Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Sao Là Phóng Dật & Nhiệt Tâm Tinh Cần

2026-03-18 06:54:27
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

SAO LÀ PHÓNG DẬT

&

NHIỆT TÂM TINH CẦN

–Thích Minh Thành–

Kính bạch chư tôn hiền đức và chư vị hiền trí, chúng ta đang ở trong mùa an cư kiết hạ là cái thời điểm tập trung tất cả tâm ý chuyên ròng ở trong giới - định - tuệ, tích cực nỗ lực. Chẳng qua vì cái nhân duyên các nơi tha thiết tu học cho nên mình mới có ra những cái khóa tu, xong cái khóa tu là lập tức chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn bình thường. Chúng ta không được lơ là, không được buông lơi, chúng ta chỉ cần buông lơi một chút thôi lập tức các dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu xâm chiếm và áp đảo, dẫn dắt chúng ta. Chúng ta không có được xem thường cái nội tâm cực kỳ nguy hiểm này, nội tâm này còn hơn rắn độc còn hơn là giả thú, còn hơn kẻ sát nhân.

Mình chỉ cần buông lơi một chút thôi mình không biết tại sao mình chết, dầu cho còn đầu tròn áo vuông đi nữa nhưng mà cái chí nguyện hướng thượng giác ngộ nó đã chết rồi. Sống tàn tàn qua ngày, bằng lòng, hài lòng và chấp nhận với những thiện pháp nhỏ bé, nhỏ nhặt rồi từ từ các lậu hoặc sẽ sanh khởi và nó đưa đến sự thối đọa. Mấy ngày qua con nhìn thấy có những cái triệu chứng, những cái đềm báo đi xuống của đại chúng, con rất là lo lắng, có một số người là sống cứ đơ đơ, trơ trơ. Mình phải cố gắng nhìn lại những cái tập khí của mình, nhìn lại ngũ uẩn của mình, mình đã được hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn rồi.

Mình cứ làm theo dục, làm theo bản ngã, hành xử theo buông lung phóng dật thì chỉ tới là đổ thừa cho cái này cái kia, không có nhận diện ngũ uẩn, không thấy lúc đó bản ngã đang phản ứng, bao biện, bao che mà hết sức là nhỏ, những cái rất nhỏ thôi còn không có nhận lỗi thì không có khả năng tiến bộ ở trong thiện pháp, trong chánh pháp, trong thánh pháp. Cái tâm này là một cái con rắn độc, là đầy rẫy những sự xảo trá, đầy rẫy những cái sự gian ngụy, xảo quyệt, hết sức là nguy hiểm. Và nếu mà chúng ta không nhìn ra thì suốt đời này chúng ta tu cũng là cưỡi ngựa xem hoa thôi, không có khả năng dự lưu đâu, không có khả năng nhập lưu đâu cho nên thật sự là con thấm thía bốn cái từ ở trong kinh tứ niệm xứ "nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác" là cả một cái pháp hành cực kỳ quan trọng suốt cuộc đời.

Nhiệt tâm đối với sự nhận diện thân, nhận diện cảm thọ, nhận diện ở bên trong tâm của mình. Những cái gì nó đang vận hành là mình phải có một sự nhiệt tâm, phải nỗ lực để mình nhìn bám sát, mình theo sát, nếu không mình là ngoại phàm. Mình có tu bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp cũng là phàm phu thôi vì mình đã được cái pháp hành tối thắng như vậy mà mình không chịu nhiệt tâm, không chịu nỗ lực trong cái sự chánh niệm và tỉnh giác để mình nhìn thấy các lậu hoặc, các cấu nhiễm, các ô uế, thấy mình còn không thấy làm sao mình gội rửa được. Chỉ cho mình chút là mình bao biện, ngụy biện, mình xảo biện.

Không chỉ thì không thấy, chỉ thì biện luận, che đậy, bản ngã, không muốn ai đụng tới mình hết thì vĩnh viễn mình không có cái khả năng thể nhập vô dòng pháp này. Phải hết sức là cẩn thận từng chút, từng chút, từng chút một mà cẩn thận rồi chưa đủ nữa, phải nhiệt tâm, tinh cần còn chưa đủ, phải chánh niệm tỉnh giác. Tại vì sao? Tại vì nghiệp quả như hình với bóng nó bám sát theo mình, sát gót mình, nó bén gót mình, chúng ta nhìn thấy đó trước mắt mình những cảnh oan gia trái chủ, những cảnh hận thù, những cảnh hơn thua.

Nhiều khi cạo đầu vô chùa rồi mà vẫn sống với những cái tập khí, những cái thói quen, những cái bản ngã từng chút chứ đừng nói chi người ở ngoài đời. Cho tới bao giờ mình gội sạch được, rửa sạch được, tẩy sạch được? Phải nghiêm khắc với chính mình, nghiêm túc, nghiêm cẩn, nói vậy chứ buông ra rồi toàn sống với vô minh không à, sống với dục, sống với bản ngã, sống với phóng dật, không an trú được với pháp. Chúng ta nghe Đức Phật để mình thấy được.

"Rồi họ Thích Nandiyà đi đến Thế Tôn; sau khi đến... ngồi xuống một bên, họ Thích Nandiyà bạch Thế Tôn:

-- Với vị Thánh đệ tử nào, bạch Thế Tôn, toàn diện, toàn bộ không có bốn Dự lưu phần này; vị Thánh đệ tử ấy, bạch Thế Tôn, có thể được gọi là trú phóng dật không?

-- Này Nandiyà, với ai toàn diện, toàn bộ không có bốn Dự lưu phần này; người ấy, Ta tuyên bố là người đứng ngoài, trong hàng ngũ kẻ phàm phu." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b) IV. Phẩm Phước Ðức Sung Mãn, X. Nandiyà)

Mình không có thành tựu tịnh tín bất động với Đức Thế Tôn, với sự chứng ngộ của Đức Phật, với thánh chúng đầy đủ các giới thì mình là người đứng ngoài, là kẻ phàm phu.

"Tuy vậy, này Nandiyà, Ta sẽ nói cho Ông như thế nào một Thánh đệ tử trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b) IV. Phẩm Phước Ðức Sung Mãn, X. Nandiyà)

Ta sẽ giải thích cho ông biết thế nào là một người tu không có buông lung, trú trong nội tâm không có buông lung, không có phóng dật và thế nào là người tu trú trong nội tâm buông lung phóng dật.

"Họ Thích Nandiyà vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

-- Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú phóng dật?

Ở đây, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: 'Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn'. Vị ấy thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động đối với Phật, không cố gắng thêm, ban ngày không sống viễn ly, ban đêm không sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống phóng dật như vậy, nên không có hân hoan. Do không có hân hoan, nên không có hỷ. Do không có hỷ, nên không có khinh an. Do không khinh an, nên sống đau khổ. Do tâm đau khổ, nên không định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, nên các pháp không hiện rõ. Do các pháp không hiện rõ, nên vị ấy được gọi là trú phóng dật." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b) IV. Phẩm Phước Ðức Sung Mãn, X. Nandiyà)

Vị ấy có được lòng tin Phật, tin, pháp, tin tăng, có giữ được một số giới như vậy rồi vị ấy thỏa mãn với điều đó, không có cố gắng thêm nữa, bằng lòng, hài lòng, vừa lòng với một chút thiện pháp đó. Cái này rất là nhiều, lúc ban đầu vô chùa thì thấy tinh tấn, siêng năng, nhiệt tâm nghe pháp, ngồi thiền, quán chiếu, trình pháp, tu một thời gian rồi là đơ đơ, trơ trơ. Người này bị đứng lại, bị dừng lại vì bên trong người này là một sự thỏa mãn, sự bằng lòng, sự hài lòng, vị này không có gắng thêm nữa. Tức là không còn nhiệt tâm nữa, không còn tinh cần nữa, bây giờ thiếu nhiệt tâm, tinh cần thì buông lung phóng vật sẽ sanh khởi, vì người này không có cố gắng thêm cho nên ban ngày không có sống viễn ly, ưa hội tụ, thích hội tụ, muốn hội tụ, bày cái này ra làm, bày cái kia ra làm, gặp người này, gặp người nọ người kia.

Ban ngày không có thích sống viễn ly, ban đêm không có sống thiền định, trong khi làm việc không có chánh niệm, không có tỉnh giác, không có cẩn trọng, không có nhận diện ngũ uẩn, không an trú cảm giác toàn thân. Khi làm việc cuốn vô công việc, chỉ có thấy công việc không có thấy pháp, hoàn toàn làm ở trong hôn mê, làm ở trong dục, làm trong tham, làm ở trong ái, làm ở trong sân, làm trong cái tôi to tướng. Vì người này buông lung phóng dật vậy cho nên tâm người này không có hân hoan thì bây giờ là những cái cảm xúc bực bội, khó chịu, cọc cằn, cau có, ghim gút, sân hận biểu hiện ra. Ở trong cảm thọ là một cái sự lao xao, lăng xăng, hấp tấp, bộp chộp, muốn làm là làm không có sự an trú niệm, tứ niệm xứ bay mất tiêu rồi.

Người xưa nói: "Nhất niên Phật tại tiền, nhị niên Phật thăng thiên, tam niên bất kiến Phật", tu năm thứ nhất thì tứ niệm xứ, bát chánh đạo, những pháp hành ngũ uẩn còn, tới năm thứ hai là những cái thánh trí ngũ uẩn lên trời rồi và năm thứ ba là những cái pháp mà mình được học, được hành chết mất hết rồi.

Thật là tội nghiệp!

Thật là đáng thương!

Thật là cay đắng!

Thật là đáng trách, đáng hận cho chính mình!

Tại sao lại như vậy? Vì đâu mà nên nổi này? Tất cả là vì cái tâm thỏa mãn này, ác độc này, cái tâm nó hài lòng, nó vừa lòng, nó bằng lòng, nó không muốn cố gắng, nỗ lực lên thêm nữa, không có tăng thượng, không có ước muốn sắc bén, không còn nhiệt tâm nữa, không còn tinh cần thì như vậy thôi rồi, cuộc đời tu mình chấm hết rồi, kết thúc rồi. Cho nên khi một người sống ở trong cái buông lung phóng dật như vậy thì cái tâm người này không có hân hoan, không còn vui nữa. Vì sao? Làm sao vui được ở bên trong đó là những cái cấu nhiễm, không hài lòng, người này bất hòa, bất mãn, bất bình với người kia, chình ình một đống là những cái bản ngã, nhân ngã, cao thấp, hơn thua, không có thấy pháp, không có nhìn thấy duyên sanh pháp, không có nhìn thấy vô ngã, không có trú trong cái trí về tứ đại và các cái pháp quán rồi niệm thân, thân hành niệm thì người này khó chịu, bực bội với các bậc đồng phạm hạnh.

Người này là thuận, người kia là nghịch, người nọ là vừa lòng, người kia là không vừa lòng, người nọ đúng, người kia sai thì với một cái nội tâm như vậy làm sao hân hoan được? Nội tâm này là một nội tâm đau khổ, nội tâm trạo hối, một cái nội tâm dao động, một cái nội tâm ray rứt, khó chịu, bực bội. Với một cái nội tâm không có hân hoan thì đâu có hỷ, đâu có vui, không có vui thì đâu có nhẹ nhàng, mà không nhẹ nhàng thì làm sao có được sự định tĩnh và không định tĩnh thì các pháp không hiện rõ.

Các pháp ở đây là cái gì? Các pháp ở đây là nó có cái tà pháp và cái chánh pháp, cái thiện pháp và bất thiện pháp không hiện rõ. Ví dụ lúc đó mình đang có sân mà không biết là mình đang có sân vì cái tâm nó mờ tối, nó bị những cái cấu uế, lậu hoặc này, nó buông lung phóng dật, con mắt dòm ngó người ta không à, nó không thấy tâm của tự thân nó thì lúc đó các pháp không hiện rõ. Giống như cái hồ nước quậy có bùng cặn dơ thì làm sao nó nhìn thấy ở dưới có những cái xác con cá chết, con chuộc chết, không thấy các cái pháp, nó không hiện rõ. Bởi vì cái tâm nó vẫn đục, cái tâm nó dao động, cái tâm nó cấu nhiễm, cái tâm nó xú uế thì lúc đó đâu có thấy, mà không thấy thì nó thúi quắc ở trong cái hồ đó.

Hồi sáng này trong thất con đi ra ngồi chỗ cái bàn uống chung trà thì tự nhiên ngửi cái mùi gì khó chịu quá, cũng không biết ở đâu nữa. Con mới nói bây giờ có khả năng là từ trong người mình phát ra cho nên con mới đi ra ngoài lấy đôi giày chà chà xem có đạp trúng cái gì không. Chà hoài thì chị Mai thấy vậy cũng nói "có cái mùa gì hôi", chị lấy ca nước cho thầy đổ nước ra chà đôi giày. Cái lỗ mũi con thì không có thính, từ nhỏ là nó có cái triệu chứng viêm xoang nhưng mà con không có trị, con ngồi thiền con xoa riết thì không bị bệnh thêm thôi nhưng mà nó không có nhạy như cái mũi người ta. Con chà xong là con tưởng rồi nhưng mà con nghe cái chân bên đây còn cộm cộm, lỗ mũi thì không có nghe mùi nữa thì hóa ra con giơ lên thì nó không phải cái chân bên này, mà là cái chân ở bên kia là một bệch phân chó ở dưới.

Như vậy chà rồi đổ nước, rồi dội tới dội lui, chà qua chà lại, chà tới chà lui rồi xong mình dậm hết rồi mới dám vô, chứ đi vô mà còn dính chút trong đó thì sao? Lậu hoặc nó còn sót lại thì nó sẽ dơ nhà, nó hôi nhà, nó bẩn nhà rồi nó thúi, người mà ta lại cũng nghe cái mùi thúi của mình nữa, như vậy chúng ta đạp cứt nhiều lắm mà không biết. Hằng ngày mình đạp bao nhiêu cục? Bao nhiêu lần mà mình đâu có biết, thậm chí mình đạp mà nó còn ở trong này nè, lúc mà nó chưa ra ngoài thì nó nằm bên trong đó, cái ví dụ phân đó là cấu uế, là lậu hoặc, là những tùy miên thâm sâu trong con người mình mà mình hoàn toàn không thấy, không biết, không có liễu tri, không có tuệ tri, không có thắng tri rồi mình cứ tưởng mình tu hay, tu ngon, tu giỏi không à, tu cao. Thật ra có khi mình còn thua cái người bình thường nữa.

Bản ngã của mình thì to lớn, đi đâu cũng nhìn thấy lỗi của người ta, nhân ngã bỉ thử, cao thấp, hơn thua nó rành rõ đầy rẫy hết, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc mà không thấy không biết. Vì sao? Đức Thế Tôn nói khi mình có học được chút pháp, có hiểu được biết một chút rồi là mình thỏa mãn, vị ấy thỏa mãn cho cái sự học sự hiểu đó, không có cố gắng thêm, ban ngày không có sống viễn ly, ban đêm không có sống thiền định và vị này buông lung như vậy cho nên không có hân hoan, do không hân hoan cho nên là không có được vui và không được vui cho nên tâm không có nhẹ nhàng, tâm không có nhẹ nhàng cho nên vị này sống ở trong đau khổ. Cái khổ nhất ở đây là khổ mà không biết mình khổ mới chết, cứ tưởng như mình được cái này, được cái kia nhưng thực sự cái nội tâm đó là một cái nội tâm bất an, một cái nội tâm nhức nhói, một cái nội tâm trạo hối, một cái nội tâm ray rứt nhưng mà vì mình không có cái trí, đủ cái tuệ giác để nhìn thấy đó là một cái nội tâm khổ đau.

Thế Tôn gọi là do không có nhẹ nhàng tâm vị ấy không có khinh an cho nên vị ấy sống trong đau khổ, và vị này sống trong đau khổ cho nên không có định tĩnh. Khổ vậy sao mà định được? Nó bực người này, khó chịu với người kia, bất hòa với người nọ, bất mãn, bất bình, nhân ngã cao thấp, bỉ thử hơn thua, đúng sai phải quấy như vậy cái tâm đó làm sao nhẹ nhàng được? Cái tâm đó làm sao an tịnh, lắng dịu được? Cái tâm đó làm sao mà khinh an được? Cái tâm đó Đức Thế Tôn gọi là một nội tâm đau khổ, thành ra ở đây chúng mình mới thấy cái chữ khổ ở trong thánh điển Nikāya hết sức là sâu xa, không phải mẹ chết, cha chết, chồng chết, con chết, anh chết, em chết, tai nạn giao thông, bệnh tật nằm chỗ mới là khổ, cái đó chỉ là cái khổ thông thường mà phàm phu nhìn thấy, còn cái khổ thánh trí mà Đức Phật nói ở đây là một nội tâm không có an tịnh, lắng dịu, một cái nội tâm trạo hối, ray rức, một cái nội tâm bất hòa, bất bình, bất mãn, không hài lòng người này, không vừa lòng người kia, người nọ làm cho mình bực, mình khó chịu, người nọ làm cho mình không vừa lòng, bằng lòng, hài lòng.

Tâm mình luôn ở trong cái trạng thái bứt rứt, bứt xúc, bực bội, khó chịu. Nhìn cái này cũng khó chịu, nhìn người kia cũng thấy là bất mãn, nhìn cái công việc nọ cũng thấy bất bình, nhìn cái gì cũng thấy không có được vui hết. Đó là một nội tâm đau khổ, đầy đau khổ, không ai làm vừa lòng mình được hết, không ai mà mình bằng lòng, mình hài lòng hết, tất cả dở ẹt hết trơn chỉ có mình giỏi à, mình hay à, mình đúng à thì cái nội tâm này là đầy bản ngã, đầy cao thấp, đầy hơn thua, đầy sân hận, đầy chấp thủ chứ chưa có được cái gì hết, còn ở ngoài cửa thôi. Nội tâm đó Đức Thế Tôn gọi là một nội tâm đau khổ của phàm phu, nếu một nội tâm như vậy nên không định tịnh vì cái tâm nó đâu có lắng xuống, nó đâu có dịu xuống được đâu làm sao nó định tĩnh được và với một cái nội tâm không định tĩnh nên các pháp không hiện rõ.

Các pháp ở đây là gì? Lòng tham, lòng dục, lòng ái của mình mà mình không thấy, lòng sân, lòng hận, lòng khó chịu của mình mà mình không biết, tâm si mê, vô minh, mờ tối mình không thay mà cái bản ngã sanh khởi mà mình không biết, không rõ, không liễu tri, không tuệ tri, không thắng tri đó gọi là các pháp không hiện rõ. Mình vô mình, tu chỉ mong muốn cái tâm nó yên định vậy thôi, mình từ chối, mình che đậy, mình tránh né những cái gì làm cho cái tâm mình bị ray rứt, mình muốn cái trạng thái nó im, nó yên vì mình thích cái đó, mình khoái cái đó, mình muốn cái đó. Đây là cái thiền bệnh, đó là ái thọ, là yêu thích cái cảm thọ đó, yêu thích cái tưởng trống rỗng, trống không đó, ưa thích mọi cái hành lắng dịu xuống. Mình khoái cái chỗ đó, mình thích cái chỗ đó, mình muốn cái chỗ đó, mình an trú vào cái chỗ đó.

Tuy nhiên cái chỗ này là cũng là tốt so với những người không biết tu nhưng nó chưa phải, cái chỗ này có thể là những cái thô bạo lắng dịu xuống nhưng nó nằm ở đó, khi đụng chuyện vô thì tham, sân, si, bản ngã vẫn bừng bốc, cháy phựt lên vì nó không có bứng được gốc rễ hoàn toàn, vì không nhìn thấy mà các pháp, nó không hiện rõ mà người này không nhìn thấy, không nhìn thấy thì làm sao mà vệ sinh. Mình nói đi mà một người mù thì làm sao có thể vệ sinh căn nhà của mình được hoặc là người không có chìa khóa làm sao mở cánh cửa đi vô được, mà không vô thì làm sao thấy là nó dơ, ba mươi năm, năm mươi năm, một trăm năm, năm trăm năm, bảy trăm năm, một ngàn năm, hai ngàn năm, mười ngàn năm, một trăm ngàn năm, một vạn năm, một tỷ năm, nhiều ngàn tỷ năm, từ vô thỉ kiếp cho đến nay căn nhà nội tâm của mình không được thấy, không được biết, không được nhìn, không được rõ thì Đức Phật mới nói vô thỉ là luân hồi này không thể nêu được cái khởi điểm chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này.

Đó là cái ví dụ cho chúng ta dễ hiểu, đó là một cái căn nhà nội tâm mà ngàn, triệu, vạn, tỷ, ức kiếp không được nhìn thấy, không được rõ biết, không được tận mắt để chứng kiến thì không thấy được ngũ uẩn thì không thành tựu được cái tuệ tri thánh trí thì làm sao nhìn thấy. Mình có làm được cái gì thì chỉ ở ngoài cửa, mình trồng hoa, mình làm cái hòn non bộ, những cái cảnh vòng vòng bên ngoài thôi nhưng bên trong căn nhà là không có chìa khóa để đi vào, hoặc là đi vào rồi con mắt mù không thấy, mà không thấy thì không thể vệ sinh, không thể dọn dẹp, không thể quét lau, không thể chùi rửa, không thể tẩy sạch được. Chính vậy mà ở trên Đức Thế Tôn mới nói ta tuyên bố người này là người đứng ngoài, chỉ là ở trong hàng ngũ của kẻ phàm phu.

Cái chỗ này là cái chỗ mà cực kỳ sâu sắc cho nên Thế Tôn nói một nội tâm đau khổ như vậy là không có định tĩnh, do tâm không có định tĩnh nên các pháp không hiện rõ. Chúng ta đừng có nghĩ định tĩnh là êm ru không có khởi gì hết trơn, cái định tĩnh ở đây là định huệ đồng tu, chỉ quán song vận, cái định ở đây, cái tuệ ở đây, cái quán ở đây là cái quán ngũ uẩn. Nếu mình không có được học hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn thì làm sao mình có tuệ được? Cái tuệ của mình là liệt tuệ, là cái tuệ của phàm phu vì nó không thấy được ngũ uẩn thì cái đó không phải là thánh trí. Cho nên mình có định đi nữa, mình có tứ thiền bát định đi nữa thì cái định đó cũng là phàm phu định thôi.

Còn cái nhận diện ngũ uẩn nhìn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức một cách chính xác dù cho mình chưa được cái tầng định nào hết nhưng cái tuệ đó là thánh trí. Chính vì vậy mình học rồi mình mới thấy những cái bản kinh mười một cửa vào bất tử thì từ sơ thiền vẫn có thể chứng đến thánh quả A-la-hán chứ không phải đợi tới bát định thậm chí là bậc đạo sư còn tại thế, ngài còn nói với con chưa đến sơ thiền, gần gần tới thôi cũng đủ sức phá hết tất cả các lậu hoặc, không nhất thiết là phải đạt định mới chứng thánh quả A-la-hán. Thành ra cái tâm nó vừa đủ mà cái quan trọng ở đây là trong bát chánh đạo thì chánh kiến đứng đầu, mà đây là tri kiến của bậc thánh, không phải là cái chánh kiến thông thường mà tri kiến bậc thánh.

Chúng ta được học rồi là thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, sau khi thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì thấy được tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, sau khi thấy được dục ái, vô minh, bản ngã thì tiếp theo là làm vệ sinh, là quét dọn, là tẩy sạch. Chính vì vậy mà nhiều bản kinh ở trong Nikāya là trong cái đêm thành đạo thì đầu tiên Đức Thế Tôn chứng bốn thánh trí ngũ uẩn, kế đó Đức Thế Tôn chứng bốn thánh trí lậu hoặc và sau đó là thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Thấy ngũ uẩn trước tức là mở ra được cái căn nhà nội tâm, sau đó mới thấy lậu hoặc tức là thấy những cái dơ bẩn, cấu nhiễm ở bên trong, sau khi thấy dơ bẩn, cấu nhiễm bên trong là ngài lau, quét dọn rồi thành tam minh, tứ trí, ngũ nhãn, lục thông.

Đó đạo lộ của tất cả các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thuở xưa, nay và sau, không thể có con đường nào khác hết. Đối với một người không nhìn thấy ngũ uẩn thì không thể nào thấy được lậu hoặc, mà không thấy lậu hoặc thì làm sao đi đến chỗ lậu tận, sạch hết tất cả các lậu hoặc. Đó là lý do tại sao tất cả người tu học chúng ta về đây đều phải hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn, sau khi chúng ta ở đây một năm, hai năm, ba năm, năm năm mà ngày nào chúng ta cũng nhắc là nhận diện ngũ uẩn mà mình không nhận diện ngũ uẩn là lúc đó là mình sống với cái thấy biết của phàm phu, của vô minh, của bản ngã, của tham, sân, si.

Khi mình không nhận diện ngũ uẩn thì mình có một cái tôi, khi mình nhận diện ngũ uẩn thì mình thấy nó ra là năm cái nhóm, cái tôi lập tức được mở ra, được vỡ ra, được chẻ ra, tháo ra ở trong cái nhận diện ngũ uẩn đó là cái bước sơ khởi đầu tiên đã đạp lên cái chân mình bằng thánh trí rồi. Cho nên con sư tử mới về sanh ra nó là sư tử hay là nó con mèo hay là mười năm sau nó mới thành sư tử? Hay mới sanh ra là con chồn? Mới sanh đã là sư tử chứ đâu phải ba mươi năm sau nó mới thành sư tử, cho nên cái lập cước của sự tu học chánh pháp là hết sức quan trọng. Đầu tiên nó đạp lên là đạp lên thánh tri kiến, cái nền tảng của sự tu học ở trong thánh điển Nikāya là đầu tiên nhìn bằng thánh trí, chỗ đây là chỗ đặc biệt mà chúng ta được tu, được học.

Cái bước đầu tiên đã nhìn thấy thân tâm của mình một cách chính xác, một cách trung thực, một cách xác thực, một cách trực chỉ, trực diện, trực tiếp nhìn thấy được. Cái bước thứ hai của chúng ta là sau khi mình thấy ngũ uẩn rồi mình thấy được tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, tới cái bước này mà Đức Thế Tôn nói không có nỗ lực, không có nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, vị này thỏa mãn với lòng tin Phật, pháp, tăng của mình, vị này không cố gắng thêm lên thì Đức Thế Tôn gọi vị này là cái hàng ngũ của kẻ phàm phu, là người đứng ở ngoài dầu cho được hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn, nếu không nhập lưu vẫn là kẻ ngoại phạm đứng ở ngoài cửa. Bây giờ muốn vô hay là muốn đứng ở ngoài cửa? Bao nhiêu phần trăm muốn vô?

"Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú không phóng dật?

Ở đây, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: 'Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn'. Vị này không thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động ấy, cố gắng hơn nữa, ban ngày sống viễn ly, ban đêm sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống không phóng dật, nên hân hoan khởi. Do vị ấy hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý có hỷ, nên thân khinh an. Do thân khinh an, nên vị ấy cảm thọ lạc. Do tâm được lạc, nên vị ấy định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiện ra." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b) IV. Phẩm Phước Ðức Sung Mãn, X. Nandiyà)

Cái chữ mình quan trọng ở đây là "không có thỏa mãn" với cái học, cái hiểu, cái tu của mình, cái mà mình đang hành trì vị này không có thỏa mãn. Tại sao ngoài đời là tham đủ thứ, muốn hoài đủ thứ không bao giờ ngừng mà sao vô tu được chút rồi không tham muốn nữa? Tại sao không nỗ lực quyết liệt mà bốc cháy cái lòng tham muốn đến tận cùng tới thánh quả tối cao luôn đi? Tại sao không sử dụng cái lòng tham đó, sử dụng cái lòng khao khát đó, sử lụng cái lòng nhiệt huyết đó, bốc cháy, bừng cháy đó, phựt cháy, rực cháy đó đốt hết tất cả các lậu hoặc, đốt hết, đập phá hết tất cả vô minh, diệt tận hết tất cả khát ái, nếu mà chuyển qua vậy thì mau lắm. Tại sao lại thỏa mãn nhanh như vậy, mau như vậy, lẹ như vậy, sớm như vậy?

Cho nên vị này không có thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động, vị này cố gắng hơn nữa, ban ngày vị này sống viễn ly, ban đêm vị này sống thiền tịnh. Do vị ấy sống không có buông lung phóng dvật nên vị này hân hoan sanh khởi, do hân hoan cho nên vị này vui tức là có hỷ, do vị này vui cho nên thân vị này nhẹ nhàng, do thân nhẹ nhàng cho nên tâm dễ chịu, khinh an, hỷ lạc đó. Thân nhẹ nhàng, tâm dễ chịu cho nên vị này được định tĩnh, do tâm được định tĩnh các pháp được hiện ra do các pháp, được hiện ra cho nên vị ấy được gọi là trú không có buông lung phóng dật.

Chúng ta thấy chư Đức Thế Tôn dạy không có còn một cái chỗ nào thiếu sót, các pháp được hiện rõ hai phương diện. Khi nãy là con nói bất thiện pháp, bây giờ con nói thiện pháp, trong tâm mình có niềm tin sanh khởi là mình phải biết, trong tâm mình đang có tinh tấn hay không là mình phải biết, trong tâm mình đang có niệm hay không là mình phải biết, lúc đó mình có an trú tới niệm xứ không, lúc đó mình có niệm thọ không, có niệm tâm không, có niệm pháp không là mình biết, lúc đó pháp gì ở trong ba mươi bảy chánh giác phần đó có mặt ở trong tâm mình là lúc đó mình biết, gọi là các pháp hiện rõ ra. Lúc đó mình có trạch pháp giác chi không, mình có tinh tấn giác chi không, mình có khinh an giác chi không, mình có hỷ giác chi, mình có xả giác chi không, lúc đó có mình biết. Lúc đó mình có thánh trí về khổ mình có không, mình biết là lúc đó mình có hay là không có, vậy mà kêu trình pháp lên không biết gì trình hết.

Đó là cái tâm hôn mê, còn không thì trình là nói lung tung, lộn xộn, lạo xạo hết trơn, vậy các pháp hiện rõ là lúc đó mình có tín - tấn - niệm - định - tuệ không, mình có niệm giác chi, trạch pháp giác chi không, tinh tấn giác chi không, hỷ giác chi, khinh an giác chi, xả giác chi mình có không. Lúc đó mình có quán thân - thọ - tâm - pháp không, lúc đó mình có an trú được tứ vô lượng tâm từ, bi, hỷ, xả, an trú tâm nào, an trú mức độ nào, an trú cái phạm trù rộng lớn của cái tâm lúc đó nó trải tới mức độ nào mình phải biết, mình phải thấy. Cái đó gọi là các pháp hiện rõ tức là từng phần trong ba mươi bảy chánh giác phần tới đâu mình biết tới đó hết, tâm mình trú ở mức độ nào mình biết hết, trong lúc đó mình có lòng từ không, trong một sự kiện nó xảy ra như vậy mình có thấy mình sót thương cho chính mình không, mình có tâm bi không.

Trong cái trạng thái khi tác ý hỷ lạc thì lúc đó mình có sanh khởi được hỷ không, cái hỷ của mình ở mức độ nào, hoan hỉ với cái pháp nào. Trong khi sám hối mình có thấy tàm quý không, có thấy xấu hổ, có thấy sợ hãi và cái xấu hổ, sợ hãi như thế nào, cái mức độ nó ra làm sao. Mình phải thấy, phải biết phải rõ hết các pháp trong tâm của mình, như vậy gọi là các pháp hiện rõ vì tâm có định tĩnh, cho nên mình thấy một người tu tinh cần, tinh tấn người ta trình pháp rõ ràng, mạch lạc, cái pháp nào nó ra pháp nấy. Tuệ người ta đủ, cái định đủ, cái trí người ta đủ, còn nhiều khi kêu mình là mình rung, mình sợ tức là năm triền cái của mình còn quá nhiều, cái tâm trạo hối nói không được luôn.

Thành ra tu cái này rõ lắm, không có che, không có giấu, không có gạt được ai hết, thấy rõ hết, biết rõ, tới đâu thấy biết rõ ràng hết. Trong lúc đó mình có thấy được khổ và thấy nguyên nhân có khổ không, tâm mình sanh khởi lên cái bản ngã mình có thấy lúc đó là có bản ngã hay không, bản ngã nó đang hoạt động như thế nào, lúc đó mình thấy mình có nhiếp phục, chế ngự bản ngã. Lúc đó mình thấy cái cảm thọ bản ngã nó tan biến mình thấy có, mình biết có, liễu tri nó một cách toàn diện, lúc nó sanh khởi, khi nó an trú và lúc nó chấm dứt mình thấy rõ. Đó là thánh trí, đó là thánh tuệ, đó là tuệ giác của bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác truyền trao cho chúng ta đó, chứ không phải tu không biết gì hết "cái này không thể diễn tả được, bất khả tư nghì không diễn tả được, giống như người uống nước nóng lạnh thì tự biết, tu thì tự biết tôi không nói được".

Không phải vậy, tu Nikāya không phải kiểu đó, tu tới đâu biết tới đó, tham còn lúc này đang có tham, biết lúc đó đang có tham, tham cái gì biết rõ, tham ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức là tham cái gì, ái cái gì. Thí dụ giờ tham ăn rồi có biết không? Biết rồi lúc đó làm sao? Hơn nhau là cái đoạn phía sau này, biết thì ai cũng biết. Bây giờ cái tâm mình nó tham cái hình bóng ở trong tâm, cái hình bóng đó nó cứ ám ảnh, nó cứ hiện ra rồi nhớ, tiếc và mình không muốn buông cái hình bóng đó mình có biết không. Đó là ái tưởng uẩn, hình bóng ở trong tâm và mình thích cái suy nghĩ đó, mình khoái cái suy nghĩ đó, mình nắm giữ cái suy nghĩ đó, mình không buông cái suy nghĩ đó ra đó là ái hành uẩn, mình không muốn bỏ cái suy nghĩ đó.

Mình hồi tưởng lại cái cảm giác đó là khi mình ăn cơm có nói là mình diệt trừ cảm thọ cũ không cho sanh khởi cảm thọ mới. Thế nào là diệt trừ cảm thọ cũ không cho sanh khởi các cảm thọ mới? Con nói thí dụ mình nghe nói là trưa nay nấu bún mắm, mới nghe nói câu đó thôi là trong tâm vận hành chưa? Có hình bóng không? Có cảm giác không? Có suy nghĩ không? Có sự rõ biết không? Trong mình hồi tưởng cái cảm giác khi mình ăn bún mắm lúc trước, mình đã từng nếm cái món đó rồi, mình đã từng ăn cái món đó rồi cái cảm giác đó ra sao mình nhớ không? Khi bữa nay nói cái món đó thì lập tức cái cảm giác mình đã nếm, thưởng thức hiện trở lại, cái đó là cảm thọ. Khi cái cảm giác đó nó hiện lại, cái hình bóng đó nó hiện lại, cái suy nghĩ đó nó hiện lại, cái nhận thức đó nó hiện lại, thọ; tưởng; hành nó sanh khởi như vậy thì nó có thêm cái cảm giác mới, có thêm cái hình bóng mới, nó có thêm cái suy nghĩ mới là cái mình sẽ ăn ngon giống như vậy đó.

Như vậy vừa có cảm thọ cũ thì nó tưởng ra thêm cái cảm thọ mới, nếu như vô mà không giống như cái món trước mà nấu dở ẹt mặn chát hay ngọt ngay là sân "sao nấu dở ẹt cái món lúc trước tôi ăn ngon lắm mà". Cho nên trong cái bài chánh quán thọ thực sâu sắc dữ lắm, ngày xưa con hỏi cái câu đó với bậc đạo sư, nhiều khi mình đọc chưa hiểu đúng nữa, đó là diệt trừ cảm thọ mới, cảm thọ cũ và không cho sanh khởi lên cảm thọ mới tức là mình phá, mình quán liền "thức ăn này khi mình nuốt vô cái bụng nó thành cái gì?" Bây giờ nuốt vô một cái qua khỏi cổ rồi mình nhả ra mình ăn không?

Ăn không phải để vui đùa, không phải đam mê, không phải yêu thích, không phải làm đẹp cho mình. Ăn để bảo dưỡng thân này để tu tập thành tựu phạm hạnh. Mình tác ý những cái tác ý đó là để mình diệt cái cảm thọ cũ, mình không cho nó dục, nó ái, nó khoái, nó thích, nó mong, nó muốn, nó đợi, nó chờ, nó thúc giục ở trong lẹ lẹ để vô ăn, cúng lẹ lẹ đi mau ăn chứ ngồi tụng lâu quá vậy. Ngồi tụng vậy chứ lâu lâu tằng hắng ho một cái rồi nuốt nước miếng "lâu quá vậy", nó thúc giục ở trong này nè, tụng lâu là nhiều khi cái sân nó hiện rõ hết. Rất là vi tế mà chỉ có thánh trí ngũ uẩn mới vạch trần, phơi bày ra hết những cái này, còn hồi xưa mình học là mình không biết.

Không cho sanh cái cảm thọ mới tức là không có để cho nó thúc giục, nó tham, nó ái, nó thích, nó khoái, nó muốn và để cho an tịnh, lắng dịu. Mình quán để cho cái thúc giục đó, cái ham, cái thích, cái khoái, cái muốn nó lắng xuống, nó dịu xuống từ từ thì mình ăn. Đối với một cái món ăn cũng vậy, đối với những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, những nhận thức, những cảm thọ đều phải có sự thấy, sự biết, sự quán như lý giác sát và như lý tác ý. Như lý giác sát, bốn cái chữ này vậy chứ không có đơn giản chút nào, nhận diện ngũ uẩn được thì mình nhìn nó, giác sát, tỉnh giác và quán sát một cách đúng sự thật của nó. Phải thấy được đúng bản chất của nó thì mới nhìn đúng được cái sự thật của nó, sau đó mình mới tác ý đúng theo cái tinh thần để đánh đuổi cái tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã.

Cho nên chúng ta thấy được trong cái sự tu học này cực kỳ vi tế, nhỏ nhiệm, cực kỳ phải cẩn trọng, nghiêm cẩn cực kỳ để cho nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác và cực kỳ là một cái sự quay lại nhìn hoài, hoài, hoài, quán hoài, soi hoài, chiếu hoài, chỉ cần lơ đễnh một chút thôi là cái bếp ga cháy làm ba đứa con chết. Người mẹ đâu bao giờ tưởng tượng nổi cái lãng quên một chút của mình, cái bếp ga đó mà giết chết ba đứa con của mình, một tuổi, bốn tuổi, sáu tuổi.

Con lấy cái ví dụ này con nhắc hoài, đi ra mua sữa cho con nên khóa cửa lại và mình vừa bị cái ngọn lửa của tham, sân, si nó đốt mà mình còn vừa bị cái chìa khóa, cái ống khóa của cái sự chấp thủ khóa chặt, cái vô minh nó phong tỏa mình ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức không có đi ra được. Bản ngã phong tỏa mình trong ngũ uẩn không có lối thoát, cái dục ái, cái tham quấn chặt mình, nó siết chặt mình, nó buộc chặt mình, nó ghì chặt mình ở trong cái tứ đại này, trong cái đời sống hư ảo, vô thường đầy bất an, đầy lo lắng, đầy đau khổ, đầy sợ hãi này. Nó buộc chặt, siết chặt, nó ghì chặt, nó khóa chặt mình ở trong này cho đến ngày nào mình nhìn thấy được cái ống khóa đó, cái ổ khóa đó mà mình đem hết tất cả sức lực bình sinh của mình, tâm lực, trí lực, hạnh lực, nguyện lực, sức mình đập cho nó bể cái ổ khóa đó ra, mình bung cái cánh cửa đó ra thì mình mới có thể chạy vô để kéo được những đứa con, những đứa trẻ đó ra ngoài.

Tức là một cái nội tâm ngây thơ, dại khờ, ấu trĩ, ngu si, mê muội, vô minh của chính mình bị thiêu đốt ở trong những cái ngọn lửa đó, những ngọn lửa đầy tham dục, tham ái, sân hận, bản ngã, những ngọn lửa đầy sự hơn thua, ganh tị, đố kỵ, khẩu tranh, cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh. Đó là nói bên ngoài thôi, ngọn lửa bên trong đốt mình bạc đầu, nó đốt mình mờ mắt, đốt mình da nhăn, tóc bạc, lưng còng gối mỏi, tai điếc, mắt mờ, răng rụng, lưng còng xuống giống như cái nóc nhà, ỉa chay đái dầm, nằm một chỗ, bệnh nan y bán thân bất toại, sống đời thực vật.

Bên trong là một cái nội tâm đầy hôn mê, đầy ta đây, đầy kiêu căng, ngạo mạn, ngã mạn, kiêu mạn, ngạo mạn. Phải nhìn thấy được cái này mới tu, tu mà không thấy cái này thì tu cái gì? Tu mà cứ ảo tưởng không à, mộng tưởng, mơ tưởng, cái sự thật thì không thấy, phải nhìn thấy, phải nhìn thấy, phải nhìn thấy cái nguyên nhân làm cho mình khổ đau, nguyên nhân làm cho những người thân thương mình đau khổ, những nguyên nhân nó làm cho hữu tình chúng sanh, vạn loại muôn loài này phải chịu đựng những dòng nước mắt tận cùng thương đau này. Phải nhìn thấy, phải thành thật với chính mình, phải chân thật, phải cúi đầu, phải dập đầu ở trước chân lý, ở trước sự thật thì mình mới có cái cơ hội ngộ đạo, giác ngộ, mình mới có cái cơ hội sáng được cái con mắt mù lòa từ vô thỉ kiếp này. còn không thì uổng cho đời tu mình lắm, uổng lắm, tiếc lắm, tội nghiệp lắm.

Hằng ngày, hằng giờ lúc nào cũng phải nhìn thấy được những cái bản ngã ngu si, những cái sân hận, những cái dục, tham ái. Phải nhìn thấy, phải chỉ mặt, phải điểm mặt, phải vạch mặt, la rầy, mắng chửi nó, quở trách, sát phạt nó, thẳng tay trừng trị nó chứ không phải sống với một cái nội tâm kênh kiệu, vênh váo, hách dịch, kiêu căng, ngã mạn, ngạo mạn, kiêu mạn. Bởi vậy thiệt là xót xa, nói tới đây là xót xa, đau lòng lắm, Thế Tôn nói mà ngày xưa con đọc con không có hiểu, bây giờ mình thấy nó thấm thía, thấm đẫm vào trong xương, tủy, não của mình. Chớ có được cái tuổi trẻ rồi lại kiêu ngạo với tuổi trẻ.

"Có ba kiêu mạn này, này các Tỳ-kheo, Thế nào là ba?

Kiêu mạn của tuổi trẻ.

Kiêu mạn của không bệnh.

Kiêu mạn của sự sống.

Say sưa trong Kiêu mạn của tuổi trẻ, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu làm các ác hành về thân, làm các ác hành về lời nói, làm các ác hành về ý. Do làm các ác hành về thân, làm các ác hành về lời nói, làm các ác hành về ý, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Say sưa trong Kiêu mạn của không bệnh, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu làm các ác hành về thân...., về ý. Do làm các ác hành về thân, làm các ác hành về lời nói, làm các ác hành về ý, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Say sưa trong Kiêu mạn của sự sống, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu làm các ác hành về thân, làm các ác hành về lời nói, làm các ác hành về ý. Do làm các ác hành về thân, làm các ác hành về lời nói, làm các ác hành về ý, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Say sưa trong Kiêu mạn của tuổi trẻ, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo từ bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Say sưa trong kiêu mạn của không bệnh, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo từ bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Say sưa trong kiêu mạn của đời sống, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo từ bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, Kiêu Mạn)

Chúng ta nghe cái tiếng tắc kè kêu cũng là cái tiếng "biết tôi ở đây không? Tôi ở đây nè biết không?". Con chó sủa lên hung hăng, dữ dằn, nó nhe răng ra là "biết tôi đây không, tôi đây nè", đó là sự ngạo mạn, kiêu mạn, ngã mạn đó. Xót xa lắm.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Thế mà vỗ ngực nói ta đây

Như một bao rác đầy hôi thối

Lại vỗ vào bao nói ta tôi.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ có tâm chấp ngã hơn thua

Ngày đêm thiêu đốt tim gan máu

Đốt cháy tâm can trong giận sân.

Một bao rác đầy hôi thúi bên trong chứa phân và nước tiểu, mủ và máu, mỡ, nước miếng, đàm giải, nước tiểu rồi vỗ bình bịch vô cái bao đó "ta nè", "tôi nè", "Tao nè có biết hay không".

Thật là nhục nhã!

Thật là xót thương!

Thật là tội nghiệp!

Thật là đau buồn cho một cái kiếp sống nhân sinh này!

Sống như những cái nội tâm bẩn thỉu, hèn hạ, phàm phu, vô minh, hạ liệt như vậy, kiêu căng, kênh kiệu, ngã mạn như vậy để được một đống nghiệp, ra đi ở trong vô minh, ở trong đắng cay, bị nghiệp nó lôi đầu đi phải quằn quại, phải đau đớn, phải khổ sở trong chính những cái ác nghiệp mà mình đã tạo.

Thật là xót xa!

Thật là cay đắng cho cái đời sống đầy hôn mê, vô minh này!

Có một chút tuổi trẻ là kiêu ngạo với tuổi trẻ, có một chút sức khỏe là kiêu ngạo với sức khỏe, có một chút sắc đẹp là kiêu ngạo với sắc đẹp, có một chút tiền bạc là kênh kiệu, ta đây, kiêu ngạo với tiền bạc, tài sản, có một chút sinh mạng mong manh, vô thường như vậy mà đầy kiêu căng, tự phụ, ngã mạn, vênh váo, hống hách rồi phải chui xuống những cái thân bò lết quết xảm, rồi phải chui xuống những cái thân trườn uốn như con lươn, phải chui xuống những cái thân giòi lúc nhúc trong cái đống phân, rồi phải chui xuống những cái thân vất vơ vất vưởng, cô hồn ngạ quỷ lang thang đói khổ, phải chui xuống những cái thân quằn quại kêu la thảm thiết, kinh hãi ở trong cái địa ngục núi đao, rừng kiếm, biển lửa, dầu sôi, cột đồng cháy đỏ như vậy. tất cả là vì cái tâm kiêu ngạo đó, cái tâm ngạo mạn, cái tâm ngã mạn, cái bản ngã to lớn đó mà không thấy, không biết, không rõ, không hay.

Cho nên mình phải nhìn thấy, con thưa chư tôn và chư hiền phải nhìn thấy, phải là người thấy, phải là người biết.

"Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy" (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Người mù mà kêu đi lau nhà, đi làm vệ sinh thì làm cái gì? Phải là ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết. Bây giờ mình đã thấy, đã biết mà mình không nỗ lực thì mình sẽ tiếp tục đau khổ dài dài nữa, chìm đắm, trôi dạt, phiêu bạt, đọa lạc, thối đọa. Phải nhìn thấy được, nhìn thấy các cái pháp trong nội tâm của mình, phải nhìn thấy những cái cấu nhiễm, những cái xú uế những cái bẩn thỉu, những cái phàm phu.

"Tại Sàvatthi...

-- Tỳ-kheo y chỉ một pháp, này các Tỳ-kheo, năm căn được tu tập, được khéo tu tập. Một pháp ấy là gì? Là không phóng dật.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp không phóng dật? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hộ trì tâm đối với các lậu hoặc và các pháp hữu lậu. Do vị ấy hộ trì tâm đối với các lậu hoặc và các pháp hữu lậu, nên tín căn được tu tập đi đến viên mãn... tuệ căn được tu tập đi đến viên mãn.

Tỳ-kheo y chỉ một pháp như vậy, này các Tỳ-kheo, năm căn được tu tập, đi đến viên mãn." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (b), VI. Phẩm Thứ Sáu, VI. Y Chỉ, An Trú)

Y chỉ là nương tựa, nương dựa, là dựa vào. Dựa vào pháp gì? Không có buông lung phóng dật, không được thả lỏng các căn và đặc biệt nhất là ý căn. Ở đây vị Tỳ-kheo hộ trì tâm đối với các lậu hoặc và các pháp hữu lậu là nãy giờ con nói đó, là dục, là ái, là tham, là sân si, là vô minh, là bản ngã, là kiêu mạn, là ngã mạn, là ngạo mạn. Đó là những pháp lậu hoặc và phải hộ trì tâm đối với các pháp ấy, hộ là phòng hộ, trì là giữ gìn, nếu cái tâm định đĩnh như nãy nói rồi, mình thấy nó là mình không để cho nó xâm chiếm, áp đảo. Khi mình thấy nó sanh khởi lên lập tức phải thâu nhiếp, nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận. đó là mình hộ trì, mình giữ gìn, mình bảo vệ, mình phòng hộ, có sự nhiếp phục, chế ngự và thẳng tay trừng trị, đoạn tận, hạ gục, diệt nó, không cho nó còn sanh khởi trở lại trong tương lai thì đó gọi là hộ trì tâm.

Cái hộ trì tâm này rất là sâu vì nó không có khởi ra bên ngoài mình vẫn thấy được là nó đang hoạt động bên trong, chứ không phải nhìn thấy ngồi êm re vậy đó ngon lành đâu. Ngay cả ngồi trên bồ đoàn nhưng vẫn buông lung phóng dật, ngủ gục, con nói cái này chúng ta có nhận được cái chỗ này không? Lúc đó mình không có hôn trầm, mình cũng không có dao động, lăng xăng, gãi ngứa, mình cũng ngồi yên, nhìn ở ngoài là ngon lành nhưng bên trong buông lung, là những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm thọ ác bất thiện pháp, dục, tham ái, bản ngã mình vẫn để cho nó hoạt động bên trong.

Thí dụ ngồi im đó, mắt mình vẫn rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác nhưng bên trong mình khởi lên "cô làm cho mình khó chịu và sáng nay mình bực bội quá, mình không ưa", nó sanh khởi lên mình vẫn để cho cái suy nghĩ, hình bóng đó, cái cảm thọ đó hoạt động, mình không có nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch nó thì cái đó vẫn gọi là buông lung phóng dật. Mình vẫn ngồi trên bồ đoàn, mắt vẫn tỏa sáng, thân vẫn tỉnh táo, êm ru như vậy nhưng bên trong mình là hơn thua với huynh đệ ngày hôm qua, trong suy nghĩ mình vẫn là đúng, mình vẫn là hơn, người kia là sai thì cái đó vẫn là buông lung phóng dật. Mình không từ bỏ suy nghĩ đó, mình không đánh đuổi cái suy nghĩ đó, mình không phá vỡ cái suy nghĩ về cái tôi, cái bản ngã hơn thua đó thì mình vẫn buông lung phóng dật, vô minh, bản ngã, chấp thủ.

Tại vì mình còn cái suy nghĩ tôi, của tôi, tự ngã của tôi, mình không bỏ cái suy nghĩ đó, mình không bỏ cái ý hành đó, mình còn nắm giữ thì đó là chấp thủ. Mình còn thấy có một cái tôi là cái bản ngã, chỉ có dòng pháp này mới chỉ rõ ra cho mình biết, hồi đó mình tu học hoài không biết bản ngã là cái gì, không biết chấp thủ là cái gì. Cái hình bóng của tự thân trong tâm mình không chịu cho nó biến mất, mình không chịu cho cái hình bóng đó cúi đầu xuống, dập đầu xuống, không cho cái hình bóng đó chui vùi xuống đáy mồ, mình không phá tan cái hình bóng đó trong tâm mà mình vẫn khư khư bám chặt, ám ảnh một cái hình bóng đó về tôi, vẫn giữ cái suy nghĩ hơn thua, đúng sai, cao thấp.

Con mèo thì phải meo meo,

Chó thì gấu gấu, muỗi thì vo ve…

Mỗi người tập khí khác nhau

Làm sao có thể bắt ai giống mình

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Tha thứ đi tâm, buông xả đi tâm, buông bỏ đi. Mình giữ những thế này mình chỉ mệt mỏi thôi, chỉ phiền não thôi, mình có được cái gì đâu. Từ nay về sau mình sẽ sống với cảm thọ nhẹ nhàng nha tâm, mình sẽ sống với cảm thọ buông xả nha tâm, mình sẽ sống với những cái cảm xúc dễ chịu này, ngọt ngào, từ ái này nha tâm. Mình dạy nó cả tiếng đồng hồ cũng được, bất cứ lúc nào rảnh mình kêu nó lại mình dạy "thằng thọ mày lại đây quỳ xuống để mẹ dạy mày nghe không? Mày mất dạy vì vừa phải phải thôi, vô lượng vô biên kiếp nay mày không được dạy rồi bây giờ tao dạy cho mi", "Thằng tưởng hả? Mày vô đây, vô đây. Mày cúi xuống tao đập cho mày một hèo, tối mày cứ ám ảnh cái hình bóng ngu si, những hình bóng bản ngã này mày quỳ xuống đây tao đập cho mày một trận".

Đập xong rồi thì cho cục kẹo, tao muốn ăn trú tâm nào trong ngày hôm đó là tao an chú tâm đó. Tuyệt vời không? Chịu không? Bây giờ được cái tâm nào rồi? Tâm hiền được tám mươi phần trăm chưa? Phải nỗ lực lên, bất cứ lúc nào thường xuyên an trú trong cảm thọ tâm hiền, thường xuyên an trú trong cảm thọ tâm từ. Mình muốn cho hoan hỉ là hỷ liên tục thì như vậy các vị đó mới nhập thất được một tháng, hai tháng, cả năm, người ta mới tu được chứ làm sao đóng cửa trong đó rồi thấy như ở tù thì sao chịu nổi. Người ta muốn trú trong những cái tâm thanh cao, cao thượng, thánh thiện, các pháp nó hiện rõ thì thực hành nó tuần tự, nó minh bạch, nó rõ ràng, nó trình tự, nó rành mạch, minh minh bạch bạch, tỏ tỏ tường tường, trong trong sáng sáng, thanh thanh tịnh tịnh.

Tu như vậy chứ không phải tu không biết gì hết trơn, tu trong vô minh, tu trong si mê, lấy cái thiền bảng đập con ma si đang nhập vô người, mình tu vậy thú vị lắm, rất là thú vị. Lúc nào có từ có bi, có hỷ, có xả, lúc nào có tâm hiền, lúc nào khổ thánh trí đang có mặt, đang vận hành trong con, lúc nào đang buông lung phóng dật, con thấy con xấu hổ nó đang buông lung phóng dật, lúc này nó đang si, lúc này nó đang bản ngã. Trời ơi con quỳ xuống con lạy, con đánh gục ngã cái bản ngã này. Tu như vậy có thú vị không? Có hương vị không? Mỗi ngày được dập tơi tả, tơi bời, tan hoang mà cười như hoa nở, tuyệt vời không? Đánh cái tâm nó tan nát, đánh cho tan hoang hết mà hạnh phúc, mà vui sướng, mà hoan hỉ.

Lên sát phạt nó, la nó, rầy mắng nó mà "con hạnh phúc, con vui lắm, con bỏ cha mẹ lên đây để con nghe rầy cái tâm, nghe la cái tâm, nghe quở cái tâm, nghe trách cái tâm mà lòng con ấm áp, ngọt ngào, yêu thương, dễ chịu, mát dịu, hiền hòa, từ ái, dạt dào tình thương". Xứng đáng lắm, xứng đáng dữ lắm, xứng đáng một đời này lắm, hãy tiếp tục làm hơn thế nữa, làm đẹp hơn nữa, làm mạnh hơn nữa, làm nhiều hơn nữa. Nhật trí không? Chỉ là một đống cát bụi, khói mây giữa cuộc đời này rồi tích tắc con sẽ ngồi trên cái bàn, không có ai ở đây cả, không có ai ở đây cả, không có một ai ở đây cả, chỉ là những cái đống đầy rẫy dục, tham, ái, vô minh, bản ngã đang ngày đêm vận hành, hoạt động, đang ngày đêm làm khổ cho nhau, làm hại cho mình, làm hại cho người và giờ đây may mắn chúng ta nhìn thấy cái đống đó và chúng ta đang nhiếp phục, chế ngự và đi đến làm cho tan biến cái đống đau khổ đó.

Như lời Đức Thế Tôn nói tuy khác thân nhưng như đồng một tâm, thân thì khác nhau, mặt mũi thì khác nhau nhưng tất cả chúng ta đồng lòng nhất tâm, cùng một cái nội tâm là nội tâm hướng thượng, là một nội tâm muốn đi ra cái đống đau khổ, cái xác con rắn chết, cái xác người chết thì người này rất là ghê gớm, bẩn thỉu, lẹ, nhanh, mau quăng liệng, giục, vứt, chạy lẹ, chạy xa, chạy nhanh. Cũng vậy, xác con rắn chết, xác con chó chết, xác người chết mà quàng lên cổ chúng ta đó là những cái tâm cấu uế, lậu hoặc, là những lời nói đầy tham, sân, si, là những hành động đầy bản ngã. Đó là những xác chó chết, những xác rắn chết, những xác chuột chết, là những cái đống phân, những cái đống cứt, những cái đống nhơ bẩn mà mình không có muốn nó ở trong nội tâm mình nữa.

Sư cô Huệ Lý: Con biết con không thiện xảo, không sắc bén trong sự tu học, sáng nay được sư phụ chỉ dạy, dắt dẫn và tác ý cho chúng con để chúng con thấy rõ được cái đường lối tu tập, để đưa mình thoát ra khỏi những cái cấu uế, những cái lậu hoặc, những cái bất thiện pháp mà vì vô minh chúng con không biết. Con thấy thật là rõ ràng những pháp hành để con có thể theo những lời dạy của sư phụ tu tập, để một đời này được thoát khỏi sanh tử luân hồi. Con thấy mình thật là sung sướng, thật là hạnh phúc, chưa bao giờ con hạnh phúc ngập tràn chưa bây giờ, con thấy sung sướng thấy được đạo lộ mình đi thật rõ ràng.

Con thật biết ơn trên Đức Phật, ngài đã mở ra một con đường cho chúng con được thoát khổ và con rất biết ơn trên pháp thân bậc đạo sư, ngài đã dựng đứng lại những gì bị quên lãng trong quá khứ mấy ngàn năm. Con cũng biết ơn trên sư phụ, người đã dốc hết tâm lực vì tình thương, vì từ tâm, vì lòng từ mẫn dắt dẫn chúng con là những đứa cùng tử, những đứa con khờ dại, những cái tâm hồn xấu xa, ác độc mà được biết đến giáo lý của Đức Phật, dắt dẫn chúng con, chỉ dạy chúng con để chúng con biết rửa gột những cái cấu uế. Và theo lời dạy của sư phụ chúng con sẽ cố gắng khắc phục mình, rửa gột mình, tẩy sạch mình để thoát ra khỏi sinh tử luân hồi và bà con cũng biết ơn các vị Đàn-na tín thí đã giúp chúng con có một môi trường tu học đầy đủ. Con cũng biết ơn tất cả đại chúng hiền thiện sống với nhau hiền từ để có một môi trường tu tập thật là hiền thiện, nâng đỡ nhau, giúp nhau trong tất cả mọi công tác, mọi cái sự hoạt động để cho một cái đời tu của con được đi đến chỗ an lạc. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Dạ mô Phật, từ lúc nãy vừa rồi khi con ngồi nghe sư phụ giảng thì con xin sám hối sư phụ là con bị hôn trầm chi phối. Khi sư phụ nói đến tác ý hoan hỉ thì lúc đó con mới được hoàn toàn tỉnh táo, con rất là xúc động và cảm thọ trong con hoan hỉ khi sư phụ chia sẻ. Sư phụ nói là sư phụ chỉ là một người ăn mày muôn thuở, chỉ là một nùi giẻ rách ngàn năm, ngài là mây khói, là cát bụi, chẳng có ai cả thì con suy nghĩ và con lấy đó làm cái điều mà con phải khắc ghi, phải khắc cốt ghi tâm và suy tư thật nhiều, thiền quán thật nhiều về điều đó.

Mấy hôm nay con cảm nhận là trong tự thân con có một cái sự thay đổi mà con không biết có giống như lúc nãy sư phụ giảng là mình bị cái sự thỏa mãn gì đó. Con thấy trong cái cảm thọ của con nó không có muốn dao động nhiều, nó bị dính mắt vào cái sự an tịnh, lắng dịu và nhiều khi cái ý hành trong con cũng không muốn suy nghĩ nữa, nó muốn được yên lặng. Và con thích cái sự an tịnh, lắng dịu và yên lặng đó nên cảm giác là con có cái sự trầm xuống và con cũng mong muốn được sư phụ chỉ dạy thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Mình an tịnh, lắng dịu để mình có được một cái nội tâm định tĩnh thì cái đó là tốt nhưng nếu mình an tịnh, lắng dịu mà thụ động không có muốn nỗ lực, tinh cần thì đó là bất thiện pháp. Mình phải thấy rõ được sâu sắc vào bên trong coi cái đó là thiện hay là bất thiện. Nếu an tịnh, lắng dịu ở trong cái pháp thì đó là thiện, nếu an tịnh, lắng dịu ở trong cái hướng đến sơ thiền hoặc là sơ thiền, an tịnh, lắng dịu ở một cái nội tâm thanh tịnh, không có phiền não và thấy rõ ngũ uẩn thì cái đó là tốt, hoặc nội tâm buông xả. Còn nếu an tịnh, lắng dịu mà thụ động không muốn tác ý, không muốn quán chiếu, tới giờ nghe pháp không có nỗ lực, không có để tâm, không có tác ý thì cái đó là bất thiện pháp. Mình phải tác ý trở lại, làm cho nó nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực trở lại thì đó là cái sự thiện xảo, khéo léo nhìn nhận thân tâm của mình.

./.