Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

CHUYỂN ĐỘNG THẾ GIỚI 2

2026-03-03 00:52:35
Kinh Nikāya Giảng Giải

CHUYỂN ĐỘNG THẾ GIỚI 2

-Thích Minh Thành-

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Sự tùy chuyển của phàm phu theo tám pháp thế gian PAGEREF _Toc72310310 \h 1

1.Không suy tư đối với tám pháp thế gian PAGEREF _Toc72310311 \h 1

2.Tám pháp thế gian xâm nhập tâm và an trú PAGEREF _Toc72310312 \h 4

3.Thuận ứng và nghịch ứng trước tám pháp thế gian PAGEREF _Toc72310313 \h 7

II.Sự thù thắng của Đa văn Thánh đệ tử PAGEREF _Toc72310314 \h 9

Sự tùy chuyển của phàm phu theo tám pháp thế gian

Trong bài kinh “Tùy Chuyển Thế Giới 2”, Đức Phật mở rộng ra, giải kỹ hơn, phân biệt khác nhau giữa người tu với người không biết tu, kẻ phàm phu không nghe pháp.

Với kẻ phàm phu không nghe pháp, này các Tỷ-kheo, sanh ra lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, chỉ trích, tán thán, an lạc, đau khổ.

Với vị Thánh đệ tử nghe pháp, cũng sanh ra lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, chỉ trích, tán thán, an lạc, đau khổ.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có đặc thù gì, thù thắng gì, có sai khác gì giữa vị Thánh có nghe pháp và kẻ phàm phu có không nghe pháp?

Tức là có khác biệt gì giữa Đa văn Thánh đệ tử và một Vô văn phàm phu không nghe pháp? Không nghe pháp ở đây chính là không nghe pháp Nikāya chứ không tính những pháp khác. Phải nghe Chánh pháp Nikāya này mới được gọi là Đa văn Thánh đệ tử, đây là chỗ sâu sắc cần phải hiểu, nói ít hiểu nhiều. Nghe bất cứ cái gì khác đều không gọi là Đa văn Thánh đệ tử, tại vì pháp đó không phải là pháp ly tham, pháp đó không đưa đến rõ tận triệt để gốc rễ của tham, sân, si.

Không suy tư đối với tám pháp thế gian

- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn giảng cho ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

- Vậy này các Tỷ-kheo, hãy lắng nghe và suy niệm kỹ, ta sẽ nói.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

- Với kẻ phàm phu không nghe pháp, này các Tỷ-kheo, khởi lên lợi dưỡng. Vị ấy không có suy tư: "Lợi dưỡng này khởi lên nơi ta, lợi dưỡng ấy vô thường, khổ, biến hoại". (Tăng Chi Bộ Kinh- Tập 3, 8. Chương tám pháp, I. Phẩm Từ, bài kinh Tùy Chuyển Thế Giới 2)

Bây giờ nói đến quý vị cư sĩ ngoài đời, khi được lợi dưỡng, ví dụ hôm nay làm ăn trúng được một mối lớn, bình thường chỉ được 5 đồng nhưng hôm nay được đến 50 đồng, tất nhiên là chúng ta vui chứ không phải không vui, nói không vui là nói dối. Tuy nhiên, dù vui nhưng phải suy nghĩ lợi dưỡng đó là vô thường, 50 đồng đó không phải giữ được hoài, nó đi vào rồi cũng sẽ đi ra. Cũng như quý vị uống nước, nó ở bên trong hoài, hay rồi cũng phải đi ra? Quý vị ăn cơm vô rồi cơm còn ở bên trong hoài hay cũng phải bày tiết ra? Nếu chúng không đi ra thì rất nguy hiểm, người đó phải đi kiếm bác sĩ. Vậy, tại sao đối với tiền thì mình chỉ muốn nó đi vào, còn đi ra thì không muốn, như vậy mình cũng sẽ bị “bệnh”, vì đi vào đi ra là chuyện bình thường. Cho nên Đức Phật dạy mình vô thường, trong trường hợp này tức là tiền vào túi thì sau đó mình phải cho nó ra và khi tiền đi ra chúng ta đừng phiền não, đừng khó chịu, đừng bực bội nếu phải chi tiền chính đáng, đúng chuyện.

Khi được “lợi”, chữ lợi này rộng lắm, gồm nhiều thứ, chứ không phải chỉ nói đến tiền thôi, chẳng hạn được người ta cho đồ, được tặng quà, được đất đai, ruộng vườn, xe cổ… thì kẻ vô văn phàm phu không suy nghĩ, không quán chiếu: "Lợi dưỡng này khởi lên nơi ta, lợi dưỡng ấy vô thường, khổ, biến hoại". Tại sao được lợi mà lại khổ, chỗ này hơi khó. Ví dụ, được tiền nhiều quá nên tối đó không đi tu, mà đi ăn mừng. Bình thường mỗi ngày làm được 5 triệu nhưng hôm nay làm được 50 triệu là sẽ rủ cả nhà đi nhậu, rồi xong đánh lộn và vô bệnh viện. Thâm sâu là Thánh trí này! Tuệ giác là tri kiến của Như Lai! Phàm phu làm sao suy nghĩ được những điều này khi lợi ích đến với họ.

Cho nên chúng ta thấy, nhiều cậu ấm cô chiêu rơi vào nghiện ngập, trụy lạc, sa đọa. Đó là vì họ sống trong sự thừa hưởng nhung lụa, không biết cái khổ, không biết cái khó, bị chuyển động theo những thứ lợi dưỡng đó. Tiền nhiều rồi làm bậy, như bên Thái Lan có người nhà giàu rồi đăng tin tuyển mấy chục người chồng. Những thứ đó là khổ chứ không có sướng gì cả, nếu không có trí huệ thì những lợi dưỡng đó làm cho mình khổ. Chúng khiến cho mình buông lung phóng dật trong những tham dục, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã. Cũng như quyền sinh sát trong tay thiên tử, sức mạnh của thiên tử là nổi giận, gọi là “long nhan phẫn nộ” – tức là mặt rồng tức giận lên một cái là chết. Đời bây giờ không cần dùng dao, dùng kiếm, chỉ cần bấm nút một cái là cả thành phố nát thành tro bụi.

Chính vì vậy, trí tuệ này của Đức Phật tuyệt với lắm. Khi được lợi, chúng ta phải quán đó là vô thường, khổ, biến hoại, phải tỉnh giác chánh niệm. Nếu có sự tỉnh giác chánh niệm như vậy thì chúng ta sẽ sử dụng đồng tiền mà mình được lợi một cách đúng việc, đúng chỗ, đúng người và được sanh ra thêm phước báu, công đức. Tiền đó không có tội, tiền mà vào tay của người thông minh, trí tuệ, biết nghĩ đến mọi người thì tiền đó đem lại lợi lạc.

Vị ấy không như thật rõ biết … khởi lên không lợi dưỡng … khởi lên danh vọng … khởi lên không danh vọng … khởi lên chỉ trích … khởi lên tán thán … khởi lên an lạc … khởi lên khổ đau. Vị ấy không có suy tư: "Khổ này khởi lên nơi ta, khổ ấy là vô thường khổ, biến hoại". (Tăng Chi Bộ Kinh- Tập 3, 8. Chương tám pháp, I. Phẩm Từ, bài kinh Tùy Chuyển Thế Giới 2)

Đối với những thứ khác cũng vậy: danh vọng, không danh vọng, chỉ trích, tán thán, khen ngợi, vui khổ khởi lên thì kẻ vô văn phàm phu không suy nghĩ: "Khổ này khởi lên nơi ta, khổ ấy là vô thường khổ, biến hoại". Khi khổ khởi lên là người không biết tu bị khổ nhận chìm, không biết rằng cái khổ đó là vô thường, nó sẽ biến hoại, một chút là hết. Cũng như ngồi thiền bị tê chân, chúng ta nghĩ một lát sau là nó sẽ khỏi, không sao hết. Hay khi nghe pháp bị mỏi lưng, chúng ta cũng nghĩ rằng lát sau nó sẽ hết, không sao cả, nó sẽ biến hoại. Hoặc khi bị sư phụ, thầy, sư huynh rầy, nhắc nhở làm mình khó chịu thì phải tự nhắc mình cảm giác đó một hồi sẽ hết và nếu chịu khó thì sẽ tiếp nhận được Thánh trí từ sự điều chỉnh thân, miệng, ý – ba nghiệp của mình. Cảm giác khó chịu ấy là vô thường, không sao hết, điều quan trọng là chúng ta tiếp nhận được Thánh pháp, Thánh trí, Thánh tuệ, Thánh giới uẩn, Thánh định uẩn, Thánh tuệ uẩn. Còn cảm giác khó chịu, cái khó đó không là gì hết. Khi chúng ta tác ý như vậy thì được gọi là Đa văn Thánh đệ tử.

Đó là sự khác biệt giữa tu và không tu; người đa văn – nghe pháp và giữa vô văn – không nghe pháp; giữa Thánh đệ tử và người không đi theo con đường Thánh đạo; giữa người biết tư duy, suy xét, quán chiếu và một người không biết. Hễ được là mê, được khen là lơ lửng trên mây, bị chê là ăn không được, ngủ không được, khổ sở, như vậy là bị tùy chuyển thế giới, chuyển động theo thế giới. Một ngày trái đất cứ quay hoài và chúng ta cũng quay vòng vòng như chóng chóng. Nghe người ta nói một câu, thấy người ta nhìn một cái, bị hành động gì đó là mình quay mòng mòng theo, năm ngày, bảy ngày không ăn, không ngủ được. Hơn nữa, không phải đối với ai xa lạ mà là đối với chồng, với con, với vợ của mình. Như vậy là tùy chuyển thế giới, thế giới quay mòng mòng trong nhà, trái đất quay, địa cầu quay, mặt trời, mặt trăng chuyển động và đầu mình cũng quay vòng vòng theo, như bị căn bệnh “rối loạn tiền đình”.

Pháp này quá hay, cho nên sao chúng ta có thể không học, không tu, không giảng pháp này. Những điều này là Phật dạy mà sao không chịu học! Vì vậy, mỗi ngày đều phải lạy kinh Nikāya, lạy Pháp bảo, lạy những lời của Phật dạy. Mỗi ngày phải lạy Phật, lạy Pháp, lạy Tăng, lạy Giới, làm cho mình tăng trưởng niềm tin đối với bốn Dự Lưu phần. Đó là bốn phần giúp mình dự vào vòng trí huệ của Thánh Pháp. Tất cả quý vị ngồi đây không có người nào là không có phần, ai cũng có khả năng bước vào dòng chảy của Thánh Pháp. Điều đó nằm trong tầm tay của bất cứ một ai quyết tâm nghe pháp, thực tập theo tạng kinh Nikāya này.

Tám pháp thế gian xâm nhập tâm và an trú

Kẻ vô văn phàm phu không như thật rõ biết, rằng lợi dưỡng xâm nhập tâm của người ấy và an trú, không lợi dưỡng xâm nhập tâm của người ấy và an trú… (Tăng Chi Bộ Kinh- Tập 3, 8. Chương tám pháp, I. Phẩm Từ, bài kinh Tùy Chuyển Thế Giới 2)

Một khi có lợi ích gì thì điều đó xâm nhập và an trú trong tâm của chúng ta, nó ở trong đó. Lúc đó cảm giác khoan khoái, vui sướng, thích thú sanh khởi và chúng ta bị nó chiếm ngự toàn bộ cơ thể, đó là tham muốn, thích thú, dao động, dính mắc, bám chắc vào cảm giác sung sướng, thích thú đó. Toàn bộ tâm của mình bị xâm nhập, bị cảm giác đó an trú ở trong tâm.

Cũng như đã nói, bình thường ở nhà thì không sao, nhưng khi được lợi dưỡng, có cảm giác vui sướng đó rồi là mình không yên, bên trong cứ thúc giục, lâng lâng, khoan khoái, dao động, kêu mình đi chơi, kéo cả nhà đi ăn nhậu, hưởng thụ vì kiếm được nhiều tiền quá, rồi sẽ đưa đến hiểm nguy. Như vậy, lợi dưỡng xâm nhập tâm và an trú trong tâm người ấy.

Không lợi dưỡng cũng vậy, bán không được, bán ế sẽ buồn, cảm giác đó xâm nhập tâm, gặp ai cũng nói “bữa nay buồn, bán không được, buồn chán quá”. Như vậy, cảm giác buồn vì bán không được, không có tiền sẽ ở trong tâm, không chịu ra. Chúng ta không chịu đánh đuổi cho nên nó xâm nhập, an trú trong tâm và ở trong đó, có địa chỉ thường trú trong tâm mình. Chúng ta để cho nó cư trú, tá túc rồi buồn, gặp ai mặt cũng buồn, hỏi ra thì nói là vì không có tiền, như vậy là chết liền, đó là vô văn phàm phu không biết tu.

Xét kĩ những điều này thì chúng ta sẽ thấy sâu sắc vô cùng. Ở trong chùa không có chuyện gì, không có Phật tử tới, thấy buồn rồi kiếm chuyện tổ chức cho vui vui, có thấy chết chưa. Nếu không nhận diện cảm giác mà bị nó xâm nhập, an trú, không niệm thọ trên các thọ, không niệm tâm trên tâm thì trong tâm có gì mình cũng không biết, tâm bị cái gì xâm nhập, có cái gì ở trong đó mình cũng không biết. Cho nên ăn trộm, ăn cướp vào mình không biết, đồ bổ hay thuốc độc mình cũng không biết, trong tâm thiện hay bất thiện mình cũng không biết. Điều này hết sức nguy hiểm vì trong đó là một đống xà bần, những cái ác, bất thiện pháp được xâm nhập, được an trú, tồn chỉ, tồn tại, làm ổ, đẻ con đẻ cái, bao nhiêu những vi trùng độc hại bên trong rồi nó gây ra bệnh ung thư trong nội tâm mình. Hiện tại toàn bộ chúng ta đều bị ung thư với bốn cái ung nhọt: tham, sân, si và bản ngã. Bốn chứng bệnh ung thư này đang trong giai đoạn cuối, thời kỳ thứ tư. Chạm tới nó là hỡi ôi, nó nhả độc, phun độc, phun độc, lan độc ra mọi nơi, khổ như vậy mà mình không biết nó xâm nhập.

Cho nên, phải học thuộc câu “xâm nhập tâm của người ấy và an trú”. Chỗ này hết sức sâu sắc, nếu không có sự nhận diện năm uẩn thì làm sao mình biết được. Nếu không biết cảm thọ như thế nào thì làm sao lúc đó biết được mình đang bị xâm nhập và an trú. Vì vậy, nếu không có sự nhận diện năm uẩn thì sự tu tập của chúng ta không sâu sắc và không đi đến kết quả giống như Đức Phật dạy. Như vậy, đầu tiên phải thấy được năm uẩn, sau đó muốn tu gì thì tu, còn nếu không thấy năm uẩn thì sự tu của mình chỉ ở ngoài da, không vào được thịt, xương, đừng nói chi đến cốt tủy. Phải nhìn thấy được các cảm giác trong lúc đó diễn biến, sanh khởi, an trú và chấm dứt như thế nào ở trong tâm của mình. Chúng ta thấy rằng, chỗ cần tu tập Đức Phật dạy hết sức tuyệt vời.

Lợi dưỡng xâm nhập và an trú trong tâm của người ấy, mà không lợi dưỡng cũng xâm nhập và an trú trong tâm của người ấy, vui cũng vậy, buồn cũng vậy; được khen cũng vậy, bị chê cũng vậy. Chỉ trích, tán thán hoặc vui sướng, đau khổ đều xâm nhập và an trú trong tâm mình. Khi gặp chuyện đau khổ, có cảm giác đau khổ sanh khởi mà không biết đó là một cảm giác, mình không tỉnh giác, không chánh niệm thì cảm giác khổ đó xâm nhập, tấn công nội tâm mình và nó ở trong đó, không ra được, cho nên bây giờ mắc bệnh trầm cảm rất nhiều.

Có những người, nhất là ở nước ngoài, con cái sau khi thành đạt thì ở chỗ này, chỗ kia, chỗ nọ, nhà chỉ còn hai vợ chồng già. Sau đó, ông chồng chết, người vợ ở một mình, đến tối đi vào, đi ra thì sợ ma, xong rồi nhớ con nhớ cái, suy nghĩ: “Mình nuôi bảy, tám đứa con khổ sở, lo lắng cả đời, vậy mà giờ nó bỏ mình đi, một tiếng hỏi thăm cũng không có, không một cuộc điện thoại”. Những thứ khổ sở, oán trách đó cứ an trú, xâm chiếm, đặt địa chỉ thường trú trong tâm và cuối cùng làm người đó không sống được, đi đến chỗ tự vẫn.

Chính Minh Thành đã đi qua bên Úc Châu, vào viện dưỡng lão để thăm một người bị bệnh rất nặng. Khi đi ngang qua, Minh Thành bắt gặp được một hình ảnh mà suốt đời không quên được. Hình ảnh không phải của người Minh Thành đi thăm, mà là hình ảnh của một người nước ngoài. Có một ông già ngồi một mình, trên bàn kế giường của ông ấy là bảy, tám tấm hình của vợ, của con, của cháu, của bạn. Ông ấy ngồi cầm những tấm hình đó, trên mặt là một nỗi nhớ nhung, mong chờ, nước mắt ông chảy ra với sự trông mong, trông ngóng, đợi chờ, hy vọng người thân sẽ đến thăm. Những người đó bỏ ông vào viện dưỡng lão, phải ở chung những người không phải bà con, không quen biết gì cả. Xin thưa quý vị, dù được chăm sóc tốt cỡ nào, dù có tiện nghi, vật chất đầy đủ cỡ nào thì đó cũng là người dưng thôi quý vị ơi, làm sao người ta đối xử bằng con ruột của mình được.

Khi Minh Thành đưa mẹ, đưa mấy cô vào bệnh viện, nhiều khi thấy y tá chăm sóc, nói chuyện với mẹ mình, Minh Thành thấy xót xa lắm. Bởi vì đó đâu phải mẹ của người ta, cho nên họ có những hành động, những cử chỉ khi nhìn thấy khiến mình đau lòng. Gặp những người có tâm, có lòng từ thì không nói gì, còn gặp những người không biết tu tập nên thân hành, ý hành, khẩu hành, lời nói, hành động của họ không được tốt, nhìn rất là xót xa. Tuy nhiên, có những khi chúng ta cũng phải thông cảm, bệnh nhân đâu phải một trăm người, mà cả mấy trăm, mấy ngàn người, vì vậy, người ta làm mệt quá nên quạo, điều này cũng giống mình thôi quý vị. Quý vị làm nhiều có mệt không? Nhiều khi bán được nhiều tiền mà cũng quạo như thường chứ đừng nói không bán được. Tiền thì muốn lấy vào, mà làm mệt thì không chịu, khổ chưa!

Thuận ứng và nghịch ứng trước tám pháp thế gian

Cuộc đời này phải nhìn sâu sắc bằng trí huệ thì chúng ta mới thấu hiểu được tất cả mọi ngõ ngách, khía cạnh của thế gian. Chính vì vậy, chúng ta cần phải thật sự tỉnh táo, thật sự chánh niệm để nhìn lại thân tâm, nhìn lại cảm giác, nhìn lại nội tâm, nhìn lại những gì đang vận hành bên trong. Đó là ngọn đèn trí huệ của cuộc đời mình, đó là đôi chân, là mảnh đất để cho mình đứng. Không có Tứ Niệm Xứ, không có sự chánh niệm là chúng ta hoàn toàn đổ vỡ, sụp đổ, hoàn toàn bị chuyển động, chuyển biến, vọng động Bởi vì vậy mà suốt tuần, suốt tháng, suốt năm, nhiều năm, nhiều chục năm, suốt cuộc đời chúng ta là sự chuyển động theo tám thứ: lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng, chỉ trích, khen ngợi, vui sướng và khổ đau. Chúng ta bị vọng động, bị chuyển biến, bị vọng động, bị lay động ở trong tám thứ này.

Đức Phật nói thêm kẻ vô văn phàm phu “thuận ứng với lợi dưỡng được khởi lên và nghịch ứng với không lợi dưỡng” (Tăng Chi Bộ Kinh- Tập 3, 8. Chương tám pháp, I. Phẩm Từ, bài kinh Tùy Chuyển Thế Giới 2). Tức là có lợi thì cảm giác tham thuận theo, vui theo, thích theo, mê theo, khoái theo. Đó gọi là thuận ứng, “ứng” là phản ứng, đáp trả lại và ở đây là phản ứng một cách thuận theo. Và đối với những gì không lợi dưỡng thì kẻ vô văn phàm phu nghịch ứng, tức là khó chịu, bực bội, nực nội, có những cảm giác bức xúc sanh khởi lên đối với những gì không có lợi ích cho mình. Khen chê cũng vậy, danh vọng, không danh vọng cũng vậy, khổ, vui cũng vậy, hễ khổ tới là nghịch ứng. Chỉ có người tu mới không chạy theo cái thuận và nghịch. Còn người thường khi gặp cái khổ tới là nghịch ứng ngay lập tức, phản ứng một cách bực bội; còn khi gặp điều vui sướng là thuận ứng liền lúc đó, phản ứng một cách thuận theo, thích thú, khoan khoái.

Người ấy đầy đủ thuận ứng, nghịch ứng như vậy, không có giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, người ấy không thoát khỏi khổ (Tăng Chi Bộ Kinh- Tập 3, 8. Chương tám pháp, I. Phẩm Từ, bài kinh Tùy Chuyển Thế Giới 2).

Thuận ứng là tham, nghịch ứng là sân, tức là phản ứng thuận theo và phản ứng trái ngược lại. Người đầy đủ nghịch ứng, thuận ứng, nghĩa là đầy đủ tham, đầy đủ sân như vậy thì không giải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Đi theo tham, sân, si hoài thì làm sao giải thoát được. “Ta nói rằng, người ấy không thoát khỏi khổ”. Đây chính là lá bùa bình an tuyệt đối, lá bùa hộ mệnh tối thượng của Đức Như Lai.

Sự thù thắng của Đa văn Thánh đệ tử

Với vị Thánh đệ tử có nghe pháp, này các Tỷ-kheo, khởi lên lợi dưỡng. Vị ấy có suy tư: "Lợi dưỡng này khởi lên nơi ta. Lợi dưỡng ấy là vô thường, đau khổ, bị biến hoại". Vị ấy như thật rõ biết … khởi lên không lợi dưỡng … khởi lên danh vọng … khởi lên không danh vọng … khởi lên chỉ trích … khởi lên tán thán … khởi lên an lạc … khởi lên khổ đau. Vị ấy có suy tư: "Khổ này khởi lên nơi ta, khổ ấy là vô thường khổ, biến hoại".

Vị ấy như thật rõ biết, rằng lợi dưỡng này không xâm nhập tâm của vị ấy và an trú, không lợi dưỡng… danh vọng… không danh vọng… chỉ trích… tán thán… an lạc… đau khổ không xâm nhập tâm của người ấy và an trú". (Tăng Chi Bộ Kinh- Tập 3, 8. Chương tám pháp, I. Phẩm Từ, bài kinh Tùy Chuyển Thế Giới 2)

Đó là công phu, siêu hơn công phu Thiếu Lâm Tự gấp một trăm lần. Công phu Thiếu Lâm Tự là ở ngoài da thôi, còn công phu này là công phu của tuệ giác, của Thánh trí. Những thứ lợi dưỡng, danh vọng, chỉ trích, chê bai, khổ đau, khen chê không xâm nhập và an trú được trong tâm của vị Đa văn Thánh đệ tử. Tức là vị này chánh niệm tỉnh giác, xả bỏ, biết tất cả là vô thường nên không đam mê, dính mắc, chấp thủ vào đó. Nếu có cảm giác vui thì biết đang có cảm giác vui, đang có cảm giác khổ thì biết đang có cảm giác khổ, đang có cảm giác không vui không khổ thì cũng biết đang có cảm giác không vui không khổ và biết tất cả cũng chỉ là cảm giác. Chỗ tuyệt vời là những thứ đó không xâm nhập, không an trú trong tâm những vị ấy. Khi có cảm giác sanh khởi, xâm nhập là chúng ta thấy được, biết được, điểm mặt và dùng Như Lý Tác Ý đánh đuổi chúng:

“Lợi dưỡng này, danh vọng này, sự chỉ trích, khen chê này ta đã từng có trăm, ngàn, vạn, ức, tỷ lần rồi, tới đây là vừa đủ rồi, tới đây là nhàm chán rồi. Hãy từ bỏ, chấm dứt, tan biến đi, đừng xâm nhập vào nội tâm ta, đừng ở bên trong quấy rối ta. Diệt tận đi! Đừng hành hạ ta với những tờ giấy xanh xanh, đỏ đỏ này nữa. Đừng sai khiến ta nữa, ta không làm nô lệ cho mi đâu. Ta đã làm nô lệ cho mi suốt cả cuộc đời này bởi những tờ giấy xanh đỏ này rồi! Ta đã làm nô lệ cho dục tham vô lượng kiếp rồi! Ta đã làm nô lệ cho sân hận này nhiều như số cát sông Hằng rồi! Si mê, vô minh đến đây là vừa đủ rồi. Ngươi đi khỏi thân tâm ta đi, ta quyết tâm phải làm rực sáng Thánh trí này, ta không chịu thua mi đâu. Ngươi đi ra đi, người tan biến, tan nát, tan vỡ, tan tành đi, để cho ta được bình an, hạnh phúc, trí huệ”.

Đó là Như Lý Tác Ý, là sự suy xét theo Chánh tư duy, Thánh tư duy – tư duy của bậc Thánh, sự suy xét theo Chánh Pháp và sức mạnh của trí huệ, tuệ lực để đánh phá những tên giặc, tên cướp, tên trộm trong nội tâm, không cho nó xâm nhập, đi vào trộm cắp đồ của mình. Chúng ta không được để cho chúng an trú, ở trong căn nhà nội tâm của mình, phải đánh đuổi chúng ra. Được vậy thì tuyệt vời lắm quý vị!

Vị ấy không thuận ứng với lợi dưỡng được khởi lên và không nghịch ứng với không lợi dưỡng; không thuận ứng với danh vọng được khởi lên và không nghịch ứng với không danh vọng; không thuận ứng với tán thán được khởi lên và không nghịch ứng với chỉ trích; không thuận ứng với an lạc được khởi lên và không nghịch ứng với đau khổ.

Trước những thứ vui sướng, thuận ý vị này không chạy theo và với những gì trái ngược, khó chịu thì vị ấy không chống đối. Như vậy, vị ấy không thuận ứng, không nghịch ứng với tám thứ ấy trong cuộc đời này.

Vị ấy do đoạn tận thuận ứng, nghịch ứng như vậy, nên giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, vị ấy thoát khỏi khổ.

Đây là đặc thù, này các Tỷ-kheo, đây là thù thắng, đây là sai biệt giữa vị Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp.

Lợi dưỡng, không lợi dưỡng

Danh vọng, không danh vọng

Chỉ trích và tán thán

An lạc và đau khổ

Những pháp này vô thường

Không thường hằng biến diệt

Biết chúng giữ chánh niệm

Bậc trí quán biến diệt

Pháp khả ái, không động

Không khả ái, không sân

Các pháp thuận hay nghịch

Được tiêu tan không còn

Sau khi biết con đường

Không trấn cấu không sầu

Chơn chánh biết sanh hữu

Đi đến bờ bên kia.

(Tăng Chi Bộ Kinh- Tập 3, 8. Chương tám pháp, I. Phẩm Từ, bài kinh Tùy Chuyển Thế Giới 2)

./.