết?", đó là tâm hiền, hai trăm người mà không nghe tiếng động, hai trăm người mà bưng cơm, bưng mình bát đi nhẹ nhàng, ở nhà mình chừng hai người là ồn rồi. Có hai người thôi nhưng lúc đầu thì tôi nói bà nghe, bà nói thì tôi nghe, lúc sau thì cả hai nói cho cả xóm nghe cho nên mình tu tâm hiền là mình trở về một cái sự hết sức bình an, mình ít có mất sức lắm, mình không có tiêu hao năng lượng nhiều.
Có những cái thứ mà nó không có ra gì hết mà mình làm cho nó rùm beng lên, kiếm chuyện lên, gây sự lên và làm cho mình đau khổ. Còn mình tu tâm hiền là mình hóa cái lớn thành nhỏ, hóa cái nhỏ thành không, hóa cái giữ thành cái lành, hóa cái lành thành cái chỗ thượng thiện. Dù cho mình bực bội, khó chịu mà mình có tâm hiền thì có gì đâu, cái thọ thôi mà, thọ mà có gì đâu, mát dịu đi. Không lẽ mình còn thua cái cây này nữa hay sao? Cái cây cũng biết tỏa bóng mát cho người ta, tỏa không khí trong lành cho người ta thở mà tại sao mình đi tới đâu người ta khó thở tới đó vậy. Mình tác ý vậy đó rồi từ từ người mọi lại gần mình dễ chịu, mát chịu, hiền lành, dễ thương, mới đi tu có một khóa về má hỏi:
Con đi tu ở đâu con đi tu núi nào?
Núi Linh Quy đó.
Dẫn mẹ đi với. Sao đi tu về thấy con hiền quá, dễ thương quá, ngoan và hiếu thảo quá.
Từ ở bên ngoài đầu tiên cái hành động của mình tập cho nó nhẹ, nó chậm, kế đó là lời nói mình giảm bớt sự khó chịu ở trong lời nói, sau đó sâu vô trong ý nghĩ mình tập nghĩ hiền, tập cái tưởng hiền và sâu nhất là mình đưa vô trong cái thọ hiền. Cái thọ đó là gốc rễ, mỗi ngày phải ở nhà phải mở bài tâm hiền lên thực tập ít nhất một ngày một thời, có những bài thiền tập và tâm hiền thì mình tập như vậy lần lần ở trong cái thọ của mình hiền rồi, lắng dịu, an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào rồi thì cái nghĩ sẽ nghĩ theo chiều hướng hiền. Khi mình nghĩ về người cha, hay mẹ, hay anh em, vợ chồng của mình, mình sẽ nghĩ theo chiều hướng thiện của người ta, lúc trước mình không có cái thọ hiền mình nghĩ theo chiều hướng bất thiện của người kia, mình nghĩ theo cái chiều hướng khó chịu, bực bội, cái chiều hướng xấu của người ta không à, nói cái tốt của người ta hay nói xấu của người ta nhiều? Đó là cái thọ không hiền cho nên mới để ý những cái chiều hướng bất thiện, cái tâm nghiêng vô cái chiều hướng nào thì nó đi theo cái chiều hướng đó.
Mình nói ra những cái lời để làm cho mình với người khó chịu, tự nhiên lúc đầu vô ngồi bắt tay thân thiện nhưng nói một hồi là sân hận lên, có khi đập bàn đập ghế, đập chén đập tô. Khổ chưa đủ sao còn kiếm chuyện, gây chuyện cho khổ nữa? Cho nên khi cái thọ mình hiền rồi mình sẽ nghĩ hiền, khi cái suy nghĩ mình hiền rồi con mắt mình hiền nhìn bằng thiện cảm, lỗ tai mình nghe theo cái chiều hướng hiểu được nỗi khổ của mọi người chung quanh, cái mũi mình cũng hiền, cái miệng mình càng hiền, cái thân mình nó càng hiền. Như vậy mình tu tập sáu căn này nó an trú ở trong cái tâm hiền, trong cái hành hiền, trong cái thọ hiền, trong cái tưởng hiền, trong cái thức hiền, trong cái thân hiền, vi tế, vi diệu và tuyệt vời lắm.
Xung quanh mình là đất lành chim đậu, chúng ta thấy ở đây càng ngày chim về càng đông, hót rầm rộ hết trơn, hót vang dội hết cả núi rừng. Hồi đó con lên đây không có, lúc mới lên không có, do quý thầy, quý cô tu tâm hiền, tâm từ nó lan tỏa trời đất hay sao mà chim về quá chừng, chẳng những chim về mà người về nữa. Đó là nhờ cái tâm hiền đó.
Giới tử 7: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bậc sư phụ, kính thưa quý vị hiền trí có mặt ở đây. Dạ con xin có câu hỏi dựa trên cái pháp thoại của thầy vừa rồi về cái chuyện tâm hiền, tại vì bản thân con khi đi làm hoặc khi có người yêu hay gì đó thì con cũng hiền như cục bột vậy đó, người yêu chửi con cũng nghe, sếp chửi con cũng nghe. Con im lặng thì vô tình cái sự im lặng và cái sự hiền đó của con làm người ta càng nổi sân hơn, người ta càng giận hơn thì đó có phải là cái con đang an tịnh, con đang hiền đó là tạo nghiệp cho người ta hay không thì mong thầy giải đáp thêm giùm con ạ. Dạ con cảm ơn ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Thật ra không phải đâu, không phải, không phải cái hiền của mình mà làm cho người ta tạo nghiệp, cái này là chuyện không có thể xảy ra. Đức Phật nói không thể có một cái ý nghĩ hiền, lời nói hiền, hành động hiền mà đưa đến quả báo khổ là điều này không thể xảy ra. Một ý nghĩ ác, một lời nói ác, một hành động ác bất thiện mà lại đem tới cái quả báo an lạc là sự kiện này không thể xảy ra, mình phải tin nhân quả. Tại sao vậy? Vì có khả năng những ci người đó là oan gia trái chủ của mình cho nên mình làm kiểu gì người ta cũng bực bội hết, mà may là bình hiền đó chứ nếu mình giữ thì mình lãnh đủ.
May là mình là một cái tâm hiền thiện mà họ còn như vậy, nếu mà mình dữ giống họ nữa thì giờ này mình không biết có ngồi đây để tu không? Sợ ngồi ở trên cao cho nên khi mình hiểu được cái nghiệp quả tuyệt vời lắm, nó giải mã được tất cả mọi sự việc trong cuộc đời này, mọi người nghe thêm loạt bài Mật Mã Thế Giới, bài đó con có chia sẻ nhiều. Trong cuộc đời của mình sẽ gặp hai đối tượng đặc biệt, một là mới gặp người ta thương liền, hai là mới gặp cái ghét liền, vậy thì hai cái đối tượng này là hai đối tượng đặc biệt cần phải chú ý, cần phải chăm sóc thật kĩ, còn có đối tượng thường thường thì thôi. Như vậy hai cái đối tượng này đều có cái duyên sâu với mình, có những trường hợp chưa nói gì hết đã thấy người ta bực mình, khó chịu rồi có những trường hợp vừa gặp cũng là yêu, là thương, nhận chị em nuôi, anh em, cô chú bác gì đó hay là rước về ở chung gia đình, lặp gia đình với nhau.
Cái vấn đề của giới tử này là người này một khi họ đã có cái sự khó chịu, bực bội với mình, có những cái nghiệp từ quá khứ mà mình không thấy, không biết được cho nên mình sẽ gặp hai đối tượng một là cái đối tượng lại đòi nợ, hai là đối tượng trả nợ. Như vậy nếu mà cái đối tượng đi đến trả cho mình thì mình dễ biết không? Kiểu gì họ cũng đi theo họ giúp hết, họ cũng theo họ lo hết đó, có mắng chửi làm gì họ cũng đi theo lo hết trơn, một cái đối tượng nữa là luôn luôn gây sự với mình dù cho mình không có lỗi gì hết, cái này là đến đòi nợ. Hồi nãy là đến trả thì bây giờ mình trả sớm hay trả muộn, trả trước hay trả sau gì cũng trả hết vậy có nên vui vẻ để trả không? Vui lòng trả mà bây giờ sân hận lên thì cũng trả mà sợ cái nợ nó còn tăng.
Mình phải đặc biệt chẳng những tu tâm hiền với người này mà còn tu tâm từ với họ nữa, đây là một bước để hóa giải, tu tâm hiền chưa đủ, đối với đối tượng những cái đối tượng đó là phải tu tâm từ. Nghĩa là thật sự là mình hiểu, cảm thông và thương họ, mà thương họ chính là thương mình, nếu mình không thương họ thì mình mệt lắm, mệt mình lắm tại vì họ là chủ nợ mà, họ có quyền đòi. Bây giờ với cái cách trả của mình, chẳng những mình trả mà mình phải còn có lời nữa thì như vậy cái lời đó là đem cái tâm từ của mình để chăm sóc và quan tâm, làm cho họ cảm nhận được cái tình thương của mình, không phải là quá mức nhưng cũng phải để cho họ cảm nhận được là mình rất là trân trọng, trân quý họ, rất là thương họ thì lần lần có thể hóa giải được.
Con xin thưa là cái này bản thân con có rất nhiều luôn, rất là nhiều, những người ta ghét, chửi mình nhưng mà tự nhiên sau này người ta lại quỳ khóc, người ta tự khai luôn thì con ói "dạ con cũng không biết, mô Phật con không có thời gian, mắc học pháp. Dạ vậy con cảm ơn". Mình không có thời gian để đi lo ngóng, đi nghe, kiếm ai chửi mình, mệt lắm, không có thời gian, khổ gần chết lo chạy lẹ lẹ đang thoát ra khỏi cái thế giới đầy vô minh, sân hận, ở đó đi kiếm chuyện làm gì, tự tìm phiền não để làm cái giống gì. Cho nên giờ trở lại vấn đề là mình đem cái tâm từ mình đối đãi với họ, nghe kỹ cái bài từ vô lượng tâm, phải làm cho khéo nha, thí dụ họ chửi đã rồi, mình thấy trưa nóng quá mình kiếm ly nước mát mời uống, café sữa đá hay chanh dây mời uống bằng tất cả tấm lòng chân thành chứ không phải mình mỉa mai. Nhớ kỹ cái chỗ này, ở gia đình, ở đâu cũng có hết là mình dùng tâm hiền, tâm từ này.
Tâm hiền chặn đứng các cái nghiệp và tâm từ hóa giải nghiệp, hai cái tâm hiền, tâm từ này được thực hiện bằng cái chánh kiến, phải thấy được tất cả mình là nạn nhân của tham, sân, si và bản ngã, dục ái, thấy được cái điều đó thì mới thực hiện tâm hiền, tâm từ một cách viên mãn và tròn đầy, còn không có chánh kiến thì tu hai cái kia không có viên mãn, tới một mức độ nào đó thôi "tôi nhịn lần thứ nhất, nhịn lần thứ hai, quá tam tới lần thứ ba nhịn rồi tức nước vỡ bờ", bùng nổ hoặc là "từ thì cũng có mức độ chứ làm xá sao tôi chịu nổi". Đó là do có cái tôi, không thấy ngũ uẩn mà tu trong cái bản ngã thì nó sẽ nó bị giới hạn, nó không hóa giải được nghiệp chướng cho nên mình tu bằng cái chánh kiến cộng với cái tâm hiền và với một cái tâm từ hiểu thương sâu sắc về nỗi khổ của cuộc đời này thì có thể hóa giải được tất cả oan gia trái chủ, cựu thù chấp đối, nghiệp chướng vô lượng vô biên kiếp đều có thể hóa giải sạch sành sanh. Như vậy mới có thể đi đến chỗ hoàn toàn sạch hết nợ nần để bất hoàn, không còn trở lại thế gian này nữa, luôn cả bậc thánh.
Giới tử 8: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch thầy, con kính bạch các chư Tăng, chư Ni và các bậc hiền trí, con cũng rất may mắn là những cái thắc mắc của con về cái cảm thọ của con, tức là khi khổ quá con cũng rất xúc động. Khi con hiểu ra một cái chân lý gì được thầy chỉ dạy cho con cũng xúc động, con cứ như mở ra một cái trí tuệ gì đó con cũng xúc động, cả hai cái này là con đã được Ni sư, và nhất là cả cô Quý nữa cũng đã chỉ cho con. Bây giờ con cũng chỉ có một cái, có thể nó là không phải là câu hỏi nhưng mà con cũng có một cái suy nghĩ để con xin thầy, thứ nhất là sắp tới chúng con sẽ xuống núi cũng như hôm qua con nói là con sẽ mang cái cảm thọ này, cái trí tuệ thầy dạy cho chúng con cái tâm từ các cô, các thầy ở đây chúng con mang về để nuôi dưỡng nó trong mình. Tuy rằng không khoác cái áo này, đầu thì tóc nó sẽ mọc nhưng mà chúng con cố gắng giữ được cái hạnh đấy, con chỉ mong được như thế nhưng có một cái là chúng con cũng có mắt, có tai, có mũi, có mồm, có thân cho nên ở ngoài đời chúng con cũng vẫn phải xúc chạm.
Như thầy dạy con nghe được sáu bài tâm hiền của thầy con xúc động lắm vì con nhận ra giá trị của tâm hiền, con con nó cũng khó chịu với con thì con chỉ tác ý tâm hiền, tâm hiền, tâm hiền. Khi tác ý thì con cứ hơi cúi xuống thì tự nhiên là con nhẹ đi và một hồi thì con con nó lên xin lỗi, con thấy giá trị lắm thế nhưng mà còn một cái nữa là cái mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì chúng con không thể tránh khỏi nhìn sáu trần, con chỉ mới nhận ra một cái là khi cảm thấy khởi lên một cái cảm thọ gì đó thì con chỉ mới nghĩ được mỗi câu "không khó chịu, không thích thú… không thích thú không khó chịu" con chỉ mới nghĩ được thế thôi.
Sư Phụ: Đây con có mấy câu hỏi của sư cô con trả lời ngắn gọn cho nó xong cái buổi hỏi đáp này. Sư cô hỏi ngồi thiền lâu đau lưng, chân đau, tác ý thân đau mà tâm không đau nhưng mà nó vẫn không hết đau, giờ sao? Bây giờ không hết đau thì duỗi chân, mình tác ý là tác ý nhưng mà tới lúc cái thân chịu đựng không nổi nữa thì thôi, mình duỗi cái chân.
Khi tác ý là ý hành trong ngũ uẩn hay là một cái tâm nào khác tác ý? Khi mình tác ý thì cũng là ý hành nhưng có cái trí tuệ trong đó, chúng ta hiểu được cái chỗ này không? Nếu mình không được học thánh pháp thì mình biết gì đâu mà mình tác ý, nhưng mà do mình được học thánh pháp cho nên cái sự suy nghĩ của mình là một sự chủ động và nhìn thấy những cái tham, sân, si mà mình muốn đánh phá, muốn nhiếp phục, chế ngự, muốn thoát ra cho nên cái đó là bằng cái chánh kiến hướng dẫn cho mình tác ý thì cái đó là nhờ cái trí tuệ ở trong khi mình nghe pháp, mình hiểu được pháp, mình có một cái chủ động tác ý. Còn cái hành là nó suy nghĩ bình thường thôi, nó suy nghĩ theo vô minh, tham ái, chấp thủ của thường tình, còn cái tác ý là nó có chánh kiến, thấy rõ cái vấn đề theo chánh pháp và nó có một cái sự chủ động để đưa cái tâm đi ra khỏi những cái tham, sân, si, dục ái, bản ngã.
Hành trong năm quẩn và hành trong mười hai nhân duyên là hai loại hay là một? Chữ "hành" ở trong ngũ uẩn là suy nghĩ, còn hành ở trong mười hai nhân duyên gồm có thân hành, khẩu hành và ý hành. Như vậy thì cái hành trong ngũ uẩn thì nó chỉ là ý hành thôi nhưng mà cái hành ở trong mười hai nhân duyên là còn có khẩu hành và thân hành, tức là lời nói biểu hiện ra và hành động phát ra ở ngoài thân, còn cái hành ở trong hành uẩn là chỉ là trong suy nghĩ thôi.
Trong niệm sợi dây tái sanh con chưa hiểu "phàm những gì chấp thủ phương tiện tâm kiên trú thiên chấp tùy miên" có nghĩa là gì? Chấp thủ phương tiện tâm kiên trú thiên chấp tùy miên, cái này chịu khó quý vị nghe lại giùm con, những cái bài này con có giảng giải, trong cái thời giờ ở đây thì chỉ giải gọn thôi. Tức là những cái mà nó làm cho mình nắm giữ, chấp thủ phương tiện là những phương tiện nó làm cho mình nắm giữ, cái tâm mình kiên trú là nó cứ bám chắc vô trong đó, nó cứ nghiêng vô trong đó, nó miên mang ở trong đó nó không đi ra được. Thí dụ như cái nhà của mình có chấp không? Chiếc xe của mình có chấp không? Cái phòng của mình có chấp không? Cái thân này mình có chấp không? Cái thân này những cái phương tiện chấp thủ đó, tâm kiên trú là tâm mà nó nghiêng về cái thân này. Con mắt của mình có chấp không? Lỗ tai, cái mặt của mình mà ai chê xấu đau xấu đớn mình có khó chịu không, những cái đó là phương tiện để chấp thủ.
Cho nên mình thích cái đó, mình vui cái đó, mình khoái cái đó, mình ham cái đó thì nó trói cột vào trong những cái đó cho nên mình không thoát ra khỏi được cái vòng dây của tái sanh. Bây giờ mình muốn thoát ra, cắt đứt sợi dây tái sanh thì mình phải là cắt đứt những cái sự ham muốn, thích, khoái ở trong những sắc; thọ; tưởng; hành; thức, có khi Đức Phật trình bày bằng sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, có khi là những món đồ ở bên ngoài sắc; thanh; hương; vị; xúc, những cảm giác, những suy tư bên trong, tức là pháp trần. Căn – trần – thức – xứ – giới – uẩn, những cái gì mà khoan khoái, thích thú, dính mắt, trói cột trong đó mình cắt nó ra thì như vậy là mình cắt đứt được sợi dây tái sanh.
Giới tử 8: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính bạch sư phụ, các chư Tăng, chư Ni cùng các bậc hiền giả, con tên là Hiền Lan. Đầu tiên con đủ duyên để tham gia khóa tu xuất gia gieo duyên, con nhận được những bài giảng pháp của sư phụ để hiểu thêm về những lời dạy nguyên chất Đức Phật bổn sư Thích-ca, con vô cùng biết ơn. Trước khi lên đây con đã nguyện rời nhà, nhờ những lời dạy của sư phụ con đã quyết định quay trở về nhà để làm tròn bổn phận của mình, khi nào đủ duyên thì con quay lại và con cũng đã mời được mẹ con, chồng con và hai con của con lên vào chiều thứ sáu tới. Khi con đến đây thì con nhận được rất là nhiều lợi ích, bên cạnh những bài giảng pháp của sư phụ thì những sự chăm sóc của các chư Tăng, chư Ni cũng như các vị hành giả ở đây, con cảm thấy rất là biết ơn.
Con hình dung ra bao nhiêu lao tác từ những ngày đầu sư phụ về đây hỏi, con xin mãn phép có hai câu hỏi có thể không liên quan gì đến pháp nhưng mà con tin hai câu hỏi của con sẽ giúp nâng đỡ chúng con khi xuống núi. Trong buổi pháp đàm con cũng nghe về hành trình tu tập và thực hành pháp của các Tăng và các Ni, con cảm thấy có rất nhiều bài học ở trong đó cho nên hôm nay con xin mạn phép được sư phụ chỉ dạy chia sẻ lại hành trình một là lịch sử của chùa Linh Quy Pháp Ấn, thứ hai là hành trình của sư phụ để chúng con có thêm những bài học vững chải trong hành trình sắp tới. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Cứ tập nhận diện ngũ uẩn của mình, tập những cái bài tập và mình đã được học, tập trung vào cái cốt lõi sự tu tập. Ngồi đây chỉ là một cái nùi giẻ rách, ngồi đây chỉ là một cái bộ xương, Ở đây chỉ là đống tro chưa được đưa vào hỏa đài, không có gì đáng là lịch sử gì hết. Các vị quay trở về thực tập ba pháp, nhân diện ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si đó là quý vị tạo nên lịch sử cho chính mình, còn con chỉ là cát bụi khói mây trên cuộc đời, không có ai ngồi đây hết. Rồi con cũng sẽ trở thành cát bụi, thành khói mây và tất cả chúng ta ngồi đây rồi cũng sẽ trở về cát bụi, khói mây trong cuộc đời này. Tất cả chúng ta rồi tan nát, tan hoại, hoại diệt bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, hãy ghi nhớ điều đó đừng bao giờ quên, mình chẳng là ai cả, chẳng là cái gì cả trên cuộc đời này, chẳng có ai ở đây cả, chỉ là đất, nước, gió, lửa, chỉ là những cái đống tham lam, sân hận, si mê, bản ngã đang ngày đêm vận hành, hoạt động, thao túng và áp đảo chúng ta.
Tâm xả này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm xả này tỏ rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
TƯ CỤ CỦA ĐỊNH & ĐỊNH TƯỚNG?
MÌNH HIỀN MÀ NGƯỜI VẪN DỮ THÌ SAO?
–Thích Minh Thành–
Sư Phụ: Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí, ở đây chúng ta có buổi pháp đàm, hỏi đáp những điều chưa được rõ trong pháp học, pháp hành Nikāya, con xin mời quý vị có những chỗ nào chưa có rõ còn nghi ngờ trong thời gian từ ngày đầu khóa tu cho đến bây giờ chúng ta có thể nêu lên những câu hỏi. Trong suốt khóa tu nửa tháng chỉ có một buổi này là hỏi đáp thôi, chúng ta nên nhiệt tâm để qua cái cơ hội này mai này muốn hỏi cũng không có thời gian để mình được hỏi.
Giới tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát.
Sư Phụ: Cô nói vắn thắt đưa vào câu hỏi đi.
Giới tử 1: Dạ, nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con xin kính trình lên sư phụ vì lòng từ mẫn, thương xót cho con, con xin hỏi bảy câu hỏi để con hiểu rõ để con thực hành, để con tiến sâu vào dòng pháp này, để con được hướng thượng trong tương lai. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Dạ mô Phật, câu hỏi của con là tự thân là gì, phá thân kiến mà phải làm như thế nào để phá thân kiến. Định là gì, định tướng là gì, định tướng mình phải tu tập như thế nào. Dạ định tư cụ là gì, định tu tập là gì. Dạ mô Phật, con kính trình lên sư phụ.
Sư Phụ: Dạ từ hôm ngày đầu cho tới nay là chúng ta học phá thân kiến đó. Thân kiến là kiến chấp về thân, là cái thấy sai lầm về thân, chúng ta cái tâm mê nắm chặt vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức và cho rằng có một cái bản ngã, có cái tôi, cái đó là thân kiến. Chúng ta đã tu học từ đầu khóa tới bây giờ là để tháo gỡ những cái thế sai lầm, phá vỡ những cái nhìn lệch lạc, đập đổ những cái chấp vào trong cái tôi, cái của tôi và cái sự tu học chúng ta muốn đạt được cái tâm an tịnh, an định thì đầu tiên chúng ta phải tập cái sự lắng dịu, an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương.
Đó là tư cụ đó, đó là những thứ sửa soạn chuẩn bị để cho cái tâm mình được an tịnh. Mình muốn có được cái tâm định thì mình phải chuẩn bị bằng bảy cái đúng ở phía trước, đó là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, hành đúng. Đúng đó là từ cụ của định đó, đó là cái hỗ trợ để làm cho cái tâm mình định đó.
Mình thấy có người đó sĩ nhục mình, tâm mình có định được không? Có không? Giờ thấy sao để mà thấy đúng? Có người nào không? Đó là ngũ uẩn và ngũ uẩn đó cũng giống như cái ngũ uẩn này đang trong vô minh hết, đang trong sân hận, đang tự phóng hỏa tự thiêu làm cho mình - người khổ, không có một cái tôi, cái ta nào mà cũng không có ai khinh ai, không ai hủy nhục ai, chỉ có những cái đống vô minh, chấp thủ, sân hận để làm đau khổ cho nhau. Đó là thấy đúng, nghĩ đúng đó, rồi nói đúng đó, mình nỗ lực tác ý như vậy, chiêm nghiệm như vậy, quán chiếu như vậy có đưa đến cái tâm an tịnh không? Đó là định tư cụ đó, rõ không? Dễ không? Là ngay cái lúc người ta tức, chọc mình giận lên nhưng mình vẫn có cái cách để làm cho tâm mình an tịnh, lắng dịu, đó gọi là chánh đạo, là thánh đạo, là Phật đạo, là giải thoát đạo, gọi là định đạo, con đường Dẫn đi đến thiền định mà nó phải được chánh kiến dẫn được, phải thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, phả siêng năng tác ý, nhớ nghĩ về cái chánh pháp thì mới làm cho cái tâm mình yên.
Bây giờ mình gặp món đồ, con người rất là đẹp, rất là hấp dẫn, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, đáng vui, đáng thích, dễ thương, đáng yêu. Ngay lúc đó mình thấy cái món đồ đó là đẹp, con người đó là đẹp thì lúc đó cái tâm mình có được an tịnh, lắng dịu không? Bây giờ làm sao? Phải thấy đúng nó là tứ đại, cái món đồ đó, con người đó có phải tứ đại không? Tứ đại thì nó làm bằng đất, nước, gió, lửa, mà đất nước gió lửa này là nó có cái gì sạch, có cái gì đẹp, có cái gì hấp dẫn đâu. Nó là thứ vô thường, là tan hoại, là huỷ hoại, là hoại diệt, là tan nát, là tan rã, là biến hoại, là tiêu vong, là diệt tận.
Chúng ta cứ tiếp tục tư duy, tiếp tục tác ý, tiếp tục nhắc nhở tâm mình như vậy, ít nhất là trong lúc nhắc nhở cái tâm cũng có bớt muốn lại, nó giảm cái tham lại, ngay lúc đó ít nhất là cái lúc mình nhắc. Mình nhắc thường thì nó giảm từ từ, nó bớt từ từ, nó lắng từ từ, nó dịu từ từ cộng với sự quán chiếu của mình thì như vậy lần lần cái tâm sẽ an tịnh, lắng dịu rồi nó đi đến định. Mọi người đã rõ chưa? Sáng ra chưa? Khi mà mình nhớ hoài, mình nghĩ hoài, mình quán hoài, thí dụ mình cứ nhớ bộ xương hoài thì hình ảnh bộ xương đó hiện trong tâm mình thường thì cái đó gọi là định tướng.
Mình nhớ hình ảnh một cái đống tro tàn, khi mình đi lấy cốt của cha mẹ, của ông bà, những người thân của mình thì mình thấy hình ảnh đó mình nhớ hoài, mình cứ giữ hình ảnh đó hoài, mình cứ nhắc lại hoài, mình làm cho sanh khởi cái tưởng lên hoài. Khi mình thấy cái đó, mình đem cái hình ảnh đó mình cất vô mình giữ nó giống như là của báu, giống như là bảo bối, giống như là báu vật, như là thánh sản, gia tài của bậc thánh, thánh vật của Linh Quy Pháp Ấn này tức là bộ xương và đống tro cốt. Quý vị về coi những khóa tu trước đó là con truyền thánh vật cho các giới tử sau khi xuống núi là bộ xương và đống tro cốt, đó là thánh vật, thánh sản, tài sản của bậc thánh. Vì mình nhớ nghĩ cái này mình có bớt tham không? Nhớ nghĩ tới cái bộ xương mình có bớt giận không? Nhớ nghĩ bộ xương mình phá luôn si mê nữa, làm cho mình tỉnh lên, tỉnh ngủ lên, chết không lo Ở đó lo ngủ thì như vậy đó là phá tham, sân, si.
Những cái hình ảnh đó mình giữ trong tâm mình thường xuyên thì nó trở thành định tướng. Thí dụ hình ảnh một cái thân giòi, mình nhớ hoài cái đó thì cái đó trở thành định tướng trong tâm, hoặc là hình ảnh của người cùi, hình ảnh của người nằm một chỗ sống đời sống thực vật chẳng hạn, những hình ảnh đó mình nhớ thường xuyên. Chúng ta có nhìn thấy được không ạ? Nổi mụt đầy mình hết trơn vậy đó, những hình ảnh đó mình cất giữ lại trong tâm, mình thấy được rằng đời sống này còn nhiều mặt khác, mình đừng có nhìn có một chiều, đừng có nhìn có một hướng, đừng có nhìn có một phía, đừng có nhìn một góc. Mình phải đa chiều, đa diện, nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, nhiều góc độ trong đời sống này thì chính cái nhìn đó, cái chiêm nghiệm đó, cái tư duy đó, cái quán chiếu đó gọi là quán đúng, quán niệm đúng.
Cái quán đó, cái nhớ đó, cái nghĩ đó thường xuyên, hình ảnh đó liên tục như vậy thì gọi là định tướng. Tức là cái hình ảnh mà cái tâm của mình thường xuyên nhớ nghĩ, thường xuyên nhìn thấy, thường xuyên có mặt ở trong tâm mình gọi là định tướng. Mình thấy một con người, hay cảnh vật bình thường không đẹp không xấu, không muốn cũng không phải khó chịu, cũng không phải là ham thích, thấy bình thường nhưng mình vẫn phá cái chấp thường đó, vẫn quán chiếu về duyên sanh pháp. Do có căn, có trần, có thức, có xúc, có thọ, có ái, có thủ, bất cứ mình gặp cái gì mình nhắc lại cái định lý chứng ngộ của Đức Phật.
Đó là định lý chứng ngộ Đức Phật, không phải bình thường đâu, thuộc cái đó tức là mình bóc tách, mình tháo gỡ, mình mở ra, cái khối vô minh của mình nó được vỡ ra, nó được mở ra, nó được chẻ ra, được tháo ra thì lúc đó là nó từng cái từng một, không có cái tôi ở trong cái nhìn này. Đây là những sự lắp ráp, sự kết hợp, những mắc xích, những duyên sanh, ngay lúc đó là mình đã phá được một phần vô minh ở trong cái nhìn đó rồi, dầu cái nhìn đó là không phải là thích cũng không phải là ghét, ngay lúc đó mình nhìn bằng cái duyên sanh đó thì nó phá được cái si. Như hồi nãy giờ con chia sẻ cái nhìn phá tham, sân, si cho chúng ta thấy.
Giới tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính trên sư phụ, con pháp danh Huệ Chánh, con xin sư phụ chỉ dạy cho con khi có con có bốn câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất là khi con ngồi thiền lâu thì chân và lưng con nó đau, con có tác ý thân này đau chứ tâm không đau nhưng con vẫn thấy nó còn đau, nó không có hết, xin sư phụ chỉ dạy cho con cách tác ý nào cho được hiệu quả. Câu hỏi thứ hai là khi con tác ý là ý hành con nó tác ý, hay là ý hành trong ngũ uẩn tác ý, hay là có một cái tâm nào khác để tác ý. Câu hỏi thứ ba là hành trong năm thủ uẩn và hành trong mười hai nhân duyên là một loại hành hay là hai. Câu hỏi thứ tư là trong kinh niệm sợi dây tái sanh con chưa hiểu "phàm những chấp thủ phương tiện tâm kiên trú thiên chấp tuỳ miên" có nghĩa là gì con chưa hiểu. Dạ xin sư phụ cho con chỉ dạy cho con, con xin tri ơn sư phụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Các vị mới trong khóa tu có hỏi gì không? Các vị hỏi đi, mình ở nhà nhiều thời gian lắm, nhường cho các vị trong khóa tu một hai bữa nữa đi xuống núi rồi.
Giới tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, được sự cho phép của sư phụ con xin được có câu hỏi như sau. Dạ thưa sư phụ nếu như khóa tu này chấm dứt chúng con xuống núi thì chúng con phải làm sao vẫn còn giữ được ngọn đuốc sáng trong tâm của chúng con. Kính mong sư phụ chỉ dẫn giúp cho chúng con.
Sư Phụ: Ở lại đây luôn là ngọn đuốc sáng luôn, khỏi cần phải lo gì hết. Chúng ta phải nhớ những cái căn bản trí, thực hành ba pháp, nhận diện ngũ uẩn, an trú cảm giác toàn thân, nhận diện tham, sân, si và nhiếp phục bản ngã. Những cái đó là cái căn bản nhất là phải nắm cho thật là vững, cái điều thứ hai là mỗi ngày phải nghe pháp, không được bỏ cái sự nghe pháp và sự thiền tập. Đó là những cái căn bản nhất bởi vì Đa văn Thánh đệ tử là đệ tử của Đức Phật là người nghe nhiều chánh pháp, nếu mình không có nghe pháp thì cái tâm mình nó sẽ sống ở trong hôn mê, nó sẽ trở lại cái vô minh, cái chấp thủ, cái bản ngã khi xưa.
Mình đối với pháp như là một cái em bé mới vừa được sanh ra đi chập chững vậy đó, dầu cho mình có bảy muôi tuổi đi nữa mình vẫn là con nít ở trong thánh pháp cho nên khi là con nít, là đứa trẻ thì phải cần có sữa mẹ để mà nuôi, để mà chăm sóc. Sữa mẹ đó chính là pháp nhũ, một người mà từ bỏ pháp thì người này từ từ sẽ suy dinh dưỡng, sẽ suy nhược, không có lớn mạnh được ở trong thánh pháp cho nên người tu đúng cái đạo lộ là càng tu lâu người này càng thích pháp, càng mến pháp, càng yêu pháp, càng quý pháp, càng chiêm nghiệm pháp, càng suy tư pháp, càng nghiền ngẫm pháp, càng đảnh lễ pháp, càng tôn thờ pháp, càng sống ở trong pháp thì người đó tu đúng pháp. Còn người tu mà chán không muốn nghe pháp, không muốn đọc kinh nữa thì như vậy là rồi xong rồi.
Cho nên là cái vấn đề nghe pháp là quan trọng, sau nghe pháp mình chiêm nghiệm rồi có thời gian mình ngồi yên tĩnh tâm để nhận diện ngũ uẩn. Nhất là trong mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh phải tập nhận diện ngũ uẩn, quán chiếu cảm thọ không phải đợi tới giờ ngồi thiền, những lúc hữu sự xảy ra công chuyện là lập tức mình phải an trú thì mình mới có thể giữ lửa được, mình mới có thể còn vốn để mình đem xuống núi, mới còn được cái tư lương, cái hành trang. Nếu không mình đi xuống núi, mình trở về nhà rồi là sẽ mất hết, trắng tay, rất là uổng.
Giới tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên quý Tăng Ni, quý thầy, các vị hiền trí, con pháp danh là Trí Trường, con tới đây tu học đã được mười ngày thì trong thời gian qua sư phụ và các quý thầy đã chỉ cho con nhận diện ngũ uẩn, nhận diện tham, sân, si, học duyên sanh pháp. Trong cuộc sống bình thường mắt con tiếp xúc với trần thì sanh thọ, lúc đó con có thể quán chiếu để cái cảm thọ đó, trong khi ngồi thiền con ngồi yên lại con không còn thấy cảm thọ đó nữa, không có tưởng nào nữa là do lúc đó trong con không còn hay là do con không nhìn thấy, xin sư phụ chỉ cho, con cảm ơn sư phụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Khi mình ở ngoài mình không có vô ngồi thiền thì cái ngũ căn của mình tức là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân của mình hướng đi tìm ngũ trần tức là con mắt đi tìm đối tượng của nó là sắc như chúng ta nhìn nguyên bãi cỏ nhưng mà chỗ nào có bông hoa con mắt mình nó dừng lại chỗ đó. Tại sao nó dừng lại chỗ đó? Do đẹp, con mắt nó luôn luôn đi tìm cái sắc đẹp, nó rất là vi tế nhiều khi mình nghĩ rằng mình chạy đi tìm cái người nào đó, hay tìm cái cảnh đẹp du lịch mới tìm nhưng mà nó vi tế lắm. Ngay trong cái bình thường thí dụ mình đang ngồi bình an vậy nhưng mà có cái một cái bóng người đi qua là mình phải nhìn cái bóng đó cho được, có không? Thì đó là nó luôn luôn nó đi tìm cái đối tượng, đó là dục, nó rất là vi tế, nó muốn nhìn, đó là thức ăn. Chúng ta có bốn loại thức ăn.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Hai là xúc thực,
Ba là tư niệm thực,
Bốn là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Con mắt nó muốn nhìn là thức ăn xúc thực, rồi còn thức thực là nó muốn thấy, nó muốn tiếp xúc, nó muốn nhìn thấy mà thấy không cũng chưa được nên muốn lại gần nói chuyện. Nếu mà cái đối tượng đó khả ái nữa thì nó vận hành liên tu bất thần cho nên con mắt luôn đi tìm cái sắc, cái lỗ tai nó luôn đi tìm cái âm thanh. Ví dụ như cái tiếng bình thường không có gì nhưng mà tự nhiên có một cái tiếng chim hót lảnh lót là mình chú ý, mình ngóng tai muốn nghe cái tiếng đó, có để ý không ạ? Nó ghê gớm vậy đó, nó có cái dục trong cái nghe đó, thí dụ cái tiếng hót xong rồi nhưng mà nó cũng muốn cái ý là thêm chút nữa, mong cho thời gian đừng trôi.
Trong cái đó có cái muốn đó là cái dục, nó có cái ái là nó yêu thích, nó yêu thích thì nó muốn kéo dài, nó có cái thủ, muốn giữ lại cái đó. Chúng ta thấy mười hai nhân duyên đó vi tế lắm, nó trong cái thấy, cái nghe của mình, cái ngửi, cái nếm, tiếp xúc của mình đó, mười hai nhân duyên mình thấy rõ đó. Mình phải tu học cho kỹ, mình nhận diện sâu sắc rồi từ từ mình mới thấy, tức là đầu tiên là nó muốn là dục, thúc giục, muốn thấy, muốn nghe, muốn tiếp xúc hay là muốn ngửi, muốn nếm, muốn đụng chạm. Mình thấy một em bé dễ thương da mơn mởn như vậy, mịn màng mà trắng hồng như vậy mình có thích lại nựng không? Nó rất là vi tế, từ cái thúc giục bên trong rồi nó có một cái sự thích khoái, rồi có cái sự muốn lưu giữ và kéo dài cái sự tiếp xúc đó ra.
Cho nên xúc sanh ra thọ, ở trong cái thọ đó nó có dục, có ái, có tham, nó có thủ và sau đó là nó có hữu, tức là muốn rước người đó về ở chung, có không? Bốn mươi năm trước có rước bả về không? Từ cái xúc nó sanh ra cái thọ, từ cái thọ nó có ra cái ái, trong cái ái đó là nó có cái dục, nó có cái tham và ở trong cái đó nó có cái thủ, nó muốn nắm giữ bởi vì cái lúc nó muốn nắm giữ thì nó tưởng vui lắm, nó tưởng hạnh phúc, nó tưởng ngon lành ai dè đâu nắm trúng lựu đạn. Thành ra chúng ta mới thấy cái sự vận hành của tâm, như vậy thì mắt luôn luôn tìm sắc, lỗ tai luôn luôn ngóng ngóng cái tiếng, cái lỗ mũi thì nó nghe cái mùi, cái mùi nào mà hấp dẫn bắt đầu nó men men tới cái lưỡi thì nó tối ngày đi kiếm cái vị, đối tượng của nó là đi tìm cái vị, còn thân thì tìm cái xúc.
Như vậy khi mình ở ngoài đó thì ngũ căn của mình mắt; tai; mũi; lưỡi; thân mình chạy theo ngũ trần sắc; thanh; hương; vị; xúc thường hướng ngoại, nhất là mình biết nhận diện ngũ uẩn, quay về cảm giác toàn thân không phải lúc đó là không có thọ. Đầu tiên là mình có tập cảm giác toàn thân tức là mình nhận diện cái cảm giác tại vì mình cứ lo đi kiếm cái thọ ở ngoài không à, mình không biết cái thọ ở thân mình. Chính vì mình đi tìm cái thọ ở ngoài cho nên cái tâm lang thang vất vưởng, tâm vô gia cư, cái tâm cô hồn, cái tâm của chúng sanh là cái tâm cái tâm vất vưởng, cái tâm vô gia cư nói cho nghĩa rõ ra luôn là cái tâm cô hồn, ngồi đây nhưng mà nó chạy kia không à.
Bây giờ cái mình ngồi thiền là đem tâm trở về thân để cảm nhận cái cảm giác ở nơi thân của mình, đó là cái bước đầu tiên hết sức là quan trọng, đó là mình cảm nhận được cái thọ thân, còn đi sâu vào bên trong nó còn có cái thọ tâm nữa. Bên trong tâm mình nó sẽ có cái hình bóng này, hình bóng kia, mà đi chung với cái hình bóng là nó có cảm giác, nó có suy nghĩ thì như vậy khi cái tâm mình có hình bóng bà vợ, hay ông chồng, hay đứa con, hay cha mẹ của mình hoặc là cái người thương, người ghét thì nó kèm theo thọ hạnh, trong đó tưởng ở trong đó thì làm gì mà không có thọ. Tại vì mình không có nhận diện được chứ còn lúc đó là nó có rất là nhiều, nó sanh diệt liên tục, hết tham, sân, si và dục ái, chấp thủ nó liên tục ở trong đó vì nó vi tế, nó cực vi tế.
"Tâm khó thấy, tế nhị,
Theo các dục quay cuồng.
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 36)
Tâm này không phải là dễ dàng để cho mình nhìn thấy, mình có thể là thiên văn mình giỏi, đại dương học mình hay, mình có thể lên trời xuống biển mình ra ngoài trái đất, ra khỏi hành tinh nghiên cứu nhưng mình không thể thấu triệt được cái tâm của mình, ngoài bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác mới là người thấu suốt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm ngũ uẩn và đời sống này, đó gọi là bậc Thế Gian Giải, bậc chánh giác thân tâm, bậc thấu suốt tận cùng về ngũ uẩn này. Còn chúng sanh là chỉ chạy ra bên ngoài thôi, mà chạy ra bên ngoài thì nó đau khổ, nó dục tham, nó truy tầm, nó đuổi tìm, nó luôn luôn ở trong cái cảm giác khao khát, thiếu thốn, bất toại nguyện, bất mãn, bất bình, bất trắc, bất thường, bất hòa, không có cái gì mà nó thỏa mãn hết. Cái bản chất của thọ là nó không có thỏa mãn cho nên cái chữ khổ trong cái tiếng Pali định nghĩa là bất toại nguyện tức là không có thỏa mãn.
"Dầu mưa bằng tiền vàng,
Các dục khó thỏa mãn.
Dục đắng nhiều ngọt ít,
Biết vậy là bậc trí"
(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 186)
Đức Phật nói mưa xuống bằng tiền vàng, mưa bằng hột xoàn các dục cũng không thỏa mãn nữa. Người giàu nhất hành tinh này thỏa mãn đủ chưa? Người đẹp nhất đăng quang hoa hậu hoàn vũ quốc tế có hài lòng với sắc đẹp mình chưa? Đó là các dục không thỏa mãn vì không thỏa mãn cho nên nó luôn luôn ở trong cái thiếu thốn, trong cái thèm khát, trong cái đau khổ, đó là cái bản chất của tâm cũng chính là cái sự thật thâm sâu của đời sống này. Tại sao người ta khổ? Không phải người ta thiếu đồ, mấy người giàu có thiếu ăn không? Mấy người đẹp có thiếu sắc không? Tại sao người ta cũng muốn đi tìm? Vì cái bản chất bên trong không thỏa mãn cho nên trong kinh Đức Phật nói thế giới này là thiếu thốn, thế giới này là khao khát, thế giới này là nô lệ cho tham ái.
"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái, thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình" (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Một câu đó là rung chuyển đất trời hết và tất cả người ở trong thế giới này luôn luôn ở trong thiếu thốn, trong khao khát, nô lệ cho tham ái. Một bà chưa đủ nữa kiếm thêm bà thứ hai, bà thứ hai chưa đủ nữa ra chuồng bò ngủ "một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ ngủ chuồng heo". Đó là cái dục nó không có thỏa mãn, nam cũng vậy mà nữ cũng vậy thôi, không thỏa mãn và như thế cái tâm nó đau khổ. Cho nên mình thấy cái thọ nó sâu lắm, khi mình ngồi yên tĩnh mình tưởng đâu vậy là ngon rồi, nó nằm yên trong đó nó ngủ nhưng mà nó gặp cái đối tượng là nó thức giấc. Chúng ta thấy ghê không? Cho nên mình tu là để mình phá vô cái tùy miên, cái ngủ ngầm ở trong, mình tu theo cái chánh pháp của Đức Phật là không phải đợi tới chuyện lúc đó mình mới đánh phá, mình mới tu mà ngay lúc bình thường là mình phải nhìn sâu, mình đào bới, mình móc ở trong ra để mình phá vô luôn ở trong cái tận cùng hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa sâu thẳm ở bên trong các cái cảm thọ thì như vậy mới đi tới lậu tận, sạch hết tất cả các lậu hoặc, cấu nhiễm bên trong tâm.
Giới tử 5: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý Ni sư và các bậc hiền trí, con pháp danh là Trí Phước, con xin hỏi một câu hỏi trong bài học niệm duyên sanh pháp. Trong bài giảng người có nhắc đến từ "tư" khi đặt trong ngũ uẩn thay vì nói là từ "hành" và con vẫn chưa hiểu sự khác biệt giữa từ "tư" và từ "hành" ở trong ngũ uẩn mong sư phụ có thể giảng thêm cho con ạ. Dạ con cảm ơn.
Sư Phụ: Chữ "tư" với chữ "hành" là một, cái chữ khác nhưng cái nghĩa nó cùng nhau nhưng mà ở trong cái trường hợp đó thì Đức Phật gọi là sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư và pháp tư. Mình sẽ được nghe cái bài giảng về cái duyên sanh pháp này chứ không có gọi là sắc hành, thanh hành mà gọi là sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Trong tất cả cái suy nghĩ của mình thì chúng ta mới thấy được cái trí tuệ của Đức Phật nó khủng khiếp lắm, mình cứ nghĩ là suy nghĩ là suy nghĩ đơn giản thôi phải không, mình nghĩ "ờ tôi suy nghĩ" nhưng mà không, Đức Phật phân loại cái suy nghĩ đó ra làm sáu nhóm: Từ đâu nó có cái suy nghĩ, tại sao nó có suy nghĩ, Đức Phật giải thích rồi nó suy nghĩ là nó suy nghĩ trong các cái dạng nào, cái nhóm nào và cái suy nghĩ nó vận hành như thế nào và làm sao cho cái suy nghĩ nó chấm dứt. Đức Phật chỉ cho mình luôn, chúng ta học đi thì chúng ta thấy trí tuệ của Đức Phật không thể tưởng tượng nổi đó mới gọi là thánh trí.
Như vậy trong cái suy nghĩ này Đức Phật phân gọi làm sáu nhóm, nhóm thứ nhất là suy nghĩ về sắc, nhóm thứ hai là suy nghĩ về tiếng, âm thanh, nhóm thứ ba là suy nghĩ về mùi, nhóm thứ tư là suy nghĩ về vị, suy nghĩ về tiếp xúc, về đụng chạm, gặp gỡ, nhóm thứ sáu là suy nghĩ về những cảm giác, những hình bóng, trong tâm và suy nghĩ về cái suy nghĩ của mình. Chúng ta thấy dễ sợ không? Là sáu cái nhóm suy nghĩ cho nên mình học cái này rồi mình thích thú lắm, nó thú vị lắm, mình học rồi mỗi một ngày là mình sáng ra thêm, mỗi một giờ mình thực hành nó sáng ra thêm, mỗi một tuần sáng ra thêm. Ở mới có mười ngày mà nó sáng như vậy mà, ở chừng mười năm là nó Nhập Lưu luôn.
Thánh trí tuệ là vi diệu, tối thượng như vậy. Mỗi một cái gì nhỏ nhiệm nhất ở trong tâm Đức Phật đều trình bày tại sao nó có mặt, nó vận hành như thế nào, theo một cái guồng máy như thế nào, nó hoạt động như thế nào, cái cơ cấu của nó, cái guồng máy của nó, cái cấu trúc của nó, cái mô tip của nó, cái hệ điều hành của nó, nó quản lý như thế nào và mình phá vô cái động cơ của nó thì nó lập tức là nó dứt hết, nó dừng lại hết tất cả. Đức Phật và các bậc thánh muốn ngưng suy nghĩ là ngưng, muốn cho suy nghĩ là cho, mà muốn cho suy nghĩ theo chiều nào thí dụ sáng nay mình mặc cái áo màu vàng là mặc áo vàng, mình mở cái tủ áo mặc bộ đồ xanh thì lấy đồ xanh mặc, bữa nay mình mặc bộ đồ hồng là lấy bộ màu hồng mặc.
Cũng vậy các bậc thánh muốn ngày hôm nay an trú tâm hỷ là trú suốt ngày vô cái tâm hỷ, vui suốt ngày. Các bậc thánh muốn một tuần lễ này trú trong tâm từ là suốt bảy ngày cái tâm thương không, các ngài muốn trú ba tháng vô trong tâm xả là luôn ba tháng cái tâm nó buông xả nhẹ nhàng. Các ngài sử dụng cái tâm này là làm chủ cái tâm, còn mình làm chủ tâm được không hay tâm làm chủ? Làm chủ ngũ uẩn hay ngũ uẩn làm chủ mình? Mình là ông chủ ngũ uẩn hay mình là đầy tớ ngũ uẩn? Cho nên mình khổ, vậy giờ muốn làm chủ hay muốn làm đầy tớ? Làm chủ là phải tu, phải nhận diện ngũ uẩn hoài, đầu tiên phải biết tên tuổi ngũ uẩn trước rồi biết mặt mũi ngũ uẩn, biết tánh tình của ngũ uẩn rồi biết bản chất của ngũ uẩn, sau đó mình nhiếp phục, chế ngự và diệt tận ngũ uẩn.
Bây giờ là mình đang biết tên tuổi, mặt mũi nó là nhận diện nó, mình chỉ mặt đó, mình điểm mặt, người nào làm biếng làm bài tập là không biết mặt ngũ uẩn. Cho nên biết tên tuổi rồi biết mặt mũi, sau đó mình nhận diện ngũ uẩn rồi từ từ mình sẽ biết được tánh tình của nó. Trời nó tham dữ dằn lắm, tham lắm, nó tham đủ thứ kiểu hết, nó dễ giận, dễ quạo, dễ bực, dễ hơn thua, ta đây, đó là tánh tình. Cái bản chất của nó là vô thường, khổ, vô ngã, chịu sự biến hoại, biết tên tuổi ngũ uẩn, biết mặt mũi ngũ uẩn, biết tánh tình ngũ uẩn, biết bản chất ngũ uẩn rồi mới bắt đầu nhiếp phục và chế ngự ngũ uẩn, làm cho nó đoạn giảm, làm cho nó giảm xuống từ từ đi chỗ đoạn tận, đoạn diệt luôn thì đó là đạo lộ của bậc thánh.
Mình tu cái này tối thiểu cũng chặng đứng được địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nếu mình giữ giới và thực tập chánh tri kiến chắc chắn mình đoạn tận địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mình đi trong cõi nhân thiên cho đến lúc thành chánh giác, chịu không? Cho nên cái quan trọng là giữ giới hạnh và chánh kiến, Đức Phật nói một người mất tiền của, phá sản chưa phải là cái mất lớn, người mất gia đình, gia đình đổ nát cũng chưa phải là cái sự mất mát lớn, thậm chí là cái thân này mất đi, chết đi Đức Phật nói cũng chưa phải là sự mất mát lớn. Sự mất mát lớn nhất là sự mất mát về giới, là sự mất mát về tri kiến, chánh kiến mà mình đã được học trước giờ mình xuống núi, mình về nhà có thể mình sẽ mất cái thấy biết đó, mình sẽ chạy trở lại những cái tham dục, những cái sân, những cái bản ngã.
Khi mất giới và mất chánh kiến thì cái sự mất mát này ta tuyên bố là sự mất mát to lớn tại vì sự mất mát này đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Còn sự mất mát tài sản, sự mất mát người thân, mất cả sinh mạng nhưng mà đời sau nhiều khi mình được cái sinh mạng tốt hơn rồi sao, cao thượng hơn nữa nếu mình có giới hạnh, mình có phước báo, mình có chánh kiến thì sanh thiên nữa. Còn mất mát giới và mất mát chánh kiến thì cái mất mát này đưa mình vào tam đồ ác đạo, vậy mà đa số chúng sanh chỉ biết giữ tài sản, giữ tình cảm, giữ gia đình, giữ sức khỏe, sinh mạng chứ chưa biết sự cao quý tối thượng của thánh giới và thánh tri kiến.
Đó là lý do ngày nào chúng ta niệm con cũng cho chúng ta đảnh lễ thánh giới tối thượng để nhắc chúng ta. Mỗi một lần niệm là một lần tác ý nhắc cái giới, cố gắng mình giữ hết khả năng của mình, còn cái giới nào chưa giữ được thì mình cũng có cái sự hướng thượng để cố gắng giữ, không dừng lại ở đó mà phấn đấu hoài cho đến hay hơi thở cuối cùng của mình, cũng cố gắng, cũng sẽ làm được, không có từ bỏ là con tác ý như vậy để chúng ta niệm bốn dự lưu phần, niệm thánh giới tối thượng để nhắc cái giới của mình.
Tùy theo cái giới của mình, thọ năm giới, tám giới, mười giới, mấy trăm giới và cái quan trọng cực kỳ nữa là chánh kiến, đừng có để cho mất, nhiều khi mình học ở đây là trào nước mắt, mình xúc động, mình chấn động, mình cảm động, mình thấy tuyệt diệu, đây đúng là chánh pháp rồi, tối thượng rồi, hạnh phúc mà trở về nhà thì những cái dục cái tham những cái vô minh bản ngã tràn vô giống như cái mặt hồ phủ đầy bèo. Mình quăng cái cục đá xuống thì nó dạt ra chút, sau đó nó che mặt hồ trở lại cho nên nãy con nhắc đi về nghe pháp, nhắc đi về tác ý là vậy đó. Tại vì nếu không thì nó dạt ra chút là bị bèo phủ lại cho nên mình nghe pháp, mình tác ý, mình thiền quán là để cho bèo dạt ra rồi mình dùng cây vớt bèo ra cho nó sạch thì mặt hồ được trong, khi nó trong thì lặng, khi lặng thì nói soi, nó phản chiếu được thì cái tâm mình nó mới sáng, tri kiến mình mới được trong sáng, mới được minh kiến, được chói sáng, tỏa sáng trong cái thấy biết về khổ và con đường diệt khổ.
Nói tóm lại giáo pháp của Đức Phật chỉ có hai điều thôi, là khổ và con đường diệt khổ. Thấy được hai cái này là thấy được giáo pháp, còn học suốt đời kinh điển mà không thấy được hai cái này thì cũng ở ngoài cổng chùa thôi, dù cho có cạo đầu đắp y vẫn không thấy được Phật, không thấy được pháp. Phải thấy được sự khổ trong năm thủ uẩn này và con đường diệt khổ, tức là nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Chúng ta thấy từ ngày đầu cho tới ngày thứ mười rồi cứ nhắc này hoài, phải nhớ kĩ đừng bao giờ quên, niệm cái đó thôi, cứ niệm bao nhiêu đó để thoát địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Niệm là nhất định phải nhiếp phục và chế ngự dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, niệm cái khâu đó giống như niệm Phật vậy đó, niệm hoài "nhất định là mình phải nhiếp phục được tham muốn này", "nhất định là phải dập tắt được cái cơn tức giận này", "nhất định là phải bẻ gãy được cái bản ngã này, đánh cho nó gục ngã", "nhất định là phải phá tan cái bóng tối, cái màn đen này".
Hãy nhìn thấy được ngũ uẩn, đừng có nắm chặt vào một cái tôi, cái của tôi, cái tự ngã của tôi thì như vậy đó là niệm tối thượng cũng là đang thấy Phật, đang thấy pháp, đang thấy Thánh chúng.
Giới tử 6: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên sư phụ, quý sư thầy, quý sư cô cùng các vị hiền trí, con muốn hỏi nhận diện ngũ uẩn về tưởng uẩn. Nhiều khi con nhận diện ngũ uẩn thì con thấy giống như mình không có tưởng uẩn nhưng trong bài Cửa Vào Bất Tử thì chỉ ra cái đó là cái tưởng rỗng không chứ không phải là không có tưởng. Thì con muốn sư phụ giảng thêm về pháp tưởng. Vâng con xin hết. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Bây giờ mình mới học thì mình chỉ đi từ từ, mình thấy những cái trước từ từ mình thấy cái tế. Ví dụ như ngồi đây mình nhớ về cái căn nhà của mình, nhớ về đứa con của mình, anh em gì đó thì cái hình bóng ở trong tâm của mình là mình nhận rõ phải không? Cái đó nhận rõ phải không? Cái đó là tưởng nhưng mà trong khi mình ngồi thiền có khi mình thấy tâm mình rất là yên lặng, nó rất là rỗng lặng nhưng mình ngồi mình để ý cái lưng thì nó có cái hình bóng của cái lưng, cái đó cũng là tưởng nữa đó. Bây giờ mình không có chú trọng tới mấy cái tưởng vi tế làm chi, mình chỉ chú trọng tới những cái tưởng dục, những cái tưởng sân, những cái tưởng bản ngã, mình phá mấy cái tưởng đó.
Những cái tưởng mà nó đưa đến dục thì mình phá cái tưởng đó, mình hướng cái tâm mình đến ly dục, những cái tưởng mà nó hướng đến về hình bóng của giận thì mình phá cái hình bóng giận đó, mình đưa cái hình bóng thương vô, hiểu thương vô. Những cái tưởng về hơn thua, về tranh chấp, về ta đây thì mình phá những cái hình bóng đó, mình đưa cái bóng sự khiêm cung, khiêm hạ, diệt ngã, chú trọng ở đây là được rồi, còn những cái tưởng vi tế thì từ từ chứ không thôi nhiều quá là lúc đó mình rối lên. Những cái tưởng bình thường thì cho qua không cần quan trọng, nhưng cái tưởng nào mà nó là tham, sân, si, dục ái, bản ngã là mình phải nhiếp phục, chế ngự và đánh đuổi nó ra khỏi tâm, vậy là được.
Pháp tưởng là mình hồi tưởng lại những cái cảm giác trước kia mà mình đã từng trải qua, những cái hình bóng trước kia, những cái suy nghĩ trước kia. Thí dụ như mình nghe nói rằng trưa nay ăn cơm bún bì, sườn chả chay thì có hình bóng không? Hình bóng đó là tưởng, do lúc trước mình đã tiếp xúc cái món đó rồi, tiếp xúc bằng mắt, mình tiếp xúc bằng mũi, mình tiếp xúc bằng miệng cho nên bây giờ khi nói cái món đó thì lập tức cái tưởng đó sanh khởi lên, có cái thọ, cái cảm giác lúc trước mình đã từng ăn, mình có cái suy nghĩ về cái món đó, cái đó là pháp tưởng, pháp tư. Đó là những hình bóng, những cái cảm giác, những cái suy nghĩ trước kia bây giờ mình hồi tưởng trở lại.
Hồi tưởng lại cái món cơm bì, sườn chả chay thì có cái hình bóng, có cái cảm giác, nó có suy nghĩ và đương nhiên là tiếp tục có một cái ngũ uẩn này sẽ có ngũ uẩn thứ hai, có ngũ uẩn thứ ba, có ngũ uẩn thứ tư, nó cứ tiếp tục như thế. Nếu mình không dừng lại là nó nhảy tiếp tục vậy đó, chúng nó sanh khởi cho nên gọi là chúng sanh. Chúng sanh là chúng nó cứ sanh khởi hoài nên gọi là chúng sanh, chính vì chúng nó sanh khởi sắc, sanh khởi thọ, sanh khởi tưởng, sanh khởi hành, sanh khởi thức, chúng nó sanh khởi hoài nên mới có ra mình ngồi đây, nếu cái đó không sanh khởi, nó tịch tịnh thì không có những sanh khởi ra những thân hình này cho nên các bậc thánh đạt được diệt thọ; tưởng; định, tâm bất động giải thoát.
Tại sao nó có sanh khởi? Vì nó có ham, nó thích, nó muốn cho nên nó có sanh khởi. Mình muốn ăn món nào thì món đó trong tâm mình hiện hoài không? Nếu mình không có muốn món gì hết thì nó có hiện không? Nó có nghĩ cái đó không? Nó theo cái chiều hướng của cái thọ đó, cái thích, cái muốn đó, hoặc là cái giận, cái tức, cái tầm, cái tứ đó, nó hướng tâm về cái đó, nó bám theo đối tượng đó. Và những hình bóng, những suy nghĩ, những cái nhận thức đó, những cái cảm giác đó cứ chập chờn hoài cho nên mình tác ý phá trừ cái tâm tham muốn, thích, khoái, nắm giữ trong đó thì từ từ nó nhả ra, từ từ nó mở ra, từ từ nó cắt ra, từ từ nó tháo ra, từ từ nó thoát ra, từ từ tâm mình sẽ được bình an. Mình ngồi đâu là êm ru đó, không còn chạy lăng xăng, nó an tịnh và lắng dịu.
Giới tử 7: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con bạch sư phụ lúc nãy thì con cũng run quá cũng chưa hỏi được nhiều. Con cũng xin hỏi sư phụ vài câu ạ, mọi khi trước đây chúng con hay gọi "nam mô A-di-đà phật" bây giờ thì chúng con có còn gọi nam mô A-di-đà phật nữa không ạ? Hay là chúng con phải niệm "Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật" là câu thứ nhất của con. Câu thứ hai là khi chúng con xuống núi thì chúng con nên thỉnh kinh Phật gì hay là tham khảo về Phật gì để chúng con học hỏi thêm. Câu thứ ba của con là trong tâm con thì con thấy con hiền nhưng mà cái hiền của con là hiền ngu dốt, ngu si, mê muội chứ không phải là hiền về trí tuệ cho nên con muốn nhờ sư phụ dạy thêm, chỉ dẫn thêm cho con và tất cả chư vị ở đây hiểu thêm và biết thêm ạ vì lúc sư phụ dạy thì không biết hồn vía con đi lang than ở đâu, con cũng chẳng biết nữa, con cũng không có hiểu thấm lắm. Bây giờ thì lần lần con mới thấm, con cũng hỏi thêm sư phụ dạy thêm cho chúng con được hiểu. Dạ con cảm ơn sư phụ, cảm ơn tất cả.
Sư Phụ: Mình niệm Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, chữ nam mô là quy mạng, con đem hết tất cả sinh mạng của mình quay về nương tựa với Đức Phật. Thích-Ca Mâu-Ni là Đức Phật sáng lập ra Phật giáo, là khai tổ ra Phật giáo, là Đức Phật gốc cho nên gọi là bổn sư, Phật bổn sư. Chữ bổn sư là gốc rễ của đạo Phật cho nên mình niệm Đức Phật bổn sư là nó chính đáng để mình nhớ nguồn, nhớ cội, nhớ gốc, nhớ rễ, nhớ vị khai tổ khai sáng ra đạo Phật.
Học kinh sách thì theo tinh thần ở đây thì chỉ nghiên cứu kinh tạng Nikāya, cô cần thì xin hỏi quý thầy sẽ gửi cho về học và lên trên trang linhquyphapan.vn trên đó có nhiều kinh sách, mình sẽ đọc những cái quyển nào dễ hiểu như "Pháp Hành Nikāya Căn Bản" những cái quyển sách "Tu Như Thế Nào", "Tâm Từ Vi Diệu", "Tâm Hỷ ngọt ngào", "Tâm Hiền Vạn An". Những cái căn bản đó đủ cho mình tu tập, hoặc là "Ai Thân Mình Nhất" để giải tỏa cho mình thấy được rõ cái nghiệp quả, những cái căn bản là vậy.
Câu hỏi cuối cô là tâm hiền thì tâm hiền đó vi tế lắm, không có đơn giản như mình nghĩ. Tâm hiền ở trong kinh Nikāya dùng cái chữ hiền giả hay là hiền trí là cũng gồm chung với Hiền thánh luôn, cái chữ hiền giả, chư hiền ở trong kinh Nikāya là chỉ cho các bậc thánh. Thành ra mình mới kêu cái từ là hiền thánh Tăng, muốn đi tới chữ thánh thì chữ hiền ở phía trước, chữ Hiền ở đây thì chúng ta mấy hôm nay cũng có thực tập các bài thiền, sắp tới từ đây tới ngày cuối chúng ta cũng sẽ có một hai buổi quý thầy sẽ mở cho mình thực tập hành thiền tâm hiền.
Về cái phần tâm hiền này con có chia sẻ rất là nhiều, mấy chục bài lận, khoảng hai mươi bài gồm có những bài pháp học và pháp hành luôn thì các vị chịu khó ngoài cái giờ, hoặc là sau này khi về nhà rồi, hoặc là ở lại đây thì vẫn mở ra thực hành. Thực hành tâm hiền như đất, tâm hiền như nước, tâm hiền như gió, tâm hiền như lửa, thực hành tâm hiền như là một người ăn xin, thực hành tâm hiền giống như là một cái nùi giẻ chùi chân, đó là những pháp tu của tôn giả Xá-lợi-phất. Khi mình an trú được cái tâm hiền này nó mình dễ chịu lắm cho nên hôm nay ngồi đây con đặt cho hai cây này luôn là cây hiền với cây từ.
Một cây là cây hiền, cây sau cây từ nhầm nhắc nhở chúng ta nhớ tâm hiền và tâm từ, ở đây cũng có cái tên nữa muốn kêu cho dễ thương là cây mát dịu, cây dễ chịu cũng được. nếu mình ngồi ngoài nắng đó mình có chịu được không? Mình ngồi dưới đây mình thấy mát dịu, mình thấy dễ chịu, đây là tâm hiền, tâm hiền đến đâu là làm cho người ta dễ chịu đến đó, người có tâm hiền thì những cái người đến gần mát dịu. Nếu mà ở đây mọi người không có tâm hiền chúng ta có còn ở tới đây mười ngày không hay là mới ba ngày chạy tuốt? Nhiều khi được chỉ một ngày, bữa sau chạy luôn cũng chừng nếu mà không có tâm hiền, phải không? Nhất trí không? Cho nên tâm hiền là sự sống, là lẽ sống, là nguồn sống, là sinh lực, là sự sinh tồn của người tu chúng ta, người tu mà không có tâm hiền thì giống như cái xác mà không có hồn, người ta chạy mất dép hết, mới vô nhìn thấy la hét là chạy ráo rồi.
Nhờ chư Tăng, chư Ni ở đây có tu cái tâm hiền cho nên ở núi rừng xa vắng mà được các giới tử, được các hiền trí thương yêu về đây quay quần cùng tu với nhau mát mẻ, ấm áp, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương. Cho nên tu tâm hiền này tuyệt vời lắm, mỗi bước chân của mình phải tập tâm hiền, bước cái bước cho nó nhẹ nhàng không có bước xẹp xẹp, không có lấy dép của người khác, nói chuyện không có ăn to nói lớn, thậm chí là tới cái lúc khó chịu mình vẫn có thể nhiếp được cái cảm thọ, chế ngự được cái cảm thọ và mình phải nhớ tác ý "hiền nha thọ, thọ hiền nha thọ". Mỗi ngày đều cho uống sữa ông thọ tức là tâm hiền cho thọ uống sữa chứ không phải uống lon sữa ông Thọ kia đâu, tức là cho cái tâm hiền uống sữa, cho nó uống nước, cho nó bồi bổ, cho nó chất dinh dưỡng. Chúng ta nuôi đó từ cái bước chân, từ cái lời nói, từ cái mình nhất cử nhất động, hành xử của mình.
Trong kinh Niệm Xứ nói một người tu khi đi phải rõ biết mình đang đi, khi ngồi biết rõ mình đang ngồi, khi nằm biết rõ mình đang nằm, thân thể sử dụng như thế nào phải biết rõ đang sử dụng như thế đó. Đưa tâm hiền vào, đưa cái tâm tỉnh giác chánh niệm vào khi nói, khi nín, khi yên lặng, khi thức, khi ngủ, tất cả đều phải có sự rõ biết, sự chánh niệm tỉnh thức và làm cho nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, hiền thiện, đó là Tứ Niệm Xứ, Thân Hành Niệm đó, là niệm thân trên thân. Nhiều khi mình đọc Tứ Niệm Xứ chứ mình không biết cái chỗ đó là Đức Phật dạy tâm hiền, sự tỉnh giác và chánh niệm đưa sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu vào để làm cho thân tâm mình khinh an, nhẹ nhàng, bao gồm thất giấc chi trong phần niệm thân ở trên thân của Tứ Niệm Xứ.
Từng cử chỉ, từng hành động, từng ngôn ngữ, từng lời nói của mình luôn làm cho nó lắng dịu, cho nó an tịnh, cho nó dễ chịu. Nhiều khi mình ở đây hai trăm người mà khách vô nói "Ủa sao im ru không nghe gì hết?", đó là tâm hiền, hai trăm người mà không nghe tiếng động, hai trăm người mà bưng cơm, bưng mình bát đi nhẹ nhàng, ở nhà mình chừng hai người là ồn rồi. Có hai người thôi nhưng lúc đầu thì tôi nói bà nghe, bà nói thì tôi nghe, lúc sau thì cả hai nói cho cả xóm nghe cho nên mình tu tâm hiền là mình trở về một cái sự hết sức bình an, mình ít có mất sức lắm, mình không có tiêu hao năng lượng nhiều.
Có những cái thứ mà nó không có ra gì hết mà mình làm cho nó rùm beng lên, kiếm chuyện lên, gây sự lên và làm cho mình đau khổ. Còn mình tu tâm hiền là mình hóa cái lớn thành nhỏ, hóa cái nhỏ thành không, hóa cái giữ thành cái lành, hóa cái lành thành cái chỗ thượng thiện. Dù cho mình bực bội, khó chịu mà mình có tâm hiền thì có gì đâu, cái thọ thôi mà, thọ mà có gì đâu, mát dịu đi. Không lẽ mình còn thua cái cây này nữa hay sao? Cái cây cũng biết tỏa bóng mát cho người ta, tỏa không khí trong lành cho người ta thở mà tại sao mình đi tới đâu người ta khó thở tới đó vậy. Mình tác ý vậy đó rồi từ từ người mọi lại gần mình dễ chịu, mát chịu, hiền lành, dễ thương, mới đi tu có một khóa về má hỏi:
Con đi tu ở đâu con đi tu núi nào?
Núi Linh Quy đó.
Dẫn mẹ đi với. Sao đi tu về thấy con hiền quá, dễ thương quá, ngoan và hiếu thảo quá.
Từ ở bên ngoài đầu tiên cái hành động của mình tập cho nó nhẹ, nó chậm, kế đó là lời nói mình giảm bớt sự khó chịu ở trong lời nói, sau đó sâu vô trong ý nghĩ mình tập nghĩ hiền, tập cái tưởng hiền và sâu nhất là mình đưa vô trong cái thọ hiền. Cái thọ đó là gốc rễ, mỗi ngày phải ở nhà phải mở bài tâm hiền lên thực tập ít nhất một ngày một thời, có những bài thiền tập và tâm hiền thì mình tập như vậy lần lần ở trong cái thọ của mình hiền rồi, lắng dịu, an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào rồi thì cái nghĩ sẽ nghĩ theo chiều hướng hiền. Khi mình nghĩ về người cha, hay mẹ, hay anh em, vợ chồng của mình, mình sẽ nghĩ theo chiều hướng thiện của người ta, lúc trước mình không có cái thọ hiền mình nghĩ theo chiều hướng bất thiện của người kia, mình nghĩ theo cái chiều hướng khó chịu, bực bội, cái chiều hướng xấu của người ta không à, nói cái tốt của người ta hay nói xấu của người ta nhiều? Đó là cái thọ không hiền cho nên mới để ý những cái chiều hướng bất thiện, cái tâm nghiêng vô cái chiều hướng nào thì nó đi theo cái chiều hướng đó.
Mình nói ra những cái lời để làm cho mình với người khó chịu, tự nhiên lúc đầu vô ngồi bắt tay thân thiện nhưng nói một hồi là sân hận lên, có khi đập bàn đập ghế, đập chén đập tô. Khổ chưa đủ sao còn kiếm chuyện, gây chuyện cho khổ nữa? Cho nên khi cái thọ mình hiền rồi mình sẽ nghĩ hiền, khi cái suy nghĩ mình hiền rồi con mắt mình hiền nhìn bằng thiện cảm, lỗ tai mình nghe theo cái chiều hướng hiểu được nỗi khổ của mọi người chung quanh, cái mũi mình cũng hiền, cái miệng mình càng hiền, cái thân mình nó càng hiền. Như vậy mình tu tập sáu căn này nó an trú ở trong cái tâm hiền, trong cái hành hiền, trong cái thọ hiền, trong cái tưởng hiền, trong cái thức hiền, trong cái thân hiền, vi tế, vi diệu và tuyệt vời lắm.
Xung quanh mình là đất lành chim đậu, chúng ta thấy ở đây càng ngày chim về càng đông, hót rầm rộ hết trơn, hót vang dội hết cả núi rừng. Hồi đó con lên đây không có, lúc mới lên không có, do quý thầy, quý cô tu tâm hiền, tâm từ nó lan tỏa trời đất hay sao mà chim về quá chừng, chẳng những chim về mà người về nữa. Đó là nhờ cái tâm hiền đó.
Giới tử 7: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bậc sư phụ, kính thưa quý vị hiền trí có mặt ở đây. Dạ con xin có câu hỏi dựa trên cái pháp thoại của thầy vừa rồi về cái chuyện tâm hiền, tại vì bản thân con khi đi làm hoặc khi có người yêu hay gì đó thì con cũng hiền như cục bột vậy đó, người yêu chửi con cũng nghe, sếp chửi con cũng nghe. Con im lặng thì vô tình cái sự im lặng và cái sự hiền đó của con làm người ta càng nổi sân hơn, người ta càng giận hơn thì đó có phải là cái con đang an tịnh, con đang hiền đó là tạo nghiệp cho người ta hay không thì mong thầy giải đáp thêm giùm con ạ. Dạ con cảm ơn ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Thật ra không phải đâu, không phải, không phải cái hiền của mình mà làm cho người ta tạo nghiệp, cái này là chuyện không có thể xảy ra. Đức Phật nói không thể có một cái ý nghĩ hiền, lời nói hiền, hành động hiền mà đưa đến quả báo khổ là điều này không thể xảy ra. Một ý nghĩ ác, một lời nói ác, một hành động ác bất thiện mà lại đem tới cái quả báo an lạc là sự kiện này không thể xảy ra, mình phải tin nhân quả. Tại sao vậy? Vì có khả năng những ci người đó là oan gia trái chủ của mình cho nên mình làm kiểu gì người ta cũng bực bội hết, mà may là bình hiền đó chứ nếu mình giữ thì mình lãnh đủ.
May là mình là một cái tâm hiền thiện mà họ còn như vậy, nếu mà mình dữ giống họ nữa thì giờ này mình không biết có ngồi đây để tu không? Sợ ngồi ở trên cao cho nên khi mình hiểu được cái nghiệp quả tuyệt vời lắm, nó giải mã được tất cả mọi sự việc trong cuộc đời này, mọi người nghe thêm loạt bài Mật Mã Thế Giới, bài đó con có chia sẻ nhiều. Trong cuộc đời của mình sẽ gặp hai đối tượng đặc biệt, một là mới gặp người ta thương liền, hai là mới gặp cái ghét liền, vậy thì hai cái đối tượng này là hai đối tượng đặc biệt cần phải chú ý, cần phải chăm sóc thật kĩ, còn có đối tượng thường thường thì thôi. Như vậy hai cái đối tượng này đều có cái duyên sâu với mình, có những trường hợp chưa nói gì hết đã thấy người ta bực mình, khó chịu rồi có những trường hợp vừa gặp cũng là yêu, là thương, nhận chị em nuôi, anh em, cô chú bác gì đó hay là rước về ở chung gia đình, lặp gia đình với nhau.
Cái vấn đề của giới tử này là người này một khi họ đã có cái sự khó chịu, bực bội với mình, có những cái nghiệp từ quá khứ mà mình không thấy, không biết được cho nên mình sẽ gặp hai đối tượng một là cái đối tượng lại đòi nợ, hai là đối tượng trả nợ. Như vậy nếu mà cái đối tượng đi đến trả cho mình thì mình dễ biết không? Kiểu gì họ cũng đi theo họ giúp hết, họ cũng theo họ lo hết đó, có mắng chửi làm gì họ cũng đi theo lo hết trơn, một cái đối tượng nữa là luôn luôn gây sự với mình dù cho mình không có lỗi gì hết, cái này là đến đòi nợ. Hồi nãy là đến trả thì bây giờ mình trả sớm hay trả muộn, trả trước hay trả sau gì cũng trả hết vậy có nên vui vẻ để trả không? Vui lòng trả mà bây giờ sân hận lên thì cũng trả mà sợ cái nợ nó còn tăng.
Mình phải đặc biệt chẳng những tu tâm hiền với người này mà còn tu tâm từ với họ nữa, đây là một bước để hóa giải, tu tâm hiền chưa đủ, đối với đối tượng những cái đối tượng đó là phải tu tâm từ. Nghĩa là thật sự là mình hiểu, cảm thông và thương họ, mà thương họ chính là thương mình, nếu mình không thương họ thì mình mệt lắm, mệt mình lắm tại vì họ là chủ nợ mà, họ có quyền đòi. Bây giờ với cái cách trả của mình, chẳng những mình trả mà mình phải còn có lời nữa thì như vậy cái lời đó là đem cái tâm từ của mình để chăm sóc và quan tâm, làm cho họ cảm nhận được cái tình thương của mình, không phải là quá mức nhưng cũng phải để cho họ cảm nhận được là mình rất là trân trọng, trân quý họ, rất là thương họ thì lần lần có thể hóa giải được.
Con xin thưa là cái này bản thân con có rất nhiều luôn, rất là nhiều, những người ta ghét, chửi mình nhưng mà tự nhiên sau này người ta lại quỳ khóc, người ta tự khai luôn thì con ói "dạ con cũng không biết, mô Phật con không có thời gian, mắc học pháp. Dạ vậy con cảm ơn". Mình không có thời gian để đi lo ngóng, đi nghe, kiếm ai chửi mình, mệt lắm, không có thời gian, khổ gần chết lo chạy lẹ lẹ đang thoát ra khỏi cái thế giới đầy vô minh, sân hận, ở đó đi kiếm chuyện làm gì, tự tìm phiền não để làm cái giống gì. Cho nên giờ trở lại vấn đề là mình đem cái tâm từ mình đối đãi với họ, nghe kỹ cái bài từ vô lượng tâm, phải làm cho khéo nha, thí dụ họ chửi đã rồi, mình thấy trưa nóng quá mình kiếm ly nước mát mời uống, café sữa đá hay chanh dây mời uống bằng tất cả tấm lòng chân thành chứ không phải mình mỉa mai. Nhớ kỹ cái chỗ này, ở gia đình, ở đâu cũng có hết là mình dùng tâm hiền, tâm từ này.
Tâm hiền chặn đứng các cái nghiệp và tâm từ hóa giải nghiệp, hai cái tâm hiền, tâm từ này được thực hiện bằng cái chánh kiến, phải thấy được tất cả mình là nạn nhân của tham, sân, si và bản ngã, dục ái, thấy được cái điều đó thì mới thực hiện tâm hiền, tâm từ một cách viên mãn và tròn đầy, còn không có chánh kiến thì tu hai cái kia không có viên mãn, tới một mức độ nào đó thôi "tôi nhịn lần thứ nhất, nhịn lần thứ hai, quá tam tới lần thứ ba nhịn rồi tức nước vỡ bờ", bùng nổ hoặc là "từ thì cũng có mức độ chứ làm xá sao tôi chịu nổi". Đó là do có cái tôi, không thấy ngũ uẩn mà tu trong cái bản ngã thì nó sẽ nó bị giới hạn, nó không hóa giải được nghiệp chướng cho nên mình tu bằng cái chánh kiến cộng với cái tâm hiền và với một cái tâm từ hiểu thương sâu sắc về nỗi khổ của cuộc đời này thì có thể hóa giải được tất cả oan gia trái chủ, cựu thù chấp đối, nghiệp chướng vô lượng vô biên kiếp đều có thể hóa giải sạch sành sanh. Như vậy mới có thể đi đến chỗ hoàn toàn sạch hết nợ nần để bất hoàn, không còn trở lại thế gian này nữa, luôn cả bậc thánh.
Giới tử 8: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch thầy, con kính bạch các chư Tăng, chư Ni và các bậc hiền trí, con cũng rất may mắn là những cái thắc mắc của con về cái cảm thọ của con, tức là khi khổ quá con cũng rất xúc động. Khi con hiểu ra một cái chân lý gì được thầy chỉ dạy cho con cũng xúc động, con cứ như mở ra một cái trí tuệ gì đó con cũng xúc động, cả hai cái này là con đã được Ni sư, và nhất là cả cô Quý nữa cũng đã chỉ cho con. Bây giờ con cũng chỉ có một cái, có thể nó là không phải là câu hỏi nhưng mà con cũng có một cái suy nghĩ để con xin thầy, thứ nhất là sắp tới chúng con sẽ xuống núi cũng như hôm qua con nói là con sẽ mang cái cảm thọ này, cái trí tuệ thầy dạy cho chúng con cái tâm từ các cô, các thầy ở đây chúng con mang về để nuôi dưỡng nó trong mình. Tuy rằng không khoác cái áo này, đầu thì tóc nó sẽ mọc nhưng mà chúng con cố gắng giữ được cái hạnh đấy, con chỉ mong được như thế nhưng có một cái là chúng con cũng có mắt, có tai, có mũi, có mồm, có thân cho nên ở ngoài đời chúng con cũng vẫn phải xúc chạm.
Như thầy dạy con nghe được sáu bài tâm hiền của thầy con xúc động lắm vì con nhận ra giá trị của tâm hiền, con con nó cũng khó chịu với con thì con chỉ tác ý tâm hiền, tâm hiền, tâm hiền. Khi tác ý thì con cứ hơi cúi xuống thì tự nhiên là con nhẹ đi và một hồi thì con con nó lên xin lỗi, con thấy giá trị lắm thế nhưng mà còn một cái nữa là cái mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì chúng con không thể tránh khỏi nhìn sáu trần, con chỉ mới nhận ra một cái là khi cảm thấy khởi lên một cái cảm thọ gì đó thì con chỉ mới nghĩ được mỗi câu "không khó chịu, không thích thú… không thích thú không khó chịu" con chỉ mới nghĩ được thế thôi.
Sư Phụ: Đây con có mấy câu hỏi của sư cô con trả lời ngắn gọn cho nó xong cái buổi hỏi đáp này. Sư cô hỏi ngồi thiền lâu đau lưng, chân đau, tác ý thân đau mà tâm không đau nhưng mà nó vẫn không hết đau, giờ sao? Bây giờ không hết đau thì duỗi chân, mình tác ý là tác ý nhưng mà tới lúc cái thân chịu đựng không nổi nữa thì thôi, mình duỗi cái chân.
Khi tác ý là ý hành trong ngũ uẩn hay là một cái tâm nào khác tác ý? Khi mình tác ý thì cũng là ý hành nhưng có cái trí tuệ trong đó, chúng ta hiểu được cái chỗ này không? Nếu mình không được học thánh pháp thì mình biết gì đâu mà mình tác ý, nhưng mà do mình được học thánh pháp cho nên cái sự suy nghĩ của mình là một sự chủ động và nhìn thấy những cái tham, sân, si mà mình muốn đánh phá, muốn nhiếp phục, chế ngự, muốn thoát ra cho nên cái đó là bằng cái chánh kiến hướng dẫn cho mình tác ý thì cái đó là nhờ cái trí tuệ ở trong khi mình nghe pháp, mình hiểu được pháp, mình có một cái chủ động tác ý. Còn cái hành là nó suy nghĩ bình thường thôi, nó suy nghĩ theo vô minh, tham ái, chấp thủ của thường tình, còn cái tác ý là nó có chánh kiến, thấy rõ cái vấn đề theo chánh pháp và nó có một cái sự chủ động để đưa cái tâm đi ra khỏi những cái tham, sân, si, dục ái, bản ngã.
Hành trong năm quẩn và hành trong mười hai nhân duyên là hai loại hay là một? Chữ "hành" ở trong ngũ uẩn là suy nghĩ, còn hành ở trong mười hai nhân duyên gồm có thân hành, khẩu hành và ý hành. Như vậy thì cái hành trong ngũ uẩn thì nó chỉ là ý hành thôi nhưng mà cái hành ở trong mười hai nhân duyên là còn có khẩu hành và thân hành, tức là lời nói biểu hiện ra và hành động phát ra ở ngoài thân, còn cái hành ở trong hành uẩn là chỉ là trong suy nghĩ thôi.
Trong niệm sợi dây tái sanh con chưa hiểu "phàm những gì chấp thủ phương tiện tâm kiên trú thiên chấp tùy miên" có nghĩa là gì? Chấp thủ phương tiện tâm kiên trú thiên chấp tùy miên, cái này chịu khó quý vị nghe lại giùm con, những cái bài này con có giảng giải, trong cái thời giờ ở đây thì chỉ giải gọn thôi. Tức là những cái mà nó làm cho mình nắm giữ, chấp thủ phương tiện là những phương tiện nó làm cho mình nắm giữ, cái tâm mình kiên trú là nó cứ bám chắc vô trong đó, nó cứ nghiêng vô trong đó, nó miên mang ở trong đó nó không đi ra được. Thí dụ như cái nhà của mình có chấp không? Chiếc xe của mình có chấp không? Cái phòng của mình có chấp không? Cái thân này mình có chấp không? Cái thân này những cái phương tiện chấp thủ đó, tâm kiên trú là tâm mà nó nghiêng về cái thân này. Con mắt của mình có chấp không? Lỗ tai, cái mặt của mình mà ai chê xấu đau xấu đớn mình có khó chịu không, những cái đó là phương tiện để chấp thủ.
Cho nên mình thích cái đó, mình vui cái đó, mình khoái cái đó, mình ham cái đó thì nó trói cột vào trong những cái đó cho nên mình không thoát ra khỏi được cái vòng dây của tái sanh. Bây giờ mình muốn thoát ra, cắt đứt sợi dây tái sanh thì mình phải là cắt đứt những cái sự ham muốn, thích, khoái ở trong những sắc; thọ; tưởng; hành; thức, có khi Đức Phật trình bày bằng sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, có khi là những món đồ ở bên ngoài sắc; thanh; hương; vị; xúc, những cảm giác, những suy tư bên trong, tức là pháp trần. Căn – trần – thức – xứ – giới – uẩn, những cái gì mà khoan khoái, thích thú, dính mắt, trói cột trong đó mình cắt nó ra thì như vậy là mình cắt đứt được sợi dây tái sanh.
Giới tử 8: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính bạch sư phụ, các chư Tăng, chư Ni cùng các bậc hiền giả, con tên là Hiền Lan. Đầu tiên con đủ duyên để tham gia khóa tu xuất gia gieo duyên, con nhận được những bài giảng pháp của sư phụ để hiểu thêm về những lời dạy nguyên chất Đức Phật bổn sư Thích-ca, con vô cùng biết ơn. Trước khi lên đây con đã nguyện rời nhà, nhờ những lời dạy của sư phụ con đã quyết định quay trở về nhà để làm tròn bổn phận của mình, khi nào đủ duyên thì con quay lại và con cũng đã mời được mẹ con, chồng con và hai con của con lên vào chiều thứ sáu tới. Khi con đến đây thì con nhận được rất là nhiều lợi ích, bên cạnh những bài giảng pháp của sư phụ thì những sự chăm sóc của các chư Tăng, chư Ni cũng như các vị hành giả ở đây, con cảm thấy rất là biết ơn.
Con hình dung ra bao nhiêu lao tác từ những ngày đầu sư phụ về đây hỏi, con xin mãn phép có hai câu hỏi có thể không liên quan gì đến pháp nhưng mà con tin hai câu hỏi của con sẽ giúp nâng đỡ chúng con khi xuống núi. Trong buổi pháp đàm con cũng nghe về hành trình tu tập và thực hành pháp của các Tăng và các Ni, con cảm thấy có rất nhiều bài học ở trong đó cho nên hôm nay con xin mạn phép được sư phụ chỉ dạy chia sẻ lại hành trình một là lịch sử của chùa Linh Quy Pháp Ấn, thứ hai là hành trình của sư phụ để chúng con có thêm những bài học vững chải trong hành trình sắp tới. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Cứ tập nhận diện ngũ uẩn của mình, tập những cái bài tập và mình đã được học, tập trung vào cái cốt lõi sự tu tập. Ngồi đây chỉ là một cái nùi giẻ rách, ngồi đây chỉ là một cái bộ xương, Ở đây chỉ là đống tro chưa được đưa vào hỏa đài, không có gì đáng là lịch sử gì hết. Các vị quay trở về thực tập ba pháp, nhân diện ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si đó là quý vị tạo nên lịch sử cho chính mình, còn con chỉ là cát bụi khói mây trên cuộc đời, không có ai ngồi đây hết. Rồi con cũng sẽ trở thành cát bụi, thành khói mây và tất cả chúng ta ngồi đây rồi cũng sẽ trở về cát bụi, khói mây trong cuộc đời này. Tất cả chúng ta rồi tan nát, tan hoại, hoại diệt bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, hãy ghi nhớ điều đó đừng bao giờ quên, mình chẳng là ai cả, chẳng là cái gì cả trên cuộc đời này, chẳng có ai ở đây cả, chỉ là đất, nước, gió, lửa, chỉ là những cái đống tham lam, sân hận, si mê, bản ngã đang ngày đêm vận hành, hoạt động, thao túng và áp đảo chúng ta.
Tâm xả này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm xả này tỏ rộng
Khắp trời đất bao la.
./.