MỤC TIÊU CỦA NGƯỜI XUẤT GIA
SOI SÁNG NIKAYA 3
MỤC TIÊU CỦA NGƯỜI XUẤT GIA
Thích Minh Thành
Có ba vấn đề cần chia sẻ, người xuất gia phải kiên trì với mục tiêu, phải thấy rõ mục tiêu của mình đi đến đâu, chẳng hạn như muốn lên đỉnh núi thì phải biết rằng chỗ đến của mình là đỉnh núi, tập trung tâm ý, để dành sức lực, tận dụng thời gian chọn lựa con đường ngắn nhất, nhanh nhất, đúng nhất để lên đến đó chứ không ở dưới núi phân biệt cây này cây kia, cục đá này nhỏ, cục đá kia lớn, làm vậy mất hết thời gian, công sức mà không đến được mục tiêu, mình sử dụng tâm lực, sức lực, trí lực vào việc vô ích. Nếu không thấy được mục tiêu, không thấy được đích đến, không biết mình đang làm cái gì thì đời tu không đi đến đâu, cả một đời tu là để so sánh cái này cái kia và mình không đạt đến đỉnh núi cho nên người nhìn thấy được mục tiêu sẽ bỏ qua sỏi đá, cây cỏ ven đường, mình biết rằng sự xuất gia của mình là một cuộc xả ly vĩ đại, mình không có thời gian vào chùa để phân bua phải quấy hết người này đến người kia, đó là sự nhục nhã nhất vì mình không thấy được mình đi đến đâu, mình làm gì và chỗ đến của mình là gì. Phải ngày đem tâm niệm trong từng giờ từng phút, nhắn nhủ với lòng phải đi đến đích, sự xuất gia này phải có thành quả, không phải vào chùa để hơn thua, đúng sai với huynh đệ, Phật tử, đó là việc làm rất tồi tệ.
Khi có mục tiêu thì tất cả ngôn ngữ, hành động, cử chỉ của mình sẽ hướng đến mục tiêu đó, kiên trì với mục tiêu, nhắm thẳng mục tiêu, những thứ nhỏ nhặt bên đường không là gì nữa. Đối với người đã nhắm thẳng mục tiêu, hướng đến đỉnh núi để đi lên thì những thứ nhỏ nhặt này người ta không để tâm, còn người để tâm với thứ nhỏ nhặt thì người đó không thấy mục tiêu, vì thế nếu mình không khéo ở trong chùa sẽ đi lệch mục tiêu. Mình không nhìn thấy cha mẹ ở nhà đang đau khổ nhớ nhung, ông bà thân tộc mong mỏi đợi chờ mà mình vào chùa thân là người xuất gia mà tâm là người thế tục, mình phải ý thức được trọng trách lớn lao, nặng nề mà Thế Tôn gọi là gánh nặng của thiện pháp.
Mình đã thành tựu được giới nào chưa?
Mình đã vào được tầng thiền nào chưa?
Mình đã chứng nhập được trí tuệ sanh diệt các uẩn chưa?
Phải tự đặt câu hỏi cho bản thân, tại sao lại không lo trong khi đây là những điều đáng phải lo? Suốt ngày buồn người này giận người kia hờn người nọ từ thầy bạn, huynh đệ đến Phật tử. Mình phải quán chiếu, tác ý như vậy, luôn nhắc nhở nhủ lòng, tự mình chỉ trích, dò xét chính mình, đó là tu học theo kinh Nikāya, phải gội rửa những tập khí, thói quen của phàm phu tục tử, từ bỏ những thứ nhỏ mọn, nhỏ hẹp, phải mở tâm rộng ra để nhìn thấy đỉnh núi cao, đó là mục tiêu và lý tưởng tối thượng của sự giải thoát.
Mình đem tâm sân hận hơn thua để báo hiếu cha mẹ ư?
Mình đem cái phải quấy đúng sai về làm thành tích cho ông bà ư?
Mình đem những cái tham sân si, bản ngã để đền đáp Phật tổ, Tam Bảo, Đàn-na tín thí à?
Cho nên mình phải xác định được mục tiêu, lý tưởng và nơi mình hướng đến. Ngày nào cũng phải nhắc nhở bản thân, ngày nào cũng phải nhìn vào cái đầu trọc, đừng khóc lóc trong ngày đầu tiên xuống tóc xuất gia rồi sau này mỗi khi cạo tóc lại nhởn nhơ không có cảm xúc, phải là mỗi lần cạo tóc giống như lần đầu tiên được cạo tóc xuất gia, phải thao thức, ray rứt, phải dày vò tâm tư làm cho nó nhức nhói, xót xa, cảm thấy tội lỗi khi chánh hạnh chưa thành, chánh trí chưa đạt, chánh pháp chưa thể nhập. Khi đã ý thức sâu sắc điều đó thì tự động không có phiền não những thứ nhỏ nhặt, có như vậy mới tu tiến được còn mình cứ để những thứ nhỏ nhặt đó trong tâm thì suốt đời sự xuất gia của mình là trống rỗng, là trầm luân đọa lạc trong ác thú, đọa xứ và khổ cảnh. Phải nhìn thấy mục tiêu và lý tưởng cao thượng của người xuất gia.
Điểm thứ hai là phải nhìn thấy cảm thọ, chữ Tuệ tri trong kinh Tứ Niệm Xứ không chỉ đơn thuần chỉ là nhận biết mà còn là nhận biết cái thọ đó thuộc về thiện hay bất thiện. Trong bài kinh Song Tầm, Đức Phật chia tâm ra hai nhóm, tâm nào là những tư tưởng dục, sân, hại, tâm nào là tư tưởng vô sân, ly dục bất hại.
Chư Tỳ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Ta sống suy tư và chia hai suy tầm". Chư Tỳ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai. (Trung Bộ Kinh, 19. Kinh Song tầm).
Tức là phải biết phân biệt các thọ, thọ nào là thiện pháp thì phải tăng trưởng phát triển, cái thọ hân hoan hỉ lạc mới đi được vào sơ thiền, cái thọ thích thú mong muốn thì mạnh mẽ, tăng trưởng quảng đại là Dục Như Ý Túc, còn mình không phân biệt rõ các thọ thì hoa cũng như cỏ, làm cỏ chặt luôn cả hoa. Vì vậy những cảm thọ ác, bất thiện pháp của dục, sân si, vô minh, bản ngã, đố kị, hơn thua… phải cố gắng nỗ lực diệt tận nó, Đức Phật gọi là trì tâm trì chí, cắn chặt răng dùng tất cả sức lực trị nó, cho nên vấn để ở chỗ không phải chỉ nhận biết được các thọ rồi không làm gì nữa, không phải chỉ là quán sát mà quán sát chỉ là bước đầu tiên để nhận rõ lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ nhưng không dừng lại ở đó. Vì sao? Vì trong chánh tư duy có ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, chữ ly là động từ, khi có cảm thọ về dục thì không chỉ biết có cảm thọ về dục mà mình còn phải làm tất cả mọi thứ để thoát ra khỏi cảm thọ đó, gọi là ly dục tư duy, cũng là chánh tư duy, là Như lý tác ý, là tuệ lực, là tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm nỗ lực, đó cũng là một cố gắng mà các vị cần phải làm, tức là ly dục, ly tham, ly ác, bất thiện pháp, vì vậy chúng ta không dừng lại ở chỗ quán sát để biết thôi mà sau đó còn phải tác động tâm ý mạnh mẽ, vì dục, sân, bản ngã không phải là một thứ đơn giản như cỏ mà nắm lấy là nhổ lên được, nó là cây cổ thụ triệu năm cho đến vô lượng vô biên kếp trong thân tâm mình, các dòng cảm thọ của thân kiến, các dòng cảm thọ của dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, của những tham ái, chấp thủ là vô cùng khủng khiếp, nếu không sức mạnh trí tuệ, không có tín – tấn – niệm – định – huệ, không có sự đại dũng mãnh thì làm sao có thể đánh đổ cây cổ thụ ngàn vạn kiếp đó? Cho nên trong tu tập thường xảy nhầm lẫn tai hại, tưởng rằng cứ ngồi yên, cái gì sanh khởi lên thì quán sát rồi tự nó diệt nhưng không đơn giản như mình nghĩ, bây giờ có rắn độc bò vào kế mình rồi mình cứ ngồi quan sát nó, chờ nó bò ra hay sao?
Con đã đi qua các trường thiền lớn của Thái Lan, Myanmar, cũng hỏi thăm pháp tu ở Sri Lanka, từ đó mới thấy rằng mình phải vận dụng Tứ Chánh Cần và Tứ Như Ý Túc trong khi tu tập, đó là tinh thần căn bản trong sự tu tập. Trong tâm mình phải có sự ham muốn mãnh liệt để làm bản thân trong sạch khỏi các cấu nhiễm của thân tâm, cái muốn đó đẩy mình đi đến nỗ lực, dốc sức, trong sự nỗ lực, dốc sức đó mình còn phải để tâm nhìn kĩ làm như thế nào là đúng, là có kết quả trọn vẹn, sự để tâm đó cộng thêm sự thẩm sát, tư duy sâu sắc, thận trọng thì mới thành tựu như ý nguyện, đó là Tứ Như Ý Túc, tất cả các pháp thế và xuất thế muốn thành công phải có bốn yếu tố này, bất cứ thứ gì trên đời này dù cho đời hay đạo, thế gian hay xuất thế gian mà không có bốn cái này là không thành tựu, cho nên cái muốn tu hành là phải mạnh mẽ, phải nỗ lực hết sức. Bây giờ muốn nhìn ba loại cảm thọ là phải cả một sự để tâm, không phải dễ để nhìn ra chính xác đó là thọ nào, rồi phải nhìn trong thọ đó có tham sân si tùy miên không, sau khi nhìn ra phải có sự đối trị tương thích: Dùng bất tịnh, vô thường để trị tham dục, dùng từ tâm trị sân, si thì dùng ánh sáng, sự quán chiếu thánh trí huệ tác động để trừ diệt. Tại sao có những người tu được một thời gian là bị đơ, không muốn làm gì thậm chí không muốn nói chuyện? Đó là do không có tác ý mà chỉ tu chỉ, tâm không còn sắc bén, không còn hoạt bát, uyển chuyển trong ánh sáng của tuệ trí, mọi người phải để ý chỗ này, trước đây khi con thực tập theo đường lối khác cũng bị như vậy, không muốn nói, không muốn làm gì nữa mà chỉ thích im lặng, không tu thì thích hoạt động, còn tu thì thích yên lặng, cả hai cái này đều là thọ ái. Vì vậy đối với cảm thọ là cả một sự tu tập cực kì tế nhị và sâu sắc vì cảm thọ rất thâm sâu, không phải đơn giản mà có thể hiểu hết cảm thọ, ngoài mặt là cung kính tu học nhưng sâu trong các lớp cảm thọ là ngầm chống đối, tất cả những cái này phải nhìn thấy được, trong các giờ thiền định phải để tâm lắng dịu rồi tìm ra cội gốc, nguyên nhân vấn đề và bắt đầu phân tích vấn đề. Giờ ngồi thiền là giờ phải phẫu những khối u, những thứ ung nhọt trong nội tâm, còn mình cứ ngồi im ru thì tham sân si, bản ngã, lậu hoặc còn y nguyên, thậm chí còn chưa nhìn thấy lậu hoặc thì làm sao trừ diệt. Vì vậy tu đúng theo tinh thần kinh Nikāya thì phải học hỏi, hành trì rất nhiều, phải có môi trường, đại chúng thích hợp, phải có sự hướng dẫn khích lệ.
Về pháp quán thì phải bám sát vào lời dạy của Đức Phật, Đức Phật dạy 6 khía cạnh trong Thân Hành Niệm và mình phải nắm thật vững 6 khía cạnh này: Niệm hơi thở; niệm oai nghi; niệm hành động; niệm tứ đại; niệm 32 thể trược và niệm 9 giai đoạn tử thi. Tu cái nào cho chắc chắn cái đó, an trú dài lâu trong cốt tưởng hoặc là niệm tử, niệm bất tịnh, trú trong đó thường xuyên và liên tục, càng lâu càng tốt, tư tưởng trống rỗng, vô ngã. Sự sợ hãi là ái, sợ mất thân kiến, cái sợ đó ít nhiều có ái trong đó, lắng tâm sâu xuống xem cảm thọ đó là gì vì trong tâm mình là cả một thế giới, không phải đơn giản mà có thể khám phá được thế giới nội tâm, nó đòi hỏi mình phải có sức định, lắng động sâu sắc, nhìn cho kĩ 32 thể trược, 9 giai đoạn của một xác chết phân hủy và những nhóm bất tịnh, trong đó là sự trống không, có khi mình òa lên và nước mắt tuôn chảy, cứ để cho cảm xúc đó tuôn trào, mỗi lần như vậy là chạm đến sự thật, chạm đến trí tuệ vô ngã, nếu cần thì tác ý để hỗ trợ. Mình tìm hiểu tại sao lại sợ, có phải cái kiến chấp về thân (thân kiến) này sợ bị mất đi, có phải nó ái, nó muốn còn hiện hữu (hữu ái), "nếu bỏ hết tất cả rồi mình làm sao?", "sắc; thọ; tưởng; hành; thức bỏ hết thì mình còn lại gì?", nhưng phải như vậy mới gọi là đoạn tận sanh tử, thành ra cứ nói đoạn tận sanh tử, chấm dứt sanh tử nhưng đến khi gần chạm đến lại sợ, vì thân kiến, cái ái luyến sợ mất hết, cho nên phải lắng tâm nhìn kĩ, quán xét, Như lý tác ý. Người chưa tu mà chỉ mới quán bất tịnh vài lần thì trong tâm chắc chắn chống đối "làm gì ghê quá, sao quán những cái này làm gì?", đi đến chỗ sâu sắc là xả bỏ cái thân, xả bỏ thọ; tưởng; hành; thức thì sâu bên trong thân kiến là sợ vì còn đang ái, hữu ái là ưa thích sự hiện hữu, sự có mặt. Đây mới là chỗ thâm sâu của pháp.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có gì phân biệt, có gì sai khác, có gì dị biệt giữa bậc Hiền và kẻ ngu?
Này các Tỳ-kheo, bị vô minh che đậy và bị tham ái hệ phược, thân này của người ngu được sanh khởi. Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ. Vì sao? Này các Tỳ-kheo, người ngu sống Phạm hạnh không phải vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy người ngu, khi thân hoại mạng chung, đi đến một thân khác. Do đi đến một thân khác, người ấy không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: "Người ấy không thoát khỏi đau khổ".
Và này các Tỳ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân người Hiền trí được sanh khởi. Vô minh ấy, người Hiền trí đoạn tận. Tham ái ấy, người Hiền trí tận trừ. Vì sao? Này các Tỳ-kheo, người Hiền trí sống Phạm hạnh, vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy, người Hiền trí, khi thân hoại mạng chung, không đi đến một thân khác. Do không đi đến một thân khác, vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: "Vị ấy thoát khỏi đau khổ".
Này các Tỳ-kheo, đây là sự phân biệt, đây là sự sai khác, đây là sự dị biệt giữa bậc Hiền trí và người ngu. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Đồ Ăn, XIX. Bậc Hiền So Sánh Với Kẻ Ngu)
Sự khác biệt giữa người ngu và hiền trí được Thế Tôn trình bày trong bài kinh này rất thâm sâu, thậm chí nếu tu cả đời mà không được học, không được nghe thì mình sẽ không hiểu sự khác biệt giữa kẻ ngu và bậc hiền trí trong pháp và luật của Như Lai. Từ vô minh che đậy, từ sự tham ái hệ phược trói cột mà có thân này của người ngu, người ngu tu hành Phạm hạnh không đi đến mục đích giải thoát sanh tử, chính vì vậy mới có những cái thân tiếp nối tái diễn trong tương lai rồi lại sầu, bi, khổ, ưu, não. Bây giờ tu đa số làm muốn đời sau tốt hơn đời này, được hưởng cái này cái kia. Còn bậc hiền trí cũng do vô minh che đậy, từ sự tham ái hệ phược trói cột mà có thân của người hiền trí, nhưng vô minh ấy, tham ái ấy được người trí đoạn tận cho nên những đời sống tiếp nối không hiện hữu nên bậc hiền trí chấm dứt sanh tử, chấm dứt sầu, bi, khổ, ưu, não. Vô minh là không biết ngũ uẩn này là vô thường, là khổ đau, là trống rỗng, tai họa, nguy hiểm, chính vì chỗ không biết không thấy tính chất, bản tánh của nó nên mới ưa thích, đam mê, khao khát, dính mắc, chấp thủ… Chính vì vậy mà thân của người ngu được sanh khởi, tất cả những sự nỗ lực siêng năng tu hành của người ngu không phải để chấm dứt sanh tử, không phải để giải thoát ngũ uẩn mà sản sanh ra những thân sau rồi tiếp tục trong vòng sanh tử luân hồi, còn bậc hiền trí cũng vô minh, tham ái nên cũng có thân nhưng họ đoạn tận vô minh, tham ái bằng sự nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, Tứ Như Ý Túc, ngũ căn ngũ lực, họ dùng 37 phương pháp giác ngộ hỗ trợ để đạt đến sự đại thành công, đại thành quả, đại thành tựu. Bậc hiền trí diệt tận vô minh ấy, chấm dứt khát ái ấy và họ đoạn tận sanh tử khổ đau, không còn tiếp diễn cái thân nữa. Câu hỏi đặt ra là được bao nhiêu người có được kiến thức nhận định như vầy, chưa nói đến sự thực tập hành trì? Chỉ mới là sự nhận thức cho đúng về giải thoát sanh tử là như thế nào đã là hiếm có, vì thế khi nghe bài kinh này con rúng động toàn thân. Vô lượng vô biên kiếp trong sanh tử chưa chắc mình đã được nghe bài kinh này, chưa chắc được biết những lời thâm sâu, những trí tuệ này lấy một lần chứ đừng nói đến sau này có khả năng kinh sách bị diệt vong. Đời này mình không Nhập lưu mà tu theo kiểu gieo duyên, tu lơ là, qua loa thì đời sau có biết mình có được thân người không, nếu được làm người thì mình có được nghe chánh pháp nữa hay không cho nên mới nói chánh pháp khó nghe là vậy, vì gặp được chánh pháp đã khó, gặp được người biết chánh pháp còn khó hơn. Đức Phật đã nói một trong những báu vật quý hiếm trên đời là người nghe hiểu và giải thích đúng chánh pháp. Nhìn lại sự tu học bây giờ và mình đã tu bao nhiêu năm nên mới thấy thánh pháp khó nghe, khó được gặp, khó hiểu và cực kì khó hành trì, nhưng mình đã có những cái này thì tại sao không nỗ lực dồn hết tâm sức để thành tựu? Còn nếu sanh ra đời sau thì pháp này còn nữa không? Thế giới thành hoại trăm ngàn lần, vô số đại kiếp mới có một bậc Chánh Đẳng Giác nữa xuất hiện thì mới được nghe lại lời này chứ không phải dễ dàng mà nghe được chánh pháp cho nên đọc kinh không được đọc qua loa, đọc cho có mà phải đọc bằng thiền quán, tập trung tất cả tâm ý khi đọc kinh, nghe pháp, hành trì. Cho nên vào thời Đức Phật khi nghe ngài giảng thuyết mà có rất nhiều vị Tỳ-kheo chứng Sơ quả cho đến Tứ quả A-la-hán ngay trong lúc nghe pháp vì họ tập trung tất cả tâm ý, chú tâm, lắng tâm, để tâm vào pháp, mỗi lần nghe như vậy là mỗi lần tâm khảm mình được tô đậm lại, thánh trí huệ được rực sáng trong thân tâm, khắc sâu vào trí não hột giống trí huệ để thể nhập vào đó.
Như vậy theo lời Đức Phật dạy trong bài kinh này, người còn ưa thích thân, ưa thích đời sau là người ngu, còn người đoạn tận vô minh và khát ái để không còn thân tiếp nối là bậc hiền trí. Theo như lời Đức Phật định nghĩa trong kinh thì trên đời này được mấy người? Bậc hiền trí theo Đức Phật định nghĩa phải từ thánh quả thứ nhất (Tu-đà-hoàn) cho đến thánh quả tối cao (A-la-hán). Thành tựu thánh quả thứ nhất đã là vị phải có niềm tịnh tín bất động, không muốn có thân này nữa, phá thân kiến, như vậy thì tối thiểu là bậc hướng Dự lưu, bốn đôi tám chúng, ngoài cái này không phải là bậc hiền trí. Cho nên chúng ta phải cố gắng ý thức sâu sắc đời tu rất quý báu, cao thượng, mình nghe được, biết được, thực hành được thánh pháp là rất quý, thật không dễ gì gặp được thánh pháp trong thời đại này nên phải phát khởi cái tâm tác ý cung kính, tôn trọng, đảnh lễ pháp bảo, Thế Tôn, cung kính những bậc thiện tri thức, những bậc đồng Phạm hạnh đã chia sẻ, chỉ dạy, truyền trao, khích lệ, hướng dẫn mình tu tập. Phải nuôi dưỡng, tưới tẩm sự tác ý đó, phải được tăng trưởng phát triển cho đến khi nào tịnh tín bất động mới thôi, nếu không thì rất nguy hiểm. Những tập khí, thói quen, những cái tâm bất chánh, nghiệp lực, nghiệp chướng của mình sẽ đào thải mình ra khỏi dòng pháp Bát Chánh, chính cái đó đào thải mình chứ không phải ai đào thải mình. Những tâm tư chống đối bất thiện, những cái bản ngã, sân si, dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu chống đối và đẩy mình rơi xuống biển sanh tử, nó đẩy mình rớt xuống vực thẳm của thần chết, nó đẩy mình lún xuống đầm lầy của ái dục, vô minh không có ngày ra. Hiện tại làm gì có ai nói những pháp này cho mình nghe, càng ngày chánh pháp càng mờ nhạt, càng phai nhòa và dần đi đến chỗ diệt tận, không thể càng ngày chánh pháp càng rực sáng được, theo lời Đức Phật dạy là như vậy cho nên mình phải tha thiết, chân thành, nỗ lực, để tâm, phải bỏ hết tất cả thế lợi để tâm hướng cầu tịch tịnh. Hãy vứt bỏ mọi thế lợi, lợi ích tầm thường của thế gian mà mình đã từng có trong trăm ngàn vạn tỉ lần.
Hãy vứt bỏ mọi thế lợi tâm hướng cầu tịch tịnh!
Dập tắt của tất cả vô minh và khát ái, tham sân si và bản ngã đối với ngũ uẩn, với đời sống này, với thân xác vô thường, bất tịnh, tạm bợ như bong bóng nước này. Hãy tha thiết và chân thành, nhiệt huyết và dũng mãnh, mạnh mẽ, hân hoan và hạnh phúc, vui sướng và hãnh diện, nỗ lực và quyết tâm trên con đường này, trên thánh đạo này, trên đạo lộ này.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
MỤC TIÊU CỦA NGƯỜI XUẤT GIA
Thích Minh Thành
Có ba vấn đề cần chia sẻ, người xuất gia phải kiên trì với mục tiêu, phải thấy rõ mục tiêu của mình đi đến đâu, chẳng hạn như muốn lên đỉnh núi thì phải biết rằng chỗ đến của mình là đỉnh núi, tập trung tâm ý, để dành sức lực, tận dụng thời gian chọn lựa con đường ngắn nhất, nhanh nhất, đúng nhất để lên đến đó chứ không ở dưới núi phân biệt cây này cây kia, cục đá này nhỏ, cục đá kia lớn, làm vậy mất hết thời gian, công sức mà không đến được mục tiêu, mình sử dụng tâm lực, sức lực, trí lực vào việc vô ích. Nếu không thấy được mục tiêu, không thấy được đích đến, không biết mình đang làm cái gì thì đời tu không đi đến đâu, cả một đời tu là để so sánh cái này cái kia và mình không đạt đến đỉnh núi cho nên người nhìn thấy được mục tiêu sẽ bỏ qua sỏi đá, cây cỏ ven đường, mình biết rằng sự xuất gia của mình là một cuộc xả ly vĩ đại, mình không có thời gian vào chùa để phân bua phải quấy hết người này đến người kia, đó là sự nhục nhã nhất vì mình không thấy được mình đi đến đâu, mình làm gì và chỗ đến của mình là gì. Phải ngày đem tâm niệm trong từng giờ từng phút, nhắn nhủ với lòng phải đi đến đích, sự xuất gia này phải có thành quả, không phải vào chùa để hơn thua, đúng sai với huynh đệ, Phật tử, đó là việc làm rất tồi tệ.
Khi có mục tiêu thì tất cả ngôn ngữ, hành động, cử chỉ của mình sẽ hướng đến mục tiêu đó, kiên trì với mục tiêu, nhắm thẳng mục tiêu, những thứ nhỏ nhặt bên đường không là gì nữa. Đối với người đã nhắm thẳng mục tiêu, hướng đến đỉnh núi để đi lên thì những thứ nhỏ nhặt này người ta không để tâm, còn người để tâm với thứ nhỏ nhặt thì người đó không thấy mục tiêu, vì thế nếu mình không khéo ở trong chùa sẽ đi lệch mục tiêu. Mình không nhìn thấy cha mẹ ở nhà đang đau khổ nhớ nhung, ông bà thân tộc mong mỏi đợi chờ mà mình vào chùa thân là người xuất gia mà tâm là người thế tục, mình phải ý thức được trọng trách lớn lao, nặng nề mà Thế Tôn gọi là gánh nặng của thiện pháp.
Mình đã thành tựu được giới nào chưa?
Mình đã vào được tầng thiền nào chưa?
Mình đã chứng nhập được trí tuệ sanh diệt các uẩn chưa?
Phải tự đặt câu hỏi cho bản thân, tại sao lại không lo trong khi đây là những điều đáng phải lo? Suốt ngày buồn người này giận người kia hờn người nọ từ thầy bạn, huynh đệ đến Phật tử. Mình phải quán chiếu, tác ý như vậy, luôn nhắc nhở nhủ lòng, tự mình chỉ trích, dò xét chính mình, đó là tu học theo kinh Nikāya, phải gội rửa những tập khí, thói quen của phàm phu tục tử, từ bỏ những thứ nhỏ mọn, nhỏ hẹp, phải mở tâm rộng ra để nhìn thấy đỉnh núi cao, đó là mục tiêu và lý tưởng tối thượng của sự giải thoát.
Mình đem tâm sân hận hơn thua để báo hiếu cha mẹ ư?
Mình đem cái phải quấy đúng sai về làm thành tích cho ông bà ư?
Mình đem những cái tham sân si, bản ngã để đền đáp Phật tổ, Tam Bảo, Đàn-na tín thí à?
Cho nên mình phải xác định được mục tiêu, lý tưởng và nơi mình hướng đến. Ngày nào cũng phải nhắc nhở bản thân, ngày nào cũng phải nhìn vào cái đầu trọc, đừng khóc lóc trong ngày đầu tiên xuống tóc xuất gia rồi sau này mỗi khi cạo tóc lại nhởn nhơ không có cảm xúc, phải là mỗi lần cạo tóc giống như lần đầu tiên được cạo tóc xuất gia, phải thao thức, ray rứt, phải dày vò tâm tư làm cho nó nhức nhói, xót xa, cảm thấy tội lỗi khi chánh hạnh chưa thành, chánh trí chưa đạt, chánh pháp chưa thể nhập. Khi đã ý thức sâu sắc điều đó thì tự động không có phiền não những thứ nhỏ nhặt, có như vậy mới tu tiến được còn mình cứ để những thứ nhỏ nhặt đó trong tâm thì suốt đời sự xuất gia của mình là trống rỗng, là trầm luân đọa lạc trong ác thú, đọa xứ và khổ cảnh. Phải nhìn thấy mục tiêu và lý tưởng cao thượng của người xuất gia.
Điểm thứ hai là phải nhìn thấy cảm thọ, chữ Tuệ tri trong kinh Tứ Niệm Xứ không chỉ đơn thuần chỉ là nhận biết mà còn là nhận biết cái thọ đó thuộc về thiện hay bất thiện. Trong bài kinh Song Tầm, Đức Phật chia tâm ra hai nhóm, tâm nào là những tư tưởng dục, sân, hại, tâm nào là tư tưởng vô sân, ly dục bất hại.
Chư Tỳ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Ta sống suy tư và chia hai suy tầm". Chư Tỳ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai. (Trung Bộ Kinh, 19. Kinh Song tầm).
Tức là phải biết phân biệt các thọ, thọ nào là thiện pháp thì phải tăng trưởng phát triển, cái thọ hân hoan hỉ lạc mới đi được vào sơ thiền, cái thọ thích thú mong muốn thì mạnh mẽ, tăng trưởng quảng đại là Dục Như Ý Túc, còn mình không phân biệt rõ các thọ thì hoa cũng như cỏ, làm cỏ chặt luôn cả hoa. Vì vậy những cảm thọ ác, bất thiện pháp của dục, sân si, vô minh, bản ngã, đố kị, hơn thua… phải cố gắng nỗ lực diệt tận nó, Đức Phật gọi là trì tâm trì chí, cắn chặt răng dùng tất cả sức lực trị nó, cho nên vấn để ở chỗ không phải chỉ nhận biết được các thọ rồi không làm gì nữa, không phải chỉ là quán sát mà quán sát chỉ là bước đầu tiên để nhận rõ lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ nhưng không dừng lại ở đó. Vì sao? Vì trong chánh tư duy có ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, chữ ly là động từ, khi có cảm thọ về dục thì không chỉ biết có cảm thọ về dục mà mình còn phải làm tất cả mọi thứ để thoát ra khỏi cảm thọ đó, gọi là ly dục tư duy, cũng là chánh tư duy, là Như lý tác ý, là tuệ lực, là tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm nỗ lực, đó cũng là một cố gắng mà các vị cần phải làm, tức là ly dục, ly tham, ly ác, bất thiện pháp, vì vậy chúng ta không dừng lại ở chỗ quán sát để biết thôi mà sau đó còn phải tác động tâm ý mạnh mẽ, vì dục, sân, bản ngã không phải là một thứ đơn giản như cỏ mà nắm lấy là nhổ lên được, nó là cây cổ thụ triệu năm cho đến vô lượng vô biên kếp trong thân tâm mình, các dòng cảm thọ của thân kiến, các dòng cảm thọ của dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, của những tham ái, chấp thủ là vô cùng khủng khiếp, nếu không sức mạnh trí tuệ, không có tín – tấn – niệm – định – huệ, không có sự đại dũng mãnh thì làm sao có thể đánh đổ cây cổ thụ ngàn vạn kiếp đó? Cho nên trong tu tập thường xảy nhầm lẫn tai hại, tưởng rằng cứ ngồi yên, cái gì sanh khởi lên thì quán sát rồi tự nó diệt nhưng không đơn giản như mình nghĩ, bây giờ có rắn độc bò vào kế mình rồi mình cứ ngồi quan sát nó, chờ nó bò ra hay sao?
Con đã đi qua các trường thiền lớn của Thái Lan, Myanmar, cũng hỏi thăm pháp tu ở Sri Lanka, từ đó mới thấy rằng mình phải vận dụng Tứ Chánh Cần và Tứ Như Ý Túc trong khi tu tập, đó là tinh thần căn bản trong sự tu tập. Trong tâm mình phải có sự ham muốn mãnh liệt để làm bản thân trong sạch khỏi các cấu nhiễm của thân tâm, cái muốn đó đẩy mình đi đến nỗ lực, dốc sức, trong sự nỗ lực, dốc sức đó mình còn phải để tâm nhìn kĩ làm như thế nào là đúng, là có kết quả trọn vẹn, sự để tâm đó cộng thêm sự thẩm sát, tư duy sâu sắc, thận trọng thì mới thành tựu như ý nguyện, đó là Tứ Như Ý Túc, tất cả các pháp thế và xuất thế muốn thành công phải có bốn yếu tố này, bất cứ thứ gì trên đời này dù cho đời hay đạo, thế gian hay xuất thế gian mà không có bốn cái này là không thành tựu, cho nên cái muốn tu hành là phải mạnh mẽ, phải nỗ lực hết sức. Bây giờ muốn nhìn ba loại cảm thọ là phải cả một sự để tâm, không phải dễ để nhìn ra chính xác đó là thọ nào, rồi phải nhìn trong thọ đó có tham sân si tùy miên không, sau khi nhìn ra phải có sự đối trị tương thích: Dùng bất tịnh, vô thường để trị tham dục, dùng từ tâm trị sân, si thì dùng ánh sáng, sự quán chiếu thánh trí huệ tác động để trừ diệt. Tại sao có những người tu được một thời gian là bị đơ, không muốn làm gì thậm chí không muốn nói chuyện? Đó là do không có tác ý mà chỉ tu chỉ, tâm không còn sắc bén, không còn hoạt bát, uyển chuyển trong ánh sáng của tuệ trí, mọi người phải để ý chỗ này, trước đây khi con thực tập theo đường lối khác cũng bị như vậy, không muốn nói, không muốn làm gì nữa mà chỉ thích im lặng, không tu thì thích hoạt động, còn tu thì thích yên lặng, cả hai cái này đều là thọ ái. Vì vậy đối với cảm thọ là cả một sự tu tập cực kì tế nhị và sâu sắc vì cảm thọ rất thâm sâu, không phải đơn giản mà có thể hiểu hết cảm thọ, ngoài mặt là cung kính tu học nhưng sâu trong các lớp cảm thọ là ngầm chống đối, tất cả những cái này phải nhìn thấy được, trong các giờ thiền định phải để tâm lắng dịu rồi tìm ra cội gốc, nguyên nhân vấn đề và bắt đầu phân tích vấn đề. Giờ ngồi thiền là giờ phải phẫu những khối u, những thứ ung nhọt trong nội tâm, còn mình cứ ngồi im ru thì tham sân si, bản ngã, lậu hoặc còn y nguyên, thậm chí còn chưa nhìn thấy lậu hoặc thì làm sao trừ diệt. Vì vậy tu đúng theo tinh thần kinh Nikāya thì phải học hỏi, hành trì rất nhiều, phải có môi trường, đại chúng thích hợp, phải có sự hướng dẫn khích lệ.
Về pháp quán thì phải bám sát vào lời dạy của Đức Phật, Đức Phật dạy 6 khía cạnh trong Thân Hành Niệm và mình phải nắm thật vững 6 khía cạnh này: Niệm hơi thở; niệm oai nghi; niệm hành động; niệm tứ đại; niệm 32 thể trược và niệm 9 giai đoạn tử thi. Tu cái nào cho chắc chắn cái đó, an trú dài lâu trong cốt tưởng hoặc là niệm tử, niệm bất tịnh, trú trong đó thường xuyên và liên tục, càng lâu càng tốt, tư tưởng trống rỗng, vô ngã. Sự sợ hãi là ái, sợ mất thân kiến, cái sợ đó ít nhiều có ái trong đó, lắng tâm sâu xuống xem cảm thọ đó là gì vì trong tâm mình là cả một thế giới, không phải đơn giản mà có thể khám phá được thế giới nội tâm, nó đòi hỏi mình phải có sức định, lắng động sâu sắc, nhìn cho kĩ 32 thể trược, 9 giai đoạn của một xác chết phân hủy và những nhóm bất tịnh, trong đó là sự trống không, có khi mình òa lên và nước mắt tuôn chảy, cứ để cho cảm xúc đó tuôn trào, mỗi lần như vậy là chạm đến sự thật, chạm đến trí tuệ vô ngã, nếu cần thì tác ý để hỗ trợ. Mình tìm hiểu tại sao lại sợ, có phải cái kiến chấp về thân (thân kiến) này sợ bị mất đi, có phải nó ái, nó muốn còn hiện hữu (hữu ái), "nếu bỏ hết tất cả rồi mình làm sao?", "sắc; thọ; tưởng; hành; thức bỏ hết thì mình còn lại gì?", nhưng phải như vậy mới gọi là đoạn tận sanh tử, thành ra cứ nói đoạn tận sanh tử, chấm dứt sanh tử nhưng đến khi gần chạm đến lại sợ, vì thân kiến, cái ái luyến sợ mất hết, cho nên phải lắng tâm nhìn kĩ, quán xét, Như lý tác ý. Người chưa tu mà chỉ mới quán bất tịnh vài lần thì trong tâm chắc chắn chống đối "làm gì ghê quá, sao quán những cái này làm gì?", đi đến chỗ sâu sắc là xả bỏ cái thân, xả bỏ thọ; tưởng; hành; thức thì sâu bên trong thân kiến là sợ vì còn đang ái, hữu ái là ưa thích sự hiện hữu, sự có mặt. Đây mới là chỗ thâm sâu của pháp.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có gì phân biệt, có gì sai khác, có gì dị biệt giữa bậc Hiền và kẻ ngu?
Này các Tỳ-kheo, bị vô minh che đậy và bị tham ái hệ phược, thân này của người ngu được sanh khởi. Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ. Vì sao? Này các Tỳ-kheo, người ngu sống Phạm hạnh không phải vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy người ngu, khi thân hoại mạng chung, đi đến một thân khác. Do đi đến một thân khác, người ấy không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: "Người ấy không thoát khỏi đau khổ".
Và này các Tỳ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân người Hiền trí được sanh khởi. Vô minh ấy, người Hiền trí đoạn tận. Tham ái ấy, người Hiền trí tận trừ. Vì sao? Này các Tỳ-kheo, người Hiền trí sống Phạm hạnh, vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy, người Hiền trí, khi thân hoại mạng chung, không đi đến một thân khác. Do không đi đến một thân khác, vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: "Vị ấy thoát khỏi đau khổ".
Này các Tỳ-kheo, đây là sự phân biệt, đây là sự sai khác, đây là sự dị biệt giữa bậc Hiền trí và người ngu. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Đồ Ăn, XIX. Bậc Hiền So Sánh Với Kẻ Ngu)
Sự khác biệt giữa người ngu và hiền trí được Thế Tôn trình bày trong bài kinh này rất thâm sâu, thậm chí nếu tu cả đời mà không được học, không được nghe thì mình sẽ không hiểu sự khác biệt giữa kẻ ngu và bậc hiền trí trong pháp và luật của Như Lai. Từ vô minh che đậy, từ sự tham ái hệ phược trói cột mà có thân này của người ngu, người ngu tu hành Phạm hạnh không đi đến mục đích giải thoát sanh tử, chính vì vậy mới có những cái thân tiếp nối tái diễn trong tương lai rồi lại sầu, bi, khổ, ưu, não. Bây giờ tu đa số làm muốn đời sau tốt hơn đời này, được hưởng cái này cái kia. Còn bậc hiền trí cũng do vô minh che đậy, từ sự tham ái hệ phược trói cột mà có thân của người hiền trí, nhưng vô minh ấy, tham ái ấy được người trí đoạn tận cho nên những đời sống tiếp nối không hiện hữu nên bậc hiền trí chấm dứt sanh tử, chấm dứt sầu, bi, khổ, ưu, não. Vô minh là không biết ngũ uẩn này là vô thường, là khổ đau, là trống rỗng, tai họa, nguy hiểm, chính vì chỗ không biết không thấy tính chất, bản tánh của nó nên mới ưa thích, đam mê, khao khát, dính mắc, chấp thủ… Chính vì vậy mà thân của người ngu được sanh khởi, tất cả những sự nỗ lực siêng năng tu hành của người ngu không phải để chấm dứt sanh tử, không phải để giải thoát ngũ uẩn mà sản sanh ra những thân sau rồi tiếp tục trong vòng sanh tử luân hồi, còn bậc hiền trí cũng vô minh, tham ái nên cũng có thân nhưng họ đoạn tận vô minh, tham ái bằng sự nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, Tứ Như Ý Túc, ngũ căn ngũ lực, họ dùng 37 phương pháp giác ngộ hỗ trợ để đạt đến sự đại thành công, đại thành quả, đại thành tựu. Bậc hiền trí diệt tận vô minh ấy, chấm dứt khát ái ấy và họ đoạn tận sanh tử khổ đau, không còn tiếp diễn cái thân nữa. Câu hỏi đặt ra là được bao nhiêu người có được kiến thức nhận định như vầy, chưa nói đến sự thực tập hành trì? Chỉ mới là sự nhận thức cho đúng về giải thoát sanh tử là như thế nào đã là hiếm có, vì thế khi nghe bài kinh này con rúng động toàn thân. Vô lượng vô biên kiếp trong sanh tử chưa chắc mình đã được nghe bài kinh này, chưa chắc được biết những lời thâm sâu, những trí tuệ này lấy một lần chứ đừng nói đến sau này có khả năng kinh sách bị diệt vong. Đời này mình không Nhập lưu mà tu theo kiểu gieo duyên, tu lơ là, qua loa thì đời sau có biết mình có được thân người không, nếu được làm người thì mình có được nghe chánh pháp nữa hay không cho nên mới nói chánh pháp khó nghe là vậy, vì gặp được chánh pháp đã khó, gặp được người biết chánh pháp còn khó hơn. Đức Phật đã nói một trong những báu vật quý hiếm trên đời là người nghe hiểu và giải thích đúng chánh pháp. Nhìn lại sự tu học bây giờ và mình đã tu bao nhiêu năm nên mới thấy thánh pháp khó nghe, khó được gặp, khó hiểu và cực kì khó hành trì, nhưng mình đã có những cái này thì tại sao không nỗ lực dồn hết tâm sức để thành tựu? Còn nếu sanh ra đời sau thì pháp này còn nữa không? Thế giới thành hoại trăm ngàn lần, vô số đại kiếp mới có một bậc Chánh Đẳng Giác nữa xuất hiện thì mới được nghe lại lời này chứ không phải dễ dàng mà nghe được chánh pháp cho nên đọc kinh không được đọc qua loa, đọc cho có mà phải đọc bằng thiền quán, tập trung tất cả tâm ý khi đọc kinh, nghe pháp, hành trì. Cho nên vào thời Đức Phật khi nghe ngài giảng thuyết mà có rất nhiều vị Tỳ-kheo chứng Sơ quả cho đến Tứ quả A-la-hán ngay trong lúc nghe pháp vì họ tập trung tất cả tâm ý, chú tâm, lắng tâm, để tâm vào pháp, mỗi lần nghe như vậy là mỗi lần tâm khảm mình được tô đậm lại, thánh trí huệ được rực sáng trong thân tâm, khắc sâu vào trí não hột giống trí huệ để thể nhập vào đó.
Như vậy theo lời Đức Phật dạy trong bài kinh này, người còn ưa thích thân, ưa thích đời sau là người ngu, còn người đoạn tận vô minh và khát ái để không còn thân tiếp nối là bậc hiền trí. Theo như lời Đức Phật định nghĩa trong kinh thì trên đời này được mấy người? Bậc hiền trí theo Đức Phật định nghĩa phải từ thánh quả thứ nhất (Tu-đà-hoàn) cho đến thánh quả tối cao (A-la-hán). Thành tựu thánh quả thứ nhất đã là vị phải có niềm tịnh tín bất động, không muốn có thân này nữa, phá thân kiến, như vậy thì tối thiểu là bậc hướng Dự lưu, bốn đôi tám chúng, ngoài cái này không phải là bậc hiền trí. Cho nên chúng ta phải cố gắng ý thức sâu sắc đời tu rất quý báu, cao thượng, mình nghe được, biết được, thực hành được thánh pháp là rất quý, thật không dễ gì gặp được thánh pháp trong thời đại này nên phải phát khởi cái tâm tác ý cung kính, tôn trọng, đảnh lễ pháp bảo, Thế Tôn, cung kính những bậc thiện tri thức, những bậc đồng Phạm hạnh đã chia sẻ, chỉ dạy, truyền trao, khích lệ, hướng dẫn mình tu tập. Phải nuôi dưỡng, tưới tẩm sự tác ý đó, phải được tăng trưởng phát triển cho đến khi nào tịnh tín bất động mới thôi, nếu không thì rất nguy hiểm. Những tập khí, thói quen, những cái tâm bất chánh, nghiệp lực, nghiệp chướng của mình sẽ đào thải mình ra khỏi dòng pháp Bát Chánh, chính cái đó đào thải mình chứ không phải ai đào thải mình. Những tâm tư chống đối bất thiện, những cái bản ngã, sân si, dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu chống đối và đẩy mình rơi xuống biển sanh tử, nó đẩy mình rớt xuống vực thẳm của thần chết, nó đẩy mình lún xuống đầm lầy của ái dục, vô minh không có ngày ra. Hiện tại làm gì có ai nói những pháp này cho mình nghe, càng ngày chánh pháp càng mờ nhạt, càng phai nhòa và dần đi đến chỗ diệt tận, không thể càng ngày chánh pháp càng rực sáng được, theo lời Đức Phật dạy là như vậy cho nên mình phải tha thiết, chân thành, nỗ lực, để tâm, phải bỏ hết tất cả thế lợi để tâm hướng cầu tịch tịnh. Hãy vứt bỏ mọi thế lợi, lợi ích tầm thường của thế gian mà mình đã từng có trong trăm ngàn vạn tỉ lần.
Hãy vứt bỏ mọi thế lợi tâm hướng cầu tịch tịnh!
Dập tắt của tất cả vô minh và khát ái, tham sân si và bản ngã đối với ngũ uẩn, với đời sống này, với thân xác vô thường, bất tịnh, tạm bợ như bong bóng nước này. Hãy tha thiết và chân thành, nhiệt huyết và dũng mãnh, mạnh mẽ, hân hoan và hạnh phúc, vui sướng và hãnh diện, nỗ lực và quyết tâm trên con đường này, trên thánh đạo này, trên đạo lộ này.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.