Thiền Tập - 16 Hơi Thở (Bản Đầy Đủ) - Giảng Kinh KIMBILA 2 - Kinh ĐA GIỚI 2
NIKĀYA THIỀN TẬP
16 HƠI THỞ (BẢN ĐẦY ĐỦ)
GIẢNG KINH KIMBILA 2
KINH ĐA GIỚI 2
–Thích Minh Thành–
Hành giả đi đến khu rừng, đi đến gốc cây hay đi đến ngôi nhà trống ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú chánh niệm trước mặt, thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng, rõ biết trước mặt. Tỉnh giác thở vô hít vào, tỉnh giác thở ra, hít vô dài rõ biết và thở ra dài rõ biết thở ra dài, hít vô ngắn rõ biết hít vô ngắn, thở ra ngắn rõ biết thở ra ngắn. Cảm nhận cảm giác toàn thân hít vô, cảm nhận cảm giác toàn thân thở ra, toàn thân an tịnh hít vô, an tịnh toàn thân thở ra.
Cảm giác vui mừng hít vô, cảm giác vui mừng thở ra, cảm giác vui nhè nhẹ hít vô, cảm thọ vui nhè nhẹ thở ra. Hít vào vui mừng, thở ra hoan hỉ, an lạc, an tịnh và an bình, an vui. Ngồi yên thật là dễ chịu, cảm giác thật là dễ chịu, cảm thọ thật lắng dịu, thật là hoan hỉ, thật là an lạc, cảm nhận cảm thọ, cảm giác tâm mình hít vào, cảm nhận sự vận hành của tâm thở ra. An tịnh thọ, tưởng hít vào, an tịnh thọ, tưởng thở ra, cảm giác về tâm hít vào, cảm nhận vào tâm hít vô, cảm nhận sâu sắc vào tâm thở ra, cảm nhận sâu sắc vào tâm hít vô, cảm nhận sâu sắc vào tâm thở ra. Với tâm hân hoan hít vô, với một cái tâm hân hoan thở ra, thật là hân hoan, thật là hoan hỉ, thật là vui hít vào, thật là dễ chịu, thật là mát dịu, thật là hân hoan thở ra. Thân an tịnh thật là dễ chịu, tâm lắng dịu thật là dễ chịu, cảm giác hỷ thọ thật là dễ chịu, thật là vui mừng, cảm giác lạc thọ thật là mát dịu, dễ chịu, hân hoan.
Với tâm hân hoan hít vào, với tâm hân hoan, hoan hỉ thở ra dễ chịu làm sao, mát dịu, hỷ lạc và bình an. Với tâm định tĩnh hít vào, với tâm định tỉĩnh thở ra, hít vào tâm an định, thở ra tâm định tĩnh, an định, định tĩnh, hít vào thở ra tâm an định, định tĩnh. An định, định tĩnh, với tâm thoát ra hít vào, thoát ra thân xác này, với tâm thoát ra cảm giác này, hít vào thở ra tâm thoát ra những hình bóng này, hít vào thở ra với tâm thoát ra những hình bóng cát tường, cái tâm thoát ra mọi suy nghĩ lầm thầm hít vào thở ra, với tâm thoát ra những sự rõ biết này hít vào thở ra, với tâm giải thoát hít vào, với tâm giải thoát thở ra.
Tâm thoát ra khỏi thân xác này, khỏi những cảnh sắc này hít vào, thở ra, tâm thoát ra khỏi những tứ đại bất tịnh, tật bệnh vô thường hít vào, thở ra, cái tâm thoát ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức này hít vào, thở ra. Hít vào, thở ra với tâm thoát ra, đẩy ra những sắc, đẩy ra những cảm giác này, những hình bóng, suy nghĩ này đẩy ra, tâm đẩy ra, thoát ra. Tâm đẩy ra. thoát ra, giải thoát đối với các thức này, các sự rõ biết này, thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này, tâm đẩy ra, thoát ra, giải thoát. Thấy rõ sự vô thường, sự bại hoại của thân xác này hít vào, nhìn rõ sự biến đổi, sự sanh diệt của các cảm thọ này hít vào, thở ra.
Quán chiếu tính chất đổi thay của các tưởng này, các suy nghĩ này hít vào, thở ra, quán vô thường đối với các nhận thức này, hít vào, thở ra. Chiêm nghiệm sự vô thường, biến đổi, biến hoại, tàn hoại của ngũ uẩn này hít vào, quán chiếu sâu sắc sự vô thường, tan hoại, biến hoại, hoại diệt của ngũ uẩn này thở ra. Tâm rời xa sự ham muốn đối với thân xác này hít vào, tâm không có ham muốn thân xác này thở ra, tâm rời xa sự ham muốn đối với những cảm giác hít vào, tâm rời xa sự ham muốn đối với những cảm giác thở ra. Tâm rời xa sự ham muốn đối với những hình bóng trong tâm hít vào, tâm rời xa sự ham muốn đối với những hình bóng, những tưởng bên trong thở ra, tâm ly tham đối với mọi suy nghĩ hít vào, tâm lìa tham đối với mọi suy nghĩ thở ra, tâm rời xa sự ham muốn đối với các nhận thức, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức này.
Tâm không có ham thích cái thấy này, không có ham thích cái nghe này, không có yêu thích cái ngửi, cái nếm này, không có tham sự xúc chạm, rõ biết này. Tâm lìa tham, ly tham, không tham với sắc; thọ; tưởng; hành; thức này vì chúng là những thứ vô thường, vì chúng là những thứ bại hoại, chúng là những thứ đoạn diệt, hoại diệt, tàn hoại. Thân xác này là thứ biến hoại, là thứ biến diệt, là thứ hoại diệt, là thứ diệt tận, cảm giác vui buồn điều này là thứ hoại diệt, thứ biến diệt, thứ sanh diệt, thứ diệt tận, là pháp tiêu ma, pháp đoạn diệt, pháp diệt tận, pháp hoại diệt. Nhìn sâu sắc vào tính chất này, để cho tâm cảm thọ thật là sâu sắc vào bản chất hoại diệt này, tan rã này, cái thứ đổ nát này, để cho tâm cảm thọ thật là sâu sắc những hình bóng tan biến, sanh diệt, biến hoại, đoạn diệt này, nhìn thật là sâu sắc vào nó, những hình ảnh, những hình bóng, những ám ảnh bên trong nhìn thật là sâu sắc vì nó sẽ tan biến, hình bóng nó sẽ biến diệt, hoại diệt, đoạn diệt.
Hít vào thở ra nhìn sâu sắc các tưởng, xuyên thủng và phá vỡ nó, đập đổ nó, chà đạp nó và bước qua nó. Nhìn sâu sắc vào các lời nói lầm thầm dòng suy tư này, thấy được tính chất đoạn diệt của nó, tính chất hoại diệt của những suy nghĩ, chính chất tàn diệt, sanh diệt, diệt tận của nó hít vào và thở ra. Nhìn kĩ cái thứ tan hoại, tan nát, huỷ hoại, hoại diệt này, nhìn sâu vào tính chất duyên sanh của các thức, tính chất kết hợp, lắp ráp, biến hoại, diệt tận, đoạn diệt của các sự thấy nghe ngửi, nếm, xúc biết này, hít vào và thở ra trong sự quán đoạn diệt.
Tâm từ bỏ sắc thân này hít vào, tâm từ bỏ thân xác này hít vào thở ra. Từ bỏ con mắt này, từ bỏ lỗ tai này, tâm từ bỏ lỗ mũi này, tâm từ bỏ cái lưỡi này, tâm hoàn toàn từ bỏ thân xác này, tâm hoàn toàn từ bỏ thân xác cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng vô thường, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt này. Tâm từ bỏ hít vào, tâm từ bỏ sắc thân này thở ra, tâm từ bỏ các cảm thọ, tâm từ bỏ các tưởng này, hít vào thở ra trong sự từ bỏ, tâm từ bỏ các dòng suy nghĩ thì thầm này, tâm từ bỏ các thức này, các sự rõ biết này, từ bỏ.
Sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không phải là của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Hãy từ bỏ chúng, thân xác này không phải là của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta, tâm từ bỏ chúng. Cái cảm giác này, hình bóng này, suy nghĩ này, nhận thức này không phải là của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Tâm từ bỏ chúng, từ bỏ chúng tâm được an lạc, tâm giải thoát mọi khổ đau.
"Ở đây, này Rahula, vị Tỳ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết: 'Tôi thở vô dài'; hay thở ra dài, vị ấy biết 'Tôi thở ra dài'; hay thở vô ngắn, vị ấy biết: 'Tôi thở vô ngắn'; hay thở ra ngắn, vị ấy biết: 'Tôi thở ra ngắn'. 'Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô,' vị ấy tập. 'Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. 'An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập.
'Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập. 'Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Cảm giác tâm hành (Cittasankhara), tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập. 'An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập.
'Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. 'Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập. 'Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. 'Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. 'Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. 'Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. 'Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. 'Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập.
'Quán vô thường, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Quán vô thường, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập. 'Quán ly tham, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Quán ly tham, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập. 'Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập 'Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập'." (Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát
Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền thánh Tăng, bậc đạo sư pháp nhãn thù thắng là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Đảnh lễ thánh giới tối thượng đem lại bình an và giải thoát cho muôn loài.
Kính bạch chư tôn, chư hiền hôm nay chúng ta thực tập mười sáu hơi thở trong bài kinh Đại Kinh Giáo Giới La-hầu-la. Bài thiền tập này là đầy đủ nên chúng ta hành thiền có thể mở lên nương theo bài đó để mình thực tập mười sáu hơi thở. Thế Tôn bảo ngài La-hầu-la:
"Tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy, này Rahula, làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. Này Rahula, tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy, làm cho sung mãn như vậy, thời khi những hơi thở vô, hơi thở ra tối hậu chấm dứt, chứng được giác tri, không phải không được giác tri." (Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)
Chữ "giác tri" ở đây là rõ biết được mình chấm dứt sinh mạng đó, bốn hơi thở đầu là niệm thân, bốn hơi thở kế là niệm thọ, bốn hơi thở sau là niệm tâm và bốn hơi thở cuối cùng là niệm pháp. Vì cái những bài kinh này rất là thâm sâu cho nên đợi đến bây giờ thì chúng ta mới thực tập, trong sự thực tập này nó vừa chỉ và quán, vừa định và tuệ nên nó sẽ quân bình trong cái thời thiền của chúng ta. Trước nay chúng ta thực tập thiền quán nhiều là để cho thành tựu chánh kiến để thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, sự duyên sanh, sự vận hành, tên tuổi, mặt mũi, tánh tình, tính chất và bây giờ chúng ta đã tương đối nắm được cho nên giờ chúng ta đi vào những cái pháp tăng thượng hơn, cao thượng hơn để cho chỉ quán quân bình, định huệ song vận.
Ở khóa tu ở ngoài chùa Đồng - Pháp Hoa Tự, Hà Nội con có chia sẻ hai buổi về mười sáu hơi thở, thực tập một buổi gọn, một buổi vừa và bữa hôm nay là bữa đầy đủ nhất thành ba buổi rồi. Ba cái buổi này có thể cho cúng dường lên chư tôn và chư hiền để thực tập mỗi lúc ngồi thiền, chúng ta có một cái bài gọn, bài vừa và bài bữa nay là bài đầy đủ với các bài kinh Kimbila, bài kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm, Đại Kinh Giáo Giới La-hầu-la. Khóa tu ở Hà Nội đã giảng giải sơ lược về thân và thọ, những có hơi thở, niệm thân, niệm thọ, chúng ta sẽ bổ túc một chút về phần niệm tâm, niệm pháp.
Chúng ta thấy những cái hơi thở đầu làm cho hơi thở lắng dịu cho nên khi mình học cái này rồi mình mới thấy cái trí tuệ của bậc đạo sư. Khi ngài thiền ngài kêu là cảm nhận hơi thở là nói tắt của bốn hơi thở đầu đó, cảm giác toàn thân và an tịnh, lắng dịu là nói tắc của bốn hơi thở kế. Chúng ta mới thấy cái sự quán triệt, uyên bác thâm sâu của ngài vì ngài không có thời gian nhiều để chia sẻ cho mình nhưng mình thực hành mình sẽ hiểu ra được, sau cảm giác hơi thở, cảm giác cơ thể, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu là mười hơi thở đầu. Những cái câu hết sức đơn giản như vậy là tinh túy, tinh hoa ở trong mười sáu hơi thở.
Đến cái đoạn cảm giác hỷ thọ tôi sẽ thở vô, tôi sẽ thở ra, cảm giác lạc thọ tôi sẽ thở vô, thở ra, lúc đó chúng ta có thấy hỷ lạc không? Có thấy dễ chịu không? Có cảm nhận được không? Chỗ này là cái chỗ càng ngày càng vi tế, cái thiền lệnh đi tới đâu là tâm mình đi theo tới đó, nó đòi hỏi người này phải rất là ít năm triền cái, không có năm triền cái, không thôi là nói gì nói tâm trơ trơ. Thí dụ tới cái chỗ cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vô thở ra thì lúc đó lập tức khi cái thiền lệnh nó ra là lập tức mình cảm giác được toàn bộ cơ thể mình, chúng ta có theo kịp không? Phải tập thêm nhiều lần nữa, vừa nói là cảm giác toàn thân hít vô là lập tức ngay đó là mình nhất nhất y như lệnh, cái thiền lệnh đưa ra cái là mình tùy văn nhập quán đi theo cái đó lập tức liền thì đó là sự thiện xảo trong khi mình thực tập thiền.
Còn nói mà mình cứ thoải mái, cứ để tự nhiên thì thôi rồi, không có thiền gì hết, tới chỗ an tịnh thân hành hít vô, an tịnh thân hành thở ra thì lập tức ở chỗ đó mình cảm thấy tất cả toàn bộ sự vận hành trong cơ thể của mình từ cái hơi thở cho đến thân. Có những chỗ bản kinh giải thích thân hành tức là hơi thở nhưng ở đây cái nghĩa rộng là nó toàn bộ cơ thể luôn, vừa hơi thở và cơ thể, khi mà nói thân hành là hơi thở là nói vắn tắt, nói cái vi tế, còn cái nghĩa của cái chữ thân hành là những cái vận hành của thân thì lúc đó hoàn toàn tất cả đầu, mặt, tay, chân, mũi, miệng, mắt, tất cả cơ thể toàn thân từ đảnh tóc tới gót chân của mình an tịnh thân hành. Khi đưa ra cái thiền lệnh an tịnh thân hành lập tức tất cả sự vận hành trong thân mình an tịnh xuống, lắng dịu xuống, đó chỉ là hai chữ thôi, dễ nghe, dễ bảo, dễ dạy thôi đó.
Cho nên hai cái chữ này là lớn lắm, là bí quyết để Nhập Lưu đó, nghe lời thôi vì những cái này nó là định lý giải thoát, nó là pháp lệnh, thiền lệnh, là thánh lệnh thì khi đưa ra là đi theo thôi chứ không có ý kiến gì hết. Đặc biệt học Nikāya là vậy đó, ý kiến với phàm phu còn đối với bậc thánh không có ý kiến, chịu thì thể nhập pháp, Nhập Lưu, còn không chịu thì ngoại lưu, ngoại phàm, vậy thôi. Đặc biệt của Nikāya là vậy, mình tu học mấy cái khác mình ý kiến đủ thứ hết, còn cái này không có, chỉ nghe lời thôi, chấp nhận học pháp thì Đức Phật nói tới đâu tâm mình đi tới đó. Khi đi vào các tầng thiền cũng vậy, hướng đến sơ thiền hay là đi vào sơ thiền, hay các tầng thiền cũng vậy, thiền lệnh đưa tới đâu là tâm đi tới đó. Như vậy một cái sự nghe lời của tâm vi tế lắm, vi tế cực kỳ luôn, đó là cái tâm nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, những cái câu từ đó không phải là dễ hiểu.
Nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, cảm giác hỷ thọ hít vô, cảm giác hỷ thọ thở ra lập tức ngay chỗ đó mình có cảm giác hỷ liền, sanh khởi lên cảm giác hỷ liền. Hồi nãy chúng ta làm được bao nhiêu phần trăm? Thành ra khi mình học sâu vào đó mình thực hành thì mình mới thấy là nó khác lắm, hỷ là nó mừng còn lạc là vui. Hỷ là vui mừng, còn chữ lạc á là nó vui nhè nhẹ, khi cảm giác tâm hành, những cái thọ; tưởng; hành phải cảm nhận một cách đầy đủ, tới đó mình cảm nhận, an tịnh tâm hành mình hít vô, an tịnh tâm hành thở ra thì ngay lúc đó cảm nhận xong rồi là an tịnh hết thọ; tưởng; hành an tịnh.
Thiền lệnh, pháp lệnh, thánh lệnh tới đâu là tâm đi theo tới đó, tâm ngoan không? Tâm ngoan vậy được chứ, như vậy mới gọi là thánh đệ tử, Thế Tôn nói tới đâu là tâm các vị đi tới đó, nói tới đâu là tâm đi theo tới đó gọi là Phật tới đâu là thầy tới đâu đó, thầy tới đâu là con tới đó. Nhất trí không? Phật tới đâu là bậc đạo sư tới đó, bậc đạo sư tới đâu là mình tới đó cho nên khi mình tu học trong này nó vi tế lắm, cực kỳ vi tế, nhỏ nhiệm lắm, đây là gọi là cái trí tế nhị.
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng ...
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Này các Tỳ-kheo, đây là bốn trí tế nhị" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (VI). Trí Tế Nhị)
Khi mình học mình nhận diện được ngũ uẩn rồi mình nhìn ra các cảm thọ, các tưởng, các hành, các thức rồi đi vào trong những cái pháp sâu sắc này bắt đầu là xuyên thủng và phá vỡ nó, thoát ra nó. Chúng ta thấy cả một cái công trình, cả một cái đạo lộ, cả một cái sự tuần tự chứ đâu phải nhảy vô bỏ sắc; thọ; tưởng; hành; thức liền, biết gì đâu mà bỏ. Bây giờ với tâm hân hoan hít vô, với tâm hân hoan thở ra, lúc đó mình có hân hoan không? Khi kêu hân hoan mình ngồi đơ đơ có gì đâu vui, có người kêu cái là vui được liền, phải tác ý thêm, thành ra cái này mà mấy người mới toan đến chùa sao mà nói được, mấy người học những cái kiến thức thông thường bên ngoài làm sao nói được.
Hồi xưa con đọc cái này như vịt nghe sấm vậy đó, nghe mười năm mà không hiểu cái gì, cứ thở vô thở ra, vị ấy tập thở vô thở ra, không muốn nghe nữa, ngắn quá trời rất, sao mà nói gì nói hoài có nhiêu đó. Tới bây giờ mới thấy quá tuyệt vời, đây là thánh đạo, thánh giải thoát, bởi vì cái tâm vô minh của mình nó ngu si, nghe mười năm, mười lăm năm mà không biết gì hết, nghe như vịt nghe sấm. Cái tâm định tĩnh rồi tới cái tâm giải thoát, mình thở vô thở ra, hít vô thở ra tới lúc cái tâm định tĩnh đó mình có thấy định không? Tới cái tâm giải thoát mình có thấy nó thoát ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không? Có cảm nhận được không?
Nó sanh khởi lên cái cảm thọ đó là cái tâm thoát ra cái thân xác này, mình tập những cái này quen rồi mai mốt tới chừng mình gặp tai nạn, tới chừng mình sắp chết là mình thoát ra cái một tại vì đã lão luyện rồi, nó nhu nhuyến, nó thiện xảo, nó điêu luyện ở trong cái sự thoát ra đó. Tại sao mình phải tu cái này? Vì mai mốt cần mình thoát ra cái một cho nên mình nhớ Đức Thế Tôn trong kinh Trường Bộ ngài bị đau dữ dội lắm, khủng khiếp lắm nhưng ngài nhiếp phục các cảm thọ và không tác ý tất cả tướng thì lúc đó được cái thân này thoải mái cho nên tu cái định này là vô tướng giải thoát định, vô lượng tâm định là lúc đó mình định một cái tâm vô lượng, vô biên, không có thân, đi ra khỏi thân, đi ra khỏi tất cả những cái sắc pháp, trong một cái định lớn vĩ đại trống không, rộng lớn, vô lượng tâm định. Ngài Maha Ca-diếp thường định trong cái định này và thọ trai cho nên chư thiên rất thích cúng dường cho ngài và phước khủng khiếp lắm, phước vô lượng lắm, vô lượng tâm định.
Nhiều khi bị con kiến cắn là thấy rõ ràng cái thân, nhiếp phục được những cảm thọ, tập thoát ra khỏi thân, xuất ra khỏi thân, đi ra khỏi thân. Chúng ta phải tập từ từ, phải tập, câu nào cũng có câu "vị ấy tập " con lượt bớt sợ đọc quý vị chán vì ngôn ngữ hồi xưa nó khác, ngôn ngữ bây giờ nó khác. Cái ngôn ngữ bây giờ mà mình nói giống như hồi xưa thì người ta sẽ có cái thọ khác cho nên phải dùng ngôn ngữ bây giờ nhưng cái ý nó không thay đổi, làm sáng tỏ lên. Hít vô thở ra quán vô thường, cho nên mình biết được những cái này, khi mình đi đám tang, khi mình gặp tai nạn, khi mình gặp những người thân có chuyện lập tức mình trở về cái hơi thở liền, mình trú trong cái quán vô thường đó và như vậy có khả năng đang lúc tụng đám tang thể nhập vô chánh tri kiến Dự Lưu luôn, ngay lúc đám tang.
Mình tập tới tập lui, tập đi tập lại, tập ngày tập đêm, tập tuần tập tháng, tập quý tập năm, tập ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, hai mươi năm, mình tập tới lúc mình thở ra một cái thì Đức Thế Tôn nói rõ biết giác tri chứ không phải là không giác tri. Rõ biết là mình từ bỏ thân, từ bỏ thọ; tưởng; hành; thức, chữ "giác tri" tức là đi vào thánh đạo, thánh quả đó, rõ biết là mình từ bỏ sắc; thọ; tưởng; hành; thức, rõ biết vô thường, khổ, vô ngã, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, mình rõ biết, mình phải tập quán trong cái hơi thở đó. Tại vì cái hơi thở đó lúc nào nó cũng có hết nhưng bậc đạo sư chú trọng vô cái cảm giác toàn thân, mình mượn hơi thở để mình đi vào trong cái cảm giác, do hơi thở có động chuyển cho nên dễ nhớ, còn nhiều khi cái cảm giác không có hình tướng, cái gì mình cũng dễ quên, mình nghe có hơi thở vô ra cái mình quay chở về cảm giác liền cho nên cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, đó là đi vào.
Mình mượn cái hời thở để mình rất dễ nhớ. Thí dụ có những lúc mình cần phải triển khai cái hơi thở ly tham thì lúc đó mình lấy cái hơi thở đó ra, lấy cái pháp quán đó ra, cần cái hơi thở quán về đoạn diệt, về tan hoại. Chữ "đoạn diệt" là chữ Hán, tiếng Việt của mình dùng cái từ nào cho nó dễ hiểu, đoạn diệt tiếng Việt của mình tan nát, huỷ hoại, hoại diệt, tiêu tan, tan tành, còn chữ đoạn diệt thì nhiều khi không hiểu là cái gì, đó là Hán Việt. Đoạn là dứt, diệt là hết, hoại diệt là dứt hết, là tan rã, là tan hoang, là tan tành, là tan nát, là cái lúc mình phải thở cái hơi thở đó, thở cái hơi thở là tan nát, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt, tan tành, tan dụng, tan hoang, không có gì hết. Thở cái hơi thở từ bỏ, hít vô từ bỏ thân xác này, thở ra từ bỏ thân xác này, cảm giác này, từ bỏ, cái từ bỏ này hay lắm, vi diệu lắm, đang nổi nóng lên "từ bỏ cảm giác này, chết đi, cho mày chết", rồi xong, hết liền ngay lập tức, thoát ra khỏi cảm giác đó. Đang muốn hơn thua vậy thì quán từ bỏ "có ai ở đây mà hơn, có ai đây mà thua, ai ở đây mà cao, ai ở đây mà thấp, từ bỏ, chết ngay lập tức".
Triển khai cái thiền quán đó thì lập tức nó thoát ra, sống bỏ mọi thắng bại hết, tâm mình đạt được tịch tịnh. Trong cái bài kinh vừa rồi con chia sẻ ngoài khóa tu Hà Nội có giải thích chữ "chân nhân tịch tịnh", bậc chân nhân tịch tịnh ở đời tu tập như vậy.
"Này Ananda, Ta tuyên bố rằng sự tu tập chánh niệm hơi thở vô, hơi thở ra không phải cho người thất niệm và không tỉnh giác. Do vậy, này Ananda, quán tâm trên tâm, Tỳ-kheo trong khi ấy, trú nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương X. Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra, I. Phẩm Một Pháp, X. Kimbila)
Như vậy người phải chánh niệm và tỉnh giác thì mới tu tập được hơi thở vô hơi thở ra, cảm giác toàn thân.
"Này Ananda, Ta tuyên bố rằng, tùy thuộc về thân, tức là hơi thở vô, hơi thở ra. Do vậy, này Ananda, quán thân trên thân, Tỳ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Này Ananda, Ta tuyên bố rằng, tùy thuộc về thọ, tức là hơi thở vô, hơi thở ra, được khéo tác ý. Do vậy, này Ananda, quán thọ trên các cảm thọ, Tỳ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Này Ananda, Ta tuyên bố rằng sự tu tập chánh niệm hơi thở vô, hơi thở ra không phải cho người thất niệm và không tỉnh giác. Do vậy, này Ananda, quán tâm trên tâm, Tỳ-kheo trong khi ấy, trú nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Trong khi quán pháp trên các pháp, này Ananda, Tỳ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời, đoạn tận các tham ưu; sau khi thấy với trí tuệ, vị ấy khéo trú xả. Do vậy, này Ananda, quán pháp trên các pháp, Tỳ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương X. Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra, I. Phẩm Một Pháp, X. Kimbila)
Con hay nói địa chỉ thường trú của người tu mình là xả, an trú trong cái tâm xả, tâm buông bỏ là tâm hạnh phúc. Khi con ra cái chỗ ao nước mà mấy người đó kêu đi lại gọi hồn, kêu vong thì đọc bài xả chấp thân, khi vào chỗ đám tang thì đọc từ vô lượng tâm, khi tới cúng cơm đọc bi vô lượng tâm, khi ra tới cái chỗ mà mấy người đó kêu gọi hồn, kêu vong đọc cái bài xả chấp thân. Mình không bỏ giờ thì mai mốt tới chết mình cũng bỏ à, bỏ giờ đi, mốt chết khỏi bỏ nữa, khỏi kiếm ai lại kêu bỏ giùm. Nhất trí không? Không cần kiếm thầy, kiếm cô, kiếm ai lại phụ kêu bỏ, tự mình có khả năng từ bỏ, tâm buông bỏ là tâm hạnh phúc. Con nói thí dụ trưa nay mình có cái buổi pháp đó, nếu cái người có ý niệm mà ám ảnh tới giờ ăn cơm rồi thì cái người đó là khổ, còn người có ý niệm bữa nay bỏ cơm một bữa không có chết, pháp quan trọng hơn cơm. Nhất trí không?
Pháp vị thắng mọi vị thì người đó hạnh phúc, người đó ngồi suốt thời pháp hạnh phúc mà cái người không có buông bỏ cái tâm đi ăn cơm thì người này không có hạnh phúc, có khổ thọ. Cái tâm buông bỏ bất cứ chỗ nào là lúc đó tâm hạnh phúc cho nên hồi nãy phần cuối lúc quán từ bỏ là con cho từ bỏ sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Bất cứ mình ngồi rảnh ở đâu đó mình niệm "từ bỏ con mắt này, tâm từ bỏ lỗ mũi này, từ bỏ gương mặt này, từ bỏ cái miệng, cái lưỡi này, từ bỏ cái tâm chấp thủ vô vật chất, vô ăn uống, vô ngủ nghỉ", giờ nào cũng là giờ tu hết, không có nghĩ rằng "tới 2h30 mới tu, giờ này 1h mà tu cái gì". Tâm nó là tâm chấp, "tới ngày thứ hai mới tu chứ hôm nay chủ nhật mà", tâm chấp thì đau khổ, "giờ này tới giờ ăn cơm", chấp là khổ.
Giờ nào cũng là giờ hành pháp hết, chỉ có pháp mới là tối thượng, pháp còn hơn sinh mạng của mình. Nhất trí không? Một cái tâm như vậy thì mình mới có được cái sự tuyệt vời, giống như giờ chúng ta đang thưởng thức một giây phút còn hơn thần tiên, người ta dưới Sài Gòn hơn 40 độ đó. Tâm buông xả là tâm của thần tiên, của hiền thánh, tập sống với ngay cái hiện tại này, ngay đây, hiện giờ, không có đem ngày hôm qua đối chiếu ngày hôm nay, không có đem một chút nữa để làm cái gì, chỉ ngay chỗ hiện tại này thôi. Một chút có ngã ra chết cũng được nữa, cũng mỉm cười nữa, cũng mãn nguyện, mình hành pháp mà chút mình ngã ra chết thì chúc mừng, vinh hạnh, vinh quang, vinh dự, vinh hiển, quang tông diệu tổ ông bà, cha mẹ bảy đời, "Nhất nhân hành đạo cửu huyền thăng".
Lâu lâu con bất thình lình cho thử 12h00 đêm đánh trống tập trung chúng hết lên thiền quán, lâu lâu làm thử là biết liền. Bất thình lình 2h00 đêm đánh chuông beng beng lên tập trung thiền quán, còn nếu "thầy nói nhanh quá con không chuẩn bị kịp" thì chết có nói cho chuẩn bị trước không? Chết có báo trước ba tiếng nữa chết không? Sao đòi phải cho tôi biết trước chuẩn bị, tu mà phải chuẩn bị. Thở có chuẩn bị không? "Để tôi chuẩn bị rồi tôi thở", bất cứ lúc nào tu được là cứ tu cho nên hồi trưa này là con tính ngưng rồi đó mà con thấy còn được nên cho thêm nữa. Mình ngồi tu mà mình có chết ngay chỗ này là một phước đức rất là lớn, tâm này là tâm cao thượng của nhân thiên cho nên sau khi thấy với trí tuệ vị ấy khéo trú xả.
"Ví như, này Ananda, một đống rác bụi lớn ở ngã tư đường, nếu từ phương Ðông, một cái xe (sakatam hay ràtha) đi đến và làm cho đống rác bụi ấy giảm bớt đi; nếu từ phương Tây...; nếu từ phương Bắc...; nếu từ phương Nam, một cái xe đi đến và làm cho đống rác bụi ấy giảm bớt đi. Cũng vậy, này Ananda, Tỳ-kheo trong khi trú, quán thân trên thân, làm cho giảm bớt đi các ác, bất thiện pháp, khi trú, quán thọ trên các cảm thọ... khi trú, quán tâm trên tâm... khi trú, quán pháp trên các pháp... làm cho giảm bớt đi các ác, bất thiện pháp" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương X. Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra, I. Phẩm Một Pháp, X. Kimbila)
Quá tuyệt vời luôn, trong khi trú quán thân trên thân làm cho giảm bớt đi các ác bất thiện pháp, giống như cho cái xe rác đó lấy đi một ít, khi trú quán thọ trên các thọ làm giảm bớt đi các ác bất thiện pháp, khi trú quán tâm trên tâm xe rác tới hốt một mớ nữa, khi quán pháp trên các pháp xe rác tới hốt thêm mới nữa. Hốt hết rác thì khỏe re vì sạch hết rác. Bây giờ muốn để rác nhiều hay là muốn hốt bớt? Muốn bớt thì tu Tứ Niệm Xứ trong từng hơi thở, không phải đợi tới cái ngày cho mở bài quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp thì mới quán mà phải quán trong từng hơi thở. Mỗi hơi thở và mỗi cảm thọ là hốt rác, là quăng rác, là liệng rác, là bỏ rác, là từ bỏ các ác và bất thiện pháp, rác bẩn của nội tâm.
Vì an lạc quá rồi không muốn ngồi dậy, không muốn đi vô, muốn ngồi đây, mười tỷ người trên hành tinh mà giờ phút này có mấy người được ngồi như vậy.
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên các chư vị hiền giả. Từ khi con học thì con cũng có lướt trên mạng con thấy bậc đạo sư cũng có dạy mười sáu hơi thở nhưng trong thời gian con học ở đây thì con thấy căn cơ của con chưa có thể chạm đến được cái đó nên con quyết định không có nghe. Và cho đến hôm nay con được sư phụ hướng dẫn niệm mười sáu hơi thở, mới bước vào thì có một con kiến bu trên mặt của con thì con thấy khó chịu, con quơ nó xuống nhưng sau lúc đó là con nghe sư phụ dẫn vào hơi thở, từng bước, từng bước con hướng theo lời hướng dẫn của sư phụ. Con cũng vừa tác ý thêm, sư phụ hướng dẫn tới đâu thì bốn hơi thở đầu thì con cũng quán thân, rồi tới quán thọ, tới quán tâm, quán pháp.
Bắt đầu khi sư phụ nói thì con cũng dẫn cái tâm con theo, con cứ để cho con kiến chạy qua, chạy lại, chạy quanh mặt, rồi chạy quanh cái mắt kính của con. Lúc đầu con cảm thấy khó chịu nhưng sau khi nghe sư phụ hướng dẫn tới thì bắt đầu con cũng tác ý, con nói là "bây giờ cho mày chạy hoài, nếu mà mày có cắn thì đau một cái hoặc là sưng một cái thôi chứ mắc gì mà mày cứ theo dõi nó chi. Trú tâm vô lời hướng dẫn của sư phụ để tiếp tục rồi đi tới". Con thấy niềm hỷ lạc, hồi nãy sư phụ hỏi là khi thở như vậy mình có hỉ, có lạc hay không thì con khẳng định là tám mươi tại vì nếu như mà con không được tám mươi phần trăm là cơ thể con sẽ bị tê, chân con nó tê thì lúc đó là cái sự thúc giục của con là con dao động. Sau khi con hỷ lạc vui quá nên cái chân con nó không có tê, cái lưng con cũng không có mỏi, đến lúc con khẳng định được tám mươi phần trăm tại vì con không còn để cho con kiến đó làm cho con phải khó chịu và con cũng tác ý rất là mạnh mẽ là "cho mày cắn luôn, cho mày sưng luôn, tao cứ ngồi hỷ lạc rồi tiếp tục nghe pháp".
Cho đến phút hiện tại bây giờ sư phụ kêu con là con vẫn còn hỷ lạc, con vẫn còn hoan hỉ và con thấy đến thời điểm này thì con nghe mười sáu pháp này nó là tuyệt vời, bất định, đúng lúc như vậy là con có thể tiếp tục tu tập để có thể thể nhập vào cái dòng chánh pháp này. Đó là những điều mà con muốn nói hôm nay. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và các hiền trí. Cảm thọ của con hôm nay con cảm thấy rất là hoan hỉ, được ngồi đây trực tiếp nghe sư phụ giảng. Tưởng của con là con nhớ lại những ngày qua, những cái lúc rảnh con cảm thấy rất là nhớ sư phụ khi sư phụ đi vắng mười mấy ngày. Lúc con nhớ sư phụ như vậy cái hình bóng sư phụ hiện lên trong con, lúc thì ở cây giác ngộ, lúc ở trên Cổng Trời và những lời giảng của sư phụ cứ vang vẳng trong tâm con. Lúc không có sư phụ ở nhà con nhớ đến sư phụ như vậy thì con mới cảm thấy trân quý những lúc có sư phụ ở gần, và được ngồi trực tiếp nghe sư phụ giảng.
Khi ngồi trực tiếp nghe như vậy con cảm nhận được cái từ trường ở nơi sư phụ cho nên cái tâm con rất là được an lạc, cứ mỗi lần sư phụ giảng trực tiếp con đều được như vậy. Bởi là con nhớ sư phụ có nói từ lúc mười mấy tuổi là sư phụ đã xuất gia và cho đến tận bây giờ chưa bao giờ sư phụ dám phạm những cái oai nghi dù nhỏ, khi phạm như vậy sư phụ biết và không để cho nó phạm những cái lỗi như vậy. Cho nên một người chân tu giữ giới, giữ oai nghi mấy chục năm như vậy thì cái công đức nó rất là lớn vì thế khi ngồi gần thì cảm nhận được cái từ trường đó. Bởi vậy cho nên con rất là trân quý, con cảm thấy con có lỗi với sư phụ và con cảm thấy hối hận trước đây khi sư phụ ở nhà thì con cảm thấy nó bình thường, cho nên mỗi buổi chiều nghe pháp con ham muốn được đi xuống, cho nên con cứ nhìn đồng hồ, cứ tới 5h00 là trong tâm con cứ nói "sư phụ ơi nghỉ được rồi 5h00 rồi".
Trong tâm con thường nói như vậy nhưng mà bây giờ thì con mới biết, con hiểu, con trân quý cho nên giờ cho dù tối nhưng con không có nhìn đồng hồ mà tâm con cũng không có thúc giục đi xuống, con rất là muốn được nghe sư phụ giảng. Qua cái bài giảng của sư phụ con cũng nghĩ cái thân này, sắc thân ngũ uẩn này nó vô thường, vô ngã, là khổ, thân con được làm bằng đất, nước, gió, lửa, những da thịt, xương, gân, những tim, gan, phổi, ruột, những thứ bằng chất đặc nó làm bằng đất, những máu, nước tiểu, nước mắt, nước mũi, chất lỏng nó làm bằng nước, hơi thở, những cửa chỉ đi lại là gió, hơi ấm là lửa. Con phân tích ra thì không có cái gì là còn cả, sắc thân này nó vô thường, từng hơi thở nó sanh rồi diệt, mượn rồi trả, nó cứ liên tục như vậy là vô thương, vô ngã.
Thọ lúc thì cảm giác vui, lúc thì buồn, lúc thì dễ chịu, lúc khó chịu, cái thọ này cũng vô thường, là khổ, là vô ngã. Những cái hình bóng trong tâm lúc thì hiện lên cái này, lúc hiện lên cái nọ, nhớ về cái này, nhớ về cái kia, nó cũng là vô thường, sanh diệt. Những cái suy nghĩ cũng vậy, hết suy nghĩ cái này đến suy nghĩ cái khác, cũng nó sanh diệt, vô thường. Cái thức cũng như vậy, nó rõ biết hết những cái thọ; tưởng; hành, hết cái này xong đến cái nọ thì cũng tất cả đều là vô thường, vô ngã, nó không có gì là thật cả cho nên sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngã của ta. Khi con suy nghĩ như vậy, con quán tưởng và con muốn thoát ra, thức là con rõ biết những cái thọ; tưởng; hành ở trong con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Bỏ nhà, bỏ ăn, bỏ mặc, bỏ chơi, giờ này mình quán chiếu thử coi mấy người đi làm có những chỗ người ta không cho đi tiểu luôn, phải tới giờ mới được đi chứ không phải muốn đi là đi, có những người chết gục ở trên bàn làm việc ở một số nước. Mọi người có thấy hạnh phúc không? Lâu lâu quý thầy, quý Ni sư phải cho như vầy chứ còn riết nó giống cái máy, cái tâm mình rất là dễ chấp thủ, hễ cái giờ đó là y giờ đó, sai giờ khác là không được. Lâu lâu mình phải phá cái lề lối thông thường bằng cái thiện pháp chứ không phải là phá quy cũ.
Chúng ta thấy ngồi ở trong nhà tu với ra đây có khác nhau nhiều không ạ? Không ăn thấy nó có nhẹ, khỏe hơn nhiều không ạ? Chú Tân có nhẹ khỏe không chú? Cố gắng sao mà từ nay về sau chúng ta tập mười lăm phút có cái tiếng chuông, bất cứ chỗ nào, Tăng xá, Ni xá, Vân Thủy Đường, Thánh Pháp Viện, tất cả các chỗ thư viện, chỗ khách ở cứ mười lăm phút có tiếng chuông lên. Và khi tiếng chung vang lên là phải thực tập sự tỉnh lặng, lắng dịu, cái nào hay là mình sẽ học, cái này rất tốt để nhắc nhở mình. Con thấy dưới nhà bếp còn ồn lắm, lâu lâu nghe ồn lắm, ở trong Vân Thủy đường cũng vậy, cần thực tập thêm nữa.
Nhìn cái này sao giống thời Đức Phật vậy ta, có thấy giống không? Con nhà tông không giống lông cũng phải giống cánh, tu sao mà giống Phật là được à. Nhất trí không? Không cần giống ai hết, biết bao nhiêu bài kinh để cho chúng ta học, đúng ra hồi sáng con đi về Cô Phong Đảnh rồi, không có hai cái buổi pháp này đâu, bài kinh Đa Giới hôm trước chúng ta học chưa có xong.
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về giới?'
-- Có thể có, này Ananda. Này Ananda, có sáu giới này: dục giới, ly dục giới, sân giới, vô sân giới, hại giới, bất hại giới. Này Ananda, cho đến khi biết được, thấy được sáu giới này, cho đến mức độ như vậy, này Ananda, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về giới'." (Trung Bộ Kinh, 115. Kinh Ða giới)
Con thật sự muốn ở Linh Quy này có pháp âm vang dội suốt ngày đêm trừ khi ngồi thiền, không lúc nào tắt tiếng pháp hết trừ lúc ngồi thiền. Một ngày phải cho chúng ta học từ bốn tiếng cho đến sáu tiếng, tám tiếng, trú trong pháp hoài vậy đó rồi còn lại là thiền định. Thiền định thì mạnh ai nấy ngồi được hoặc tập trung lại một hoặc hai lần, một ngày ngồi thiền hai tiếng còn lại sáu tiếng, tám tiếng là nghe pháp, chỉ làm vậy thôi. Tâm ý con là vậy đó, trú trong pháp thôi đừng có đi ra pháp vì đi ra pháp là có tham, sân, si, có bản ngã, có sầu, bi, khổ, ưu, não.
Mình phải biết mình đang ở trong lãnh vực nào, mình đang ở trong cái giới vức, cái phạm trù của ham muốn, của dục hay là trong lúc đó cái tâm mình được ly dục. Mình phải biết là mình đang đứng ở chỗ nào, trong lúc đó cảm thọ mình ở trong dục tham hay là trong lúc đó cảm thọ mình rời khỏi dục tham, mình phải biết trong lúc đó bên trong cái cảm giác của mình là giận, là sân, hay là bên trong cảm giác là ly sân, không có giận, mình phải biết có giận hay là không giận, có sân hay là không sân, có khó chịu hay là không khó chịu, mình phải biết cảm thọ. Lúc đó là tâm mình có hại hay là không có hại, hay là bất hại, hay là vô hại, chẳng hạn như giờ con kiến bò lên mình, con muỗi chích mình là những cái rất nhỏ thì tâm mình có hại không.
Khi mình biết được như vậy hay lắm, nó sẽ chặn đứng lại cái tâm hại, bây giờ mình có một cái sự bực bội, khó chịu, mình muốn đuổi nó ra, mình muốn phủi cho mạnh để nó văng ra cho hả dạ hay là cái tâm mình hoàn toàn an trú cảm giác toàn thân, quay vào bên trong và tâm bất hại, vô hại. Mình nghe tưởng đâu có gì cao siêu, khó khăn nhưng mà mình thực tế đó, thực tiễn đó, thiết thực ở trong cái sinh hoạt thì nó rõ ràng lắm. Mình nghe một cái lời nói thì tâm mình có khó chịu không hay là không có khó chịu, đó là thiện xảo về giới chứ có cái gì đâu. Mình thấy một cái hành động đó vừa lòng hay là không vừa lòng, thấy một cái người đẹp, cảnh đẹp, đồ đẹp đó có muốn hay là không có muốn thì đó là thiện xảo về giới đó.
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về giới?'
-- Có thể có, này Ananda. Này Ananda, có ba giới này: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Này Ananda, cho đến khi biết được, thấy được ba giới này, cho đến mức độ như vậy, này Ananda, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về giới'." (Trung Bộ Kinh, 115. Kinh Ða giới)
Nói cho dễ hiểu để mình ứng dụng, những suy nghĩ, những hình bóng, những cảm thọ, những nhận thức bị ám ảnh ở trong sắc; thanh; hương; vị; xúc thì đó là tâm ở trong dục giới, tâm ở trong lãnh vực của dục, phạm trù của dục, giới vức của dục, thế giới của dục. Cái tâm mình nhàm chán đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc muốn lìa xa, muốn thoát ra, muốn yểm ly, muốn ly tham thì lúc đó là cái tâm mình ly dục giới nó ngay. Ngay hiện giờ luôn cái người đói bụng muốn ăn cơm mà vô chế mì, hủ tiếu thì cái đó là dục giới, giữ cái hình bóng, giữ cái cảm thọ đó, giữ cái suy nghĩ đó không xả ra được thì cái đó là ở trong dục giới. Mọi người có sáng ra không? Rõ ràng không?
Bữa nay mình tu, bữa nay mình được thoát ra những cái tầm thường, những cái bình thường, những cái thường ngày đó và tâm mình an trú ngay cái pháp an tịnh, lắng dịu, dễ chịu thì cái đó là tâm ly dục giới. Vẫn ngồi y vậy mà cái cảm thọ ê ru ở trong, trong này nó không có gợn gợn, hay là nó không có cái sự nôn nao "tới giờ rồi", cái tâm nó an, nó im thì đang ở trong pháp ly dục giới. Hỷ lạc sanh thì trạng thái hướng về sơ thiền và tác ý luôn thêm, trú ở trong đó hỷ lạc thì đi vào trong sơ thiền, vừa nhẹ, vừa khỏe, vừa vui, vừa an, vừa lạc, vừa hỷ, cái tâm hướng đến những cái sắc thù thắng, vi tế của chư thiên và cái tâm ly sắc giới không ham thích bất cứ một cái hình tướng nào, dù là hình thức của chư thiên. Mình có ý nghĩ, mình có cảm giác, mình có hình bóng, mình có biết mình thích hay là không thích không ạ? Thì đó, thích những cái cảnh giới của chư thiên và không thích, muốn chấm dứt tất cả những cái hình thái hoạt động của ngũ uẩn thì đó là sắc giới và ly sắc giới.
Vô sắc giới là một cái trạng thái tâm trống rỗng, rỗng lặng, không vô biên xứ, vô sở hữu xứ, thức vô biên xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ. Thích cái trống rỗng, trống không, thích cái rõ biết cái trùm khắp hết, thích cái tâm trống rỗng không có gì hết, dường như có tưởng mà dường như là không có tưởng, yêu thích cái đó, muốn trú ở trong đó thì cái đó là vô sắc giới. Tâm muốn từ bỏ thoát ra khỏi cái đó là mình lìa ra được tam giới, lìa được dục giới, sắc giới và vô sắc giới.
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về giới?'
-- Có thể có, này Ananda. Này Ananda, có hai giới này: hữu vi giới và vô vi giới. Này Ananda, cho đến khi biết được, thấy được hai giới này, cho đến mức độ như vậy, này Ananda, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về giới'." (Trung Bộ Kinh, 115. Kinh Ða giới)
Hồi trưa này con có chia sẻ hữu vi, nói dễ hiểu nhất cho chúng ta thấy cứ tạo cảnh đẹp, cứ làm đẹp, cứ muốn mình được đẹp, cái chỗ ở mình đẹp, cái khung cảnh quanh mình đẹp, tối ngày mình cứ tập trung vô cái đó là hữu vi, là tạo tác. Cứ thích ăn ngon, bày ra nấu món này món kia, vô ngồi thiền toàn món đồ ăn, không trong ý hành nó nhảy lăng tăng mấy cái thực đơn là hữu vi giới, tính chuyện này toán chuyện kia, nghĩ chuyện nọ suy chuyện khác, quá khứ tôi đã như vậy rồi tương lai tôi sẽ như vầy, hiện tại tôi đang như vậy là hữu vi giới. Vô vi giới là thế nào? Không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi, tất cả sắc pháp này là vô thường, là khổ, là biến hoại, là tan nát, là huỷ hoại, là hoại diệt, là trống rỗng. Tâm không muốn tạo tác nữa, không có muốn chế tác ra sắc, không có muốn tạo tác ra các thọ, không có muốn tạo tác ra tưởng, ra hành, ra thức nữa, tâm không muốn làm ra những thứ đó nữa gọi là vô vi.
Hữu vi là có làm, có tạo tác, vô vi là không làm. Không có làm gì? Không có làm ra khổ nữa, không có làm ra nguyên nhân của khổ nữa, không có làm ra tham, sân, si, không có làm ra bản ngã nữa, chỉ làm cho nó giảm và nó hết thôi chứ không có làm cho nó thêm lên nữa thì đó là tâm đang hướng tới vô vi. Đức Phật dạy vô vi là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, xuyên đúng, quán đúng, định đúng của bậc thánh. Đức Phật nói cái pháp vô vi là con đường để đến vô vi.
Con nói cái ví dụ nhỏ cho chúng ta thấy, thật sự là cái Quán Chiếu Đường của mình nó nhỏ xíu, còn không bằng cái nhà bếp của các chùa nữa nhưng tại sao người ta thích? Tại vì đó là đi theo con đường của vô vi, là thiên nhiên không cần tạo tác, người ta thích là thích biển mây đó, bầu trời đó, cái cảnh đó mà cảnh đó là đại tự nhiên không phải do mình làm ra được. Thành ra cái vô vi nó từ cái thô đến cái tế, mình ứng dụng từ công việc hằng ngày, cái cách bài trí, cái cách kiến trúc, cái cách xây dựng, cái cách ăn uống, cách sinh hoạt, cái cảnh trí cho đến nội thân rồi nội tâm hướng đến cái sự vô vi, không tạo tác ra tham, sân, si, hướng đến sự viễn ly, hướng đến sự từ bỏ bằng cái thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng của bậc thánh.
Chúng ta đi đến vô vi, hướng về vô vi, nghiêng về vô vi, nhập vào vô vi mà cái người sống được trong cái chiều hướng của vô vi thì người này rất là thoải mái, công việc nhiều khi rất bận lộn mà nhìn thấy thảnh thơi giống như không có chuyện gì hết. Còn cái người mà hữu vi đó là không có chuyện cũng kiếm chuyện, trong cái chỗ vô sự mà sanh sự, trong cái chỗ vô vi mà lại gây ra hữu vi là người kiếm chuyện, cái người không sống được vô vi là lúc nào cũng bận rộn, lăng xăng, dao động, tất bật "tôi bận lắm", mắc làm cái này, mắc làm cái kia cái nọ, người đó hữu vi. Bận cái gì? Cái gì bận? Bây giờ cái đầu trọc lóc rồi, khoác lên mình cái y là bận cái gì? Chỉ có bận là bận diệt tham, sân, si, nhất trí không? Bận đánh gục ngã cái bản ngã chứ bận gì?
Nhiều khi cái chuyện có chút xíu làm nên cho to lớn lên, đó là chưa có khéo trú tâm mình vào trong cái vô vi pháp. Vô vi này đó nói rộng lắm, từ cái an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, trầm mặc, tĩnh lặng, tịch tịnh, từ cái tâm thái nhẹ, nhìn và ứng xử đối với mọi việc trên người đời nó nhẹ nhàng như đám mây, không có cái gì mà đặt nặng. Cho đến một cái tâm xuyên thủng và phá vỡ ngũ uẩn này để đi đến cái chỗ quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn, diệt quán từ bỏ. Nãy giờ mình mới vừa học là cái tâm thái của vô vi, vô vi là không có cơm thì ăn mì gói, nhẹ nhàng, ngược lại "tôi phải ăn cơm mới được", mà ăn cơm là phải cái món kia mới ăn, cái đó là hữu vi. Vô vi là chỗ này có người khác ngủ rồi "không sao tôi nằm dưới đất này ngủ", đơn giản vậy thôi, mọi người nói chuyện ồn ào quá thì ra ngoài gốc cây ngồi đọc kinh, đó là vô vi, không có giận, không có khó chịu gì hết.
Thành ra nếu mình biết sống được với cái này thì thảnh thơi, tự tại, ung dung, nhẹ nhàng, thiền hành thông thả ngắm mây bay, ngắm các pháp sanh diệt, ngắm các sự đổi thay, ngắm những cái trò, những vở tuồng của ngũ uẩn đang ở trước mặt, nó đang đóng vở tuồng, những cái vở kịch. Mình nhìn thấy cái tâm mình nó đóng kịch, rồi thấy những ngũ uẩn xung quanh nó đóng kịch, trong lòng mình bình thản "chị già rồi em ơi, mấy này chị đi guốc trong bụng hết rồi em ơi, đầu hai thứ tóc rồi em, đầu có sạn rồi. Chị đã sống vô lượng kiếp, vô thỉ kiếp chứ không phải mới có sống năm mươi, sáu mươi năm đâu, chị vậy đã trải qua những cái này ngàn, vạn, ức, tỷ lần rồi". Tâm bình thản.
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về xứ?'
-- Này Ananda, có sáu nội xứ, ngoại xứ này: mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Này Ananda, cho đến khi biết được, thấy được sáu nội ngoại xứ này, cho đến mức độ như vậy, này Ananda, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về xứ'." (Trung Bộ Kinh, 115. Kinh Ða giới)
Đây cũng liên hệ tới bài kinh Cả Hai, đó là Đức Phật nói mắt và sắt, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và mùi, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Đây gọi là thiện xảo về xứ, sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, qua đây chúng ta mới thấy được cái trí tuệ của đức Phật tối thượng, đánh vào tất cả các mặt, rất nhiều phương tiện khéo léo, rất nhiều khía cạnh, góc độ, rất nhiều những cái pháp khí, pháp bảo, vũ khí, thánh trí đánh tất cả các mặt thì mới đi tới cái chỗ lậu tận nổi. Đánh đủ thứ kiểu hết, đánh trong, đánh ngoài, đánh trên, đánh dưới, đánh trước, đánh sau, chỗ nào cũng có gai nha con, trước gai, kế bên phải gai, bên trái gai thì sau lưng gai nha con, trên đầu cũng có gai đó, coi chừng đạp gai nha con.
Mọi người có đạp gai nhiều không? Con nhớ coi chừng gai không đó con, có kiếm, có đao để phá gai, cái này là quán thiện xảo về xứ, khéo léo về chỗ trong và ngoài khi con mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm và ý biết nhận thức các pháp. Mình có nhìn ra cái nào là nhãn xứ không? Cái nào là con mắt, cái nào là sắc hay là lúc đó nói "tôi thấy" là trật lất rồi, mình không thấy cái chỗ bên trong này là con mắt, cái chỗ bên ngoài là sắc, có một cái chỗ nó sanh khởi ra cái sự rõ biết các sắc, ba cái pháp này là sự tiếp xúc của con mắt rồi sanh ra cái cảm thọ mà cho dính một chùm "tôi thấy đẹp quá" là không thiện xảo về xứ. Tại vì lúc đó không thấy con mắt là tứ đại, không thấy các sắc kia là tứ đại mà tứ đại là vô thường, rồi nhãn thức, rồi nhãn xúc rồi thọ do nhãn xúc sanh là các pháp duyên sanh, các pháp lắp ráp trong sự vận hành của các duyên, không thấy con mắt, không thấy sắc, không thấy tứ đại, không thấy thức, không thấy xúc, không thấy thọ, không thấy ái, không thấy sân, không thấy trong đó vô ngã mà lại thấy một cái bản ngã và tham, sân, ái, thủ.
Nó vận hành trong cái chuỗi đó thì như vậy đâu có thiện về xứ, đâu có thiện xảo về thức, đâu có thiện xảo về duyên khởi. Nó dính chùm hết một cái "tôi thấy đẹp" là xong, đó là vô văn phàm phu, dù cho được học rất nhiều mà không ứng dụng, không thực dụng, không thực hành cho nên bị bậc đạo sư quở "học mà không hành quất cho mấy roi". Chỉ cần nhìn cái đẹp là thích, nghe cái tiếng khó chịu là "tôi bực mình quá, chị làm tôi bực mình lắm", không thấy pháp gì hết, chỉ thấy cái ngã chình ình như vậy, đâu có thiện xảo gì đâu, đâu khéo léo gì đâu.
Lênh đênh qua cửa Thần Phù,
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm
(Ca dao)
Một ngày mình chìm mấy lần? Từ sáng tới tối chìm bao nhiêu lần?
"Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông Gangà.
Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy liền gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ to lớn này đang trôi theo dòng nước sông Hằng không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
-- Này các Tỳ-kheo, nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỳ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ nghiêng nhập vào biển. Vì sao? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn. Vì sao? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.
Khi được nghe nói vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là gì? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi? Thế nào là bị loài Người nhặt lấy? Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy? Thế nào là bị mắc vào xoáy nước? Thế nào là bị mục nát bên trong?
-- Bờ bên này, này Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ này.
Bờ bên kia, này Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ.
Bị chìm giữa dòng, này Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với hỷ tham.
Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với ngã mạn.
Và này Tỳ-kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỳ-kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỳ-kheo bị loài Người nhặt lấy.
Và thế nào, này Tỳ-kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây, Tỳ-kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: 'Mong rằng với giới luật này, với cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một loài chư Thiên!' Ðây, này Tỳ-kheo, được gọi là bị phi nhân nhặt lấy.
Bị mắc vào xoáy nước, này Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục công đức.
Và này Tỳ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỳ-kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Ðây, này Tỳ-kheo, được gọi là bị mục nát bên trong" (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, IV. Khúc Gỗ (1))
Cho nên Đức Phật dạy mình phải thiện xảo, khéo léo về con mắt này, về cái nhìn này, về cái nghe này, cái ngửi, cái nếm, cái xúc, cái biết này. Phải khéo léo để mình trở về Trúc Lâm Tinh Xá, khéo léo để mình xuyên không, khéo léo để mình đi qua hai mươi lăm thế kỷ, khéo láo để mình xuất ly ra khỏi thời gian, không gian, không có giờ gì nữa, không có đâu nữa, chỉ có Trúc Lâm Tinh Xá mà thôi, về tới rồi.
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về duyên khởi?'
-- Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo biết như sau: Nếu cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Nếu cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; do duyên sanh lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy, này Ananda, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Nhưng do sự diệt trừ, sự ly tham hoàn toàn của chính vô minh này, các hành diệt; do các hành diệt, danh sắc diệt; do danh sắc diệt, lục nhập diệt; do lục nhập diệt, xúc diệt; do xúc diệt, thọ diệt; do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt hoàn toàn của khổ uẩn này. Cho đến như vậy, này Ananda, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về duyên khởi'." (Trung Bộ Kinh, 115. Kinh Ða giới)
Cái này thâm sâu lắm, từ từ chúng ta sẽ học, ở đây mình chỉ điểm những cái mắt xích trọng yếu dễ thấy để mình thực hành. Thế nào là khéo léo, thiện xảo về duyên khởi? Cái này có, cái kia có, cái này sanh, cái kia sanh, nếu cái này không có thì cái kia không có, cái này diệt thì cái kia sẽ diệt. Đầu tiên là vô minh, cái khối vô minh uẩn to lớn này tạo ra các cái thân hành, khẩu hành, ý hành, những hành động từ vô minh, mình suy nghĩ trong vô minh không à. Nếu mình không học thánh trí ngũ uẩn, không nhận diện ngũ uẩn, cái suy nghĩ của mình là suy nghĩ của sự không thấy, không biết, suy nghĩ của một cái tôi, một cái của tôi, suy nghĩ của hơn thua, của cao, của thấp, của bằng, của đúng sai, của hay dở, của tốt xấu, của mình người, của nhân ngã bỉ thử, ta đây rồi kia đây. Từ cái suy nghĩ như vậy thì cái lời nói nó phải như vậy thôi, lời nói nó vậy rồi cái hành động nó vậy cho nên ý vận hành ở trong vô minh, lời vận hành trong vô minh và hành động vận hành trong vô minh.
Làm sao để phá được vô minh? Phải thấy được ngũ uẩn rồi khổ, tham, sân, si, dục ái, bản ngã này là khổ. Khi mình có được cái thấy, có được cái sự suy nghiệm, quán chiếu như vậy thì mình phá một phần cái vô minh ở trong cái suy nghĩ, trong cái lời nói, trong hành động. Từ cái ái, cái thủ mình đánh vô thọ cho nên những cái bài mà chúng ta thiền quán, chúng ta nghe pháp, chúng ta tác ý là đánh vào cái thọ để cho cái thọ này nhàm chán, cái thọ này nó không còn hân hoan, không còn khoái thích, nó không còn hí ha hí hửng, nó không còn những cái dục, những cái tham, những cái say đắm, khao khát, thèm khát, đói khát, khát ái nữa rồi mình làm cho cái thọ này nó an tịnh, lắng dịu rồi nó đi đến sự nhàm chán, ly tham ở trong cảm thọ.
Trưa nay là chúng ta học về cái thọ đó, cái pháp hành đó đối với ba cảm thọ, thọ khổ, thọ vui, thọ không khổ không vui, thấy được tính chất vô thường, không có tham đắm, không có hoan hỉ và hướng cái tâm đến sự thoát ra các cảm thọ tức là chúng ta phá thọ, ái, thủ. Phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ là phá thọ, mà phá thọ thì ái đi theo, nó bị phá, ái bị phá thì thủ nó bị phá cho nên cái câu kinh hồi trưa này rất là sâu sắc, không có dự tính gì hết, không có cái dự định, dự tính cho nên tâm không có dính mắt, không có chấp thủ, vì không có dính mắt và không chấp thủ nên không có hoảng sợ, vì không có hoảng sợ thì tâm được tịch tịnh
Không chấp trước bất cứ một vật gì ở trên đời, do cái này có nên cái kia có, mà cái này sanh cái kia sanh, cái này không cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt, nó có thọ thì nó có ái, mà có ái thì nó có thủ. Bây giờ nó không thích thọ nữa, nó nhàm chán thọ, cái ái sẽ lắng dịu xuống và cái thủ sẽ bị phá vỡ, vì thủ bị phá vỡ thì nó không có hữu nữa, không yêu thích, nắm giữ ở trong cái hiện hữu này nữa, khi nó không yêu thích nắm giữ trong cái hiện hữu này nữa thì nó không có sanh, không sanh thì không có già, bệnh, chết. Vị này phải tu tập khéo léo, thiện xảo trong cái duyên khởi này, do sự diệt trừ sự ly tham hoàn toàn của chính vô minh, các hành diệt.
Mình học Nikāya mình mới thấy nó sát sao, nó khít khao, nó rõ ràng. "Do sự diệt trừ sự ly tham hoàn toàn của chính vô minh" nghĩa là sao? Cái vô mình bị cái minh phá, cái thân kiến bị cái chánh kiến diệt cho nên cái vô minh nó đã được minh sanh lên, cái thân kiến, cái ngã kiến bị phá, nó thành tựu cái chánh kiến, cái thấy biết của bậc thánh, tri kiến bậc thánh thì khi thấy biết của bậc thánh, tri kiến bậc thánh, minh kiến, chánh kiến tri kiến của bậc thánh thì lúc đó ly tham hoàn toàn có mặt. Khi sự ly tham này có mặt, nhờ phá được vô minh cho nên cái cửa chánh kiến đầu tiên là phải phá được thân kiến, tà kiến, cái kiến chấp, phá được cái đó thì sau đó sự ly tham mới thành tựu, không phá được vô minh thì làm sao ly tham được.
Ly tham thì giữ giới là giữ giới trong các giới cấm thủ thôi, nếu không phá vô minh thì các cái giới này sẽ đưa được lên các cảnh trời cao nhưng mà nó nằm ở trong tam giới, không đi ra khỏi tam giới vì nó không phá vô minh, nó còn bản ngã. Vì thế bài đầu tiên bậc đạo sư nói cái bước đầu vô tu học là phá thân kiến tức là phá vô minh, khi vô minh được nhìn thấy, được xuyên thủng và phá vỡ thì bây giờ khả năng nhiếp phục, chế ngự và diệt tận tham ái, khát ái mới được thành tựu một cách sắc bén, thiện xảo, mới bứng được tận cái gốc rễ của khát ái, nếu không cái kia nó nhiếp phục, nó chế ngự, đá đè cỏ vì cái gốc của vô minh, của bản ngã, của thân kiến còn cho nên ngoại đạo thành tựu được tứ thiền bát định, chứng được phi tưởng phi phi tưởng xứ mà thái tử Tất-đạt-đa đã từ bỏ.
Ái bị đè bẹp, dục bị đè bẹp, định được thành tựu nhưng mà không phá được vô minh, thân kiến cho nên thái tử Tất-đạt-đa từ bỏ, không giải thoát được. Đến khi dưới cội bồ đề khi chứng được bốn thánh trí về ngũ uẩn, bốn thánh trí về lậu hoặc, thì khi chứng được bốn thánh trí về ngũ uẩn, thấy được vô minh và tham ái, phá vô minh và chứng bốn thánh trí về lậu hoặc thì phá luôn khát ái và tâm giải thoát, tuệ giải thoát, được thành tựu tuệ giải thoát là khi diệt tận hết vô minh thì trí tuệ là được tung ra, thoát ra. Nó không có bị bao bọc nữa, giống như hồi xưa mình coi phim hoạt hình "Aladin và cây đèn thần", mở cây đèn ra là bung khói lên hiện ra ông thần bị nhốt trong cây đèn.
Cái trí tuệ mình cũng vậy, nó bị năm thủ uẩn này phong tỏa, nó phong tỏ trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Khi mình phá được cái vô minh ở trong ngũ uẩn thì tuệ giải thoát, nó sẽ bung ra vô lượng vô biên, không còn nhỏ hẹp nữa ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức ở trong cái hòn bọt này nữa, đó gọi là tuệ giải thoát. Khi tuệ phát sanh lên rồi, nó minh kiến rồi thì nó phá khát ái, tham ái thì lúc đó tâm được giải thoát cho nên tâm giải thoát, tuệ giải thoát tức là phá vô minh và hết được khát ái. Vì vậy sự tu chúng ta đầu tiên thành tựu chánh kiến là phá thân kiến, phá vô minh, sau khi có được minh, có được chánh kiến rồi bắt đầu mới diệt tham ái, khát ái, từ thô đến tế và cho đến ái tận giải thoát.
Ái tận giải thoát ở đây là đứng ở trên chánh kiến mà nói, phải có chánh kiến thì ái tận mới giải thoát cho nên cánh cửa đầu tiên chúng ta là chánh kiến tuyệt đối quan trọng, tuyệt đối quan trọng, và tuyệt đối quan trọng. Cái nhân của chánh kiến là nghe người khác nói và như lý tác ý, là đọc kinh Nikāya, là nghe những lời hướng dẫn đúng chánh tri kiến rồi sau đó mình tác ý thì đó là nhân của chánh kiến. Nó xoay đầu chuyển não, đặt tâm đúng hướng để mình có thể xuyên thủng và phá vỡ cái vô minh này, và lần lần khi minh sanh, tuệ sanh, quang sanh, trí sanh thì lúc đó sẽ thấy ra các lậu hoặc, các tham ái, chấp thủ ở trong sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái; dục ái; hữu ái và vô hữu ái. Tất cả các ái sẽ được nhìn thấy, nó được thấy, được biết và bắt đầu nó sẽ có những sự thiện xảo, những cái trí tuệ để mình đánh phá lần lần từ thô rồi đi đến tế rồi đi đến vi tế, và khi ái tận thì giải thoát, tâm bất động giải thoát.
Cho nên rất là tuyệt vời, mình không yêu thích hiện hữu nữa, mình không ưa thích sự sanh nữa thì mình không sanh. Ví dụ rất dễ, mình không còn ưa thích nó nữa thì nó không có mặt, từ bỏ nó thì như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này, như vậy là sự đoạn diệt hoàn toàn cái đống khổ này. Từ vô minh đưa đến đống khổ, còn minh đưa đến sự diệt khổ, từ ái, thủ, hữu, sanh, già, bệnh, chết đưa đến đống khổ, từ nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, ái tận nó đưa đến sự không sanh, không sanh thì không có già, không già thì không có bệnh, không bệnh thì không có chết, không chết tức là bất tử.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.
16 HƠI THỞ (BẢN ĐẦY ĐỦ)
GIẢNG KINH KIMBILA 2
KINH ĐA GIỚI 2
–Thích Minh Thành–
Hành giả đi đến khu rừng, đi đến gốc cây hay đi đến ngôi nhà trống ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú chánh niệm trước mặt, thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng, rõ biết trước mặt. Tỉnh giác thở vô hít vào, tỉnh giác thở ra, hít vô dài rõ biết và thở ra dài rõ biết thở ra dài, hít vô ngắn rõ biết hít vô ngắn, thở ra ngắn rõ biết thở ra ngắn. Cảm nhận cảm giác toàn thân hít vô, cảm nhận cảm giác toàn thân thở ra, toàn thân an tịnh hít vô, an tịnh toàn thân thở ra.
Cảm giác vui mừng hít vô, cảm giác vui mừng thở ra, cảm giác vui nhè nhẹ hít vô, cảm thọ vui nhè nhẹ thở ra. Hít vào vui mừng, thở ra hoan hỉ, an lạc, an tịnh và an bình, an vui. Ngồi yên thật là dễ chịu, cảm giác thật là dễ chịu, cảm thọ thật lắng dịu, thật là hoan hỉ, thật là an lạc, cảm nhận cảm thọ, cảm giác tâm mình hít vào, cảm nhận sự vận hành của tâm thở ra. An tịnh thọ, tưởng hít vào, an tịnh thọ, tưởng thở ra, cảm giác về tâm hít vào, cảm nhận vào tâm hít vô, cảm nhận sâu sắc vào tâm thở ra, cảm nhận sâu sắc vào tâm hít vô, cảm nhận sâu sắc vào tâm thở ra. Với tâm hân hoan hít vô, với một cái tâm hân hoan thở ra, thật là hân hoan, thật là hoan hỉ, thật là vui hít vào, thật là dễ chịu, thật là mát dịu, thật là hân hoan thở ra. Thân an tịnh thật là dễ chịu, tâm lắng dịu thật là dễ chịu, cảm giác hỷ thọ thật là dễ chịu, thật là vui mừng, cảm giác lạc thọ thật là mát dịu, dễ chịu, hân hoan.
Với tâm hân hoan hít vào, với tâm hân hoan, hoan hỉ thở ra dễ chịu làm sao, mát dịu, hỷ lạc và bình an. Với tâm định tĩnh hít vào, với tâm định tỉĩnh thở ra, hít vào tâm an định, thở ra tâm định tĩnh, an định, định tĩnh, hít vào thở ra tâm an định, định tĩnh. An định, định tĩnh, với tâm thoát ra hít vào, thoát ra thân xác này, với tâm thoát ra cảm giác này, hít vào thở ra tâm thoát ra những hình bóng này, hít vào thở ra với tâm thoát ra những hình bóng cát tường, cái tâm thoát ra mọi suy nghĩ lầm thầm hít vào thở ra, với tâm thoát ra những sự rõ biết này hít vào thở ra, với tâm giải thoát hít vào, với tâm giải thoát thở ra.
Tâm thoát ra khỏi thân xác này, khỏi những cảnh sắc này hít vào, thở ra, tâm thoát ra khỏi những tứ đại bất tịnh, tật bệnh vô thường hít vào, thở ra, cái tâm thoát ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức này hít vào, thở ra. Hít vào, thở ra với tâm thoát ra, đẩy ra những sắc, đẩy ra những cảm giác này, những hình bóng, suy nghĩ này đẩy ra, tâm đẩy ra, thoát ra. Tâm đẩy ra. thoát ra, giải thoát đối với các thức này, các sự rõ biết này, thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này, tâm đẩy ra, thoát ra, giải thoát. Thấy rõ sự vô thường, sự bại hoại của thân xác này hít vào, nhìn rõ sự biến đổi, sự sanh diệt của các cảm thọ này hít vào, thở ra.
Quán chiếu tính chất đổi thay của các tưởng này, các suy nghĩ này hít vào, thở ra, quán vô thường đối với các nhận thức này, hít vào, thở ra. Chiêm nghiệm sự vô thường, biến đổi, biến hoại, tàn hoại của ngũ uẩn này hít vào, quán chiếu sâu sắc sự vô thường, tan hoại, biến hoại, hoại diệt của ngũ uẩn này thở ra. Tâm rời xa sự ham muốn đối với thân xác này hít vào, tâm không có ham muốn thân xác này thở ra, tâm rời xa sự ham muốn đối với những cảm giác hít vào, tâm rời xa sự ham muốn đối với những cảm giác thở ra. Tâm rời xa sự ham muốn đối với những hình bóng trong tâm hít vào, tâm rời xa sự ham muốn đối với những hình bóng, những tưởng bên trong thở ra, tâm ly tham đối với mọi suy nghĩ hít vào, tâm lìa tham đối với mọi suy nghĩ thở ra, tâm rời xa sự ham muốn đối với các nhận thức, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức này.
Tâm không có ham thích cái thấy này, không có ham thích cái nghe này, không có yêu thích cái ngửi, cái nếm này, không có tham sự xúc chạm, rõ biết này. Tâm lìa tham, ly tham, không tham với sắc; thọ; tưởng; hành; thức này vì chúng là những thứ vô thường, vì chúng là những thứ bại hoại, chúng là những thứ đoạn diệt, hoại diệt, tàn hoại. Thân xác này là thứ biến hoại, là thứ biến diệt, là thứ hoại diệt, là thứ diệt tận, cảm giác vui buồn điều này là thứ hoại diệt, thứ biến diệt, thứ sanh diệt, thứ diệt tận, là pháp tiêu ma, pháp đoạn diệt, pháp diệt tận, pháp hoại diệt. Nhìn sâu sắc vào tính chất này, để cho tâm cảm thọ thật là sâu sắc vào bản chất hoại diệt này, tan rã này, cái thứ đổ nát này, để cho tâm cảm thọ thật là sâu sắc những hình bóng tan biến, sanh diệt, biến hoại, đoạn diệt này, nhìn thật là sâu sắc vào nó, những hình ảnh, những hình bóng, những ám ảnh bên trong nhìn thật là sâu sắc vì nó sẽ tan biến, hình bóng nó sẽ biến diệt, hoại diệt, đoạn diệt.
Hít vào thở ra nhìn sâu sắc các tưởng, xuyên thủng và phá vỡ nó, đập đổ nó, chà đạp nó và bước qua nó. Nhìn sâu sắc vào các lời nói lầm thầm dòng suy tư này, thấy được tính chất đoạn diệt của nó, tính chất hoại diệt của những suy nghĩ, chính chất tàn diệt, sanh diệt, diệt tận của nó hít vào và thở ra. Nhìn kĩ cái thứ tan hoại, tan nát, huỷ hoại, hoại diệt này, nhìn sâu vào tính chất duyên sanh của các thức, tính chất kết hợp, lắp ráp, biến hoại, diệt tận, đoạn diệt của các sự thấy nghe ngửi, nếm, xúc biết này, hít vào và thở ra trong sự quán đoạn diệt.
Tâm từ bỏ sắc thân này hít vào, tâm từ bỏ thân xác này hít vào thở ra. Từ bỏ con mắt này, từ bỏ lỗ tai này, tâm từ bỏ lỗ mũi này, tâm từ bỏ cái lưỡi này, tâm hoàn toàn từ bỏ thân xác này, tâm hoàn toàn từ bỏ thân xác cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng vô thường, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt này. Tâm từ bỏ hít vào, tâm từ bỏ sắc thân này thở ra, tâm từ bỏ các cảm thọ, tâm từ bỏ các tưởng này, hít vào thở ra trong sự từ bỏ, tâm từ bỏ các dòng suy nghĩ thì thầm này, tâm từ bỏ các thức này, các sự rõ biết này, từ bỏ.
Sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không phải là của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Hãy từ bỏ chúng, thân xác này không phải là của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta, tâm từ bỏ chúng. Cái cảm giác này, hình bóng này, suy nghĩ này, nhận thức này không phải là của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Tâm từ bỏ chúng, từ bỏ chúng tâm được an lạc, tâm giải thoát mọi khổ đau.
"Ở đây, này Rahula, vị Tỳ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết: 'Tôi thở vô dài'; hay thở ra dài, vị ấy biết 'Tôi thở ra dài'; hay thở vô ngắn, vị ấy biết: 'Tôi thở vô ngắn'; hay thở ra ngắn, vị ấy biết: 'Tôi thở ra ngắn'. 'Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô,' vị ấy tập. 'Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. 'An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập.
'Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập. 'Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Cảm giác tâm hành (Cittasankhara), tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập. 'An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập.
'Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. 'Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập. 'Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. 'Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. 'Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. 'Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. 'Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. 'Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập.
'Quán vô thường, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Quán vô thường, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập. 'Quán ly tham, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Quán ly tham, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập. 'Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập 'Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô', vị ấy tập. 'Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra', vị ấy tập'." (Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát
Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền thánh Tăng, bậc đạo sư pháp nhãn thù thắng là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Đảnh lễ thánh giới tối thượng đem lại bình an và giải thoát cho muôn loài.
Kính bạch chư tôn, chư hiền hôm nay chúng ta thực tập mười sáu hơi thở trong bài kinh Đại Kinh Giáo Giới La-hầu-la. Bài thiền tập này là đầy đủ nên chúng ta hành thiền có thể mở lên nương theo bài đó để mình thực tập mười sáu hơi thở. Thế Tôn bảo ngài La-hầu-la:
"Tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy, này Rahula, làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. Này Rahula, tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy, làm cho sung mãn như vậy, thời khi những hơi thở vô, hơi thở ra tối hậu chấm dứt, chứng được giác tri, không phải không được giác tri." (Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)
Chữ "giác tri" ở đây là rõ biết được mình chấm dứt sinh mạng đó, bốn hơi thở đầu là niệm thân, bốn hơi thở kế là niệm thọ, bốn hơi thở sau là niệm tâm và bốn hơi thở cuối cùng là niệm pháp. Vì cái những bài kinh này rất là thâm sâu cho nên đợi đến bây giờ thì chúng ta mới thực tập, trong sự thực tập này nó vừa chỉ và quán, vừa định và tuệ nên nó sẽ quân bình trong cái thời thiền của chúng ta. Trước nay chúng ta thực tập thiền quán nhiều là để cho thành tựu chánh kiến để thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, sự duyên sanh, sự vận hành, tên tuổi, mặt mũi, tánh tình, tính chất và bây giờ chúng ta đã tương đối nắm được cho nên giờ chúng ta đi vào những cái pháp tăng thượng hơn, cao thượng hơn để cho chỉ quán quân bình, định huệ song vận.
Ở khóa tu ở ngoài chùa Đồng - Pháp Hoa Tự, Hà Nội con có chia sẻ hai buổi về mười sáu hơi thở, thực tập một buổi gọn, một buổi vừa và bữa hôm nay là bữa đầy đủ nhất thành ba buổi rồi. Ba cái buổi này có thể cho cúng dường lên chư tôn và chư hiền để thực tập mỗi lúc ngồi thiền, chúng ta có một cái bài gọn, bài vừa và bài bữa nay là bài đầy đủ với các bài kinh Kimbila, bài kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm, Đại Kinh Giáo Giới La-hầu-la. Khóa tu ở Hà Nội đã giảng giải sơ lược về thân và thọ, những có hơi thở, niệm thân, niệm thọ, chúng ta sẽ bổ túc một chút về phần niệm tâm, niệm pháp.
Chúng ta thấy những cái hơi thở đầu làm cho hơi thở lắng dịu cho nên khi mình học cái này rồi mình mới thấy cái trí tuệ của bậc đạo sư. Khi ngài thiền ngài kêu là cảm nhận hơi thở là nói tắt của bốn hơi thở đầu đó, cảm giác toàn thân và an tịnh, lắng dịu là nói tắc của bốn hơi thở kế. Chúng ta mới thấy cái sự quán triệt, uyên bác thâm sâu của ngài vì ngài không có thời gian nhiều để chia sẻ cho mình nhưng mình thực hành mình sẽ hiểu ra được, sau cảm giác hơi thở, cảm giác cơ thể, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu là mười hơi thở đầu. Những cái câu hết sức đơn giản như vậy là tinh túy, tinh hoa ở trong mười sáu hơi thở.
Đến cái đoạn cảm giác hỷ thọ tôi sẽ thở vô, tôi sẽ thở ra, cảm giác lạc thọ tôi sẽ thở vô, thở ra, lúc đó chúng ta có thấy hỷ lạc không? Có thấy dễ chịu không? Có cảm nhận được không? Chỗ này là cái chỗ càng ngày càng vi tế, cái thiền lệnh đi tới đâu là tâm mình đi theo tới đó, nó đòi hỏi người này phải rất là ít năm triền cái, không có năm triền cái, không thôi là nói gì nói tâm trơ trơ. Thí dụ tới cái chỗ cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vô thở ra thì lúc đó lập tức khi cái thiền lệnh nó ra là lập tức mình cảm giác được toàn bộ cơ thể mình, chúng ta có theo kịp không? Phải tập thêm nhiều lần nữa, vừa nói là cảm giác toàn thân hít vô là lập tức ngay đó là mình nhất nhất y như lệnh, cái thiền lệnh đưa ra cái là mình tùy văn nhập quán đi theo cái đó lập tức liền thì đó là sự thiện xảo trong khi mình thực tập thiền.
Còn nói mà mình cứ thoải mái, cứ để tự nhiên thì thôi rồi, không có thiền gì hết, tới chỗ an tịnh thân hành hít vô, an tịnh thân hành thở ra thì lập tức ở chỗ đó mình cảm thấy tất cả toàn bộ sự vận hành trong cơ thể của mình từ cái hơi thở cho đến thân. Có những chỗ bản kinh giải thích thân hành tức là hơi thở nhưng ở đây cái nghĩa rộng là nó toàn bộ cơ thể luôn, vừa hơi thở và cơ thể, khi mà nói thân hành là hơi thở là nói vắn tắt, nói cái vi tế, còn cái nghĩa của cái chữ thân hành là những cái vận hành của thân thì lúc đó hoàn toàn tất cả đầu, mặt, tay, chân, mũi, miệng, mắt, tất cả cơ thể toàn thân từ đảnh tóc tới gót chân của mình an tịnh thân hành. Khi đưa ra cái thiền lệnh an tịnh thân hành lập tức tất cả sự vận hành trong thân mình an tịnh xuống, lắng dịu xuống, đó chỉ là hai chữ thôi, dễ nghe, dễ bảo, dễ dạy thôi đó.
Cho nên hai cái chữ này là lớn lắm, là bí quyết để Nhập Lưu đó, nghe lời thôi vì những cái này nó là định lý giải thoát, nó là pháp lệnh, thiền lệnh, là thánh lệnh thì khi đưa ra là đi theo thôi chứ không có ý kiến gì hết. Đặc biệt học Nikāya là vậy đó, ý kiến với phàm phu còn đối với bậc thánh không có ý kiến, chịu thì thể nhập pháp, Nhập Lưu, còn không chịu thì ngoại lưu, ngoại phàm, vậy thôi. Đặc biệt của Nikāya là vậy, mình tu học mấy cái khác mình ý kiến đủ thứ hết, còn cái này không có, chỉ nghe lời thôi, chấp nhận học pháp thì Đức Phật nói tới đâu tâm mình đi tới đó. Khi đi vào các tầng thiền cũng vậy, hướng đến sơ thiền hay là đi vào sơ thiền, hay các tầng thiền cũng vậy, thiền lệnh đưa tới đâu là tâm đi tới đó. Như vậy một cái sự nghe lời của tâm vi tế lắm, vi tế cực kỳ luôn, đó là cái tâm nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, những cái câu từ đó không phải là dễ hiểu.
Nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, cảm giác hỷ thọ hít vô, cảm giác hỷ thọ thở ra lập tức ngay chỗ đó mình có cảm giác hỷ liền, sanh khởi lên cảm giác hỷ liền. Hồi nãy chúng ta làm được bao nhiêu phần trăm? Thành ra khi mình học sâu vào đó mình thực hành thì mình mới thấy là nó khác lắm, hỷ là nó mừng còn lạc là vui. Hỷ là vui mừng, còn chữ lạc á là nó vui nhè nhẹ, khi cảm giác tâm hành, những cái thọ; tưởng; hành phải cảm nhận một cách đầy đủ, tới đó mình cảm nhận, an tịnh tâm hành mình hít vô, an tịnh tâm hành thở ra thì ngay lúc đó cảm nhận xong rồi là an tịnh hết thọ; tưởng; hành an tịnh.
Thiền lệnh, pháp lệnh, thánh lệnh tới đâu là tâm đi theo tới đó, tâm ngoan không? Tâm ngoan vậy được chứ, như vậy mới gọi là thánh đệ tử, Thế Tôn nói tới đâu là tâm các vị đi tới đó, nói tới đâu là tâm đi theo tới đó gọi là Phật tới đâu là thầy tới đâu đó, thầy tới đâu là con tới đó. Nhất trí không? Phật tới đâu là bậc đạo sư tới đó, bậc đạo sư tới đâu là mình tới đó cho nên khi mình tu học trong này nó vi tế lắm, cực kỳ vi tế, nhỏ nhiệm lắm, đây là gọi là cái trí tế nhị.
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng ...
Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
Này các Tỳ-kheo, đây là bốn trí tế nhị" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (VI). Trí Tế Nhị)
Khi mình học mình nhận diện được ngũ uẩn rồi mình nhìn ra các cảm thọ, các tưởng, các hành, các thức rồi đi vào trong những cái pháp sâu sắc này bắt đầu là xuyên thủng và phá vỡ nó, thoát ra nó. Chúng ta thấy cả một cái công trình, cả một cái đạo lộ, cả một cái sự tuần tự chứ đâu phải nhảy vô bỏ sắc; thọ; tưởng; hành; thức liền, biết gì đâu mà bỏ. Bây giờ với tâm hân hoan hít vô, với tâm hân hoan thở ra, lúc đó mình có hân hoan không? Khi kêu hân hoan mình ngồi đơ đơ có gì đâu vui, có người kêu cái là vui được liền, phải tác ý thêm, thành ra cái này mà mấy người mới toan đến chùa sao mà nói được, mấy người học những cái kiến thức thông thường bên ngoài làm sao nói được.
Hồi xưa con đọc cái này như vịt nghe sấm vậy đó, nghe mười năm mà không hiểu cái gì, cứ thở vô thở ra, vị ấy tập thở vô thở ra, không muốn nghe nữa, ngắn quá trời rất, sao mà nói gì nói hoài có nhiêu đó. Tới bây giờ mới thấy quá tuyệt vời, đây là thánh đạo, thánh giải thoát, bởi vì cái tâm vô minh của mình nó ngu si, nghe mười năm, mười lăm năm mà không biết gì hết, nghe như vịt nghe sấm. Cái tâm định tĩnh rồi tới cái tâm giải thoát, mình thở vô thở ra, hít vô thở ra tới lúc cái tâm định tĩnh đó mình có thấy định không? Tới cái tâm giải thoát mình có thấy nó thoát ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không? Có cảm nhận được không?
Nó sanh khởi lên cái cảm thọ đó là cái tâm thoát ra cái thân xác này, mình tập những cái này quen rồi mai mốt tới chừng mình gặp tai nạn, tới chừng mình sắp chết là mình thoát ra cái một tại vì đã lão luyện rồi, nó nhu nhuyến, nó thiện xảo, nó điêu luyện ở trong cái sự thoát ra đó. Tại sao mình phải tu cái này? Vì mai mốt cần mình thoát ra cái một cho nên mình nhớ Đức Thế Tôn trong kinh Trường Bộ ngài bị đau dữ dội lắm, khủng khiếp lắm nhưng ngài nhiếp phục các cảm thọ và không tác ý tất cả tướng thì lúc đó được cái thân này thoải mái cho nên tu cái định này là vô tướng giải thoát định, vô lượng tâm định là lúc đó mình định một cái tâm vô lượng, vô biên, không có thân, đi ra khỏi thân, đi ra khỏi tất cả những cái sắc pháp, trong một cái định lớn vĩ đại trống không, rộng lớn, vô lượng tâm định. Ngài Maha Ca-diếp thường định trong cái định này và thọ trai cho nên chư thiên rất thích cúng dường cho ngài và phước khủng khiếp lắm, phước vô lượng lắm, vô lượng tâm định.
Nhiều khi bị con kiến cắn là thấy rõ ràng cái thân, nhiếp phục được những cảm thọ, tập thoát ra khỏi thân, xuất ra khỏi thân, đi ra khỏi thân. Chúng ta phải tập từ từ, phải tập, câu nào cũng có câu "vị ấy tập " con lượt bớt sợ đọc quý vị chán vì ngôn ngữ hồi xưa nó khác, ngôn ngữ bây giờ nó khác. Cái ngôn ngữ bây giờ mà mình nói giống như hồi xưa thì người ta sẽ có cái thọ khác cho nên phải dùng ngôn ngữ bây giờ nhưng cái ý nó không thay đổi, làm sáng tỏ lên. Hít vô thở ra quán vô thường, cho nên mình biết được những cái này, khi mình đi đám tang, khi mình gặp tai nạn, khi mình gặp những người thân có chuyện lập tức mình trở về cái hơi thở liền, mình trú trong cái quán vô thường đó và như vậy có khả năng đang lúc tụng đám tang thể nhập vô chánh tri kiến Dự Lưu luôn, ngay lúc đám tang.
Mình tập tới tập lui, tập đi tập lại, tập ngày tập đêm, tập tuần tập tháng, tập quý tập năm, tập ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, hai mươi năm, mình tập tới lúc mình thở ra một cái thì Đức Thế Tôn nói rõ biết giác tri chứ không phải là không giác tri. Rõ biết là mình từ bỏ thân, từ bỏ thọ; tưởng; hành; thức, chữ "giác tri" tức là đi vào thánh đạo, thánh quả đó, rõ biết là mình từ bỏ sắc; thọ; tưởng; hành; thức, rõ biết vô thường, khổ, vô ngã, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, mình rõ biết, mình phải tập quán trong cái hơi thở đó. Tại vì cái hơi thở đó lúc nào nó cũng có hết nhưng bậc đạo sư chú trọng vô cái cảm giác toàn thân, mình mượn hơi thở để mình đi vào trong cái cảm giác, do hơi thở có động chuyển cho nên dễ nhớ, còn nhiều khi cái cảm giác không có hình tướng, cái gì mình cũng dễ quên, mình nghe có hơi thở vô ra cái mình quay chở về cảm giác liền cho nên cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, đó là đi vào.
Mình mượn cái hời thở để mình rất dễ nhớ. Thí dụ có những lúc mình cần phải triển khai cái hơi thở ly tham thì lúc đó mình lấy cái hơi thở đó ra, lấy cái pháp quán đó ra, cần cái hơi thở quán về đoạn diệt, về tan hoại. Chữ "đoạn diệt" là chữ Hán, tiếng Việt của mình dùng cái từ nào cho nó dễ hiểu, đoạn diệt tiếng Việt của mình tan nát, huỷ hoại, hoại diệt, tiêu tan, tan tành, còn chữ đoạn diệt thì nhiều khi không hiểu là cái gì, đó là Hán Việt. Đoạn là dứt, diệt là hết, hoại diệt là dứt hết, là tan rã, là tan hoang, là tan tành, là tan nát, là cái lúc mình phải thở cái hơi thở đó, thở cái hơi thở là tan nát, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt, tan tành, tan dụng, tan hoang, không có gì hết. Thở cái hơi thở từ bỏ, hít vô từ bỏ thân xác này, thở ra từ bỏ thân xác này, cảm giác này, từ bỏ, cái từ bỏ này hay lắm, vi diệu lắm, đang nổi nóng lên "từ bỏ cảm giác này, chết đi, cho mày chết", rồi xong, hết liền ngay lập tức, thoát ra khỏi cảm giác đó. Đang muốn hơn thua vậy thì quán từ bỏ "có ai ở đây mà hơn, có ai đây mà thua, ai ở đây mà cao, ai ở đây mà thấp, từ bỏ, chết ngay lập tức".
Triển khai cái thiền quán đó thì lập tức nó thoát ra, sống bỏ mọi thắng bại hết, tâm mình đạt được tịch tịnh. Trong cái bài kinh vừa rồi con chia sẻ ngoài khóa tu Hà Nội có giải thích chữ "chân nhân tịch tịnh", bậc chân nhân tịch tịnh ở đời tu tập như vậy.
"Này Ananda, Ta tuyên bố rằng sự tu tập chánh niệm hơi thở vô, hơi thở ra không phải cho người thất niệm và không tỉnh giác. Do vậy, này Ananda, quán tâm trên tâm, Tỳ-kheo trong khi ấy, trú nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương X. Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra, I. Phẩm Một Pháp, X. Kimbila)
Như vậy người phải chánh niệm và tỉnh giác thì mới tu tập được hơi thở vô hơi thở ra, cảm giác toàn thân.
"Này Ananda, Ta tuyên bố rằng, tùy thuộc về thân, tức là hơi thở vô, hơi thở ra. Do vậy, này Ananda, quán thân trên thân, Tỳ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Này Ananda, Ta tuyên bố rằng, tùy thuộc về thọ, tức là hơi thở vô, hơi thở ra, được khéo tác ý. Do vậy, này Ananda, quán thọ trên các cảm thọ, Tỳ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Này Ananda, Ta tuyên bố rằng sự tu tập chánh niệm hơi thở vô, hơi thở ra không phải cho người thất niệm và không tỉnh giác. Do vậy, này Ananda, quán tâm trên tâm, Tỳ-kheo trong khi ấy, trú nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Trong khi quán pháp trên các pháp, này Ananda, Tỳ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời, đoạn tận các tham ưu; sau khi thấy với trí tuệ, vị ấy khéo trú xả. Do vậy, này Ananda, quán pháp trên các pháp, Tỳ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương X. Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra, I. Phẩm Một Pháp, X. Kimbila)
Con hay nói địa chỉ thường trú của người tu mình là xả, an trú trong cái tâm xả, tâm buông bỏ là tâm hạnh phúc. Khi con ra cái chỗ ao nước mà mấy người đó kêu đi lại gọi hồn, kêu vong thì đọc bài xả chấp thân, khi vào chỗ đám tang thì đọc từ vô lượng tâm, khi tới cúng cơm đọc bi vô lượng tâm, khi ra tới cái chỗ mà mấy người đó kêu gọi hồn, kêu vong đọc cái bài xả chấp thân. Mình không bỏ giờ thì mai mốt tới chết mình cũng bỏ à, bỏ giờ đi, mốt chết khỏi bỏ nữa, khỏi kiếm ai lại kêu bỏ giùm. Nhất trí không? Không cần kiếm thầy, kiếm cô, kiếm ai lại phụ kêu bỏ, tự mình có khả năng từ bỏ, tâm buông bỏ là tâm hạnh phúc. Con nói thí dụ trưa nay mình có cái buổi pháp đó, nếu cái người có ý niệm mà ám ảnh tới giờ ăn cơm rồi thì cái người đó là khổ, còn người có ý niệm bữa nay bỏ cơm một bữa không có chết, pháp quan trọng hơn cơm. Nhất trí không?
Pháp vị thắng mọi vị thì người đó hạnh phúc, người đó ngồi suốt thời pháp hạnh phúc mà cái người không có buông bỏ cái tâm đi ăn cơm thì người này không có hạnh phúc, có khổ thọ. Cái tâm buông bỏ bất cứ chỗ nào là lúc đó tâm hạnh phúc cho nên hồi nãy phần cuối lúc quán từ bỏ là con cho từ bỏ sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Bất cứ mình ngồi rảnh ở đâu đó mình niệm "từ bỏ con mắt này, tâm từ bỏ lỗ mũi này, từ bỏ gương mặt này, từ bỏ cái miệng, cái lưỡi này, từ bỏ cái tâm chấp thủ vô vật chất, vô ăn uống, vô ngủ nghỉ", giờ nào cũng là giờ tu hết, không có nghĩ rằng "tới 2h30 mới tu, giờ này 1h mà tu cái gì". Tâm nó là tâm chấp, "tới ngày thứ hai mới tu chứ hôm nay chủ nhật mà", tâm chấp thì đau khổ, "giờ này tới giờ ăn cơm", chấp là khổ.
Giờ nào cũng là giờ hành pháp hết, chỉ có pháp mới là tối thượng, pháp còn hơn sinh mạng của mình. Nhất trí không? Một cái tâm như vậy thì mình mới có được cái sự tuyệt vời, giống như giờ chúng ta đang thưởng thức một giây phút còn hơn thần tiên, người ta dưới Sài Gòn hơn 40 độ đó. Tâm buông xả là tâm của thần tiên, của hiền thánh, tập sống với ngay cái hiện tại này, ngay đây, hiện giờ, không có đem ngày hôm qua đối chiếu ngày hôm nay, không có đem một chút nữa để làm cái gì, chỉ ngay chỗ hiện tại này thôi. Một chút có ngã ra chết cũng được nữa, cũng mỉm cười nữa, cũng mãn nguyện, mình hành pháp mà chút mình ngã ra chết thì chúc mừng, vinh hạnh, vinh quang, vinh dự, vinh hiển, quang tông diệu tổ ông bà, cha mẹ bảy đời, "Nhất nhân hành đạo cửu huyền thăng".
Lâu lâu con bất thình lình cho thử 12h00 đêm đánh trống tập trung chúng hết lên thiền quán, lâu lâu làm thử là biết liền. Bất thình lình 2h00 đêm đánh chuông beng beng lên tập trung thiền quán, còn nếu "thầy nói nhanh quá con không chuẩn bị kịp" thì chết có nói cho chuẩn bị trước không? Chết có báo trước ba tiếng nữa chết không? Sao đòi phải cho tôi biết trước chuẩn bị, tu mà phải chuẩn bị. Thở có chuẩn bị không? "Để tôi chuẩn bị rồi tôi thở", bất cứ lúc nào tu được là cứ tu cho nên hồi trưa này là con tính ngưng rồi đó mà con thấy còn được nên cho thêm nữa. Mình ngồi tu mà mình có chết ngay chỗ này là một phước đức rất là lớn, tâm này là tâm cao thượng của nhân thiên cho nên sau khi thấy với trí tuệ vị ấy khéo trú xả.
"Ví như, này Ananda, một đống rác bụi lớn ở ngã tư đường, nếu từ phương Ðông, một cái xe (sakatam hay ràtha) đi đến và làm cho đống rác bụi ấy giảm bớt đi; nếu từ phương Tây...; nếu từ phương Bắc...; nếu từ phương Nam, một cái xe đi đến và làm cho đống rác bụi ấy giảm bớt đi. Cũng vậy, này Ananda, Tỳ-kheo trong khi trú, quán thân trên thân, làm cho giảm bớt đi các ác, bất thiện pháp, khi trú, quán thọ trên các cảm thọ... khi trú, quán tâm trên tâm... khi trú, quán pháp trên các pháp... làm cho giảm bớt đi các ác, bất thiện pháp" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương X. Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra, I. Phẩm Một Pháp, X. Kimbila)
Quá tuyệt vời luôn, trong khi trú quán thân trên thân làm cho giảm bớt đi các ác bất thiện pháp, giống như cho cái xe rác đó lấy đi một ít, khi trú quán thọ trên các thọ làm giảm bớt đi các ác bất thiện pháp, khi trú quán tâm trên tâm xe rác tới hốt một mớ nữa, khi quán pháp trên các pháp xe rác tới hốt thêm mới nữa. Hốt hết rác thì khỏe re vì sạch hết rác. Bây giờ muốn để rác nhiều hay là muốn hốt bớt? Muốn bớt thì tu Tứ Niệm Xứ trong từng hơi thở, không phải đợi tới cái ngày cho mở bài quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp thì mới quán mà phải quán trong từng hơi thở. Mỗi hơi thở và mỗi cảm thọ là hốt rác, là quăng rác, là liệng rác, là bỏ rác, là từ bỏ các ác và bất thiện pháp, rác bẩn của nội tâm.
Vì an lạc quá rồi không muốn ngồi dậy, không muốn đi vô, muốn ngồi đây, mười tỷ người trên hành tinh mà giờ phút này có mấy người được ngồi như vậy.
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên các chư vị hiền giả. Từ khi con học thì con cũng có lướt trên mạng con thấy bậc đạo sư cũng có dạy mười sáu hơi thở nhưng trong thời gian con học ở đây thì con thấy căn cơ của con chưa có thể chạm đến được cái đó nên con quyết định không có nghe. Và cho đến hôm nay con được sư phụ hướng dẫn niệm mười sáu hơi thở, mới bước vào thì có một con kiến bu trên mặt của con thì con thấy khó chịu, con quơ nó xuống nhưng sau lúc đó là con nghe sư phụ dẫn vào hơi thở, từng bước, từng bước con hướng theo lời hướng dẫn của sư phụ. Con cũng vừa tác ý thêm, sư phụ hướng dẫn tới đâu thì bốn hơi thở đầu thì con cũng quán thân, rồi tới quán thọ, tới quán tâm, quán pháp.
Bắt đầu khi sư phụ nói thì con cũng dẫn cái tâm con theo, con cứ để cho con kiến chạy qua, chạy lại, chạy quanh mặt, rồi chạy quanh cái mắt kính của con. Lúc đầu con cảm thấy khó chịu nhưng sau khi nghe sư phụ hướng dẫn tới thì bắt đầu con cũng tác ý, con nói là "bây giờ cho mày chạy hoài, nếu mà mày có cắn thì đau một cái hoặc là sưng một cái thôi chứ mắc gì mà mày cứ theo dõi nó chi. Trú tâm vô lời hướng dẫn của sư phụ để tiếp tục rồi đi tới". Con thấy niềm hỷ lạc, hồi nãy sư phụ hỏi là khi thở như vậy mình có hỉ, có lạc hay không thì con khẳng định là tám mươi tại vì nếu như mà con không được tám mươi phần trăm là cơ thể con sẽ bị tê, chân con nó tê thì lúc đó là cái sự thúc giục của con là con dao động. Sau khi con hỷ lạc vui quá nên cái chân con nó không có tê, cái lưng con cũng không có mỏi, đến lúc con khẳng định được tám mươi phần trăm tại vì con không còn để cho con kiến đó làm cho con phải khó chịu và con cũng tác ý rất là mạnh mẽ là "cho mày cắn luôn, cho mày sưng luôn, tao cứ ngồi hỷ lạc rồi tiếp tục nghe pháp".
Cho đến phút hiện tại bây giờ sư phụ kêu con là con vẫn còn hỷ lạc, con vẫn còn hoan hỉ và con thấy đến thời điểm này thì con nghe mười sáu pháp này nó là tuyệt vời, bất định, đúng lúc như vậy là con có thể tiếp tục tu tập để có thể thể nhập vào cái dòng chánh pháp này. Đó là những điều mà con muốn nói hôm nay. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và các hiền trí. Cảm thọ của con hôm nay con cảm thấy rất là hoan hỉ, được ngồi đây trực tiếp nghe sư phụ giảng. Tưởng của con là con nhớ lại những ngày qua, những cái lúc rảnh con cảm thấy rất là nhớ sư phụ khi sư phụ đi vắng mười mấy ngày. Lúc con nhớ sư phụ như vậy cái hình bóng sư phụ hiện lên trong con, lúc thì ở cây giác ngộ, lúc ở trên Cổng Trời và những lời giảng của sư phụ cứ vang vẳng trong tâm con. Lúc không có sư phụ ở nhà con nhớ đến sư phụ như vậy thì con mới cảm thấy trân quý những lúc có sư phụ ở gần, và được ngồi trực tiếp nghe sư phụ giảng.
Khi ngồi trực tiếp nghe như vậy con cảm nhận được cái từ trường ở nơi sư phụ cho nên cái tâm con rất là được an lạc, cứ mỗi lần sư phụ giảng trực tiếp con đều được như vậy. Bởi là con nhớ sư phụ có nói từ lúc mười mấy tuổi là sư phụ đã xuất gia và cho đến tận bây giờ chưa bao giờ sư phụ dám phạm những cái oai nghi dù nhỏ, khi phạm như vậy sư phụ biết và không để cho nó phạm những cái lỗi như vậy. Cho nên một người chân tu giữ giới, giữ oai nghi mấy chục năm như vậy thì cái công đức nó rất là lớn vì thế khi ngồi gần thì cảm nhận được cái từ trường đó. Bởi vậy cho nên con rất là trân quý, con cảm thấy con có lỗi với sư phụ và con cảm thấy hối hận trước đây khi sư phụ ở nhà thì con cảm thấy nó bình thường, cho nên mỗi buổi chiều nghe pháp con ham muốn được đi xuống, cho nên con cứ nhìn đồng hồ, cứ tới 5h00 là trong tâm con cứ nói "sư phụ ơi nghỉ được rồi 5h00 rồi".
Trong tâm con thường nói như vậy nhưng mà bây giờ thì con mới biết, con hiểu, con trân quý cho nên giờ cho dù tối nhưng con không có nhìn đồng hồ mà tâm con cũng không có thúc giục đi xuống, con rất là muốn được nghe sư phụ giảng. Qua cái bài giảng của sư phụ con cũng nghĩ cái thân này, sắc thân ngũ uẩn này nó vô thường, vô ngã, là khổ, thân con được làm bằng đất, nước, gió, lửa, những da thịt, xương, gân, những tim, gan, phổi, ruột, những thứ bằng chất đặc nó làm bằng đất, những máu, nước tiểu, nước mắt, nước mũi, chất lỏng nó làm bằng nước, hơi thở, những cửa chỉ đi lại là gió, hơi ấm là lửa. Con phân tích ra thì không có cái gì là còn cả, sắc thân này nó vô thường, từng hơi thở nó sanh rồi diệt, mượn rồi trả, nó cứ liên tục như vậy là vô thương, vô ngã.
Thọ lúc thì cảm giác vui, lúc thì buồn, lúc thì dễ chịu, lúc khó chịu, cái thọ này cũng vô thường, là khổ, là vô ngã. Những cái hình bóng trong tâm lúc thì hiện lên cái này, lúc hiện lên cái nọ, nhớ về cái này, nhớ về cái kia, nó cũng là vô thường, sanh diệt. Những cái suy nghĩ cũng vậy, hết suy nghĩ cái này đến suy nghĩ cái khác, cũng nó sanh diệt, vô thường. Cái thức cũng như vậy, nó rõ biết hết những cái thọ; tưởng; hành, hết cái này xong đến cái nọ thì cũng tất cả đều là vô thường, vô ngã, nó không có gì là thật cả cho nên sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngã của ta. Khi con suy nghĩ như vậy, con quán tưởng và con muốn thoát ra, thức là con rõ biết những cái thọ; tưởng; hành ở trong con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Bỏ nhà, bỏ ăn, bỏ mặc, bỏ chơi, giờ này mình quán chiếu thử coi mấy người đi làm có những chỗ người ta không cho đi tiểu luôn, phải tới giờ mới được đi chứ không phải muốn đi là đi, có những người chết gục ở trên bàn làm việc ở một số nước. Mọi người có thấy hạnh phúc không? Lâu lâu quý thầy, quý Ni sư phải cho như vầy chứ còn riết nó giống cái máy, cái tâm mình rất là dễ chấp thủ, hễ cái giờ đó là y giờ đó, sai giờ khác là không được. Lâu lâu mình phải phá cái lề lối thông thường bằng cái thiện pháp chứ không phải là phá quy cũ.
Chúng ta thấy ngồi ở trong nhà tu với ra đây có khác nhau nhiều không ạ? Không ăn thấy nó có nhẹ, khỏe hơn nhiều không ạ? Chú Tân có nhẹ khỏe không chú? Cố gắng sao mà từ nay về sau chúng ta tập mười lăm phút có cái tiếng chuông, bất cứ chỗ nào, Tăng xá, Ni xá, Vân Thủy Đường, Thánh Pháp Viện, tất cả các chỗ thư viện, chỗ khách ở cứ mười lăm phút có tiếng chuông lên. Và khi tiếng chung vang lên là phải thực tập sự tỉnh lặng, lắng dịu, cái nào hay là mình sẽ học, cái này rất tốt để nhắc nhở mình. Con thấy dưới nhà bếp còn ồn lắm, lâu lâu nghe ồn lắm, ở trong Vân Thủy đường cũng vậy, cần thực tập thêm nữa.
Nhìn cái này sao giống thời Đức Phật vậy ta, có thấy giống không? Con nhà tông không giống lông cũng phải giống cánh, tu sao mà giống Phật là được à. Nhất trí không? Không cần giống ai hết, biết bao nhiêu bài kinh để cho chúng ta học, đúng ra hồi sáng con đi về Cô Phong Đảnh rồi, không có hai cái buổi pháp này đâu, bài kinh Đa Giới hôm trước chúng ta học chưa có xong.
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về giới?'
-- Có thể có, này Ananda. Này Ananda, có sáu giới này: dục giới, ly dục giới, sân giới, vô sân giới, hại giới, bất hại giới. Này Ananda, cho đến khi biết được, thấy được sáu giới này, cho đến mức độ như vậy, này Ananda, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về giới'." (Trung Bộ Kinh, 115. Kinh Ða giới)
Con thật sự muốn ở Linh Quy này có pháp âm vang dội suốt ngày đêm trừ khi ngồi thiền, không lúc nào tắt tiếng pháp hết trừ lúc ngồi thiền. Một ngày phải cho chúng ta học từ bốn tiếng cho đến sáu tiếng, tám tiếng, trú trong pháp hoài vậy đó rồi còn lại là thiền định. Thiền định thì mạnh ai nấy ngồi được hoặc tập trung lại một hoặc hai lần, một ngày ngồi thiền hai tiếng còn lại sáu tiếng, tám tiếng là nghe pháp, chỉ làm vậy thôi. Tâm ý con là vậy đó, trú trong pháp thôi đừng có đi ra pháp vì đi ra pháp là có tham, sân, si, có bản ngã, có sầu, bi, khổ, ưu, não.
Mình phải biết mình đang ở trong lãnh vực nào, mình đang ở trong cái giới vức, cái phạm trù của ham muốn, của dục hay là trong lúc đó cái tâm mình được ly dục. Mình phải biết là mình đang đứng ở chỗ nào, trong lúc đó cảm thọ mình ở trong dục tham hay là trong lúc đó cảm thọ mình rời khỏi dục tham, mình phải biết trong lúc đó bên trong cái cảm giác của mình là giận, là sân, hay là bên trong cảm giác là ly sân, không có giận, mình phải biết có giận hay là không giận, có sân hay là không sân, có khó chịu hay là không khó chịu, mình phải biết cảm thọ. Lúc đó là tâm mình có hại hay là không có hại, hay là bất hại, hay là vô hại, chẳng hạn như giờ con kiến bò lên mình, con muỗi chích mình là những cái rất nhỏ thì tâm mình có hại không.
Khi mình biết được như vậy hay lắm, nó sẽ chặn đứng lại cái tâm hại, bây giờ mình có một cái sự bực bội, khó chịu, mình muốn đuổi nó ra, mình muốn phủi cho mạnh để nó văng ra cho hả dạ hay là cái tâm mình hoàn toàn an trú cảm giác toàn thân, quay vào bên trong và tâm bất hại, vô hại. Mình nghe tưởng đâu có gì cao siêu, khó khăn nhưng mà mình thực tế đó, thực tiễn đó, thiết thực ở trong cái sinh hoạt thì nó rõ ràng lắm. Mình nghe một cái lời nói thì tâm mình có khó chịu không hay là không có khó chịu, đó là thiện xảo về giới chứ có cái gì đâu. Mình thấy một cái hành động đó vừa lòng hay là không vừa lòng, thấy một cái người đẹp, cảnh đẹp, đồ đẹp đó có muốn hay là không có muốn thì đó là thiện xảo về giới đó.
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về giới?'
-- Có thể có, này Ananda. Này Ananda, có ba giới này: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Này Ananda, cho đến khi biết được, thấy được ba giới này, cho đến mức độ như vậy, này Ananda, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về giới'." (Trung Bộ Kinh, 115. Kinh Ða giới)
Nói cho dễ hiểu để mình ứng dụng, những suy nghĩ, những hình bóng, những cảm thọ, những nhận thức bị ám ảnh ở trong sắc; thanh; hương; vị; xúc thì đó là tâm ở trong dục giới, tâm ở trong lãnh vực của dục, phạm trù của dục, giới vức của dục, thế giới của dục. Cái tâm mình nhàm chán đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc muốn lìa xa, muốn thoát ra, muốn yểm ly, muốn ly tham thì lúc đó là cái tâm mình ly dục giới nó ngay. Ngay hiện giờ luôn cái người đói bụng muốn ăn cơm mà vô chế mì, hủ tiếu thì cái đó là dục giới, giữ cái hình bóng, giữ cái cảm thọ đó, giữ cái suy nghĩ đó không xả ra được thì cái đó là ở trong dục giới. Mọi người có sáng ra không? Rõ ràng không?
Bữa nay mình tu, bữa nay mình được thoát ra những cái tầm thường, những cái bình thường, những cái thường ngày đó và tâm mình an trú ngay cái pháp an tịnh, lắng dịu, dễ chịu thì cái đó là tâm ly dục giới. Vẫn ngồi y vậy mà cái cảm thọ ê ru ở trong, trong này nó không có gợn gợn, hay là nó không có cái sự nôn nao "tới giờ rồi", cái tâm nó an, nó im thì đang ở trong pháp ly dục giới. Hỷ lạc sanh thì trạng thái hướng về sơ thiền và tác ý luôn thêm, trú ở trong đó hỷ lạc thì đi vào trong sơ thiền, vừa nhẹ, vừa khỏe, vừa vui, vừa an, vừa lạc, vừa hỷ, cái tâm hướng đến những cái sắc thù thắng, vi tế của chư thiên và cái tâm ly sắc giới không ham thích bất cứ một cái hình tướng nào, dù là hình thức của chư thiên. Mình có ý nghĩ, mình có cảm giác, mình có hình bóng, mình có biết mình thích hay là không thích không ạ? Thì đó, thích những cái cảnh giới của chư thiên và không thích, muốn chấm dứt tất cả những cái hình thái hoạt động của ngũ uẩn thì đó là sắc giới và ly sắc giới.
Vô sắc giới là một cái trạng thái tâm trống rỗng, rỗng lặng, không vô biên xứ, vô sở hữu xứ, thức vô biên xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ. Thích cái trống rỗng, trống không, thích cái rõ biết cái trùm khắp hết, thích cái tâm trống rỗng không có gì hết, dường như có tưởng mà dường như là không có tưởng, yêu thích cái đó, muốn trú ở trong đó thì cái đó là vô sắc giới. Tâm muốn từ bỏ thoát ra khỏi cái đó là mình lìa ra được tam giới, lìa được dục giới, sắc giới và vô sắc giới.
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về giới?'
-- Có thể có, này Ananda. Này Ananda, có hai giới này: hữu vi giới và vô vi giới. Này Ananda, cho đến khi biết được, thấy được hai giới này, cho đến mức độ như vậy, này Ananda, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về giới'." (Trung Bộ Kinh, 115. Kinh Ða giới)
Hồi trưa này con có chia sẻ hữu vi, nói dễ hiểu nhất cho chúng ta thấy cứ tạo cảnh đẹp, cứ làm đẹp, cứ muốn mình được đẹp, cái chỗ ở mình đẹp, cái khung cảnh quanh mình đẹp, tối ngày mình cứ tập trung vô cái đó là hữu vi, là tạo tác. Cứ thích ăn ngon, bày ra nấu món này món kia, vô ngồi thiền toàn món đồ ăn, không trong ý hành nó nhảy lăng tăng mấy cái thực đơn là hữu vi giới, tính chuyện này toán chuyện kia, nghĩ chuyện nọ suy chuyện khác, quá khứ tôi đã như vậy rồi tương lai tôi sẽ như vầy, hiện tại tôi đang như vậy là hữu vi giới. Vô vi giới là thế nào? Không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi, tất cả sắc pháp này là vô thường, là khổ, là biến hoại, là tan nát, là huỷ hoại, là hoại diệt, là trống rỗng. Tâm không muốn tạo tác nữa, không có muốn chế tác ra sắc, không có muốn tạo tác ra các thọ, không có muốn tạo tác ra tưởng, ra hành, ra thức nữa, tâm không muốn làm ra những thứ đó nữa gọi là vô vi.
Hữu vi là có làm, có tạo tác, vô vi là không làm. Không có làm gì? Không có làm ra khổ nữa, không có làm ra nguyên nhân của khổ nữa, không có làm ra tham, sân, si, không có làm ra bản ngã nữa, chỉ làm cho nó giảm và nó hết thôi chứ không có làm cho nó thêm lên nữa thì đó là tâm đang hướng tới vô vi. Đức Phật dạy vô vi là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, xuyên đúng, quán đúng, định đúng của bậc thánh. Đức Phật nói cái pháp vô vi là con đường để đến vô vi.
Con nói cái ví dụ nhỏ cho chúng ta thấy, thật sự là cái Quán Chiếu Đường của mình nó nhỏ xíu, còn không bằng cái nhà bếp của các chùa nữa nhưng tại sao người ta thích? Tại vì đó là đi theo con đường của vô vi, là thiên nhiên không cần tạo tác, người ta thích là thích biển mây đó, bầu trời đó, cái cảnh đó mà cảnh đó là đại tự nhiên không phải do mình làm ra được. Thành ra cái vô vi nó từ cái thô đến cái tế, mình ứng dụng từ công việc hằng ngày, cái cách bài trí, cái cách kiến trúc, cái cách xây dựng, cái cách ăn uống, cách sinh hoạt, cái cảnh trí cho đến nội thân rồi nội tâm hướng đến cái sự vô vi, không tạo tác ra tham, sân, si, hướng đến sự viễn ly, hướng đến sự từ bỏ bằng cái thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng của bậc thánh.
Chúng ta đi đến vô vi, hướng về vô vi, nghiêng về vô vi, nhập vào vô vi mà cái người sống được trong cái chiều hướng của vô vi thì người này rất là thoải mái, công việc nhiều khi rất bận lộn mà nhìn thấy thảnh thơi giống như không có chuyện gì hết. Còn cái người mà hữu vi đó là không có chuyện cũng kiếm chuyện, trong cái chỗ vô sự mà sanh sự, trong cái chỗ vô vi mà lại gây ra hữu vi là người kiếm chuyện, cái người không sống được vô vi là lúc nào cũng bận rộn, lăng xăng, dao động, tất bật "tôi bận lắm", mắc làm cái này, mắc làm cái kia cái nọ, người đó hữu vi. Bận cái gì? Cái gì bận? Bây giờ cái đầu trọc lóc rồi, khoác lên mình cái y là bận cái gì? Chỉ có bận là bận diệt tham, sân, si, nhất trí không? Bận đánh gục ngã cái bản ngã chứ bận gì?
Nhiều khi cái chuyện có chút xíu làm nên cho to lớn lên, đó là chưa có khéo trú tâm mình vào trong cái vô vi pháp. Vô vi này đó nói rộng lắm, từ cái an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, trầm mặc, tĩnh lặng, tịch tịnh, từ cái tâm thái nhẹ, nhìn và ứng xử đối với mọi việc trên người đời nó nhẹ nhàng như đám mây, không có cái gì mà đặt nặng. Cho đến một cái tâm xuyên thủng và phá vỡ ngũ uẩn này để đi đến cái chỗ quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn, diệt quán từ bỏ. Nãy giờ mình mới vừa học là cái tâm thái của vô vi, vô vi là không có cơm thì ăn mì gói, nhẹ nhàng, ngược lại "tôi phải ăn cơm mới được", mà ăn cơm là phải cái món kia mới ăn, cái đó là hữu vi. Vô vi là chỗ này có người khác ngủ rồi "không sao tôi nằm dưới đất này ngủ", đơn giản vậy thôi, mọi người nói chuyện ồn ào quá thì ra ngoài gốc cây ngồi đọc kinh, đó là vô vi, không có giận, không có khó chịu gì hết.
Thành ra nếu mình biết sống được với cái này thì thảnh thơi, tự tại, ung dung, nhẹ nhàng, thiền hành thông thả ngắm mây bay, ngắm các pháp sanh diệt, ngắm các sự đổi thay, ngắm những cái trò, những vở tuồng của ngũ uẩn đang ở trước mặt, nó đang đóng vở tuồng, những cái vở kịch. Mình nhìn thấy cái tâm mình nó đóng kịch, rồi thấy những ngũ uẩn xung quanh nó đóng kịch, trong lòng mình bình thản "chị già rồi em ơi, mấy này chị đi guốc trong bụng hết rồi em ơi, đầu hai thứ tóc rồi em, đầu có sạn rồi. Chị đã sống vô lượng kiếp, vô thỉ kiếp chứ không phải mới có sống năm mươi, sáu mươi năm đâu, chị vậy đã trải qua những cái này ngàn, vạn, ức, tỷ lần rồi". Tâm bình thản.
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về xứ?'
-- Này Ananda, có sáu nội xứ, ngoại xứ này: mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Này Ananda, cho đến khi biết được, thấy được sáu nội ngoại xứ này, cho đến mức độ như vậy, này Ananda, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về xứ'." (Trung Bộ Kinh, 115. Kinh Ða giới)
Đây cũng liên hệ tới bài kinh Cả Hai, đó là Đức Phật nói mắt và sắt, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và mùi, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Đây gọi là thiện xảo về xứ, sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, qua đây chúng ta mới thấy được cái trí tuệ của đức Phật tối thượng, đánh vào tất cả các mặt, rất nhiều phương tiện khéo léo, rất nhiều khía cạnh, góc độ, rất nhiều những cái pháp khí, pháp bảo, vũ khí, thánh trí đánh tất cả các mặt thì mới đi tới cái chỗ lậu tận nổi. Đánh đủ thứ kiểu hết, đánh trong, đánh ngoài, đánh trên, đánh dưới, đánh trước, đánh sau, chỗ nào cũng có gai nha con, trước gai, kế bên phải gai, bên trái gai thì sau lưng gai nha con, trên đầu cũng có gai đó, coi chừng đạp gai nha con.
Mọi người có đạp gai nhiều không? Con nhớ coi chừng gai không đó con, có kiếm, có đao để phá gai, cái này là quán thiện xảo về xứ, khéo léo về chỗ trong và ngoài khi con mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm và ý biết nhận thức các pháp. Mình có nhìn ra cái nào là nhãn xứ không? Cái nào là con mắt, cái nào là sắc hay là lúc đó nói "tôi thấy" là trật lất rồi, mình không thấy cái chỗ bên trong này là con mắt, cái chỗ bên ngoài là sắc, có một cái chỗ nó sanh khởi ra cái sự rõ biết các sắc, ba cái pháp này là sự tiếp xúc của con mắt rồi sanh ra cái cảm thọ mà cho dính một chùm "tôi thấy đẹp quá" là không thiện xảo về xứ. Tại vì lúc đó không thấy con mắt là tứ đại, không thấy các sắc kia là tứ đại mà tứ đại là vô thường, rồi nhãn thức, rồi nhãn xúc rồi thọ do nhãn xúc sanh là các pháp duyên sanh, các pháp lắp ráp trong sự vận hành của các duyên, không thấy con mắt, không thấy sắc, không thấy tứ đại, không thấy thức, không thấy xúc, không thấy thọ, không thấy ái, không thấy sân, không thấy trong đó vô ngã mà lại thấy một cái bản ngã và tham, sân, ái, thủ.
Nó vận hành trong cái chuỗi đó thì như vậy đâu có thiện về xứ, đâu có thiện xảo về thức, đâu có thiện xảo về duyên khởi. Nó dính chùm hết một cái "tôi thấy đẹp" là xong, đó là vô văn phàm phu, dù cho được học rất nhiều mà không ứng dụng, không thực dụng, không thực hành cho nên bị bậc đạo sư quở "học mà không hành quất cho mấy roi". Chỉ cần nhìn cái đẹp là thích, nghe cái tiếng khó chịu là "tôi bực mình quá, chị làm tôi bực mình lắm", không thấy pháp gì hết, chỉ thấy cái ngã chình ình như vậy, đâu có thiện xảo gì đâu, đâu khéo léo gì đâu.
Lênh đênh qua cửa Thần Phù,
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm
(Ca dao)
Một ngày mình chìm mấy lần? Từ sáng tới tối chìm bao nhiêu lần?
"Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông Gangà.
Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy liền gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ to lớn này đang trôi theo dòng nước sông Hằng không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
-- Này các Tỳ-kheo, nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỳ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ nghiêng nhập vào biển. Vì sao? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn. Vì sao? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.
Khi được nghe nói vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là gì? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi? Thế nào là bị loài Người nhặt lấy? Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy? Thế nào là bị mắc vào xoáy nước? Thế nào là bị mục nát bên trong?
-- Bờ bên này, này Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ này.
Bờ bên kia, này Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ.
Bị chìm giữa dòng, này Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với hỷ tham.
Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với ngã mạn.
Và này Tỳ-kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỳ-kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỳ-kheo bị loài Người nhặt lấy.
Và thế nào, này Tỳ-kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây, Tỳ-kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: 'Mong rằng với giới luật này, với cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một loài chư Thiên!' Ðây, này Tỳ-kheo, được gọi là bị phi nhân nhặt lấy.
Bị mắc vào xoáy nước, này Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục công đức.
Và này Tỳ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỳ-kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Ðây, này Tỳ-kheo, được gọi là bị mục nát bên trong" (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, IV. Khúc Gỗ (1))
Cho nên Đức Phật dạy mình phải thiện xảo, khéo léo về con mắt này, về cái nhìn này, về cái nghe này, cái ngửi, cái nếm, cái xúc, cái biết này. Phải khéo léo để mình trở về Trúc Lâm Tinh Xá, khéo léo để mình xuyên không, khéo léo để mình đi qua hai mươi lăm thế kỷ, khéo láo để mình xuất ly ra khỏi thời gian, không gian, không có giờ gì nữa, không có đâu nữa, chỉ có Trúc Lâm Tinh Xá mà thôi, về tới rồi.
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về duyên khởi?'
-- Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo biết như sau: Nếu cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Nếu cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; do duyên sanh lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy, này Ananda, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Nhưng do sự diệt trừ, sự ly tham hoàn toàn của chính vô minh này, các hành diệt; do các hành diệt, danh sắc diệt; do danh sắc diệt, lục nhập diệt; do lục nhập diệt, xúc diệt; do xúc diệt, thọ diệt; do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt hoàn toàn của khổ uẩn này. Cho đến như vậy, này Ananda, là vừa đủ để nói: 'Tỳ-kheo thiện xảo về duyên khởi'." (Trung Bộ Kinh, 115. Kinh Ða giới)
Cái này thâm sâu lắm, từ từ chúng ta sẽ học, ở đây mình chỉ điểm những cái mắt xích trọng yếu dễ thấy để mình thực hành. Thế nào là khéo léo, thiện xảo về duyên khởi? Cái này có, cái kia có, cái này sanh, cái kia sanh, nếu cái này không có thì cái kia không có, cái này diệt thì cái kia sẽ diệt. Đầu tiên là vô minh, cái khối vô minh uẩn to lớn này tạo ra các cái thân hành, khẩu hành, ý hành, những hành động từ vô minh, mình suy nghĩ trong vô minh không à. Nếu mình không học thánh trí ngũ uẩn, không nhận diện ngũ uẩn, cái suy nghĩ của mình là suy nghĩ của sự không thấy, không biết, suy nghĩ của một cái tôi, một cái của tôi, suy nghĩ của hơn thua, của cao, của thấp, của bằng, của đúng sai, của hay dở, của tốt xấu, của mình người, của nhân ngã bỉ thử, ta đây rồi kia đây. Từ cái suy nghĩ như vậy thì cái lời nói nó phải như vậy thôi, lời nói nó vậy rồi cái hành động nó vậy cho nên ý vận hành ở trong vô minh, lời vận hành trong vô minh và hành động vận hành trong vô minh.
Làm sao để phá được vô minh? Phải thấy được ngũ uẩn rồi khổ, tham, sân, si, dục ái, bản ngã này là khổ. Khi mình có được cái thấy, có được cái sự suy nghiệm, quán chiếu như vậy thì mình phá một phần cái vô minh ở trong cái suy nghĩ, trong cái lời nói, trong hành động. Từ cái ái, cái thủ mình đánh vô thọ cho nên những cái bài mà chúng ta thiền quán, chúng ta nghe pháp, chúng ta tác ý là đánh vào cái thọ để cho cái thọ này nhàm chán, cái thọ này nó không còn hân hoan, không còn khoái thích, nó không còn hí ha hí hửng, nó không còn những cái dục, những cái tham, những cái say đắm, khao khát, thèm khát, đói khát, khát ái nữa rồi mình làm cho cái thọ này nó an tịnh, lắng dịu rồi nó đi đến sự nhàm chán, ly tham ở trong cảm thọ.
Trưa nay là chúng ta học về cái thọ đó, cái pháp hành đó đối với ba cảm thọ, thọ khổ, thọ vui, thọ không khổ không vui, thấy được tính chất vô thường, không có tham đắm, không có hoan hỉ và hướng cái tâm đến sự thoát ra các cảm thọ tức là chúng ta phá thọ, ái, thủ. Phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ là phá thọ, mà phá thọ thì ái đi theo, nó bị phá, ái bị phá thì thủ nó bị phá cho nên cái câu kinh hồi trưa này rất là sâu sắc, không có dự tính gì hết, không có cái dự định, dự tính cho nên tâm không có dính mắt, không có chấp thủ, vì không có dính mắt và không chấp thủ nên không có hoảng sợ, vì không có hoảng sợ thì tâm được tịch tịnh
Không chấp trước bất cứ một vật gì ở trên đời, do cái này có nên cái kia có, mà cái này sanh cái kia sanh, cái này không cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt, nó có thọ thì nó có ái, mà có ái thì nó có thủ. Bây giờ nó không thích thọ nữa, nó nhàm chán thọ, cái ái sẽ lắng dịu xuống và cái thủ sẽ bị phá vỡ, vì thủ bị phá vỡ thì nó không có hữu nữa, không yêu thích, nắm giữ ở trong cái hiện hữu này nữa, khi nó không yêu thích nắm giữ trong cái hiện hữu này nữa thì nó không có sanh, không sanh thì không có già, bệnh, chết. Vị này phải tu tập khéo léo, thiện xảo trong cái duyên khởi này, do sự diệt trừ sự ly tham hoàn toàn của chính vô minh, các hành diệt.
Mình học Nikāya mình mới thấy nó sát sao, nó khít khao, nó rõ ràng. "Do sự diệt trừ sự ly tham hoàn toàn của chính vô minh" nghĩa là sao? Cái vô mình bị cái minh phá, cái thân kiến bị cái chánh kiến diệt cho nên cái vô minh nó đã được minh sanh lên, cái thân kiến, cái ngã kiến bị phá, nó thành tựu cái chánh kiến, cái thấy biết của bậc thánh, tri kiến bậc thánh thì khi thấy biết của bậc thánh, tri kiến bậc thánh, minh kiến, chánh kiến tri kiến của bậc thánh thì lúc đó ly tham hoàn toàn có mặt. Khi sự ly tham này có mặt, nhờ phá được vô minh cho nên cái cửa chánh kiến đầu tiên là phải phá được thân kiến, tà kiến, cái kiến chấp, phá được cái đó thì sau đó sự ly tham mới thành tựu, không phá được vô minh thì làm sao ly tham được.
Ly tham thì giữ giới là giữ giới trong các giới cấm thủ thôi, nếu không phá vô minh thì các cái giới này sẽ đưa được lên các cảnh trời cao nhưng mà nó nằm ở trong tam giới, không đi ra khỏi tam giới vì nó không phá vô minh, nó còn bản ngã. Vì thế bài đầu tiên bậc đạo sư nói cái bước đầu vô tu học là phá thân kiến tức là phá vô minh, khi vô minh được nhìn thấy, được xuyên thủng và phá vỡ thì bây giờ khả năng nhiếp phục, chế ngự và diệt tận tham ái, khát ái mới được thành tựu một cách sắc bén, thiện xảo, mới bứng được tận cái gốc rễ của khát ái, nếu không cái kia nó nhiếp phục, nó chế ngự, đá đè cỏ vì cái gốc của vô minh, của bản ngã, của thân kiến còn cho nên ngoại đạo thành tựu được tứ thiền bát định, chứng được phi tưởng phi phi tưởng xứ mà thái tử Tất-đạt-đa đã từ bỏ.
Ái bị đè bẹp, dục bị đè bẹp, định được thành tựu nhưng mà không phá được vô minh, thân kiến cho nên thái tử Tất-đạt-đa từ bỏ, không giải thoát được. Đến khi dưới cội bồ đề khi chứng được bốn thánh trí về ngũ uẩn, bốn thánh trí về lậu hoặc, thì khi chứng được bốn thánh trí về ngũ uẩn, thấy được vô minh và tham ái, phá vô minh và chứng bốn thánh trí về lậu hoặc thì phá luôn khát ái và tâm giải thoát, tuệ giải thoát, được thành tựu tuệ giải thoát là khi diệt tận hết vô minh thì trí tuệ là được tung ra, thoát ra. Nó không có bị bao bọc nữa, giống như hồi xưa mình coi phim hoạt hình "Aladin và cây đèn thần", mở cây đèn ra là bung khói lên hiện ra ông thần bị nhốt trong cây đèn.
Cái trí tuệ mình cũng vậy, nó bị năm thủ uẩn này phong tỏa, nó phong tỏ trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Khi mình phá được cái vô minh ở trong ngũ uẩn thì tuệ giải thoát, nó sẽ bung ra vô lượng vô biên, không còn nhỏ hẹp nữa ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức ở trong cái hòn bọt này nữa, đó gọi là tuệ giải thoát. Khi tuệ phát sanh lên rồi, nó minh kiến rồi thì nó phá khát ái, tham ái thì lúc đó tâm được giải thoát cho nên tâm giải thoát, tuệ giải thoát tức là phá vô minh và hết được khát ái. Vì vậy sự tu chúng ta đầu tiên thành tựu chánh kiến là phá thân kiến, phá vô minh, sau khi có được minh, có được chánh kiến rồi bắt đầu mới diệt tham ái, khát ái, từ thô đến tế và cho đến ái tận giải thoát.
Ái tận giải thoát ở đây là đứng ở trên chánh kiến mà nói, phải có chánh kiến thì ái tận mới giải thoát cho nên cánh cửa đầu tiên chúng ta là chánh kiến tuyệt đối quan trọng, tuyệt đối quan trọng, và tuyệt đối quan trọng. Cái nhân của chánh kiến là nghe người khác nói và như lý tác ý, là đọc kinh Nikāya, là nghe những lời hướng dẫn đúng chánh tri kiến rồi sau đó mình tác ý thì đó là nhân của chánh kiến. Nó xoay đầu chuyển não, đặt tâm đúng hướng để mình có thể xuyên thủng và phá vỡ cái vô minh này, và lần lần khi minh sanh, tuệ sanh, quang sanh, trí sanh thì lúc đó sẽ thấy ra các lậu hoặc, các tham ái, chấp thủ ở trong sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái; dục ái; hữu ái và vô hữu ái. Tất cả các ái sẽ được nhìn thấy, nó được thấy, được biết và bắt đầu nó sẽ có những sự thiện xảo, những cái trí tuệ để mình đánh phá lần lần từ thô rồi đi đến tế rồi đi đến vi tế, và khi ái tận thì giải thoát, tâm bất động giải thoát.
Cho nên rất là tuyệt vời, mình không yêu thích hiện hữu nữa, mình không ưa thích sự sanh nữa thì mình không sanh. Ví dụ rất dễ, mình không còn ưa thích nó nữa thì nó không có mặt, từ bỏ nó thì như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này, như vậy là sự đoạn diệt hoàn toàn cái đống khổ này. Từ vô minh đưa đến đống khổ, còn minh đưa đến sự diệt khổ, từ ái, thủ, hữu, sanh, già, bệnh, chết đưa đến đống khổ, từ nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, ái tận nó đưa đến sự không sanh, không sanh thì không có già, không già thì không có bệnh, không bệnh thì không có chết, không chết tức là bất tử.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.