Thế Tôn - Bậc Cống Hiến Vĩ Đại Cho Nhân Loại
TINH HOA NIKĀYA
THẾ TÔN! BẬC CỐNG HIẾN VĨ ĐẠI CHO NHÂN LOẠI
–Thích Minh Thành–
Sư thầy: Việc cần làm đã làm xong không còn quay lại trạng thái luân hồi tái sanh nữa nhưng cả một cuộc đời của ngài, ngài dành vào việc hoằng pháp và noi gương Đức Phật tổ tổ tương truyền và rất nhiều chư vị giảng sư cũng học theo hạnh nguyện của Đức Phật hoằng pháp nhiều nơi, đem giáo pháp của Phật gieo duyên, chia sẻ đến nhiều người và một trong các vị giảng sư vẫn ngày đêm hoằng pháp hướng dẫn khóa tu tập, đó là thượng tọa giảng sư đang ngồi trên pháp tòa trong buổi tối hôm nay. Thầy kính thưa với đại chúng, nếu đại chúng có duyên đi lên tỉnh Lâm Đồng và thầy nghĩ rằng chắc ở đây đa số quý vị cũng đã đi ngang lên tỉnh Lâm Đồng, Bảo Lộc và rẽ vào Linh Quy Pháp Ấn phải không ạ? Linh Quy Pháp Ấn là nơi thượng tọa trụ trì và thượng tọa đang hướng dẫn các khóa tu ở trên đó.
Như hồi nãy thầy có tiếp chuyện, thưa chuyện với thượng tọa thì trên đó cũng khoảng có năm – bảy chục Tăng Ni dưới sự hướng dẫn tu học của thượng tọa và thượng tọa vẫn mới một tâm huyết mở khóa học khóa tu để truyền trao giáo pháp đến cho quý Phật tử, để qua đó quý vị tiếp nhận được những gì giáo pháp của Đức Phật. Và thượng tọa biết rằng trong cuộc đời này cái vô giá đó chính là giáo pháp, giáo pháp không đo được bằng tài sản và trong đôi mắt của thánh nhân thì chánh pháp, sự thật chân lý mới là điều vô giá. Vì vậy cả một cuộc đời của Đức Phật cũng như thượng tọa giảng sư ở đây đã tâm huyết và luôn dành thời gian cho việc hoằng pháp độ sanh và mở khóa tu.
Con kính bạch thượng tọa giảng sư, ngày hôm nay là ngày thứ hai trong tuần lễ Phật Đản, tối hôm qua thì chúng Phật tử được nghe bài pháp thoại của đại đức Thích Minh Thiền, trong buổi tối hôm nay thì chúng con được cung nghênh bước chân an lạc và từ tâm của thượng tọa từ xa xôi tỉnh Lâm Đồng vài trăm cây số trở về đây để thuyết giảng cho đạo tràng của chúng con. Thầy xin giới thiệu đến đại chúng hiện diện trên pháp tòa trong buổi tối hôm nay là thượng tọa Thích Minh Thành, ủy viên ban hoằng pháp Trung Ương, trụ trì chùa Linh Quy Pháp Ấn. Chúng con kính bạch thượng tọa, vào giờ này đạo tràng của chúng con đã được trang nghiêm, thanh tịnh, thay mặt cho ban tổ chức chúng con thành kính cung thỉnh thượng tọa khai pháp.
Sư Phụ: Kính bạch trên đại đức trụ trì, toàn thể Chư Tăng tại bổn tự, kính thưa tất cả quý nam nữ Phật tử hiền trí tham dự tuần lễ Phật Đản tại chùa An Lạc vào ngày thứ hai.
"Vui thay, Phật ra đời!
Vui thay, Pháp được giảng!
Vui thay, Tăng hòa hợp!
Hòa hợp tu, vui thay"
(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 194)
Hạnh phúc thay Đức Phật ra đời, hạnh phúc thay giáo pháp cao minh, hạnh phúc thay Tăng đoàn hòa hợp, hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu. Trong giây phút này tất cả người con Phật trên khắp năm châu bốn biển đều hướng về sự xuất hiện của một người, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, sự xuất hiện của một người đem lại an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người, một người ấy là ai? Chính là thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Chính một người này khi xuất hiện ở đời là sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, đem lại an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho cuộc đời này, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người, sự xuất hiện của một người này là khó gặp ở đời, một người này khi xuất hiện ở đời là sự xuất hiện của sự vi diệu và sứ mệnh chung của một người này được đa số tôn trọng cung, kính đảnh, lễ cúng dường. Một người khi xuất hiện ở đời là sự xuất hiện có một không hai, độc nhất vô nhị, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ai ngang bằng, không có ai đặt ngang bằng, là bậc tối tôn, tối thượng giữa các loài hai chân. Người ấy là ai? Chính là Đức Như Lai, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, là một con người mà có thể chứng ngộ được chân lý sự thật tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm, thế giới, chứng ngộ sự thật vĩ đại sâu kính nhất ở trong ngũ uẩn tứ đại và nhân sinh.
"Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân.
Sự xuất hiện của một người, này các Tỳ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang, là sự xuất hiện của đại minh, là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ bốn vô ngại giải, là sự thông đạt của nhiều giới, là sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ của minh và giải thoát, là sự chứng ngộ quả Dự Lưu, là sự chứng ngộ quả Nhất Lai, là sự chứng ngộ quả Bất Lai, là chứng ngộ quả A-la-hán. Của một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỳ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang... là sự chứng ngộ quả A-la-hán". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, Như Lai)
Đó là sự xuất hiện của Đức Như Lai, bậc giác ngộ thấu suốt tận cùng chân lý tất cả mọi phương diện, khía cạnh, gốc độ, viên mãn, đồng điều thân tâm và thế giới. Sự xuất hiện này có vĩ đại không? Dạ thưa chủ đề hôm nay con xin cúng dường pháp đến chư tôn đức và chư hiền trí là Thế Tôn – bậc cống hiến vĩ đại cho nhân loại, đó là chủ đề của ngày hôm nay. Chữ "Thế Tôn" nhiều khi mình nói hoài rất là quen nhưng mà mình không hiểu ý nghĩa, Thế Tôn là thế gian tôn kính, là bậc thế giới tôn thờ, là bậc lịch sử tôn trọng, là ý nghĩa chữ Thế Tôn, là cả thế gian tôn kính gọi là Thế Tôn và Thế Tôn là bậc cống hiến vĩ đại cho nhân loại là nói tắt, nói rộng ra là cho cả chư thiên, cho cả tam giới, tứ sanh, ngũ thú, lục đạo và cửu hữu tức là ba cõi, bốn loài, năm đường, sáu nẻo và chín cảnh giới đều được sự lợi ích, sự hạnh phúc, sự an lạc do sự xuất hiện của Đức Phật ở trên cuộc đời này. Cái lợi ích, an lạc như thế nào chúng ta sẽ tìm hiểu trong tối hôm nay.
Như vậy Thế Tôn cống hiến cái gì mà vĩ đại? Cống hiến cái gì mà tối thượng, vô thượng, cao thượng, thù thắng? Thế Tôn không phải đem vàng bạc, không phải đem vật chất, không phải đem danh vọng cho cuộc đời này mà Thế Tôn là người từ bỏ những cái đó và đi tìm ra được một đạo lộ thoát khổ, một con đường hạnh phúc, một lối thoát thoát ra tất cả khổ đau và đạt được hạnh phúc cứu cánh rốt ráo đại viên mãn. Chúng ta muốn cái hạnh phúc này không? Như vậy muốn được hạnh phúc phải thấy được bản chất sự thật của đời sống này và phải biết được cái gì nó làm cho mình đau khổ, mình tiêu diệt cái nguyên nhân đau khổ đó thì mình mới đi đến hạnh phúc, rất là khoa học, rất là nhân quả, rất là thiết thực, hiện tại, thực tế chứ không phải là chỉ vô cầu xin, không phải chỉ cầu xin, chỉ mong Đức Phật ban cho mình hạnh phúc mà Đức Phật chỉ cho mình cách thức, phương pháp, con đường, đạo lộ lối thoát và mình đi đúng theo cái cách thức, làm đúng theo cái phương pháp và mình đi đúng theo cái đạo lộ, con đường đó thì mình sẽ đi đến cái đích của sự chấm dứt đau khổ và đạt hạnh phúc tối thượng của Niết-bàn.
Như vậy thì Thế Tôn chứng ngộ bốn thánh trí, đây là sự cống hiến vĩ đại của Đức Phật. Bốn thánh trí đầu tiên mình nói cho dễ hiểu, cái này nhiều tên lắm nhưng bây giờ con nói cái từ cho chúng ta dễ hiểu là bốn sự thật vĩ đại của đời sống này, bốn sự thật thâm sâu, vi diệu, cao thượng, tối thắng trong đời sống kiếp nhân sinh mà tất cả chúng sanh đều không thấy, không biết, không rõ mà Đức Phật chứng ngộ được. Cái thánh trí đầu tiên là thánh trí về khổ nhưng mà cái chỗ thâm sâu ở đây là tại sao con người khổ chúng ta không biết, và làm sao để hết khổ chúng ta càng không biết, chúng ta cứ đi tìm những cái hạnh phúc mà tìm lộn địa chỉ. Chúng ta tưởng đâu tiền bạc nhiều là hạnh phúc, chúng ta tưởng đâu ăn ngon là hạnh phúc, nhà đẹp là hạnh phúc, xe đời mới là hạnh phúc và chúng ta đem cả sức khỏe, cả tuổi trẻ, cả cái chất xám cả cuộc đời lao tâm lao lực, truy đuổi, chạy tìm nhọc nhằn, vất vả, lỗ mũi ăn trầu cái đầu xỉa thuốc và cuối cùng của cuộc đời thì chúng ta hốt được cái nắm tro.
Chúng ta giành giật cả cuộc đời được bốn miếng ván, chúng ta hơn thua đủ kiểu, đủ điều, tranh đấu, tranh giành, giành giật, chiến tranh, quý vị thấy mưa bom lửa đạn, nước mắt đau thương ngay trước mắt chúng ta trong cái thời đại này. chúng ta chứng kiến rất nhiều những cái nỗi khổ đau, nào là thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, động đất, sóng thần, lũ lụt, hạn hán, biến đổi khí hậu, bao nhiêu những thứ chất độc thậm chí trong không khí cũng có độc, thực phẩm cũng có độc, nguồn nước cũng có độc mà đó là chưa kể ba cái độc khủng khiếp ở trong tâm là tham độc, sân độc, si độc. Đó là nhiễm độc tùm lum hết, khắp tất cả mọi nơi là trúng độc, như vậy thì càng hơn bao giờ hết cái giai đoạn này chúng ta cần tu nhiều không? Quyết tâm tu nhiều không?
Cái trí đầu tiên chúng ta thường hay học trong tứ thánh đế nhưng hôm nay con chỉ chúng ta một cái bí kiếp này độc đáo lắm, chúng ta thường nghe nói sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, yêu thương xa lìa là khổ, oán ghét mà gặp nhau là khổ, mong cầu không được là khổ, rồi cuối cùng cái câu này quan trọng, trong tạng kinh Nikāya mới có nói "tóm lại năm thủ uẩn là khổ", cái câu này là cốt tủy của kinh tạng Nikāya, tóm lại năm thủ uẩn là khổ, đây là giải mã sự thật về khổ của nhân sinh, của tam giới nhưng mà chúng ta nghe vậy chúng ta chưa có hiểu đâu.
"Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỳ-kheo. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, I. Như Lai Thuyết)
Như vậy thì năm thủ uẩn là cái gì? Là cái tâm nắm chặt vào trong cái sắc pháp, một cái tâm hôn mê nắm chặt vào trong cái sắc pháp, nói rõ ra là nắm chặt vô nhà cửa, xe cộ, tiền bạc, đất đai, ruộng vườn, tài sản, nói thẳng là nắm chặt vô cái thân này. Mình có cho rằng thân này là tôi, là của tôi không? Đây là cái gốc, nguyên nhân của sự khổ, tại vì mình cho rằng cái thân này là tôi, của tôi, cái nhà này là tôi, là của tôi, miếng đất là tôi, là của tôi, mấy cái tờ giấy xanh xanh đỏ đỏ đó là tôi, là của tôi, ai đụng vô mấy tờ giấy đó thì sẵn sàng… thậm chí là người thân với nhau, cha mẹ, anh em ruột, vợ chồng sẵn sàng quay lưng, sẵn sàng trở mặt, thậm chí là xác hại lẫn nhau vậy mình cho cái đó là tôi, là của tôi.
Cái thứ hai là cái tâm nắm chặt vào trong các cảm giác, cái này rất sâu sắc. Tâm nắm chặt vào những cảm giác, cho rằng những cảm giác này là tôi, là của tôi nhưng mà cảm giác đó đâu phải là tôi đâu, cái cảm giác này là do duyên sanh. Thí dụ mở thách thức danh hài lên xem thì mình cười nhưng trước khi xem mình có cười không và sau khi coi xong là hết rồi, như vậy cái cảm giác vui cười đó là do cái con mắt tiếp xúc, lỗ tai tiếp xúc, cái cảm giác đó là do tiếp xúc sanh khởi. Mình coi bi kịch rồi mình khóc thì cái đó cũng do nhân duyên tiếp xúc, mình nhìn, mình thấy, mình nghe, mình cảm thọ, cảm xúc thì những cái cảm giác đó là do duyên sanh mà mình cho đó là mình, là của mình. Vì thế hễ ai làm cho mình vui là mình thích, mình khoái, mình ái, còn nếu ai làm cho mình giận thì tức, sân, làm đủ thứ để trả đũa trở lại mà mình không biết cái cảm giác vui buồn, tham sân này chỉ là pháp duyên sanh, vô thường thôi chứ không phải là tôi, là của tôi. Cái tâm nắm chấp thứ hai là nắm vô cảm giác, cảm thọ.
Tiếp theo là một cái tâm hôn mê nắm chặt vô hình bóng trong tâm và cho những hình bóng này là tôi, là của tôi. Những hình bóng lờ mờ trong tâm là tưởng, cái hình bóng nào khởi trong tâm mình cũng nói đây là tôi, tôi nghĩ, tôi tưởng, cái đó là tôi nhưng mà cái hình bóng đó vô thường, nó là duyên sanh, nó không phải là mình, không phải là của mình, chẳng qua mình nhìn thấy rồi nó ám ảnh vô trong tâm mình vậy thôi. Như vậy mình nắm vô sắc, nắm vô thọ, nắm vô tưởng, nắm vô hành là nắm vô những cái suy nghĩ, suy nghĩ nào cũng cho là tôi, là của tôi. Đầu tiên cái thánh trí thứ nhất Đức Phật nói là sự chấp thủ vào trong năm uẩn là phiền não và khổ đau.
Bây giờ một cái đầu thôi là mình thấy mệt rồi, mình nắm vô cái nhà là thấy có mệt không? Rồi mình nắm vô cái chiếc xe, mình nắm vô cái miếng đất, mình nắm vô mấy cái tờ giấy với mấy cái miếng nhỏ nhỏ màu vàng có mấy cái con số chín, giá cả nhảy lên nhảy xuống thôi mình cũng mệt theo nữa phải không? Cái tâm nắm chặt vào trong cái sắc này là phiền não và khổ đau, rồi bây giờ đi sâu vô nắm vô cái thân này, quý vị nghe đó rầm một cái thành một đống bầy nhầy thì đó là của ai. Vô thường, nó là tứ đại, nó là đất, nước, gió, lửa, nó không có của ai hết, đủ duyên thì nó kết hợp lại và hết duyên thì nó tan rã, đây là cái chỗ sâu sắc mà mình tu học Phật phải nắm cho được cái này vì nắm được cái này thì mới bớt khổ, mới hết khổ, mới giảm khổ, còn không thấy cái này thì quý vị có cầu xin cỡ nào cũng khổ hết.
Đây là cái cửa đầu tiên của bát chánh đạo là chánh kiến, thấy đúng về sự thật thân tâm của mình. Thân là sắc, tâm là thọ; tưởng; hành; thức mà mỗi ngày quý vị đọc "quán tự tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba-la-mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không" hay giai có? Nếu thấy giai không là trống rỗng thì mới hết khổ, độ nhất thiết khổ ách, còn này mình chiếu mà mình thấy giai có là mình khổ ách hoài. Cho nên cái đóng góp đầu tiên, thánh trí tuệ đầu tiên, thánh đế đầu tiên, sự thật đầu tiên, tiếng thánh chuông đầu tiên mà Đức Phật vọng lên ở giữa thế gian này là sự chấp thủ vào năm uẩn này là phiền não và khổ đau. Hãy thấy cho rõ cái này cho nên bây giờ mình cứ nhớ, mình cứ niệm cái câu này, cứ rảnh là mình niệm "thân này không phải tôi, không phải của tôi", nổi nóng lên thì niệm "cảm giác này không phải tôi, không phải của tôi, cảm giác này tan biến đi", hình bóng người nào đó ám ảnh hoài trong tâm thì niệm "hình bóng này không phải tôi, không phải của tôi", cái suy nghĩ cứ nghĩ tới nghĩ lui hoài thì niệm "cái suy nghĩ này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, tan biến đi, cái suy nghĩ này tan biến khỏi tâm ta đi, tan biến hoàn toàn đi".
Đó là thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là tối thượng chú. Thí dụ như mình nhìn thấy mình sân si lên, mình phiền não lên thì mình nói "cái thấy này không phải tôi, không phải của tôi, nó là duyên sanh thôi, cái nghe này cũng vậy, đừng có chấp vô cái thấy, cái nghe này, chấp vô cái này là khổ đau. Đừng chấp vô cái thức uẩn này, cái thấy nghe này". Như vậy cái thánh trí đầu tiên nếu mà mình có một cái sự chiêm nghiệm là xin thưa với các vị là khi lên Linh Quy Pháp Ấn chúng con thì bài tập đầu tiên là cho nhận diện ngũ uẩn đã rồi sao mới nói gì nói. Tức là phải biết thân tâm của mình nó làm bằng cái gì, hoạt động ra làm sao thì lúc đó bắt đầu mình mới tu học được. Mình phải biết được cái tâm là cái gì, thọ; tưởng; hành; thức như thế nào rồi bắt đầu mình mới nhìn thấy được cái sự hoạt động vận hành của nó. Thánh trí thứ nhất là Đức Phật nói cho mình biết cái tâm nắm chặt vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này làm cho mình buồn khổ và sầu đau.
Cái thánh trí thứ hai mới quan trọng, tại sao mình khổ, tại sao mình nắm chặt vô cái thân với cái tâm này, Đức Phật trình bày cái thánh trí thứ hai nguyên nhân của khổ là do vô minh và tham ái, hoặc là khát ái. Vô minh cái gì? Vô minh là không thấy, không biết về năm uẩn, cho nó là tôi, là của tôi mà không biết nó là năm nhóm. Nó giống như cái bàn tay năm ngón, sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng bây giờ mình không biết nó là năm nhóm, năm uẩn, năm tổ hợp, năm thành phần mà mình cho nó là vậy. Đây là một tự ngã, là một cái bản ngã, là một cái tôi, một cái ta, là cái người chưa tu, chưa có trí về ngũ uẩn, chưa có học nhận diện ngũ uẩn, chưa có thấy được ngũ uẩn, chưa có nhìn ra ngũ uẩn, chưa có kiến ngũ uẩn thì có một cái tôi rất to, rất bự, rất lớn, rất là siêu to khổng lồ là một cái bản ngã, ai đụng vô thì biết tay tôi.
Đây là một cái bản ngã, chấp ngã, khi mình nhìn ra được năm uẩn thì cái này nó mở ra từ từ, sắc; thọ; tưởng; hành; thức cái này không có cái tôi trong đây, cái này là năm nhóm kết hợp thôi, nhìn từ trong cái chấp ngã này nó mở ra để nó thấy được năm uẩn. Do mình không thấy, không biết, vô tri, vô trí, vô minh đối với ngũ uẩn cho nên mình tưởng lầm đất, nước, gió, lửa là tôi, là của tôi, cái lầm tưởng này đó là vô minh về sắc uẩn, vô minh về thân, vô minh về cái hình hài này, không hiểu biết và vì mình không hiểu biết, không thấy rõ nó cho nên mình yêu nó, mình thích nó, mình quý nó, mình khoái nó, mình ham nó, mình mê nó, mà chẳng những mình mê cái thân của mình mà mình còn mê cái thân của người khác nữa. Có một cá chưa mệt mà còn rước thêm cái thân thứ hai về ở chung, có không?
Lúc đầu là mình tưởng mơ dữ lắm, mình nói mình không có người này thì mình chết, mình sống không nổi, mình phải có cái người đó mình mới sống nổi, đến khi rước người đó về ở mấy năm rồi mình nói "trời ơi giờ chịu hết nổi rồi". Tại vì tưởng tri, thức tri chứ không phải tuệ tri, vì mình không thấy biết được sự thật tứ đại của thân tâm này cho nên mình sống trong cái sự mơ tưởng, sự nhận lầm, ngộ nhận. Mình cho là sạch, là đẹp, là vui, là sướng, là tôi, là ta, là còn hoài chứ mình không thấy vô thường, khổ, vô ngã, mình thấy là thường, vui, tôi, ta và mình thấy là nó hấp dẫn lắm, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn. Từ cái thấy sai này cho nên mình có nhiều cái hệ lụy, nhiều cái trói cột và chúng ta thấy ngày hôm nay chỉ cần chụp cái tấm hình đưa lên thôi cũng có thể xảy ra án mạng, một cái ánh nhìn chút thôi cũng có thể chung thân, một tiếng hát karaoke thôi cũng có thể là tiêu mất một sinh mạng.
Chúng ta thấy khủng khiếp không? Vì cái sự chấp ngã, chấp thủ nó quá nặng, nó quá lớn, nó quá to, quá bự, nó quá là chắc cho nên con người ta càng ngày càng tham, sân, si mãnh liệt, cường liệt và quyết liệt, từ đó nó đưa cho mình đến sự khổ đau. Bây giờ Đức Phật dạy mình quán thân như thế nào? Trong tứ niệm xứ Đức Phật dạy mình niệm thân, quán thân ở trên thân là Đức Phật chỉ cho mình phá cái vô minh về cái sự chấp thân này, thân kiến này. Bây giờ quý vị ngồi đây đang làm cái gì hết sức quan trọng mà không làm là chết liền? Chính là cái thở nhưng một ngày mình nhớ được mình đang thở mấy tiếng đồng hồ? Nhớ cái gì nhiều? Nhớ tiền, phải không? Sáng thức dậy là ăn cái gì, trưa ăn cái gì, chiều ăn cái gì, đi làm kiếm bao nhiêu tiền, nhớ cái đó nhiều hơn, nó xâm chiếm nhiều hơn.
Đức Phật dạy mình sáu cái pháp để đánh phá cái vô minh về chấp thân, niệm hơi thở là thứ nhất, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn tử thi. Muốn phá vô minh, muốn dẹp đi sự hiểu sai lầm về cái thân này, về cái tứ đại này phải tu sáu pháp, cái pháp đầu tiên là nhớ mình đang thở và cái thở này là mượn không khí vô rồi trả ra, bây giờ mượn vô trả ra một cái đi luôn mượn lại không được là đi đâu tắm suối vàng. Khi mình ngồi thiền phải quán cái hơi thở đây là sự vay mượn, là phong đại, là gió thôi, cái mạng sống này là nhờ gió hít vào, là nhờ gió thở ra.
"Đem vào là nhờ gió,
Tống ra cũng gió đưa.
Sự hô hấp tuần hoàn,
Tất cả đều do gió.
Một phen gió nghiệp dừng,
Thân này như khúc gỗ".
(Gió Nghiệp - Thiền viện Chân Không, tháng 8/1982)
Chỉ là hơi thở thôi, giành giật nhau làm gì, hơn thua nhau làm gì, tranh đua nhau làm gì. Bây giờ chồng mình nói chuyện mà lỡ muốn hơn thì thôi kệ nhịn ông ấy cái đi cho lành, được không? Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi bớt lửa, một đời không khê, ổng đang giận thôi mình bớt lời, mình nhịn đi, cơm đang sôi mình phải bớt lửa chứ giờ cơm đang sôi mình để lửa vô thì khét lẹt nhiều không. Mình nhắc nhở "lo thở đi nè, giận cái gì, lo quay lại thở đi", mình hướng vô kêu cái cảm giác toàn thân để thực hành Tứ niệm xứ luôn là "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương". Đưa tay lên vuốt trái tim và nói "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương", học kỹ cái này vì đây là bí kiếp võ công, bất cứ lúc nào mọi lúc mọi nơi thay cho câu niệm Phật, bất cứ ở đâu mình hướng vô lồng ngực là cái chỗ trung tâm của tất cả các cảm thọ mình kêu "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương".
Chúng ta phải tập mỗi một ngày, mới vừa ngủ thức dậy là niệm liền, ăn sáng xong niệm, trưa niệm, nghỉ trưa niệm, chiều tối niệm, trước khi ngủ niệm. Mình tập một thời gian mình sẽ thấy phép màu xuất hiện, đó là tứ niệm xứ, đó là quán thọ trên cảm thọ, tưới tẩm các cái cảm xúc làm cho nó lắng dịu, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương, hiền hòa, hiền hậu, hiền lương, hiền nhân, hiền đức, hiền từ, hiền trí và mình đi theo bậc hiền thánh. Rất quan trọng là tu tập cái cảm thọ, như vậy từ cái hơi thở mình niệm rồi mới liên kết quay về cảm thọ và mình luôn luôn tập cho mình có một cái cảm giác lúc nào cũng lắng dịu hết thì quý vị sẽ thấy gia đình của mình rất là hài hòa, tất cả cái sự cự cãi, bất hòa, bất ổn, bất an, bất thường, bất trắc, bất định, bất bình thường là điều vì cái cảm thọ này nó không có an tịnh, lắng dịu, nó không có hiền, dễ nổi nóng, dễ quạo, bức xúc, bực bội, khó chịu, cau có, cọc cằn, ghim gút, hơn thua, tật đố, ganh tỵ, đố kỵ, ta đây. Những cái đó nguyên nhân đau khổ, bây giờ quyết tâm dẹp hết mấy cái này.
Mình muốn dẹp cái này mình phải luôn luôn quay lại nhìn cảm thọ, cái này quan trọng lắm, khóa tu của chúng con ở Linh Quy Pháp Ấn luôn luôn thực tập cảm giác toàn thân, tức là luôn luôn lúc nào cũng quay trở về coi cái cảm giác của toàn bộ cơ thể của mình bây giờ nó đang như thế nào, nó dễ chịu nó khó chịu, hay là nó không dễ chịu không khó chịu. Hễ nó khó chịu là nó có sân ở trong, nó có bức xúc ở trong đó thì lập tức phải kêu nó dễ chịu xuống, cái pháp như lý tác ý là tuyệt đối quan trọng, là pháp hướng tâm, dạy tâm, giáo dục tâm, huấn luyện tâm, dẫn dắt tâm, dạy dỗ tâm, lèo lái tâm đi theo cái ý mình muốn. Bây giờ làm tài xế mà mình không biết đường, mình không biết lái xe nữa thì đưa đi đâu? Lái xe cũng không rành mà dám leo lên lái, đường cũng không biết mà dám leo lên chạy thì đi đâu? Tai họa, tai nạn, tai hại, cũng vậy mình không biết tâm mình là cái gì, mình không biết tâm đang hoạt động như thế nào, mình càng không biết tâm đang bệnh cái bệnh gì thì làm sao trị được.
Cái tâm có bệnh không? Bệnh nhiều không? Bức xúc, bực bội, cọc cằn, cau có, khó chịu, ghim gút, sân hận, phẫn nộ, ích kỷ, hẹp hòi, ta đây, hơn thua, ngã mạn… đủ thứ hết, đầy trong đó là những cái chứng bệnh của tâm, là những khuyết tật của tâm, là những cái khối u, cái ung nhọt, cái ung hạch, cái ung bướu, cái ung thư của tâm. Nó từ vô lượng kiếp tới giờ mà mình không có mở con mắt trí huệ, mình không thấy cho nên thánh trí Đức Phật chỉ cho mình nhận diện lại ngũ uẩn, nhìn vào trong các cái cảm thọ, nhìn vào trong suy nghĩ, nhìn vào trong hình bóng trong tâm mình để phát giác, phát hiện cái nguyên nhân gì làm cho mình nhức nhói, tại sao nó làm cho mình bức xúc, bực bội.
Bực hoài mà không biết tại sao bực, tôi cứ bực hoài, tôi buồn cũng không biết tại sao tôi buồn, tôi khó chịu mà tôi cũng không biết tại sao tôi khó chịu, cứ thấy thiếu thiếu mà không biết thiếu cái gì. Có nhà cửa rồi, chồng con, gia đình, tài sản có rồi mà cứ thiếu ở trong, không biết thiếu cái gì, đó là những cái lậu hoặc ở trong tâm, sâu thẳm trong tâm. Cái này phải được hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn và phải được hướng dẫn quán chiếu cảm thọ thì mình mới phát giác, phát hiện, mình mới dùng cái kính hiển vi chiếu nó ra được, phóng đại nó ra rồi phải có bác sĩ tâm linh khám bệnh cho chính xác và trị liệu cho đúng pháp thì cái tâm mình mới khỏe mạnh được, còn không thôi cái tâm mình là cái tâm bệnh, cái tâm suy dinh dưỡng, một cái tâm suy nhược, một cái tâm bệnh khuyết tật.
Thân thì nhìn lành lặng lắm, đẹp đẽ lắm nhưng mà tâm thì bệnh. Bây giờ làm sao để chữa cái bệnh này? Điều quan trọng nhất của chúng ta là chăm sóc cảm giác, nhớ kỹ bốn cái chữ này, chăm sóc cảm giác của mình, chăm sóc cái cảm xúc chăm sóc và tưới tẩm cái cảm thọ là lúc nào mình cũng hướng vô kêu "thôi dễ chịu đi, đừng khó chịu, khó chịu hoài mệt lắm. Trời ngoài nóng rồi còn muốn phựt hay sao? Đã nóng, đã nực rồi bây giờ phựt để cháy hay sao". Cái lửa bên ngoài thấy vậy mà nó không nguy hiểm bằng cái lửa trong tâm, chính vì có cái lửa trong cảm thọ cho nên nó mới đốt nhà, đốt cha mẹ, đốt người này người kia, vợ chồng đốt nhau. Nếu trong tâm không có lửa mà nó mát dịu, nó dễ chịu, nó hiền hòa thì làm gì có đốt ở bên ngoài, nhất trí không?
Ngoài lúc ngồi thiền thì quý vị hướng vô trong chỗ trung tâm cái cảm thọ ngay lồng ngực để kêu cảm thọ "thôi mát dịu đi, dễ chịu đi, ngọt ngào đi, đừng có khó chịu, đừng có bực bội, đừng có sân hận nữa. Sân để được cái gì?". Bây giờ con chỉ quý vị cách như lý tác ý là cách dạy dỗ tâm, thí dụ mình để ý chỗ ngực thấy bốc lên, mới nghe câu nói mà thấy nó phừng lên thì tác ý "thôi lắng dịu giùm cái đi, phựt lên cháy để được cái gì. Tâm ơi là tâm! Tâm có nghe không tâm, tâm cứ đốt hoài, cứ phựt hoài, cứ cháy hoài, cứ sân hoài rồi cuối cùng được cái gì hỡi tâm ơi là tâm. Tâm ơi tâm, nghe không tâm? Tâm làm ơn nghe lời giùm nha tâm, tâm đừng có gây ra khổ cho mình, khổ cho người nữa nha tâm, tâm hiền ngoan đi chị thương, tâm lắng dịu đi, tâm dễ chịu đi, tâm hiền hòa đi, tâm yêu thương, cảm thông, tha thứ đi tâm. Sân hận để làm gì? Có gì đâu mà hờn mà giận? Có gì đâu mà hận mà sân? Tâm ơi sao cứ giận hoài, tâm càng sân hận thì càng khổ đau. Tâm ơi sao cứ giận hoài, tâm càng sân hận thì càng khổ đau, mỗi người thì mỗi nghiệp khác nhau, làm sao có thể bắt ai giống mình".
"Con mèo thì phải meo meo,
Chó thì gấu gấu, muỗi thì vo ve…
Mỗi người tập khí khác nhau
Làm sao có thể bắt ai giống mình"
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Mình cứ hướng vô cái tâm mình kêu, quý vị thấy con chó thì nó gâu gâu mà con mèo thì nó meo meo, bây giờ mình kêu con chó đó đừng có gâu gâu, mày phải meo meo cho ta làm sao nó làm được, phải không? Trong khi cái tật mình hay bắt người ta giống ý mình mà không giống thì giận sân lên, như vậy mình khổ. Chi vậy? Họ đã quen cái cách nghĩ như vậy rồi, họ đã quen cái tưởng như vậy rồi, họ đã quen cái nhận thức như vậy rồi, cái nghiệp họ huân tập, cái cảm thọ như vậy rồi mình phải hiểu cho họ, thông cảm cho họ, yêu thương, tha thứ cho họ mới được chứ giờ mình bắt họ theo ý mình mà họ không chịu theo là mình sân, mình bực, mình khó chịu. Chồng con, anh em, cha mẹ cũng đòi phải đi theo cái ý mình vậy thì như vậy là tự mình làm cho mình khổ, phải vậy không?
Bây giờ mình tập hiểu và thương, cảm thông và tha thứ. Mình phải hiểu rằng ai cũng có cái nghiệp hết, mình có nghiệp không? Ai cũng có cái sân to bự, ai cũng có cái bản ngã siêu to khổng lồ hết, ai cũng tham hết trơn, túi tham không đáy, tham quá trời tham. Mình hiểu được cái tham, sân, si của mình, mình hiểu được cái tôi của mình, đây là khổ tập thánh đế, cái nguyên nhân của khổ nó nằm chỗ này rồi mình cũng đau khổ vì cái tham của mình, mình cũng khổ đau vì cái tức giận của mình, mình cũng đau khổ vì cái tôi, cái bản ngã của mình khi người khác xúc chạm thì cái người thân mình họ cũng đau khổ giống y như mình, có khi còn nhiều hơn nữa tại vì mình có nghe pháp, mình biết tu mà người ta chưa biết tu.
"Mình biết tu mà tại sao mình lại không tha thứ cho người không biết tu vậy tâm? Tâm ơi là tâm! Tâm bao dung, tâm cảm thông, tâm tha thứ, tâm độ lượng nha tâm, tâm hiểu và thương nhiều hơn nữa nha tâm, tâm cảm thông cho mọi người đi tâm. Tâm đừng có nhỏ nhặt, nhỏ mọn, nhỏ nhích, nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ bé để rồi chết làm con muỗi đi chích người ta, làm con kiến, làm vi trùng, cái tâm phải độ lượng, cái tâm cho hiền hòa, cái tâm cho từ ái, cái tâm hỷ xả để sanh cõi nhân thiên để tu tập thành tựu Niết-bàn tối thượng". Mình cứ nhắc cái tâm hoài vậy đó, hồi xưa quý vị chưa có biết cái pháp tu như lý tác ý thì quý vị cứ đi kiếm người này người kia để tâm sự, cứ kiếm người để trút bầu tâm sự vì không trút cái bầu ra được thì khó chịu lắm, rầu thúi ruột. Bây giờ không cần kiếm ai trút bầu tâm sự nữa hết mà hướng vô cái tâm này để giáo hóa cái tâm, huấn luyện tâm, dạy dỗ tâm, giáo dục tâm. Mình dạy tâm mình giống y như mình dạy con vậy đó, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là năm đứa con mà năm đứa con này mình bỏ quên nó vô lượng vô biên kiếp rồi.
Quý vị thấy mình đâu có để ý đâu, mình đâu có huấn luyện, đâu có tu tập đâu. Cái hình bóng trong tâm mình, cái tưởng mình cũng không biết luôn, mình không có huấn luyện, tu tập rồi cái suy nghĩ là cái hành muốn nghĩ gì nghĩ, nghĩ lung tung hết mình cũng bó tay với nó, rồi cái nhận thức cũng vậy. Bây giờ mình nhìn ra được, tự nhiên có năm đứa con sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình quay lại lo dạy năm cái đứa con này hoài, nếu tự nhiên buồn bực, khó chịu thì tác ý "thôi nha tâm, hoan hỉ nha tâm, vui vẻ lên tâm. Giờ này người ta ở trong bệnh viện, ở trong chiến trường, chiến tranh, giờ này người ta đang bò lết, đang ở ngoài công viên, ở dưới dạ cầu, gầm cầu, người ta đang đi bán vé số từng đồng từng cắt, mình được ngồi đây tu hoan hỉ không tâm, hạnh phúc không tâm".
Phải biết làm cho cái tâm mình vui, phải biết làm cho cái tâm mình hoan hỉ, phải biết làm cho cái tâm mình phấn khởi, phải biết làm cho cái tâm mình hạnh phúc trong khi tu. Đó là hỷ vô lượng tâm, phải tập cái tâm hỷ, nhiều khi đi ra làm ăn này kia cái mặt tươi rói, đi ăn nhà hàng, đi chơi mặt tươi như hoa nở mà vô ngồi thiền cái mặt buồn rười rượi là mình phải biết tác ý, lúc đó phải biết tu tập cái tâm hỷ. Mình bước tới cổng chùa phải thấy khỏe, nhẹ, vui, thanh tịnh, an lạc, ly trần thoát tục, lên tiên, được không? Bước vô cổng chùa là thấy khỏe vì vô cửa không rồi, liệng hết tất cả những cái sân si, hơn thua, thị phi ngoài cổng chùa, bước vô đây an lạc… an lạc… an lạc.
Mình đang ngồi ở trong cái an lạc mà mình không an lạc là tại mình đúng không? Đâu có ai bắt mình khổ đâu, tại cái cảm thọ ở trong không chịu buông xả ra, thí dụ mình ngồi đây có Thế Tôn, Phật, Pháp, Tăng đầy đủ, tứ chúng đồng tu thanh tịnh, trang nghiêm, hoan hỉ, phấn khởi, an lạc như vậy mà tự nhiên mình nhớ cái câu người ta nói lúc sáng rồi mình bực lên, ngồi đó cứ nhớ câu nói đó hoài, nhớ hình ảnh của người nói câu đó như vậy thì tại tự mình. Mình bỏ cái hình ảnh đó đi, mình quay trở về cái thực tại tác ý "thôi cái hình ảnh tan biến khỏi tâm ta đi, ta không muốn cất giữ hình ảnh này, ta không muốn là cất chứa hình ảnh này, ta không muốn là lưu giữ cái suy nghĩ này, cái suy nghĩ này tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi. Ta muốn an lạc ta không muốn đau khổ, cái đau khổ này tan biến đi, đi khỏi ta đi, ở đây chỉ có an lạc mà thôi" thì lập tức sự an lạc xuất hiện.
Hôm nay chúng ta được truyền cái bí kiếp võ công đó là cái phương pháp như lý tác ý, nhớ kỹ xoay vào tâm nhắc hoài. Thí dụ như cái tâm muốn hơn thua thì mình nói "thôi hơn thua cái gì, hơn thua vô lượng, vô số, vô biên kiếp rồi, hơn thua dưới địa ngục, ở trong vòng súc sanh, ngạ quỷ, hơn thua trăm đời ngàn kiếp, vô thỉ kiếp tới nay, luân hồi bao nhiêu dòng nước mắt rồi giờ chưa đủ hay sao? Giờ muốn kiếm chuyện nữa hả tâm? Kiếm chuyện để làm cái gì vậy? Thôi buông xuống đi, tâm buông xả là tâm hạnh phúc". Đức Phật gọi là pháp khéo thuyết, thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, không có trải qua thời gian, có hiệu quả tức thời có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Tu là kết quả ngay lập tức, không phải đợi đến chết mới có kết quả, cứ quay vô ngay cái tâm sân rồi xả cái tâm sân, làm cho khởi lên cái tâm từ, ly cái tâm tham làm cho khởi lên một cái tâm hiểu thương và phá tan cái tâm si để cho cái trí huệ bừng sáng lên thấy rõ cái bản chất cuộc đời này vô thường, khổ, vô ngã, không có gì là ta, không có gì là của ta, không có gì là tự ngã của ta. Sống đây là duyên sanh, là ngắn ngủi, tạm bợ, vô thường, mình phải đem cái đời sống này sống sao cho có ý nghĩa, cho có giá trị, cho có lợi ích, cho có an lạc, cho có hạnh phúc thì như vậy là ngay lập tức cái suy nghĩ đó, cái cảm thọ đó, cái hình bóng đó, cái nhận thức đó, cái tư duy đó đem mình lập tức từ cái bờ đau khổ đưa qua tới cái bến hạnh phúc, an lạc ngay trong một ý niệm của mình tác ý thôi, chỉ trong một cái tác ý của mình thôi, cách suy nghĩ của mình thôi.
Tức là mình giống như một tài xế lái chiếc xe cuộc đời của mình, mình chính là kiếm trúc sư vẽ cái căn nhà hạnh phúc của mình, mình chính là ông thầy thuốc để chữa cho cái tâm mình khỏe mạnh, mình chính là người quyết định để cho cái tâm mình trở thành tỷ phú tâm linh hay là một cái tâm nghèo đói, bệnh tật là do mình quyết định hết. Đức Phật chỉ cho mình cái cách sau khi nhìn thấy ngũ uẩn mình như lý tác ý, mình tu bát chánh đạo cho nên khi mình thấy ngũ uẩn thì thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, làm đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng của bậc thánh. Tám cái đúng này chính là con đường chấm dứt khổ đau, đây là thánh trí thứ tư, thánh thứ nhất sự chấp thủ vào ngũ uẩn là phiền não và khổ đau, thánh chí thứ hai là do vô minh và tham ái có ra cái đau khổ này, thánh chí thứ ba chấm dứt đau khổ này khi nào hết vô minh và tham ái và thánh trí thứ tư là con đường, cái đạo lộ, cái phương pháp, cái cách thức, cái lối thoát ra khỏi đau khổ là tám đúng của bậc thánh mà tám đúng của bậc thánh cái đúng đầu tiên mà nãy giờ chúng ta nói là thấy đúng về thân tâm này là thấy rõ ngũ uẩn không có một cái bản ngã, thấy rõ nó chỉ là sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Sau khi mình thấy rõ, thấy đúng rồi tới nghĩ đúng. Thấy đúng như thế nào? Thấy biết chân chánh về ngũ uẩn, suy tư chân chánh bỏ tham sân, nói lời chân chánh không tạo nghiệp, thân hành không tạo khổ mình người, nuôi mạng chân chánh theo thánh giới, siêng năng chân chánh bốn việc cần, quán niệm chân chánh về bốn chỗ, định tâm chân chánh theo bốn thiền. Đây là tám đúng của bậc thánh mà cái đầu tiên là thấy biết bốn trí về ngũ uẩn nãy giờ chúng ta nói đó. Nghĩ đúng như thế nào? Nghĩ cách từ bỏ dục, hại, sân, Đức Phật nói là tà tư duy là nghĩ sai. Nghĩ sai là nghĩ gì? Chính là dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy là tà tư duy, tức là mình nghĩ về dục, nghĩ về sân và nghĩ về hại, ba cái nghĩ này là nghĩ sai, nghĩ về dục là cứ muốn cái này, muốn cái kia, muốn cái nọ hoài, ám ảnh trong tâm hoài, nó làm cho mình khổ hoài, mình cứ chạy hoài, mình tìm hoài, mình kiếm hoài, mình khao khát hoài, mình cứ làm đầy tớ, làm nô lệ cho tham ái. Thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái, đây là cái câu nói chấn động đất trời trong Trung Bộ Kinh.
"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái, thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình." (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Này các đệ tử cả cái đời sống này của chúng sanh là một đời sống thiếu thốn, đời sống khao khát, đời sống nô lệ cho tham ái. Nếu như mình không nhận ra được cái bản chất của các cái cảm thọ khao khát, thiếu thốn, nô lệ cho tham ái này mà mình cứ chiều nó, mình cứ bị nó sai bảo, sai khiến, sai xử mình thì cả cuộc đời mình chỉ là đầy tớ cho lòng tham thôi. Mình phải làm chủ cái tâm của mình, mình phải biết như thế nào là vừa đủ, như thế nào là tạm ổn và biết cái thời gian nào là cái thời gian mình dừng lại để đến chùa An Lạc mình tu thiền. Mình có hốt cỡ nào đi nữa rồi cuối cùng mình cũng hốt nắm tro thôi, mình có chạy cỡ nào rồi mình cũng chạy vô huyệt thôi, không có cái đường nào khác hết nhưng mà mình phải biết lúc nào là lúc dừng lại. Và tuyệt vời thay cho chúng ta, hạnh phúc thay cho chúng ta, lợi ích thay cho chúng ta là những con người đang có mặt trong giờ phút này và tại chỗ này chỗ an lạc, tịch tịnh. Thật là lợi ích cho chúng ta, thật là an lạc cho chúng ta, thật là phúc báo cho chúng ta, thật là ý nghĩa, giá trị cho chúng ta khi giờ này chúng ta có mặt ở đây trong những giây phút quý báu, hiếm có, hy hữu khó gặp trong vòng luân hồi sanh tử này chúng ta biết thương mình, biết lo cho mình, biết chăm sóc cho tâm mình và chúng ta biết quay trở về với chính mình trong một không gian thanh tịnh.
Đẹp quá! Tuyệt vời quá và quý hóa cho những giây phút mà chúng ta có mặt trong đạo tràng, trong sự tu tập này. Chúng ta phải luôn luôn ý thức rằng lòng tham này, lòng dục này, lòng ái này chính là kẻ thù sâu sắc nhất trong nội tâm chúng ta, không phải là người bên ngoài hại chúng ta đâu. Bây giờ con hỏi quý vị người giàu nhất hành tinh này có đủ chưa? Chỉ có bậc thánh ly tham và những con người đang bước trên con đường ít muốn biết đủ, thiểu dục tri túc mới là người hạnh phúc nhất trên hành tinh này. Cái người giàu có đầy cả tài sản như vậy họ ngồi trên đống vàng, đóng tiền mà họ thiếu thốn hoài, họ khao khát và họ đâu có hạnh phúc. Quý vị thấy Đức Thế Tôn đầu trần chân đất, khoác trên mình một cái tấm y đơn giản, ôm cái bình bát đi ăn xin, bỏ cái vương vị, ngai vàng điện ngọc ngồi dưới góc cây, sanh dưới gốc cây, tu dưới gốc cây, thành đạo dưới gốc cây, nhập Niết-bàn dưới gốc cây và hạnh phúc tối thượng giữa chư thiên và loài người đó là vì ngài sống cuộc đời ly tham, mình chưa ly tham mình cũng phải giảm bớt tham.
Tham nhiều khổ nhiều, tham vừa khổ vừa, tham ít khổ ít, không tham hết khổ. Mọi người chịu cái nào? Mình suy nghĩ ly tham là cái suy nghĩ đúng gọi là chánh tư duy, cái suy nghĩ ly sân hồi nãy giờ chúng ta nói là chánh tư duy, lìa cái giận, đừng có suy nghĩ theo cái chiều giận, phải suy nghĩ sao cho nó ra khỏi cơn giận thì cái đó là suy nghĩ của bậc thánh, cái suy nghĩ bất hại là không làm hại ai hết.
Mong tất cả tâm an,
Mong tất cả thân lạc,
Tâm an và thân lạc,
Tâm chân thành cầu mong,
Mong tất cả thấu hiểu,
Vạn vật là vô thường,
Chúng chỉ là năm uẩn,
Tạo ra mọi vở tuồng.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Mong sao để cho thân tâm mình an lạc, thân tâm cho người thân trong gia đình của mình cũng an vui và thân tâm của mọi người mình gặp đều là an lành, an lạc, an vui, an ổn, an bình, an yên, an tịnh. Quá tuyệt vời và mình suy nghĩ làm sao suy nghĩ từ bỏ cái tôi và cái của tôi, cái suy nghĩ đó là suy nghĩ đúng đắn, suy nghĩ chân chánh, suy nghĩ hợp với trí tuệ. Suy nghĩ bỏ tham, sân, si, bản ngã, dục ái là suy nghĩ đúng, suy nghĩ đó đưa mình đến an lạc chứ không phải tu là không có suy nghĩ, nếu không có suy nghĩ Đức Phật đâu có dạy chánh tư duy, dùng cái suy nghĩ đúng dẹp cái suy nghĩ sai, dùng cái suy nghĩ c hánh phá cái suy nghĩ tà, dùng cái suy nghĩ từ bi đánh tan cái suy nghĩ sân si, dùng cái suy nghĩ vô ngã để bẻ gãy cái suy nghĩ về bản ngã.
Nhớ cho kỹ tu bằng cái suy nghĩ, nhớ cho kỹ như lý tác ý, mình cứ hướng cái suy nghĩ của mình đừng có tham, tham là khổ, tham cho cái nào cho đúng pháp chân chánh, còn cái phi pháp đừng nên tham. Như vậy Đức Phật dạy thêm nói lời không dối, đâm độc, nhảm, làm việc lành, không sát, trộm, dâm, khi mình nói chuyện là mình từ bỏ nói dối, nói đâm, thọc, nói lời ác độc và nói lời nhảm nhí, nhớ bỏ bốn lời nói này. Đây là tu cái miệng, từ bỏ nói dối, đâm, độc, nhảm, dối là nói dối, đâm là đâm thọc, độc là lời ác độc, nhảm là nhảm nhí, từ bỏ cái này, trong kinh Nikāya dạy rất kỹ cái miệng mình là từ bỏ bốn cái ác nghiệp là dối, đâm, độc, nhảm. Từ bỏ bốn cái lời nói này thì gọi là nói đúng, là chánh ngữ, còn nói bốn lời nói này là tà ngữ, là nói sai, nói dối, nói cho đâm thọc, nói lại cho ác độc, nói nhảm nhí, phù phiếm không có ý nghĩa gì hết.
Đức Phật dạy chúng ta làm việc lành, không sát, trộm, dâm, hồi nãy nói chúng ta về tâm, về miệng, bây giờ tới thân. Tâm là mình suy nghĩ ly tham, sân, si, lìa những cái dục ái, bản ngã là tâm rồi cái lời nói là lìa dối, đâm, độc, nhảm. Bây giờ cái thân là từ bỏ sát, trộm, dâm, từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm đối với người tại gia thì đó gọi là sống đúng. Thấy biết bốn trí về ngũ uẩn, nghĩ cách từ bỏ dục, hại, sân, nói lời không dối, đâm, độc, nhảm, làm việc lành, không sát, trộm, dâm, nuôi sống, nuôi mạng năm nghề nên tránh. Năm cái nghề này người cư sĩ nhất định phải từ bỏ là bán rượu, bán thịt, bán thuốc độc, bán vũ khí và bán người, năm cái nghề này Đức Phật dạy người cư sĩ tuyệt đối từ bỏ.
Khi mình bán rượu người ta uống vô thì người ta say xưa, gây ra nhiều cái tội lỗi, nhiều tai nạn. Quý vị thấy tai nạn giao thông rất nhiều vì cái rượu này là mới một phương diện thôi, nhiều khía cạnh khác nữa cho nên từ bỏ bán rượu. Bán thịt là mình gián tiếp cho người ta đi sát sanh, cái người ăn vô cũng gián tiếp để cho người ta tiếp tục sát sanh cho nên từ bỏ bán thịt. Bán thuốc độc là gián tiếp giết người, gián tiếp sát sanh, giết loài vật cho nên từ bỏ bán thuốc độc. Bán vũ khí thì chúng ta thấy bên nước ngoài hở chút là bắn, nhiều khi vô trường học xả súng làm chết nhiều học sinh rất vô tội, đó là bán vũ khí rất là nguy hiểm. Cuối cùng là bán người thì quý vị thấy rồi đó, có những cô gái bị bán qua hết tay người này đến người kia như một cái món hàng, một cái món đồ giải trí và bao nhiêu những cái đau khổ, những uất hận, những cái uất ức, tức tưởi, nghẹn ngào cho nên Đức Phật dạy mình chánh mạng là sống nuôi mạng năm nghề nên tránh, nhớ kỹ năm cái nghề này.
Siêng hành trì chế đoạn tu trì, quán sát nhìn thân, thọ, tâm, pháp, định tâm tuần tự theo bốn thiền. Siêng là siêng năng, chế ở đây là mình chế ngự sáu căn, đoạn ở đây là đoạn trừ tham, sân, si, tu ở đây là tu tứ niệm xứ và trì ở đây là giữ gìn các thiện pháp mà mình đã có, đừng có cho nó mất và luôn luôn nhìn lại thân của mình coi cái cử chỉ, hành động của mình có phù hợp không. Phải biết rõ việc mình đang làm, cái đi, đứng, ngồi, nằm, nói, nín, động, tịnh, ứng xử, cái cách hành xử của mình. Mình phải luôn niệm sự an tịnh, lắng dịu, niệm cái tâm hiền rồi mình coi cái cảm thọ, coi lại hình bóng ở trong tâm đang có cái hình bóng gì, cái hình bóng này có hiền từ không hay là cái hình bóng này hung dữ, hình bóng này là sân si hay từ bi, hình bóng này là khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã hay cái hình bóng trong tâm mình là tự cao tự đại, ta đây, hơn thua, tranh giành, đấu đá.
Như vậy mình luôn luôn kiểm tra thân, thọ, tâm, pháp, những cái gì đang có trong tâm của mình đó là ác bất thiện pháp hay nó là thiện pháp mình phải thấy rõ. Nếu như nó là ác bất thiện pháp thì lập tức mình giống như cầm cây chổi quét nhà mình quét nó ra, quét những cái suy nghĩ, những cái hình bóng, những cái cảm giác bất thiện, mình cầm cái cây chổi chà mình quét ra khỏi căn nhà nội tâm của mình. Luôn luôn phải quét dọn, phải lau chùi, phải vệ sinh căn nhà nội tâm của mình, một ngày mình quét nhà ba lần, năm lần, bảy lần, quét sạch bong, chùi láng bóng, chưng bông hoa, xịt cho hương thơm rồi xông hơi rồi đủ thứ hết nhưng một ngày quét nhà nội tâm mấy lần. Bây giờ biết quét tâm chưa? Biết quét căn nhà nội tâm chưa? Bất cứ lúc nào rảnh là coi lại, rà lại bên trong có chỗ nào có rác không, trong suy nghĩ có rác thì quét, ở trong hình bóng trong tâm trong tưởng có rác thì quét, ở trong cảm thọ đang có cảm thọ hơn thua là quét. Sống khiêm cung, khiêm hạ, khiêm hòa, vô ngã, vị tha, không có hơn thua, cứ quét như vậy.
Quét đất, quét Chùa, quét đất tâm
Đất tâm không quét uổng công làm
Người đời nếu biết đem tâm quét
Phiền não còn đâu chốn nảy mầm!
Như vậy là quét đất, quét chùa, quét đất tâm, nhớ quét nhà, quét chùa, nhớ quay lại quét cái tâm. Nếu như chỉ quét nhà, quét chùa mà không quét tâm thì uổng công quét, uổng công làm người đời, nếu biết đem tâm quét thì tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã này nó tan biến hoàn toàn, nó sạch sành sanh. Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm, ngon ăn khỏe, nội tâm trở thành một nhà tỷ phú tâm linh giàu có, một nội tâm sung túc, không còn thiếu thốn, không còn thèm khát, không còn đói khát gì nữa hết, ngồi ở đâu cũng thấy khỏe quá, ngồi ở đâu cũng thấy mát quá, ở chỗ nào cũng thấy đầy đủ quá, an lạc quá, an vui, an ổn, an lành, an yên, an bình, an tịnh làm sao.
Hôm nay chúng ta nói về sự công hiến vĩ đại cho nhân loại của Đức Thế Tôn là cống hiến bốn thánh trí về kiếp nhân sinh, bốn thánh trí về đời sống, bốn sự thật về khổ đau, bốn sự thật mà bậc thánh chứng ngộ. Sự thật thứ nhất là cái tâm nắm giữ vào ngũ uẩn này là phiền não và khổ đau, sự thật thứ hai nguyên nhân của đau khổ là vì vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn, sự thật thứ ba nếu như muốn dứt hết cái khổ đau này là chỉ có cách phải diệt cho được vô minh, tham ái và sự thật thứ tư cái đạo lộ, cái con đường, cái cách thức, cái phương pháp để diệt khổ đau là tám đúng của bậc thánh. Trong thời gian ngắn ngủi chúng ta chỉ khai triển trọng yếu về thấy đúng và nghĩ đúng cũng như là sống đúng, làm đúng, thấy đúng về năm uẩn, thấy đúng về tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã là đau khổ, là nguyên nhân của đau khổ và bằng mọi cách chúng ta sống với một nội tâm an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ thương. Đó là phương pháp ngắn gọn nhất, dễ nhất để chúng ta thực hành và một cách đơn giản thứ hai là nhớ quét căn nhà nội tâm khi thấy tham, sân, si, bản ngã, hơn thua và cuối cùng nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm. Mô Phật.
Sư thầy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính ngưỡng bái bạch thượng tọa giảng sư, hôm nay là ngày thứ hai trong tuần lễ Phật Đản được tổ chức xuyên suốt tại chùa An Lạc từ ngày mùng tám đến ngày mười lăm. Chúng con thật may mắn và diễm phúc khi được cung thỉnh bước chân an lạc của thượng tọa giảng sư với lòng từ mẫn đến hàng Phật tử chúng con, dù đường xá xa xôi nhưng với lòng thương tưởng đến hàng hậu học chúng con, thầy đã trở về chùa An Lạc ban bố cho chúng con những lời chỉ dạy, những lời pháp nhũ.
Chúng con thiết nghĩ rằng nếu không có Đức Phật, nếu không có giáo pháp, nếu không có Tăng đoàn làm sao con may mắn được pháp lạc hôm nay với những sự thật thắng trí mà Đức Phật đã chứng ngộ được thông qua những lời chia sẻ rất giản dị của thượng tọa giảng sư. Chúng con như được hiểu thêm và vỡ lẽ ra những lời dạy thâm thúy ấy qua những lời chỉ bảo tận tình. Chúng con xin nguyện y giáo phụng hành và nguyện cầu tam bảo gia hộ cho thượng tọa giảng sư được pháp thể khinh an, trí bi viên mãn để mãi là con thuyền thanh lương tươi mát, tưới mát cho hàng Phật tử chúng con trên con đường tu nhân học phật. Nam mô chứng minh sư bồ tát ma ha tát tát đại chứng minh. Giờ này con thành kính cung thỉnh thượng tọa giảng sư và toàn thể đại chúng đồng khởi thân hồi hướng.
./.
THẾ TÔN! BẬC CỐNG HIẾN VĨ ĐẠI CHO NHÂN LOẠI
–Thích Minh Thành–
Sư thầy: Việc cần làm đã làm xong không còn quay lại trạng thái luân hồi tái sanh nữa nhưng cả một cuộc đời của ngài, ngài dành vào việc hoằng pháp và noi gương Đức Phật tổ tổ tương truyền và rất nhiều chư vị giảng sư cũng học theo hạnh nguyện của Đức Phật hoằng pháp nhiều nơi, đem giáo pháp của Phật gieo duyên, chia sẻ đến nhiều người và một trong các vị giảng sư vẫn ngày đêm hoằng pháp hướng dẫn khóa tu tập, đó là thượng tọa giảng sư đang ngồi trên pháp tòa trong buổi tối hôm nay. Thầy kính thưa với đại chúng, nếu đại chúng có duyên đi lên tỉnh Lâm Đồng và thầy nghĩ rằng chắc ở đây đa số quý vị cũng đã đi ngang lên tỉnh Lâm Đồng, Bảo Lộc và rẽ vào Linh Quy Pháp Ấn phải không ạ? Linh Quy Pháp Ấn là nơi thượng tọa trụ trì và thượng tọa đang hướng dẫn các khóa tu ở trên đó.
Như hồi nãy thầy có tiếp chuyện, thưa chuyện với thượng tọa thì trên đó cũng khoảng có năm – bảy chục Tăng Ni dưới sự hướng dẫn tu học của thượng tọa và thượng tọa vẫn mới một tâm huyết mở khóa học khóa tu để truyền trao giáo pháp đến cho quý Phật tử, để qua đó quý vị tiếp nhận được những gì giáo pháp của Đức Phật. Và thượng tọa biết rằng trong cuộc đời này cái vô giá đó chính là giáo pháp, giáo pháp không đo được bằng tài sản và trong đôi mắt của thánh nhân thì chánh pháp, sự thật chân lý mới là điều vô giá. Vì vậy cả một cuộc đời của Đức Phật cũng như thượng tọa giảng sư ở đây đã tâm huyết và luôn dành thời gian cho việc hoằng pháp độ sanh và mở khóa tu.
Con kính bạch thượng tọa giảng sư, ngày hôm nay là ngày thứ hai trong tuần lễ Phật Đản, tối hôm qua thì chúng Phật tử được nghe bài pháp thoại của đại đức Thích Minh Thiền, trong buổi tối hôm nay thì chúng con được cung nghênh bước chân an lạc và từ tâm của thượng tọa từ xa xôi tỉnh Lâm Đồng vài trăm cây số trở về đây để thuyết giảng cho đạo tràng của chúng con. Thầy xin giới thiệu đến đại chúng hiện diện trên pháp tòa trong buổi tối hôm nay là thượng tọa Thích Minh Thành, ủy viên ban hoằng pháp Trung Ương, trụ trì chùa Linh Quy Pháp Ấn. Chúng con kính bạch thượng tọa, vào giờ này đạo tràng của chúng con đã được trang nghiêm, thanh tịnh, thay mặt cho ban tổ chức chúng con thành kính cung thỉnh thượng tọa khai pháp.
Sư Phụ: Kính bạch trên đại đức trụ trì, toàn thể Chư Tăng tại bổn tự, kính thưa tất cả quý nam nữ Phật tử hiền trí tham dự tuần lễ Phật Đản tại chùa An Lạc vào ngày thứ hai.
"Vui thay, Phật ra đời!
Vui thay, Pháp được giảng!
Vui thay, Tăng hòa hợp!
Hòa hợp tu, vui thay"
(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 194)
Hạnh phúc thay Đức Phật ra đời, hạnh phúc thay giáo pháp cao minh, hạnh phúc thay Tăng đoàn hòa hợp, hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu. Trong giây phút này tất cả người con Phật trên khắp năm châu bốn biển đều hướng về sự xuất hiện của một người, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, sự xuất hiện của một người đem lại an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người, một người ấy là ai? Chính là thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Chính một người này khi xuất hiện ở đời là sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, đem lại an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho cuộc đời này, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người, sự xuất hiện của một người này là khó gặp ở đời, một người này khi xuất hiện ở đời là sự xuất hiện của sự vi diệu và sứ mệnh chung của một người này được đa số tôn trọng cung, kính đảnh, lễ cúng dường. Một người khi xuất hiện ở đời là sự xuất hiện có một không hai, độc nhất vô nhị, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ai ngang bằng, không có ai đặt ngang bằng, là bậc tối tôn, tối thượng giữa các loài hai chân. Người ấy là ai? Chính là Đức Như Lai, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, là một con người mà có thể chứng ngộ được chân lý sự thật tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm, thế giới, chứng ngộ sự thật vĩ đại sâu kính nhất ở trong ngũ uẩn tứ đại và nhân sinh.
"Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân.
Sự xuất hiện của một người, này các Tỳ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang, là sự xuất hiện của đại minh, là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ bốn vô ngại giải, là sự thông đạt của nhiều giới, là sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ của minh và giải thoát, là sự chứng ngộ quả Dự Lưu, là sự chứng ngộ quả Nhất Lai, là sự chứng ngộ quả Bất Lai, là chứng ngộ quả A-la-hán. Của một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỳ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang... là sự chứng ngộ quả A-la-hán". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, Như Lai)
Đó là sự xuất hiện của Đức Như Lai, bậc giác ngộ thấu suốt tận cùng chân lý tất cả mọi phương diện, khía cạnh, gốc độ, viên mãn, đồng điều thân tâm và thế giới. Sự xuất hiện này có vĩ đại không? Dạ thưa chủ đề hôm nay con xin cúng dường pháp đến chư tôn đức và chư hiền trí là Thế Tôn – bậc cống hiến vĩ đại cho nhân loại, đó là chủ đề của ngày hôm nay. Chữ "Thế Tôn" nhiều khi mình nói hoài rất là quen nhưng mà mình không hiểu ý nghĩa, Thế Tôn là thế gian tôn kính, là bậc thế giới tôn thờ, là bậc lịch sử tôn trọng, là ý nghĩa chữ Thế Tôn, là cả thế gian tôn kính gọi là Thế Tôn và Thế Tôn là bậc cống hiến vĩ đại cho nhân loại là nói tắt, nói rộng ra là cho cả chư thiên, cho cả tam giới, tứ sanh, ngũ thú, lục đạo và cửu hữu tức là ba cõi, bốn loài, năm đường, sáu nẻo và chín cảnh giới đều được sự lợi ích, sự hạnh phúc, sự an lạc do sự xuất hiện của Đức Phật ở trên cuộc đời này. Cái lợi ích, an lạc như thế nào chúng ta sẽ tìm hiểu trong tối hôm nay.
Như vậy Thế Tôn cống hiến cái gì mà vĩ đại? Cống hiến cái gì mà tối thượng, vô thượng, cao thượng, thù thắng? Thế Tôn không phải đem vàng bạc, không phải đem vật chất, không phải đem danh vọng cho cuộc đời này mà Thế Tôn là người từ bỏ những cái đó và đi tìm ra được một đạo lộ thoát khổ, một con đường hạnh phúc, một lối thoát thoát ra tất cả khổ đau và đạt được hạnh phúc cứu cánh rốt ráo đại viên mãn. Chúng ta muốn cái hạnh phúc này không? Như vậy muốn được hạnh phúc phải thấy được bản chất sự thật của đời sống này và phải biết được cái gì nó làm cho mình đau khổ, mình tiêu diệt cái nguyên nhân đau khổ đó thì mình mới đi đến hạnh phúc, rất là khoa học, rất là nhân quả, rất là thiết thực, hiện tại, thực tế chứ không phải là chỉ vô cầu xin, không phải chỉ cầu xin, chỉ mong Đức Phật ban cho mình hạnh phúc mà Đức Phật chỉ cho mình cách thức, phương pháp, con đường, đạo lộ lối thoát và mình đi đúng theo cái cách thức, làm đúng theo cái phương pháp và mình đi đúng theo cái đạo lộ, con đường đó thì mình sẽ đi đến cái đích của sự chấm dứt đau khổ và đạt hạnh phúc tối thượng của Niết-bàn.
Như vậy thì Thế Tôn chứng ngộ bốn thánh trí, đây là sự cống hiến vĩ đại của Đức Phật. Bốn thánh trí đầu tiên mình nói cho dễ hiểu, cái này nhiều tên lắm nhưng bây giờ con nói cái từ cho chúng ta dễ hiểu là bốn sự thật vĩ đại của đời sống này, bốn sự thật thâm sâu, vi diệu, cao thượng, tối thắng trong đời sống kiếp nhân sinh mà tất cả chúng sanh đều không thấy, không biết, không rõ mà Đức Phật chứng ngộ được. Cái thánh trí đầu tiên là thánh trí về khổ nhưng mà cái chỗ thâm sâu ở đây là tại sao con người khổ chúng ta không biết, và làm sao để hết khổ chúng ta càng không biết, chúng ta cứ đi tìm những cái hạnh phúc mà tìm lộn địa chỉ. Chúng ta tưởng đâu tiền bạc nhiều là hạnh phúc, chúng ta tưởng đâu ăn ngon là hạnh phúc, nhà đẹp là hạnh phúc, xe đời mới là hạnh phúc và chúng ta đem cả sức khỏe, cả tuổi trẻ, cả cái chất xám cả cuộc đời lao tâm lao lực, truy đuổi, chạy tìm nhọc nhằn, vất vả, lỗ mũi ăn trầu cái đầu xỉa thuốc và cuối cùng của cuộc đời thì chúng ta hốt được cái nắm tro.
Chúng ta giành giật cả cuộc đời được bốn miếng ván, chúng ta hơn thua đủ kiểu, đủ điều, tranh đấu, tranh giành, giành giật, chiến tranh, quý vị thấy mưa bom lửa đạn, nước mắt đau thương ngay trước mắt chúng ta trong cái thời đại này. chúng ta chứng kiến rất nhiều những cái nỗi khổ đau, nào là thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, động đất, sóng thần, lũ lụt, hạn hán, biến đổi khí hậu, bao nhiêu những thứ chất độc thậm chí trong không khí cũng có độc, thực phẩm cũng có độc, nguồn nước cũng có độc mà đó là chưa kể ba cái độc khủng khiếp ở trong tâm là tham độc, sân độc, si độc. Đó là nhiễm độc tùm lum hết, khắp tất cả mọi nơi là trúng độc, như vậy thì càng hơn bao giờ hết cái giai đoạn này chúng ta cần tu nhiều không? Quyết tâm tu nhiều không?
Cái trí đầu tiên chúng ta thường hay học trong tứ thánh đế nhưng hôm nay con chỉ chúng ta một cái bí kiếp này độc đáo lắm, chúng ta thường nghe nói sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, yêu thương xa lìa là khổ, oán ghét mà gặp nhau là khổ, mong cầu không được là khổ, rồi cuối cùng cái câu này quan trọng, trong tạng kinh Nikāya mới có nói "tóm lại năm thủ uẩn là khổ", cái câu này là cốt tủy của kinh tạng Nikāya, tóm lại năm thủ uẩn là khổ, đây là giải mã sự thật về khổ của nhân sinh, của tam giới nhưng mà chúng ta nghe vậy chúng ta chưa có hiểu đâu.
"Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỳ-kheo. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, I. Như Lai Thuyết)
Như vậy thì năm thủ uẩn là cái gì? Là cái tâm nắm chặt vào trong cái sắc pháp, một cái tâm hôn mê nắm chặt vào trong cái sắc pháp, nói rõ ra là nắm chặt vô nhà cửa, xe cộ, tiền bạc, đất đai, ruộng vườn, tài sản, nói thẳng là nắm chặt vô cái thân này. Mình có cho rằng thân này là tôi, là của tôi không? Đây là cái gốc, nguyên nhân của sự khổ, tại vì mình cho rằng cái thân này là tôi, của tôi, cái nhà này là tôi, là của tôi, miếng đất là tôi, là của tôi, mấy cái tờ giấy xanh xanh đỏ đỏ đó là tôi, là của tôi, ai đụng vô mấy tờ giấy đó thì sẵn sàng… thậm chí là người thân với nhau, cha mẹ, anh em ruột, vợ chồng sẵn sàng quay lưng, sẵn sàng trở mặt, thậm chí là xác hại lẫn nhau vậy mình cho cái đó là tôi, là của tôi.
Cái thứ hai là cái tâm nắm chặt vào trong các cảm giác, cái này rất sâu sắc. Tâm nắm chặt vào những cảm giác, cho rằng những cảm giác này là tôi, là của tôi nhưng mà cảm giác đó đâu phải là tôi đâu, cái cảm giác này là do duyên sanh. Thí dụ mở thách thức danh hài lên xem thì mình cười nhưng trước khi xem mình có cười không và sau khi coi xong là hết rồi, như vậy cái cảm giác vui cười đó là do cái con mắt tiếp xúc, lỗ tai tiếp xúc, cái cảm giác đó là do tiếp xúc sanh khởi. Mình coi bi kịch rồi mình khóc thì cái đó cũng do nhân duyên tiếp xúc, mình nhìn, mình thấy, mình nghe, mình cảm thọ, cảm xúc thì những cái cảm giác đó là do duyên sanh mà mình cho đó là mình, là của mình. Vì thế hễ ai làm cho mình vui là mình thích, mình khoái, mình ái, còn nếu ai làm cho mình giận thì tức, sân, làm đủ thứ để trả đũa trở lại mà mình không biết cái cảm giác vui buồn, tham sân này chỉ là pháp duyên sanh, vô thường thôi chứ không phải là tôi, là của tôi. Cái tâm nắm chấp thứ hai là nắm vô cảm giác, cảm thọ.
Tiếp theo là một cái tâm hôn mê nắm chặt vô hình bóng trong tâm và cho những hình bóng này là tôi, là của tôi. Những hình bóng lờ mờ trong tâm là tưởng, cái hình bóng nào khởi trong tâm mình cũng nói đây là tôi, tôi nghĩ, tôi tưởng, cái đó là tôi nhưng mà cái hình bóng đó vô thường, nó là duyên sanh, nó không phải là mình, không phải là của mình, chẳng qua mình nhìn thấy rồi nó ám ảnh vô trong tâm mình vậy thôi. Như vậy mình nắm vô sắc, nắm vô thọ, nắm vô tưởng, nắm vô hành là nắm vô những cái suy nghĩ, suy nghĩ nào cũng cho là tôi, là của tôi. Đầu tiên cái thánh trí thứ nhất Đức Phật nói là sự chấp thủ vào trong năm uẩn là phiền não và khổ đau.
Bây giờ một cái đầu thôi là mình thấy mệt rồi, mình nắm vô cái nhà là thấy có mệt không? Rồi mình nắm vô cái chiếc xe, mình nắm vô cái miếng đất, mình nắm vô mấy cái tờ giấy với mấy cái miếng nhỏ nhỏ màu vàng có mấy cái con số chín, giá cả nhảy lên nhảy xuống thôi mình cũng mệt theo nữa phải không? Cái tâm nắm chặt vào trong cái sắc này là phiền não và khổ đau, rồi bây giờ đi sâu vô nắm vô cái thân này, quý vị nghe đó rầm một cái thành một đống bầy nhầy thì đó là của ai. Vô thường, nó là tứ đại, nó là đất, nước, gió, lửa, nó không có của ai hết, đủ duyên thì nó kết hợp lại và hết duyên thì nó tan rã, đây là cái chỗ sâu sắc mà mình tu học Phật phải nắm cho được cái này vì nắm được cái này thì mới bớt khổ, mới hết khổ, mới giảm khổ, còn không thấy cái này thì quý vị có cầu xin cỡ nào cũng khổ hết.
Đây là cái cửa đầu tiên của bát chánh đạo là chánh kiến, thấy đúng về sự thật thân tâm của mình. Thân là sắc, tâm là thọ; tưởng; hành; thức mà mỗi ngày quý vị đọc "quán tự tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba-la-mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không" hay giai có? Nếu thấy giai không là trống rỗng thì mới hết khổ, độ nhất thiết khổ ách, còn này mình chiếu mà mình thấy giai có là mình khổ ách hoài. Cho nên cái đóng góp đầu tiên, thánh trí tuệ đầu tiên, thánh đế đầu tiên, sự thật đầu tiên, tiếng thánh chuông đầu tiên mà Đức Phật vọng lên ở giữa thế gian này là sự chấp thủ vào năm uẩn này là phiền não và khổ đau. Hãy thấy cho rõ cái này cho nên bây giờ mình cứ nhớ, mình cứ niệm cái câu này, cứ rảnh là mình niệm "thân này không phải tôi, không phải của tôi", nổi nóng lên thì niệm "cảm giác này không phải tôi, không phải của tôi, cảm giác này tan biến đi", hình bóng người nào đó ám ảnh hoài trong tâm thì niệm "hình bóng này không phải tôi, không phải của tôi", cái suy nghĩ cứ nghĩ tới nghĩ lui hoài thì niệm "cái suy nghĩ này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, tan biến đi, cái suy nghĩ này tan biến khỏi tâm ta đi, tan biến hoàn toàn đi".
Đó là thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là tối thượng chú. Thí dụ như mình nhìn thấy mình sân si lên, mình phiền não lên thì mình nói "cái thấy này không phải tôi, không phải của tôi, nó là duyên sanh thôi, cái nghe này cũng vậy, đừng có chấp vô cái thấy, cái nghe này, chấp vô cái này là khổ đau. Đừng chấp vô cái thức uẩn này, cái thấy nghe này". Như vậy cái thánh trí đầu tiên nếu mà mình có một cái sự chiêm nghiệm là xin thưa với các vị là khi lên Linh Quy Pháp Ấn chúng con thì bài tập đầu tiên là cho nhận diện ngũ uẩn đã rồi sao mới nói gì nói. Tức là phải biết thân tâm của mình nó làm bằng cái gì, hoạt động ra làm sao thì lúc đó bắt đầu mình mới tu học được. Mình phải biết được cái tâm là cái gì, thọ; tưởng; hành; thức như thế nào rồi bắt đầu mình mới nhìn thấy được cái sự hoạt động vận hành của nó. Thánh trí thứ nhất là Đức Phật nói cho mình biết cái tâm nắm chặt vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này làm cho mình buồn khổ và sầu đau.
Cái thánh trí thứ hai mới quan trọng, tại sao mình khổ, tại sao mình nắm chặt vô cái thân với cái tâm này, Đức Phật trình bày cái thánh trí thứ hai nguyên nhân của khổ là do vô minh và tham ái, hoặc là khát ái. Vô minh cái gì? Vô minh là không thấy, không biết về năm uẩn, cho nó là tôi, là của tôi mà không biết nó là năm nhóm. Nó giống như cái bàn tay năm ngón, sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng bây giờ mình không biết nó là năm nhóm, năm uẩn, năm tổ hợp, năm thành phần mà mình cho nó là vậy. Đây là một tự ngã, là một cái bản ngã, là một cái tôi, một cái ta, là cái người chưa tu, chưa có trí về ngũ uẩn, chưa có học nhận diện ngũ uẩn, chưa có thấy được ngũ uẩn, chưa có nhìn ra ngũ uẩn, chưa có kiến ngũ uẩn thì có một cái tôi rất to, rất bự, rất lớn, rất là siêu to khổng lồ là một cái bản ngã, ai đụng vô thì biết tay tôi.
Đây là một cái bản ngã, chấp ngã, khi mình nhìn ra được năm uẩn thì cái này nó mở ra từ từ, sắc; thọ; tưởng; hành; thức cái này không có cái tôi trong đây, cái này là năm nhóm kết hợp thôi, nhìn từ trong cái chấp ngã này nó mở ra để nó thấy được năm uẩn. Do mình không thấy, không biết, vô tri, vô trí, vô minh đối với ngũ uẩn cho nên mình tưởng lầm đất, nước, gió, lửa là tôi, là của tôi, cái lầm tưởng này đó là vô minh về sắc uẩn, vô minh về thân, vô minh về cái hình hài này, không hiểu biết và vì mình không hiểu biết, không thấy rõ nó cho nên mình yêu nó, mình thích nó, mình quý nó, mình khoái nó, mình ham nó, mình mê nó, mà chẳng những mình mê cái thân của mình mà mình còn mê cái thân của người khác nữa. Có một cá chưa mệt mà còn rước thêm cái thân thứ hai về ở chung, có không?
Lúc đầu là mình tưởng mơ dữ lắm, mình nói mình không có người này thì mình chết, mình sống không nổi, mình phải có cái người đó mình mới sống nổi, đến khi rước người đó về ở mấy năm rồi mình nói "trời ơi giờ chịu hết nổi rồi". Tại vì tưởng tri, thức tri chứ không phải tuệ tri, vì mình không thấy biết được sự thật tứ đại của thân tâm này cho nên mình sống trong cái sự mơ tưởng, sự nhận lầm, ngộ nhận. Mình cho là sạch, là đẹp, là vui, là sướng, là tôi, là ta, là còn hoài chứ mình không thấy vô thường, khổ, vô ngã, mình thấy là thường, vui, tôi, ta và mình thấy là nó hấp dẫn lắm, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn. Từ cái thấy sai này cho nên mình có nhiều cái hệ lụy, nhiều cái trói cột và chúng ta thấy ngày hôm nay chỉ cần chụp cái tấm hình đưa lên thôi cũng có thể xảy ra án mạng, một cái ánh nhìn chút thôi cũng có thể chung thân, một tiếng hát karaoke thôi cũng có thể là tiêu mất một sinh mạng.
Chúng ta thấy khủng khiếp không? Vì cái sự chấp ngã, chấp thủ nó quá nặng, nó quá lớn, nó quá to, quá bự, nó quá là chắc cho nên con người ta càng ngày càng tham, sân, si mãnh liệt, cường liệt và quyết liệt, từ đó nó đưa cho mình đến sự khổ đau. Bây giờ Đức Phật dạy mình quán thân như thế nào? Trong tứ niệm xứ Đức Phật dạy mình niệm thân, quán thân ở trên thân là Đức Phật chỉ cho mình phá cái vô minh về cái sự chấp thân này, thân kiến này. Bây giờ quý vị ngồi đây đang làm cái gì hết sức quan trọng mà không làm là chết liền? Chính là cái thở nhưng một ngày mình nhớ được mình đang thở mấy tiếng đồng hồ? Nhớ cái gì nhiều? Nhớ tiền, phải không? Sáng thức dậy là ăn cái gì, trưa ăn cái gì, chiều ăn cái gì, đi làm kiếm bao nhiêu tiền, nhớ cái đó nhiều hơn, nó xâm chiếm nhiều hơn.
Đức Phật dạy mình sáu cái pháp để đánh phá cái vô minh về chấp thân, niệm hơi thở là thứ nhất, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn tử thi. Muốn phá vô minh, muốn dẹp đi sự hiểu sai lầm về cái thân này, về cái tứ đại này phải tu sáu pháp, cái pháp đầu tiên là nhớ mình đang thở và cái thở này là mượn không khí vô rồi trả ra, bây giờ mượn vô trả ra một cái đi luôn mượn lại không được là đi đâu tắm suối vàng. Khi mình ngồi thiền phải quán cái hơi thở đây là sự vay mượn, là phong đại, là gió thôi, cái mạng sống này là nhờ gió hít vào, là nhờ gió thở ra.
"Đem vào là nhờ gió,
Tống ra cũng gió đưa.
Sự hô hấp tuần hoàn,
Tất cả đều do gió.
Một phen gió nghiệp dừng,
Thân này như khúc gỗ".
(Gió Nghiệp - Thiền viện Chân Không, tháng 8/1982)
Chỉ là hơi thở thôi, giành giật nhau làm gì, hơn thua nhau làm gì, tranh đua nhau làm gì. Bây giờ chồng mình nói chuyện mà lỡ muốn hơn thì thôi kệ nhịn ông ấy cái đi cho lành, được không? Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi bớt lửa, một đời không khê, ổng đang giận thôi mình bớt lời, mình nhịn đi, cơm đang sôi mình phải bớt lửa chứ giờ cơm đang sôi mình để lửa vô thì khét lẹt nhiều không. Mình nhắc nhở "lo thở đi nè, giận cái gì, lo quay lại thở đi", mình hướng vô kêu cái cảm giác toàn thân để thực hành Tứ niệm xứ luôn là "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương". Đưa tay lên vuốt trái tim và nói "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương", học kỹ cái này vì đây là bí kiếp võ công, bất cứ lúc nào mọi lúc mọi nơi thay cho câu niệm Phật, bất cứ ở đâu mình hướng vô lồng ngực là cái chỗ trung tâm của tất cả các cảm thọ mình kêu "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương".
Chúng ta phải tập mỗi một ngày, mới vừa ngủ thức dậy là niệm liền, ăn sáng xong niệm, trưa niệm, nghỉ trưa niệm, chiều tối niệm, trước khi ngủ niệm. Mình tập một thời gian mình sẽ thấy phép màu xuất hiện, đó là tứ niệm xứ, đó là quán thọ trên cảm thọ, tưới tẩm các cái cảm xúc làm cho nó lắng dịu, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương, hiền hòa, hiền hậu, hiền lương, hiền nhân, hiền đức, hiền từ, hiền trí và mình đi theo bậc hiền thánh. Rất quan trọng là tu tập cái cảm thọ, như vậy từ cái hơi thở mình niệm rồi mới liên kết quay về cảm thọ và mình luôn luôn tập cho mình có một cái cảm giác lúc nào cũng lắng dịu hết thì quý vị sẽ thấy gia đình của mình rất là hài hòa, tất cả cái sự cự cãi, bất hòa, bất ổn, bất an, bất thường, bất trắc, bất định, bất bình thường là điều vì cái cảm thọ này nó không có an tịnh, lắng dịu, nó không có hiền, dễ nổi nóng, dễ quạo, bức xúc, bực bội, khó chịu, cau có, cọc cằn, ghim gút, hơn thua, tật đố, ganh tỵ, đố kỵ, ta đây. Những cái đó nguyên nhân đau khổ, bây giờ quyết tâm dẹp hết mấy cái này.
Mình muốn dẹp cái này mình phải luôn luôn quay lại nhìn cảm thọ, cái này quan trọng lắm, khóa tu của chúng con ở Linh Quy Pháp Ấn luôn luôn thực tập cảm giác toàn thân, tức là luôn luôn lúc nào cũng quay trở về coi cái cảm giác của toàn bộ cơ thể của mình bây giờ nó đang như thế nào, nó dễ chịu nó khó chịu, hay là nó không dễ chịu không khó chịu. Hễ nó khó chịu là nó có sân ở trong, nó có bức xúc ở trong đó thì lập tức phải kêu nó dễ chịu xuống, cái pháp như lý tác ý là tuyệt đối quan trọng, là pháp hướng tâm, dạy tâm, giáo dục tâm, huấn luyện tâm, dẫn dắt tâm, dạy dỗ tâm, lèo lái tâm đi theo cái ý mình muốn. Bây giờ làm tài xế mà mình không biết đường, mình không biết lái xe nữa thì đưa đi đâu? Lái xe cũng không rành mà dám leo lên lái, đường cũng không biết mà dám leo lên chạy thì đi đâu? Tai họa, tai nạn, tai hại, cũng vậy mình không biết tâm mình là cái gì, mình không biết tâm đang hoạt động như thế nào, mình càng không biết tâm đang bệnh cái bệnh gì thì làm sao trị được.
Cái tâm có bệnh không? Bệnh nhiều không? Bức xúc, bực bội, cọc cằn, cau có, khó chịu, ghim gút, sân hận, phẫn nộ, ích kỷ, hẹp hòi, ta đây, hơn thua, ngã mạn… đủ thứ hết, đầy trong đó là những cái chứng bệnh của tâm, là những khuyết tật của tâm, là những cái khối u, cái ung nhọt, cái ung hạch, cái ung bướu, cái ung thư của tâm. Nó từ vô lượng kiếp tới giờ mà mình không có mở con mắt trí huệ, mình không thấy cho nên thánh trí Đức Phật chỉ cho mình nhận diện lại ngũ uẩn, nhìn vào trong các cái cảm thọ, nhìn vào trong suy nghĩ, nhìn vào trong hình bóng trong tâm mình để phát giác, phát hiện cái nguyên nhân gì làm cho mình nhức nhói, tại sao nó làm cho mình bức xúc, bực bội.
Bực hoài mà không biết tại sao bực, tôi cứ bực hoài, tôi buồn cũng không biết tại sao tôi buồn, tôi khó chịu mà tôi cũng không biết tại sao tôi khó chịu, cứ thấy thiếu thiếu mà không biết thiếu cái gì. Có nhà cửa rồi, chồng con, gia đình, tài sản có rồi mà cứ thiếu ở trong, không biết thiếu cái gì, đó là những cái lậu hoặc ở trong tâm, sâu thẳm trong tâm. Cái này phải được hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn và phải được hướng dẫn quán chiếu cảm thọ thì mình mới phát giác, phát hiện, mình mới dùng cái kính hiển vi chiếu nó ra được, phóng đại nó ra rồi phải có bác sĩ tâm linh khám bệnh cho chính xác và trị liệu cho đúng pháp thì cái tâm mình mới khỏe mạnh được, còn không thôi cái tâm mình là cái tâm bệnh, cái tâm suy dinh dưỡng, một cái tâm suy nhược, một cái tâm bệnh khuyết tật.
Thân thì nhìn lành lặng lắm, đẹp đẽ lắm nhưng mà tâm thì bệnh. Bây giờ làm sao để chữa cái bệnh này? Điều quan trọng nhất của chúng ta là chăm sóc cảm giác, nhớ kỹ bốn cái chữ này, chăm sóc cảm giác của mình, chăm sóc cái cảm xúc chăm sóc và tưới tẩm cái cảm thọ là lúc nào mình cũng hướng vô kêu "thôi dễ chịu đi, đừng khó chịu, khó chịu hoài mệt lắm. Trời ngoài nóng rồi còn muốn phựt hay sao? Đã nóng, đã nực rồi bây giờ phựt để cháy hay sao". Cái lửa bên ngoài thấy vậy mà nó không nguy hiểm bằng cái lửa trong tâm, chính vì có cái lửa trong cảm thọ cho nên nó mới đốt nhà, đốt cha mẹ, đốt người này người kia, vợ chồng đốt nhau. Nếu trong tâm không có lửa mà nó mát dịu, nó dễ chịu, nó hiền hòa thì làm gì có đốt ở bên ngoài, nhất trí không?
Ngoài lúc ngồi thiền thì quý vị hướng vô trong chỗ trung tâm cái cảm thọ ngay lồng ngực để kêu cảm thọ "thôi mát dịu đi, dễ chịu đi, ngọt ngào đi, đừng có khó chịu, đừng có bực bội, đừng có sân hận nữa. Sân để được cái gì?". Bây giờ con chỉ quý vị cách như lý tác ý là cách dạy dỗ tâm, thí dụ mình để ý chỗ ngực thấy bốc lên, mới nghe câu nói mà thấy nó phừng lên thì tác ý "thôi lắng dịu giùm cái đi, phựt lên cháy để được cái gì. Tâm ơi là tâm! Tâm có nghe không tâm, tâm cứ đốt hoài, cứ phựt hoài, cứ cháy hoài, cứ sân hoài rồi cuối cùng được cái gì hỡi tâm ơi là tâm. Tâm ơi tâm, nghe không tâm? Tâm làm ơn nghe lời giùm nha tâm, tâm đừng có gây ra khổ cho mình, khổ cho người nữa nha tâm, tâm hiền ngoan đi chị thương, tâm lắng dịu đi, tâm dễ chịu đi, tâm hiền hòa đi, tâm yêu thương, cảm thông, tha thứ đi tâm. Sân hận để làm gì? Có gì đâu mà hờn mà giận? Có gì đâu mà hận mà sân? Tâm ơi sao cứ giận hoài, tâm càng sân hận thì càng khổ đau. Tâm ơi sao cứ giận hoài, tâm càng sân hận thì càng khổ đau, mỗi người thì mỗi nghiệp khác nhau, làm sao có thể bắt ai giống mình".
"Con mèo thì phải meo meo,
Chó thì gấu gấu, muỗi thì vo ve…
Mỗi người tập khí khác nhau
Làm sao có thể bắt ai giống mình"
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Mình cứ hướng vô cái tâm mình kêu, quý vị thấy con chó thì nó gâu gâu mà con mèo thì nó meo meo, bây giờ mình kêu con chó đó đừng có gâu gâu, mày phải meo meo cho ta làm sao nó làm được, phải không? Trong khi cái tật mình hay bắt người ta giống ý mình mà không giống thì giận sân lên, như vậy mình khổ. Chi vậy? Họ đã quen cái cách nghĩ như vậy rồi, họ đã quen cái tưởng như vậy rồi, họ đã quen cái nhận thức như vậy rồi, cái nghiệp họ huân tập, cái cảm thọ như vậy rồi mình phải hiểu cho họ, thông cảm cho họ, yêu thương, tha thứ cho họ mới được chứ giờ mình bắt họ theo ý mình mà họ không chịu theo là mình sân, mình bực, mình khó chịu. Chồng con, anh em, cha mẹ cũng đòi phải đi theo cái ý mình vậy thì như vậy là tự mình làm cho mình khổ, phải vậy không?
Bây giờ mình tập hiểu và thương, cảm thông và tha thứ. Mình phải hiểu rằng ai cũng có cái nghiệp hết, mình có nghiệp không? Ai cũng có cái sân to bự, ai cũng có cái bản ngã siêu to khổng lồ hết, ai cũng tham hết trơn, túi tham không đáy, tham quá trời tham. Mình hiểu được cái tham, sân, si của mình, mình hiểu được cái tôi của mình, đây là khổ tập thánh đế, cái nguyên nhân của khổ nó nằm chỗ này rồi mình cũng đau khổ vì cái tham của mình, mình cũng khổ đau vì cái tức giận của mình, mình cũng đau khổ vì cái tôi, cái bản ngã của mình khi người khác xúc chạm thì cái người thân mình họ cũng đau khổ giống y như mình, có khi còn nhiều hơn nữa tại vì mình có nghe pháp, mình biết tu mà người ta chưa biết tu.
"Mình biết tu mà tại sao mình lại không tha thứ cho người không biết tu vậy tâm? Tâm ơi là tâm! Tâm bao dung, tâm cảm thông, tâm tha thứ, tâm độ lượng nha tâm, tâm hiểu và thương nhiều hơn nữa nha tâm, tâm cảm thông cho mọi người đi tâm. Tâm đừng có nhỏ nhặt, nhỏ mọn, nhỏ nhích, nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ bé để rồi chết làm con muỗi đi chích người ta, làm con kiến, làm vi trùng, cái tâm phải độ lượng, cái tâm cho hiền hòa, cái tâm cho từ ái, cái tâm hỷ xả để sanh cõi nhân thiên để tu tập thành tựu Niết-bàn tối thượng". Mình cứ nhắc cái tâm hoài vậy đó, hồi xưa quý vị chưa có biết cái pháp tu như lý tác ý thì quý vị cứ đi kiếm người này người kia để tâm sự, cứ kiếm người để trút bầu tâm sự vì không trút cái bầu ra được thì khó chịu lắm, rầu thúi ruột. Bây giờ không cần kiếm ai trút bầu tâm sự nữa hết mà hướng vô cái tâm này để giáo hóa cái tâm, huấn luyện tâm, dạy dỗ tâm, giáo dục tâm. Mình dạy tâm mình giống y như mình dạy con vậy đó, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là năm đứa con mà năm đứa con này mình bỏ quên nó vô lượng vô biên kiếp rồi.
Quý vị thấy mình đâu có để ý đâu, mình đâu có huấn luyện, đâu có tu tập đâu. Cái hình bóng trong tâm mình, cái tưởng mình cũng không biết luôn, mình không có huấn luyện, tu tập rồi cái suy nghĩ là cái hành muốn nghĩ gì nghĩ, nghĩ lung tung hết mình cũng bó tay với nó, rồi cái nhận thức cũng vậy. Bây giờ mình nhìn ra được, tự nhiên có năm đứa con sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình quay lại lo dạy năm cái đứa con này hoài, nếu tự nhiên buồn bực, khó chịu thì tác ý "thôi nha tâm, hoan hỉ nha tâm, vui vẻ lên tâm. Giờ này người ta ở trong bệnh viện, ở trong chiến trường, chiến tranh, giờ này người ta đang bò lết, đang ở ngoài công viên, ở dưới dạ cầu, gầm cầu, người ta đang đi bán vé số từng đồng từng cắt, mình được ngồi đây tu hoan hỉ không tâm, hạnh phúc không tâm".
Phải biết làm cho cái tâm mình vui, phải biết làm cho cái tâm mình hoan hỉ, phải biết làm cho cái tâm mình phấn khởi, phải biết làm cho cái tâm mình hạnh phúc trong khi tu. Đó là hỷ vô lượng tâm, phải tập cái tâm hỷ, nhiều khi đi ra làm ăn này kia cái mặt tươi rói, đi ăn nhà hàng, đi chơi mặt tươi như hoa nở mà vô ngồi thiền cái mặt buồn rười rượi là mình phải biết tác ý, lúc đó phải biết tu tập cái tâm hỷ. Mình bước tới cổng chùa phải thấy khỏe, nhẹ, vui, thanh tịnh, an lạc, ly trần thoát tục, lên tiên, được không? Bước vô cổng chùa là thấy khỏe vì vô cửa không rồi, liệng hết tất cả những cái sân si, hơn thua, thị phi ngoài cổng chùa, bước vô đây an lạc… an lạc… an lạc.
Mình đang ngồi ở trong cái an lạc mà mình không an lạc là tại mình đúng không? Đâu có ai bắt mình khổ đâu, tại cái cảm thọ ở trong không chịu buông xả ra, thí dụ mình ngồi đây có Thế Tôn, Phật, Pháp, Tăng đầy đủ, tứ chúng đồng tu thanh tịnh, trang nghiêm, hoan hỉ, phấn khởi, an lạc như vậy mà tự nhiên mình nhớ cái câu người ta nói lúc sáng rồi mình bực lên, ngồi đó cứ nhớ câu nói đó hoài, nhớ hình ảnh của người nói câu đó như vậy thì tại tự mình. Mình bỏ cái hình ảnh đó đi, mình quay trở về cái thực tại tác ý "thôi cái hình ảnh tan biến khỏi tâm ta đi, ta không muốn cất giữ hình ảnh này, ta không muốn là cất chứa hình ảnh này, ta không muốn là lưu giữ cái suy nghĩ này, cái suy nghĩ này tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi. Ta muốn an lạc ta không muốn đau khổ, cái đau khổ này tan biến đi, đi khỏi ta đi, ở đây chỉ có an lạc mà thôi" thì lập tức sự an lạc xuất hiện.
Hôm nay chúng ta được truyền cái bí kiếp võ công đó là cái phương pháp như lý tác ý, nhớ kỹ xoay vào tâm nhắc hoài. Thí dụ như cái tâm muốn hơn thua thì mình nói "thôi hơn thua cái gì, hơn thua vô lượng, vô số, vô biên kiếp rồi, hơn thua dưới địa ngục, ở trong vòng súc sanh, ngạ quỷ, hơn thua trăm đời ngàn kiếp, vô thỉ kiếp tới nay, luân hồi bao nhiêu dòng nước mắt rồi giờ chưa đủ hay sao? Giờ muốn kiếm chuyện nữa hả tâm? Kiếm chuyện để làm cái gì vậy? Thôi buông xuống đi, tâm buông xả là tâm hạnh phúc". Đức Phật gọi là pháp khéo thuyết, thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, không có trải qua thời gian, có hiệu quả tức thời có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Tu là kết quả ngay lập tức, không phải đợi đến chết mới có kết quả, cứ quay vô ngay cái tâm sân rồi xả cái tâm sân, làm cho khởi lên cái tâm từ, ly cái tâm tham làm cho khởi lên một cái tâm hiểu thương và phá tan cái tâm si để cho cái trí huệ bừng sáng lên thấy rõ cái bản chất cuộc đời này vô thường, khổ, vô ngã, không có gì là ta, không có gì là của ta, không có gì là tự ngã của ta. Sống đây là duyên sanh, là ngắn ngủi, tạm bợ, vô thường, mình phải đem cái đời sống này sống sao cho có ý nghĩa, cho có giá trị, cho có lợi ích, cho có an lạc, cho có hạnh phúc thì như vậy là ngay lập tức cái suy nghĩ đó, cái cảm thọ đó, cái hình bóng đó, cái nhận thức đó, cái tư duy đó đem mình lập tức từ cái bờ đau khổ đưa qua tới cái bến hạnh phúc, an lạc ngay trong một ý niệm của mình tác ý thôi, chỉ trong một cái tác ý của mình thôi, cách suy nghĩ của mình thôi.
Tức là mình giống như một tài xế lái chiếc xe cuộc đời của mình, mình chính là kiếm trúc sư vẽ cái căn nhà hạnh phúc của mình, mình chính là ông thầy thuốc để chữa cho cái tâm mình khỏe mạnh, mình chính là người quyết định để cho cái tâm mình trở thành tỷ phú tâm linh hay là một cái tâm nghèo đói, bệnh tật là do mình quyết định hết. Đức Phật chỉ cho mình cái cách sau khi nhìn thấy ngũ uẩn mình như lý tác ý, mình tu bát chánh đạo cho nên khi mình thấy ngũ uẩn thì thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, làm đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng của bậc thánh. Tám cái đúng này chính là con đường chấm dứt khổ đau, đây là thánh trí thứ tư, thánh thứ nhất sự chấp thủ vào ngũ uẩn là phiền não và khổ đau, thánh chí thứ hai là do vô minh và tham ái có ra cái đau khổ này, thánh chí thứ ba chấm dứt đau khổ này khi nào hết vô minh và tham ái và thánh trí thứ tư là con đường, cái đạo lộ, cái phương pháp, cái cách thức, cái lối thoát ra khỏi đau khổ là tám đúng của bậc thánh mà tám đúng của bậc thánh cái đúng đầu tiên mà nãy giờ chúng ta nói là thấy đúng về thân tâm này là thấy rõ ngũ uẩn không có một cái bản ngã, thấy rõ nó chỉ là sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Sau khi mình thấy rõ, thấy đúng rồi tới nghĩ đúng. Thấy đúng như thế nào? Thấy biết chân chánh về ngũ uẩn, suy tư chân chánh bỏ tham sân, nói lời chân chánh không tạo nghiệp, thân hành không tạo khổ mình người, nuôi mạng chân chánh theo thánh giới, siêng năng chân chánh bốn việc cần, quán niệm chân chánh về bốn chỗ, định tâm chân chánh theo bốn thiền. Đây là tám đúng của bậc thánh mà cái đầu tiên là thấy biết bốn trí về ngũ uẩn nãy giờ chúng ta nói đó. Nghĩ đúng như thế nào? Nghĩ cách từ bỏ dục, hại, sân, Đức Phật nói là tà tư duy là nghĩ sai. Nghĩ sai là nghĩ gì? Chính là dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy là tà tư duy, tức là mình nghĩ về dục, nghĩ về sân và nghĩ về hại, ba cái nghĩ này là nghĩ sai, nghĩ về dục là cứ muốn cái này, muốn cái kia, muốn cái nọ hoài, ám ảnh trong tâm hoài, nó làm cho mình khổ hoài, mình cứ chạy hoài, mình tìm hoài, mình kiếm hoài, mình khao khát hoài, mình cứ làm đầy tớ, làm nô lệ cho tham ái. Thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái, đây là cái câu nói chấn động đất trời trong Trung Bộ Kinh.
"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái, thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình." (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Này các đệ tử cả cái đời sống này của chúng sanh là một đời sống thiếu thốn, đời sống khao khát, đời sống nô lệ cho tham ái. Nếu như mình không nhận ra được cái bản chất của các cái cảm thọ khao khát, thiếu thốn, nô lệ cho tham ái này mà mình cứ chiều nó, mình cứ bị nó sai bảo, sai khiến, sai xử mình thì cả cuộc đời mình chỉ là đầy tớ cho lòng tham thôi. Mình phải làm chủ cái tâm của mình, mình phải biết như thế nào là vừa đủ, như thế nào là tạm ổn và biết cái thời gian nào là cái thời gian mình dừng lại để đến chùa An Lạc mình tu thiền. Mình có hốt cỡ nào đi nữa rồi cuối cùng mình cũng hốt nắm tro thôi, mình có chạy cỡ nào rồi mình cũng chạy vô huyệt thôi, không có cái đường nào khác hết nhưng mà mình phải biết lúc nào là lúc dừng lại. Và tuyệt vời thay cho chúng ta, hạnh phúc thay cho chúng ta, lợi ích thay cho chúng ta là những con người đang có mặt trong giờ phút này và tại chỗ này chỗ an lạc, tịch tịnh. Thật là lợi ích cho chúng ta, thật là an lạc cho chúng ta, thật là phúc báo cho chúng ta, thật là ý nghĩa, giá trị cho chúng ta khi giờ này chúng ta có mặt ở đây trong những giây phút quý báu, hiếm có, hy hữu khó gặp trong vòng luân hồi sanh tử này chúng ta biết thương mình, biết lo cho mình, biết chăm sóc cho tâm mình và chúng ta biết quay trở về với chính mình trong một không gian thanh tịnh.
Đẹp quá! Tuyệt vời quá và quý hóa cho những giây phút mà chúng ta có mặt trong đạo tràng, trong sự tu tập này. Chúng ta phải luôn luôn ý thức rằng lòng tham này, lòng dục này, lòng ái này chính là kẻ thù sâu sắc nhất trong nội tâm chúng ta, không phải là người bên ngoài hại chúng ta đâu. Bây giờ con hỏi quý vị người giàu nhất hành tinh này có đủ chưa? Chỉ có bậc thánh ly tham và những con người đang bước trên con đường ít muốn biết đủ, thiểu dục tri túc mới là người hạnh phúc nhất trên hành tinh này. Cái người giàu có đầy cả tài sản như vậy họ ngồi trên đống vàng, đóng tiền mà họ thiếu thốn hoài, họ khao khát và họ đâu có hạnh phúc. Quý vị thấy Đức Thế Tôn đầu trần chân đất, khoác trên mình một cái tấm y đơn giản, ôm cái bình bát đi ăn xin, bỏ cái vương vị, ngai vàng điện ngọc ngồi dưới góc cây, sanh dưới gốc cây, tu dưới gốc cây, thành đạo dưới gốc cây, nhập Niết-bàn dưới gốc cây và hạnh phúc tối thượng giữa chư thiên và loài người đó là vì ngài sống cuộc đời ly tham, mình chưa ly tham mình cũng phải giảm bớt tham.
Tham nhiều khổ nhiều, tham vừa khổ vừa, tham ít khổ ít, không tham hết khổ. Mọi người chịu cái nào? Mình suy nghĩ ly tham là cái suy nghĩ đúng gọi là chánh tư duy, cái suy nghĩ ly sân hồi nãy giờ chúng ta nói là chánh tư duy, lìa cái giận, đừng có suy nghĩ theo cái chiều giận, phải suy nghĩ sao cho nó ra khỏi cơn giận thì cái đó là suy nghĩ của bậc thánh, cái suy nghĩ bất hại là không làm hại ai hết.
Mong tất cả tâm an,
Mong tất cả thân lạc,
Tâm an và thân lạc,
Tâm chân thành cầu mong,
Mong tất cả thấu hiểu,
Vạn vật là vô thường,
Chúng chỉ là năm uẩn,
Tạo ra mọi vở tuồng.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Mong sao để cho thân tâm mình an lạc, thân tâm cho người thân trong gia đình của mình cũng an vui và thân tâm của mọi người mình gặp đều là an lành, an lạc, an vui, an ổn, an bình, an yên, an tịnh. Quá tuyệt vời và mình suy nghĩ làm sao suy nghĩ từ bỏ cái tôi và cái của tôi, cái suy nghĩ đó là suy nghĩ đúng đắn, suy nghĩ chân chánh, suy nghĩ hợp với trí tuệ. Suy nghĩ bỏ tham, sân, si, bản ngã, dục ái là suy nghĩ đúng, suy nghĩ đó đưa mình đến an lạc chứ không phải tu là không có suy nghĩ, nếu không có suy nghĩ Đức Phật đâu có dạy chánh tư duy, dùng cái suy nghĩ đúng dẹp cái suy nghĩ sai, dùng cái suy nghĩ c hánh phá cái suy nghĩ tà, dùng cái suy nghĩ từ bi đánh tan cái suy nghĩ sân si, dùng cái suy nghĩ vô ngã để bẻ gãy cái suy nghĩ về bản ngã.
Nhớ cho kỹ tu bằng cái suy nghĩ, nhớ cho kỹ như lý tác ý, mình cứ hướng cái suy nghĩ của mình đừng có tham, tham là khổ, tham cho cái nào cho đúng pháp chân chánh, còn cái phi pháp đừng nên tham. Như vậy Đức Phật dạy thêm nói lời không dối, đâm độc, nhảm, làm việc lành, không sát, trộm, dâm, khi mình nói chuyện là mình từ bỏ nói dối, nói đâm, thọc, nói lời ác độc và nói lời nhảm nhí, nhớ bỏ bốn lời nói này. Đây là tu cái miệng, từ bỏ nói dối, đâm, độc, nhảm, dối là nói dối, đâm là đâm thọc, độc là lời ác độc, nhảm là nhảm nhí, từ bỏ cái này, trong kinh Nikāya dạy rất kỹ cái miệng mình là từ bỏ bốn cái ác nghiệp là dối, đâm, độc, nhảm. Từ bỏ bốn cái lời nói này thì gọi là nói đúng, là chánh ngữ, còn nói bốn lời nói này là tà ngữ, là nói sai, nói dối, nói cho đâm thọc, nói lại cho ác độc, nói nhảm nhí, phù phiếm không có ý nghĩa gì hết.
Đức Phật dạy chúng ta làm việc lành, không sát, trộm, dâm, hồi nãy nói chúng ta về tâm, về miệng, bây giờ tới thân. Tâm là mình suy nghĩ ly tham, sân, si, lìa những cái dục ái, bản ngã là tâm rồi cái lời nói là lìa dối, đâm, độc, nhảm. Bây giờ cái thân là từ bỏ sát, trộm, dâm, từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm đối với người tại gia thì đó gọi là sống đúng. Thấy biết bốn trí về ngũ uẩn, nghĩ cách từ bỏ dục, hại, sân, nói lời không dối, đâm, độc, nhảm, làm việc lành, không sát, trộm, dâm, nuôi sống, nuôi mạng năm nghề nên tránh. Năm cái nghề này người cư sĩ nhất định phải từ bỏ là bán rượu, bán thịt, bán thuốc độc, bán vũ khí và bán người, năm cái nghề này Đức Phật dạy người cư sĩ tuyệt đối từ bỏ.
Khi mình bán rượu người ta uống vô thì người ta say xưa, gây ra nhiều cái tội lỗi, nhiều tai nạn. Quý vị thấy tai nạn giao thông rất nhiều vì cái rượu này là mới một phương diện thôi, nhiều khía cạnh khác nữa cho nên từ bỏ bán rượu. Bán thịt là mình gián tiếp cho người ta đi sát sanh, cái người ăn vô cũng gián tiếp để cho người ta tiếp tục sát sanh cho nên từ bỏ bán thịt. Bán thuốc độc là gián tiếp giết người, gián tiếp sát sanh, giết loài vật cho nên từ bỏ bán thuốc độc. Bán vũ khí thì chúng ta thấy bên nước ngoài hở chút là bắn, nhiều khi vô trường học xả súng làm chết nhiều học sinh rất vô tội, đó là bán vũ khí rất là nguy hiểm. Cuối cùng là bán người thì quý vị thấy rồi đó, có những cô gái bị bán qua hết tay người này đến người kia như một cái món hàng, một cái món đồ giải trí và bao nhiêu những cái đau khổ, những uất hận, những cái uất ức, tức tưởi, nghẹn ngào cho nên Đức Phật dạy mình chánh mạng là sống nuôi mạng năm nghề nên tránh, nhớ kỹ năm cái nghề này.
Siêng hành trì chế đoạn tu trì, quán sát nhìn thân, thọ, tâm, pháp, định tâm tuần tự theo bốn thiền. Siêng là siêng năng, chế ở đây là mình chế ngự sáu căn, đoạn ở đây là đoạn trừ tham, sân, si, tu ở đây là tu tứ niệm xứ và trì ở đây là giữ gìn các thiện pháp mà mình đã có, đừng có cho nó mất và luôn luôn nhìn lại thân của mình coi cái cử chỉ, hành động của mình có phù hợp không. Phải biết rõ việc mình đang làm, cái đi, đứng, ngồi, nằm, nói, nín, động, tịnh, ứng xử, cái cách hành xử của mình. Mình phải luôn niệm sự an tịnh, lắng dịu, niệm cái tâm hiền rồi mình coi cái cảm thọ, coi lại hình bóng ở trong tâm đang có cái hình bóng gì, cái hình bóng này có hiền từ không hay là cái hình bóng này hung dữ, hình bóng này là sân si hay từ bi, hình bóng này là khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã hay cái hình bóng trong tâm mình là tự cao tự đại, ta đây, hơn thua, tranh giành, đấu đá.
Như vậy mình luôn luôn kiểm tra thân, thọ, tâm, pháp, những cái gì đang có trong tâm của mình đó là ác bất thiện pháp hay nó là thiện pháp mình phải thấy rõ. Nếu như nó là ác bất thiện pháp thì lập tức mình giống như cầm cây chổi quét nhà mình quét nó ra, quét những cái suy nghĩ, những cái hình bóng, những cái cảm giác bất thiện, mình cầm cái cây chổi chà mình quét ra khỏi căn nhà nội tâm của mình. Luôn luôn phải quét dọn, phải lau chùi, phải vệ sinh căn nhà nội tâm của mình, một ngày mình quét nhà ba lần, năm lần, bảy lần, quét sạch bong, chùi láng bóng, chưng bông hoa, xịt cho hương thơm rồi xông hơi rồi đủ thứ hết nhưng một ngày quét nhà nội tâm mấy lần. Bây giờ biết quét tâm chưa? Biết quét căn nhà nội tâm chưa? Bất cứ lúc nào rảnh là coi lại, rà lại bên trong có chỗ nào có rác không, trong suy nghĩ có rác thì quét, ở trong hình bóng trong tâm trong tưởng có rác thì quét, ở trong cảm thọ đang có cảm thọ hơn thua là quét. Sống khiêm cung, khiêm hạ, khiêm hòa, vô ngã, vị tha, không có hơn thua, cứ quét như vậy.
Quét đất, quét Chùa, quét đất tâm
Đất tâm không quét uổng công làm
Người đời nếu biết đem tâm quét
Phiền não còn đâu chốn nảy mầm!
Như vậy là quét đất, quét chùa, quét đất tâm, nhớ quét nhà, quét chùa, nhớ quay lại quét cái tâm. Nếu như chỉ quét nhà, quét chùa mà không quét tâm thì uổng công quét, uổng công làm người đời, nếu biết đem tâm quét thì tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã này nó tan biến hoàn toàn, nó sạch sành sanh. Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm, ngon ăn khỏe, nội tâm trở thành một nhà tỷ phú tâm linh giàu có, một nội tâm sung túc, không còn thiếu thốn, không còn thèm khát, không còn đói khát gì nữa hết, ngồi ở đâu cũng thấy khỏe quá, ngồi ở đâu cũng thấy mát quá, ở chỗ nào cũng thấy đầy đủ quá, an lạc quá, an vui, an ổn, an lành, an yên, an bình, an tịnh làm sao.
Hôm nay chúng ta nói về sự công hiến vĩ đại cho nhân loại của Đức Thế Tôn là cống hiến bốn thánh trí về kiếp nhân sinh, bốn thánh trí về đời sống, bốn sự thật về khổ đau, bốn sự thật mà bậc thánh chứng ngộ. Sự thật thứ nhất là cái tâm nắm giữ vào ngũ uẩn này là phiền não và khổ đau, sự thật thứ hai nguyên nhân của đau khổ là vì vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn, sự thật thứ ba nếu như muốn dứt hết cái khổ đau này là chỉ có cách phải diệt cho được vô minh, tham ái và sự thật thứ tư cái đạo lộ, cái con đường, cái cách thức, cái phương pháp để diệt khổ đau là tám đúng của bậc thánh. Trong thời gian ngắn ngủi chúng ta chỉ khai triển trọng yếu về thấy đúng và nghĩ đúng cũng như là sống đúng, làm đúng, thấy đúng về năm uẩn, thấy đúng về tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã là đau khổ, là nguyên nhân của đau khổ và bằng mọi cách chúng ta sống với một nội tâm an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ thương. Đó là phương pháp ngắn gọn nhất, dễ nhất để chúng ta thực hành và một cách đơn giản thứ hai là nhớ quét căn nhà nội tâm khi thấy tham, sân, si, bản ngã, hơn thua và cuối cùng nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm. Mô Phật.
Sư thầy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính ngưỡng bái bạch thượng tọa giảng sư, hôm nay là ngày thứ hai trong tuần lễ Phật Đản được tổ chức xuyên suốt tại chùa An Lạc từ ngày mùng tám đến ngày mười lăm. Chúng con thật may mắn và diễm phúc khi được cung thỉnh bước chân an lạc của thượng tọa giảng sư với lòng từ mẫn đến hàng Phật tử chúng con, dù đường xá xa xôi nhưng với lòng thương tưởng đến hàng hậu học chúng con, thầy đã trở về chùa An Lạc ban bố cho chúng con những lời chỉ dạy, những lời pháp nhũ.
Chúng con thiết nghĩ rằng nếu không có Đức Phật, nếu không có giáo pháp, nếu không có Tăng đoàn làm sao con may mắn được pháp lạc hôm nay với những sự thật thắng trí mà Đức Phật đã chứng ngộ được thông qua những lời chia sẻ rất giản dị của thượng tọa giảng sư. Chúng con như được hiểu thêm và vỡ lẽ ra những lời dạy thâm thúy ấy qua những lời chỉ bảo tận tình. Chúng con xin nguyện y giáo phụng hành và nguyện cầu tam bảo gia hộ cho thượng tọa giảng sư được pháp thể khinh an, trí bi viên mãn để mãi là con thuyền thanh lương tươi mát, tưới mát cho hàng Phật tử chúng con trên con đường tu nhân học phật. Nam mô chứng minh sư bồ tát ma ha tát tát đại chứng minh. Giờ này con thành kính cung thỉnh thượng tọa giảng sư và toàn thể đại chúng đồng khởi thân hồi hướng.
./.