Quán Chiếu Tứ Đại & Phá Chấp Thủ -Tôi - Của Tôi (Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 1)
NIKĀYA GIẢNG GIẢI
QUÁN CHIẾU TỨ ĐẠI
&
PHÁ CHẤP THỦ - TÔI - CỦA TÔI
(ĐẠI KINH VÍ DỤ DẤU CHÂN VOI 1)
–Thích Minh Thành–
Làm mà không có cẩn thận thì nó vậy đó, đó cũng là một pháp cho mình học, tất cả cái việc gì mình làm không được xem thường, mình nghĩ nó là dễ nhưng khi đụng chuyện không có dễ và một cái chuyện rất dễ nhưng mình coi thường cũng sẽ trở thành rất là khó. Cái tính xem thường của mình là một trong những cái tính mình sẽ tu không được, là một trong ba mươi ba pháp đóng cửa Dự Lưu tức là tính bất cẩn. Đức tính quan trọng nhất của thiên chủ Đế-thích là cái tính cẩn trọng mới có thể cai quản được ba mươi ba cung điện, tam thập tâm thiên nên thường thường chúng ta thất bại là vì chúng ta xem thường và những việc hết sức bình thường vẫn có thể thất bại như thường vì chúng ta xem thường.
Cho nên trong cái công việc hằng ngày chúng ta tu là tu ngay trong những công việc này. Khi công việc mình nhìn nhận nó như vậy thì khi học pháp mình cũng nhìn nhận nó như vậy, khi học pháp mình nhận nhìn nhận vậy thì khi mình công phu cũng nhìn nhận như vậy. Chính như vậy mà con thấy có một số vị tu học nó chưa có được bao nhiêu nhưng khi nói ra là thấy như mình tới nơi rồi, cái này rất nguy hiểm tức là mình biết bằng tưởng tri, cái này mình sẽ tu không tới đâu hết, học cũng không tới luôn, dù cho mình rất là cố gắng, rất là thiết tha, rất là nhiệt huyết trong sự tu học nhưng vì cái tính không cẩn trọng cộng với cái tưởng tri và một cái bản ngã mình sẽ rất dễ hiểu lầm và cho rằng mình đã được trong khi mình chưa được. Có rất là ít mà mình tưởng rất nhiều, mình còn rất là cạn mà mình tưởng mình đã sâu lắm rồi và cái này nó sẽ giết chết mình, không có đi lên được thánh đạo.
Mình đọc cái đức cẩn trọng rất là hay, con thấy trong chúng mình cũng có những vị hết sức là khiêm cung, khiêm hạ và con vẫn học của các vị đó. Nhiều khi từ các thầy, các cô cho đến các vị cư sĩ, hiền trí làm được rất là nhiều, cũng tu rất là khá nhưng người ta không có thể hiện, người ta ẩn mình. Đây là những cái đức hạnh để cho mình học cho nên là khiêm tốn một đời còn chưa đủ, tự cao một chút là đã quá nhiều. Ngày xưa bậc đạo sư dạy cho con nhưng mà học trò đệ tử của con ngài quỳ lạy ở ngoài đường, đó là thầy Pháp Nghĩa chứng kiến, ngài quỳ lạy ở đầu đường của Cô Phong Đảnh này. Ngài gặp bất cứ một vị thầy nào là ngài quỳ lạy, đây là một cái đức hạnh khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn.
Suốt cuộc đời của mình đừng nghĩ rằng mình đã học thuộc rồi, biết rồi nhưng mình làm chưa có được nhưng mà không có nghĩa rằng là khiêm nhường là nhu nhược. Những lúc cần mạnh với trí tuệ, với nhiệt tâm, với sự quả quyết, xác quyết thì mình rất là mạnh mẽ, con thấy từ bản thân con đến trong đại chúng của chúng ta chưa ai có đủ sức tiếp nối, còn phải nỗ lực rất là nhiều, ngay bản thân con dốc hết sức rồi mà con thấy là chưa, còn một cái chặng đường rất là dài, rất là nỗ lực, kiên trì. Tâm mình dễ xem thường lắm, thí dụ như mình đến một cái chỗ nào đó lúc đầu mình rất là cung cung kính kính, phép phép tắc tắc nhưng ở thời gian rồi mấy cái đó mình lướt qua. Khi mình học một cái pháp nào đó lúc đầu mình rất là phấn khởi, rất là hoan hỉ, rất là thích thú, nhưng học một thời gian rồi mình chán, xem thường "cái đó tôi biết rồi, tôi học rồi, nói hoài à".
Tu cũng vậy nữa, mình tu một cái pháp như sám hối diệt ngã, quán bất tịnh, tâm từ, lúc đầu thì mình thích thú, mình cảm xúc, dạt dào cảm xúc lắm, thời gian sau là "cái này tôi biết rồi, tôi làm rồi, hiểu rồi" thì những cái này nguy hiểm. Người mà có cái ý vậy không có diệt được những cái cho là đủ, người này không có thể có chân đứng trong pháp và luật, học qua chơi cho biết vậy thôi, nói cho vui vậy thôi. Học để tăng thêm kiến thức, nói cho hay, thể hiện cái ta, ngã kiến, kiến thức của ta, ta học như vậy, ta biết như vậy, ta hiểu như vậy thì vẫn còn đứng ngoài cửa, chưa nhập đạo được cho nên cái đức cẩn trọng là quan trọng, tuyệt đối quan trọng. Tánh con hết sức cẩn thận mà con cứ bị sai sót, bị thiếu xót, bị lỗi lầm hoài, tự trách mình rất là nhiều, chỉ cần một cái ý hành sanh khởi lên mà mình không có cẩn trọng thôi nó qua mặt mình vù vù.
Ngay cả bây giờ ở trên núi một năm, hai năm, ba năm, năm năm mà con nhìn thấy cũng là ở ngoài cửa, có những vị con đâu có dám góp ý gì đâu vì góp ý là phựt lên, xù lông lên, nhiều khi trước mặt con luôn mà tráo trở, trước mặt đại chúng vậy đó nhưng mà người đó không có nhìn thấy được ngũ uẩn của họ. Học cái pháp này sâu sắc lắm, cho lên sám hối thì nói lỗi của người mà mình sám hối, nói câu sau đá câu trước. Khi mình không có nhận diện ngũ uẩn mình không có thấy, mà mình có thấy cũng thấy phớt phớt, mình thấy không có hết, thấy được một góc thôi, thấy được một hai cạnh thôi. Ví dụ như nó là bát giác mà mình chỉ nhìn thấy được hai góc, ba góc thôi, còn năm - sáu góc kia, năm - sáu cạnh kia mình không thấy. Mình là một con người dễ tự mãn thì mới nhìn được có một góc, hai góc, ba góc là nói giỏi lắm rồi "lại đây tôi dạy cho", muốn dạy người này, dạy người kia.
Mình hoan hỉ thì rất là tốt, phải có chất bổ dưỡng nuôi sự tu học nhưng mà mình không có ưu tư vì hỷ ưu là hai cái pháp song song với nhau, nó sẽ làm cho mình tự mãn, hài lòng, bằng lòng những thiện pháp rất là bé nhỏ. Con nói nhỏ hết sức nhỏ, con nói chú Tân mà đi vắng là không ai làm được, nay là năm năm y như vậy, chúng ta thấy không, có một việc hết sức nhỏ mà không cẩn trọng, không làm được thì huống hồ gì tới pháp vô lậu, vô vi, có những cái mà nó vô tướng, nó nhỏ nhiệm, vi tế và nếu mà chúng ta cứ phớt phới thì chết rồi. Y như rằng bữa nào chú Tân về là trục trặc vì khi có chú thì những người làm chung này rất là ỷ lại, xem thường, cũng vậy bậc đạo sư còn thì mình ỷ lại bậc đạo sư, khi ngài mất đi rồi lúc đó mình dựa vô ai. Bây giờ con cùng với chư tô, chư hiền cùng tu với nhau, cùng nương qua nương lại với nhau, lỡ vô thường tới con có tai nạn gì đó, con bị câm, bị liệt nằm một chỗ không nói được nữa rồi sao?
Mình phải đặt vô những cái hoàn cảnh như vậy, những cái trường hợp như vậy, bất ngờ, đột ngộ, thình lình bị nạn, bệnh hoạn, chết chóc như vậy thì mình mới phá được cái cảm thọ an toàn, cảm giác an toàn, cảm giác thường thường, cảm giác trơ trơ, cái cảm giác đơ đơ, cảm giác lơ tơ mơ, si si, hôn hôn, ám ám. Phải quán cái vô thường mới phá được bất khổ bất lạc thọ, nhiều khi nó nhỏ nhiệm lắm, rất là nhỏ nhiệm, chúng ta phải đề chữ "Khổ Luyện Thành Tài". Cái xúc của mình nó khủng khiếp lắm, gửi cái gì không vừa lòng là văng ra khỏi nhóm liền cho nên mình thấy tu cái tâm hiền, cái tâm an tịnh, lắng dịu là quan trọng. Tại sao bữa nào vô ngồi con cũng chia sẻ cùng chúng ta thực hành ba pháp, mười bữa là hết tám, chín bữa như vậy. Cái tâm phản trắc, cái tâm trở mặt nó khủng khiếp, không phải đợi tới lúc nó quay lại chửi mắng mình, phỉ báng mình thì cái đó quá thô rồi, cái này là một cái ý nghĩ, một cái cảm giác ở bên trong mình phải diệt tận nó.
Đó là cái mầm móng của rắn độc trong tâm, không vừa ý, không vừa lòng nó một cái thôi là quay lưng, là trở mặt chống đối, là nổi loạn. Chúng ta thấy những cái cảnh đau lòng, con ra nhịn nổi da gà, tim nhói hết trơn, người vợ mang thai sáu tháng mà chồng tạt xăng vô người đốt vợ, vụ khác thì lại tạt xăng vô người mẹ đốt mẹ đốt cha luôn, cậu cháu, anh em ruột với nhau mà đi nhậu say xỉn về bị nói là nó xử chết ngay tại chỗ, khủng khiếp không? Cho nên cái tâm phản trắc, phản phúc, cái tâm nổi loạn này là mầm mống của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cho nên phải diệt tận nó để đạt được cái tâm bất hại.
"Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỳ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: 'Khổ thọ khởi lên nơi tôi, thọ này thuộc tai xúc chạm, thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên, do nhân duyên gì? Do nhân duyên xúc'. Vị ấy thấy xúc là vô thường, thấy thọ là vô thường, thấy tưởng là vô thường, thấy hành là vô thường, thấy thức là vô thường. Tâm của vị này hoan hỉ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc giới đối tượng." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Nhiễu là nhiễu loạn, não là ưu não, là phiền não, tức làm cho mình bức rứt, bực bội, "Khổ thọ khởi lên nơi tôi, thọ này thuộc tai xúc chạm, thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên, do nhân duyên gì? Do nhân duyên xúc" cái sự tiếp xúc của lỗ tai, những sự mắng nhiếc, chọc tức, nhiễu não thì cái này là nhĩ xúc. Vị ấy thấy sự tiếp xúc của lỗ tai là nó vô thường, vị ấy thấy cái cảm thọ sanh khởi do lỗ tai tiếp xúc rất là vô thường, vị ấy thấy những cái tưởng từ khi lỗ tai tiếp xúc, nó nghe được là vô thường, vị ấy thấy những cái suy nghĩ này là vô thường, vị ấy thấy cái nhận thức để cho nó bực bội, tức tối là vô thường. Tâm của vị này hoan hỉ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định tùy thuộc giới đối tượng.
Nếu không đạt được tâm hiền thì làm sao tu nổi cái này? Thật ra khi con nói tu tâm hiền tám tháng là con nói cho mấy vị cư sĩ mới lên, còn cái tâm hiền này tu tám cho tới chết, mình nói tu tới chết người ta thấy lâu quá mình nói tám tháng trước rồi từ từ nâng lên thêm. Tâm hiền là tu tới chết, đó là mình ngắt ngang còn cái trình tự lúc đầu là quán tứ đại bên ngoài, quán tứ đại bên trong rồi mới đi được tới những cái này. Cả một cái công trình tu học quý vị ơi, các ngài ơi, chư tôn thiền đức ơi, không có đơn giản chút nào đâu.
Vì có lỗ tai, có cái tiếng đó, có sự rõ biết cái tiếng đó, có sự tiếp xúc của lỗ tai này mà cái tiếp xúc này nó là vô thường, nó là duyên sanh, cái cảm giác này cũng là duyên sanh, vô thường, những cái hình bóng này hiện khởi lên, những cái suy nghĩ chạy loanh quanh cũng là cái thứ duyên sanh, kết hợp, vô thường. Sau khi nhận thức biết cái đó là lời chửi mắng, chỉ trích, chọc tức, khinh khi, hủy nhục cũng là cái chuyện vô thường thôi, cái đồ duyên sanh thôi, đã tu tập từ lâu về cái trí vô ngã rồi, đã thực hành thuần thục về cái sự quán duyên sanh pháp rồi thì đâu có một cái người bị người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, huỷ nhục, nhiễu não đâu. Đây chỉ là tứ đại, đây chỉ là sắc uẩn thôi, đây với là sự vận hành của những cái đống khổ thôi, sự vận hành của tham, sân, si, bản ngã thôi.
Tâm của vị này hoan hỉ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định tùy thuộc giới đối tượng. Chúng ta nghĩ đó là cái pháp thành đó trong đại kinh ví dụ dấu chân voi, nếu một người còn cái tâm chống đối, còn cái tâm phản trắc, còn cái tâm hung dữ và một cái tâm bản ngã to lớn thì làm sao tu được? Tại sao bậc đạo sư nhấn đi nhấn lại, lập tới lập lui hai cái pháp quyết định để thể nhập vô dòng pháp này là tâm hiền và diệt ngã? Con thấy biết bao nhiêu người tự động rơi khỏi dòng pháp này là vì không có được tâm hiền, bản ngã rất cao là văng mau lắm, rất là mau, cái người hung dữ không có vô tu được cái pháp này đâu. Hung giữ không phải chỉ là cự cãi giống như ngoài đời đâu, thọ ở bên trong nó còn sôi nổi lắm, còn sôi động, còn sôi sục dữ lắm. Tu làm sao mà cái thọ đó lắng dịu xuống, mình cảm nhận được và người ở chung mình cảm nhận được, vì tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ mà mình không thấy cái thọ của mình thì giờ ai thấy, kêu ai chỉ cho mình được.
Tất cả là nhìn vô thọ hoài, suốt ngày, mỗi giờ, mỗi suy nghĩ, mỗi tư tưởng, đem cái máy dò mũi tên độc nằm ở chỗ nào mới mổ sẻ lấy ra được chứ, nhức nhói lắm chứ, đau nhức dữ lắm chứ. Thường thường có tài hay có tật, thường thường hay vậy, có tài mà không có tật thì người này sẽ thành cao Tăng, còn có tài không thì có thể cũng thành danh Tăng, danh Ni chứ không phải là cao Tăng, còn thánh Tăng thì còn xa lắm. Con chia ra làm danh Tăng, cao Tăng và thánh Tăng, cao Tăng là nói theo cái từ của Trung Quốc và bậc hiền thánh Tăng, bây giờ hiền thánh Tăng này phải bốn đôi tám chúng, cao Tăng trong hiện đại có thể người ta có giới đức, có đức độ, có đóng lớp nhiều mà chưa chắc thành tựu chánh tri kiến cho nên bậc đạo sư liệt vô ngoại học phàm phu vì vậy đi vào trong sâu sắc lắm.
"Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỳ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau: 'Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Hồi nãy mới có cái miệng thôi, mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não, bây giờ tới người khác xử sự không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng đậy xúc chạm, hoặc dùng gương xúc chạm, nói tiếng bây giờ là đánh, là dùng đá, gậy luyện, ném, đập, là dùng gươm đâm chém.
"Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: 'Chư Tỳ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy'. Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đãi. Niệm được an trú không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm thân này, mặc cho gậy xúc chạm thân này, mặc cho gươm xúc chạm thân này, lời dạy chư Phật cần phải được thực hành." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Sự thể của thân này là như vậy là sao? Cái thân này bản chất nó là như vậy, cái bản tánh nó là như vậy tại vì nó là tứ đại, nó là cái thứ kết hợp, nó là cái thứ do cha mẹ sanh, do tứ đại tác thành, được cơm cháo nuôi dưỡng, nó vô thường như vậy cho nên nó có thể bị xúc chạm, nó bị đá liệng, nó bị gậy đánh, nó bị gươm đâm. Sự thể của thân là như vậy, cái pháp nó là như vậy mà, pháp nhĩ như thị mà, nó là như vậy, nó bị vậy thì là đúng rồi, bản tánh là như vậy, bản chất nó là như vậy, không vượt khỏi tính chất ấy. Sự thể của thân này là vậy mà, ngũ uẩn nó là như vậy, tứ đại nó là như vậy, những cái tham, sân, si, bản ngã là như vậy, cái ngũ uẩn, cái vận hành của đời sống khổ đau này là như vậy đó.
Bây giờ nó vậy thì mình chấp nhận thôi nhưng cái vấn đề là cái gì? "Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: Chư Tỳ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy", chúng ta thấy tu cái tâm hiền tới bất động là không đơn giản chút nào, đó là sự thành tựu cứu cánh phạm hạnh, đó là bất động tâm giải thoát cũng là bậc hiền thánh cũng là đạt tới cái tâm hiền viên mãn, chí thiện, đó cũng là thành tựu tâm hiền một cách trọn vẹn, thành tựu tâm từ viên mãn luôn. "nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy", riêng câu này thôi là chúng ta tu suốt cuộc đời.
"Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đãi. Niệm được an trú không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm thân này, mặc cho gậy xúc chạm thân này, mặc cho gươm xúc chạm thân này, lời dạy chư Phật cần phải được thực hành." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh lên, không có lười biếng, niệm được an trú, không có loạn, thân thể được khinh an, nhẹ nhàng, không có dao động, tâm được định tĩnh, nhất tâm. Dù cho người ta có đánh, người ta có luyện đá, người ta có đập bằng gậy, người ta có đâm bằng kiếm thì lời dạy của chư Phật cần phải được thực hành. Đó là đức hạnh của một người tu, diệu hạnh của một người tu, chân chánh hạnh của một người tu, ứng lý hạnh của một người tu, là bốn thánh hạnh ở trong đây cho nên mình học cái này thấm thía lắm.
"Chư Hiền, Tỳ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh" (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Đó là đang niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, chúng ta thấy niệm Phật của Nikāya chưa, đâu có phải giống như niệm Phật bây giờ. Đó là nhớ lời Phật dạy, nhớ pháp Phật đó, không nhớ đức hạnh của một người tu đó là niệm tâm. "Nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh " tức là cái người này an trú cái niệm như vậy nhưng tâm vẫn bị dao động do đau quá mà, bị chửi, bị mắng, bị đánh, bị đập, bị đâm, bị chém, cái tâm đã cố tác ý, an trú pháp như vậy, nỗ lực, tinh tấn như vậy, nhiếp niệm như vậy nhưng cái giận đó, cái sân đó xả không được, xả cái thân kiến đó chưa được, còn bực bội, còn khó chịu, còn sân hận, nó còn đau đớn, tức tưởi, uất ức.
"Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta khi cái tâm ta còn bực bội, còn khó chịu, còn sân hận với những lời mắng chửi, huỷ nhục, đánh đập, đâm chém như vậy mà tâm ta còn bị dao động, ta đã niệm Phật, niệm pháp như vậy, ta đã tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, an trú nhiếp tâm như vậy, quán chiếu như vậy rồi mà bây giờ cái tâm vẫn còn bị dao động mạnh như vậy. Thật là bất hạnh cho ta, thật là không có may mắn gì cho ta, thật là rủi ro cho ta, thật là tai họa cho ta, thật là không có tốt đẹp cho ta dù cho ta có niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng như vậy nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú.
"Chư Hiền, ví như một người dâu, khi thấy ông nhạc, bị dao động, bị dao động mạnh. Cũng vậy, chư Hiền, nếu Tỳ-kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Xả tương ưng với thiện không được an trú tức là cái tu mà cái tâm xả nó chưa tới, lúc đó nó còn chấp thủ trong ngũ uẩn, trong cái tứ đại này, ở đây là đang nói về địa đại. Còn thấy cái đống thịt này là mình, cục thịt này là tôi, là của tôi, cái đống phèo, phổi, gan, ruột này là ta, là của ta, là tự ngã của ta là xả chưa có thành tự viên mãn, tâm còn bị dao động. Người ấy bị dao động, dao động mạnh, thật là bất hạnh cho ta, thật là không may cho ta, thật là rủi ro ta, thật là không tốt đẹp, ta phải cố gắng tu tập nhiều lên nữa, nhắc nhớ nhiều hơn nữa, an trú nhiều hơn nữa, quán chiếu nhiều hơn nữa, tư duy nhiều hơn nữa, thiền tập, thiền định, thiền quán nhiều hơn nữa.
"Chư Hiền, nếu Tỳ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an trú, thì Tỳ-kheo ấy được hoan hỉ. Chư Hiền, đến mức độ này, Tỳ-kheo đã làm thật nhiều." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Một vị bị như vậy mà tâm vẫn không bị dao động, bị mắng, bị chửi, bị huỷ, bị nhục, bị đánh, bị đập, thậm chí bị đâm, bị chém, bị chặt tay mà tâm không dao động. Vị ấy bị mắng, bị chửi, bị chỉ, bị trích, bị huỷ, bị nhục, bị đánh, bị đập, chặt tay chặt chân nhưng vẫn trú được ở trong cái tâm xả, xả tương ưng với thiện được an trú, nói đơn giản là trú được cái tâm xả đó. Xả cái gì? Xả cái chấp thân, xả cái chấp vào địa đại này
"Chư Hiền, thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Cần phải như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Đây là cách quán về nội địa và ngoại địa giới, quán như vậy làm mình nhớ tới ngài Phú-lâu-na bị mắng chửi rồi bị đánh đập mà ngài nói vẫn chưa có dữ, họ cũng còn chừa cái mạng của con, Thế Tôn hỏi nếu họ giết ông luôn thì sao, ngài trả lời con được giải thoát khỏi cái thân đau khổ, cái thân ung nhọt, cái thân đầy lo lắng, bất an, tai họa, con được giải thoát.
"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Punna đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh. Sau một thời gian, Tôn giả Punna mệnh chung." (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Cái bài kinh mà ngày hôm qua chúng ta nói Đế-thích sở vấn thiên tử Gopaka, sau cái bài kinh đó chúng ta biết là hơn sáu chục ngàn chư thiên đều nhập lưu Tu-đà-hoàn, còn mình tu hoài chưa thấy quả nào hết cho nên mình cần nỗ lực nhiều lắm.
"Bạch Thế Tôn ở đây, tại Kapilavatthu, có Thích nữ tên là Gopika, có lòng tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, và gìn giữ đầy đủ giới luật. Thích nữ này, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, khi thân hoại mạng chung được sanh lên Thiên giới, thiện thú, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, sanh ra làm con của chúng con. Và ở đấy, nàng được gọi là Thiên tử Gopakà, Thiên tử Gopakà.
Khi lời tuyên thuyết này được tụng đọc, pháp nhãn thanh tịnh vô cấu, khởi lên cho Thiên chủ Sakka: 'Phàm pháp gì tập sanh, pháp ấy sẽ bị hoại diệt.' Ngoài ra, tám vạn chư Thiên cũng chứng quả tương tợ. Ðó là những câu hỏi, Thiên chủ Sakka được mời hỏi và được Thế Tôn trả lời. Do vậy, cuộc đối thoại này cũng được gọi là Những Câu Hỏi Của Sakka (Ðế-thích sở vấn)." (Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Bài kinh này hồi xưa con học ba mươi năm trước không có hiểu, bây giờ mình mới thấy nó quý vô cùng. Ba mươi năm trước là 1993 con học ở chùa Vĩnh Nghiêm, hòa thượng dạy nói tiếng Pali không à, ba chục năm sau con học lại bài kinh này thì thấy nghĩa lý không thể nào diễn đạt nổi vì nó thâm sâu và rộng lớn. Cho nên con cố gắng chia sẻ, coi như là làm sao nhắc lại những lời Đức Phật, cố hòa thượng trưởng lão thượng Minh hạ Châu cho đã có công, mồ hôi, nước mắt và máu, bậc đạo sư là bằng mồ hôi, nước mắt, bằng máu, xin mạng để thực hành, thực chứng, còn mình bây giờ có què, có lếch cũng phải ráng giải thích. Ngài dịch năm mươi năm rồi mà không có mấy người truyền bá, lan tỏa được hết cho nên con cảm tạ ân đức của chư tôn, chư hiền cùng con.
Mình có tệ dữ lắm cũng phải giải thích được lời của Phật để cho những người học Phật hiểu được lời của Phật chứ mình chẳng có là cái gì. Mình là cái gì mà mình giảng được, mình là cái nùi giẻ rách, là cái hầm phân mà giảng cái gì, chẳng qua là cái ngôn ngữ hồi xưa không có hiểu, mình lấy cái ngôn ngữ bây giờ thế vô cái ngôn ngữ hồi xưa để người ta hiểu lời của Phật. Tất cả này là pháp của Phật, đừng có nói là pháp của thầy, không có ông thầy nào nói pháp được hết, đây là nói pháp của Phật, nhớ kỹ cái này.
Ba mươi năm trước con học không biết cái gì hết, bây giờ ba mươi năm sau mà không bỏ bài kinh, chúng ta học đi, học mới có ba ngày, ba tháng, học ba năm, ba chục năm vẫn chưa xong một bài kinh, vẫn chưa hiểu hết được cái thâm ý thâm sâu trong đó. Khi mình mới học, mới tu thì mình sẽ hiểu khác, mình tu ba năm, năm năm, bảy năm mình hiểu khác, mình tu mười năm hiểu khác, tu mười lăm năm mình thực hành mình hiểu khác, mình tu ba mươi năm lúc đó mình hiểu khác. Cho nên mình dẹp bỏ cái tâm cho rằng mình học rồi, mình hiểu rồi, diệt tận cái tâm đó, hồi xưa bậc đạo sư dạy con mà con nhớ mãi mãi luôn:
Cái này thầy nghĩ là thầy nghe rồi hả? Thầy hiểu rồi phải không?
Dạ.
Nghe 1000 lần nữa. Nghe là để thể nhập, để thực chứng thành cái trí tuệ của mình chứ không phải nghe qua suông, nghe hiểu suông trên cái tưởng tri, cái thức tri mà phải thành tựu trí tuệ.
Từ đó về sau con mới hoát nhiên đại ngộ. Tại sao mình phải lên mình ngồi nghe hoài? Vì mình chưa có chứng, mà mình chứng rồi mình càng nghe càng hoan hỉ, bài kinh Vị Giữ Giới từ đầu cho đến A-la-hán quả đều tu một pháp môn quán ngũ uẩn là hố than hừng, là kẻ giết người, là người lạ, ung nhọt, là tai hại, quán tới quán lui, quán vô thường, khổ, vô ngã, quán hoài từ mới tu cho tới sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ thánh quả A-la-hán cũng hoan hỉ với các pháp.
"-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
-- Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
-- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Phải giữ được cái tâm kiên định, kiên trì như vậy, kiên trú vậy thì chắc chắn mình thành công. Đừng bao giờ cho cái tâm mình chán pháp hết, bữa nào mười hai giờ đêm đánh kẻng lên nghe pháp, được không? Thử coi quý cái pháp hay là quý cái thân, quý cái giấc ngủ, đó là chưa có bị mắng chửi, chưa có bị đánh đập mới có kêu nghe pháp thôi coi có tu không.
"Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, trong thời ấy ngoại địa giới bị biến mất. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại địa giới xưa ấy có thể nêu rõ, tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, lá lách, xương, tuỷ, thận, tim, gan, óc cho đến là cả một cái núi non, sơn hà, đại địa, cả một cái vũ trụ, trời đất, thế giới, hành tinh, địa cầu, khi ngoại thuỷ giới nó dao động có sóng thần. Trong thời ấy cái địa cầu này bị biến mất, tan rã hết, đánh tan hết, đánh tập hết, đánh rã rời, nát ra hết, chúng ta nhìn trận sóng thần của Nhật Bản mà quán. Khi ngoại thủy giới dao động một thời xảy ra tức là đại tam tai xuất hiện, đại thủy tai, đại hồng thủy, là sống thần. Trong thời ấy ngoại địa giới là trái đất bị biến mất.
Cái tính đổi thay, cái tính biến hoại, cái tính tan rã, huỷ hoại, sụp đổ, đổ nát, tiêu vong cái quả đất này xưa ấy có thể nêu rõ. Từ xưa nó đã như vậy, ta đã chứng kiến bao lần trái đất thành hoại này, Như Lai đã chứng kiến bao nhiêu ngà,n bao nhiêu vạn, bao nhiêu triệu, bao nhiêu tỷ, vô lượng, vô số lần rồi. Tánh vô thường ở đây là nó đổi thay, tánh huỷ hoại là nó đổ vỡ, đổ nát, tánh đoạn diệt là nó tan tành, tánh biến dịch tức là nó đổi thay, nó chuyển dời giống như người ta nói "thương hải vi tang điền" tức là cái biển mà nó biến thành cái ruộng dâu. Hồi xưa chỗ đó là biển nhưng mà sau này nó bồi lên lần lần trở thành cái ruộng dâu, cái nương dâu, đó gọi là vô thường, là biến dịch đó. Nhưng mà tới mà cái chữ cái tánh hủy hoại có thể nêu rõ, cái tánh đoạn diệt có thể nêu rõ là tan tành, tan nát, tiêu tan, tan ra giống như cái tàn nhang, như cái tim đèn gió thổi qua rụng hết, hoặc như đống tro tàn bị gió thổi bay tứ tung. Khi đại hỏa tai nổi lên là địa cầu cũng giống như vậy, rồi tới đại phong tai là phong luân nổi lên thổi bay trái đất luôn. Bây giờ mình thấy gió thổi bay xe cộ, cây cố, nhà cửa rồi nhưng nó còn thổi bay cả làng mạc, thị trấn, thổi bay nguyên cái thành phố, bay luôn cả quốc độ, đó là phong luân nổi lên, đại tam tai.
Cả cái địa cầu còn như vậy thì nói gì đến cái thân yểu thọ, ngắn ngủ như con kiến này do khát ái, chấp phủ này? Cả cái ngọn núi kia, cả cái biển kia, cả một trái đất kia mà nó còn tàn tạ, nó còn biến hoại giống như là nắm cho tàn, gió thổi bay giống như cái tàn nhang thì huống hồ chi là cái tấm thân nhỏ bé yểu thọ do khát ái, chấp thủ này. Mình thấy những cái pháp quán này là vi diệu lắm, phải quán mỗi ngày, quán mỗi giờ, quán mỗi cái suy nghĩ, quán mà bứng luôn cái gốc, phá cái thân kiến, phá luôn cả cái địa cầu này luôn chứ đừng nói chi là cái thân này. Mình nhìn cả cái hành tinh này giống như cái trái banh vậy đó, phải tập quán hoài, nhắc hoài, chiêm nghiệm hoài như vậy thì từ từ nó rã rời, nó tan nát, phá vỡ hết thì mình mới phá được cái thân kiến, phá được nội địa giới, ngoại địa giới. Cho nên khi mà bị người khác mắng nhiếc, chỉ trích, hủy nhục, chọc tức rồi chửi mắng, rồi đánh đập, rồi đâm chém thì mình mới có khả năng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Chúng ta thấy niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng ở Nikāya thù thắng không? Thâm sâu không? Xuyên thủng hết cả cái địa cầu luôn, thành tựu những cái đức hạnh cao thượng, thánh hiền. Chúng ta nghĩ mỗi ngày mà mình đọc lại kinh như vậy mình có lợi lạc không ạ? Có khai mở được chút nào cái đầu óc của mình không hay là mình thích ở dưới nhởn nhơ cho khỏe? Con thấy chúng ta quá trời phước đức luôn, ngồi sẵn nghe thôi, con phải dùng hết sức để đọc, ngồi đó hưởng thôi mà không biết có biết hưởng không, có biết thưởng thức không, biết nếm không. Cái thánh trí tuệ tối thượng như vậy không nghe thì đi nghe cái gì? Đạo lộ thần diệu như vầy không học đi học cái gì? Tuệ giác cao tột như vậy không thể nhập thì thể nhập cái gì?
Cái bài kinh này là siêu khủng lắm, ngài giải thích năm thủ uẩn, rồi sắc uẩn, rồi bốn đại, tới địa giới, đó là mới có phần địa giới thôi rồi giờ tới thủy giới.
"Chư Hiền, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Chư Hiền thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội thủy giới. Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới, đều thuộc về thủy giới" (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Cái chữ mà nó đau là bị chấp thủ, ba chữ này chiêm nghiệm là nó sâu lắm, cái nguyên nhân khổ nó nằm chỗ này. Thí dụ có ai lại là cái hồ nước múc nước tạt thì có dính dáng gì tới mình không? Đâu có đâu nhưng có ai lại bóp cái mũi mình ra để vắt nước mũi thì có sân lên không? Đó gọi là chất lỏng bị chấp thủ, lỗ mũi là của tôi, nước mũi của tôi, nước mắt của tôi, nước miếng của tôi, nước tiểu của tôi, ví dụ vậy chúng ta thấy rõ liền, người ta xuống hồ nước có tạt, có rửa, người ta có làm đủ kiểu cũng không sao hết tại vì nước nó đâu dính dáng tới mình nhưng nước trong nhà mình thì khác, đó gọi là bị chấp thủ. Chỗ này là mấu chốt của đau khổ, mấu chốt của sự tranh giành, khẩu tranh, cạnh tranh và chiến tranh, ranh giới đất là như vậy mà bây giờ muốn bành trướng, xâm chiếm, có xâm chiếm được thì đất cũng nằm đó, nước cũng nằm đó, chẳng qua được ở chỗ cái đó là của tôi. Được cái chữ của tôi thôi mà phải đổ mồ hôi, máu, bao nhiêu thân mạng đổ xuống như rơm như rạ vậy đó, thây chất thành núi, máu chảy thành sông mà chỉ được cái chữ là của tôi. Trời ơi!
Có cái gì đâu, cái hồ vẫn nước như vậy thôi, cái núi nó vẫn vậy, đất vẫn vậy, không có gì khác, mình chỉ được hai chữ của tôi mà máu chảy thành sông, thây chất thành núi, là mưa bom, là lửa đại, là những cái thành phố trở thành những đống hoang tàn, đổ nát, những tiếng khóc than quằn hoại của trẻ em, những tiếng tức tưởi, nghẹn nào của những cụ già, chồng xa vợ, mẹ xa con, cha xa con, anh xa em, bao nhiêu những đau khổ chỉ cần là được hai cái chữ tôi, là của tôi. Trời ơi! Đau đớn chính là ba cái chữ bị chấp thủ đó, ác độc vậy đó. Mình thấy người ta dành với nhau mấy tấc đất mà bốn, năm mạng người chết đó cũng là bị chấp thủ, chỉ cần miếng đất này là miếng của tôi, bốn tấc đất này, năm tất đất này là của tôi, chỉ dành được hai chữ đó thôi, dành xong rồi bỏ đó đâu có làm gì đâu nhưng mà phải đổ máu, mất mạng thậm chí là giết cả những người thân thương nhất của mình, cha mẹ, anh chị em, vợ chồng của mình.
Một cái tờ giấy vài trăm đồng bạc mà giết nhau chết, chỉ vì hai chữ của tôi. Trời ơi là trời! Phải kêu trời như vậy đó, phải kêu trời ơi đất hỡi như vậy đó, đau đớn như vậy, nó vô minh như vậy đó, đau lòng, nó đau xót, nó đau thương như vậy đó, đau khổ như vậy là ba cái chữ "bị chấp khủ" này. Những cái thứ đó bị cái tâm này nắm giữ vô, người ta muốn chụp hình với ai thì chụp, có chuyện gì đâu, vậy mà lỡ chụp với người đó là 'bạn gái của tôi" rồi đăng Facebook, vậy là đi đâm chém nhau, giết nhau chỉ vì một cái tấm hình thôi tại vì cái "người đó là của tôi", đó gọi là bị chấp thủ. Trời ơi là trời! Đau ơi là đau! Khổ ơi là khổ! Ngu ơi là ngu! Tội ơi là tội! Cho nên mình quán ba cái chữ "bị chấp thủ", quán hai chữ "của tôi" này để mình phá hết tất cả những cái vô minh, tham ái, chấp thủ.
Hại biết bao nhiêu người, thậm chí giết người ta để leo lên cái địa vị đó là của tôi, vắt não, vắt óc, vắt tủy ngày đêm, lao tâm khổ tứ để đi cướp đi giành, để được hai cái chữ giả danh đó là của tôi. Đau lòng và xót xa đó là cái tâm mê của mình, cái mà mình gọi là mình, là tôi, là ta chính là cái tâm hôn mê, chấp thủ, vô minh, tâm ngu si, mê muội, đừng có nói chi người đời ngay cả người tu, đừng nói chi là mới tu, tu rất lâu mà nếu không nhìn, không thấy, không quán, không chiếu, không soi, không rọi, không phá, không đập, không đổ thì hai cái chữ này nó cũng hại người tu. Cả một cuộc đời bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh, bỏ em, bỏ hết tất cả sự nghiệp, tình yêu, gia đình, tương lai, bỏ hết trơn mà hai cái chữ của tôi này bỏ không được, không chịu bỏ, không muốn bỏ, thế rồi sầu, bi, khổ, ưu, não.
Thật là xót xa cho nên ngài Xá-lợi-phất dạy mình cách tác ý tuyệt vời "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta dù cho ta có tu tập nhưng mà xả tương ưng với thiện chưa được an trú, ta chưa bỏ được cái ta, cái của ta, cái tự ngã của ta. Thật là bất hạnh cho ta, thật là đau khổ cho ta, thật là tai họa cho ta, thật là hiểm nạn cho ta, thật là hoạn nạn, thật là khốn nạn, thật là khổ nạn, thật là ách nạn, thật là nguy nan cho ta. Trong một ngày mà ta còn nhìn thấy cái của ta còn nhiều như vậy".
Chúng ta phải tác ý la rầy, quở trách cái tâm "cái gì là của ngươi? Cái đống phân này của ngươi, cái đống nước tiểu này của ngươi, cái đống giòi này của ngươi hay bộ xương này là ngươi, cái đống tham, sân, si, dục ái này của ngươi hả? Cái đống đầy vô minh chấp thủ này là ngươi hay sao? Thật là đau khổ cho ta, thật là tai họa cho ta, thật là bất hạnh cho ta, thật là hoạn nạn cho ta, thật là khổ nạn cho ta khi còn giữ cái ý niệm ta, của ta, tự của ta. Ta lạy ngươi, ta quỳ ta lạy ngươi, ngươi diệt tận, tan biến hoàn toàn thành mây, thành khói, thành hư không đi. Ta không muốn nhìn thấy cái mặt của người ở trong đây nữa, trong cái hình bóng ở trong tâm, trong những cái suy nghĩ, cảm thọ này ta hoàn toàn không muốn nhìn thấy một cái ý nghĩ nào sanh khởi theo cái chữ của ta trong đây nữa hết. Ngươi diệt tận hoàn toàn đi, ngươi chết đi".
Mỗi cái lạy xuống là tác ý "ta chôn sống người tại chỗ này nè, đây là nấm mộ của ngươi nè, đây là huyệt mộ của ngươi nè", mình phải thẳng tay trừng trị nó. "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú", ta tiếp tục nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, không có giải đãi, niệm sẽ được an trú, không có loạn niệm, thân thể sẽ được khinh an, không dao động, tâm sẽ được định tĩnh nhất tâm. Mặc cho người ta có đập, người ta có đâm, có chém cái thân này nhưng mà lời dạy của Chư Phật cần phải được thực hiện. Nếu như ở đây ta sanh cái tâm ý phẫn nộ thì ta không làm đúng lời dù cho kẻ trộm cướp có cưa tay cắt chân ta thì ta cũng quyết buông xả sự chấp thủ ở trong một cái thân vô thường, yểu thọ này, khát ái này.
Chúng ta thấy công phu trong Nikāya rất mạnh mẽ, quyết liệt, quả quyết đánh phá cái tâm mê, cái tâm chấp thủ, mấu chốt ở chỗ tu tiến hay lùi là ở chỗ đó cho nên ba chữ "bị chấp thủ" này rất xót xa. Người ta ở ngoài đời ăn tiết canh là máu của con heo, của các con vật nhưng khi có người đến xẻ thịt mình để lấy máu ăn thì có chịu nổi không? Mình ăn máu của con này, con kia, tiết canh thì được nhưng mà những con đó mà nó lại cắt mình nó ăn cái máu mình thì chịu nổi không? Đó là khác nhau cái chữ bị chấp thủ, vì vô minh, vì không hiểu biết, vì vô trí mà nghĩ rằng vật dưỡng nhơn, nó là để cho mình ăn, tới phiên mình nó ăn lại mình rồi lúc đó sao? Bị chấp thủ là vậy đó, là cái gì của mình là không được ai đụng, mình đụng tới người ta thì được, sát hại người ta thì được, ăn nuốt người ta thì được, tới khi mà nó ăn nuốt lại mình là bắt đầu mình sân hận lên lên "vật dưỡng nhơn mà, mấy con đó là để nuôi người mà", đó là bị chấp thủ.
Khi cái tâm chấp thủ nó không còn sáng suốt, nó không có còn khách quan nữa, nó không còn nhìn thấy rõ được nhân quả, nghiệp báo nữa, chỉ biết cái tôi, cái mình, cái ta, cái của ta, cái tự ngã của ta. Ba cái chữ bị chấp thủ này mình chiêm nghiệm thêm rất là nhiều để mình thiền quán, hằng ngày mình xem từ cái đôi dép, từ cái áo, cái quần, từ cái mắt kính, từ cái bộ đồ, từ cái tấm y, từ cái chỗ ngồi, từ cái giường, cái chõng, cái đơn, từ cái công việc của mình thì mình coi mình có bị chấp phủ không, tâm mình có nắm giữ vô cái đó mà nghĩ rằng đó là tôi, là của tôi không, cho đến những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm thọ, nhận thức bên trong càng sâu sắc cho đến cái hình hài này phải gỡ gỡ, tháo tháo, mở mở, cắt cắt, đoạn đoạn, diệt diệt. Đó là thánh đao, thánh trí, phải chặt chém nó, bằm nó ra, băm nó ra, phải có một cái tuệ lực, có cái sức mạnh ở trong cái trí tuệ đó, phải có một cái nội lực, có một cái đạo lực, có một cái pháp lực, một cái công lực của tuệ quán mới phá nổi cái chấp thủ cứng chắc ngàn năm vô lượng vô biên kiếp này.
"Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới, đều thuộc về thủy giới. Cần phải như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Mình niệm cái câu này hoài, sáng, trưa, chiều, tối lên giường nằm ngủ niệm hoài cho tới khi ngủ, nửa đêm thức cũng niệm. Đó là lá bùa hộ mạng của mình, cái nào mình cứ chấp, mình cứ nắm là đem cái đó ra niệm. Ví dụ giờ mình có bàn tay búp măng, ngòi viết, mình thích bàn tay này, ai gặp cũng khen bàn tay là mình thích lắm, lâu lâu mình ngồi nghĩ cái hình bóng bàn tay nó hiện ra thì niệm "bàn tay này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi". Cái món đồ nào đó mà mình thích, mình khoái, cái công việc nào đó mà mình tâm đắc thì niệm "cái này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi", trong lúc niệm là không phải chỉ niệm bằng miệng, không phải chỉ niệm bằng cái ý hành mà niệm bằng cái tuệ quán phá vô trong thọ; tưởng; hành; thức luôn. Nhớ kỹ để vận dụng, thiền quán là như vậy, không phải chỉ nhắc nhẹ nhẹ mà dùng hết tất cả thọ; tưởng; hành; thức cộng với trí quán đánh phá vô bên trong những cái hình ảnh mà nó còn.
Ví dụ cái miệng thì nói không phải nhưng bên trong nó có một cái cảm thọ "đây là mình mà", lâu lâu chúng ta có thấy cái này không à? Tranh tối, tranh sáng với nhau, một cái là trí, một cái là thức, một cái là mê, một cái là giác, một cái là bóng đêm, cái là ánh sáng, tranh tối, tranh sáng với nhau. Một cái bên đó thì "thôi nha, bỏ nha", một cái thì "thôi bỏ tiếc lắm, từ từ bỏ", chúng ta có thấy được cái này không? Như vậy thì có cái niệm lực, cái đạo lực, cái tuệ lực, cái pháp luật, cái công lực của mình, đó là những cái nội ma, Đức Phật nói sắc là ma, thọ là ma, tưởng là ma, hành là ma, thức là ma, tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã là ma, là Mara thì cái tuệ này là Phật, mình lấy cái Phật trị cái ma, lấy cái tỉnh trị cái mê, lấy cái trí để đánh đuổi cái tình, cái thức, cái vô minh.
Mặc dù tác ý nhưng bên trong vẫn ngầm chống đối, nó ngấm ngầm cho nên trong cái bài chúng ta học là "lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động", cái câu đó khủng khiếp lắm. Lắng nghe kinh, nghe pháp, nghe tâm, nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động. Ngấm ngầm hoạt động là cái gì? Cái tâm hôn mê. Cái tâm hôn mê là cái gì? Cái tâm cho rằng đây là tôi, là của tôi, tự ngã của tôi trong cái suy nghĩ, trong cái cảm giác, trong cái hình bóng, trong nhận thức ngấm ngầm cho như vậy, rồi những cái dục, những cái ham, những cái khoái, những thích, muốn, những cái bực bội, khó chịu, những cái ta đây, những cái lờ mờ không tỏ tường là mình phải lắng nghe nó hoạt động. Mình phải lôi nó ra ánh sáng, phải đánh phá nó được, khắc phục, chế ngự nó được, đi đến từ từ mình nhiếp phục, mình diệt tận, đó là cái công thu đắc lực
"Sau khi như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới" (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Chán cái gì? Chán mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu, chán những thứ nước dơ này, hôi này, tanh này, bẩn này, thối này, không có cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, nếu có thời gian mình phải gọi tên từng cái để quán, nói chung chung, ngắn gọn thì không có đủ sức để phá. Phải kêu từng cái thuộc về nội thân, cái gì thuộc về cá nhân, cái gì thuộc về nước, thuộc về chất lỏng cái này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Mật này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Đàm này không phải tôi, không phải của tôi, mủ này, máu này không phải tôi, không phải của tôi. Mồ hôi này, mỡ này, nước mắt, nước miếng này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Nước ở khớp xương, nước tiểu này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, mình niệm từng cái như vậy, mình rảnh thì mình đọc từng cái mình niệm vậy đó.
Mình ngồi ngoài xe, mình ngồi bên dưới góc cây giác ngộ, trên tảng đá, mình đem cái bài kinh ra niệm từng chữ, mình niệm gì được rồi mình viết ra, mình ghi âm vô mình mở nghe hoài, mình thuộc lòng thì càng tốt. Cứ rảnh là niệm, lúc nào mình niệm là lúc đó có thánh trí, lúc nào mình quên niệm lúc đó mình sống với phàm tình, vô minh, sống với tâm mê giống như khi còn nhỏ mình chưa có học chữ, mình đâu có biết chữ đâu, đâu có biết đọc, đâu có biết môn gì, mình đi vô đọc A, B, C, D, cứ học tới học lui nhớ luôn rồi từ từ ráp chữ vô, dần dần biết đọc chữ, từ từ mới tới câu, từ câu mới tới đoạn, từ đoạn tới bài, nhiều bài rồi mới trở thành chương, nhiều chương, lần lần mới trở thành một quyển, rồi nhiều quyển mới trở thành một bộ, cái trí tuệ tăng trưởng y như mình học vậy đó cho nên tu này mà không chịu học là chịu rồi, không chịu thiền quán nữa là xong luôn, không chịu chiêm nghiệm cũng xong luôn. Hai cái nhân để làm cho mình sanh khởi chánh kiến là nghe và như lý tác ý. Nghe chánh pháp và như lý tác ý.
"Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, nước cuốn trôi làng, cuốn trôi thị trấn, cuốn trôi thành phố, cuốn trôi xứ, cuốn trôi quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương hạ thấp một trăm do-tuần, hạ thấp hai trăm do-tuần, hạ thấp ba trăm do-tuần, hạ thấp bốn trăm do-tuần, hạ thấp năm trăm do-tuần, hạ thấp sáu trăm do-tuần, hạ thấp bảy trăm do-tuần." " (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Một do-tuần nói gọn dễ hiểu là từ mười lăm cho đến mười tám cây số, một trăm do-tuần là một trăm tám mươi cây số mà nó hạ thấp xuống như vậy, nước biển thấp dần.
"Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến bảy cây ta-la, dâng cao đến sáu cây ta-la, dâng cao đến năm cây ta-la, dâng cao đến bốn cây ta-la, dâng cao đến ba cây ta-la, dâng cao đến hai cây ta-la, dâng cao chỉ đến một cây ta-la." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Nước biển rút xuống từ từ, nước biển ngoài đại dương cuối cùng chỉ còn lại bằng một cây tala.
"Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương cao đến bảy đầu người, dâng cao đến sáu đầu người, dâng cao đến năm đầu người, dâng cao đến bốn đầu người, dâng cao đến ba đầu người, dâng cao đến hai đầu người, dâng cao chỉ đến một đầu người. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến nửa thân người, dâng cao chỉ đến hông, dâng cao chỉ đến đầu gối, dâng cao chỉ đến gót chân. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương không có để thấm ướt đốt ngón chân." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Nước cao bằng bảy đầu người mà giờ chỉ còn cao đến gót chân thôi, rút từ từ không có thể thấm ướt đốt ngón ngân tức là biển tới đáy luôn, khô cạn tới đáy. Bây giờ mình mới có nhá nhá hai mặt trời thôi, tới khi bảy mặt trời xuất hiện là không còn cái gì nữa hết, không còn một giọt nước nào hết thì lúc đó không còn có thể thấm ướt ngón chân.
"Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ ba có mặt, thời các sông lớn như sông Hằng, sông Yamunà, Aciravatì, Sarabhù, Mahì, các con sông ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỳ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ tư hiện ra.
Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ tư hiện ra, thời các biển hồ lớn, từ đấy các sông lớn chảy ra, ví như Anotattà, Sìhapapàtà, Rathakàrà, Kannamunda, Kunàlà, Chaddantà, Mandàkinì, các biển hồ ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỳ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ năm hiện ra.
Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, thời nước các biển lớn rút lui một trăm do tuần, nước các biển lớn rút lui hai trăm do tuần, các nước biển lớn rút lui ba trăm do tuần... Nước các biển lớn rút lui bảy trăm do tuần; nước các biển lớn dừng lại sâu đến bảy cây sàla, sáu cây sàla, năm cây sàla, bốn cây sàla, ba cây sàla, hai cây sàla, chỉ một cây sàla. Nước các biển lớn dừng lại, sâu đến bảy đầu người, sâu đến sáu đầu người, năm đầu người, bốn đầu người, ba đầu người, hai đầu người, một đầu người, nửa đầu người. Nước các biển lớn dừng lại, sâu chỉ đến eo lưng của người, chỉ đến đầu gối của người, chỉ đến mắt cá của người.
Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru, sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên. Ví như, này các Tỳ-kheo, các lò của người thợ gốm mới đốt lửa lên, sanh khói lên, phun khói lên. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên.
Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ bảy hiện ra, trái đất lớn này và núi chúa Sineru bốc cháy, rực cháy, trở thành một màn lửa. Và khi quả đất lớn này và núi chúa Sineru cháy đỏ lên, cháy rực lên ngọn lửa do gió thổi bốc cao đến Phạm thiên giới. Các chóp ngọn của núi Sineru, cao đến một, hai, ba, bốn, năm trăm do tuần, khi bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, bị cả khối lửa to lớn phá hoại và chinh phục, liền sụp đổ xuống. Sau khi quả đất lớn và núi Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Ví như, này các Tỳ-kheo, khi bơ và dầu được cháy đỏ, được cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VII. Ðại Phẩm, (II). Mặt Trời)
Cả một cái đại dương mà mên mông bao la thâm sâu rộng lớn như vậy mà nó còn rút khô cạn kiệt rồi tới lúc tận cùng tới đáy luôn thì còn nói gì một chút máu, một chút mủ, một chút nước miếng, nước tiểu trong cái con người này, đừng nói gì tới một cái thân yểu thọ mấy chục năm này đầy tham lam và khát á thì có xá là cái gì.
"Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại thủy giới xưa ấy có thể nêu rõ, tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Chúng ta thấy ngài nói nước mà nó cuốn trôi hết đồ đạt, xe cộ, người, cuốn trôi hết cả làng mạc, thành phố, cuốn trôi cả quốc độ rồi nó cạn kiệt, nó hạ xuống. Khi các mặt trời xuất hiện, hai mặt trời, ba mặt trời, bốn mặt trời, năm mặt trời, sáu mặt trời và bảy mặt trời cùng xuất hiện một lúc thì trái đất này cháy như tàn nhang. Bây giờ những ngọn núi lửa đang trực chờ phun trào, người ta phải di dời hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn người, cột khói bốc cao hàng chục cây số, phun ra vô số tro bụi, lửa. Khủng khiếp và kinh hoàng thì huống chi một cái thân yểu thọ này, một cái thân khát ái đây có gì là mình, là của mình, là tự ngã của mình.
"Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỳ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: ...(như trên)... và xả tương ứng với thiện được an trú. Chư Hiền, cho đến mức độ này, vị Tỳ-kheo đã làm thật nhiều" (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Cái sự thể thân này là như vậy, cái nhân duyên do xúc, do thọ, do tưởng, do hành, do thức này là cái thứ lắp ráp, vô thường, một đống khổ đau, một đống phiền não, một đống lo lắng, một đống tham, sân, si, dục ái, sân hận, bản ngã, chẳng có cái gì trong này để cho mình nắm giữ, để bị chấp thủ trong này. Mình ngao ngán, nhàm chán, hướng đến sự từ bỏ, thoát ra, tâm của vị này hoan hỉ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định tùy thuộc giới đối tượng, vì thấy được cái tính chất vô thường, khổ não của nó mà mình đã thoát ra cái sự chấp thủ cho nên mình vui vẻ, hoan hỉ, mình thích thú. Tâm tịnh chỉ là nó lắng lặng, nó bình an, tùy thuộc giới đối tượng là nó muốn tan rã tới đâu nó tan, mặc kệ nó, nó sanh thì sanh, nó diệt thì diệt, tâm mình bình an vì mình không có cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, không có nắm giữ nó, mình không có chấp thủ vô nó.
"Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỳ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau: 'Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Cái như bản chất nó là vậy mà, cái thứ giòn bể này, cái thứ biến hoại, cái thứ đổ nát tan hoang này thì nó phải chịu như vậy, đó là đúng rồi, tự thể nó là như vậy, bản chất là vậy, bản tánh là vậy, không thể vượt khỏi tính chất ấy.
"Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: 'Chư Tỳ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy'. Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đãi. Niệm được an trú không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm thân này, mặc cho gậy xúc chạm thân này, mặc cho gươm xúc chạm thân này, lời dạy chư Phật cần phải được thực hành." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Phải thực hiện lời dạy của Phật, chỉ có thực hành pháp này thì mình mới có được sự an lạc, an bình, an ổn, còn không thực hành pháp này thì tai họa, thì tâm gặp nạn ở trong thân. Vị Tỳ-kheo đã niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng như vậy mà xả tương ưng với thiện không được an trú, tâm nó chưa có xả được, còn khó chịu, còn bực tội, còn sân hận thì người này bị dao động mạnh, người này phải tác ý "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú".
Ta đã tu tập quán chiếu như vậy rồi mà bây giờ cái xả này nó vẫn chưa có thành tựu được, nó chưa có buông bỏ được cái thân kiến này, nó chưa có buông bỏ được cái đống đất, nước, gió, lửa này, cái đống nước này, cái đống mủ máu, cái đống đước miếng này, cái đống đước tiểu này mà nó còn tiếc hoài à, còn tham, còn tiếc hoài. Nó còn muốn giữ cái đống tiểu này, cái đống mủ, đống máu này, cái đống nước mắt, cái đống mồ hôi này, ta phải nỗ lực, ta phải cố gắng tinh tấn lên, ta không thể chấp nhận cái trạng thái như vậy được. như Hiền Nếu tỳ kheo ấy Niệm Phật
"Chư Hiền, nếu Tỳ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an trú, thì Tỳ-kheo ấy được hoan hỉ." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Tức là người này không có cái tâm dao động, không có giận hờn, sân hận gì nữa dầu bị người ta mắng chửi, đánh đập, thậm chí là đâm chém mà tâm không bị dao động được tương ưng với xả thì vị Tỳ-kheo này hoan hỉ.
"Chư Hiền, đến mức độ này, Tỳ-kheo đã làm thật nhiều." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Nói bình dân bây giờ là tu giỏi, thành tựu rồi, việc cần làm đã làm xong, đây là cũng phải gần gần tới A-la-hán rồi hoặc là A-la-hán.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.
QUÁN CHIẾU TỨ ĐẠI
&
PHÁ CHẤP THỦ - TÔI - CỦA TÔI
(ĐẠI KINH VÍ DỤ DẤU CHÂN VOI 1)
–Thích Minh Thành–
Làm mà không có cẩn thận thì nó vậy đó, đó cũng là một pháp cho mình học, tất cả cái việc gì mình làm không được xem thường, mình nghĩ nó là dễ nhưng khi đụng chuyện không có dễ và một cái chuyện rất dễ nhưng mình coi thường cũng sẽ trở thành rất là khó. Cái tính xem thường của mình là một trong những cái tính mình sẽ tu không được, là một trong ba mươi ba pháp đóng cửa Dự Lưu tức là tính bất cẩn. Đức tính quan trọng nhất của thiên chủ Đế-thích là cái tính cẩn trọng mới có thể cai quản được ba mươi ba cung điện, tam thập tâm thiên nên thường thường chúng ta thất bại là vì chúng ta xem thường và những việc hết sức bình thường vẫn có thể thất bại như thường vì chúng ta xem thường.
Cho nên trong cái công việc hằng ngày chúng ta tu là tu ngay trong những công việc này. Khi công việc mình nhìn nhận nó như vậy thì khi học pháp mình cũng nhìn nhận nó như vậy, khi học pháp mình nhận nhìn nhận vậy thì khi mình công phu cũng nhìn nhận như vậy. Chính như vậy mà con thấy có một số vị tu học nó chưa có được bao nhiêu nhưng khi nói ra là thấy như mình tới nơi rồi, cái này rất nguy hiểm tức là mình biết bằng tưởng tri, cái này mình sẽ tu không tới đâu hết, học cũng không tới luôn, dù cho mình rất là cố gắng, rất là thiết tha, rất là nhiệt huyết trong sự tu học nhưng vì cái tính không cẩn trọng cộng với cái tưởng tri và một cái bản ngã mình sẽ rất dễ hiểu lầm và cho rằng mình đã được trong khi mình chưa được. Có rất là ít mà mình tưởng rất nhiều, mình còn rất là cạn mà mình tưởng mình đã sâu lắm rồi và cái này nó sẽ giết chết mình, không có đi lên được thánh đạo.
Mình đọc cái đức cẩn trọng rất là hay, con thấy trong chúng mình cũng có những vị hết sức là khiêm cung, khiêm hạ và con vẫn học của các vị đó. Nhiều khi từ các thầy, các cô cho đến các vị cư sĩ, hiền trí làm được rất là nhiều, cũng tu rất là khá nhưng người ta không có thể hiện, người ta ẩn mình. Đây là những cái đức hạnh để cho mình học cho nên là khiêm tốn một đời còn chưa đủ, tự cao một chút là đã quá nhiều. Ngày xưa bậc đạo sư dạy cho con nhưng mà học trò đệ tử của con ngài quỳ lạy ở ngoài đường, đó là thầy Pháp Nghĩa chứng kiến, ngài quỳ lạy ở đầu đường của Cô Phong Đảnh này. Ngài gặp bất cứ một vị thầy nào là ngài quỳ lạy, đây là một cái đức hạnh khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn.
Suốt cuộc đời của mình đừng nghĩ rằng mình đã học thuộc rồi, biết rồi nhưng mình làm chưa có được nhưng mà không có nghĩa rằng là khiêm nhường là nhu nhược. Những lúc cần mạnh với trí tuệ, với nhiệt tâm, với sự quả quyết, xác quyết thì mình rất là mạnh mẽ, con thấy từ bản thân con đến trong đại chúng của chúng ta chưa ai có đủ sức tiếp nối, còn phải nỗ lực rất là nhiều, ngay bản thân con dốc hết sức rồi mà con thấy là chưa, còn một cái chặng đường rất là dài, rất là nỗ lực, kiên trì. Tâm mình dễ xem thường lắm, thí dụ như mình đến một cái chỗ nào đó lúc đầu mình rất là cung cung kính kính, phép phép tắc tắc nhưng ở thời gian rồi mấy cái đó mình lướt qua. Khi mình học một cái pháp nào đó lúc đầu mình rất là phấn khởi, rất là hoan hỉ, rất là thích thú, nhưng học một thời gian rồi mình chán, xem thường "cái đó tôi biết rồi, tôi học rồi, nói hoài à".
Tu cũng vậy nữa, mình tu một cái pháp như sám hối diệt ngã, quán bất tịnh, tâm từ, lúc đầu thì mình thích thú, mình cảm xúc, dạt dào cảm xúc lắm, thời gian sau là "cái này tôi biết rồi, tôi làm rồi, hiểu rồi" thì những cái này nguy hiểm. Người mà có cái ý vậy không có diệt được những cái cho là đủ, người này không có thể có chân đứng trong pháp và luật, học qua chơi cho biết vậy thôi, nói cho vui vậy thôi. Học để tăng thêm kiến thức, nói cho hay, thể hiện cái ta, ngã kiến, kiến thức của ta, ta học như vậy, ta biết như vậy, ta hiểu như vậy thì vẫn còn đứng ngoài cửa, chưa nhập đạo được cho nên cái đức cẩn trọng là quan trọng, tuyệt đối quan trọng. Tánh con hết sức cẩn thận mà con cứ bị sai sót, bị thiếu xót, bị lỗi lầm hoài, tự trách mình rất là nhiều, chỉ cần một cái ý hành sanh khởi lên mà mình không có cẩn trọng thôi nó qua mặt mình vù vù.
Ngay cả bây giờ ở trên núi một năm, hai năm, ba năm, năm năm mà con nhìn thấy cũng là ở ngoài cửa, có những vị con đâu có dám góp ý gì đâu vì góp ý là phựt lên, xù lông lên, nhiều khi trước mặt con luôn mà tráo trở, trước mặt đại chúng vậy đó nhưng mà người đó không có nhìn thấy được ngũ uẩn của họ. Học cái pháp này sâu sắc lắm, cho lên sám hối thì nói lỗi của người mà mình sám hối, nói câu sau đá câu trước. Khi mình không có nhận diện ngũ uẩn mình không có thấy, mà mình có thấy cũng thấy phớt phớt, mình thấy không có hết, thấy được một góc thôi, thấy được một hai cạnh thôi. Ví dụ như nó là bát giác mà mình chỉ nhìn thấy được hai góc, ba góc thôi, còn năm - sáu góc kia, năm - sáu cạnh kia mình không thấy. Mình là một con người dễ tự mãn thì mới nhìn được có một góc, hai góc, ba góc là nói giỏi lắm rồi "lại đây tôi dạy cho", muốn dạy người này, dạy người kia.
Mình hoan hỉ thì rất là tốt, phải có chất bổ dưỡng nuôi sự tu học nhưng mà mình không có ưu tư vì hỷ ưu là hai cái pháp song song với nhau, nó sẽ làm cho mình tự mãn, hài lòng, bằng lòng những thiện pháp rất là bé nhỏ. Con nói nhỏ hết sức nhỏ, con nói chú Tân mà đi vắng là không ai làm được, nay là năm năm y như vậy, chúng ta thấy không, có một việc hết sức nhỏ mà không cẩn trọng, không làm được thì huống hồ gì tới pháp vô lậu, vô vi, có những cái mà nó vô tướng, nó nhỏ nhiệm, vi tế và nếu mà chúng ta cứ phớt phới thì chết rồi. Y như rằng bữa nào chú Tân về là trục trặc vì khi có chú thì những người làm chung này rất là ỷ lại, xem thường, cũng vậy bậc đạo sư còn thì mình ỷ lại bậc đạo sư, khi ngài mất đi rồi lúc đó mình dựa vô ai. Bây giờ con cùng với chư tô, chư hiền cùng tu với nhau, cùng nương qua nương lại với nhau, lỡ vô thường tới con có tai nạn gì đó, con bị câm, bị liệt nằm một chỗ không nói được nữa rồi sao?
Mình phải đặt vô những cái hoàn cảnh như vậy, những cái trường hợp như vậy, bất ngờ, đột ngộ, thình lình bị nạn, bệnh hoạn, chết chóc như vậy thì mình mới phá được cái cảm thọ an toàn, cảm giác an toàn, cảm giác thường thường, cảm giác trơ trơ, cái cảm giác đơ đơ, cảm giác lơ tơ mơ, si si, hôn hôn, ám ám. Phải quán cái vô thường mới phá được bất khổ bất lạc thọ, nhiều khi nó nhỏ nhiệm lắm, rất là nhỏ nhiệm, chúng ta phải đề chữ "Khổ Luyện Thành Tài". Cái xúc của mình nó khủng khiếp lắm, gửi cái gì không vừa lòng là văng ra khỏi nhóm liền cho nên mình thấy tu cái tâm hiền, cái tâm an tịnh, lắng dịu là quan trọng. Tại sao bữa nào vô ngồi con cũng chia sẻ cùng chúng ta thực hành ba pháp, mười bữa là hết tám, chín bữa như vậy. Cái tâm phản trắc, cái tâm trở mặt nó khủng khiếp, không phải đợi tới lúc nó quay lại chửi mắng mình, phỉ báng mình thì cái đó quá thô rồi, cái này là một cái ý nghĩ, một cái cảm giác ở bên trong mình phải diệt tận nó.
Đó là cái mầm móng của rắn độc trong tâm, không vừa ý, không vừa lòng nó một cái thôi là quay lưng, là trở mặt chống đối, là nổi loạn. Chúng ta thấy những cái cảnh đau lòng, con ra nhịn nổi da gà, tim nhói hết trơn, người vợ mang thai sáu tháng mà chồng tạt xăng vô người đốt vợ, vụ khác thì lại tạt xăng vô người mẹ đốt mẹ đốt cha luôn, cậu cháu, anh em ruột với nhau mà đi nhậu say xỉn về bị nói là nó xử chết ngay tại chỗ, khủng khiếp không? Cho nên cái tâm phản trắc, phản phúc, cái tâm nổi loạn này là mầm mống của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cho nên phải diệt tận nó để đạt được cái tâm bất hại.
"Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỳ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: 'Khổ thọ khởi lên nơi tôi, thọ này thuộc tai xúc chạm, thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên, do nhân duyên gì? Do nhân duyên xúc'. Vị ấy thấy xúc là vô thường, thấy thọ là vô thường, thấy tưởng là vô thường, thấy hành là vô thường, thấy thức là vô thường. Tâm của vị này hoan hỉ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc giới đối tượng." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Nhiễu là nhiễu loạn, não là ưu não, là phiền não, tức làm cho mình bức rứt, bực bội, "Khổ thọ khởi lên nơi tôi, thọ này thuộc tai xúc chạm, thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên, do nhân duyên gì? Do nhân duyên xúc" cái sự tiếp xúc của lỗ tai, những sự mắng nhiếc, chọc tức, nhiễu não thì cái này là nhĩ xúc. Vị ấy thấy sự tiếp xúc của lỗ tai là nó vô thường, vị ấy thấy cái cảm thọ sanh khởi do lỗ tai tiếp xúc rất là vô thường, vị ấy thấy những cái tưởng từ khi lỗ tai tiếp xúc, nó nghe được là vô thường, vị ấy thấy những cái suy nghĩ này là vô thường, vị ấy thấy cái nhận thức để cho nó bực bội, tức tối là vô thường. Tâm của vị này hoan hỉ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định tùy thuộc giới đối tượng.
Nếu không đạt được tâm hiền thì làm sao tu nổi cái này? Thật ra khi con nói tu tâm hiền tám tháng là con nói cho mấy vị cư sĩ mới lên, còn cái tâm hiền này tu tám cho tới chết, mình nói tu tới chết người ta thấy lâu quá mình nói tám tháng trước rồi từ từ nâng lên thêm. Tâm hiền là tu tới chết, đó là mình ngắt ngang còn cái trình tự lúc đầu là quán tứ đại bên ngoài, quán tứ đại bên trong rồi mới đi được tới những cái này. Cả một cái công trình tu học quý vị ơi, các ngài ơi, chư tôn thiền đức ơi, không có đơn giản chút nào đâu.
Vì có lỗ tai, có cái tiếng đó, có sự rõ biết cái tiếng đó, có sự tiếp xúc của lỗ tai này mà cái tiếp xúc này nó là vô thường, nó là duyên sanh, cái cảm giác này cũng là duyên sanh, vô thường, những cái hình bóng này hiện khởi lên, những cái suy nghĩ chạy loanh quanh cũng là cái thứ duyên sanh, kết hợp, vô thường. Sau khi nhận thức biết cái đó là lời chửi mắng, chỉ trích, chọc tức, khinh khi, hủy nhục cũng là cái chuyện vô thường thôi, cái đồ duyên sanh thôi, đã tu tập từ lâu về cái trí vô ngã rồi, đã thực hành thuần thục về cái sự quán duyên sanh pháp rồi thì đâu có một cái người bị người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, huỷ nhục, nhiễu não đâu. Đây chỉ là tứ đại, đây chỉ là sắc uẩn thôi, đây với là sự vận hành của những cái đống khổ thôi, sự vận hành của tham, sân, si, bản ngã thôi.
Tâm của vị này hoan hỉ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định tùy thuộc giới đối tượng. Chúng ta nghĩ đó là cái pháp thành đó trong đại kinh ví dụ dấu chân voi, nếu một người còn cái tâm chống đối, còn cái tâm phản trắc, còn cái tâm hung dữ và một cái tâm bản ngã to lớn thì làm sao tu được? Tại sao bậc đạo sư nhấn đi nhấn lại, lập tới lập lui hai cái pháp quyết định để thể nhập vô dòng pháp này là tâm hiền và diệt ngã? Con thấy biết bao nhiêu người tự động rơi khỏi dòng pháp này là vì không có được tâm hiền, bản ngã rất cao là văng mau lắm, rất là mau, cái người hung dữ không có vô tu được cái pháp này đâu. Hung giữ không phải chỉ là cự cãi giống như ngoài đời đâu, thọ ở bên trong nó còn sôi nổi lắm, còn sôi động, còn sôi sục dữ lắm. Tu làm sao mà cái thọ đó lắng dịu xuống, mình cảm nhận được và người ở chung mình cảm nhận được, vì tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ mà mình không thấy cái thọ của mình thì giờ ai thấy, kêu ai chỉ cho mình được.
Tất cả là nhìn vô thọ hoài, suốt ngày, mỗi giờ, mỗi suy nghĩ, mỗi tư tưởng, đem cái máy dò mũi tên độc nằm ở chỗ nào mới mổ sẻ lấy ra được chứ, nhức nhói lắm chứ, đau nhức dữ lắm chứ. Thường thường có tài hay có tật, thường thường hay vậy, có tài mà không có tật thì người này sẽ thành cao Tăng, còn có tài không thì có thể cũng thành danh Tăng, danh Ni chứ không phải là cao Tăng, còn thánh Tăng thì còn xa lắm. Con chia ra làm danh Tăng, cao Tăng và thánh Tăng, cao Tăng là nói theo cái từ của Trung Quốc và bậc hiền thánh Tăng, bây giờ hiền thánh Tăng này phải bốn đôi tám chúng, cao Tăng trong hiện đại có thể người ta có giới đức, có đức độ, có đóng lớp nhiều mà chưa chắc thành tựu chánh tri kiến cho nên bậc đạo sư liệt vô ngoại học phàm phu vì vậy đi vào trong sâu sắc lắm.
"Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỳ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau: 'Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Hồi nãy mới có cái miệng thôi, mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não, bây giờ tới người khác xử sự không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng đậy xúc chạm, hoặc dùng gương xúc chạm, nói tiếng bây giờ là đánh, là dùng đá, gậy luyện, ném, đập, là dùng gươm đâm chém.
"Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: 'Chư Tỳ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy'. Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đãi. Niệm được an trú không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm thân này, mặc cho gậy xúc chạm thân này, mặc cho gươm xúc chạm thân này, lời dạy chư Phật cần phải được thực hành." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Sự thể của thân này là như vậy là sao? Cái thân này bản chất nó là như vậy, cái bản tánh nó là như vậy tại vì nó là tứ đại, nó là cái thứ kết hợp, nó là cái thứ do cha mẹ sanh, do tứ đại tác thành, được cơm cháo nuôi dưỡng, nó vô thường như vậy cho nên nó có thể bị xúc chạm, nó bị đá liệng, nó bị gậy đánh, nó bị gươm đâm. Sự thể của thân là như vậy, cái pháp nó là như vậy mà, pháp nhĩ như thị mà, nó là như vậy, nó bị vậy thì là đúng rồi, bản tánh là như vậy, bản chất nó là như vậy, không vượt khỏi tính chất ấy. Sự thể của thân này là vậy mà, ngũ uẩn nó là như vậy, tứ đại nó là như vậy, những cái tham, sân, si, bản ngã là như vậy, cái ngũ uẩn, cái vận hành của đời sống khổ đau này là như vậy đó.
Bây giờ nó vậy thì mình chấp nhận thôi nhưng cái vấn đề là cái gì? "Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: Chư Tỳ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy", chúng ta thấy tu cái tâm hiền tới bất động là không đơn giản chút nào, đó là sự thành tựu cứu cánh phạm hạnh, đó là bất động tâm giải thoát cũng là bậc hiền thánh cũng là đạt tới cái tâm hiền viên mãn, chí thiện, đó cũng là thành tựu tâm hiền một cách trọn vẹn, thành tựu tâm từ viên mãn luôn. "nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy", riêng câu này thôi là chúng ta tu suốt cuộc đời.
"Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đãi. Niệm được an trú không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm thân này, mặc cho gậy xúc chạm thân này, mặc cho gươm xúc chạm thân này, lời dạy chư Phật cần phải được thực hành." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh lên, không có lười biếng, niệm được an trú, không có loạn, thân thể được khinh an, nhẹ nhàng, không có dao động, tâm được định tĩnh, nhất tâm. Dù cho người ta có đánh, người ta có luyện đá, người ta có đập bằng gậy, người ta có đâm bằng kiếm thì lời dạy của chư Phật cần phải được thực hành. Đó là đức hạnh của một người tu, diệu hạnh của một người tu, chân chánh hạnh của một người tu, ứng lý hạnh của một người tu, là bốn thánh hạnh ở trong đây cho nên mình học cái này thấm thía lắm.
"Chư Hiền, Tỳ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh" (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Đó là đang niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, chúng ta thấy niệm Phật của Nikāya chưa, đâu có phải giống như niệm Phật bây giờ. Đó là nhớ lời Phật dạy, nhớ pháp Phật đó, không nhớ đức hạnh của một người tu đó là niệm tâm. "Nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh " tức là cái người này an trú cái niệm như vậy nhưng tâm vẫn bị dao động do đau quá mà, bị chửi, bị mắng, bị đánh, bị đập, bị đâm, bị chém, cái tâm đã cố tác ý, an trú pháp như vậy, nỗ lực, tinh tấn như vậy, nhiếp niệm như vậy nhưng cái giận đó, cái sân đó xả không được, xả cái thân kiến đó chưa được, còn bực bội, còn khó chịu, còn sân hận, nó còn đau đớn, tức tưởi, uất ức.
"Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú". (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta khi cái tâm ta còn bực bội, còn khó chịu, còn sân hận với những lời mắng chửi, huỷ nhục, đánh đập, đâm chém như vậy mà tâm ta còn bị dao động, ta đã niệm Phật, niệm pháp như vậy, ta đã tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, an trú nhiếp tâm như vậy, quán chiếu như vậy rồi mà bây giờ cái tâm vẫn còn bị dao động mạnh như vậy. Thật là bất hạnh cho ta, thật là không có may mắn gì cho ta, thật là rủi ro cho ta, thật là tai họa cho ta, thật là không có tốt đẹp cho ta dù cho ta có niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng như vậy nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú.
"Chư Hiền, ví như một người dâu, khi thấy ông nhạc, bị dao động, bị dao động mạnh. Cũng vậy, chư Hiền, nếu Tỳ-kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Xả tương ưng với thiện không được an trú tức là cái tu mà cái tâm xả nó chưa tới, lúc đó nó còn chấp thủ trong ngũ uẩn, trong cái tứ đại này, ở đây là đang nói về địa đại. Còn thấy cái đống thịt này là mình, cục thịt này là tôi, là của tôi, cái đống phèo, phổi, gan, ruột này là ta, là của ta, là tự ngã của ta là xả chưa có thành tự viên mãn, tâm còn bị dao động. Người ấy bị dao động, dao động mạnh, thật là bất hạnh cho ta, thật là không may cho ta, thật là rủi ro ta, thật là không tốt đẹp, ta phải cố gắng tu tập nhiều lên nữa, nhắc nhớ nhiều hơn nữa, an trú nhiều hơn nữa, quán chiếu nhiều hơn nữa, tư duy nhiều hơn nữa, thiền tập, thiền định, thiền quán nhiều hơn nữa.
"Chư Hiền, nếu Tỳ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an trú, thì Tỳ-kheo ấy được hoan hỉ. Chư Hiền, đến mức độ này, Tỳ-kheo đã làm thật nhiều." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Một vị bị như vậy mà tâm vẫn không bị dao động, bị mắng, bị chửi, bị huỷ, bị nhục, bị đánh, bị đập, thậm chí bị đâm, bị chém, bị chặt tay mà tâm không dao động. Vị ấy bị mắng, bị chửi, bị chỉ, bị trích, bị huỷ, bị nhục, bị đánh, bị đập, chặt tay chặt chân nhưng vẫn trú được ở trong cái tâm xả, xả tương ưng với thiện được an trú, nói đơn giản là trú được cái tâm xả đó. Xả cái gì? Xả cái chấp thân, xả cái chấp vào địa đại này
"Chư Hiền, thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Cần phải như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Đây là cách quán về nội địa và ngoại địa giới, quán như vậy làm mình nhớ tới ngài Phú-lâu-na bị mắng chửi rồi bị đánh đập mà ngài nói vẫn chưa có dữ, họ cũng còn chừa cái mạng của con, Thế Tôn hỏi nếu họ giết ông luôn thì sao, ngài trả lời con được giải thoát khỏi cái thân đau khổ, cái thân ung nhọt, cái thân đầy lo lắng, bất an, tai họa, con được giải thoát.
"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Punna đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh. Sau một thời gian, Tôn giả Punna mệnh chung." (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Cái bài kinh mà ngày hôm qua chúng ta nói Đế-thích sở vấn thiên tử Gopaka, sau cái bài kinh đó chúng ta biết là hơn sáu chục ngàn chư thiên đều nhập lưu Tu-đà-hoàn, còn mình tu hoài chưa thấy quả nào hết cho nên mình cần nỗ lực nhiều lắm.
"Bạch Thế Tôn ở đây, tại Kapilavatthu, có Thích nữ tên là Gopika, có lòng tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, và gìn giữ đầy đủ giới luật. Thích nữ này, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, khi thân hoại mạng chung được sanh lên Thiên giới, thiện thú, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, sanh ra làm con của chúng con. Và ở đấy, nàng được gọi là Thiên tử Gopakà, Thiên tử Gopakà.
Khi lời tuyên thuyết này được tụng đọc, pháp nhãn thanh tịnh vô cấu, khởi lên cho Thiên chủ Sakka: 'Phàm pháp gì tập sanh, pháp ấy sẽ bị hoại diệt.' Ngoài ra, tám vạn chư Thiên cũng chứng quả tương tợ. Ðó là những câu hỏi, Thiên chủ Sakka được mời hỏi và được Thế Tôn trả lời. Do vậy, cuộc đối thoại này cũng được gọi là Những Câu Hỏi Của Sakka (Ðế-thích sở vấn)." (Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Bài kinh này hồi xưa con học ba mươi năm trước không có hiểu, bây giờ mình mới thấy nó quý vô cùng. Ba mươi năm trước là 1993 con học ở chùa Vĩnh Nghiêm, hòa thượng dạy nói tiếng Pali không à, ba chục năm sau con học lại bài kinh này thì thấy nghĩa lý không thể nào diễn đạt nổi vì nó thâm sâu và rộng lớn. Cho nên con cố gắng chia sẻ, coi như là làm sao nhắc lại những lời Đức Phật, cố hòa thượng trưởng lão thượng Minh hạ Châu cho đã có công, mồ hôi, nước mắt và máu, bậc đạo sư là bằng mồ hôi, nước mắt, bằng máu, xin mạng để thực hành, thực chứng, còn mình bây giờ có què, có lếch cũng phải ráng giải thích. Ngài dịch năm mươi năm rồi mà không có mấy người truyền bá, lan tỏa được hết cho nên con cảm tạ ân đức của chư tôn, chư hiền cùng con.
Mình có tệ dữ lắm cũng phải giải thích được lời của Phật để cho những người học Phật hiểu được lời của Phật chứ mình chẳng có là cái gì. Mình là cái gì mà mình giảng được, mình là cái nùi giẻ rách, là cái hầm phân mà giảng cái gì, chẳng qua là cái ngôn ngữ hồi xưa không có hiểu, mình lấy cái ngôn ngữ bây giờ thế vô cái ngôn ngữ hồi xưa để người ta hiểu lời của Phật. Tất cả này là pháp của Phật, đừng có nói là pháp của thầy, không có ông thầy nào nói pháp được hết, đây là nói pháp của Phật, nhớ kỹ cái này.
Ba mươi năm trước con học không biết cái gì hết, bây giờ ba mươi năm sau mà không bỏ bài kinh, chúng ta học đi, học mới có ba ngày, ba tháng, học ba năm, ba chục năm vẫn chưa xong một bài kinh, vẫn chưa hiểu hết được cái thâm ý thâm sâu trong đó. Khi mình mới học, mới tu thì mình sẽ hiểu khác, mình tu ba năm, năm năm, bảy năm mình hiểu khác, mình tu mười năm hiểu khác, tu mười lăm năm mình thực hành mình hiểu khác, mình tu ba mươi năm lúc đó mình hiểu khác. Cho nên mình dẹp bỏ cái tâm cho rằng mình học rồi, mình hiểu rồi, diệt tận cái tâm đó, hồi xưa bậc đạo sư dạy con mà con nhớ mãi mãi luôn:
Cái này thầy nghĩ là thầy nghe rồi hả? Thầy hiểu rồi phải không?
Dạ.
Nghe 1000 lần nữa. Nghe là để thể nhập, để thực chứng thành cái trí tuệ của mình chứ không phải nghe qua suông, nghe hiểu suông trên cái tưởng tri, cái thức tri mà phải thành tựu trí tuệ.
Từ đó về sau con mới hoát nhiên đại ngộ. Tại sao mình phải lên mình ngồi nghe hoài? Vì mình chưa có chứng, mà mình chứng rồi mình càng nghe càng hoan hỉ, bài kinh Vị Giữ Giới từ đầu cho đến A-la-hán quả đều tu một pháp môn quán ngũ uẩn là hố than hừng, là kẻ giết người, là người lạ, ung nhọt, là tai hại, quán tới quán lui, quán vô thường, khổ, vô ngã, quán hoài từ mới tu cho tới sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ thánh quả A-la-hán cũng hoan hỉ với các pháp.
"-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
-- Nhưng Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
-- Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
-- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Phải giữ được cái tâm kiên định, kiên trì như vậy, kiên trú vậy thì chắc chắn mình thành công. Đừng bao giờ cho cái tâm mình chán pháp hết, bữa nào mười hai giờ đêm đánh kẻng lên nghe pháp, được không? Thử coi quý cái pháp hay là quý cái thân, quý cái giấc ngủ, đó là chưa có bị mắng chửi, chưa có bị đánh đập mới có kêu nghe pháp thôi coi có tu không.
"Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, trong thời ấy ngoại địa giới bị biến mất. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại địa giới xưa ấy có thể nêu rõ, tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, lá lách, xương, tuỷ, thận, tim, gan, óc cho đến là cả một cái núi non, sơn hà, đại địa, cả một cái vũ trụ, trời đất, thế giới, hành tinh, địa cầu, khi ngoại thuỷ giới nó dao động có sóng thần. Trong thời ấy cái địa cầu này bị biến mất, tan rã hết, đánh tan hết, đánh tập hết, đánh rã rời, nát ra hết, chúng ta nhìn trận sóng thần của Nhật Bản mà quán. Khi ngoại thủy giới dao động một thời xảy ra tức là đại tam tai xuất hiện, đại thủy tai, đại hồng thủy, là sống thần. Trong thời ấy ngoại địa giới là trái đất bị biến mất.
Cái tính đổi thay, cái tính biến hoại, cái tính tan rã, huỷ hoại, sụp đổ, đổ nát, tiêu vong cái quả đất này xưa ấy có thể nêu rõ. Từ xưa nó đã như vậy, ta đã chứng kiến bao lần trái đất thành hoại này, Như Lai đã chứng kiến bao nhiêu ngà,n bao nhiêu vạn, bao nhiêu triệu, bao nhiêu tỷ, vô lượng, vô số lần rồi. Tánh vô thường ở đây là nó đổi thay, tánh huỷ hoại là nó đổ vỡ, đổ nát, tánh đoạn diệt là nó tan tành, tánh biến dịch tức là nó đổi thay, nó chuyển dời giống như người ta nói "thương hải vi tang điền" tức là cái biển mà nó biến thành cái ruộng dâu. Hồi xưa chỗ đó là biển nhưng mà sau này nó bồi lên lần lần trở thành cái ruộng dâu, cái nương dâu, đó gọi là vô thường, là biến dịch đó. Nhưng mà tới mà cái chữ cái tánh hủy hoại có thể nêu rõ, cái tánh đoạn diệt có thể nêu rõ là tan tành, tan nát, tiêu tan, tan ra giống như cái tàn nhang, như cái tim đèn gió thổi qua rụng hết, hoặc như đống tro tàn bị gió thổi bay tứ tung. Khi đại hỏa tai nổi lên là địa cầu cũng giống như vậy, rồi tới đại phong tai là phong luân nổi lên thổi bay trái đất luôn. Bây giờ mình thấy gió thổi bay xe cộ, cây cố, nhà cửa rồi nhưng nó còn thổi bay cả làng mạc, thị trấn, thổi bay nguyên cái thành phố, bay luôn cả quốc độ, đó là phong luân nổi lên, đại tam tai.
Cả cái địa cầu còn như vậy thì nói gì đến cái thân yểu thọ, ngắn ngủ như con kiến này do khát ái, chấp phủ này? Cả cái ngọn núi kia, cả cái biển kia, cả một trái đất kia mà nó còn tàn tạ, nó còn biến hoại giống như là nắm cho tàn, gió thổi bay giống như cái tàn nhang thì huống hồ chi là cái tấm thân nhỏ bé yểu thọ do khát ái, chấp thủ này. Mình thấy những cái pháp quán này là vi diệu lắm, phải quán mỗi ngày, quán mỗi giờ, quán mỗi cái suy nghĩ, quán mà bứng luôn cái gốc, phá cái thân kiến, phá luôn cả cái địa cầu này luôn chứ đừng nói chi là cái thân này. Mình nhìn cả cái hành tinh này giống như cái trái banh vậy đó, phải tập quán hoài, nhắc hoài, chiêm nghiệm hoài như vậy thì từ từ nó rã rời, nó tan nát, phá vỡ hết thì mình mới phá được cái thân kiến, phá được nội địa giới, ngoại địa giới. Cho nên khi mà bị người khác mắng nhiếc, chỉ trích, hủy nhục, chọc tức rồi chửi mắng, rồi đánh đập, rồi đâm chém thì mình mới có khả năng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Chúng ta thấy niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng ở Nikāya thù thắng không? Thâm sâu không? Xuyên thủng hết cả cái địa cầu luôn, thành tựu những cái đức hạnh cao thượng, thánh hiền. Chúng ta nghĩ mỗi ngày mà mình đọc lại kinh như vậy mình có lợi lạc không ạ? Có khai mở được chút nào cái đầu óc của mình không hay là mình thích ở dưới nhởn nhơ cho khỏe? Con thấy chúng ta quá trời phước đức luôn, ngồi sẵn nghe thôi, con phải dùng hết sức để đọc, ngồi đó hưởng thôi mà không biết có biết hưởng không, có biết thưởng thức không, biết nếm không. Cái thánh trí tuệ tối thượng như vậy không nghe thì đi nghe cái gì? Đạo lộ thần diệu như vầy không học đi học cái gì? Tuệ giác cao tột như vậy không thể nhập thì thể nhập cái gì?
Cái bài kinh này là siêu khủng lắm, ngài giải thích năm thủ uẩn, rồi sắc uẩn, rồi bốn đại, tới địa giới, đó là mới có phần địa giới thôi rồi giờ tới thủy giới.
"Chư Hiền, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Chư Hiền thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội thủy giới. Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới, đều thuộc về thủy giới" (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Cái chữ mà nó đau là bị chấp thủ, ba chữ này chiêm nghiệm là nó sâu lắm, cái nguyên nhân khổ nó nằm chỗ này. Thí dụ có ai lại là cái hồ nước múc nước tạt thì có dính dáng gì tới mình không? Đâu có đâu nhưng có ai lại bóp cái mũi mình ra để vắt nước mũi thì có sân lên không? Đó gọi là chất lỏng bị chấp thủ, lỗ mũi là của tôi, nước mũi của tôi, nước mắt của tôi, nước miếng của tôi, nước tiểu của tôi, ví dụ vậy chúng ta thấy rõ liền, người ta xuống hồ nước có tạt, có rửa, người ta có làm đủ kiểu cũng không sao hết tại vì nước nó đâu dính dáng tới mình nhưng nước trong nhà mình thì khác, đó gọi là bị chấp thủ. Chỗ này là mấu chốt của đau khổ, mấu chốt của sự tranh giành, khẩu tranh, cạnh tranh và chiến tranh, ranh giới đất là như vậy mà bây giờ muốn bành trướng, xâm chiếm, có xâm chiếm được thì đất cũng nằm đó, nước cũng nằm đó, chẳng qua được ở chỗ cái đó là của tôi. Được cái chữ của tôi thôi mà phải đổ mồ hôi, máu, bao nhiêu thân mạng đổ xuống như rơm như rạ vậy đó, thây chất thành núi, máu chảy thành sông mà chỉ được cái chữ là của tôi. Trời ơi!
Có cái gì đâu, cái hồ vẫn nước như vậy thôi, cái núi nó vẫn vậy, đất vẫn vậy, không có gì khác, mình chỉ được hai chữ của tôi mà máu chảy thành sông, thây chất thành núi, là mưa bom, là lửa đại, là những cái thành phố trở thành những đống hoang tàn, đổ nát, những tiếng khóc than quằn hoại của trẻ em, những tiếng tức tưởi, nghẹn nào của những cụ già, chồng xa vợ, mẹ xa con, cha xa con, anh xa em, bao nhiêu những đau khổ chỉ cần là được hai cái chữ tôi, là của tôi. Trời ơi! Đau đớn chính là ba cái chữ bị chấp thủ đó, ác độc vậy đó. Mình thấy người ta dành với nhau mấy tấc đất mà bốn, năm mạng người chết đó cũng là bị chấp thủ, chỉ cần miếng đất này là miếng của tôi, bốn tấc đất này, năm tất đất này là của tôi, chỉ dành được hai chữ đó thôi, dành xong rồi bỏ đó đâu có làm gì đâu nhưng mà phải đổ máu, mất mạng thậm chí là giết cả những người thân thương nhất của mình, cha mẹ, anh chị em, vợ chồng của mình.
Một cái tờ giấy vài trăm đồng bạc mà giết nhau chết, chỉ vì hai chữ của tôi. Trời ơi là trời! Phải kêu trời như vậy đó, phải kêu trời ơi đất hỡi như vậy đó, đau đớn như vậy, nó vô minh như vậy đó, đau lòng, nó đau xót, nó đau thương như vậy đó, đau khổ như vậy là ba cái chữ "bị chấp khủ" này. Những cái thứ đó bị cái tâm này nắm giữ vô, người ta muốn chụp hình với ai thì chụp, có chuyện gì đâu, vậy mà lỡ chụp với người đó là 'bạn gái của tôi" rồi đăng Facebook, vậy là đi đâm chém nhau, giết nhau chỉ vì một cái tấm hình thôi tại vì cái "người đó là của tôi", đó gọi là bị chấp thủ. Trời ơi là trời! Đau ơi là đau! Khổ ơi là khổ! Ngu ơi là ngu! Tội ơi là tội! Cho nên mình quán ba cái chữ "bị chấp thủ", quán hai chữ "của tôi" này để mình phá hết tất cả những cái vô minh, tham ái, chấp thủ.
Hại biết bao nhiêu người, thậm chí giết người ta để leo lên cái địa vị đó là của tôi, vắt não, vắt óc, vắt tủy ngày đêm, lao tâm khổ tứ để đi cướp đi giành, để được hai cái chữ giả danh đó là của tôi. Đau lòng và xót xa đó là cái tâm mê của mình, cái mà mình gọi là mình, là tôi, là ta chính là cái tâm hôn mê, chấp thủ, vô minh, tâm ngu si, mê muội, đừng có nói chi người đời ngay cả người tu, đừng nói chi là mới tu, tu rất lâu mà nếu không nhìn, không thấy, không quán, không chiếu, không soi, không rọi, không phá, không đập, không đổ thì hai cái chữ này nó cũng hại người tu. Cả một cuộc đời bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh, bỏ em, bỏ hết tất cả sự nghiệp, tình yêu, gia đình, tương lai, bỏ hết trơn mà hai cái chữ của tôi này bỏ không được, không chịu bỏ, không muốn bỏ, thế rồi sầu, bi, khổ, ưu, não.
Thật là xót xa cho nên ngài Xá-lợi-phất dạy mình cách tác ý tuyệt vời "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta dù cho ta có tu tập nhưng mà xả tương ưng với thiện chưa được an trú, ta chưa bỏ được cái ta, cái của ta, cái tự ngã của ta. Thật là bất hạnh cho ta, thật là đau khổ cho ta, thật là tai họa cho ta, thật là hiểm nạn cho ta, thật là hoạn nạn, thật là khốn nạn, thật là khổ nạn, thật là ách nạn, thật là nguy nan cho ta. Trong một ngày mà ta còn nhìn thấy cái của ta còn nhiều như vậy".
Chúng ta phải tác ý la rầy, quở trách cái tâm "cái gì là của ngươi? Cái đống phân này của ngươi, cái đống nước tiểu này của ngươi, cái đống giòi này của ngươi hay bộ xương này là ngươi, cái đống tham, sân, si, dục ái này của ngươi hả? Cái đống đầy vô minh chấp thủ này là ngươi hay sao? Thật là đau khổ cho ta, thật là tai họa cho ta, thật là bất hạnh cho ta, thật là hoạn nạn cho ta, thật là khổ nạn cho ta khi còn giữ cái ý niệm ta, của ta, tự của ta. Ta lạy ngươi, ta quỳ ta lạy ngươi, ngươi diệt tận, tan biến hoàn toàn thành mây, thành khói, thành hư không đi. Ta không muốn nhìn thấy cái mặt của người ở trong đây nữa, trong cái hình bóng ở trong tâm, trong những cái suy nghĩ, cảm thọ này ta hoàn toàn không muốn nhìn thấy một cái ý nghĩ nào sanh khởi theo cái chữ của ta trong đây nữa hết. Ngươi diệt tận hoàn toàn đi, ngươi chết đi".
Mỗi cái lạy xuống là tác ý "ta chôn sống người tại chỗ này nè, đây là nấm mộ của ngươi nè, đây là huyệt mộ của ngươi nè", mình phải thẳng tay trừng trị nó. "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú", ta tiếp tục nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, không có giải đãi, niệm sẽ được an trú, không có loạn niệm, thân thể sẽ được khinh an, không dao động, tâm sẽ được định tĩnh nhất tâm. Mặc cho người ta có đập, người ta có đâm, có chém cái thân này nhưng mà lời dạy của Chư Phật cần phải được thực hiện. Nếu như ở đây ta sanh cái tâm ý phẫn nộ thì ta không làm đúng lời dù cho kẻ trộm cướp có cưa tay cắt chân ta thì ta cũng quyết buông xả sự chấp thủ ở trong một cái thân vô thường, yểu thọ này, khát ái này.
Chúng ta thấy công phu trong Nikāya rất mạnh mẽ, quyết liệt, quả quyết đánh phá cái tâm mê, cái tâm chấp thủ, mấu chốt ở chỗ tu tiến hay lùi là ở chỗ đó cho nên ba chữ "bị chấp thủ" này rất xót xa. Người ta ở ngoài đời ăn tiết canh là máu của con heo, của các con vật nhưng khi có người đến xẻ thịt mình để lấy máu ăn thì có chịu nổi không? Mình ăn máu của con này, con kia, tiết canh thì được nhưng mà những con đó mà nó lại cắt mình nó ăn cái máu mình thì chịu nổi không? Đó là khác nhau cái chữ bị chấp thủ, vì vô minh, vì không hiểu biết, vì vô trí mà nghĩ rằng vật dưỡng nhơn, nó là để cho mình ăn, tới phiên mình nó ăn lại mình rồi lúc đó sao? Bị chấp thủ là vậy đó, là cái gì của mình là không được ai đụng, mình đụng tới người ta thì được, sát hại người ta thì được, ăn nuốt người ta thì được, tới khi mà nó ăn nuốt lại mình là bắt đầu mình sân hận lên lên "vật dưỡng nhơn mà, mấy con đó là để nuôi người mà", đó là bị chấp thủ.
Khi cái tâm chấp thủ nó không còn sáng suốt, nó không có còn khách quan nữa, nó không còn nhìn thấy rõ được nhân quả, nghiệp báo nữa, chỉ biết cái tôi, cái mình, cái ta, cái của ta, cái tự ngã của ta. Ba cái chữ bị chấp thủ này mình chiêm nghiệm thêm rất là nhiều để mình thiền quán, hằng ngày mình xem từ cái đôi dép, từ cái áo, cái quần, từ cái mắt kính, từ cái bộ đồ, từ cái tấm y, từ cái chỗ ngồi, từ cái giường, cái chõng, cái đơn, từ cái công việc của mình thì mình coi mình có bị chấp phủ không, tâm mình có nắm giữ vô cái đó mà nghĩ rằng đó là tôi, là của tôi không, cho đến những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm thọ, nhận thức bên trong càng sâu sắc cho đến cái hình hài này phải gỡ gỡ, tháo tháo, mở mở, cắt cắt, đoạn đoạn, diệt diệt. Đó là thánh đao, thánh trí, phải chặt chém nó, bằm nó ra, băm nó ra, phải có một cái tuệ lực, có cái sức mạnh ở trong cái trí tuệ đó, phải có một cái nội lực, có một cái đạo lực, có một cái pháp lực, một cái công lực của tuệ quán mới phá nổi cái chấp thủ cứng chắc ngàn năm vô lượng vô biên kiếp này.
"Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới, đều thuộc về thủy giới. Cần phải như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Mình niệm cái câu này hoài, sáng, trưa, chiều, tối lên giường nằm ngủ niệm hoài cho tới khi ngủ, nửa đêm thức cũng niệm. Đó là lá bùa hộ mạng của mình, cái nào mình cứ chấp, mình cứ nắm là đem cái đó ra niệm. Ví dụ giờ mình có bàn tay búp măng, ngòi viết, mình thích bàn tay này, ai gặp cũng khen bàn tay là mình thích lắm, lâu lâu mình ngồi nghĩ cái hình bóng bàn tay nó hiện ra thì niệm "bàn tay này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi". Cái món đồ nào đó mà mình thích, mình khoái, cái công việc nào đó mà mình tâm đắc thì niệm "cái này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi", trong lúc niệm là không phải chỉ niệm bằng miệng, không phải chỉ niệm bằng cái ý hành mà niệm bằng cái tuệ quán phá vô trong thọ; tưởng; hành; thức luôn. Nhớ kỹ để vận dụng, thiền quán là như vậy, không phải chỉ nhắc nhẹ nhẹ mà dùng hết tất cả thọ; tưởng; hành; thức cộng với trí quán đánh phá vô bên trong những cái hình ảnh mà nó còn.
Ví dụ cái miệng thì nói không phải nhưng bên trong nó có một cái cảm thọ "đây là mình mà", lâu lâu chúng ta có thấy cái này không à? Tranh tối, tranh sáng với nhau, một cái là trí, một cái là thức, một cái là mê, một cái là giác, một cái là bóng đêm, cái là ánh sáng, tranh tối, tranh sáng với nhau. Một cái bên đó thì "thôi nha, bỏ nha", một cái thì "thôi bỏ tiếc lắm, từ từ bỏ", chúng ta có thấy được cái này không? Như vậy thì có cái niệm lực, cái đạo lực, cái tuệ lực, cái pháp luật, cái công lực của mình, đó là những cái nội ma, Đức Phật nói sắc là ma, thọ là ma, tưởng là ma, hành là ma, thức là ma, tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã là ma, là Mara thì cái tuệ này là Phật, mình lấy cái Phật trị cái ma, lấy cái tỉnh trị cái mê, lấy cái trí để đánh đuổi cái tình, cái thức, cái vô minh.
Mặc dù tác ý nhưng bên trong vẫn ngầm chống đối, nó ngấm ngầm cho nên trong cái bài chúng ta học là "lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động", cái câu đó khủng khiếp lắm. Lắng nghe kinh, nghe pháp, nghe tâm, nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động. Ngấm ngầm hoạt động là cái gì? Cái tâm hôn mê. Cái tâm hôn mê là cái gì? Cái tâm cho rằng đây là tôi, là của tôi, tự ngã của tôi trong cái suy nghĩ, trong cái cảm giác, trong cái hình bóng, trong nhận thức ngấm ngầm cho như vậy, rồi những cái dục, những cái ham, những cái khoái, những thích, muốn, những cái bực bội, khó chịu, những cái ta đây, những cái lờ mờ không tỏ tường là mình phải lắng nghe nó hoạt động. Mình phải lôi nó ra ánh sáng, phải đánh phá nó được, khắc phục, chế ngự nó được, đi đến từ từ mình nhiếp phục, mình diệt tận, đó là cái công thu đắc lực
"Sau khi như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới" (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Chán cái gì? Chán mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu, chán những thứ nước dơ này, hôi này, tanh này, bẩn này, thối này, không có cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, nếu có thời gian mình phải gọi tên từng cái để quán, nói chung chung, ngắn gọn thì không có đủ sức để phá. Phải kêu từng cái thuộc về nội thân, cái gì thuộc về cá nhân, cái gì thuộc về nước, thuộc về chất lỏng cái này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Mật này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Đàm này không phải tôi, không phải của tôi, mủ này, máu này không phải tôi, không phải của tôi. Mồ hôi này, mỡ này, nước mắt, nước miếng này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Nước ở khớp xương, nước tiểu này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, mình niệm từng cái như vậy, mình rảnh thì mình đọc từng cái mình niệm vậy đó.
Mình ngồi ngoài xe, mình ngồi bên dưới góc cây giác ngộ, trên tảng đá, mình đem cái bài kinh ra niệm từng chữ, mình niệm gì được rồi mình viết ra, mình ghi âm vô mình mở nghe hoài, mình thuộc lòng thì càng tốt. Cứ rảnh là niệm, lúc nào mình niệm là lúc đó có thánh trí, lúc nào mình quên niệm lúc đó mình sống với phàm tình, vô minh, sống với tâm mê giống như khi còn nhỏ mình chưa có học chữ, mình đâu có biết chữ đâu, đâu có biết đọc, đâu có biết môn gì, mình đi vô đọc A, B, C, D, cứ học tới học lui nhớ luôn rồi từ từ ráp chữ vô, dần dần biết đọc chữ, từ từ mới tới câu, từ câu mới tới đoạn, từ đoạn tới bài, nhiều bài rồi mới trở thành chương, nhiều chương, lần lần mới trở thành một quyển, rồi nhiều quyển mới trở thành một bộ, cái trí tuệ tăng trưởng y như mình học vậy đó cho nên tu này mà không chịu học là chịu rồi, không chịu thiền quán nữa là xong luôn, không chịu chiêm nghiệm cũng xong luôn. Hai cái nhân để làm cho mình sanh khởi chánh kiến là nghe và như lý tác ý. Nghe chánh pháp và như lý tác ý.
"Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, nước cuốn trôi làng, cuốn trôi thị trấn, cuốn trôi thành phố, cuốn trôi xứ, cuốn trôi quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương hạ thấp một trăm do-tuần, hạ thấp hai trăm do-tuần, hạ thấp ba trăm do-tuần, hạ thấp bốn trăm do-tuần, hạ thấp năm trăm do-tuần, hạ thấp sáu trăm do-tuần, hạ thấp bảy trăm do-tuần." " (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Một do-tuần nói gọn dễ hiểu là từ mười lăm cho đến mười tám cây số, một trăm do-tuần là một trăm tám mươi cây số mà nó hạ thấp xuống như vậy, nước biển thấp dần.
"Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến bảy cây ta-la, dâng cao đến sáu cây ta-la, dâng cao đến năm cây ta-la, dâng cao đến bốn cây ta-la, dâng cao đến ba cây ta-la, dâng cao đến hai cây ta-la, dâng cao chỉ đến một cây ta-la." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Nước biển rút xuống từ từ, nước biển ngoài đại dương cuối cùng chỉ còn lại bằng một cây tala.
"Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương cao đến bảy đầu người, dâng cao đến sáu đầu người, dâng cao đến năm đầu người, dâng cao đến bốn đầu người, dâng cao đến ba đầu người, dâng cao đến hai đầu người, dâng cao chỉ đến một đầu người. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến nửa thân người, dâng cao chỉ đến hông, dâng cao chỉ đến đầu gối, dâng cao chỉ đến gót chân. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương không có để thấm ướt đốt ngón chân." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Nước cao bằng bảy đầu người mà giờ chỉ còn cao đến gót chân thôi, rút từ từ không có thể thấm ướt đốt ngón ngân tức là biển tới đáy luôn, khô cạn tới đáy. Bây giờ mình mới có nhá nhá hai mặt trời thôi, tới khi bảy mặt trời xuất hiện là không còn cái gì nữa hết, không còn một giọt nước nào hết thì lúc đó không còn có thể thấm ướt ngón chân.
"Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ ba có mặt, thời các sông lớn như sông Hằng, sông Yamunà, Aciravatì, Sarabhù, Mahì, các con sông ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỳ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ tư hiện ra.
Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ tư hiện ra, thời các biển hồ lớn, từ đấy các sông lớn chảy ra, ví như Anotattà, Sìhapapàtà, Rathakàrà, Kannamunda, Kunàlà, Chaddantà, Mandàkinì, các biển hồ ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỳ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ năm hiện ra.
Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, thời nước các biển lớn rút lui một trăm do tuần, nước các biển lớn rút lui hai trăm do tuần, các nước biển lớn rút lui ba trăm do tuần... Nước các biển lớn rút lui bảy trăm do tuần; nước các biển lớn dừng lại sâu đến bảy cây sàla, sáu cây sàla, năm cây sàla, bốn cây sàla, ba cây sàla, hai cây sàla, chỉ một cây sàla. Nước các biển lớn dừng lại, sâu đến bảy đầu người, sâu đến sáu đầu người, năm đầu người, bốn đầu người, ba đầu người, hai đầu người, một đầu người, nửa đầu người. Nước các biển lớn dừng lại, sâu chỉ đến eo lưng của người, chỉ đến đầu gối của người, chỉ đến mắt cá của người.
Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru, sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên. Ví như, này các Tỳ-kheo, các lò của người thợ gốm mới đốt lửa lên, sanh khói lên, phun khói lên. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên.
Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ bảy hiện ra, trái đất lớn này và núi chúa Sineru bốc cháy, rực cháy, trở thành một màn lửa. Và khi quả đất lớn này và núi chúa Sineru cháy đỏ lên, cháy rực lên ngọn lửa do gió thổi bốc cao đến Phạm thiên giới. Các chóp ngọn của núi Sineru, cao đến một, hai, ba, bốn, năm trăm do tuần, khi bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, bị cả khối lửa to lớn phá hoại và chinh phục, liền sụp đổ xuống. Sau khi quả đất lớn và núi Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Ví như, này các Tỳ-kheo, khi bơ và dầu được cháy đỏ, được cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VII. Ðại Phẩm, (II). Mặt Trời)
Cả một cái đại dương mà mên mông bao la thâm sâu rộng lớn như vậy mà nó còn rút khô cạn kiệt rồi tới lúc tận cùng tới đáy luôn thì còn nói gì một chút máu, một chút mủ, một chút nước miếng, nước tiểu trong cái con người này, đừng nói gì tới một cái thân yểu thọ mấy chục năm này đầy tham lam và khát á thì có xá là cái gì.
"Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại thủy giới xưa ấy có thể nêu rõ, tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Chúng ta thấy ngài nói nước mà nó cuốn trôi hết đồ đạt, xe cộ, người, cuốn trôi hết cả làng mạc, thành phố, cuốn trôi cả quốc độ rồi nó cạn kiệt, nó hạ xuống. Khi các mặt trời xuất hiện, hai mặt trời, ba mặt trời, bốn mặt trời, năm mặt trời, sáu mặt trời và bảy mặt trời cùng xuất hiện một lúc thì trái đất này cháy như tàn nhang. Bây giờ những ngọn núi lửa đang trực chờ phun trào, người ta phải di dời hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn người, cột khói bốc cao hàng chục cây số, phun ra vô số tro bụi, lửa. Khủng khiếp và kinh hoàng thì huống chi một cái thân yểu thọ này, một cái thân khát ái đây có gì là mình, là của mình, là tự ngã của mình.
"Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỳ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: ...(như trên)... và xả tương ứng với thiện được an trú. Chư Hiền, cho đến mức độ này, vị Tỳ-kheo đã làm thật nhiều" (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Cái sự thể thân này là như vậy, cái nhân duyên do xúc, do thọ, do tưởng, do hành, do thức này là cái thứ lắp ráp, vô thường, một đống khổ đau, một đống phiền não, một đống lo lắng, một đống tham, sân, si, dục ái, sân hận, bản ngã, chẳng có cái gì trong này để cho mình nắm giữ, để bị chấp thủ trong này. Mình ngao ngán, nhàm chán, hướng đến sự từ bỏ, thoát ra, tâm của vị này hoan hỉ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định tùy thuộc giới đối tượng, vì thấy được cái tính chất vô thường, khổ não của nó mà mình đã thoát ra cái sự chấp thủ cho nên mình vui vẻ, hoan hỉ, mình thích thú. Tâm tịnh chỉ là nó lắng lặng, nó bình an, tùy thuộc giới đối tượng là nó muốn tan rã tới đâu nó tan, mặc kệ nó, nó sanh thì sanh, nó diệt thì diệt, tâm mình bình an vì mình không có cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, không có nắm giữ nó, mình không có chấp thủ vô nó.
"Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỳ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau: 'Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Cái như bản chất nó là vậy mà, cái thứ giòn bể này, cái thứ biến hoại, cái thứ đổ nát tan hoang này thì nó phải chịu như vậy, đó là đúng rồi, tự thể nó là như vậy, bản chất là vậy, bản tánh là vậy, không thể vượt khỏi tính chất ấy.
"Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: 'Chư Tỳ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy'. Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đãi. Niệm được an trú không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm thân này, mặc cho gậy xúc chạm thân này, mặc cho gươm xúc chạm thân này, lời dạy chư Phật cần phải được thực hành." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Phải thực hiện lời dạy của Phật, chỉ có thực hành pháp này thì mình mới có được sự an lạc, an bình, an ổn, còn không thực hành pháp này thì tai họa, thì tâm gặp nạn ở trong thân. Vị Tỳ-kheo đã niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng như vậy mà xả tương ưng với thiện không được an trú, tâm nó chưa có xả được, còn khó chịu, còn bực tội, còn sân hận thì người này bị dao động mạnh, người này phải tác ý "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú".
Ta đã tu tập quán chiếu như vậy rồi mà bây giờ cái xả này nó vẫn chưa có thành tựu được, nó chưa có buông bỏ được cái thân kiến này, nó chưa có buông bỏ được cái đống đất, nước, gió, lửa này, cái đống nước này, cái đống mủ máu, cái đống đước miếng này, cái đống đước tiểu này mà nó còn tiếc hoài à, còn tham, còn tiếc hoài. Nó còn muốn giữ cái đống tiểu này, cái đống mủ, đống máu này, cái đống nước mắt, cái đống mồ hôi này, ta phải nỗ lực, ta phải cố gắng tinh tấn lên, ta không thể chấp nhận cái trạng thái như vậy được. như Hiền Nếu tỳ kheo ấy Niệm Phật
"Chư Hiền, nếu Tỳ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an trú, thì Tỳ-kheo ấy được hoan hỉ." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Tức là người này không có cái tâm dao động, không có giận hờn, sân hận gì nữa dầu bị người ta mắng chửi, đánh đập, thậm chí là đâm chém mà tâm không bị dao động được tương ưng với xả thì vị Tỳ-kheo này hoan hỉ.
"Chư Hiền, đến mức độ này, Tỳ-kheo đã làm thật nhiều." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Nói bình dân bây giờ là tu giỏi, thành tựu rồi, việc cần làm đã làm xong, đây là cũng phải gần gần tới A-la-hán rồi hoặc là A-la-hán.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.