Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Quán Chiếu Tứ Đại & Phá Chấp Thủ -Tôi - Của Tôi (Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 2)

2026-03-18 06:54:27
NIKĀYA GIẢNG GIẢI

QUÁN CHIẾU TỨ ĐẠI & PHÁ CHẤP THỦ

TÔI - CỦA TÔI

(ĐẠI KINH VÍ DỤ DẤU CHÂN VOI 2)

–Thích Minh Thành–

Kính bạch chư tôn và chư hiền hôm nay chúng ta tiếp tục nghe Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi.

"Chư Hiền, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Chư Hiền, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. hư cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy; cái gì khiến cho những vật được ăn uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc nội hỏa giới và những gì thuộc ngoại hỏa giới, đều thuộc về hỏa giới. Cần phải như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Sau khi như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với hỏa giới, tâm từ bỏ hỏa giới." (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

Đây là ngài Xá-lợi-phất chỉ chúng ta cái pháp quán về tứ đại và ở đây là thuộc về hỏa đại. Trong phần lửa này có chia ra lửa bên trong và lửa bên ngoài, chúng ta thấy phần thiền quán a là tuệ phân tích, chia chẻ, tháo gở, tháo mở cho bung ra hết. Nếu nói đơn giản là một con người, nói theo người đời cái danh từ đơn giản dễ hiểu là một con người nhưng chữ "một con người" ở trong pháp luật của bậc thánh không có. Một con người đó là cái nhìn, cái quan điểm, cái suy tưởng, cái nhận thức của vô văn phàm phu, của những người mê, ở trong thánh pháp chỉ có năm nhóm, năm tổ hợp, năm sự tích tụ, chất chứa cho nên cái bài thánh trí hôm trước con thiền quán với chúng ta là thánh trí sanh tử đó thật ra cái đó chỉ là cái tổng quát đơn giản thôi chứ không có đơn giản vậy.

Đức Phật bung hết mười hai nhân duyên, trong đó mới lấy mười nhân duyên mà bung ra là bốn mươi cộng với thêm nữa là trở thành bốn mươi bốn. Mỗi một cái nhân duyên như vậy là đều đưa bốn thánh trí vào hết, quay ngược lại ở đây chúng ta thấy khi đã nói năm uẩn rồi thì chúng sanh cũng chưa phá được cái mê nữa. Cho nên từ trong cái sắc pháp nhìn sâu vào bên trong các yếu tố cấu tạo nó thì bốn đại vậy cũng chưa hết mê, cũng chưa tỉnh hết, từ trong bốn đại này phải phân ra nội địa - ngoại địa, nội thủy - ngoại thủy, đất trong - đất ngoài, nước trong - nước ngoài, gió trong - gió ngoài, lửa trong - lửa ngoài. Bây giờ đang nói về lửa trong thì cái gì thuộc về nội thân, cái gì thuộc về cá nhân, cái gì thuộc về lửa thuộc về chất nóng bị chấp thủ, hôm qua chúng ta đã nhấn mạnh ba cái chữ "bị chấp thủ" này.

Cái tâm chấp thủ là khủng khiếp lắm, nó nắm chặt, nắm cứng, nắm chắc, trời gầm không nhả, chặt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy, diệt hoài không hết cái tâm chấp thủ này. Bậc đạo sư dùng cái từ là cái tâm mê đó và ngài Xá-lợi-phất dùng cái từ "cái thân yểu thọ khát ái do chấp thủ tạo thành", chúng ta thấy những cái từ của ngài Xá-lợi-phất hết sức là sắc bén. Cả cái quả địa này, cả một cái đại dương như vậy mà còn tan rã như tim đèn, như tàn nhang, nó còn cạn kiệt thấy đáy, khô hết đại dương như vậy thì huống hồ chi một chút nước tiểu, nước mắt, mủ, máu, nước miếng trong cái thân này, huống chi một chút da thịt hôi tanh này.

Ngài chỉ cho mình cách quán bung từ ở bên trong hạt bụi ra tới địa cầu, tới hành tinh luôn, gỡ từng cái một như vậy thì mới phá nổi cái tâm mê chứ còn nói chung chung "thân này là giả" vậy thôi thì không đủ sức để phá, nó không có vỡ lẽ ra được, không có sáng mắt ra được, không có chẻ được cái đầu chấp thủ, vô minh, si mê nhưng mà người ta học bây giờ thích ngắn gọn, lẹ, mau, kiểu mì ăn liền cho nên học thẳng vô tánh không luôn à, cái miệng thì nói không nhưng mà cái tâm này chình ình một đống vậy đó. Tại người ta không có chịu khó, không có chịu đi vô chi tiết, không có chịu tuân theo lời của Đức Phật ở đây chúng ta mới thấy từ cái lửa mà ngài còn giải thích là lửa trong - lửa ngoài, đất trong - đất ngoài, nước trong - nước ngoài, gió trong - gió ngoài.

Bây giờ cái lửa đó là những "cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy; cái gì khiến cho những vật được ăn uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ", như vậy gọi là nội hỏa giới, ở đây không có cái tôi nào hết. Trong Đại Kinh Phương Quảng ngài Xá-lợi-phất nói thế nào là sự sống, tuổi thọ và sức nóng thôi, nói vắn tắt chỉ có cái nóng, còn ấm là còn sống, hết nóng lạnh ngắt là chết. Vì thế làm sao trong cái cảm giác toàn thân mà mình cảm nhận được cái chỗ nào nóng lúc đó lập tức mình phải nhớ đây là nội hỏa giới, lập tức ngay cái cơ hội đó mình chụp liền để mình tách cái ý nghĩ là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi ra rồi mình sanh thêm một loại trí tuệ nữa, như vậy mới có công năng phá bung, phá sập, phá vỡ tung, nát ra hết mới được.

Mình ngồi thiền chỗ nào nó ấm, nó nóng lên lập tức mình cảm giác toàn thân ngay chỗ đó là nội hỏa giới, đây là lửa chứ không có gì là tôi, là của tôi trong này, không có gì ta trong đây.

"Còn động còn ấm còn ta,

Động dừng ấm hết là ma ra đồng.

Thở than khóc lóc não lòng,

Thức thần theo nghiệp hết mong trùng phùng".

(Chiếc Thân Phút Chót - Thiền Viện Chân Không, 01.1985)

Đây là câu quán của hòa thượng Trúc Lâm, cái hơi ấm này, cái nóng này, cái hỏa này bị chấp thủ, tâm nó nắm giữ vô đây cho là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Hồi tối này con có suy nghĩ cái chiếc xe người ta quý, người ta yêu, người ta thích, người ta lau chùi, người ta rửa, người ta quét, người ta dọn, người ta xịt, làm đủ thứ kiểu hết, người ta mặc áo này kia cho nó nhưng tới khi xảy ra một việc gì đó mà chiếc xe bị bỏ trong bãi xe hay bỏ hoang ở trong cái chỗ rừng rú hoặc rơi xuống vực thì cũng cái chiếc xe đó nhưng giờ không ai thèm nhìn, không ai thèm ngó, không ai thèm coi, cho mưa, cho gió, cho bão, cho nắng táp mưa sa, không có là cái gì đâu tại vì bây giờ chiếc xe này không còn bị chấp thủ nữa. Còn chiếc xe hồi nãy ở trong nhà là chiếc xe bị chấp thủ, trau chuốt, chùi lau rồi rửa, rồi xịt, mặc áo, một khi mà nó bị vứt bỏ thì không còn chấp nữa, không có cái tâm ham, tâm thích, tâm khoái, tâm nắm, tâm giữ trong đó thì nó trở thành phế vật, phế liệu, phế phẩm.

Cái căn nhà cũng vậy, nhiều khi mình đi ngang thấy có những căn nhà hoang nhiều từng lầu chứ không phải nhà cấp bốn đâu, nhà hoang mà cao to, bự, lớn, thậm chí là tiện nghi nữa nhưng không ai ở hết, người ta bỏ đó như Bảo Lộc mình đi ngang có cái nhà đó bảy, tám tầng, to lắm thậm chí những cái tòa cao ốc, khách sạn lớn bỏ hoang không ai ở, không ai chùi, không ai lau, không ai trông coi gì hết, nó hoang tàn, hoang phế. Tại sao vậy? Vì cái nhà kia là cái nhà bị chấp thủ, có cái tâm tham, có cái tâm dục, có cái tâm ái, có cái tâm nắm giữ vô trong đó thì mới có một cái sự hơn thua nhà tôi bự, nhà kia nhỏ, nhà này đẹp, nhà kia xấu, nhà này to, nhà kia bé, nhà này sang, nhà kia hèn.

Có cái tâm chấp thủ vô đó thì có hơn thua, nó có cao thấp, có lớn bé, nó có sang hèn, còn không có tâm chấp thủ vô đó thì nó trở thành phế vật, phế phẩm, phế liệu, hoang phế. Chúng ta thấy cái món đồ đó mình bỏ hoang, bỏ phế trong hốc, trong xó, trong kẹt giống như món đồ không tồn tại, trong tâm mình không có nghĩ về nó luôn, quên hẳn luôn như là nó không có hiện hữu gì, nhưng ai đụng vô cái món đồ là "cái đó của tôi à, còn tốt lắm, không có cho". Thậm chí để cho hư chứ không cho.

Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét;

Lụa là chất đống, nào có giúp ai.

Được người mấy trăm, chưa cho là nhiều;

Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.

Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai;

Kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí.

Bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo;

Khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.

(Sám hối sáu căn)

Tức là vì có cái tâm chấp thủ, ba cái chữ bị chấp thủ này mình quán chiếu suốt đời luôn chứ còn nếu không thì cái đó chỉ là thế vật thôi, không có giá trị mà nó cũng có không có hiện hữu nữa nhưng hễ có của tôi vô là bị chấp thủ, cái tâm nắm giữ xuất hiện, nó tồn tại, nó hiện hữu là có vấn đề. Tới cái thân này cũng vậy, nhiều người chết bờ chết bụi, mình thấy như chết trong xe đông lạnh, chết ở trong rừng, vừa rồi có người chết ở trong nhà, nằm ở trên cái sofa chết hai năm mà không ai hay rồi giờ ai làm đám ma, ai khóc, tới chừng hai năm sau ở nhà biết lúc đó đau khổ, khóc lóc rồi đi phải suy xét tìm nguyên nhân, tìm hung thủ này kia. Lúc chết rồi ai khóc, ai đưa, ai cúng, thầy nào cúng, không ai biết hết.

Vì có cái tăm chấp thủ, cái tâm ái luyến thì mới có chuyện cho nên mình nhớ cái bài kinh Thế Tôn nói là giờ có ai lại cái rừng Thắng Lâm này chặt cây, chặt lá, chặt cành đem đi đốt mấy ông có nghĩ người ta chặt tay, chặt chân mình không thì các thầy Tỳ-kheo nói là không vì nó không dính dáng gì tới mình, cũng vậy sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không phải ông, phải của các ông, phải tự ngã các ông, các ông phải từ bỏ nó thì các ông sẽ được an vui.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, có người mang lại cỏ, củi, cành cây, lá của Jetavana này, và đốt chúng hay tùy theo duyên sử dụng chúng. Các Ông có nghĩ rằng: 'Người ấy mang chúng tôi, hay đốt, hay tùy theo duyên sử dụng chúng tôi'?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì sao như vậy? Vì cái ấy không phải chúng con. Bạch Thế Tôn, cái ấy không phải thuộc tự ngã của chúng con.

-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Thọ không phải của các Ông... Tưởng không phải của các Ông. Các hành không phải của các Ông... Thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), IV. Phẩm Không Phải Của Các Ông, I. Không Phải Của Các Ông)

Tức là không phải ở trên cái thân này hay là không phải trên cái căn nhà, hay cái chiếc xe, cái món đồ đó mà cái tâm chấp thủ, cái dục, cái tham ở trong cái món đồ đó làm cho người ta đau khổ. Phá là phá cái tâm chấp thủ đó, mà cái tâm chấp thủ đó có ra từ tâm ham thích, cái tâm ham thích có ra vì nó tưởng cái đó là tốt đẹp, ngon lành, của ta, từ cái vô minh, không thấy không biết cho nên bài kinh này ngài Xá-lợi-phất phá không có cái tôi, không có của tôi nào hết, phá cái gốc là phá thân kiến, là phá vô minh, là xóa mù về tứ đại. Người ta ở ngoài người ta xóa mù chữ, đây là xóa mù về trí tuệ, xóa mù về tứ đại, xóa mù về sắc uẩn, xóa mù về sắc pháp, xóa mù về ngũ uẩn, xóa mù về duyên sanh, xóa mù về thập nhị xứ, thập bát giới, xóa mù về cái guồng máy vận hành của đời sống vô minh và các chấp thủ và đầy đau khổ. Bài kinh này là xóa mù, tất cả lời dạy của Đức Phật là xóa mù.

Mình thấy được cái ý nghĩa đó mình học kinh mới nắm được cái lõi và từng lời từng chữ ở trong đây đánh phá vô cái tâm hôn mê, cái tâm vô minh, cái tâm khát ái, cái tâm chấp thủ, cái tâm nắm giữ, cái tâm yêu thích và cái tâm cho đó là tôi, là của tôi, là tôi. Mỗi câu mỗi chữ trong đây là nẻ, là nả súng, là bắn, là phá, là diệt, là xuyên thủng cái tâm hôn mê đó. Ví dụ khách từ thập phương đến chơi mà Vân Thủy Đường cháy thì người ta chỉ thấy là cái nhà bị cháy thôi, người ta nhìn rồi người ta đi nhưng người nào nhìn cái nhà đó là tôi, là của tôi thì người đó đau khổ. Nếu cái người không có cái tâm đây là của tôi người đó không có đau khổ, tự thể nó là vậy, pháp nhĩ nó là như thị, bản chất nó là vậy, tính chất nó là vậy không thể vượt khỏi tính chất ấy.

Bây giờ tám mươi người ở chung nếu mình với người này bình thường không có gì hết thì người kia lỡ bị bệnh nặng, hay là té đạp đầu, hay là bị tử vong thì mình cũng bình thản thôi, cũng thấy vô thường vậy thôi. Nhưng nếu như người đó là người thân rất thân với mình, hoặc là mẹ con, cha con, anh em huynh đệ mà chơi thân nhất trong chúng thì người này đau khổ không? Sầu, bi, ưu, não không? Ái là gốc của khổ sầu, là rễ của buồn đau, là căn bản của tất cả khổ cho nên:

"Chớ gần gũi người yêu,

Trọn đời xa kẻ ghét.

Yêu không gặp là khổ,

Oán phải gặp cũng đau"

(Kinh Pháp Cú 16 – Phẩm Hỷ Ái, kệ 210)

"Do vậy chớ yêu ai,

Ái biệt ly là ác;

Những ai không yêu ghét,

Không thể có buộc ràng."

(Kinh Pháp Cú 16 – Phẩm Hỷ Ái, kệ 211)

Có một vị Bà-la-môn gặp Thế Tôn trong rừng thì hỏi ngài ngồi đây có buồn, Đức Phật trả lời không có cái gì mà phải buồn, vị Bà-la-môn hỏi tiếp Đức Phật có vui không thì Đức Phật trả lời có gì mà vui. Tìm, muốn cái gì đó mà không được thì mới buồn, hoặc là được có những cái mình tìm muốn thì mới có vui, còn người không có tìm, vô dục, vô cầu, vô ái thì có gì buồn vui, Đức Phật nói cái bài kệ xong thì vị Bà-la-môn này tán thán Đức Phật thật là vi diệu thay thưa Thế Tôn, thật là hi hữu thay tôn giả, thật là kỳ lạ thay thưa bậc tu hành và xin quy y với Đức Phật. Đó là bậc vượt lên tất cả cái gì những cái ham thích, yêu thích, đó là cái tâm bất động giải thoát, không còn chấp thủ.

"Một thời Thế Tôn sống ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.

Lúc bấy giờ, nhiều thanh niên lượm củi, đệ tử của Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja, đi đến khu rừng ấy.

Sau khi đến, họ thấy Thế Tôn ngồi kiết-già trong khu rừng ấy, lưng thẳng và để niệm trước mặt. Thấy vậy, họ liền đi đến Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja.

Sau khi đến, họ nói với Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja:

-- Tôn giả có biết không, tại một khu rừng kia, có vị Sa-môn ngồi kiết-già, lưng thẳng và để niệm trước mặt?

Rồi Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja cùng với các thanh niên ấy đi đến khu rừng và thấy Thế Tôn tại khu rừng ấy, đang ngồi kiết-già, lưng thẳng và để niệm trước mặt. Thấy vậy họ liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Trong khu rừng thâm u,

Nhiều dễ sợ khủng khiếp,

Rừng trống không, hoang vắng,

Ngài vào sâu một mình,

Thân bất động, kiên trì,

Ðẹp đẽ và uy nghi.

Này Tỳ-kheo, Ngài thiền

Với tâm tư định tĩnh.

Ở đây không ca hát,

Ở đây không nói năng,

Cô độc trong rừng sâu,

Bậc Thánh nhơn an trú,

Như vậy đối với con,

Thật kỳ diệu hy hữu.

Khi Ngài sống một mình,

Hoan hỉ trong rừng vắng,

Con nghĩ, Ngài ước nguyện,

Ðồng sanh làm thân hữu,

Với bậc Thế giới chủ,

Tại vô thượng Tam thiên.

Vậy sao bậc Tôn giả,

Không bỏ rừng hoang vắng,

Tu khổ hạnh ở đây,

Ðể đạt Phạm thiên quả?

(Thế Tôn):

Phàm có ước vọng gì,

Hay những ái lạc gì,

Những gì kẻ phàm phu,

Thường chấp trước các giới,

Các tham ái khởi lên,

Từ gốc rễ vô minh,

Tất cả Ta đoạn tận,

Trừ cả gốc lẫn rễ.

Nay Ta không ước nguyện,

Không tham ái, chấp trước,

Ðối với tất cả pháp,

Ta thấy đều thanh tịnh.

Ðạt được Chánh Ðẳng Giác,

Và mục đích tối thượng,

Ta tu tập Thiền định,

Vắng lặng, không sợ hãi.

Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, VIII. Katthahàra)

Người tu không có vấn đề thân với ai thiệt là thân, không có sơ với ai hết, cái tâm đó là cái tâm thường tình, không phải là tâm tu. Cái tâm tu là cái tâm bình đẳng, ở trong chúng bình đẳng, không phải hợp ý tôi thì tôi chơi, không hợp ý tôi thì tôi không chơi, tệ hơn nữa là chia phe, chia nhóm ra thì cái đó là phàm tình hết, không phải tâm của bậc hiền giả, hiền trí. Sự tu này là tháo gỡ các cái chấp thủ, các tham ái mà, sao giờ có vụ thân với sơ, thương với ghét ở đây, đối đãi tất cả bằng một cái tâm bình đẳng, cái tâm hiền, một cái tâm từ, một cái tâm biết ơn và cung kính đối với tất cả. Nếu mình thấy thân quá với người nào mình phải giảm bớt cái thân này lại, hạn chế lại, kiểm soát lại, nếu mình thấy mình sơ với người nào quá thì phải có trải tâm hiền, tâm từ đến người đó.

Phải làm cho tâm mình nó quân bình, Đức Phật dùng từ tâm thăng bằng ở cái chỗ không thăng bằng là vậy đó. Khi có cái tâm thương, tâm ghét, tâm thân, tâm sơ, ưa hay không ưa là cái tâm không thăng bằng, cái tâm không quân bình, mà cái tâm không thăng bằng thì đi gập ghềnh, đi gập ghềnh thì nó dễ té. Tâm không có quân bình thì cái tâm đó sẽ dao động, ở trong chúng không có an lạc, không có dễ chịu, gặp người mà mình thích, mình thân là mình ái, gặp cái người không ưa là từ trong ánh mắt, từ trong thọ, tưởng, hành, thức nó thể hiện ra.

Trong khi tu là để mình đoạn ái, mình phá chấp thủ mà tại sao giờ mình lại sống là thân sơ, thương ghét, ưa với không ưa? Cái này là cái khéo sử dụng mà quán chiếu cho nên phải thấy được cái tâm chấp thủ của mình, phải nhận diện được bốn thánh trí ngũ uẩn là không phải chỉ để dành đọc tụng mà vận dụng vào để thấy cái tâm chấp thủ, cái mức độ chấp thủ như thế nào, còn nhiều ít, dày mỏng, sâu cạn để mình đánh phá nó, dùng cái sự quán này để phá.

Cái tâm thân thương phải thấy được cảm thọ này không phải tôi, không phải của tôi, dứt ra cái cảm thọ này, từ bỏ ra cái cảm thọ này, đánh phá cái cảm thọ này. Cái tâm ưa hay là cái tâm ghét phải đánh phá được, dứt ra được, tháo gỡ ra được để cho một cái nội tâm quân bình, bình đẳng, không có cảm thọ nào là tôi, là của tôi hết, không có cái đống lửa nào là tôi, là của tôi, không có cục đất nào là tôi, là của tôi hết, không có cái vũng nước nào là tôi, là của tôi hết. Đang ngồi ở đây là một cục đất, một vũng nước và một đống lửa, không có con người nào ở đây hết, không có cái ta nào ở đây hết, đất, nước, gió, lửa này nó vò lại rồi nó nặng ra, nó vận hành, chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả thôi.

Mình phải loại bỏ cái suy nghĩ về của tôi đó là phải giết chết một cách hoàn toàn, nó khởi một cái suy nghĩ của tôi là mình phải truy sát nó, diệt tận giống như mình đánh giặc mà mình truy cùng diệt tận. Ở bên trong khởi nên suy nghĩ của tôi là mình dập nó tới tấp luôn, hình bóng của tôi mình cũng đánh phá, những cái cảm thọ của tôi là mình truy xác nó, đuổi giết nó. Đó là phá thân kiến, chứ còn bây giờ khởi lên của tôi rồi để y nguyên, không có tác ý gì hết thì làm sao diệt được nó. Thí dụ món đồ là mình thích có người lấy mất hay sài đỡ thì mình tặng luôn, cúng dường luôn cho chư tôn, cúng dường cho chư hiền luôn để coi cái nào của mày. Đặc biệt mình cúng dường những món mình thích thì mình được những cái điều bất khả tư nghì, con mà được cái quả báo này mà người thật, thực nghiệm, thật chứng về cái vấn đề bố thí này.

Lúc đó có chú làm tượng Phật tặng con một bức tượng Phật Thích-ca Mâu-ni bằng gỗ mà con ưng ý vô cùng luôn. Con gặp bậc đạo sư ngài nhìn cái là con đem cúng dường, con rất là hoan hỉ, con cúng ông Phật giả nhưng cuối cùng được gặp ông Phật thiệt, tuyệt vời không? Con cúng dường cho ngài là cúng cái tượng Phật giả thôi nhưng mà ngài chỉ cho co ông Phật thật, trong kinh nói bố thí được, cho được những cái khó cho thì quả báo của mình được hơn những gì mình mong muốn về cái pháp hữu vi. Thí dụ như mình mong muốn nó chỉ cần năm, bảy thôi nhưng mà mình được mười, hai mươi, không phải bố thí để mình cầu mong được cái đó nhưng quả báo là vậy. Cho những cái khó cho, cho những cái mà mình ưa thích và đó cũng là phá đi cái tâm tham ái, chấp thủ đối với món đồ đó.

Nếu món đồ còn chưa xả được thì làm sao xả được thân người? Bị mắng, bị huỷ, bị nhục, bị chê, bị đánh, bị đập, bị đâm, bị chén tâm không dao động, phải làm từ những cái bên ngoài, từ những cái dễ rồi từ từ mới đi vô cái khó, từ cái ngoài mới đi vào cái bên trong, từ bên trong mới đi sâu thẳm vô những thọ, tưởng, hành, từ những thọ, tưởng, hành mới đi sâu vô cái sự chấp thủ và đi sâu vào trong các lậu hoặc. Có từng lớp như vậy.

"Chư Hiền, một thời xảy ra khi hỏa giới dao động. Lửa thiêu cháy làng, thiêu cháy thị trấn, thiêu cháy thành phố, thiêu cháy xứ, thiêu cháy quốc độ. Lửa cháy cho đến cuối hàng cây cối, cho đến cuối hàng đường lớn, cho đến cuối hàng chân núi, cho đến cuối hàng thủy biên, hay cho đến cuối hàng khu đất khả ái, rồi lửa bị tắt vì không nhiên liệu. Chư Hiền, một thời xảy ra khi loài người đi kiếm lửa phải dùng lông gà và dây gân. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại hỏa giới xưa ấy có thể nêu rõ; tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là." (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Đây là đại hỏa tai khởi lên thiêu hủy cả một thị trấn, thiêu cháy hết cả một thành phố, thêu rụi hết cả một xứ sở, cả một đất nước. Lửa cháy cho đến cây cối gì cũng tiêu, đường sá, rồi núi non, rừng rậm, cháy cho đến tận cùng của bờ biển là thủy biên. Đại hỏa tai nổi lên và cả cái địa cầu này trở thành một cái tàn nhang, trở thành một cái đống tro và gió phong luân nổi.

"Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại phong giới dao động, gió thổi bay làng, thổi bay thị trấn, thổi bay thành phố, thổi bay xứ, thổi bay quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi trong tháng cuối mùa hạ, loài người tìm cầu gió nhờ lá cây ta-la, nhờ cây quạt, và người ta không mong tìm được cỏ tại chỗ có rạch nước chảy. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại phong giới xưa ấy có thể nêu rõ; tánh hủy hoại có thể nêu rõ; tánh đoạn diệt có thể nêu rõ; tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là." (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Cả một cái địa cầu mà nó cháy thành ra một cái đống tro, cả một cái thế giới mà nó thổi bay tan tành, tan nát, tan hoang như vậy thì huống gì một chút xíu lửa hơi ấm trong con người nhỏ nhen như con kiến này. Có là gì trên cái cuộc đời này, có cái gì đáng ở trong đây để cho rằng đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi rồi vênh váo, rồi ta đây, hách dịch, vỗ ngực xưng tên trong cuộc đời này.

"Chư Hiền, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Chư Hiền, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc động tánh, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các chi tiết (tay chân), hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội phong giới. Những gì thuộc nội phong giới và những gì thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong giới. Cần phải như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Sau khi thấy như thật phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới." (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Lửa và gió thì cái dễ thấy nhất là cái hơi thở khì khịt, mình ngồi lại nhìn thấy đây là một đống đất đang ngồi đây, một vũng nước, một đống lửa, một đốm lửa và một làn gió đang khì khịt trong cái đống đất nhơ nhớp này, ô uế này, không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi không đây. Chẳng qua cái đống đất này là nó bị cái tâm hôn mê này nắm giữ, nó yêu thích, nó say đắm, nó khao khát, nó thèm khát, si mê, ám muội trong này, nó làm hang, làm tổ ở trong cái đống đất này. Ngồi đây chẳng có thấy có một người nào, chẳng có một ai cả, chỉ là một vũng nước nhưng đâu phải được nước trong đâu, máu, mủ, nước miếng, nước tiểu, nước khớp xương, mồ hôi, nước mắt, một cái đống nước mà nó không được đống nước sạch nữa, một đống nước dơ, đống nước tanh, đống nước hôi và một đống nước bẩn thối.

Một cái đống nước mà nó luân lưu, nó đầy đủ bên trong này, tạm gọi là có một cái sắc pháp, có một cái sắc uẩn, có một cái sắc tướng giả danh như vậy. Không ai ở đây cả, không có một con người nào đây cả, không có Trần Văn A, Nguyễn Thị B, mít, xoài, mận, ổi gì đây cả, chỉ là một vũng nước, máu, nước mắt, nước mũi, nước miếng, nước đái, mủ nhơ nhớp, tanh hôi, bẩn thỉu, xú uế. Đau đớn thay là cái tâm hôn mê, cái tâm mà nắm giữ, cái tâm tham thích, khoái, cái tâm ngu si mà nó cho rằng cái đống máu mủ, mỡ này, cái đống nước miếng, nước tiểu này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi là một sự bất hạnh thay cho ta, thật là đau đớn thay cho ta, thật là tai họa thay cho ta, thật là rủi ro cho ta, thật là không có may mắn cho ta khi ta phải với một cái tâm hôn mê mà nắm chặt, nắm giữ, nắm chắc, nắm cứng ở trong một cái đống đất này, vũng nước dơ này, cái đốm lửa nhỏ như vậy để ngày đêm nó thiêu đốt tim, gan, máu như vậy, nó phừng phựt, nó sôi sụt như vậy.

Lửa này nấu cho nước sôi lên, bốc cái hơi thọ lên để nó ưỡn ngực, nó vương vai, nó hất mặt lên, nó nghênh ngang, nó kênh kiệu, ta đây, nó ngu si ở trên cái cuộc đời này. Không có ai ở đây cả, không có cái gì ở đây cả, chỉ là một cái đống đất dơ, một đống nước thúi, đốm lửa đốt lên sôi sùng sục vậy đó, sôi lên với dục, soi lên với sân, nó sôi lên với cái bản ngã, hơn thua, tranh giành, đấu đá, ganh tỵ trên cuộc đời này. Sau đó nhìn thấy gì một làn gió thổi vô thổi ra, nó đi ra đi vào, hô hấp, tuần hoàn, làn gió này được duy trì, được luân lưu điều đặng, nó được mượn trả như vậy thì tạm có một cái sắc pháp, một cái sắc uẩn, một cái sắc tướng hư dối này. Cái sự vận hành của nó là vô minh, nghiệp và nhân quả ở trong khát ái, không có con người nào, không có một cái ta nào, không có một cái tôi nào, không có một cái ai cả ở trong đây.

Tìm kỹ thật là kỹ trong cái đốm lửa này nó không có tôi, không có của tôi, tìm thật là kỹ, nhìn thật là sâu ở trong làn gió này không có ai cả. Chỉ là cái tâm hôn mê, cái tâm ngu muội, cái tâm nắm giữ, chấp chặt vô trong này với một cái ảo tưởng, với một cái ý hành đó, nó có ra một cái suy nghĩ là tôi, của tôi, từ đó nó mới sầu, bi, khổ, ưu, não, bất an, lo lắng, sợ hãi, làm đủ mọi kiểu trong một cái vở tuồng mà tổng đạo diễn là vô minh và khát ái, chấp thủ. Chúng ta phải quán thật là sâu sắc trong cái tứ đại mà nó hèn hạ, thấp kém này, ngài Xá-lợi-phất gọi là cái gì cái thân yểu thọ khát ái bị chấp thủ này không có đáng cho mình nắm vô đây, không có đáng cho mình giữ trong đây, càng không có đáng cho mình say đắm, cho mình đau khổ trong cái thứ này, cái thứ đầy tai họa, ung nhọt này, nguy nan, đầy khổ nạn này, đầy lo lắng, bất an và sợ hãi này.

Tâm từ bỏ từ đất trong, đất ngoài, từ bỏ lửa trong, lửa ngoài, từ bỏ nước trong, nước ngoài, không có cái nào tôi, là của tôi trong cái vũng nước này, cái vũng máu, vũng nước mắt, vũng mồ hôi, cái vũng nước tiểu, nước đái này. Không có tôi, của tôi nào trong làn gió vô ra khì khịt này, mượn và trả liên tục này, nay tâm ta từ bỏ cái ý niệm đất này là ta, là của ta, nay tâm ta từ bỏ từ bỏ cái ý niệm nước này là ta, là của ta, nay tâm ta từ bỏ cái ý niệm cái suy nghĩ, cái cảm giác, cái hình bóng, gió này là ta, là của ta, tửa này là ta, là của ta. Ngay ta từ bỏ, nay ta rời xa, nay ta tránh né, nay ta tránh xa, nay ta tránh ra, nay ta thoát ra, nay ta thoát đi, ra đi khỏi cái ung nhọt, cái bệnh hoạn, cái bất an, cái lo lắng, cái sợ hãi, cái khổ sầu này.

Tâm ta từ bỏ, tâm ta thoát ra, tâm ta rời xa, tâm ta xuất ly cái thứ khổ này, cái đống khổ này, phải phá sạch cái hang ổ này, cái xào huyệt của cái tâm mê này, đánh vỡ hết những cái chấp thủ ngu si, mê muội trong này. Con đang nói ở đây là gió, không có ai nói đâu, không có ai nghe, chỉ là đất, nước, gió, lửa vận hành theo cái mô típ, cái cấu trúc, cái cơ cấu hoạt động của nó là nó phát âm thanh, không có người nào nói, không có người nào nghe hết, chỉ là cái tâm hôm mê, chấp thủ nói "tôi nói cho mọi người nghe". Cái tâm tỉnh giác, cái tâm chánh niệm không có, hoàn toàn không có ai hết, cái cục đất, cái vũng nước, đốm lửa và một làn gió khì khịt gom lại, nhồi nắn lại, kết hợp lại thì nó ra một cái sắc pháp hư huyễn.

Cái tánh chất đổi thay của đất, nước, gió, lửa nè, cái tánh chất di dịch, đổi dời, biến dịch của nó là có thể thấy rõ từ ngàn xưa cho đến nay. Cái tánh chất huỷ hoại, tan nát, hoại diệt, diệt tận của nó là có thể thấy rõ, tất cả các bậc thánh đều thấy rõ, tất cả mọi người đều thấy rõ, chẳng qua cái tâm mê đó tỉnh được chút xíu ngay lúc gặp tai họa đó rồi trở về cũng quay lại cái tâm hôn mê. Còn bậc trí tuệ, bậc chánh niệm tỉnh giác là giữ cái tỉnh đó luôn, duy trì cái tỉnh đó, tác ý cái tỉnh đó, tư duy cái tỉnh đó, tư niệm, chánh niệm cái sự tỉnh thức đó, sống với cái tỉnh giác đó, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, nhiếp phục tham ưu ở đời.

Cả cái địa cầu, cả tứ đại hải vương, cả một cái hỏa giới rộng lớn, hỏa đại, cả một cái không luân gió như vậy mà tất cả mà đều tan tành theo mây khói hết thì huống gì cái thân giống như con kiến này. Thân do khát ái yểu thọ chấp thủ này thì có cái gì đâu, chỉ là cát bụi trên cuộc đời này, có tôi nào ở trong đây đâu, nhìn cho sâu, nhìn cho kỹ, nhìn cho rõ, nhìn cho thấu, nhìn cho tột, loại bỏ hoàn toàn cái ý niệm về tôi, của tôi, hình bóng về tôi và của tôi, những nhận thức, tư duy, tư tưởng, phá vỡ một cách hoàn toàn, thoát ra một cách trọn vẹn, diệt tận hoàn toàn cái ý niệm tôi, của tôi, tôi là đó.

"Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỳ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: 'Khổ thọ khởi lên nơi tôi này thuộc tai xúc chạm; thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên. Do nhân duyên gì? Do nhân duyên xúc vậy'. Vị ấy thấy xúc là vô thường; vị ấy thấy thọ là vô thường; vị ấy thấy tưởng là vô thường; vị ấy thấy hành là vô thường; vị ấy thấy thức là vô thường; tâm của vị này hoan hỉ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc giới đối tượng." (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Đây là pháp hành cho chúng ta khi tiếp xúc của tai, bị ắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não nhưng vị này quán cái cảm giác khổ khởi lên này là thuộc về cái sự tiếp xúc của lỗ tai, nhĩ xúc thôi. Cái sự tiếp xúc này là do duyên sanh, do cái lỗ tai, do cái tiếng, do cái sự nhận thức này, không phải là không do duyên sanh, nó là lắp ráp, nó là kết hợp, nó là chấp nối, nó là con rối, nó là vở tuồng, nó là cái đồ dỏm, nó chỉ là do cái sự tiếp xúc thôi. Nghe cái tiếng vậy thôi nhưng mà cái sự tiếp xúc này nó là vô thường, nó là đổi thay và cái cảm giác này nó cũng là thay đổi, những cái hình bóng này nó cũng là biến dịch và mọi cái suy nghĩ này không thể tin tưởng vào cái sự sanh diệt của nó, cái biết, cái nhận thức này, cái nhĩ thức này cũng là cái thứ ảo thuật, cái thứ giả dối cho nên khi quán được như vậy, niệm được như vậy, suy tư được như vậy, an trú được như vậy thì tâm vị này hoan hỉ, thích thú dù đang bị chửi, đang bị mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, chửi rủa, đang bị làm cho bực bội nhưng quán được như vậy tâm hoan hỉ, thích thú, tịnh chỉ, là dừng lặng, tâm yên lặng, lặng yên.

Mặc dù đang bị người ta làm cho bực bội mà tâm vị này lặng yên, im ru, quyết định cái thứ vô thường, cái thứ giả dối, cái thứ duyên sanh, không có gì là tôi, là của tôi trong đây. Quyết định như vậy, xác quyết như vậy đó, quyết chắc như vậy đó, quả quyết vậy đó, mặc kệ muốn chửi gì cứ việc chửi, cái nùi giẻ này, cục đất này, vũng nước dơ này, cái đốm lửa này, làn gió này mặc ai muốn chửi, muốn hủy nhục, mặc kệ ai, "tùy thuộc giới đối tượng" là vậy đó. Mặc kệ, không sao hết, không có ai ở đây cả, không có ai chửi và không có ai bị chửi, không có ai mắng và không có ai bị mắng, không có ai chỉ trích và không có người bị chỉ trích, không có ai chọc tức và cũng không có người chọc tức, không có ai gây cho mình một cái sự bực bội và cũng không có ai chịu sự bực bội này hết. Tất cả là một sự trống rỗng, sự giả dối, là một vở tuồng, một thứ vô thường, một thứ duyên sanh, thứ ảo thuật.

Hồi đó mình ngu mình không biết, còn giờ thấy biết rồi nên mình vui, mình thích thú, ai vui bằng mình không, ai thương bằng mình không, ai hiểu bằng mình không, ai mà có thể buông xả được như vậy, cái trí tuệ tối thượng này không. Vui quá, thích thú quá, tâm mình quyết định với trí tuệ, Với thánh trí, tâm mình quyết định với duyên sanh pháp, tâm mình quyết định với sự vô thường, tâm mình quyết định với sự vô ngã, tâm mình xác quyết, quyết chắc, trọn vẹn trước những thứ vô giá trị, vô tích sự, vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã, trống rỗng, trống không, mặc kệ nó.

Ta là ai trên cuộc đời này? Ta là một cục đất dơ dáy và bẩn thỉu. Ta là ai trên cuộc đời này? Ta là một đốm lửa nhỏ nhen, nhỏ bé. Ta là ở trên cuộc đời này? Ta là một vũng nước hôi tanh, vũng máu, mủ, nước miếng, nước đái. Ta là ai trên cuộc đời này? Ta là một làn gió khì khịt vô ra, vay mượn. Các pháp tự vận hành theo nhân quả, theo nghiệp, nó sanh rồi nó sẽ diệt, phàm cái gì sanh khởi tất cả đều phải hoại diệt, phải diệt tận.

Cái gì sanh phải diệt thôi

Cái gì hiện hữu cũng rồi tiêu tan

Ngồi nhìn mây trôi, ngắm làn gió thảng qua ở giữa cuộc đời thịnh suy, thành bại, được mất, thăng trầm, vinh nhục này tâm nhẹ nhàng, tâm thênh thang, tâm bình an, tâm tịch lặng, vắng lặng, tịch tịnh. Tu như vậy có tuyệt vời không ạ?

"Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỳ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau: 'Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm. Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: 'Chư Tỳ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy'. Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đãi. Niệm được an trú không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm thân này, mặc cho gậy xúc chạm thân này, mặc cho gươm xúc chạm thân này, lời dạy chư Phật cần phải được thực hành" (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Vì cái thân làm bằng đất, nước, gió, lửa, vì cái thân vô thường, vì cái sắc pháp này được tứ đại tác thành, do cha mẹ sanh, cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, tan hoại như vậy, huỷ hoại, hoại diệt như vậy cho nên cái sự thể của nó là như vậy thì nó mới bị mắng, bị chửi, bị đánh, bị đập, bị đâm, bị chém. Nó là đương nhiên, nó là phải vậy đó, gọi là pháp nhĩ như thị là nó đương nhiên, nó lẽ đương nhiên, nó phải vậy, nó phải là như vậy vì nó mang một cái thân như vậy thì nó phải như vậy, đó là lẽ đương nhiên.

Ta phải tinh cần, tinh tấn lên, ta phải siêng năng, nỗ lực lên, không có lười nhác. Niệm phải được an trú, không có loạn niệm, thân phải nhẹ nhàng không dao động, tâm được định tĩnh, thuần nhất, nhất tâm. Ta phải tinh tấn hơn nữa, ta phải nỗ lực hơn nữa, phải nhiệt tâm hơn nữa, phải quán chiếu sâu sắc hơn nữa trí tuệ tối thượng này, dầu cho người ta có mắng, có chửi, có đánh, có đập, có đâm, có chém, có giết hại cái thân này tâm ta cũng phải an trú, cần phải thực hành lời dạy của Chư Phật với một tâm từ nhẫn. Vô sanh pháp nhẫn tức là thấy được không có ta, không có của ta thì cái nhẫn đó gọi là vô sanh pháp nhẫn, vì nhận thức được sự thật tâm không còn sanh khởi ra cái sân hận và bản ngã gọi là vô sanh pháp nhẫn, tâm bất động, không giao động. Tu được như vậy là tuyệt vời, tuyệt diệu, tuyệt luân.

"Chư Hiền, Tỳ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú." (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Tức là khi vị này bị mắng chửi, huỷ nhục, chỉ trích, đánh đập, đâm chém, vị này đã đem hết cái sự tuệ quán, thiền quán, tác ý quán niệm như vậy rồi, công phu như vậy mà bây giờ tâm vẫn bị giao động mạnh. Vị này đau khổ, vị này có cái sự giao động, sân hận thì phải tác ý thế nào?

"Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh 'Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú'." (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Ta chưa có an chú được vào hoàn toàn trong cái tâm buông bỏ khỏi thân kiến này, buông bỏ khỏi cái chấp thân này, buông bỏ khỏi tứ đại này, chưa được an trú hoàn toàn như vậy là bất hạnh cho ta, thật là không may cho ta, thật là rủi ro cho ta, thật là không tốt đẹp cho ta, thật là tai họa cho ta vì ta vẫn còn nắm giữ vào cái đất, nước, gió, lửa này, cái ý niệm về tự ngã này.

"Chư Hiền, ví như một người dâu, khi thấy ông nhạc, bị dao động, bị dao động mạnh. Cũng vậy, chư Hiền, nếu Tỳ-kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: 'Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú'." (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Cái chỗ ví dụ này rất là nhẹ, thấy cha chồng chỉ là rụt rè, xấu hổ một chút thôi tức là chỉ cho tâm vị này đi gần tới rồi. Dù bị mắng, bị giết, bị huỷ, bị nhục, bị đánh, bị đập, bị đâm, bị chém như vậy mà cái sự dao động chỉ giống như nàng gặp cha chồng thôi. Chúng ta biết cái ví dụ của Đức Phật là không phải sân hận, phẫn nộ dữ dội đâu, chỉ giao động nhẹ thôi mà vậy vẫn trách cái tâm của mình thật là bất hạnh cho ta, thật là không may cho ta, thật là rủi ro cho ta, thật là không tốt đẹp cho ta rồi ta đã tu tập, đã quán chiếu, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng như vậy nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú hoàn toàn, vẫn còn cái sự giao động này. Ta buồn đau, ta khổ sầu, ta lo lắng, ta thấy rủi ro, ta bất hạnh nên càng cố gắng nỗ lực lên nữa làm sao để xả tương ưng với thiện được an trú, tức là làm sao để đạt được một cái tâm xả hoàn toàn về cái thân kiến, xả hoàn toàn về cái tứ đại, xả hoàn toàn về cái nghĩ cho đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, xả một cách hoàn toàn triệt để không còn sót lại một chút xíu nào hết sự dao động.

"Chư Hiền, như một khoảng trống được bao vây bởi cây gậy, bởi dây leo, bởi cỏ, bởi bùn, được biết là một nhà ở. Cũng vậy, Chư Hiền, một khoảng trống được bao vây bởi xương, bởi dây gân, bởi thịt, bởi da, được biết là một sắc pháp" (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Rúng động hết cả người bởi thánh trí của tôn giả Xá-lợi-phất. Ngày xưa người ta làm nhà đơn giản lắm, vài cây gậy mà bây giờ thường nói là cột kèo, cột lại bằng dây leo, tô trát bằng bùn là thành ngôi nhà. Cũng vậy, một khoảng trống không với khung sườn bằng xương, cột lại bằng dây gân, tô lên trên là thịt, lớp phủ bên ngoài là da thì thành một sắc pháp, sắc uẩn. Đây là bài mà bậc đạo sư làm ra thiền quán thân trống rỗng chính là cái góc từ chỗ này, cho nên cái chỗ này là cái chỗ hết sức quan trọng, con có một cái ý hành sanh khởi lên, suy nghĩ thôi. Trước khi con gặp ngài thì cậu người Pháp hay lên núi ngồi thiền mời con qua Nepal, khi qua thì ở Nepal có một cái tháp mà chỗ đó là thánh địa linh thiêng, khoảng bốn, năm giờ sáng là người ta đi vòng vòng lạy Phật như ở đây tập thể dục. Tất cả người dân ở đó đến lạy rất đông mà người ta lạy thành kính lắm.

Trên cái tháp đó người ta vẽ hai con mắt lớn và cái tháp đó người ta nói rằng có xá lợi của ngài Xá-lợi-phất. Khi qua tới đó tự nhiên con khóc tức tưởi nghẹn ngào, con đảnh lễ rồi nói "ngài ơi, Đức Thế Tôn ơi cho con tìm được chánh pháp, con khổ quá". Tự nhiên nhìn cái tháp là nước mắt con nghẹn ngào tức tưởi, trào dâng lên rồi con cầu xin gặp được chánh pháp, gặp được bậc thầy rồi con về là con gặp ngài. Điều đặc biệt sự hướng dẫn của ngài đó là hướng dẫn pháp tu của ngài Xá-lợi-phất và ngài rất chú trọng ngài Xá-lợi-phất, những cái pháp ngài dạy toàn là sử dụng trí tuệ, cho đến cái cách hành xử của ngài đối với con và đối với đại chúng mà con căn cứ, con quán chiếu lại trong những lúc ở một mình con nhìn lại hết thì những cái gì ở trong phần phân loại về ngài Xá-lợi-phất gần như có đầy đủ những đức tính. Con chỉ dám nghĩ trong lòng thôi, có phải chăng bậc thánh đức xót thương mình, dạy dỗ cho mình vì thấy lòng thành tha thiết chân thành nên cảm động. Con có một cái ý nghĩ như vậy.

Bậc đại trí, bậc đại tuệ, bậc tiệp tuệ, bậc quản tuệ, là bậc tông tuệ, là bậc đạt tuệ, về sau là chúng ta học hoài trừ khi con yên tĩnh, công phu hành trì hoặc là chết còn nếu không chúng ta cứ học. Con thấy trong ngài đầy đủ những trí đức của tôn giả Xá-lợi-phất, thánh ý khó lường nên không thể biết hết được, chỉ cố gắng tu hành thôi.

"Chư Hiền, nếu nội mắt không bị hư hại, nhưng ngoại sắc không vào trong tầm mắt, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. Chư Hiền, nếu nội mắt không bị hư hại, ngoại sắc vào trong tầm mắt, nhưng không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi." (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Con mắt mình bình thường nhưng con người hay là sự vật, sự việc gì đó mà nó không ở trong tầm mắt của mình tức là mình không thấy. Cục vàng to như vậy, nó ở trước mặt nhưng mà vì nó có tấm vải hay tấm bạc, cục đất che lại nên mình không thấy, đó là "không có sự quy tụ, xúc chạm thích hợp thì thức phần thích hợp không có hiện khởi". Con mắt mình bình thường nhưng cái sắc pháp đó không có vào trong tầm mắt, mình không có nhìn chỗ đó, mình không có để ý chỗ đó, mình nhìn chỗ khác, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp thì nhãn xúc không hiện khởi, vẫn có con mắt, vẫn có sắc đó, vẫn nhìn nhưng không vào trong tầm mắt do nhìn chỗ khác hoặc có gì đó che lại.

Ví dụ ăn trộm chui vô nhà rồi nhưng có tấm màn che nên mình không thấy hoặc là mình nằm ngủ không biết thì như vậy thức phần thích hợp không có hiện khởi. Nếu như con mắt bình thường, cái hình sắc nó vào trong tầm mắt nhưng không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp thì thức phần thích hợp không có, mình không để ý, con mắt mình vẫn nhìn cái đồ đó, con người đó, cái cảm nhận đó ngay trước mắt ở trong cái tầm nhìn của mình nhưng mình không để ý thì mình không có thấy người đó.

Chúng ta có thấy cái này không ạ? Ví dụ vậy chúng ta thấy dễ hiểu không? Hay cái món đồ cũng vậy, mình đi tìm nhưng nó ở trước mặt mà mình không thấy, mình đi tìm chỗ này, chỗ kia, chỗ nọ vậy mà nhiều khi nó ở trong cái tay áo, trong cái túi áo. Thành ra nói cho mình biết rằng cái thức này nó duyên sanh, một là nó không ở trong tầm mắt và hai là nó ở trong tầm mắt nhưng mà mình không có để ý.

"Chư Hiền, chỉ khi nào nội mắt không bị hư hại, ngoại sắc vào trong tầm mắt, có sự quy tục xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp có hiện khởi." (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Bây giờ con mắt nhìn thấy bình thường, cái đồ vật, cái con người, cái cảnh vật đó cũng ở trong tầm mắt của mình và có sự quy tụ, xúc chạm thích hợp thì có nhãn xúc. Có con mắt, có sắc, có sự rõ biết thích hợp thì thức phần thích hợp có hiện khởi chứ đâu phải nhìn là thấy, chẳng hạn giờ con nhìn thấy mấy chục người vậy đó nhưng cái hàng trước thì con thấy, còn hàng đằng sau không biết ai hết, nếu bung lớn màn hình thì thấy biết. Như vậy thì cái nhãn thức là pháp duyên sanh, bất cứ sắc pháp gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ ở trong sắc thủ uẩn, bất cứ cảm thọ gì hiện khởi như vậy đều quy tụ ở trong thọ thủ uẩn, bất cứ tưởng gì, hành gì, thức gì đều quy tụ vào ở trong năm thủ uẩn này hết.

"Vị ấy tuệ tri như sau: 'Như vậy, như người ta nói, có sự quy tụ, sự tập hợp, sự hòa hợp của năm thủ uẩn này. Thế Tôn đã nói như sau: 'Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi'. Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt'. Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỳ-kheo đã làm rất nhiều." (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Những câu này rõ như mặt trời vậy, không có cái gì mờ tối hết, rực sáng. Tất cả các sắc quá khứ, hiện tại, vị lai, tô tế, thắng liệt, xa gần, bất cứ cái gì là sắc quy vô trong sắc thủ uẩn hết. Dù là cái đống đất, vũng nước, đốm lửa thì cái tâm hôn mê này cũng nắm vô đó, cái nhà cũng nắm chặt vô "nhà của tôi", chiếc xe cũng nắm chặt vô "xe của tôi", áo quần cũng là "áo quần của tôi"," mắt kính của tôi", "đôi dép của tôi", "bộ đồ của tôi", "cái phòng của tôi", "cái chùa của tôi", "cái cây này của tôi"… cái giống gì là cũng của tôi hết. Bất cứ sắc pháp gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn, cái giống gì về tứ đại là cái tâm hôn mê chấp vô.

Mình trồng mấy cây bông thì cho đó là bông của tôi rồi hôm nào có mấy đứa nhỏ chơi giỡn sao mà té vào đè dập hết mấy cây bông thì lúc đó người trồng bông thế nào? Có sầu, bi, khổ, ưu, não không? Nếu có tham ái với cái bông đó thì sẽ có chấp thủ với cái bông đó, tức là nếu có yêu có thích, có khoái cái bông đó thì sẽ có nắm, có giữ cái bông đó, mà có nắm, có giữ thì có buồn, có đau, có khổ, có sầu. Tại sao yêu thích? Vì đây là của tôi, tôi trồng, bông của tôi trồng đẹp cho nên bất cứ sắc pháp gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn, tự nhiên núi rừng hoang vu vậy đó mà đặt chân lên đây là "đây là đất của tôi, không ai được đụng vô", vườn bông người ta trồng mà lại bứt hoa bẻ cành rồi nói "bông của tôi". Phải phá được cái chấp thủ đó, bất cứ cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức nào cũng phải thấy được sự chấp thủ, sự nắm giữ trong đó và biết bằng trí tuệ.

Biết bằng trí tuệ là đây là sự quy tụ, sự tập hợp, sự hòa hợp, là chất chứa, là gom góp, tích lũy như mấy cái cây cộng với mấy cái sợi dây, để miếng cỏ, miếng đất trộn vô trét lên đây gọi là cái nhà ở, cái khung xương cộng với mấy sợ dây gân, tô lên bằng thịt, phủ ngoài lớp da thì đây gọi là một sắc pháp. Nhưng mà cái tâm hôn mê là nó nắm giữ vô đó thì trở thành ra sắc thủ uẩn, bây giờ phải thấy sự quy tụ, sự tập hợp, sự hòa hợp của năm thủ uẩn này. Ai thấy được sự mà lắp ráp, kết hợp, buộc rồi cất, rồi chất, rồi dựa nương, không có một cái tự ngã, không có một cái tôi trong đó, ai thấy được cái đó là người đó thấy được sự thật, ai thấy được sự thật thì thấy được Phật tại vì Phật chứng ngộ sự thật mà thành bậc Chánh Giác, sự thật đó cũng là mẹ của Chư Phật, cũng là pháp thân của Chư Phật, cũng là con đường dẫn đến đoạn tận tất cả khổ là sự thật đó, chính là chánh pháp, sự thật về năm thủ uẩn, sự thật về tâm hôn mê, sự thật về tâm chấp thủ, sự thật về tâm tham ái, tham dục, chấp trước, tham đắm, say mê trong năm thủ uẩn này tức là nguyên nhân của khổ.

Cái này rực sáng như mặt trời lên rồi, mặt trời chói qua tim rồi. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, say mê ở trong cái hình hài này, ở trong cái sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, trong cái tâm nắm giữ đối với ngũ uẩn này là nguyên nhân của khổ. Bây giờ mình khổ là mình than trời trách đất, oán đời hận người mà mình không biết tại sao mình khổ, bây giờ mình thấy được rồi, chính là sự tham dục, chấp trước, tham đắm, say mê trong năm thủ uẩn tức là nguyên nhân của khổ nằm ở trong những cảm giác, nghĩ tưởng của mình chứ không phải cái người kia, cái việc kia, cái cảnh kia. Sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục là khổ diệt, chấm dứt.

Pháp ở trong lòng bàn tay, chỉ còn làm thôi, nhắc nhớ mỗi ngày để làm theo vậy thôi, không còn đi đâu tìm kiếm nữa, người còn đi tìm tức là chưa thấy, người thấy là không có tìm. Nhiếp phục ham muốn, từ bỏ ham muốn đối với năm thủ uẩn này tức là sự chấm dứt, nói gì rồi cũng phải quay lại nhiếp phục và từ bỏ đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, đó là sự chấm dứt. "Cho đến mức độ này, chư Hiền, Tỳ-kheo đã làm rất nhiều", ai được như vậy là làm nhiều lắm, người tu là làm cái đó, cái công việc của người tu là đó, từ nãy giờ đó bổn phận của người tu, cái trách nhiệm của người tu, phận sự của người tu, công việc thật sự là làm những cái này. Bây giờ mình không lo làm cái này, lo làm cái khác rồi sầu, bi, khổ, ưu, não.

"Chư Hiền, nếu nội tai không bị hư hại, nhưng ngoại thanh không vào trong tầm tai, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỳ-kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội lỗ mũi không bị hư hại, nhưng ngoại hương không vào trong tầm mũi, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỳ-kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội lưỡi không bị hư hại, nhưng ngoại vị không vào trong tầm lưỡi, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỳ-kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội thân không bị hư hại, nhưng ngoại xúc không vào trong tầm của thân, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỳ-kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội ý căn không bị hư hại, ngoại pháp vào trong tầm của ý căn, nhưng không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi" (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Cũng y như ở trên mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý thì cái nhĩ thức không có phát khởi được. Ví dụ người ta đứng ở dưới miền tây chửi mình ở dưới thì mình có giận không? Đâu có nghe được đâu, nhĩ thức không có khởi, hoặc là mẹ cha, vợ con, người thân yêu của mình đang thương nhớ mình, trông chờ mòn mỏi mình, đang rướm lệ mà mình có biết gì đâu. Mình không có thấy cho nên mình đâu có biết, không có nghe cho mình đâu có biết, không có tiếp xúc cho nên mình đâu có biết thì các cái thức này là cái thức duyên sanh. Thậm chí mình thấy, nghe nhưng mà cái đó không có thật, đó là một cái trò lừa đảo, nó đóng cái tuồng mình tin vô đó là mình bị gạt, cú lừa ngoạn mục, bây giờ nhiều trò lắm.

Đó là nói cái thông thường, bây giờ sau thẳm vô bên trong những cái suy nghĩ, những cái hình bóng, như cái cảm giác này, nhận thức này là diễn tuồng liên tục sáng, chưa, chiều, tối, nửa đêm cứ đóng tuồng liên tục ở trong. Mình tu là mình ngồi đó coi nó đóng tuồng để mình thoát ra được cái vở tuồng vô minh và tham ái, chấp thủ của nó, nếu không mình sẽ giống như con rối bị nó giật dây quay vòng vòng, nó ở sau bức màn giật dây làm mình chạy có cờ, quay cuồng ở trong các dục. Cũng như thiệt thức không sanh khởi giống mình bị mất vị giác trong dịch bệnh, cái lưỡi đang bị bệnh nên để đồ ăn vô không biết vị gì cả, cái mũi cũng vậy, bị mất khứu giác, tức là tỷ thức và thiệt thức không đủ duyên để hiện khởi lên.

"Chư Hiền, chỉ khi nào nội ý căn không bị hư hại, ngoại pháp vào trong tầm của ý căn, có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp có hiện khởi." (Trung Bộ Kinh, 28. Đại kinh Dụ dấu chân voi)

Cái này rất là sâu sắc tức là mình là con người tỉnh táo bình thường nhưng ngoại pháp không vào trong tầm của ý căn là mình không có để ý vô trong. Tâm lúc đó đã có một sự dính mắc hoặc là tham ái với một người nào nhưng mà mình không có để ý vô trong, lâu ngày dài tháng khi mình biết ra thì cái đó nó đã hơi tương đối rồi, hoặc là có hờn mác người nào đó nhưng mình không có để ý vô trong thọ; tưởng; hành, cái nội trần, nội xúc bên trong thì mình thấy nó đâu có gì đâu nhưng lâu ngày khi mình phát hiện ra được lúc mình đã giận người đó rồi thì lúc đó nghiêm trọng. Cho nên mình tu cái chỗ này nó sâu sắc, để ý ở trong, nhìn ngó mà con dùng cái từ là theo dõi, soi rọi, dò xét.

Có một ông dùng cái máy rà xem con chuột nằm chỗ nào thì cái dụng cụ đó, cái đồ rà đó là chánh niệm, nó quay ngược ở bên trong rà xét trong hốc, trong xó, trong kẹt coi chỗ nào mà có con chuột chết, con rắn chết, con tắc kè chết, con gián chết rồi cái chỗ đó mới gỡ đồ ra hết, bắt đầu mới lấy ra khử mùi. Cái chỗ này là cái chỗ hết sức sâu sắc, có sự để ý thọ; tưởng; hành trong này, có sự nhận thức các pháp này nó giao thoa, xúc chạm với nhau và sanh khởi lên thọ; tưởng; hành gì thì tâm nhìn trong này, nhận thức trong này, có sự quán chiếu trong này, nó có sự nhiếp phục, chế ngự, phân biệt được cái nào đen, nào trắng, nào thiện, nào bất thiện, cái nào có tham, cái nào không tham, cái nào có sân, cái nào không sân, cái nào có si, cái nào không si, cái nào có tâm có hại, cái nào không hại, cái nào có cái tâm từ hay là không có tâm từ.

Khi thấy rõ rồi bắt đầu nó phát quy được những cái thiện pháp, cái nỗ lực tinh cần tinh tấn ở phía sau cho nên Đức Thế Tôn nhấn mạnh ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết để đoạn tận các lậu hoặc, ta không phải nói cho người không thấy không biết.

"Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy." (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Thấy là thấy đúng bên trong con người của mình, nếu một người cứ hướng ngoại, cứ dòm người này, dòm người kia, dòm người nọ phê phán, phán xét, thẩm thán thì làm sao thấy được mình, làm sao rõ được mình, làm sao có một sự thâm sâu để nhận thức về nội quán, nội chiếu, nội soi, nội tỉnh ở bên trong mình được. Người nhiều phiền não là vì người này hướng ngoại nhiều.

Thị phi chỉ dị đa khai khẩu

Phiền não do nhơn cưỡng xuất đầu

Phải quấy là đều do mình nói nhiều, còn buồn phiền là gặp chuyện nào mình cũng nhào vô, người có nhiều phiền não là chuyện ai cũng xía vô, người có thị phi là người này nói nhiều, chuyện ai cũng xí vô, chuyện ai cũng tham dự. Ai nói gì là cũng giống như cái máy hút bụi vậy đó, hút bụi vô mắt, hút bụi vô lỗ tai, hút bụi vô lỗ mũi, miệng rồi thân, hút bụi vô ý, hút vô cả cái tấm thân trở thành một cái thân bụi đời, tâm đi lang thang sống bụi đời, sống trong những cái bụi bặm. Bụi đời, bụi của sắc, bụi của tiếng, bụi của mùi, bụi của vị bụi, của thân, rồi bụi của những cái thọ; tưởng; hành bên trong cho nên mình tu là làm cái lá sen, nước chảy không thấm chứ là đừng làm máy hút bụi.

Mình thu thúc sáu căn, không buông lung phóng dật, không có nói nhiều, không có thị phi, nói là nói pháp thôi mà cũng phải đúng thời, đúng người, đúng lúc, đúng chỗ rồi chuyên chú nội quán là nhìn mình hoài, không có nhìn người ta thậm chí nghe người ta nói người khác thậm tệ cỡ nào thì cũng kệ, đó là chuyện của người ta, mặc kệ họ. Có một vị hòa thượng bị người ta nói thế này thế nọ thì ông chỉ nói "thế à" là xong, không dính dáng tới mình, không có liên hệ đến mục đích hết tham, sân, si, bản ngã, nếu có liên hệ đến mục đích thì được, còn nói mà làm cho mình thêm tham, sân, si, bản ngã thì dẹp ngay, tránh xa, chạy xa, bay xa, thoát xa vì thế biết tu như vậy là quá tuyệt vời.

"Vị ấy tuệ tri như sau: 'Như vậy, như người ta nói, có sự quy tụ, sự tập họp, sự hòa hợp của năm thủ uẩn này. Thế Tôn đã nói như sau: 'Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi'. Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt'. Cho đến mức độ này, chư Hiền, Tỳ-kheo đã làm rất nhiều.

Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ, tín thọ lời Tôn giả Sariputta dạy." (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Chúng ta cố gắng về đọc cái bài kinh này, tụng với bài kinh này, chiêm nghiệm mà nếu pháp đàm được bài kinh này rất là tốt. Đây là đại trí tuệ, tiệp trí, tịch trí, quảng trí, thông trí, đạt trí, minh trí, thánh trí trong cái bài kinh này, chỉ cho chúng ta cách vi diệu để chúng ta thoát ra.

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la

./.