Thiền Quán - Thánh Trí Về Khát Ái 4 & Nhận Diện Yêu Thích Căn - Trần- Thức
NIKĀYA THIỀN QUÁN
THÁNH TRÍ VỀ KHÁT ÁI 4
NHẬN DIỆN YÊU THÍCH CĂN - TRẦN- THỨC
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, chiều nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm chuyên đề khát ái. Sáng nay con nghe quý thầy, quý cô, đại chúng chia sẻ pháp đàm con rất hoan hỉ, có những vị sự chiêm nghiệm rất là sâu sắc, rất là tốt, nhìn nhận được thân tâm của mình như vậy là mình đã bắt đầu thành tựu những cái trí tuệ. Những cái trí tuệ nó vi tế, nhỏ nhiệm, sắc bén, thầy Pháp Tâm trình bày rất tốt, mình tu là phải nhìn thấy được như vậy, con vẫn tiếp tục nghe lại hai bài kinh trong hai buổi vừa rồi, con nghe tới nghe lui, sáng này đi kinh hành chiêm nghiệm ra thì mới rợn người, ớn lạnh. Con thường sống trong cái chiêm nghiệm, con thường suy tư, chiêm nghiệm, thường là con thực hành về văn tuệ với tư tuệ, tu chưa được có bao nhiêu.
Khi chiêm nghiệm ra rồi đó con rúng rộng, rúng rộng là cái khát ái này nó quá xá, cái phạm trù của nó là nó quá khủng khiếp, khát ái từ sâu thẩm mình nói theo con số nó cũng trùm hết tất cả các con số, nó khác ái với một cái tự ngã, nó khác ái với số hai là danh sắc, cái thứ ba là cái khát ái với căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn, thứ tư là khát ái luôn với đất, nước, gió, lửa, tứ đại, số năm khát ái luôn với ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức, số sáu là ta khát ái luôn là sắc ái, nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý đều ái hết. Ái sáu căn, ái sáu trần, ái sáu thức, ái sáu xúc, ái sáu thọ, ái sáu tưởng, ái sáu tư, ái sáu tầm, ái sáu tứ, số bảy là nó ái luôn thất đại mà thâm sâu hơn nữa là nó ái luôn cả tám tầng thiền định, tứ thiền bát định tức là dục ái, sắc ái, vô sắc ái. Con rúng động hết, đi kinh hành rồi xong đi không nổi nữa ngồi xuống, sao mà khủng khiếp vậy, như vậy thì làm sao chúng sanh phá nổi căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn, làm sao chúng sanh có thể nhìn thấy, đã mù lòa không thấy rồi thì làm sao biết được cái sự nguy hiểm, cái sự tác hại, làm sao biết được cái sự nắm giữ, bám chấp, chấp thủ. Bây giờ nói cũng nổi da gà hết, rợn người hết, khiếp quá, kinh quá, hãi quá.
Con ruồi bây giờ nó bám vô mặt con, hồi sáng cũng vậy rồi con nhìn thấy mình khó chịu, mình nói tội nghiệp nó cũng ái, nó đi kiếm ăn, rồi con nhìn ra con giòi, con kiến, con gián, con chó, con mèo, con chuột cho đến cọp, sói, sư tử, rắn, rết… Tất cả trùm ở trong cái dục giới này cho nên cái ái này nó khủng khiếp lắm, ái sáu căn, ái sáu trần, ái sáu thức, ái sáu xúc, ái sáu thọ, ái sáu tưởng, ái sáu tư, ái sáu tầm, ái sáu tứ. Cái này nếu mình diễn ra thì không biết bao nhiêu buổi, ngoài đời có những câu chuyện Ngưu Lang, Chức Nữ, còn trong mấy chuyện thần tiên thì chờ đợi ngàn năm, trăm ngàn năm, mười ngàn năm với nhau, rồi những loài cô hồn, những loài ngạ quỷ là cái tâm tham ái của họ như vậy nên họ không đi siêu thoát được.
Câu chuyện hồi xưa con chó giữ cái hũ vàng, nó chết một cách tức tuổi, đột ngột mà chôn cái hũ vàng chưa kịp trối, chưa kịp nói ai hết trơn cho nên cái tâm tham tiếc cộng với cái nghiệp đẩy đầu thai làm chó trong gia đình quanh quẩn giữ cái hũ vàng. Thậm chí là nó thành con ma, cô hồn, hiện tại giờ đây những cái lăng tẩm của các đại hoàng đế ở Trung Hoa tới giờ chưa có dám khai quật, không ai dám khai quật trải qua hàng ngàn năm, có những cái kho báo, những cái lời nguyền ở trong đó ai đụng tới là chết, trong đó có nhiều rắn độc, nhiều người vô hình, những chúng sanh vô hình, mình nói là ngạ quỷ, cô hồn. Trong đó là chúng ta thấy là hàng chục năm, hàng trăm năm, hàng ngàn năm, hàng nhiều ngàn năm không siêu độ được, không siêu thoát được, hiện tại giờ vẫn còn những cái lăng tẩm của các hoàng đế Trung Hoa là không xâm nhập vô được, lăng tẩm của vua Đường với Võ Tắc Thiên tới giờ không ai dám đụng vô.
Thành ra mình thấy cái ái này nó rùng rợn, nó khiếp đảm, nó kinh hãi. Tất cả là một cái tâm yêu thích, tham đắm, say đắm, nắm chặt, chấp thủ vào trong đó, cho là ta, là của ta, là tự ngã của ta, A-xà-thế giết cha, Đề-bà-đạt-đa hại Phật, thậm chí chúng ta đọc ở trong Trường Bộ Kinh có những vị vua nhân đức, hiền lành, hiền thiện cho nên được các vị vua trời đưa lên trên, lên thăm cõi trời rồi khởi ý muốn chiếm ngai vàng của Đế-thích. Khủng khiếp vậy đó, đó là xúc sanh thọ; tưởng; hành, xúc sanh thọ, thọ sanh ái cho nên khi mình nghe cái bài cái câu c trái đất này là của chúng mình khi nghe lời ca "trái đất này là của chúng mình" là cái tâm ái, cái tâm chấp, không những trái đất này mà chinh phục các hành tinh và tìm sự sống ở ngoài trái đất, lên tới sao hỏa rồi giành giật với nhau. Đó là cái phạm trù của ái đó, trong cái trái đất này thôi chưa có nói tới sắc giới và vô sắc giới, như chúng ta nói tứ thiền bát định đó là sắc giới, vô sắc giới là cũng ái luôn cho nên không giải thoát được, đạt được những cái trạng thái thanh tịnh đó rồi thích, dính, đắm chìm vào đó, đó là tôi, là của tôi, thì người này không thoát ra khỏi cho nên ái tập khởi là tứ thực tập khởi.
Cái ái rộng lắm, khủng khiếp lắm, cái phạm trù của cái ái này là nó bao trùm hết tam thiên đại thiên thế giới, mười ngàn thế giới, ba cõi tứ sanh, lục đạo, cửu hữu, thập nhị xứ, thập bát giới. Bây giờ mình tu là chúng ta thấy khủng khiếp không, phá hết tất cả cái ái đó để đi ra khỏi tam giới, bây giờ mình nghĩ thôi tu nhẹ nhẹ thôi, tu chơi chơi thôi, ngày tu hai thời xong rồi thì tu tới bao giờ mà mình ái tận giải thoát. Cho nên mình nhìn vô rồi mình sợ, mình thấy là mình phải nỗ lực rất nhiều, rất nhiều, rất nhiều, chưa biết là có thành công được hay không, nếu mà mình không có cái chánh kiến thì thôi, nỗ lực vạn tỷ cũng ở trong luân hồi cho nên Đức Phật nói trong một cái đạo lộ tà đạo thì càng tinh tấn thì càng khổ, mà ở trong cái chánh đạo, chánh kiến thì cái người càng tinh tấn thì càng giải thoát.
Chúng ta may mắn được thấy đúng và chúng ta không chịu nỗ lực tinh tấn thì chúng ta vẫn khổ đau. Cho nên khi ái tập khởi là tứ thực tập khởi, khi yêu thích cái thân cho nên nó có cái thân nhưng mà không biết được thân gì. Thân con chó, thân con chuột, thân con gián, thân con kiến, thân con giòi, thân con rắn hay là thân con ma, con quỷ, thân con người thì hiếm. Thân người, thân trời là cực kỳ hiếm, rồi bây giờ nó ái cảnh nhưng mà không biết có cảnh gì thôi, không biết cái cảnh đó là cảnh địa ngục hay là cái cảnh ở trong đọa xứ là cái bóng đêm không có ánh sáng, hàng ngàn năm, vạn vạn tỷ tỷ năm mà không có ánh sáng. Khi Đức Thế Tôn ra đời thì đại địa chấn động, trái đất rung chuyển, ánh sáng của của ngài phát ra thì lúc đó chúng sinh trong đây mới biết có những loài chúng sanh khác.
Đọc ở trong kinh mình sẽ thấy đọa xứ là cái chỗ ngàn năm không có ánh sáng, một cái tia chớp lóe cũng không có nữa thì chỉ có những lúc bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện hoặc thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết-bàn thì lúc đó đại địa chấn động thì cái ánh hào quang chiếu khắp tam thiên, đại thiên thế giới, tất cả ngõ ngách, hang hốc, tất cả các cảnh giới đều được ánh sáng chiếu tới đó thì những loài chúng sanh trong này mới biết trong đây cũng có chúng sanh khác. Bởi vì nó đen nghịch như là một cái màn tối, một cái trường dạ, cái hắc ám, đó là đọa xứ thì làm sao tu? Mình bây giờ có một cái thân lành lặng vậy, nghe pháp vậy, có niềm tin mà mình nhở nhơ tới đâu hay tới đó, mất cái thân này rồi mình mới biết không có cơ hội thứ hai, cho nên nói cái đọa xứ thôi là thấy ớn lạnh, nổi da gà, đó là đọa xứ chứ chưa nói tới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Cho nên ái thân là có thân mà không biết thân gì, ái cảnh là có cảnh mà không biết cảnh gì, ái cái tâm thức thì nó có cái tâm mà không biết là tâm gì, cái tâm của vô minh, địa ngục hay là cái tâm của tham dục, xuất sanh vì nó chấp thủ thọ; tưởng; hành; thức này, cho đó là tâm của nó thì thức có chỗ an trú, không đi ra khỏi cái thức đó thành ra mình nhìn sâu vô trong rồi mình thấy cái trí tuệ của Đức Phật quá khủng khiếp. Khi nhìn lại thì mình thấy tất cả oai nghi, tất cả giới luật, tất cả thiền định, tất cả trí tuệ của Đức Phật sau khi thành tựu chánh kiến là đâm thủng cái khát ái, xuyên thủng khát ái, đánh tan, đánh sập, đánh vỡ cái khát ái, cái sự yêu thích, khao khát, thèm khát, đói khát, thiếu thốn. Vượt qua khỏi cái kiếp nô lệ, cái kiếp tôi đòi, cái kiếp sai xử, cái kiếp con sen, cái kiếp nô tỳ, cái kiếp đày tớ, trở thành một con người tự do tự tại, gọi là bậc đại chiến thắng.
Đức Thế Tôn thường được chư thiên và loài người xưng tụng, xưng tán là bậc đại chiến thắng, là thắng tất cả. Chúng ta thấy cái phạm trù của cái ái này là nó bao trùm hết cả trái đất, chúng ta tu cái quán cái bất tịnh, quán khổ, quán vô thường mà quán lơ lơ là là, quán sơ sơ giống như gãi ngứa, con có ví dụ đem cái cuốc rồi cào cào, quẹt quẹt xung quanh mấy cọng cỏ của cây cổ thụ là xong rồi thì làm sao được. Chính như vậy mà tại sao mà cái sự thiền quán chúng ta là phải thâm sâu, sắc bén và phải mãnh liệt, chúng ta thấy khi Đức Phật đưa ra năm cái giới và cái đầu tiên là nhiếp phục, chế ngự cái dục, cái ái, cái khao khát ở trong cái ăn, rồi trộm cấp cũng là tham, là ái đồ của người ta. Tết người ta đi mua cây đào về để trước nhà mà đi ngang rồi hốt của người ta, đi ăn cắp là từ chỗ con mắt nhìn thấy cây đào đẹp khởi ra cái cảm thọ thích, thì thích chính là ái, là muốn, là khoái, hỷ, tầm cầu nên cướp của người ta.
Ngoài ra còn tà dâm, tham dục, nói dối để có lợi cho mình, mình cũng ái cái tự ngã của mình, mình nói gạt người ta mình lấy tiền về cho mình, rồi cái nghiện ngập cũng có ái trong đó, phải nhiếp phục và chế ngự nó. Hôm trước con có nói tổng quát đó là tất cả những cái mà Đức Phật đưa ra đó là nhiếp phục, chế ngự cái tham ái này, cái khát ái, cái ái dục. Cái ăn, cái ở, cái mặc, cái sinh hoạt của mình đều là nhiếp phục, chế ngự hết, khi mình hiểu ra được cái này nó hay lắm rồi tự động mình chứ không cần phải ai nhắc, ai la, ai rầy gì hết, tự mình ý thức được. Con nói theo cái thứ tự để chúng ta dễ thấy, yêu thích một cái tự ngã lắm nên ai đụng tới là chết rồi, trong bài xả của lượng tâm của bậc đạo sư có đoạn:
Ta oán thù những kẻ,
Sống không tốt với ta,
Ta căm giận những kẻ,
Khinh rẻ, xem thường ta.
Một cái tự ngã ái này nó dữ lắm cho nên cái sám hối diệt ngã của mình là tối thượng, là những thần đao thánh kiếm chặt vô cái tự ngã. Mỗi lần mình lạy sám hối diệt ngã là mình dùng thần đao bằm vô nó, chém đầu cái tự ngã, cái chấp ngã, cái bản ngã rồi phá cái ái về tự ngã đó. Bài giải thoát trí của bậc đại sư nói hết sức nhẹ nhàng, có những vị đem cúng dường tặng cho những người tu cũng lâu rồi, cái vị này nói là làm gì chửi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh dữ vậy, mình thấy dễ sợ không, chánh pháp cũng đâu phải dễ để được chấp nhận đâu, họ sân hận lên liền. Chính cái tự ngã này phá hết mọi thứ, không thể tu hành được gì, cái gốc là nó yêu cái tự ngã, nó nuông chiều, yêu chuộng, nó thích, khoái nên nó muốn bảo vệ tự ngã thành ra một người bị người ta nói nặng nói nhẹ mà cái tâm vẫn an trú được là tuyệt vời lắm, tức là cái ái, cái chấp, cái thủ đã bị nhiếp phục, chế ngự. Mình tu được cái này rồi mình hạnh phúc lắm, người ta xăm soi, người ta chỉ trích, thậm chí người ta chửi mà mình vẫn thương, không sao hết, cảm giác thương nó đầy ấp từ đỉnh đầu tới gót chân, nó lan tỏa cho người kia giống như đem cái tấm vải lụa trắng bao phủ trên đầu người đó cho tới chân, không giận không sân, không khó chịu, không bực bội, thì người này đã có một cái sự nhiếp phục, chế ngự về tự ngã cũng như là cái ái tự ngã phải được tu tập.
Mình còn yêu nó, còn chiều nó, mình còn nghe lời nó, làm đệ tử cho cái vô minh và khát ái, tự ngã này thì làm sao tu? Rồi nó yêu cái danh và sắc cái thân, cái tâm này lắm, đừng nói chi tới thân tâm mà người ta mới cái tên thôi thì một là nó phơi phới lên khi được xưng tán, được tán tụng, khi được xưng tụng, khi được khen ngợi, chê tới nó là bực bội lên, nó sân hận, hận thù. Tất cả là nó yêu, nó thương, nó nuông, nó chiều, nó chấp, nó giữ, trong bài kinh Đại Niệm Xứ chúng ta nhớ Đức Thế Tôn nói ái ở trong con mắt.
"Này các Tỳ-kheo, sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Ở đời, sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Ở đời cái tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy" (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Ðại Niệm xứ)
Lâu lâu mình soi gương hay là phản chiếu gương mặt, cái con mắt của mình xuống dưới cái hồ nước hay là trong cái gương thì khi mình nhìn thấy con mắt lúc đó có khởi cái suy nghĩ con mắt này của tôi không? Con mắt này là tôi không? Đó là ái nhãn căn, yêu thích con mắt. Khi có người lại chê mắt của mình một mí, mắt xấu thì mình sầu, bi, khổ, ưu, não tại vì mình ái con mắt này, thích con mắt này, thương con mắt này lắm. Mình bằng lòng, mình hài lòng, mình vừa lòng với con mắt này, đó là nhãn ái, yêu con mắt, lỗ tai này cũng thương luôn, lỗ mũi này khỏi nó, cái miệng này, cái lưỡi này, cái thân này là ái thân, tâm ý này cũng vậy, đó là ái sáu căn, còn ái sáo trần thì rất rõ.
Nói cái chữ mình không hiểu nhưng khi diễn ra là mình thấy được liền, nhiều khi cái cốc của mình nó không có lại gì hết trơn nhưng mà mình cũng tự hào lắm, cũng bằng lòng, cũng hài lòng lắm. Nhiều khi trồng được một luống rau hay là trồng được mấy cái chậu hoa, người ta đến dòm, ngắm nghĩa, người ta thưởng thức mà ta khen cái nữa ra trong bụng hả dạ, đó sắc ái, chính vì cái này là mà người ta tu không được, cái chòi cũng khoái, cái thất cũng thích, cái nhà thì thôi khỏi nói, còn nói tới cái chùa nữa là thôi, cái viện nữa là khỏi nói rồi. Như thế thì làm sao thái tử Tất-đạt-đa bỏ hoàng cung được? Cho nên nhiều khi mình tập những cái nhỏ nhỏ từ từ đi, ngay cái đơn của mình, ngay cái chỗ ở của mình lỡ người ta có liệng cái rác gì đó, có xả gì đó thì mình xem đó là cái cơ hỏi để cho mình thực tại sao mình sân, tại vì mình ái cái chỗ của mình, đây là cái đơn của tôi nè, cái giường của tôi nè, cái phòng của tôi mà dám vậy hả. Trong đó thì có nhiều pháp lắm, vừa cái bản ngã, vừa sân, vừa chấp thủ, không nhận diện được các pháp mà chính những cái đó là cái cơ hội để cho mình quán tâm, cái cơ hội để cho mình quán pháp, cái cơ hội để cho mình quán thọ, cái cơ hội để cho mình quán thân trong một cái chuyện người ta xả rác lên cho cái đơn của mình, hoặc là con chó ị, con mèo ị, con tắt kè nó ị là cái cơ hội để cho mình nhìn thấy được thân, thọ, tâm, pháp chứ tu ở đâu?
Mình đợi đem bồ đoàn lên rồi ngồi, lúc đó mở cái bài Tứ Niệm Xứ lên lúc đó mới là tu Tứ Niệm Xứ hay sao? Mở bài Tứ Niệm Xứ ra tụng thì lúc đó tôi mới đang tu Tứ Niệm Xứ hả? Phải tập từ cái nhỏ như vậy, rồi cái áo của mình, cái y của mình, đôi dép, cái tên của mình, thậm chí cái danh dự của mình bị người ta sỉ xỉ vả cũng tập từ bỏ, không có ai ở đây hết. Nếu cái thân này thành hũ cốt đi rồi nó biết giận không? Cái thân này nó nằm dài bốn người khiêng lúc đó c nó có nổi sân không? Lập tức ngay chỗ đó mình triển khai thiền quán liền để phá cái ái, phá cái ngã, cái chấp, phá cái thủ, ngay lập tức triển khai thiền quán sắc bén, thiện xảo, nhanh lẹ còn hơn tia chớp, trí của mình là một cái trí siêu tốc, cao thủ thánh trí. Người ta ở ngoài là cao thủ võ lâm, mình là cao thủ thánh trí, cao thủ tác ý, cao thủ thiện xảo ở trong nội tâm của mình, tâm linh của mình thành ra chúng ta thấy nó thương mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, nó thương cái sắc này, chỉ riêng cái sắc thôi là biết bao nhiêu chuyện để nói, để quán.
Từ cảnh giới cho đến tự thân cho đến những thành phần cấu tạo trong tự thân mình phải nhìn thấy, phải phá nó. Trong cái kinh có nói hỷ ái ở trong đại địa, dục hủy ở trong đại địa, dục hỷ ở trong thủy địa, hỏa đại, phong đại, người này muốn, thích, ái ở trong những cái yếu tố mà nó kết thành thân thể này, kết thành những cái đồ vật này, kết thành những cái cảnh giới này.
"-- Này các Tỳ-kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy nghĩ: 'Ðịa đại là của ta' - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại.
Người ấy tưởng tri thủy đại là thủy đại. Vì tưởng tri thủy đại là thủy đại, người ấy nghĩ đến thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) như là thủy đại, người ấy nghĩ: 'Thủy đại là của ta' - dục hỷ thủy đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri thủy đại.
Người ấy tưởng tri hỏa đại là hỏa đại. Vì tưởng tri hỏa đại là hỏa đại, người ấy nghĩ đến hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là hỏa đại, người ấy nghĩ: 'Hỏa đại là của ta'- dục hỷ hỏa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri hỏa đại.
Người ấy tưởng tri phong đại là phong đại. Vì tưởng tri phong đại là phong đại, người ấy nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với phong đại, nghĩ đến (tự ngã) như là phong đại, người ấy nghĩ: 'Phong đại là của ta'- dục hỷ phong đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri phong đại" (Trung Bộ Kinh, 1. Kinh Pháp Môn Căn Bản)
Không biết là các vị có để ý không, khi con làm bài tác ý thì các vị thấy có bữa thì con làm cuộc sống thần tiên, con kể là bơ nè, sầu riêng nè, mây nè, hoa cỏ này kia đẹp như cuộc sống thần thiên, nhưng mà có bữa con cho tất cả trở thành đại tang lễ của địa cầu, như vậy có mâu thuẫn không? Sao bữa nói vui hết sức vui cảnh thần tiên, sao bữa tự nhiên nói đại tang lễ? Vui buồn không quan trọng mà cái tất cả cái đó có phải thiện pháp không? Nó phải chánh pháp, thánh pháp đưa đến ly tham, nhàm chán không là được, cái mà nói vui để cho tự thân mình và cho mọi người sống đời sống viễn ly, còn cái mà nói buồn, nói khổ đau, nói tang lễ này kia là phá cái tâm chấp thủ, ái luyến. Còn cái đầu tiên là khích lệ cũng như bữa Trí Tùng trình pháp rất là tốt, đó là mình phải thích Linh Quy, mình muốn Linh Quy, mình thương Linh Quy, mình thương núi rừng, mình thích núi rừng, mình nghĩa là hoan hỉ trên núi rừng thì mình mới ở núi rừng được, chứ mình không có thích làm sao ở.
Nhưng mà cái thích đó, cái hoan hỉ đó, cái hạnh phúc đó là cái giai đoạn ban đầu để cho cái tâm mình nó an trú và sau khi nó an trú rồi thì mình đi sâu vô để thấy được cái thích này, cái ái này cũng là cái vô thường thôi, cũng đưa đến khổ. Giống như mình lên tầng một rồi mình lên tầng hai chứ, bây giờ mới vô kêu người ta giờ lên tầng mười sao được, nhảy một cái lên tầng mười đâu được cho nên mình biết cái lúc nào mình tu tâm hỷ, lúc nào mình phá được cái ái đó, tùy theo cái lúc đang buồn, đang chán, đang vui mà tu tâm hỷ thì nó thích lắm, hoan hỉ lắm. Cái lúc nó thích, nó hoan hỉ, cái tâm nó an trú rồi bắt đầu mình diệt hỷ tiêu tận, triển khai thiền quán, thể nhập thâm sâu. Như vậy là mình biết lúc nào thực hành cạn, lúc nào thực thành sâu, đó là một sự thiện sảo, linh hoạt ở trong cái sự quán chiếu và sự tác ý tư tuệ của mình, chánh tư duy của mình, thành ra nếu mà mình nói "Ủa sao bữa thầy nói cuộc sống thần tiên, hạnh phúc độc cư, bữa nay tự nhiên thầy nói cái đồi này là cái mồ, sương giăng này là những cái khăn tang, chuối này là để dằn bụng, sương này là khói nhang" là để phá luôn.
Cho nên mình để ý sẽ thấy hay lắm khi cái tâm mình biết cái tác ý thiện xảo, uyển chuyển, linh hoạt thì mình có thể là thiên biến vạn hóa cho nên cái nấm cỏ thuốc này nó cũng là độc dược có thể giết người, mà nó cũng là diệu dược có thể cứu người trong cái bàn tay của một lương y đại tài dược vương. Cũng cái suy nghĩ đó mà nó giết mình chết, nó làm cho mình thối đọa, mình biết chuyển hướng cái tư duy đó thì nó trở thành làm cho mình tăng thượng, hướng thượng đi đến chỗ cao thượng thánh thiện. Mình là tài xế lái trên con đường đến cái đích nào là do cái người tài xế này có biết khéo tránh né không, mấy ngày nay có rất nhiều tai nạn giao thông chết rất là nhiều người, thì cũng vậy trên con đường tu, cái đạo lộ hành trì của mình đâu phải ai tu cũng đắc đạo đâu, biết bao nhiêu người tu mà được mấy người đắc, biết bao nhiêu người đi mà bao nhiêu người đến là vì mình có biết đường hay không, biết chính xác hay không, mình có kiên trì, bền chí để mình đi cho đến cái đích hay không, hay là mình chỉ là tưng bừng khai trương âm thầm dẹp tiệm, mình chỉ có hồ hởi, phấn khởi, nhiệt huyết nóng bỏng cháy được trong cái buổi ban đầu thôi, được một hai năm đầu, ba năm đầu thôi.
Đó là nói người lâu lâu chút rồi bắt đầu bốn năm, năm năm, bảy năm, mười năm rồi nguội lạnh, tro tàn cho nên cái người tu càng lâu về sau thì cái tâm giải thoát càng mạnh, tâm xuất ly càng lớn, cái tâm cầu đạo càng nhiệt thành thì người đó mới đi đến nơi. Chúng ta trở lại cái vấn đề đây nó yêu cái sắc, yêu thanh, yêu hương, yêu vị, yêu xúc, yêu pháp, nó ái sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, sáu trần bên ngoài cho nên mình tập khi thấy nó yêu, nó thích là mình diệt nó liền ở trong cái tư duy, ở trong cái cảm thọ, ở trong cái tưởng, ở trong nhận thức, thấy nó yêu thích là diệt liền, diệt chưa được thì nhiếp phục, chế ngự, giả sử nhiếp phục, chế Ngự chưa được thì mình cũng phải có một cái sự chống đối với nó chứ không có để cho nó tự tung tự tác, không để cho nó hoành hành bá đạo.
Hồi xưa mình mù không thấy, bây giờ mình đã thấy nó ăn trộm thì mình phải có một cái hành động đuổi nó ra chứ. Cho nên một người không có dòm ngó thân tâm gì hết, không có để tâm để ý, không có hướng nội, dò xét, chú tâm để ý, chuyên chú quán sát, như lý giác sát, không có lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động thì làm sao mình tu. Mình phải hướng nội, dò xét, chú tâm để ý, chuyên chú quán sát, tập trung tâm ý, nói nhìn theo dõi, dò xét và như lý giác sát rồi sau đó như lý tác ý. Mình phải lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động, câu này của bậc đạo sư là con sụp xuống lạy, câu này là thánh ngữ, cái ngấm ngầm là vỗ minh và khát ái. Tất cả chúng sanh là mù lòa, là đui chột, không thể thấy được cái chỗ ngấm ngầm này trừ khi nào được đắc pháp nhãn tịnh, được mở mắt pháp, giả sử có được hướng dẫn mở cho mắt pháp mà mắt nhắm mắt mở như con gà mờ thì cũng không được luôn, mắt nhá nhem, nhá nhá rồi nướng ngủ nữa thì cũng g tiếp tục một cái giấc ngủ ngàn thu, không nghe chân diệu pháp.
Cho nên cái người trí là một người nắm bắt cơ hội để lay tỉnh được, thức tỉnh được, đánh cho nó tỉnh như vậy rồi tỉnh luôn, giữ cái tỉnh đó vì thế cái chánh niệm là tỉnh giác mình đọc ở trong căn bản trí là rõ biết thọ sanh khởi, an trú và chấm dứt, tưởng sanh khởi, an trú và chấm dứt, hành sanh khởi, an trú và chấm dứt. Đó là tỉnh đó, lúc nào mình không rõ biết thì lúc đó là mình mê, mình ngủ, mình không có thức và lúc nào mình biết cái đó tức là mình đang thức, tức là đang tỉnh thì gọi là tỉnh thức. Mình đang ngủ, đang mê thì gọi là ngủ mê, ngủ mà đối lại với thức, tỉnh đối lại với mê thì tỉnh thức, còn cái kia ngủ mê. Một ngày mình ngủ bao nhiêu? Vẫn là mở mắt nhưng mà đang ngủ, không thấy thọ; tưởng; hành, không thấy các pháp vận hành, không thấy thi vi, nhất cử nhất động của thân tâm, không thấy không biết. Thọ sanh khởi lên không biết, tưởng; hành không biết, nội tâm có gì vận hành sao không hay, thức cũng chả biết, đúng như cái câu hỏi gì cũng nói không biết rồi xong, vậy thì chết rồi. Như vậy tức là vô minh, không biết tức là vô minh, ngược lại phải thấy, phải biết, phải dòm, phải ngó, phải dò, phải xét, phải quán, phải chiếu, phải chú tâm, phải để ý, phải để tâm, phải chuyên chú.
Chúng ta nhớ bài kinh Bọt Nước Thế Tôn nói một người có con mắt chuyên chú quán sát, chuyên chú như lý quán sát, những cái từ đó là pháp hành tối thượng.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng.
Vị Tỳ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, III. Bọt Nước)
Cái sự tu này là thiền quán, từ một cái sự an tịnh, lắng dịu tương đối rồi bắt đầu nhìn hoài, dò xét quán sát, như lý giác sát, chú tâm để ý, chuyên chú. Chúng ta thấy Đức Phật dùng không có một dư một chữ, không thiếu chữ, đương nhiên là phải có mắt nhưng mà Đức Phật dùng giống như người có con mắt chuyên chú như lý quán sát, Đức Phật nói là rõ như vậy đó, mình đâu nói người có mắt đâu, mình nói chuyên chú quán sát thôi, nhìn thôi, ở đây có mắt tức là thấy được ngũ uẩn đó, nhận diện ngũ uẩn là có con mắt. Nó khoái nhìn lắm, nó khoái dòm lắm, có vị nhập thất chia sẻ ở trong thất nhưng cũng ngóng ngóng ra ngoài, dòm dòm ra ngoài coi sao, đó là ái thức, ái nhãn thức. Nó cũng thích coi tin tức thời sự này nọ kia, nó cũng ái thanh lắm, ái cái nhĩ thức là cái để nghe cho nên những cái câu nói của người xưa nó thâm sâu, có nhiều ý nghĩa, gọi là túi khôn nhân loại, "điếc hay ngóng, ngọng hay nói". Mình thấy là sự thật nó trước mắt, chú tài xế này có tật, bị ngọng nói nghe không được bao nhiêu mà lên xe chú nói quá trời mà toàn chửi tục tiễu, tục tằng, con nghe mà thấy thương vô cùng, con trải tâm từ cho chú. Chú đâu biết rằng chính cái nghiệp đó mà nó tạo thành ra cái quả ác như vậy, bây giờ họ tiếp tục trong khẩu nghiệp, trong cái ác nghiệp đó nữa thì đời sau họ còn tiếp tục khổ đau nữa, mà thích nói, thích nhìn.
Đó là sáu thức, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, thích ngửi, thích nếm, thích tiếp xúc, cái này nó liên hệ tới tứ thực nữa. Nó móc xích với nhau, nó liên hệ với nhau ở trong cái sự chằng chịt, dây mơ rễ má, nó cấu kết với nhau, nó môi giới với nhau, nó hợp tác với nhau ở trong một cái sự âm thầm, ở trong cái bóng đêm mà chỉ có người có mắt thật sự mới nhìn ra được, không có mắt thì làm sao thấy được, nó trong cái bóng tối. Chúng ta nhớ có đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
•Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
•Hai là xúc thực,
•Ba là tư niệm thực,
•Bốn là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Như vậy nó cũng khoái cái vị đó, cái bụng thì no rồi nhưng mà con mắt thì vẫn muốn ăn nữa cho nên gọi là con mắt lớn hơn cái bụng, nghe cái từ này chưa? Cái bụng thì nó no rồi ăn hết nổi rồi, nó chứa hết nổi nhưng mà con mắt thì vẫn muốn cho nên múc cái tô bự rồi ăn không hết là bỏ, gọi là con mắt lớn hơn cái bụng. Ở chỗ đó người ta bán là nhà hàng tự phục vụ, cô này mua vé hai mươi mấy đô để vô ăn, bây giờ ăn no rồi, trả tiền rồi mà giờ không ăn uổng nên ráng ăn rồi nằm tại chỗ luôn, xe cấp cứu lại. Vì thế ái tập khởi là tứ thực tập khởi, nó khoái ăn, nó khoái tiếp xúc, cái xúc này có tới sáu xúc, tức là khoái nhìn, khoái nghe ngóng, khoái ngửi, khoái nếm vị, đụng chạm, ở bên trong khoái những cái hình bóng, những cái suy nghĩ, những cái cảm thọ. Cái này nó sâu, nó tinh vi, tâm khó thấy theo các dục quay cuồng, ngồi im re trên bồ đoàn vậy mà trong tâm quay vòng vòng, một là ngủ gục, hai là lờ mờ.
Tâm hốt hoảng còn một nghĩa nữa là lờ mờ không thấy rõ, nó vừa lờ mờ vừa giao động.
"Tâm hoảng hốt giao động,
Khó hộ trì, khó nhiếp,
Người trí làm tâm thẳng,
Như thợ tên, làm tên"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 33)
Bởi vậy cho nên:
Thà rằng chẳng biết cho xong,
Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu
(Nguyễn Du)
Mình lo lắng, lo sợ cái tâm này lắm, lo tu làm không xong nữa, còn người không thấy không biết thì có lo gì đâu lo, lo cái chuyện không đáng lo, còn người thấy người biết là cần lo những cái chuyện mà thực sự mình cần phải lo. Đức Phật nhắc nhở mình rất là nhiều, đó là ái sáu căn, là ái sáu trần, nói về tứ thực đó là đoàn thực, rồi xúc thực, tư niệm thực là nó khoái, nó nghĩ và nhớ, nghĩ nhớ, thích suy nghĩ, thích nhớ, nhớ tưởng, nhớ nhung, nhớ mong. Thức thực là thích tìm hiểu, thích biết, biết những cái đưa đi vô luân hồi, vô tham, sân, si, biết những cái cho nó hơn thua, nó giành giật, nó cao, nó thấp, nó bằng, biết những cái cho nó thị phi. Đó là nó thích, nó khoái, ái tập khởi thì tứ thực tập khởi, nếu mà ái đoạn diệt là tứ thực đoạn diệt luôn rồi giải thoát, bởi vậy nhìn mới thấy hết trong ngóc ngách, con mắt này nó yêu ở trong đó, cái lỗ tai nó khoái trong đó, lỗ mũi thì nó thích, cái miệng thì nó ưa, rồi cái thân này thì nó ái rồi đến cái tâm là thọ; tưởng; hành ở bên trong. Nó dính cứng chắc như keo dán sắt, như keo dán tượng vậy đó, như keo với sơn vậy đó, trộn vô trong đó rồi không có tách ra được.
Như vậy một cái trí tuệ Đức Phật truyền cái thánh trí để mình nhìn thấy trong đó để tách nó ra, để mình phá những cái mắt xích ở bên trong đó. Chúng ta thấy nó thâm sâu, nó trí tuệ, nó tuệ giác tới cái mức độ nào.
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào là bốn?
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng ...
Thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Này các Tỳ-kheo, đây là bốn trí tế nhị" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (VI). Trí Tế Nhị)
Đây là cái trí tuệ tế nhị, trí tuệ thâm sâu, trí tuệ vi diệu, cái trí tuệ thù diệu, cái trí tuệ thánh diệu có khả năng đoạn tận tất cả khổ đau, đưa chúng sanh ra khỏi luân hồi sanh tử, giải thoát, đó là thánh trí ngũ uẩn mình đang học. Mọi người có thấy hạnh phúc không? Mình phải trân quý, trân trọng, trân kính, nếu không mình không biết mình đang học cái gì, đang tu cái gì, học một thời gian là hết biết cái gì luôn, cứ đơ đơ, trơ trơ vậy đó, không còn thọ gì nữa hết. Cho nên chúng ta nhìn thấy đó là ái căn, ái trần, ái thức, thích, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, thích tiếp xúc đó là sáu xúc. Chúng ta nhìn sâu vào để thấy được hai cái chữ khát ái mà Đức Phật nói là cả một cái bầu trời và nó trùm chiếm hết tất cả trong mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, ở trong thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, ở trong cái sự nhìn ngó, nghe, nếm, nói, đụng chạm, suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, tư tưởng, nhận thức. Tất cả đều có ái trong đó hết, khi con chiêm nghiệm cái này là con rúng động, ớn lạnh, rợn người, nổi da gà, không ngờ là cái pháp nó thâm sâu tới mức độ vậy.
Từng làn da, từng thớ thịt, từng cọng chân lông, từng hơi thở của mình là thở trong vô minh với khát ái trừ khi nào lúc đó mình nghe thánh pháp, mình quán chiếu, thiền quán, mình có cái sự tác ý để yểm ly, nhàm chán, ly tham, viễn ly, đoạn diệt, từ bỏ, thoát ra cho nên mình mới nhớ Đức Phật dạy mình quán nhàm chán, quán ly tham, quán đoạn diệt. Nhàm chán là nhàm chán cái gì? Ly tham là ly tham cái gì? Đoạn diệt là đoạn diệt cái gì? Nhàm chán cái ái này làm cho mình khổ, n cái khao khát này, không còn ham muốn cái sự yêu thích ở trong năm uẩn này nữa, đoạn diệt là đoạn diệt cái cái ái tận, ái đoạn này nè, ái diệt này nè. Khi mà chúng ta nhìn sâu vô bên trong bằng chánh kiến, bằng cái trí tuệ thì chúng ta thấy một chữ một, đoạn cái đó, phá cái đó cho nên bốn chữ ái tận giải thoát là cả một cái đại đề mục thiền quán suốt cuộc đời. Hễ nhìn thấy gì mình thích là niệm "ái tận nha, phải ái tận nha, ái tận mới giải thoát nha, thích cái này là trói cột nè", nghe cái gì cái mình khoái cũng niệm "ái tận nha, khoái cái này là kiết sử nè", ngửi nếm mà mình tham thì niệm "ly tham nha, ham thích là khổ đau nè", động chạm tiếp xúc cái gì mà mình thấy đam mê là niệm "chết nha, cái này trói cột là khổ nè, cắt đứt đi, hệ lụy đó, thoát ra đi, diệt tận đi, từ bỏ đi, đoạn diệt đi".
Chúng ta thấy nói tóm là cái có một chữ ái thôi, bung ra một cái là sáu căn, sáu trần, sáu thức, mười tám giới, tứ sanh, ngũ uẩn, lục đạo, cửu hữu, tam thiên đại thiên thế giới nhưng tóm lại một chữ ái thôi, mà chữ ái chính là khổ tập thánh đế, khổ thánh trí thành ra chữ ái này là tóm thâu của tứ thánh đế. Sau khi mình đã thấy khổ rồi mình muốn diệt khổ mà cái nguyên nhân của nó chính là ái, ái tận là Niết-bàn. Làm sao để cho cái khoái này, cái thích này, cái yêu, cái thương, cái muốn này được nhiếp phục, được chế ngự? Đó là phải tu tập Tứ Niệm Xứ, tu tập ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần, vận dụng hết tất cả những cái gì mà mình được nghe, được học mà khổ cái là tâm vô minh thì nó quên cho nên mỗi ngày phải nghe vậy mà nó còn quên, vô thiền quán nghe đi nghe lại, nghe tới nghe lui rồi viết ra, rồi nhắc lại, ôn lại mà nó cũng quên.
Cái tâm vô minh, cái tâm ngủ mê, cái tâm bị chụp thuốc mê, cái tâm hôn mê, cái tâm si mê cho nên mình mới nghe hoài, nhắc hoài. Bây giờ mình cũng đang nhắc nhớ, sau khi mình học thì mình hiểu, sau khi hiểu thì phải nhớ, sau khi nhớ thì phải nhắc nhở để nhớ, khi nhớ được thì an trú, khi an trú thì tăng trưởng, tăng thượng lớn mạnh, quảng đại, nó trở thành căn cứ địa trong tâm của mình thì cái trình tự nói đơn giản dễ hiểu là học, hiểu, nhắc là như lý tác ý, nhớ, quán hoài đừng quên thì nó an trú an trú ở trong này luôn, cái trí nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, nhiếp phục khát ái, đoạn tận khát ái thường trực ở trong tâm mình. Khi nó nhìn thấy ái cái là bắt đầu nó hạ thủ liền, nó ra tay liền tự bên trong mình nó có một cái trí trệ này, thì như vậy khi nó được an trú rồi nó lớn mạnh, thể nhập.
Chúng ta tạm đưa bảy bước, thể nhập rồi một bước nữa là chứng đắc, đó là cái lý do tại sao chúng ta phải nghe pháp, tại sao chúng ta phải thiền quán, tại sao chúng ta phải tư duy, phải động não, phải viết bài, phải trình pháp, làm cho các cái cảm thọ, các tưởng đó, các hành đó, những sự tiếp xúc về pháp đó cứ tăng thượng. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi, tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi và tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Cái niệm đó là nhớ đó, thì nó tăng thượng là nó thêm lên, nó nhớ hoài cho nên tứ chánh cần sau cùng là giữ gìn, hộ trì các thiện pháp, tức là không có quên. Thật ra cái tâm chưa có tập trung nhiều, chưa có chuyên sâu chứ ở với bậc đạo sư có khi một cái bài pháp cho nghe một tuần, cho nghe hai tuần thậm chí là cả tháng, một bài một. Nếu mà con cho vậy là chúng ta sẽ ngán, chính vì vậy mà con tập cho từ từ lên ba ngày, bốn ngày là bắt đầu đang từ từ tập đi chuyên sâu một cái đề mục thì vậy nó mới sâu sắc, nó mới nó khắc sâu, nó tô đậm giống như là khắc ở trong đá chứ không phải là nó vẽ trên nước, ở trên cát. Như vậy cái pháp đó được trú ở trong tâm mình luôn, nó không mất, còn nếu như mình nghe phớt qua cái là xong thì nó quên, viết trên nước, viết trên cát gió thổi là bay.
Một người lấy một cái đề mục thiền quán mà cứ chuyên hoài vô trong đó cho đến thành tựu thì cái chỗ đó là cái chỗ rất là đáng khen ngợi. Hãy chọn cho mình một cái đề mục mà nó ngay cái bệnh nặng nhất của mình, mình đánh tới cho nó bại liệt, cho nó què quặc là mình thắng trận. Chúng ta thấy đòi hỏi mình một cái sự để tâm rất nhiều, khi mình nhìn sâu bung rộng rồi gom lại cái chữ ái thì thấy gọn không? Dễ thực hành không? Dễ mà khó, khó mà dễ, khó là chúng ta không chịu làm, mà chúng ta chịu làm quyết tâm thì nó dễ, cứ làm từ từ mỗi ngày một chút. Mình thấy ngay chỗ mấy cái vòi nước nhiễu có một giọt vậy mà đầy thau, đầy lu, tràn ra ngoài luôn, mỗi ngày chúng ta cứ nghe rồi dập nó, giết cho nhừ tử, đánh cho bành thây áo vũ, đánh cho bầm dập, đánh cho nó nát nhừ như tương rồi nó rệu rã, nó phân hủy, nó tan chảy ra cuối cùng đi đến chỗ diệt tận.
Đầu tiên là nhìn thấy, kế đó nhiếp phục chế ngự, sau đó cho nó què quặc, bại liệt rồi giết nó chết luôn. Giết nó chết xong rồi bằm thây nó ra thì nó phân hủy, nó rữa nát hết, tan chảy hết, tiêu vong hết, rồi cuối cùng làm cho nó không thể sanh khởi trở lại trong tương lai. Một người có một cái ý chí kiên trì và bền chí như vậy thì người này chắc chắn đi đến thành công.
"-- Hiền giả Channa, Hiền giả cần phải luôn luôn chú ý đến lời dạy này của Thế Tôn: 'Ai còn tham luyến, thời có dao động; ai không tham luyến, thời không dao động. Ai không dao động, thời được khinh an. Ai được khinh an, thời không thiên chấp. Ai không thiên chấp (nati), thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi, thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh, thời không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời. Ðây là sự đoạn tận đau khổ'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IV. Channa)
Tại sao mình có dao động? Vì mình còn tham ái, nếu không có tham ái là không có giao động, mà không có dao động thì được nhẹ nhàng, nhẹ nhàng thì đâu có nặng nề, đâu có nắm giữ gì đâu, không có nắm giữ gì hết cho nên không có đến và đi vì có nắm giữ thì có đến đi chứ, đến để nắm. Không có ham thích bất cứ một vật gì ở trên đời, từ thân tâm, cảnh, căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn, xúc, thọ, tưởng, tư, không có gì là ta, là của ta, là tự ngã của ta hết, không còn sanh và diệt nữa, không còn phải sanh ra nữa, không còn sanh ra thì đâu có diệt. Tại sao sanh ra? Tại vì ái mới sanh ra, cho nên các bậc thánh là không ưa thích có thân.
"-- Này Sàriputta, những gia đình thân hữu và những gia đình thân thích ấy của Tôn giả Channa là những gia đình có lỗi. Tuy vậy, này Sàriputta, với sự việc như vậy, Ta không nói Channa là có lỗi. Này Sàriputta, ai bỏ thân này và chấp thủ thân khác; người ấy, Ta nói là có lỗi. Nhưng Tỳ-kheo Channa thời không vậy. Tỳ-kheo Channa không có tội lỗi khi đem lại con dao. Này Sàriputtra, Ông cần phải thọ trì như vậy" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IV. Channa)
Cái trí tuệ này khó hiểu được lắm, nằm sâu bên trong cái chấp thủ trong vô minh, khát ái chứ không phải nhìn ở hình tướng bên ngoài. Các ngài không có ưa thích sự sống.
"Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta, Tôn giả Mahà Cunda và Tôn giả Channa trú ở núi Gijjhakù.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Cunda; sau khi đến nói với Tôn giả Mahà Cunda:
- Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Tôn giả Channa để hỏi thăm về bệnh hoạn.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Mahà Cunda vâng đáp Tôn giả Sàriputta.
Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Cunda đi đến Tôn giả Channa, sau khi đến ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Sau khi ngồi, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Channa:
-- Này Hiền giả Channa, Hiền giả có kham nhẫn được chăng? Có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?
-- Thưa Hiền giả Sàriputta tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu.
Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh. Cũng vậy, này Hiền giả, tôi cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Này Hiền giả, tôi không thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu.
Này Hiền giả, ví như một người đồ tể thiện xảo hay một đệ tử người đồ tể mổ bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng cắt mổ bụng của tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu.
Này Hiền giả, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm một người yếu hơn với những cánh tay của mình, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Hiền giả, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân tôi. Này Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
Thưa Hiền giả Sàriputta, tôi sẽ đem lại con dao. Tôi không muốn sống nữa.
-- Tôn giả Channa, chớ có đem lại con dao! Tôn giả Channa, hãy chịu đựng! Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng. Nếu Tôn giả Channa không có các món ăn, không có các dược phẩm thích hợp, thời tôi sẽ tìm các dược phẩm thích hợp cho Tôn giả Channa. Nếu Tôn giả Channa không có người hầu hạ thích ứng, thời tôi sẽ hầu hạ Tôn giả Channa. Tôn giả Channa chớ có đem lại con dao. Tôn giả Channa hãy chịu đựng. Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng.
-- Thưa Hiền giả Sàriputta, không phải tôi không có các món ăn thích hợp, tôi có các món ăn thích hợp. Không phải tôi không có các dược phẩm thích hợp, tôi có các dược phẩm thích hợp. Không phải tôi không có những người hầu hạ thích ứng, tôi có những người hầu hạ thích ứng. Ðã lâu ngày tôi hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Ðây, thưa Hiền giả, là xứng đáng với người đệ tử. Vì rằng đã hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Không có phạm tội, nếu Tỳ-kheo Channa đem lại con dao. Này Hiền giả Sàriputta, Hiền giả hãy thọ trì như vậy.
-- Chúng tôi sẽ hỏi Tôn giả Channa một câu, nếu Tôn giả Channa kham nhẫn được hỏi và trả lời.
-- Hãy hỏi đi, Hiền giả Sàriputta, sau khi nghe, chúng ta sẽ biết.
-- Này Hiền giả Channa, mắt, nhãn thức, những pháp do nhãn thức nhận biết, Hiền giả có quán: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?... Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Này Hiền giả Channa, ý, ý thức, các pháp do ý thức nhận biết, Hiền giả có quán: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?
-- Này Hiền giả Sàriputta, mắt, nhãn thức, các pháp do nhãn thức nhận biết, tôi quán: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'.
-- Này Hiền giả Channa, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, do thấy gì, do thắng tri gì mà Hiền giả quán: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'?
-- Thưa Hiền giả Sàriputta, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Trong tai... Trong mũi... Trong lưỡi... Trong thân... Thưa Hiền giả... Trong ý, trong ý thức, trong các pháp do ý thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IV. Channa)
Chúng ta thấy một vị bệnh gần chết như vậy, quằn quại đau đớn vậy mà ngài diễn tả cái căn bệnh của ngài một cách điềm tĩnh, một cách rõ ràng, những cái ví dụ minh bạch giống như một nhà văn đang viết văn, cái sự minh mẫn, trí tuệ. Chúng ta nhìn lại cái sự ra đi của bậc đạo sư cũng giống vậy, bậc thánh đệ tử và cái tuệ trí rực sáng tỏa chiếu.
"-- Này Hiền giả Channa, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, do thấy gì, do thắng tri gì mà Hiền giả quán: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'?" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IV. Channa)
Đây là một câu kiểm tra, gặng hỏi, chất vấn lại lần thứ hai nữa coi sự xác quyết đó như thế nào. Chúng ta thấy bệnh nặng gần chết, hỏi những cái câu hỏi thâm sâu về pháp và trả lời rồi mà vẫn chất vấn lại lần thứ hai nữa. Trong con mắt, trong nhãn thức, trong cái pháp do nhãn thức nhận biết do ngài thấy cái gì, do ngài thắng tri cái gì mà ngài quán đây không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi, do ngài biết cái gì? Sau khi tôi thấy được căn, trần, thức này làm đoạn diệt pháp, là cái pháp tiêu ma, hoại diệt, huỷ hoại, tiêu vong, diệt tận, sau khi tôi biết một cách như thật, một cách thấu đáo tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của cái ngũ uẩn này là cái thứ chẳng có ra gì, cái thứ tan nát, huỷ hoại, hoại diệt, tiêu diệt, diệt tận cho nên tôi quán nó chẳng phải là tôi, không có gì là của tôi, là tự ngã của tôi.
Hôm nay chúng ta được học một cái sự kiện này là để chúng ta thấy được thánh trí về đoạn diệt, hai cái chữ đoạn diệt đó là đưa đến đoạn tận tham, sân, si, đoạn tận khát ái, vô minh. Hồi xưa con học Tứ Thánh Đế mà tới cái chữ Diệt Đế là con sợ lắm, không biết diệt vậy là sao, bây giờ mình thấy nó hay mà không có một cái lời nào để mình diễn tả, diệt tận tham, sân, si, dục ái, vô minh, diệt tận bản ngã, diệt tận ngũ uẩn, đoạn diệt, chấm dứt, từ bỏ cho nên khi Đức Thế Tôn hỏi ngài Phú-lâu-na nếu có người ném đá, lấy gậy đánh ông thì ông làm sao, ngài Phú-lâu-na trả lời họ còn chưa sát hại con, Thế Tôn hỏi nếu họ giết luôn thì sao, nếu vậy thì ông được giải thoát khỏi cái thân bất tịnh, nhơ nhớp, bẩn thỉu, bệnh hoạn, tai ương này. Điều này đúng theo cái đạo lộ, nó rực sáng, nó chói sáng hết trơn.
"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời." (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Các ngài không có ưa thích có thân nhưng các ngài cũng không có diệt cái thân này, đây là cái trường hợp đặc biệt là chúng ta thấy bây giờ có những trường hợp cha mẹ bệnh quá khổ, những người con cũng muốn rút cái ống thở. Những cái này có khi người ta cũng có những cái đắng đo, do dự nhiều cái thì cái đó là cái pháp thế gian, còn ở đây là cái pháp thâm sâu lắm, rất là thâm sâu vì cái tâm của các ngài đâu có coi cái thân này là mình, là của mình đâu, đâu có coi thọ; tưởng; hành; thức là mình, là của mình đâu, các ngài chứng ngộ pháp này là pháp đoạn diệt, tiêu vong mà.
"Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Mahà Cunda nói với Tôn giả Channa:
-- Hiền giả Channa, Hiền giả cần phải luôn luôn chú ý đến lời dạy này của Thế Tôn: 'Ai còn tham luyến, thời có dao động; ai không tham luyến, thời không dao động. Ai không dao động, thời được khinh an. Ai được khinh an, thời không thiên chấp. Ai không thiên chấp (nati), thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi, thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh, thời không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời. Ðây là sự đoạn tận đau khổ'.
Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Cunda, sau khi giáo giới Tôn giả Channa với lời giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.
Tôn giả Channa, sau khi hai vị Tôn giả ấy đi không bao lâu, liền đem lại con dao.
Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Channa đã đem lại con dao. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau vị ấy sẽ như thế nào?
-- Có phải trước mặt Ông, này Sàriputta, Tỳ-kheo Channa đã tuyên bố là không phạm tội?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn. Có một làng của dân tộc Vajji tên là Pubbavijjhamam; tại đấy, có những gia đình thân hữu, có những gia đình thân thích với Tôn giả Channa, chính những gia đình ấy mới có lỗi.
-- Này Sàriputta, những gia đình thân hữu và những gia đình thân thích ấy của Tôn giả Channa là những gia đình có lỗi. Tuy vậy, này Sàriputta, với sự việc như vậy, Ta không nói Channa là có lỗi. Này Sàriputta, ai bỏ thân này và chấp thủ thân khác; người ấy, Ta nói là có lỗi. Nhưng Tỳ-kheo Channa thời không vậy. Tỳ-kheo Channa không có tội lỗi khi đem lại con dao. Này Sàriputtra, Ông cần phải thọ trì như vậy." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IV. Channa)
Chúng ta thấy các bậc thánh đúng theo cái đạo lộ họ nhàm chán, ly tham, viễn ly, trong Trưởng Lão Tăng Kệ có vị Tỳ-kheo sau thời gian tu mà không nhiếp phục được dục ái nên ngài đã hét lên "ta giết mi".
"Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi trong gia đình một Bà-la-môn, được đặt tên là Mahànàma, ngài được nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lấy một đề tài làm thiền quán, ngài sống trên một ngọn đồi tên là Nesàdka. Không thể chận đứng được các dục tưởng khởi lên, ngài tuyên bố: 'Ðời này của ta có ý nghĩa gì, với tâm tư uế nhiễm như vậy'. Tự nhàm chán với chính mình, ngài leo lên một đỉnh núi, và như muốn lao mình xuống, ngài nói với chính mình như nói với một người khác: 'Ta sẽ giết nó!' với bài kệ như sau:
Hãy xem, sao đời nay,
Lại chấm dứt ở đây,
Với hòn núi nhiều ngọn,
Và nhiều cây cối này?
Núi Nesàdaka,
Một ngọn núi có danh,
Rập rạp với cỏ cây,
Che kín trùm tất cả.
Tự mình trách móc như vậy, vị Trưởng lão phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Bài kệ trên trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười Hai, (CXV). Mahànàma (Thera. 16))
Cái tâm tu của người xưa tuyệt vời lắm, rất mãnh liệt, cả một cái sinh mạng coi không ra gì hết, người ta chỉ thành tựu được cái đạo nghiệp, đạo quả thôi. Mình giờ nhìn lại xấu hổ biết bao nhiêu, ngồi gục lên gục xuống, buông lung phóng dật, học thì trả giá mệt quá, mỏi quá, còn ái thân này quá nặng, bản ngã không nhìn thấy. Chúng ta phải đừng có nuông chiều, áp đặt nó vào trong pháp cho đến cái sinh mạng này mình cũng chả coi ra gì hết thì mình sẽ có phần, phải làm sao mà mình càng ngày càng ngày thấm cái sự yểm ly, chán lìa, có một cái gì ý nghĩa trên cuộc đời nữa, chẳng có gì ý nghĩa trên cuộc đời này, mình nhìn toàn là cái vô nghĩa, trống rỗng, trống không, toàn là những vở tuồng, những sự lừa dối, gian dối, những vở kịch, những cái tuồng kịch mà mình đã đóng vô lượng năm rồi, vô số kiếp, vô thỉ kiếp cho đến nay nó chẳng có là cái gì hết, mình thấy một cái sự dối trá ở trong con người mình.
Mình thấy ngao ngán ở trong chính mình chứ đừng nói chi là ở bên ngoài, cái tâm này là cái tâm xảo quyệt, gian trá, dối trá, dối lừa, lừa gạt, ngụy biện, xảo biện. Phải làm sao mình trở về một cái sự chân thật, chân chánh là ở trong được một cái thánh thạnh, chỉ có một mực thôi là làm sao để đoạn tận hết tham, sân, si, dục ái, khát ái, vô minh, đoạn tận hết những cái pháp hoại diệt, tiêu ma, huỷ hoại, diệt tận này, sớm ngà mình từ giã, mình thoát ra, không có gì hạnh phút bằng cho nên ngày Phú-lâu-na nói mình mới thấm, bây giờ mình thấy thiệt sự nó là quá thực tế, họ giải thoát cho con, con quá khỏe bạch Đức Thế Tôn. Cái gánh nặng đầy phiền phức, đầy bất an, đầy lo lắng, đầy bệnh tật, đầy sợ hãi, gánh nặng đó cũng như bây giờ Trí Minh đi sửa nước mà trợt chân phải may mười ba mũi, lòi thịt ra, chảy máu mở ra. Mình không thể biết được chuyện ngày mai, ngồi đây chứ một chút nữa có chuyện gì không biết, tất cả là nó tới bất ngờ, đột ngột, bất thình lình, bất trách, bất thường, vô thường.
Bởi vì mình trân trọng từng thời pháp, trân trọng từng thời thiền, trân trọng từng một cái thời tu tập, nhớ, quý, có ái thì ái cái pháp đó, có ái thì ái cái giới, có ái thì ái cái định, có ái thì ái cái tuệ, có ái thì hãy tuyệt vời ở trong cái sự khát ái về giải thoát đi. Chuyển cái ái đó, yêu thích sự từ bỏ, yêu thích sự rời xa, yêu thích sự thoát ra, yêu thích cái sự diệt tận, chấm dứt cái đống đau khổ to lớn, vĩ đại, đại khổ uẩn ra. Quá hạnh phúc rồi còn gì nữa, mình tu khổ như vậy đó nhưng mà mình sướng lắm, sướng hơn trời nữa, không có ai sướng bằng mình, mình nhìn thấy cả một cái thế gian này, cả một cái địa, bao nhiêu sự loè loẹt, bao nhiêu cái màu sắc, bao nhiêu những cái thiên hình vạn trạng, mình nhìn mình thấy vô nghĩ, vô tích sự, vô giá trị, vô thường, vô ngã, vô minh. Phải nhìn tối thượng như vậy, phải nhìn bằng con mắt thánh trí huệ như vậy, xuyên thủng, xuyên thấu, thấu thị, minh kiến như vậy mình mới có thể từ bỏ được hết tất cả mọi thứ trên cuộc đời, mình sẽ đi đến chỗ đó, không có chấp chước bất cứ một vật gì ở trên đời, tâm bất động giải thoát.
Ôi hạnh phúc quá!
Ôi hạnh phúc quá!
Ôi hạnh phúc quá là hạnh phúc!
Đi tu đi, tu đi, tu đi. Chúng ta có muốn chia sẻ gì không ạ? Hạnh phúc quá có chia sẻ gì không?
Thầy Tín: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con thành kính đảnh lễ sư phụ, con thành kính đảnh lễ chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng chư vị hiền trí, qua bài giảng của sư phụ sắc của con ngồi trong thiền đường cùng tất cả đại chúng, thọ của con là cảm giác lo lắng, sợ hãi và biết ơn sư phụ, tưởng của con là hình bóng sư phụ và những hình bóng khát ái. Nhìn lại những khát ái đã có trong nội tâm con thấy sợ hãi, hành của con là suy nghĩ mình phải thoát ra và phải tác ý mạnh mẽ, thức của con là rõ biết. Con xin tri ân sư phụ đã giảng về thành trí khát ái để con được thấy rõ nguy hiểm và hoạt động, con nhìn lại nội tâm thấy lo lắng vì trong nội tâm cũng còn nhiều cái khát ái, nó hoạt động cũng thúc giục. Con tác ý và nhiếp phục, chế ngự, dù đôi khi mất chánh niệm vẫn quên nhưng còn cố gắng tác ý sợ hãi về cái khát ái vì nó bao trùm cả thế giới, nó làm cho con người đau khổ, nó làm cho con người bị luân hồi trong ba cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nó gây ra nhiều đau khổ cho xã hội, cho gia đình và cho tự thân mỗi người. Con thấy khát ái rất nguy hiểm vì tất cả những suy nghĩ, hành động hay việc làm của chúng ta đều trong khát ái, trong vô minh. Nhờ thánh trí của Phật, của sư phụ giảng con đã một chút nào đó đã nhìn thấy, tác ý và cố gắng để thoát khỏi những khát ái ở trong nội tâm mình. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư thầy 1: Con chân thành đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, tôn kính con chân thành đảnh lễ trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Qua bài pháp chiều nay của sư phụ đã giảng dạy cho chúng con nghe và qua những bài pháp mà ba ngày nay sư phụ liên tục giảng cho chúng con nghe về lòng khát ái và sự khát ái trong thân tâm của chúng con. Con thấy rất là hoan hỉ, rất là sung sướng khi được chiêm nghiệm, được suy tư, được thiền quán về chủ đề khát ái này và nó cũng là chủ đề khiến cho tự thân con cảm thấy rất là tâm đắc và qua bài giảng chiều nay sư phụ nói về cái sự khác ái trong tự thân của mình, con cũng đã chiêm nghiệm và con thấy rằng bởi hai chữ khát ái này đã bao trùm tất cả địa đại, trái đất, vũ trụ, hành tinh của tam thiên đại thiên thế giới này, bị chụp bởi hai chữ khát ái này thôi. Chúng sanh không thể nào có thể thoát ra.
Khi sư phụ nói về hai cái chữ khát ái này khiến cho chúng con rất là khinh sợ, hoảng sợ và khủng khiếp với hai từ này. Con tiếp tục chiêm nghiệm thì con thấy rằng bởi vì mình không có trí tuệ không nhìn thấy ngũ uẩn, không nhìn thấy tự thân mình để cho cái lòng khát ái này cứ đòi hỏi, cứ thúc giục bên trong, dục càng hưởng thì càng hăng, dục càng hưởng thì càng tăng và dục không bao giờ dừng lại. Khi chúng ta không nhiếp phục được, không nhìn thấy tự thân mình, không kiềm chế, không đi đến sự đoạn tận thì đây chính là nguyên nhân, nguồn gốc, cội gốc của sự khổ đau trong cái dòng sanh tử luân hồi này. Khi chúng ta làm cho thỏa mãn những cái cảm thọ bởi sự khát ái bên trong, thúc giục bên trong, đây là một cái sự nguy hiểm, một cái mầm móng khiến cho chúng sanh phải khiếp sợ, phải kinh khủng bởi vì mà vì chúng ta không biết, không nhìn thấy và cứ đòi hỏi.
Trước khi con tu tập vào dòng pháp này thì con cứ nghĩ rằng mỗi người chúng ta sanh ra lớn lên cần phải có cái dục này thì chúng ta mới sống được, khi sư phụ giảng cho chúng con nghe thì con mới thấy thật là cái trí tuệ về cái lòng khát ái này thật là thâm sâu. Chính cái lòng khát ái này khiến cho chúng con không thể nào đi ra khỏi, cứ đòi hỏi bên trong, cứ khát bên trong, cứ đói bên trong mà cho dù có uống, có ăn thì cũng không thể nào có thể thỏa được, và cho con thấy được rằng trí tuệ của Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác thật là thâm sâu, thật là vi diệu, thật là trí tuệ thù thắng khi ngài đã chứng ngộ và giảng dạy cho chúng con nghe khi thấy chúng sanh còn điên đảo, quay cuồng bởi cái lòng khát ái này.
Qua đây con xin chân thành tri trên sư phụ đã vì lòng thương tưởng giảng dạy cho chúng con nghe, chúng con hiểu, chúng con thấy được một cái đạo lộ tu tập, một con đường đi của các bậc chân nhân, các bậc thánh nhân, cho con thấy được rằng mình cần phải cố gắng tu tập, nỗ lực tu tập, xuyên hành trì thấy được rằng mình cần phải tu tập nhiều hơn nữa và tu tập về Tứ Niệm Xứ, quán ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi và đặc biệt hơn là thu thúc lục căn, thấy sự nguy hại trong từng lỗi nhỏ nhặt. Ngay giây phút này đây con cảm thấy mình rất là hạnh phúc và con thấy được rằng không có một niềm vui, niềm hạnh phúc nào khi mình chiến thắng được chính mình, chiến thắng được chính bản thân mình, nhiếp phục được thân tâm mình và cái niềm vui đó nó không phụ thuộc vào cảnh sắc bên ngoài, niềm vui mà khi chúng ta ly được dục, ly được ác bất thiện pháp. Chúng ta sống một cuộc sống thoát ra, đi khỏi ra đối với ngũ uẩn, đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Một lần nữa con xin tri ân sư phụ, tri ân trên bậc đạo sư rất là nhiều, đó là những dòng suy tư, chiêm nghiệm của con trong buổi chiều ngày hôm nay con xin kính trình lên sư phụ và sự suy tư, chiêm nghiệm của con còn rất là cạn cợt, rất là thiếu trí tuệ, con xin trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí chỉ dạy thêm cho con để con có thể hoàn thiện bản thân mình hơn mỗi ngày. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Chú Trí Linh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ tôn kính, con kính trên quý thầy, kính trên quý sư Ni, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Mấy hôm nay con cũng được nghe sư phụ giảng về bài chủ địa ái dục thì ngay trong buổi chiều hôm nay thọ của con được nghe mấy hôm nay thọ của con một cái thọ rất là hỷ lạc và một cái thọ ưu tư. Thọ hỷ lạc là được ngồi với đại chúng nghe sư phụ giảng trong những bài giảng rất là ý nghĩa, còn thọ ưu tư lo lắng là con nhìn thấy tự thân con chìm đắm trong những cái say mê, những cái khao khát chẳng hạn như những việc con lao tác, làm những việc ở ngoài nó dính mắt vào trong đó mà con không thoát ra được, và những cái say mê của con, cái tưởng của con nhớ lại những cái ngày tháng trước kia lúc con còn nuôi chim. Cái tưởng con cứ nhìn thấy là lâu lâu đi xuống núi ra ngoài là đi ngang qua cái chỗ người ta bán chim cảnh, nó muốn quay lại, nó muốn dừng lại, muốn nhìn cho được và muốn ước ao, ao ước được nuôi những con chim đó.
Bây giờ con vẫn còn thích, còn ái, còn ham muốn, còn giữ những cái hình ảnh của những con chim đó, con chim yến phụng con nuôi là nó nở trong chuồng luôn, nuôi nó lớn từng ngày, từng ngày. Con thấy rất là thích, đến hôm nay con vẫn còn dính mắt vào chỗ đó, những lần con nghe sư phụ giảng là mình nuôi, mình giữ những con chim đó là như trói cột nó lại thì mình cũng mang một cái tội, trói buộc người khác. Một việc chính như trưa nay con đi qua bên bếp xin đồ ăn, con về vừa tới bên thư viện có mấy chú cũng đang thọ chay buổi trưa thì con về tới con mới nói với mấy chú là mỗi lần đi qua bếp là mỗi lần về mình cảm thấy rất là xấu hổ, mình cũng mới vừa nghe bài giảng hồi sáng nay, mới pháp đàm hồi sáng nay, lên trên bếp rồi nhìn thấy những đồ ăn, dính mắt vào những đồ ăn rồi khởi cái lòng tham lên, có những món mình rất là ưa thích nữa, trưa nay cũng có những cái mót rất là hấp dẫn, cái này là ái rồi, nhìn thấy ái trong đó rồi ,thấy tham trong đó quá nhiều rồi.
Con lấy đầy rồi còn để một chén canh lên, tay bưng một ly nước nữa. Mỗi lần như vậy như vậy tại sao mình không bỏ bớt lại, mình lấy vừa đủ, mình lấy ít thôi, tại sao mình lấy như vậy, thấy đây là cái dục, cái ái của mình. Con chia sẻ với mấy chú ở bên thư viện, sư phụ vừa giảng mấy hôm nay mà bữa nay vẫn còn là ái, vẫn còn dục, vẫn còn tham. Cho nên con vẫn còn dính mắt với những cái công việc ở ngoài, với sự ưu tư của con, con thấy tự thân con như vậy. Trong cái sự tu tập của con, con nhận thức bản thân rất là kém cho nên con nghĩ đến như vậy con xin thưa với sư phụ, quý thầy, quý sư Ni, quý sư cô cùng các bậc hiền trí giúp cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Tâm xả này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm xả này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
THÁNH TRÍ VỀ KHÁT ÁI 4
NHẬN DIỆN YÊU THÍCH CĂN - TRẦN- THỨC
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, chiều nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm chuyên đề khát ái. Sáng nay con nghe quý thầy, quý cô, đại chúng chia sẻ pháp đàm con rất hoan hỉ, có những vị sự chiêm nghiệm rất là sâu sắc, rất là tốt, nhìn nhận được thân tâm của mình như vậy là mình đã bắt đầu thành tựu những cái trí tuệ. Những cái trí tuệ nó vi tế, nhỏ nhiệm, sắc bén, thầy Pháp Tâm trình bày rất tốt, mình tu là phải nhìn thấy được như vậy, con vẫn tiếp tục nghe lại hai bài kinh trong hai buổi vừa rồi, con nghe tới nghe lui, sáng này đi kinh hành chiêm nghiệm ra thì mới rợn người, ớn lạnh. Con thường sống trong cái chiêm nghiệm, con thường suy tư, chiêm nghiệm, thường là con thực hành về văn tuệ với tư tuệ, tu chưa được có bao nhiêu.
Khi chiêm nghiệm ra rồi đó con rúng rộng, rúng rộng là cái khát ái này nó quá xá, cái phạm trù của nó là nó quá khủng khiếp, khát ái từ sâu thẩm mình nói theo con số nó cũng trùm hết tất cả các con số, nó khác ái với một cái tự ngã, nó khác ái với số hai là danh sắc, cái thứ ba là cái khát ái với căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn, thứ tư là khát ái luôn với đất, nước, gió, lửa, tứ đại, số năm khát ái luôn với ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức, số sáu là ta khát ái luôn là sắc ái, nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý đều ái hết. Ái sáu căn, ái sáu trần, ái sáu thức, ái sáu xúc, ái sáu thọ, ái sáu tưởng, ái sáu tư, ái sáu tầm, ái sáu tứ, số bảy là nó ái luôn thất đại mà thâm sâu hơn nữa là nó ái luôn cả tám tầng thiền định, tứ thiền bát định tức là dục ái, sắc ái, vô sắc ái. Con rúng động hết, đi kinh hành rồi xong đi không nổi nữa ngồi xuống, sao mà khủng khiếp vậy, như vậy thì làm sao chúng sanh phá nổi căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn, làm sao chúng sanh có thể nhìn thấy, đã mù lòa không thấy rồi thì làm sao biết được cái sự nguy hiểm, cái sự tác hại, làm sao biết được cái sự nắm giữ, bám chấp, chấp thủ. Bây giờ nói cũng nổi da gà hết, rợn người hết, khiếp quá, kinh quá, hãi quá.
Con ruồi bây giờ nó bám vô mặt con, hồi sáng cũng vậy rồi con nhìn thấy mình khó chịu, mình nói tội nghiệp nó cũng ái, nó đi kiếm ăn, rồi con nhìn ra con giòi, con kiến, con gián, con chó, con mèo, con chuột cho đến cọp, sói, sư tử, rắn, rết… Tất cả trùm ở trong cái dục giới này cho nên cái ái này nó khủng khiếp lắm, ái sáu căn, ái sáu trần, ái sáu thức, ái sáu xúc, ái sáu thọ, ái sáu tưởng, ái sáu tư, ái sáu tầm, ái sáu tứ. Cái này nếu mình diễn ra thì không biết bao nhiêu buổi, ngoài đời có những câu chuyện Ngưu Lang, Chức Nữ, còn trong mấy chuyện thần tiên thì chờ đợi ngàn năm, trăm ngàn năm, mười ngàn năm với nhau, rồi những loài cô hồn, những loài ngạ quỷ là cái tâm tham ái của họ như vậy nên họ không đi siêu thoát được.
Câu chuyện hồi xưa con chó giữ cái hũ vàng, nó chết một cách tức tuổi, đột ngột mà chôn cái hũ vàng chưa kịp trối, chưa kịp nói ai hết trơn cho nên cái tâm tham tiếc cộng với cái nghiệp đẩy đầu thai làm chó trong gia đình quanh quẩn giữ cái hũ vàng. Thậm chí là nó thành con ma, cô hồn, hiện tại giờ đây những cái lăng tẩm của các đại hoàng đế ở Trung Hoa tới giờ chưa có dám khai quật, không ai dám khai quật trải qua hàng ngàn năm, có những cái kho báo, những cái lời nguyền ở trong đó ai đụng tới là chết, trong đó có nhiều rắn độc, nhiều người vô hình, những chúng sanh vô hình, mình nói là ngạ quỷ, cô hồn. Trong đó là chúng ta thấy là hàng chục năm, hàng trăm năm, hàng ngàn năm, hàng nhiều ngàn năm không siêu độ được, không siêu thoát được, hiện tại giờ vẫn còn những cái lăng tẩm của các hoàng đế Trung Hoa là không xâm nhập vô được, lăng tẩm của vua Đường với Võ Tắc Thiên tới giờ không ai dám đụng vô.
Thành ra mình thấy cái ái này nó rùng rợn, nó khiếp đảm, nó kinh hãi. Tất cả là một cái tâm yêu thích, tham đắm, say đắm, nắm chặt, chấp thủ vào trong đó, cho là ta, là của ta, là tự ngã của ta, A-xà-thế giết cha, Đề-bà-đạt-đa hại Phật, thậm chí chúng ta đọc ở trong Trường Bộ Kinh có những vị vua nhân đức, hiền lành, hiền thiện cho nên được các vị vua trời đưa lên trên, lên thăm cõi trời rồi khởi ý muốn chiếm ngai vàng của Đế-thích. Khủng khiếp vậy đó, đó là xúc sanh thọ; tưởng; hành, xúc sanh thọ, thọ sanh ái cho nên khi mình nghe cái bài cái câu c trái đất này là của chúng mình khi nghe lời ca "trái đất này là của chúng mình" là cái tâm ái, cái tâm chấp, không những trái đất này mà chinh phục các hành tinh và tìm sự sống ở ngoài trái đất, lên tới sao hỏa rồi giành giật với nhau. Đó là cái phạm trù của ái đó, trong cái trái đất này thôi chưa có nói tới sắc giới và vô sắc giới, như chúng ta nói tứ thiền bát định đó là sắc giới, vô sắc giới là cũng ái luôn cho nên không giải thoát được, đạt được những cái trạng thái thanh tịnh đó rồi thích, dính, đắm chìm vào đó, đó là tôi, là của tôi, thì người này không thoát ra khỏi cho nên ái tập khởi là tứ thực tập khởi.
Cái ái rộng lắm, khủng khiếp lắm, cái phạm trù của cái ái này là nó bao trùm hết tam thiên đại thiên thế giới, mười ngàn thế giới, ba cõi tứ sanh, lục đạo, cửu hữu, thập nhị xứ, thập bát giới. Bây giờ mình tu là chúng ta thấy khủng khiếp không, phá hết tất cả cái ái đó để đi ra khỏi tam giới, bây giờ mình nghĩ thôi tu nhẹ nhẹ thôi, tu chơi chơi thôi, ngày tu hai thời xong rồi thì tu tới bao giờ mà mình ái tận giải thoát. Cho nên mình nhìn vô rồi mình sợ, mình thấy là mình phải nỗ lực rất nhiều, rất nhiều, rất nhiều, chưa biết là có thành công được hay không, nếu mà mình không có cái chánh kiến thì thôi, nỗ lực vạn tỷ cũng ở trong luân hồi cho nên Đức Phật nói trong một cái đạo lộ tà đạo thì càng tinh tấn thì càng khổ, mà ở trong cái chánh đạo, chánh kiến thì cái người càng tinh tấn thì càng giải thoát.
Chúng ta may mắn được thấy đúng và chúng ta không chịu nỗ lực tinh tấn thì chúng ta vẫn khổ đau. Cho nên khi ái tập khởi là tứ thực tập khởi, khi yêu thích cái thân cho nên nó có cái thân nhưng mà không biết được thân gì. Thân con chó, thân con chuột, thân con gián, thân con kiến, thân con giòi, thân con rắn hay là thân con ma, con quỷ, thân con người thì hiếm. Thân người, thân trời là cực kỳ hiếm, rồi bây giờ nó ái cảnh nhưng mà không biết có cảnh gì thôi, không biết cái cảnh đó là cảnh địa ngục hay là cái cảnh ở trong đọa xứ là cái bóng đêm không có ánh sáng, hàng ngàn năm, vạn vạn tỷ tỷ năm mà không có ánh sáng. Khi Đức Thế Tôn ra đời thì đại địa chấn động, trái đất rung chuyển, ánh sáng của của ngài phát ra thì lúc đó chúng sinh trong đây mới biết có những loài chúng sanh khác.
Đọc ở trong kinh mình sẽ thấy đọa xứ là cái chỗ ngàn năm không có ánh sáng, một cái tia chớp lóe cũng không có nữa thì chỉ có những lúc bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện hoặc thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết-bàn thì lúc đó đại địa chấn động thì cái ánh hào quang chiếu khắp tam thiên, đại thiên thế giới, tất cả ngõ ngách, hang hốc, tất cả các cảnh giới đều được ánh sáng chiếu tới đó thì những loài chúng sanh trong này mới biết trong đây cũng có chúng sanh khác. Bởi vì nó đen nghịch như là một cái màn tối, một cái trường dạ, cái hắc ám, đó là đọa xứ thì làm sao tu? Mình bây giờ có một cái thân lành lặng vậy, nghe pháp vậy, có niềm tin mà mình nhở nhơ tới đâu hay tới đó, mất cái thân này rồi mình mới biết không có cơ hội thứ hai, cho nên nói cái đọa xứ thôi là thấy ớn lạnh, nổi da gà, đó là đọa xứ chứ chưa nói tới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Cho nên ái thân là có thân mà không biết thân gì, ái cảnh là có cảnh mà không biết cảnh gì, ái cái tâm thức thì nó có cái tâm mà không biết là tâm gì, cái tâm của vô minh, địa ngục hay là cái tâm của tham dục, xuất sanh vì nó chấp thủ thọ; tưởng; hành; thức này, cho đó là tâm của nó thì thức có chỗ an trú, không đi ra khỏi cái thức đó thành ra mình nhìn sâu vô trong rồi mình thấy cái trí tuệ của Đức Phật quá khủng khiếp. Khi nhìn lại thì mình thấy tất cả oai nghi, tất cả giới luật, tất cả thiền định, tất cả trí tuệ của Đức Phật sau khi thành tựu chánh kiến là đâm thủng cái khát ái, xuyên thủng khát ái, đánh tan, đánh sập, đánh vỡ cái khát ái, cái sự yêu thích, khao khát, thèm khát, đói khát, thiếu thốn. Vượt qua khỏi cái kiếp nô lệ, cái kiếp tôi đòi, cái kiếp sai xử, cái kiếp con sen, cái kiếp nô tỳ, cái kiếp đày tớ, trở thành một con người tự do tự tại, gọi là bậc đại chiến thắng.
Đức Thế Tôn thường được chư thiên và loài người xưng tụng, xưng tán là bậc đại chiến thắng, là thắng tất cả. Chúng ta thấy cái phạm trù của cái ái này là nó bao trùm hết cả trái đất, chúng ta tu cái quán cái bất tịnh, quán khổ, quán vô thường mà quán lơ lơ là là, quán sơ sơ giống như gãi ngứa, con có ví dụ đem cái cuốc rồi cào cào, quẹt quẹt xung quanh mấy cọng cỏ của cây cổ thụ là xong rồi thì làm sao được. Chính như vậy mà tại sao mà cái sự thiền quán chúng ta là phải thâm sâu, sắc bén và phải mãnh liệt, chúng ta thấy khi Đức Phật đưa ra năm cái giới và cái đầu tiên là nhiếp phục, chế ngự cái dục, cái ái, cái khao khát ở trong cái ăn, rồi trộm cấp cũng là tham, là ái đồ của người ta. Tết người ta đi mua cây đào về để trước nhà mà đi ngang rồi hốt của người ta, đi ăn cắp là từ chỗ con mắt nhìn thấy cây đào đẹp khởi ra cái cảm thọ thích, thì thích chính là ái, là muốn, là khoái, hỷ, tầm cầu nên cướp của người ta.
Ngoài ra còn tà dâm, tham dục, nói dối để có lợi cho mình, mình cũng ái cái tự ngã của mình, mình nói gạt người ta mình lấy tiền về cho mình, rồi cái nghiện ngập cũng có ái trong đó, phải nhiếp phục và chế ngự nó. Hôm trước con có nói tổng quát đó là tất cả những cái mà Đức Phật đưa ra đó là nhiếp phục, chế ngự cái tham ái này, cái khát ái, cái ái dục. Cái ăn, cái ở, cái mặc, cái sinh hoạt của mình đều là nhiếp phục, chế ngự hết, khi mình hiểu ra được cái này nó hay lắm rồi tự động mình chứ không cần phải ai nhắc, ai la, ai rầy gì hết, tự mình ý thức được. Con nói theo cái thứ tự để chúng ta dễ thấy, yêu thích một cái tự ngã lắm nên ai đụng tới là chết rồi, trong bài xả của lượng tâm của bậc đạo sư có đoạn:
Ta oán thù những kẻ,
Sống không tốt với ta,
Ta căm giận những kẻ,
Khinh rẻ, xem thường ta.
Một cái tự ngã ái này nó dữ lắm cho nên cái sám hối diệt ngã của mình là tối thượng, là những thần đao thánh kiếm chặt vô cái tự ngã. Mỗi lần mình lạy sám hối diệt ngã là mình dùng thần đao bằm vô nó, chém đầu cái tự ngã, cái chấp ngã, cái bản ngã rồi phá cái ái về tự ngã đó. Bài giải thoát trí của bậc đại sư nói hết sức nhẹ nhàng, có những vị đem cúng dường tặng cho những người tu cũng lâu rồi, cái vị này nói là làm gì chửi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh dữ vậy, mình thấy dễ sợ không, chánh pháp cũng đâu phải dễ để được chấp nhận đâu, họ sân hận lên liền. Chính cái tự ngã này phá hết mọi thứ, không thể tu hành được gì, cái gốc là nó yêu cái tự ngã, nó nuông chiều, yêu chuộng, nó thích, khoái nên nó muốn bảo vệ tự ngã thành ra một người bị người ta nói nặng nói nhẹ mà cái tâm vẫn an trú được là tuyệt vời lắm, tức là cái ái, cái chấp, cái thủ đã bị nhiếp phục, chế ngự. Mình tu được cái này rồi mình hạnh phúc lắm, người ta xăm soi, người ta chỉ trích, thậm chí người ta chửi mà mình vẫn thương, không sao hết, cảm giác thương nó đầy ấp từ đỉnh đầu tới gót chân, nó lan tỏa cho người kia giống như đem cái tấm vải lụa trắng bao phủ trên đầu người đó cho tới chân, không giận không sân, không khó chịu, không bực bội, thì người này đã có một cái sự nhiếp phục, chế ngự về tự ngã cũng như là cái ái tự ngã phải được tu tập.
Mình còn yêu nó, còn chiều nó, mình còn nghe lời nó, làm đệ tử cho cái vô minh và khát ái, tự ngã này thì làm sao tu? Rồi nó yêu cái danh và sắc cái thân, cái tâm này lắm, đừng nói chi tới thân tâm mà người ta mới cái tên thôi thì một là nó phơi phới lên khi được xưng tán, được tán tụng, khi được xưng tụng, khi được khen ngợi, chê tới nó là bực bội lên, nó sân hận, hận thù. Tất cả là nó yêu, nó thương, nó nuông, nó chiều, nó chấp, nó giữ, trong bài kinh Đại Niệm Xứ chúng ta nhớ Đức Thế Tôn nói ái ở trong con mắt.
"Này các Tỳ-kheo, sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Ở đời, sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Ở đời cái tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy" (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Ðại Niệm xứ)
Lâu lâu mình soi gương hay là phản chiếu gương mặt, cái con mắt của mình xuống dưới cái hồ nước hay là trong cái gương thì khi mình nhìn thấy con mắt lúc đó có khởi cái suy nghĩ con mắt này của tôi không? Con mắt này là tôi không? Đó là ái nhãn căn, yêu thích con mắt. Khi có người lại chê mắt của mình một mí, mắt xấu thì mình sầu, bi, khổ, ưu, não tại vì mình ái con mắt này, thích con mắt này, thương con mắt này lắm. Mình bằng lòng, mình hài lòng, mình vừa lòng với con mắt này, đó là nhãn ái, yêu con mắt, lỗ tai này cũng thương luôn, lỗ mũi này khỏi nó, cái miệng này, cái lưỡi này, cái thân này là ái thân, tâm ý này cũng vậy, đó là ái sáu căn, còn ái sáo trần thì rất rõ.
Nói cái chữ mình không hiểu nhưng khi diễn ra là mình thấy được liền, nhiều khi cái cốc của mình nó không có lại gì hết trơn nhưng mà mình cũng tự hào lắm, cũng bằng lòng, cũng hài lòng lắm. Nhiều khi trồng được một luống rau hay là trồng được mấy cái chậu hoa, người ta đến dòm, ngắm nghĩa, người ta thưởng thức mà ta khen cái nữa ra trong bụng hả dạ, đó sắc ái, chính vì cái này là mà người ta tu không được, cái chòi cũng khoái, cái thất cũng thích, cái nhà thì thôi khỏi nói, còn nói tới cái chùa nữa là thôi, cái viện nữa là khỏi nói rồi. Như thế thì làm sao thái tử Tất-đạt-đa bỏ hoàng cung được? Cho nên nhiều khi mình tập những cái nhỏ nhỏ từ từ đi, ngay cái đơn của mình, ngay cái chỗ ở của mình lỡ người ta có liệng cái rác gì đó, có xả gì đó thì mình xem đó là cái cơ hỏi để cho mình thực tại sao mình sân, tại vì mình ái cái chỗ của mình, đây là cái đơn của tôi nè, cái giường của tôi nè, cái phòng của tôi mà dám vậy hả. Trong đó thì có nhiều pháp lắm, vừa cái bản ngã, vừa sân, vừa chấp thủ, không nhận diện được các pháp mà chính những cái đó là cái cơ hội để cho mình quán tâm, cái cơ hội để cho mình quán pháp, cái cơ hội để cho mình quán thọ, cái cơ hội để cho mình quán thân trong một cái chuyện người ta xả rác lên cho cái đơn của mình, hoặc là con chó ị, con mèo ị, con tắt kè nó ị là cái cơ hội để cho mình nhìn thấy được thân, thọ, tâm, pháp chứ tu ở đâu?
Mình đợi đem bồ đoàn lên rồi ngồi, lúc đó mở cái bài Tứ Niệm Xứ lên lúc đó mới là tu Tứ Niệm Xứ hay sao? Mở bài Tứ Niệm Xứ ra tụng thì lúc đó tôi mới đang tu Tứ Niệm Xứ hả? Phải tập từ cái nhỏ như vậy, rồi cái áo của mình, cái y của mình, đôi dép, cái tên của mình, thậm chí cái danh dự của mình bị người ta sỉ xỉ vả cũng tập từ bỏ, không có ai ở đây hết. Nếu cái thân này thành hũ cốt đi rồi nó biết giận không? Cái thân này nó nằm dài bốn người khiêng lúc đó c nó có nổi sân không? Lập tức ngay chỗ đó mình triển khai thiền quán liền để phá cái ái, phá cái ngã, cái chấp, phá cái thủ, ngay lập tức triển khai thiền quán sắc bén, thiện xảo, nhanh lẹ còn hơn tia chớp, trí của mình là một cái trí siêu tốc, cao thủ thánh trí. Người ta ở ngoài là cao thủ võ lâm, mình là cao thủ thánh trí, cao thủ tác ý, cao thủ thiện xảo ở trong nội tâm của mình, tâm linh của mình thành ra chúng ta thấy nó thương mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, nó thương cái sắc này, chỉ riêng cái sắc thôi là biết bao nhiêu chuyện để nói, để quán.
Từ cảnh giới cho đến tự thân cho đến những thành phần cấu tạo trong tự thân mình phải nhìn thấy, phải phá nó. Trong cái kinh có nói hỷ ái ở trong đại địa, dục hủy ở trong đại địa, dục hỷ ở trong thủy địa, hỏa đại, phong đại, người này muốn, thích, ái ở trong những cái yếu tố mà nó kết thành thân thể này, kết thành những cái đồ vật này, kết thành những cái cảnh giới này.
"-- Này các Tỳ-kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy nghĩ: 'Ðịa đại là của ta' - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại.
Người ấy tưởng tri thủy đại là thủy đại. Vì tưởng tri thủy đại là thủy đại, người ấy nghĩ đến thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) như là thủy đại, người ấy nghĩ: 'Thủy đại là của ta' - dục hỷ thủy đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri thủy đại.
Người ấy tưởng tri hỏa đại là hỏa đại. Vì tưởng tri hỏa đại là hỏa đại, người ấy nghĩ đến hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là hỏa đại, người ấy nghĩ: 'Hỏa đại là của ta'- dục hỷ hỏa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri hỏa đại.
Người ấy tưởng tri phong đại là phong đại. Vì tưởng tri phong đại là phong đại, người ấy nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với phong đại, nghĩ đến (tự ngã) như là phong đại, người ấy nghĩ: 'Phong đại là của ta'- dục hỷ phong đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri phong đại" (Trung Bộ Kinh, 1. Kinh Pháp Môn Căn Bản)
Không biết là các vị có để ý không, khi con làm bài tác ý thì các vị thấy có bữa thì con làm cuộc sống thần tiên, con kể là bơ nè, sầu riêng nè, mây nè, hoa cỏ này kia đẹp như cuộc sống thần thiên, nhưng mà có bữa con cho tất cả trở thành đại tang lễ của địa cầu, như vậy có mâu thuẫn không? Sao bữa nói vui hết sức vui cảnh thần tiên, sao bữa tự nhiên nói đại tang lễ? Vui buồn không quan trọng mà cái tất cả cái đó có phải thiện pháp không? Nó phải chánh pháp, thánh pháp đưa đến ly tham, nhàm chán không là được, cái mà nói vui để cho tự thân mình và cho mọi người sống đời sống viễn ly, còn cái mà nói buồn, nói khổ đau, nói tang lễ này kia là phá cái tâm chấp thủ, ái luyến. Còn cái đầu tiên là khích lệ cũng như bữa Trí Tùng trình pháp rất là tốt, đó là mình phải thích Linh Quy, mình muốn Linh Quy, mình thương Linh Quy, mình thương núi rừng, mình thích núi rừng, mình nghĩa là hoan hỉ trên núi rừng thì mình mới ở núi rừng được, chứ mình không có thích làm sao ở.
Nhưng mà cái thích đó, cái hoan hỉ đó, cái hạnh phúc đó là cái giai đoạn ban đầu để cho cái tâm mình nó an trú và sau khi nó an trú rồi thì mình đi sâu vô để thấy được cái thích này, cái ái này cũng là cái vô thường thôi, cũng đưa đến khổ. Giống như mình lên tầng một rồi mình lên tầng hai chứ, bây giờ mới vô kêu người ta giờ lên tầng mười sao được, nhảy một cái lên tầng mười đâu được cho nên mình biết cái lúc nào mình tu tâm hỷ, lúc nào mình phá được cái ái đó, tùy theo cái lúc đang buồn, đang chán, đang vui mà tu tâm hỷ thì nó thích lắm, hoan hỉ lắm. Cái lúc nó thích, nó hoan hỉ, cái tâm nó an trú rồi bắt đầu mình diệt hỷ tiêu tận, triển khai thiền quán, thể nhập thâm sâu. Như vậy là mình biết lúc nào thực hành cạn, lúc nào thực thành sâu, đó là một sự thiện sảo, linh hoạt ở trong cái sự quán chiếu và sự tác ý tư tuệ của mình, chánh tư duy của mình, thành ra nếu mà mình nói "Ủa sao bữa thầy nói cuộc sống thần tiên, hạnh phúc độc cư, bữa nay tự nhiên thầy nói cái đồi này là cái mồ, sương giăng này là những cái khăn tang, chuối này là để dằn bụng, sương này là khói nhang" là để phá luôn.
Cho nên mình để ý sẽ thấy hay lắm khi cái tâm mình biết cái tác ý thiện xảo, uyển chuyển, linh hoạt thì mình có thể là thiên biến vạn hóa cho nên cái nấm cỏ thuốc này nó cũng là độc dược có thể giết người, mà nó cũng là diệu dược có thể cứu người trong cái bàn tay của một lương y đại tài dược vương. Cũng cái suy nghĩ đó mà nó giết mình chết, nó làm cho mình thối đọa, mình biết chuyển hướng cái tư duy đó thì nó trở thành làm cho mình tăng thượng, hướng thượng đi đến chỗ cao thượng thánh thiện. Mình là tài xế lái trên con đường đến cái đích nào là do cái người tài xế này có biết khéo tránh né không, mấy ngày nay có rất nhiều tai nạn giao thông chết rất là nhiều người, thì cũng vậy trên con đường tu, cái đạo lộ hành trì của mình đâu phải ai tu cũng đắc đạo đâu, biết bao nhiêu người tu mà được mấy người đắc, biết bao nhiêu người đi mà bao nhiêu người đến là vì mình có biết đường hay không, biết chính xác hay không, mình có kiên trì, bền chí để mình đi cho đến cái đích hay không, hay là mình chỉ là tưng bừng khai trương âm thầm dẹp tiệm, mình chỉ có hồ hởi, phấn khởi, nhiệt huyết nóng bỏng cháy được trong cái buổi ban đầu thôi, được một hai năm đầu, ba năm đầu thôi.
Đó là nói người lâu lâu chút rồi bắt đầu bốn năm, năm năm, bảy năm, mười năm rồi nguội lạnh, tro tàn cho nên cái người tu càng lâu về sau thì cái tâm giải thoát càng mạnh, tâm xuất ly càng lớn, cái tâm cầu đạo càng nhiệt thành thì người đó mới đi đến nơi. Chúng ta trở lại cái vấn đề đây nó yêu cái sắc, yêu thanh, yêu hương, yêu vị, yêu xúc, yêu pháp, nó ái sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, sáu trần bên ngoài cho nên mình tập khi thấy nó yêu, nó thích là mình diệt nó liền ở trong cái tư duy, ở trong cái cảm thọ, ở trong cái tưởng, ở trong nhận thức, thấy nó yêu thích là diệt liền, diệt chưa được thì nhiếp phục, chế ngự, giả sử nhiếp phục, chế Ngự chưa được thì mình cũng phải có một cái sự chống đối với nó chứ không có để cho nó tự tung tự tác, không để cho nó hoành hành bá đạo.
Hồi xưa mình mù không thấy, bây giờ mình đã thấy nó ăn trộm thì mình phải có một cái hành động đuổi nó ra chứ. Cho nên một người không có dòm ngó thân tâm gì hết, không có để tâm để ý, không có hướng nội, dò xét, chú tâm để ý, chuyên chú quán sát, như lý giác sát, không có lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động thì làm sao mình tu. Mình phải hướng nội, dò xét, chú tâm để ý, chuyên chú quán sát, tập trung tâm ý, nói nhìn theo dõi, dò xét và như lý giác sát rồi sau đó như lý tác ý. Mình phải lắng nghe cái ngấm ngầm đang hoạt động, câu này của bậc đạo sư là con sụp xuống lạy, câu này là thánh ngữ, cái ngấm ngầm là vỗ minh và khát ái. Tất cả chúng sanh là mù lòa, là đui chột, không thể thấy được cái chỗ ngấm ngầm này trừ khi nào được đắc pháp nhãn tịnh, được mở mắt pháp, giả sử có được hướng dẫn mở cho mắt pháp mà mắt nhắm mắt mở như con gà mờ thì cũng không được luôn, mắt nhá nhem, nhá nhá rồi nướng ngủ nữa thì cũng g tiếp tục một cái giấc ngủ ngàn thu, không nghe chân diệu pháp.
Cho nên cái người trí là một người nắm bắt cơ hội để lay tỉnh được, thức tỉnh được, đánh cho nó tỉnh như vậy rồi tỉnh luôn, giữ cái tỉnh đó vì thế cái chánh niệm là tỉnh giác mình đọc ở trong căn bản trí là rõ biết thọ sanh khởi, an trú và chấm dứt, tưởng sanh khởi, an trú và chấm dứt, hành sanh khởi, an trú và chấm dứt. Đó là tỉnh đó, lúc nào mình không rõ biết thì lúc đó là mình mê, mình ngủ, mình không có thức và lúc nào mình biết cái đó tức là mình đang thức, tức là đang tỉnh thì gọi là tỉnh thức. Mình đang ngủ, đang mê thì gọi là ngủ mê, ngủ mà đối lại với thức, tỉnh đối lại với mê thì tỉnh thức, còn cái kia ngủ mê. Một ngày mình ngủ bao nhiêu? Vẫn là mở mắt nhưng mà đang ngủ, không thấy thọ; tưởng; hành, không thấy các pháp vận hành, không thấy thi vi, nhất cử nhất động của thân tâm, không thấy không biết. Thọ sanh khởi lên không biết, tưởng; hành không biết, nội tâm có gì vận hành sao không hay, thức cũng chả biết, đúng như cái câu hỏi gì cũng nói không biết rồi xong, vậy thì chết rồi. Như vậy tức là vô minh, không biết tức là vô minh, ngược lại phải thấy, phải biết, phải dòm, phải ngó, phải dò, phải xét, phải quán, phải chiếu, phải chú tâm, phải để ý, phải để tâm, phải chuyên chú.
Chúng ta nhớ bài kinh Bọt Nước Thế Tôn nói một người có con mắt chuyên chú quán sát, chuyên chú như lý quán sát, những cái từ đó là pháp hành tối thượng.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng.
Vị Tỳ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, III. Bọt Nước)
Cái sự tu này là thiền quán, từ một cái sự an tịnh, lắng dịu tương đối rồi bắt đầu nhìn hoài, dò xét quán sát, như lý giác sát, chú tâm để ý, chuyên chú. Chúng ta thấy Đức Phật dùng không có một dư một chữ, không thiếu chữ, đương nhiên là phải có mắt nhưng mà Đức Phật dùng giống như người có con mắt chuyên chú như lý quán sát, Đức Phật nói là rõ như vậy đó, mình đâu nói người có mắt đâu, mình nói chuyên chú quán sát thôi, nhìn thôi, ở đây có mắt tức là thấy được ngũ uẩn đó, nhận diện ngũ uẩn là có con mắt. Nó khoái nhìn lắm, nó khoái dòm lắm, có vị nhập thất chia sẻ ở trong thất nhưng cũng ngóng ngóng ra ngoài, dòm dòm ra ngoài coi sao, đó là ái thức, ái nhãn thức. Nó cũng thích coi tin tức thời sự này nọ kia, nó cũng ái thanh lắm, ái cái nhĩ thức là cái để nghe cho nên những cái câu nói của người xưa nó thâm sâu, có nhiều ý nghĩa, gọi là túi khôn nhân loại, "điếc hay ngóng, ngọng hay nói". Mình thấy là sự thật nó trước mắt, chú tài xế này có tật, bị ngọng nói nghe không được bao nhiêu mà lên xe chú nói quá trời mà toàn chửi tục tiễu, tục tằng, con nghe mà thấy thương vô cùng, con trải tâm từ cho chú. Chú đâu biết rằng chính cái nghiệp đó mà nó tạo thành ra cái quả ác như vậy, bây giờ họ tiếp tục trong khẩu nghiệp, trong cái ác nghiệp đó nữa thì đời sau họ còn tiếp tục khổ đau nữa, mà thích nói, thích nhìn.
Đó là sáu thức, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, thích ngửi, thích nếm, thích tiếp xúc, cái này nó liên hệ tới tứ thực nữa. Nó móc xích với nhau, nó liên hệ với nhau ở trong cái sự chằng chịt, dây mơ rễ má, nó cấu kết với nhau, nó môi giới với nhau, nó hợp tác với nhau ở trong một cái sự âm thầm, ở trong cái bóng đêm mà chỉ có người có mắt thật sự mới nhìn ra được, không có mắt thì làm sao thấy được, nó trong cái bóng tối. Chúng ta nhớ có đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
•Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
•Hai là xúc thực,
•Ba là tư niệm thực,
•Bốn là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Như vậy nó cũng khoái cái vị đó, cái bụng thì no rồi nhưng mà con mắt thì vẫn muốn ăn nữa cho nên gọi là con mắt lớn hơn cái bụng, nghe cái từ này chưa? Cái bụng thì nó no rồi ăn hết nổi rồi, nó chứa hết nổi nhưng mà con mắt thì vẫn muốn cho nên múc cái tô bự rồi ăn không hết là bỏ, gọi là con mắt lớn hơn cái bụng. Ở chỗ đó người ta bán là nhà hàng tự phục vụ, cô này mua vé hai mươi mấy đô để vô ăn, bây giờ ăn no rồi, trả tiền rồi mà giờ không ăn uổng nên ráng ăn rồi nằm tại chỗ luôn, xe cấp cứu lại. Vì thế ái tập khởi là tứ thực tập khởi, nó khoái ăn, nó khoái tiếp xúc, cái xúc này có tới sáu xúc, tức là khoái nhìn, khoái nghe ngóng, khoái ngửi, khoái nếm vị, đụng chạm, ở bên trong khoái những cái hình bóng, những cái suy nghĩ, những cái cảm thọ. Cái này nó sâu, nó tinh vi, tâm khó thấy theo các dục quay cuồng, ngồi im re trên bồ đoàn vậy mà trong tâm quay vòng vòng, một là ngủ gục, hai là lờ mờ.
Tâm hốt hoảng còn một nghĩa nữa là lờ mờ không thấy rõ, nó vừa lờ mờ vừa giao động.
"Tâm hoảng hốt giao động,
Khó hộ trì, khó nhiếp,
Người trí làm tâm thẳng,
Như thợ tên, làm tên"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 33)
Bởi vậy cho nên:
Thà rằng chẳng biết cho xong,
Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu
(Nguyễn Du)
Mình lo lắng, lo sợ cái tâm này lắm, lo tu làm không xong nữa, còn người không thấy không biết thì có lo gì đâu lo, lo cái chuyện không đáng lo, còn người thấy người biết là cần lo những cái chuyện mà thực sự mình cần phải lo. Đức Phật nhắc nhở mình rất là nhiều, đó là ái sáu căn, là ái sáu trần, nói về tứ thực đó là đoàn thực, rồi xúc thực, tư niệm thực là nó khoái, nó nghĩ và nhớ, nghĩ nhớ, thích suy nghĩ, thích nhớ, nhớ tưởng, nhớ nhung, nhớ mong. Thức thực là thích tìm hiểu, thích biết, biết những cái đưa đi vô luân hồi, vô tham, sân, si, biết những cái cho nó hơn thua, nó giành giật, nó cao, nó thấp, nó bằng, biết những cái cho nó thị phi. Đó là nó thích, nó khoái, ái tập khởi thì tứ thực tập khởi, nếu mà ái đoạn diệt là tứ thực đoạn diệt luôn rồi giải thoát, bởi vậy nhìn mới thấy hết trong ngóc ngách, con mắt này nó yêu ở trong đó, cái lỗ tai nó khoái trong đó, lỗ mũi thì nó thích, cái miệng thì nó ưa, rồi cái thân này thì nó ái rồi đến cái tâm là thọ; tưởng; hành ở bên trong. Nó dính cứng chắc như keo dán sắt, như keo dán tượng vậy đó, như keo với sơn vậy đó, trộn vô trong đó rồi không có tách ra được.
Như vậy một cái trí tuệ Đức Phật truyền cái thánh trí để mình nhìn thấy trong đó để tách nó ra, để mình phá những cái mắt xích ở bên trong đó. Chúng ta thấy nó thâm sâu, nó trí tuệ, nó tuệ giác tới cái mức độ nào.
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào là bốn?
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng ...
Thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Này các Tỳ-kheo, đây là bốn trí tế nhị" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (VI). Trí Tế Nhị)
Đây là cái trí tuệ tế nhị, trí tuệ thâm sâu, trí tuệ vi diệu, cái trí tuệ thù diệu, cái trí tuệ thánh diệu có khả năng đoạn tận tất cả khổ đau, đưa chúng sanh ra khỏi luân hồi sanh tử, giải thoát, đó là thánh trí ngũ uẩn mình đang học. Mọi người có thấy hạnh phúc không? Mình phải trân quý, trân trọng, trân kính, nếu không mình không biết mình đang học cái gì, đang tu cái gì, học một thời gian là hết biết cái gì luôn, cứ đơ đơ, trơ trơ vậy đó, không còn thọ gì nữa hết. Cho nên chúng ta nhìn thấy đó là ái căn, ái trần, ái thức, thích, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, thích tiếp xúc đó là sáu xúc. Chúng ta nhìn sâu vào để thấy được hai cái chữ khát ái mà Đức Phật nói là cả một cái bầu trời và nó trùm chiếm hết tất cả trong mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, ở trong thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, ở trong cái sự nhìn ngó, nghe, nếm, nói, đụng chạm, suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, tư tưởng, nhận thức. Tất cả đều có ái trong đó hết, khi con chiêm nghiệm cái này là con rúng động, ớn lạnh, rợn người, nổi da gà, không ngờ là cái pháp nó thâm sâu tới mức độ vậy.
Từng làn da, từng thớ thịt, từng cọng chân lông, từng hơi thở của mình là thở trong vô minh với khát ái trừ khi nào lúc đó mình nghe thánh pháp, mình quán chiếu, thiền quán, mình có cái sự tác ý để yểm ly, nhàm chán, ly tham, viễn ly, đoạn diệt, từ bỏ, thoát ra cho nên mình mới nhớ Đức Phật dạy mình quán nhàm chán, quán ly tham, quán đoạn diệt. Nhàm chán là nhàm chán cái gì? Ly tham là ly tham cái gì? Đoạn diệt là đoạn diệt cái gì? Nhàm chán cái ái này làm cho mình khổ, n cái khao khát này, không còn ham muốn cái sự yêu thích ở trong năm uẩn này nữa, đoạn diệt là đoạn diệt cái cái ái tận, ái đoạn này nè, ái diệt này nè. Khi mà chúng ta nhìn sâu vô bên trong bằng chánh kiến, bằng cái trí tuệ thì chúng ta thấy một chữ một, đoạn cái đó, phá cái đó cho nên bốn chữ ái tận giải thoát là cả một cái đại đề mục thiền quán suốt cuộc đời. Hễ nhìn thấy gì mình thích là niệm "ái tận nha, phải ái tận nha, ái tận mới giải thoát nha, thích cái này là trói cột nè", nghe cái gì cái mình khoái cũng niệm "ái tận nha, khoái cái này là kiết sử nè", ngửi nếm mà mình tham thì niệm "ly tham nha, ham thích là khổ đau nè", động chạm tiếp xúc cái gì mà mình thấy đam mê là niệm "chết nha, cái này trói cột là khổ nè, cắt đứt đi, hệ lụy đó, thoát ra đi, diệt tận đi, từ bỏ đi, đoạn diệt đi".
Chúng ta thấy nói tóm là cái có một chữ ái thôi, bung ra một cái là sáu căn, sáu trần, sáu thức, mười tám giới, tứ sanh, ngũ uẩn, lục đạo, cửu hữu, tam thiên đại thiên thế giới nhưng tóm lại một chữ ái thôi, mà chữ ái chính là khổ tập thánh đế, khổ thánh trí thành ra chữ ái này là tóm thâu của tứ thánh đế. Sau khi mình đã thấy khổ rồi mình muốn diệt khổ mà cái nguyên nhân của nó chính là ái, ái tận là Niết-bàn. Làm sao để cho cái khoái này, cái thích này, cái yêu, cái thương, cái muốn này được nhiếp phục, được chế ngự? Đó là phải tu tập Tứ Niệm Xứ, tu tập ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần, vận dụng hết tất cả những cái gì mà mình được nghe, được học mà khổ cái là tâm vô minh thì nó quên cho nên mỗi ngày phải nghe vậy mà nó còn quên, vô thiền quán nghe đi nghe lại, nghe tới nghe lui rồi viết ra, rồi nhắc lại, ôn lại mà nó cũng quên.
Cái tâm vô minh, cái tâm ngủ mê, cái tâm bị chụp thuốc mê, cái tâm hôn mê, cái tâm si mê cho nên mình mới nghe hoài, nhắc hoài. Bây giờ mình cũng đang nhắc nhớ, sau khi mình học thì mình hiểu, sau khi hiểu thì phải nhớ, sau khi nhớ thì phải nhắc nhở để nhớ, khi nhớ được thì an trú, khi an trú thì tăng trưởng, tăng thượng lớn mạnh, quảng đại, nó trở thành căn cứ địa trong tâm của mình thì cái trình tự nói đơn giản dễ hiểu là học, hiểu, nhắc là như lý tác ý, nhớ, quán hoài đừng quên thì nó an trú an trú ở trong này luôn, cái trí nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, nhiếp phục khát ái, đoạn tận khát ái thường trực ở trong tâm mình. Khi nó nhìn thấy ái cái là bắt đầu nó hạ thủ liền, nó ra tay liền tự bên trong mình nó có một cái trí trệ này, thì như vậy khi nó được an trú rồi nó lớn mạnh, thể nhập.
Chúng ta tạm đưa bảy bước, thể nhập rồi một bước nữa là chứng đắc, đó là cái lý do tại sao chúng ta phải nghe pháp, tại sao chúng ta phải thiền quán, tại sao chúng ta phải tư duy, phải động não, phải viết bài, phải trình pháp, làm cho các cái cảm thọ, các tưởng đó, các hành đó, những sự tiếp xúc về pháp đó cứ tăng thượng. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi, tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi và tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Cái niệm đó là nhớ đó, thì nó tăng thượng là nó thêm lên, nó nhớ hoài cho nên tứ chánh cần sau cùng là giữ gìn, hộ trì các thiện pháp, tức là không có quên. Thật ra cái tâm chưa có tập trung nhiều, chưa có chuyên sâu chứ ở với bậc đạo sư có khi một cái bài pháp cho nghe một tuần, cho nghe hai tuần thậm chí là cả tháng, một bài một. Nếu mà con cho vậy là chúng ta sẽ ngán, chính vì vậy mà con tập cho từ từ lên ba ngày, bốn ngày là bắt đầu đang từ từ tập đi chuyên sâu một cái đề mục thì vậy nó mới sâu sắc, nó mới nó khắc sâu, nó tô đậm giống như là khắc ở trong đá chứ không phải là nó vẽ trên nước, ở trên cát. Như vậy cái pháp đó được trú ở trong tâm mình luôn, nó không mất, còn nếu như mình nghe phớt qua cái là xong thì nó quên, viết trên nước, viết trên cát gió thổi là bay.
Một người lấy một cái đề mục thiền quán mà cứ chuyên hoài vô trong đó cho đến thành tựu thì cái chỗ đó là cái chỗ rất là đáng khen ngợi. Hãy chọn cho mình một cái đề mục mà nó ngay cái bệnh nặng nhất của mình, mình đánh tới cho nó bại liệt, cho nó què quặc là mình thắng trận. Chúng ta thấy đòi hỏi mình một cái sự để tâm rất nhiều, khi mình nhìn sâu bung rộng rồi gom lại cái chữ ái thì thấy gọn không? Dễ thực hành không? Dễ mà khó, khó mà dễ, khó là chúng ta không chịu làm, mà chúng ta chịu làm quyết tâm thì nó dễ, cứ làm từ từ mỗi ngày một chút. Mình thấy ngay chỗ mấy cái vòi nước nhiễu có một giọt vậy mà đầy thau, đầy lu, tràn ra ngoài luôn, mỗi ngày chúng ta cứ nghe rồi dập nó, giết cho nhừ tử, đánh cho bành thây áo vũ, đánh cho bầm dập, đánh cho nó nát nhừ như tương rồi nó rệu rã, nó phân hủy, nó tan chảy ra cuối cùng đi đến chỗ diệt tận.
Đầu tiên là nhìn thấy, kế đó nhiếp phục chế ngự, sau đó cho nó què quặc, bại liệt rồi giết nó chết luôn. Giết nó chết xong rồi bằm thây nó ra thì nó phân hủy, nó rữa nát hết, tan chảy hết, tiêu vong hết, rồi cuối cùng làm cho nó không thể sanh khởi trở lại trong tương lai. Một người có một cái ý chí kiên trì và bền chí như vậy thì người này chắc chắn đi đến thành công.
"-- Hiền giả Channa, Hiền giả cần phải luôn luôn chú ý đến lời dạy này của Thế Tôn: 'Ai còn tham luyến, thời có dao động; ai không tham luyến, thời không dao động. Ai không dao động, thời được khinh an. Ai được khinh an, thời không thiên chấp. Ai không thiên chấp (nati), thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi, thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh, thời không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời. Ðây là sự đoạn tận đau khổ'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IV. Channa)
Tại sao mình có dao động? Vì mình còn tham ái, nếu không có tham ái là không có giao động, mà không có dao động thì được nhẹ nhàng, nhẹ nhàng thì đâu có nặng nề, đâu có nắm giữ gì đâu, không có nắm giữ gì hết cho nên không có đến và đi vì có nắm giữ thì có đến đi chứ, đến để nắm. Không có ham thích bất cứ một vật gì ở trên đời, từ thân tâm, cảnh, căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn, xúc, thọ, tưởng, tư, không có gì là ta, là của ta, là tự ngã của ta hết, không còn sanh và diệt nữa, không còn phải sanh ra nữa, không còn sanh ra thì đâu có diệt. Tại sao sanh ra? Tại vì ái mới sanh ra, cho nên các bậc thánh là không ưa thích có thân.
"-- Này Sàriputta, những gia đình thân hữu và những gia đình thân thích ấy của Tôn giả Channa là những gia đình có lỗi. Tuy vậy, này Sàriputta, với sự việc như vậy, Ta không nói Channa là có lỗi. Này Sàriputta, ai bỏ thân này và chấp thủ thân khác; người ấy, Ta nói là có lỗi. Nhưng Tỳ-kheo Channa thời không vậy. Tỳ-kheo Channa không có tội lỗi khi đem lại con dao. Này Sàriputtra, Ông cần phải thọ trì như vậy" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IV. Channa)
Cái trí tuệ này khó hiểu được lắm, nằm sâu bên trong cái chấp thủ trong vô minh, khát ái chứ không phải nhìn ở hình tướng bên ngoài. Các ngài không có ưa thích sự sống.
"Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta, Tôn giả Mahà Cunda và Tôn giả Channa trú ở núi Gijjhakù.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Cunda; sau khi đến nói với Tôn giả Mahà Cunda:
- Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Tôn giả Channa để hỏi thăm về bệnh hoạn.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Mahà Cunda vâng đáp Tôn giả Sàriputta.
Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Cunda đi đến Tôn giả Channa, sau khi đến ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Sau khi ngồi, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Channa:
-- Này Hiền giả Channa, Hiền giả có kham nhẫn được chăng? Có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?
-- Thưa Hiền giả Sàriputta tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu.
Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh. Cũng vậy, này Hiền giả, tôi cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Này Hiền giả, tôi không thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu.
Này Hiền giả, ví như một người đồ tể thiện xảo hay một đệ tử người đồ tể mổ bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng cắt mổ bụng của tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu.
Này Hiền giả, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm một người yếu hơn với những cánh tay của mình, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Hiền giả, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân tôi. Này Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
Thưa Hiền giả Sàriputta, tôi sẽ đem lại con dao. Tôi không muốn sống nữa.
-- Tôn giả Channa, chớ có đem lại con dao! Tôn giả Channa, hãy chịu đựng! Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng. Nếu Tôn giả Channa không có các món ăn, không có các dược phẩm thích hợp, thời tôi sẽ tìm các dược phẩm thích hợp cho Tôn giả Channa. Nếu Tôn giả Channa không có người hầu hạ thích ứng, thời tôi sẽ hầu hạ Tôn giả Channa. Tôn giả Channa chớ có đem lại con dao. Tôn giả Channa hãy chịu đựng. Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng.
-- Thưa Hiền giả Sàriputta, không phải tôi không có các món ăn thích hợp, tôi có các món ăn thích hợp. Không phải tôi không có các dược phẩm thích hợp, tôi có các dược phẩm thích hợp. Không phải tôi không có những người hầu hạ thích ứng, tôi có những người hầu hạ thích ứng. Ðã lâu ngày tôi hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Ðây, thưa Hiền giả, là xứng đáng với người đệ tử. Vì rằng đã hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Không có phạm tội, nếu Tỳ-kheo Channa đem lại con dao. Này Hiền giả Sàriputta, Hiền giả hãy thọ trì như vậy.
-- Chúng tôi sẽ hỏi Tôn giả Channa một câu, nếu Tôn giả Channa kham nhẫn được hỏi và trả lời.
-- Hãy hỏi đi, Hiền giả Sàriputta, sau khi nghe, chúng ta sẽ biết.
-- Này Hiền giả Channa, mắt, nhãn thức, những pháp do nhãn thức nhận biết, Hiền giả có quán: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?... Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Này Hiền giả Channa, ý, ý thức, các pháp do ý thức nhận biết, Hiền giả có quán: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?
-- Này Hiền giả Sàriputta, mắt, nhãn thức, các pháp do nhãn thức nhận biết, tôi quán: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'.
-- Này Hiền giả Channa, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, do thấy gì, do thắng tri gì mà Hiền giả quán: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'?
-- Thưa Hiền giả Sàriputta, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Trong tai... Trong mũi... Trong lưỡi... Trong thân... Thưa Hiền giả... Trong ý, trong ý thức, trong các pháp do ý thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IV. Channa)
Chúng ta thấy một vị bệnh gần chết như vậy, quằn quại đau đớn vậy mà ngài diễn tả cái căn bệnh của ngài một cách điềm tĩnh, một cách rõ ràng, những cái ví dụ minh bạch giống như một nhà văn đang viết văn, cái sự minh mẫn, trí tuệ. Chúng ta nhìn lại cái sự ra đi của bậc đạo sư cũng giống vậy, bậc thánh đệ tử và cái tuệ trí rực sáng tỏa chiếu.
"-- Này Hiền giả Channa, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, do thấy gì, do thắng tri gì mà Hiền giả quán: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'?" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IV. Channa)
Đây là một câu kiểm tra, gặng hỏi, chất vấn lại lần thứ hai nữa coi sự xác quyết đó như thế nào. Chúng ta thấy bệnh nặng gần chết, hỏi những cái câu hỏi thâm sâu về pháp và trả lời rồi mà vẫn chất vấn lại lần thứ hai nữa. Trong con mắt, trong nhãn thức, trong cái pháp do nhãn thức nhận biết do ngài thấy cái gì, do ngài thắng tri cái gì mà ngài quán đây không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi, do ngài biết cái gì? Sau khi tôi thấy được căn, trần, thức này làm đoạn diệt pháp, là cái pháp tiêu ma, hoại diệt, huỷ hoại, tiêu vong, diệt tận, sau khi tôi biết một cách như thật, một cách thấu đáo tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của cái ngũ uẩn này là cái thứ chẳng có ra gì, cái thứ tan nát, huỷ hoại, hoại diệt, tiêu diệt, diệt tận cho nên tôi quán nó chẳng phải là tôi, không có gì là của tôi, là tự ngã của tôi.
Hôm nay chúng ta được học một cái sự kiện này là để chúng ta thấy được thánh trí về đoạn diệt, hai cái chữ đoạn diệt đó là đưa đến đoạn tận tham, sân, si, đoạn tận khát ái, vô minh. Hồi xưa con học Tứ Thánh Đế mà tới cái chữ Diệt Đế là con sợ lắm, không biết diệt vậy là sao, bây giờ mình thấy nó hay mà không có một cái lời nào để mình diễn tả, diệt tận tham, sân, si, dục ái, vô minh, diệt tận bản ngã, diệt tận ngũ uẩn, đoạn diệt, chấm dứt, từ bỏ cho nên khi Đức Thế Tôn hỏi ngài Phú-lâu-na nếu có người ném đá, lấy gậy đánh ông thì ông làm sao, ngài Phú-lâu-na trả lời họ còn chưa sát hại con, Thế Tôn hỏi nếu họ giết luôn thì sao, nếu vậy thì ông được giải thoát khỏi cái thân bất tịnh, nhơ nhớp, bẩn thỉu, bệnh hoạn, tai ương này. Điều này đúng theo cái đạo lộ, nó rực sáng, nó chói sáng hết trơn.
"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?
-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy.
-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời." (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Các ngài không có ưa thích có thân nhưng các ngài cũng không có diệt cái thân này, đây là cái trường hợp đặc biệt là chúng ta thấy bây giờ có những trường hợp cha mẹ bệnh quá khổ, những người con cũng muốn rút cái ống thở. Những cái này có khi người ta cũng có những cái đắng đo, do dự nhiều cái thì cái đó là cái pháp thế gian, còn ở đây là cái pháp thâm sâu lắm, rất là thâm sâu vì cái tâm của các ngài đâu có coi cái thân này là mình, là của mình đâu, đâu có coi thọ; tưởng; hành; thức là mình, là của mình đâu, các ngài chứng ngộ pháp này là pháp đoạn diệt, tiêu vong mà.
"Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Mahà Cunda nói với Tôn giả Channa:
-- Hiền giả Channa, Hiền giả cần phải luôn luôn chú ý đến lời dạy này của Thế Tôn: 'Ai còn tham luyến, thời có dao động; ai không tham luyến, thời không dao động. Ai không dao động, thời được khinh an. Ai được khinh an, thời không thiên chấp. Ai không thiên chấp (nati), thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi, thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh, thời không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời. Ðây là sự đoạn tận đau khổ'.
Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Cunda, sau khi giáo giới Tôn giả Channa với lời giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.
Tôn giả Channa, sau khi hai vị Tôn giả ấy đi không bao lâu, liền đem lại con dao.
Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Channa đã đem lại con dao. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau vị ấy sẽ như thế nào?
-- Có phải trước mặt Ông, này Sàriputta, Tỳ-kheo Channa đã tuyên bố là không phạm tội?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn. Có một làng của dân tộc Vajji tên là Pubbavijjhamam; tại đấy, có những gia đình thân hữu, có những gia đình thân thích với Tôn giả Channa, chính những gia đình ấy mới có lỗi.
-- Này Sàriputta, những gia đình thân hữu và những gia đình thân thích ấy của Tôn giả Channa là những gia đình có lỗi. Tuy vậy, này Sàriputta, với sự việc như vậy, Ta không nói Channa là có lỗi. Này Sàriputta, ai bỏ thân này và chấp thủ thân khác; người ấy, Ta nói là có lỗi. Nhưng Tỳ-kheo Channa thời không vậy. Tỳ-kheo Channa không có tội lỗi khi đem lại con dao. Này Sàriputtra, Ông cần phải thọ trì như vậy." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IV. Channa)
Chúng ta thấy các bậc thánh đúng theo cái đạo lộ họ nhàm chán, ly tham, viễn ly, trong Trưởng Lão Tăng Kệ có vị Tỳ-kheo sau thời gian tu mà không nhiếp phục được dục ái nên ngài đã hét lên "ta giết mi".
"Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi trong gia đình một Bà-la-môn, được đặt tên là Mahànàma, ngài được nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lấy một đề tài làm thiền quán, ngài sống trên một ngọn đồi tên là Nesàdka. Không thể chận đứng được các dục tưởng khởi lên, ngài tuyên bố: 'Ðời này của ta có ý nghĩa gì, với tâm tư uế nhiễm như vậy'. Tự nhàm chán với chính mình, ngài leo lên một đỉnh núi, và như muốn lao mình xuống, ngài nói với chính mình như nói với một người khác: 'Ta sẽ giết nó!' với bài kệ như sau:
Hãy xem, sao đời nay,
Lại chấm dứt ở đây,
Với hòn núi nhiều ngọn,
Và nhiều cây cối này?
Núi Nesàdaka,
Một ngọn núi có danh,
Rập rạp với cỏ cây,
Che kín trùm tất cả.
Tự mình trách móc như vậy, vị Trưởng lão phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Bài kệ trên trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười Hai, (CXV). Mahànàma (Thera. 16))
Cái tâm tu của người xưa tuyệt vời lắm, rất mãnh liệt, cả một cái sinh mạng coi không ra gì hết, người ta chỉ thành tựu được cái đạo nghiệp, đạo quả thôi. Mình giờ nhìn lại xấu hổ biết bao nhiêu, ngồi gục lên gục xuống, buông lung phóng dật, học thì trả giá mệt quá, mỏi quá, còn ái thân này quá nặng, bản ngã không nhìn thấy. Chúng ta phải đừng có nuông chiều, áp đặt nó vào trong pháp cho đến cái sinh mạng này mình cũng chả coi ra gì hết thì mình sẽ có phần, phải làm sao mà mình càng ngày càng ngày thấm cái sự yểm ly, chán lìa, có một cái gì ý nghĩa trên cuộc đời nữa, chẳng có gì ý nghĩa trên cuộc đời này, mình nhìn toàn là cái vô nghĩa, trống rỗng, trống không, toàn là những vở tuồng, những sự lừa dối, gian dối, những vở kịch, những cái tuồng kịch mà mình đã đóng vô lượng năm rồi, vô số kiếp, vô thỉ kiếp cho đến nay nó chẳng có là cái gì hết, mình thấy một cái sự dối trá ở trong con người mình.
Mình thấy ngao ngán ở trong chính mình chứ đừng nói chi là ở bên ngoài, cái tâm này là cái tâm xảo quyệt, gian trá, dối trá, dối lừa, lừa gạt, ngụy biện, xảo biện. Phải làm sao mình trở về một cái sự chân thật, chân chánh là ở trong được một cái thánh thạnh, chỉ có một mực thôi là làm sao để đoạn tận hết tham, sân, si, dục ái, khát ái, vô minh, đoạn tận hết những cái pháp hoại diệt, tiêu ma, huỷ hoại, diệt tận này, sớm ngà mình từ giã, mình thoát ra, không có gì hạnh phút bằng cho nên ngày Phú-lâu-na nói mình mới thấm, bây giờ mình thấy thiệt sự nó là quá thực tế, họ giải thoát cho con, con quá khỏe bạch Đức Thế Tôn. Cái gánh nặng đầy phiền phức, đầy bất an, đầy lo lắng, đầy bệnh tật, đầy sợ hãi, gánh nặng đó cũng như bây giờ Trí Minh đi sửa nước mà trợt chân phải may mười ba mũi, lòi thịt ra, chảy máu mở ra. Mình không thể biết được chuyện ngày mai, ngồi đây chứ một chút nữa có chuyện gì không biết, tất cả là nó tới bất ngờ, đột ngột, bất thình lình, bất trách, bất thường, vô thường.
Bởi vì mình trân trọng từng thời pháp, trân trọng từng thời thiền, trân trọng từng một cái thời tu tập, nhớ, quý, có ái thì ái cái pháp đó, có ái thì ái cái giới, có ái thì ái cái định, có ái thì ái cái tuệ, có ái thì hãy tuyệt vời ở trong cái sự khát ái về giải thoát đi. Chuyển cái ái đó, yêu thích sự từ bỏ, yêu thích sự rời xa, yêu thích sự thoát ra, yêu thích cái sự diệt tận, chấm dứt cái đống đau khổ to lớn, vĩ đại, đại khổ uẩn ra. Quá hạnh phúc rồi còn gì nữa, mình tu khổ như vậy đó nhưng mà mình sướng lắm, sướng hơn trời nữa, không có ai sướng bằng mình, mình nhìn thấy cả một cái thế gian này, cả một cái địa, bao nhiêu sự loè loẹt, bao nhiêu cái màu sắc, bao nhiêu những cái thiên hình vạn trạng, mình nhìn mình thấy vô nghĩ, vô tích sự, vô giá trị, vô thường, vô ngã, vô minh. Phải nhìn tối thượng như vậy, phải nhìn bằng con mắt thánh trí huệ như vậy, xuyên thủng, xuyên thấu, thấu thị, minh kiến như vậy mình mới có thể từ bỏ được hết tất cả mọi thứ trên cuộc đời, mình sẽ đi đến chỗ đó, không có chấp chước bất cứ một vật gì ở trên đời, tâm bất động giải thoát.
Ôi hạnh phúc quá!
Ôi hạnh phúc quá!
Ôi hạnh phúc quá là hạnh phúc!
Đi tu đi, tu đi, tu đi. Chúng ta có muốn chia sẻ gì không ạ? Hạnh phúc quá có chia sẻ gì không?
Thầy Tín: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con thành kính đảnh lễ sư phụ, con thành kính đảnh lễ chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng chư vị hiền trí, qua bài giảng của sư phụ sắc của con ngồi trong thiền đường cùng tất cả đại chúng, thọ của con là cảm giác lo lắng, sợ hãi và biết ơn sư phụ, tưởng của con là hình bóng sư phụ và những hình bóng khát ái. Nhìn lại những khát ái đã có trong nội tâm con thấy sợ hãi, hành của con là suy nghĩ mình phải thoát ra và phải tác ý mạnh mẽ, thức của con là rõ biết. Con xin tri ân sư phụ đã giảng về thành trí khát ái để con được thấy rõ nguy hiểm và hoạt động, con nhìn lại nội tâm thấy lo lắng vì trong nội tâm cũng còn nhiều cái khát ái, nó hoạt động cũng thúc giục. Con tác ý và nhiếp phục, chế ngự, dù đôi khi mất chánh niệm vẫn quên nhưng còn cố gắng tác ý sợ hãi về cái khát ái vì nó bao trùm cả thế giới, nó làm cho con người đau khổ, nó làm cho con người bị luân hồi trong ba cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nó gây ra nhiều đau khổ cho xã hội, cho gia đình và cho tự thân mỗi người. Con thấy khát ái rất nguy hiểm vì tất cả những suy nghĩ, hành động hay việc làm của chúng ta đều trong khát ái, trong vô minh. Nhờ thánh trí của Phật, của sư phụ giảng con đã một chút nào đó đã nhìn thấy, tác ý và cố gắng để thoát khỏi những khát ái ở trong nội tâm mình. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư thầy 1: Con chân thành đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, tôn kính con chân thành đảnh lễ trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Qua bài pháp chiều nay của sư phụ đã giảng dạy cho chúng con nghe và qua những bài pháp mà ba ngày nay sư phụ liên tục giảng cho chúng con nghe về lòng khát ái và sự khát ái trong thân tâm của chúng con. Con thấy rất là hoan hỉ, rất là sung sướng khi được chiêm nghiệm, được suy tư, được thiền quán về chủ đề khát ái này và nó cũng là chủ đề khiến cho tự thân con cảm thấy rất là tâm đắc và qua bài giảng chiều nay sư phụ nói về cái sự khác ái trong tự thân của mình, con cũng đã chiêm nghiệm và con thấy rằng bởi hai chữ khát ái này đã bao trùm tất cả địa đại, trái đất, vũ trụ, hành tinh của tam thiên đại thiên thế giới này, bị chụp bởi hai chữ khát ái này thôi. Chúng sanh không thể nào có thể thoát ra.
Khi sư phụ nói về hai cái chữ khát ái này khiến cho chúng con rất là khinh sợ, hoảng sợ và khủng khiếp với hai từ này. Con tiếp tục chiêm nghiệm thì con thấy rằng bởi vì mình không có trí tuệ không nhìn thấy ngũ uẩn, không nhìn thấy tự thân mình để cho cái lòng khát ái này cứ đòi hỏi, cứ thúc giục bên trong, dục càng hưởng thì càng hăng, dục càng hưởng thì càng tăng và dục không bao giờ dừng lại. Khi chúng ta không nhiếp phục được, không nhìn thấy tự thân mình, không kiềm chế, không đi đến sự đoạn tận thì đây chính là nguyên nhân, nguồn gốc, cội gốc của sự khổ đau trong cái dòng sanh tử luân hồi này. Khi chúng ta làm cho thỏa mãn những cái cảm thọ bởi sự khát ái bên trong, thúc giục bên trong, đây là một cái sự nguy hiểm, một cái mầm móng khiến cho chúng sanh phải khiếp sợ, phải kinh khủng bởi vì mà vì chúng ta không biết, không nhìn thấy và cứ đòi hỏi.
Trước khi con tu tập vào dòng pháp này thì con cứ nghĩ rằng mỗi người chúng ta sanh ra lớn lên cần phải có cái dục này thì chúng ta mới sống được, khi sư phụ giảng cho chúng con nghe thì con mới thấy thật là cái trí tuệ về cái lòng khát ái này thật là thâm sâu. Chính cái lòng khát ái này khiến cho chúng con không thể nào đi ra khỏi, cứ đòi hỏi bên trong, cứ khát bên trong, cứ đói bên trong mà cho dù có uống, có ăn thì cũng không thể nào có thể thỏa được, và cho con thấy được rằng trí tuệ của Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác thật là thâm sâu, thật là vi diệu, thật là trí tuệ thù thắng khi ngài đã chứng ngộ và giảng dạy cho chúng con nghe khi thấy chúng sanh còn điên đảo, quay cuồng bởi cái lòng khát ái này.
Qua đây con xin chân thành tri trên sư phụ đã vì lòng thương tưởng giảng dạy cho chúng con nghe, chúng con hiểu, chúng con thấy được một cái đạo lộ tu tập, một con đường đi của các bậc chân nhân, các bậc thánh nhân, cho con thấy được rằng mình cần phải cố gắng tu tập, nỗ lực tu tập, xuyên hành trì thấy được rằng mình cần phải tu tập nhiều hơn nữa và tu tập về Tứ Niệm Xứ, quán ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi và đặc biệt hơn là thu thúc lục căn, thấy sự nguy hại trong từng lỗi nhỏ nhặt. Ngay giây phút này đây con cảm thấy mình rất là hạnh phúc và con thấy được rằng không có một niềm vui, niềm hạnh phúc nào khi mình chiến thắng được chính mình, chiến thắng được chính bản thân mình, nhiếp phục được thân tâm mình và cái niềm vui đó nó không phụ thuộc vào cảnh sắc bên ngoài, niềm vui mà khi chúng ta ly được dục, ly được ác bất thiện pháp. Chúng ta sống một cuộc sống thoát ra, đi khỏi ra đối với ngũ uẩn, đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Một lần nữa con xin tri ân sư phụ, tri ân trên bậc đạo sư rất là nhiều, đó là những dòng suy tư, chiêm nghiệm của con trong buổi chiều ngày hôm nay con xin kính trình lên sư phụ và sự suy tư, chiêm nghiệm của con còn rất là cạn cợt, rất là thiếu trí tuệ, con xin trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí chỉ dạy thêm cho con để con có thể hoàn thiện bản thân mình hơn mỗi ngày. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Chú Trí Linh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ tôn kính, con kính trên quý thầy, kính trên quý sư Ni, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Mấy hôm nay con cũng được nghe sư phụ giảng về bài chủ địa ái dục thì ngay trong buổi chiều hôm nay thọ của con được nghe mấy hôm nay thọ của con một cái thọ rất là hỷ lạc và một cái thọ ưu tư. Thọ hỷ lạc là được ngồi với đại chúng nghe sư phụ giảng trong những bài giảng rất là ý nghĩa, còn thọ ưu tư lo lắng là con nhìn thấy tự thân con chìm đắm trong những cái say mê, những cái khao khát chẳng hạn như những việc con lao tác, làm những việc ở ngoài nó dính mắt vào trong đó mà con không thoát ra được, và những cái say mê của con, cái tưởng của con nhớ lại những cái ngày tháng trước kia lúc con còn nuôi chim. Cái tưởng con cứ nhìn thấy là lâu lâu đi xuống núi ra ngoài là đi ngang qua cái chỗ người ta bán chim cảnh, nó muốn quay lại, nó muốn dừng lại, muốn nhìn cho được và muốn ước ao, ao ước được nuôi những con chim đó.
Bây giờ con vẫn còn thích, còn ái, còn ham muốn, còn giữ những cái hình ảnh của những con chim đó, con chim yến phụng con nuôi là nó nở trong chuồng luôn, nuôi nó lớn từng ngày, từng ngày. Con thấy rất là thích, đến hôm nay con vẫn còn dính mắt vào chỗ đó, những lần con nghe sư phụ giảng là mình nuôi, mình giữ những con chim đó là như trói cột nó lại thì mình cũng mang một cái tội, trói buộc người khác. Một việc chính như trưa nay con đi qua bên bếp xin đồ ăn, con về vừa tới bên thư viện có mấy chú cũng đang thọ chay buổi trưa thì con về tới con mới nói với mấy chú là mỗi lần đi qua bếp là mỗi lần về mình cảm thấy rất là xấu hổ, mình cũng mới vừa nghe bài giảng hồi sáng nay, mới pháp đàm hồi sáng nay, lên trên bếp rồi nhìn thấy những đồ ăn, dính mắt vào những đồ ăn rồi khởi cái lòng tham lên, có những món mình rất là ưa thích nữa, trưa nay cũng có những cái mót rất là hấp dẫn, cái này là ái rồi, nhìn thấy ái trong đó rồi ,thấy tham trong đó quá nhiều rồi.
Con lấy đầy rồi còn để một chén canh lên, tay bưng một ly nước nữa. Mỗi lần như vậy như vậy tại sao mình không bỏ bớt lại, mình lấy vừa đủ, mình lấy ít thôi, tại sao mình lấy như vậy, thấy đây là cái dục, cái ái của mình. Con chia sẻ với mấy chú ở bên thư viện, sư phụ vừa giảng mấy hôm nay mà bữa nay vẫn còn là ái, vẫn còn dục, vẫn còn tham. Cho nên con vẫn còn dính mắt với những cái công việc ở ngoài, với sự ưu tư của con, con thấy tự thân con như vậy. Trong cái sự tu tập của con, con nhận thức bản thân rất là kém cho nên con nghĩ đến như vậy con xin thưa với sư phụ, quý thầy, quý sư Ni, quý sư cô cùng các bậc hiền trí giúp cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Tâm xả này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm xả này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.