Tinh Hoa Thánh Điển Nikāya 5 - Nghệ Thuật Nói Chuyện Và Lắng Nghe
Tinh Hoa Thánh Điển Nikāya 5
Nghệ Thuật Nói Chuyện Và Lắng Nghe
Thích Minh Thành
Ngày 11 tháng 04 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tu tập trong lời nói PAGEREF _Toc194762999 \h 1
II. Lời nói của người thường và bậc trí PAGEREF _Toc194763000 \h 5
III. Nghệ thuật lắng nghe PAGEREF _Toc194763001 \h 8
IV. Khéo nghe – khéo nói PAGEREF _Toc194763002 \h 9
V. Lời nói của bậc Thánh PAGEREF _Toc194763003 \h 10
VI. Trình pháp PAGEREF _Toc194763004 \h 13
I. Tu tập trong lời nói
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí. Hôm nay chúng ta tìm hiểu về lời nói, mà Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya. Ở trong đời sống của chúng ta, thì lời nói được sử dụng rất là nhiều, rất là thường. Và sử dụng lời nói như thế nào, để mình có được sự an lạc, an vui. Và đem lợi ích cho người thân mình, cũng như người nghe. Không nói những lời nói để rồi sau này mình phải hối hận, hối tiếc. Thì Đức Phật dạy mình 5 loại ngôn ngữ, đầu tiên Đức Phật dạy mình xem lời nói mình là đúng thời hay phi thời. Thứ 2 là lời nói chân thật, hay lời nói không chân thật. Thứ 3 là lời nói nhu nhuyến, mềm mại hay lời nói thô bạo. Thứ 4 là lời nói có lợi ích, hay không có lợi ích. Thứ 5 là với từ tâm hay với sân tâm.
Mà mình muốn nói được 5 điều đúng thời, chân thật, mềm mại, có lợi ích và với từ tâm. Thì mình phải hết sức là chánh niệm, tĩnh giác trong khi nói, không phải là muốn nói là mình nói. Mà chúng ta được học phương pháp cảm giác, cũng như Đức Phật dạy ở trong kinh Giáo Giới, là trước khi nói phải xét nét, quán xét. Tức là trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói. Thì như vậy là mình quán xét lúc này nói có đúng thời không, có hợp thời không. Rồi sau đó mình mới nói, chứ không phải muốn nói gì thì nói, mình muốn mà mình nói là mình nói trong cái dục, mà mình phải xét. Cho nên sự an tịnh, lắng dịu, sự tĩnh tâm, mình quay về cảm giác toàn thân mà mình coi, mình xét lại lúc này có hợp thời để nói hay không. Nếu mà nó hợp thời, đúng lúc thì mình mới nói.
Thí dụ như người kia đang khó chịu, đang bực bội, mà lúc đó mình cũng không có dễ chịu. Mà mình nói thì lời nói của mình có khi phản tác dụng, mình muốn cho nó hòa mà nó lại càng bất hòa. Cho nên mình phải coi lời nói đó với cái tâm từ hay tâm sân, khi mình nói ra lời nói đó có lợi ích hay là không, lời nói đó có mềm mại, nhu nhuyến hay có chân thật hay không. Thì đó là 5 yếu tố, điều kiện để chúng ta nói chuyện. Có rất nhiều chỗ Đức Phật dạy chúng ta về cách nói chuyện, bài kinh “Điều Được Nghe”, Tăng Chi Bộ tập 1.
“1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi. Sau khi nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi thân hữu, Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, tôi nói như sau, thấy như sau: “Khi người nào nói lên điều mình thấy: “Tôi thấy như vậy”. Do vậy, người ấy không có lỗi gì.
- Khi người nào nói lên điều mình nghe: “Tôi nghe như vậy”. Do vậy, người ấy không có lỗi gì.
- Khi người nào nói lên điều mình cảm giác: “Tôi cảm giác như vậy”. Do vậy, người ấy không có lỗi gì.
- Khi người nào nói lên điều mình tri thức: “Tôi tri thức như vậy”. Do vậy, người ấy không có lỗi gì.
2.
- Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được thấy cần phải nói ra”.
- Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được thấy không nên nói ra”.
- Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được nghe nên nói ra”.
- Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được nghe không nên nói ra”.
- Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được cảm giác nên nói ra”.
- Ta không nói rằng: “Tất cả điều được cảm giác không nên nói ra”.
- Ta không nói rằng: “Tất cả điều được tri thức nên nói ra”.
- Ta không nói rằng: “Tất cả điều được tri thức không nên nói ra”.
3.
- Này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thấy như vậy không nên nói ra.
- Và này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thấy như vậy nên nói ra.
- Này Bà-la-môn, phàm nói ra điều nghe gì …
- …phàm nói ra điều cảm giác gì …
- …phàm nói ra điều thức tri gì, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thức tri như vậy không nên nói ra.
- Và này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thức tri gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thức tri như vậy nên nói ra. Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần xứ Magadha, hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập 1 – kinh Điều Được Nghe)
Mình nói một điều gì mà mình thấy điều nói đó, làm cho thêm lớn lên những pháp ác, bất thiện, làm cho pháp thiện bị tột giảm. Thì Đức Phật nói rằng là không nên nói điều đó ra. Nếu mình nói điều đó mà cái pháp bất thiện tăng trưởng, cái pháp thiện tổn giảm, thì không nên nói, dầu mình có thấy. “Và này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thấy như vậy nên nói ra”. Chúng ta thấy chỗ này là chỗ đặc biệt. Nếu như nói điều gì mình thấy mà cái pháp bất thiện tổn giảm, cái pháp thiện tăng trưởng, thì Đức Phật nói rằng điều thấy như vậy nên nói ra.
Như vậy thì ở đây Đức Phật giải thích cho vị đại thần này, thì cũng là hướng dẫn cho chúng ta điều nào nên nói, và điều nào không nên nói. Không phải thấy cái gì cũng nói hết, và không phải là không được nói điều mình thấy. Mà mình nói ra điều đó tốt hay xấu, nó có lợi hay có hại, nó là thiện pháp hay bất thiện pháp. Rồi điều mình được nghe thì Đức Phật cũng nói y như vậy, không phải lúc nào cũng nói ra hết điều được nghe. Cũng phải rằng không được nói những điều mình được nghe đó, mà nói ra những điều là bất thiện hay là thiện. Chỗ này chúng ta phải để ý nha, 2 từ thiện và bất thiện là nó bao trùm tinh thân tu tập của chúng ta.
Nó ví dụ như bây giờ ba mẹ mình lớn tuổi đang bệnh, bây giờ có chuyện không được vui, anh em cự cãi gì đó, mà ta đem chuyện đó đem nói cho cha mẹ già đang bệnh. Thì có khi người lớn tuổi nghe rôi lên tăng xông, hoặc là đau tim, thì cái đó là điều không nên nói. Khi mình đi đến thăm ba mẹ thì mình nói những thời thiện pháp, thánh pháp, chánh pháp. Mình không có nói những lời chuyện người này, chuyện người kia dù là những chuyện đó có. Những mà những chuyện đó làm cho cha mẹ buồn, mình nói làm cho họ sân khởi lên lòng tham, lòng sân, hay là bản ngã tăng trưởng thì mình không có nói.
Như vậy thì Đức Phật cho chúng ta thấy được, là dầu cho mình thấy được, nghe được, cảm giác, hay mình có nhận thức được rồi thì mình phải có sự chánh niệm và sự chọn lựa. Như vậy nên tại sao chúng ta phải nghe pháp nhiều, tại sao chúng ta phải đọc kinh, tụng kinh nhiều. Tại vì chúng ta nghe những lời pháp đó, thì làm cho pháp thiện trong người mình tăng trưởng. Thí dụ như chúng ta tụng giới, điều đó có một sự công năng nhắc nhở mình. Nhắc nhở mình tu tập, nhắc nhở mình những điều đó là những điều không có tốt, những điều có tội. Chẳng hạn như mình tụng giới từ bỏ nói dối, từ đâm thộc, từ bỏ nói lời ác độc, từ bỏ nói lời phù phiếm.
Thì bây giờ mình từ bỏ lời dối trá, thì đương nhiên là mình thực hành lời nói chân thật. Mình từ bỏ nói lời đâm thộc, thì mình nói những lời nói hòa hợp, gắn kết. Mình từ bỏ lời nói ác độc, thì mình thực hành lời nói hiền hòa, từ ái, yêu thương. Mình thực hành từ bỏ lời nói phù phiếm, thì mình nói lời nói có ý nghĩa, giá trị, lợi ích. Như vậy sở dĩ mình tụng giới mỗi nửa tháng 1 lần, hay là mỗi ngày mình tụng kinh, nghe pháp, pháp đàm. Thì đều là làm mình tăng trưởng thiện pháp ở trong cái thấy, cái nghe, cái cảm giác và nhận thức của mình. Thành ra 2 chữ thiện và bất thiện, là nó bao trùm hết sự tu tập của mình.
Nên mình luôn luôn quán chiếu, soi xét và mình chiêm nghiệm. Cùng một việc làm, cùng là một lời nói, cùng là một hành động, nhưng mà mình xét sâu vào là thiện hay bất thiện không phải dễ mà biết. Mình nói thí dụ, như giờ có đứa trẻ nó đi ra ngoài quốc lộ. Thì như vậy người lớn thấy hay là ba mẹ rầy la, quở trách. Thì những lời rầy la, quở trách đó là tốt cho đứa con, bảo vệ đứa con. Hay là một vị thầy nhắc nhở, giáo huấn, dạy dỗ thậm chí là nghiêm khắc. Thì cũng vậy, điều đó xuất phát từ tâm thiện, tâm lành, cái tâm muốn tốt cho con của mình, muốn tốt cho học trò, đệ tử. Còn lời nói mà khó chịu đối với người khác, thì cái đó là khác nữa.
Cho nên mình phải có chánh niệm tĩnh giác, thì mình mới biết đó là thiện hay là bất thiện. Không có chánh niệm tĩnh giác, mình sẽ không có nhìn sâu vào bản chất vấn đề, bản chất sự việc. Mình chỉ nhìn ở trên lời nói, bề ngoài, thì mình sẽ không thấy được bản chất của sự việc bên trong. Ở trong bài kinh “Các Vấn Đề Được Nói Đến”, Đức Phật có nói đến thế nào là người có duyên hay không có duyên với mình. Làm sao mình biết được người đó có duyên, hay là không có duyên với mình? Thì Đức Phật có nói là: “Không có lóng tai là không có duyên, có lóng tai là có duyên”. Tức là người này chú ý lắng nghe đến lời mình nói, thì người chú ý lắng nghe, chịu nghe, muốn nghe, chấp nhận nghe, thì người này là người có duyên.
II. Lời nói của người thường và bậc trí
Thì người đó có thêt cảm nhận, cảm thấy được chánh giải thoát, cảm nhận được pháp. Như vậy làm sao mà biết được người đó có duyên với pháp, người đó muốn nghe pháp, thích nghe pháp và có cảm thọ với pháp? Làm sao biết người này có duyên với người hướng dẫn? Thì người này hoan hỉ được nói, hân hoan khi được thuyết pháp, rồi vui sướng, cảm thọ khi được nghe pháp. Như vậy xác định được là người này có duyên, hay không có duyên.
“Nói chuyện với hiềm thù.
Thiên chấp và kiêu mạn.
Nghịch lại đức bậc Thánh.
Bới móc lỗi lầm nhau.
Thích nghe nói xấu Người.
Người lầm, Người bối rối.
Người bị thua, bị hại.
Bậc Thánh không làm vậy.”
Nói chuyện mà với thái độ hận thù, hiềm hận. Nói chuyện mà nói với một tính cách nghiên một bên, chấp nhặt một điều gì đó. Mà không có chịu lắng nghe, không có chịu nghe góp ý, không có chịu nghe người ta chỉnh sửa, xây dựng. Nói với một thái độ kiêu mạn, ta đây, mà nghịch lại giới đức của bậc thánh. Những lời Đức Phật dạy, nghịch lại những sự thật trong giáo pháp, không có chấp nhận. Bới móc lỗi lầm nhau, khích nhau, nói xấu người, cái này là cái rất là quan trọng để chúng ta học. Có những người có những cái nghiệp, là khi nói chuyện là bới móc, nói xấu những lỗi của người khác. Lấy cái đó làm thú vị, hứng thú, thì những cái ngày trở thành những cái nghiệp.
Thì Đức Phật nói những người mà đi tìm lỗi của người ta, thì như tìm thóc ở trong gạo, còn cái lỗi của mình thì giấu như kẻ gian giấu bài. Cho nên cái nghiệp ở miệng là mình phải tu rất nhiều. Nếu mà người nào còn tật này thì phải sám hối rất nhiều, tác ý rất nhiều và phải luôn luôn chánh niệm, để ý thường xuyên. Bới móc lỗi lầm nhau, thích thú trong việc nghe người khác nói xấu về một ai đó.
“Nếu muốn cùng đàm luận
Bậc hiền biết thời gian
Câu chuyện của bậc Thánh
Liên hệ pháp, pháp nghĩa
Người có trí nói chuyện
Không hiềm thù kiêu mạn
Với tâm không chấp trước
Không hiềm hận độc đoán
Không để tâm lơ đãng
Nói lên với chánh trí
Hoan hỷ lời khéo nói
Không vui lời vụng về
Không học cách chỉ trích
Không chụp sơ hở người
Không nhiếc mắng đánh đập
Không nói lời vu vơ
Lời nói của bậc Thánh
Vừa dạy vừa hoan hỷ
Như vầy bậc Thánh nói
Là bậc Thánh luận đàm
Bậc trí biết rõ vậy
Nói lời thật khiêm tốn.”
Đoạn ở trên là nói cho chúng ta thấy những cái khuyết điểm, những cái không biết tu tập. Còn đoạn dưới này là nói cho chúng ta thấy người hiền trí, bậc hiền thánh nói chuyện như thế nào. “Nếu muốn cùng đàm luận, bậc hiền biết thời gian”, tức là biết lúc nào nói, nói như thế nào, nói với ai và nói ở trong hoàn cảnh, đối tượng nào, chỗ này là chỗ quan trọng. “Câu chuyện của bậc Thánh, liên hệ pháp, pháp nghĩa”, nói về câu chuyện của bậc Thánh, tức là những đề tài mà Đức Phật dạy như ít muốn, biết đủ, ly tham, tàm quý, nói về giới, về đạo đức, sự an tịnh. Nói về sự viễn ly, xuất ly, thoát ra, nói về trí tuệ của sự giải thoát, và sự thấy biết của sự giải thoát.
Như vậy là người có trí là người với một nội tâm rất là hiền lành, hiền thiện, rất là hiền hòa. Cho nên người này không có độc đoán, không có chấp chước, không có ta đây khi mình nói chuyện. Một vấn đề gì đó khi mình nghĩ đó là đúng, những người khác nói sai rồi, thì mình cũng không có vội vàng phản bác, sân hận, khó chịu hay bản ngã. Mình an trú ở trong sự an tịnh lắng dịu, cho cái cảm thọ của mình, và lan tỏa tình thương đến người. Không có chấp chước, không có ngã mạn trong lời nói, không có độc đoán, tự quyết đoán một mình mình. Mà phải luôn luôn lắng nghe ý kiến của mọi người, nhất là trong tập thể, trong gia đình, điều này hết sức quan trọng, “khẩu hòa vô tranh”.
Trong một gia đình mà mình độc đoán, quyết đoán một mình mình thì nó trở thành ra cái gì, người ta gọi là gia trưởng, độc đoán, làm quyền. Thì gia đình đó cứ lục đục, bất hòa, bất ổn, bất bình. Cho nên sự lắng nghe mọi người, là điều hết sức quan trọng. Người trí là người nghe nhiều hơn là nói, mà nếu có nói là nói những đề tài, câu chuyện mà Đức Phật nói, gọi là những câu chuyện của bậc Thánh. Có bàn là bàn về ít muốn, bàn về biết đủ, bàn về sự rời xa tham sân si của cuộc đời này. Bàn về sự thoát ra hơn thua, tranh đua, bốn pháp hành. Bàn về những đức tánh chân thật, chân thành, thành thực. Bàn về những đức tánh khiêm hạ, khiêm cung, vi diệu, hiền diệu. Những đức tánh mà luôn luôn thực hành pháp, tôn trọng pháp, quý kính pháp, thể nhập vào pháp.
III. Nghệ thuật lắng nghe
Thì đó là những câu chuyện liên hệ bậc Thánh, bậc đạo đức thiền định, trí tuệ giải thoát, thấy biết về đạo lộ giải thoát của Đức Phật. “Không để tâm lơ đãng, nói lên với chánh trí”, không có để tâm lơ đễnh. Nhiều khi tâm của mình không có tĩnh giác, không có chánh niệm, không có sáng suốt, không có minh mẫn. Mà mình quyết đoán, mình nghe, hoặc là mình có những lời nói của người khác không có chuẩn xác, không chính xác, không sáng tỏ. Cái tâm mình lúc đó lơ đễnh, lang thang, cái tâm đi chơi. Nhiều khi người ta nói như vậy, rồi hỏi lại là mình “hả hả”, hoặc nghe không rõ, nghe ba chớp ba nháng. Một là nghe không rõ, 2 là nghe không hết, 3 là có khi nghe nhầm. Thì những cái này là những cái mình hết sức để ý, cho nên khi mình nghe thì mình phải có một sự lắng nghe.
Lắng nghe bằng một cái tâm trong sáng, không có thành kiến. Mình nghe từ đầu đến đuôi câu chuyện, rồi mình cảm nhận, suy xét, rồi sau đó mình mới đưa ra góp ý, kết luận, hoặc một phương pháp. Để giúp cho người họ đang khổ, đang khó khăn, đang phiền não, đang sầu hận, hay là đang sầu, bi, khổ, ưu, não. Chúng ta thấy Đức Thế Tôn, hay là các bậc Thánh, bậc hiền trí mà người đau khổ đến thì được các ngài nói vài câu, hay là một buổi pháp thoại. Thì các vị này xóa tan được khổ đau, buông gánh nặng xuống, như là buông được cục đá xuống. Tâm nhẹ nhỏm, hoan hỉ, khinh an, vì các ngài có một chánh trí của sự lắng nghe. Cho nên 2 chữ “lắng nghe” này là cực kỳ quan trọng, cho nên trong bài kinh nào Đức Phật cũng nói: “Này các Tỳ-kheo, hãy lắng nghe và khéo tác ý”.
Cái lắng nghe này rất là tuyệt vời, là một pháp hành rất quan trọng. Con ngày xưa trước khi đi vào Nikāya, là con tu tập cái lắng nghe cả chục năm. Mình tập lắng nghe những nỗi khổ, niềm đau, nỗi buồn của người khác, nhất là những người thân thương ở bên cạnh. Tập nghe những tâm sự của mẹ cha, vợ chồng, huynh đệ, thầy cô, của đệ tử mình. Tập im lặng và tập lắng nghe, chẳng những mình nghe bằng lỗ tai, mà mình nghe bằng cả trái tim, bằng tâm, nghe bằng cả một tấm lòng. Chẳng những mình chỉ nghe cái tiếng, mà mình còn nghe được chỗ không có tiếng. Là như thế nào? Chẳng những mình nghe khi người ta nói, mà mình còn nghe lúc người ta không có nói, tức là mình nghe bằng cảm thọ.
Nghe bằng sự cảm nhận, cảm xúc của người đang nói đó. Nếu mà mình nghe được như vậy, với một trí tuệ, một sự thấy hiểu của mình ở trong chánh pháp rồi. Thì mình nghe như vậy mình có nhiều tình thương, mình có nhiều hiểu biết, mình có nhiều cảm thọ, mình có nhiều cảm thông, có nhiều cảm động. Và có được một cái sức, mà có thể cảm hóa được. Còn cái này mình nghe ba chớp ba nháng, nghe trong cái dục, cái sân, trong cái bản ngã, cái tôi, hay là nghe trong cái vì lợi, nghe là muốn tìm cái lời trong lời nói của người khác. Hay là nghe để tìm cái hơn thua, đúng sai, thị phi, thì như vậy sự nghe và lời nói đó chỉ làm cho mình thêm đau khổ, và người kia cũng thêm khổ đau.
IV. Khéo nghe – khéo nói
Cho nên phải tập cái nghe và cái nói này, khéo nghe và khéo nói. Nghe được không chỉ bằng lỗ tai, và phải nghe được bằng trái tim, mà phải nghe bằng cả một tấm lòng. Đó chính là nghe bằng cảm thọ, nghe bằng sự cảm động, trong khi nghe đó là có một chánh kiến, thấy có sự thấu đáo, tận tường, biến tri, tuệ tri, thấu tri, liễu tri, thắng tri. Một sự biết tận tường, thấu đáo, nhiều khía cạnh, góc độ của ngũ uẩn. Nhiều phương diện, khía cạnh sự thật của thân này, của tâm, của đời sống, của thế gian, của thế giới ngũ uẩn này. Khi mình nghe được như vậy thì nó tràn ngập tình thương, tràn ngập sự hiểu biết, tràn ngập sự cảm thông. Tràn ngập sự tha thứ, bao dung, độ lượng, từ tâm, bi tâm vô lượng.
Mình nghe được như vậy rồi thì mình sẽ hiểu, thấu hiểu, liễu tri, tuệ tri và thánh tri. Chứ không phải là thức tri hay tưởng tri, không phải là sự thấy biết ở trên ảo tưởng, vọng tưởng, tưởng tượng. Không phải thấy biết ở trên cái nhận thức, kinh nghiệm thông thường. Mà sự thấy biết ở trên cái trí tuệ của thánh trí, biết ở trên tình thương của từ tâm, biết ở trên lòng trắc ẩn, xót xa của bi tâm. Mà biết là biết ở trong cái tâm buông xả, buông xuống những cái nhỏ nhặt, thấp hèn, chấp thủ bằng một cái tâm xả vô lượng trong khi mình nghe. Mình nghe bằng một cái tâm hoan hỉ, hỉ xả trong cai lỗi lầm, cái tội, cái khổ, cái vô minh, si mê, vấp ngã của họ.
Nếu mình nghe được như vậy thì cha mẹ mình tuyệt vời lắm. Vợ chồng trong gia đình sẽ được bình an, hòa hợp. Thầy trò, huynh đệ, tỷ muội trong đạo tràng sẽ được an ổn, an hòa, yên vui. Với một cái nghe tuyệt vời như vậy, với một cái nói khéo như vậy, thì mình sẽ có nhiều bình an, lợi lạc, lợi ích, giá trị, an lạc, hạnh phúc cho nhau.
V. Lời nói của bậc Thánh
Mình muốn nghe được như vậy, thì đầu tiên mình phải có sự hạn chế lời nói của mình. Mình quán hình ảnh con chó, hở ra chút là nó sủa, cho nên vì ác nghiệp đó nó mới sanh ra loài chó. Mình quán chiếu như vậy, mình tập, mình nhiếp phục, chế ngực, hạn chế lời nói. Bước thứ 2 là mình cảm giác toàn thân, tập sự an tịnh, lắng dịu ở trong cảm thọ.
Bởi vì cái miệng nó nói là do cái ý ở bên trong, khẩu hành nói được là do ý hành. Nếu như ở trong khẩu hành mà nó im lặng, thì cái khẩu hành nó không có phát ra ngôn ngữ được. Mà mình muốn ý hành nó yên lặng, thì cái thọ phải an tịnh lắng dịu. Mà cái thọ an tịnh lắng dịu ở bên trong, thì cảm thọ, cảm xúc, cảm giác ở bên trong là một cảm giác an tịnh lắng dịu, tịch tịnh. Khi mình có được hạn chế lời nói bên ngoài, cảm giác toàn thân và an tịnh lắng dịu thì sẽ có một nội tâm định tĩnh. Mà nội tâm định tĩnh đó nó có một sức chánh niệm tĩnh giác, nó nhìn thấy cũng như một cái hồ nước mà mặt hồ nó yên lặng và nó trong. Khi nó trong thì nó sẽ phản chiếu được những hình bóng trên mặt trăng, hay mây, sao, người, cảnh gì đó chẳng hạn.
Thì cũng vậy, cái tâm mình nhờ an tịnh, lắng dịu, định tĩnh như vậy, thì nó có độ trong sáng. Khi có độ trong sáng, thì nó có một cái tuệ để soi rọi. Với cái tâm như vậy để mà lắng nghe, thì tuyệt vời lắm. Mình sẽ nghe được nỗi khổ, niềm đau của cha mẹ, mình sẽ nghe được nội kết, tâm sự của vợ chồng con cái. Mình sẽ nghe được những khó khăn của huynh đệ, thầy trò. Mình sẽ nghe được những tâm sự khó nói của những người đồng đạo, đồng nghiệp, đồng hành với mình. Nghe bằng trái tim, nghe bằng tất cả tấm lòng, nghe bằng sự cảm thông, cảm thọ, cảm động. Nếu có một cái nghe, cái hiểu, cái cảm nhận sâu sắc như vầy, thì mình sẽ có một sức cảm hóa khi mình nói ra.
Khi mình nói thì nói như lúc nãy Đức Phật dạy mình đó, nói đúng thời, nói với một tâm từ, nói lời có lợi ích, nói lời chạm đến trái tim. Đó là từ việc mình thực tập sự lắng nghe, và khéo nói là rất quan trọng. Hồi nãy Đức Phật dạy chúng ta là mấy lời nói? Nói đúng thời, nói lời chân thật, nói lời nhu nhuyến mềm mại, nói có lợi ích và nói với từ tâm. Không phải là nói lời phi thời, không phải là nói dối, không phải là nói lời thô bạo, không phải là nói lời không có lợi ích, không phải là nói lời bực bội, khó chịu và sân hận. Mà nói lời đúng thời, lời mềm mại, lời chân thật, lời có lợi ích và lời với từ tâm.
“Hoan hỷ lời khéo nói
Không vui lời vụng về
Không học cách chỉ trích
Không chụp sơ hở người”
Cái này hết sức là quý báu để chúng ta thực tập, nãy giờ là chúng ta đang “không để tâm lơ đãng, nói lên với chánh trí”. “Không vui lời vụng về”, tức là lời bỡn cợt, phù phiếm, không có chánh niệm, buông lung phóng dật, mình không có vui với những lời đó. “Không học cách chỉ trích”, không có bắt chước theo cách chỉ trích người khác. Nói ghim gút người ta, nói 1 câu, 2 câu là đâm bị thóc, thọc bị gạo. “Không chụp sơ hở người, không nhiếc mắng đánh đập, không nói lời vu vơ”, không có chụp sở hở của người khác, thấy người ta sơ hở 1 chút là mình chụp vào đó là mình nói. Thì cái đó là cái tâm tiểu nhân, cái tâm nhỏ nhoi, nhỏ hẹp, nhỏ nhặt, nhỏ mọn, nhỏ nhít. Không phải là cái tâm của bậc hiền trí, cái tâm rộng lượng, vô lượng, quảng đại của một người tu.
“Lời nói của bậc Thánh
Vừa dạy vừa hoan hỉ
Như vầy bậc Thánh nói
Là bậc Thánh luận đàm
Bậc trí biết rõ vậy
Nói lời thật khiêm tốn”
Những câu này mình phải để ý, nhiều khi mình góp ý ai, lúc đó mình xem người ta nghe người ta có hoan hỉ không, góp ý với một cái tâm thương hay là tâm giận. Xem cái tâm này là cái tâm có bản ngã, hay là một cái tâm hết sức là khiêm cung, khiêm hạ, khiêm tốn. Góp ý đó là sự thật hay chưa phải sự thật, là có lợi ích hay chưa có lợi ích. Mình nhớ kỹ khi mình góp ý người khác, hay xây dựng người khác. Như vậy lời nói của bậc Thánh, lời nói của bậc trí, là lời nói thật là khiêm tốn, khiêm cung, khiêm hạ. Như vậy các bài kinh hôm nay chúng ta nhắc lại ý nghĩa, điểm thứ nhất Đức Phật nói với chúng đó là mình nên để ý, khi mình thấy rằng cuộc sống mình cần giao tiếp, truyền thông với nhau bằng ngôn ngữ.
Hằng ngày chúng ta sử dụng, mà nếu chúng ta không khéo dùng, không khéo nói, nói lời vụng về, nói lời phù phiếm, hay là dối đâm độc nhãm (dối trá, đâm thọc, ác độc và nhãm nhí thêu dệt). Thì như vậy nó làm cho mình đau khổ, đau khổ người khác. Đức Phật dạy cho mình nói lời đúng thời, nói có lợi ích, nói lời chân thật, nói nhu nhuyến, mềm mại, và nói với từ tâm. Qua bản kinh mà chúng ta được học đó là gì? Đó là không phải thấy gì cũng nói, nghe gì cũng nói, không phải cảm nhận cái gì cũng nói, không phải biết cái gì cũng nói hết. Mà nói những điều đó ra là những điều mình thấy, mình nghe, mình cảm xúc. Và mình nhận biết nó là thiện, hay là bất thiện. Nếu mình nói ra mà nó tốt, nó là thiện pháp, nó làm cho tăng trưởng các pháp lành thì nên nói.
Còn nếu mà nói ra cái cảm xúc đó, cái nhận thức đó mà ra là bất thiện, là xấu thì đừng có nói. Cái này rất quan trọng, không phải cái gì nghe, cái gì thấy, cái gì cảm xúc, cảm nhận gì cũng nói. Mà cái nào thiện, làm tăng trưởng điều thiện thì mình mới. Còn cái nào là bất thiện, là ác pháp, làm tăng trưởng các ác pháp thì mình không nói. Khi mình nói những lời đó, làm lặp lại những cái đó, làm tăng trưởng thọ tưởng hành ở trong đó. Rồi người kia cũng sanh khởi thọ tưởng hành lên, thì cái đó là bất thiện pháp. Cuối cùng chúng ta thấy cách nghe bằng cả tấm lòng, và thật là khéo nói. Trong bài kệ mà chúng ta vừa nghe là các vấn đề được nói lên, Đức Phật dạy một người hiền trí, nghe không phải chỉ nghe bằng lỗ tai, mà nghe bằng cảm thọ, bằng cả tấm lòng, bằng cả trái tim, tình thương, trí tuệ như vậy.
Thì mới có thể cảm nhận được những nỗi khổ của mình, của người, của hữu tình, chúng sanh. Và có thể bằng lời nói đó, người hiền trí có thể làm thay đổi được một con người, một cuộc đời, một vận mệnh. Cái cuối cùng Đức Phật dạy mình lời nói thật là khiêm tốn, khiêm cung. Như vậy là hôm nay chúng ta chia sẻ lời khéo nói, trong kinh tạng Nikāya. Chúng ta cố gắng vận dụng, thực tập, hành trì, chắc chắn sẽ có lợi ích trong hiện tại, trong tương lai. Và giải thoát cho mình, những người thân thương nhất trong gia đình, trong đạo tràng, và cho những người mình tiếp xúc.
VI. Trình pháp
Dẫn bài: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Xin được thay lời trong ban tổ chức lớp học, chúng ta xin thành kính niệm ân đức thượng tọa giảng sư, đã có một buổi pháp thoại đã có một buổi chia sẻ đến với lớp học chúng con trong buổi tối hôm nay. Giúp cho quý Phật tử có thể ứng dụng được, và thực hành trong đời sống hằng ngày của mình được lợi ích an vui. Một bài pháp nói về lời nói của mình trong giao tiếp, người hiền trí nghe bằng cảm nhận, cảm thọ được những nỗi khổ, niềm đau của mọi người, đem được lợi ích lớn cho mọi người. Chúng ta vận dụng những lời bằng lời nói thiện lành, chúng ta lắng nghe bằng cả tấm lòng. Trong giao tiếp thì chúng ta phải sử dụng ngôn ngữ khéo léo, để lợi ích cho người.
Những lời nói thì phải sử dụng những lời nhu nhuyến và từ tâm. Một bài học mà thượng tọa giảng sư đã chia sẻ đối với lớp học chúng con hôm nay, đã giúp cho chúng con cùng quý Phật tử trong diễn đàn, phải cận thận trong lời nói của mình. Những người xung quanh chúng ta phải sử dụng những lời nói ái ngữ, lời nói hiền hòa, lời nói chạm đến trái tim của mỗi người, chúng ta phải nói bằng tất cả từ tâm và phải biết lắng nghe. Giống như thượng tọa giảng sư đã nói, không phải chúng ta nghe cái gì cũng nói, lời nói phải đúng thời đúng lúc. Một bài pháp rất là ý nghĩa, quý Phật tử trong diễn đàn tối hôm nay chúng ta cảm nhận được, qua lời giảng của thượng tọa giảng sư.
Chúng ta phải cận trọng trong lời nói của mình, từ lời Đức Phật, cho đến lời của giảng sư chuyển tả đến quý Phật tử. Đây là bài học rất là lợi ích, giúp cho quý Phật tử chúng ta sử dụng trong đời sống hằng ngày của mình, để đem được lợi ích, an vui cho mình và cho người. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, một lần nữa thay mặt cho diễn đàn lớp học chúng con tối hôm nay, kính chúc thượng toạ giảng sư luôn luôn được thân an tâm lạc, Phật sự được viên thành trên con đường hoằng pháp. Để cho chúng con có những bài pháp có thể ứng dụng vào con được tu học của mình, và có được sự an vui. Thời pháp hội hôm nay đến đây được thành tựu viên mãn, chúng ta thành kính cung thỉnh thượng tọa niệm hồi hướng. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch thượng tọa giảng sư, và kính bạch quý Phật tử trong diễn đàn. Cũng khá là lâu rồi, chúng ta không có thời giao lưu với thượng tọa giảng sư qua những thời pháp. Con cũng xin sám hối thượng tọa giảng sư, là trong thứ 6 tuần rồi đã được thông báo, nhưng mà các Mc ngày đó đi học, nên không có làm thị dạy cho giảng sư, nên mong thượng tọa giảng sư hoan hỉ cho chúng con. Và thời pháp hôm nay, thì quý Phật tử có gì cần thưa hỏi thượng tọa giảng sư, để thượng tọa giảng sư chia sẻ đến quý Phật tử hôm nay. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Phật tử 1:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Lời đầu tiên con xin kính tri ân trên thượng tọa, một bài giảng hôm nay vô cùng hữu ích cho mọi người, trong việc ứng xử và giao tiếp. Qua bài giảng hôm nay thì con có nhận xét của riêng mình, là lời nói nào đưa đến hại mình, hại người là tuyệt đối không nên nói. Những lời nói nào mà đưa đến lợi mình, lợi người thì nên nói. Bởi vì trong 1 số trường hợp là nếu như mình nói những lời nói, mà người ta biết mình biết, mình cảm thọ, mình hiểu được thì nó cũng có thể gây nguy hiểm cho chính bản thân mình. Cho nên con cũng hiểu rộng ra được một chút là như thế. Thứ 2 thì con cũng xin hỏi thượng tọa một câu như thế này: Thì đối với bản thân mọi người trong đạo tràng ngày hôm nay, được nghe thượng tọa giảng về cách thức nói, và cách thức để làm sao mình điều chỉnh được lời nói.
Còn vấn đề là khi mình gặp những người mà người ta nói lời không được ôn hòa, hoặc như lời thượng tọa dạy là nói với cái tâm hiềm hận. Thì chúng con nên ứng xử như thế nào, để mà đem lại được sự an lạc cho chúng con, và cho người có cái tâm hiềm hận đấy. Làm sao để đạt được lợi ích cho cả 2, xin thượng tọa hoan hỉ chỉ dạy cho chúng con về vấn đề này.”
Câu hỏi này rất là thực tế, chúng ta không có tránh khỏi khi mình tiếp xúc giao tiếp thì có những người rất là khó chịu, sân hận, bực bội. Thì trong đó, mình phải hết sức có 1 sự an trú cảm giác toàn thân của mình. Chúng ta phải luôn nhớ thực hành 3 pháp, luôn luôn lúc nào cũng phải thực hành rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tịnh giác. Mình phải quay về cảm giác toàn thân của mình, mình phải an trú trong cái cảm giác toàn thân đó, mình có một sự chánh niệm tĩnh thức. Thí dụ như mình đi ngang chỗ đó mà nó có lửa cháy, vậy mình có cẩn thận không? Mình phải rất cẩn thận, còn không thôi là nó cháy lan, nó táp vô người mình.
Thì cũng vậy, mình biết chỗ này là chỗ hết sức cẩn trọng và chánh niệm. Và điều quan trọng nhất của mình ngay lúc đó, là mình phải hạn chế lời nói tối đa. Là cắt bớt cái duyên xúc, tại vì xúc là nó sanh ra thọ, khi tiếp xúc là nó sanh ra cảm thọ, mà cảm thọ là lúc đó nó sân, nó hiềm hận, tức giận, cho nên mình hạn chế lời nói. Cái thứ 2, là mình phải quán chiếu được sư nguy hiểm và tác hại được cơn giận. Mình quán cho mình đó, không phải cho người ta đâu. Nếu mà mình nổi nóng lên, thì nó sẽ nguy hiểm và tác hại ở trên mình. Và nó cũng đang nguy hiểm và tác hại người đó. Người đó thì đã, mà mình thì có lẽ, sẽ, hoặc đang. Mình ví dụ bằng những cái từ chúng ta có thấy rõ không ạ? Người đó đang nóng giận, đã nóng giận.
Nếu mình không có cẩn thận và chánh niệm, thì nó sẽ cháy lan qua bên cảm thọ của mình, và mình cũng sẽ nóng giận. Cho nên một mặt là mình cắt duyên xúc của mình, là mình yên lặng. Cái thứ 2 là mình phải cận trọng, và cái thứ 3 là mình phải có 1 cái tâm thương. Một cái tâm thương người này đang bệnh, đang bị thiêu đốt, đang bị đốt cháy. Mà người đang bị đốt cháy thì mình mang đến cái gì cho người ta? Đương nhiên là phải mang nước tới, chứ mình đâu có thể lại đem củi, đem xăng, đem ga tới cho người ta nữa. Nếu mình không thể cứu giúp người ta, thì ít nhất mình cũng đừng có đổ xăng, đổ dầu vô. Mình không cứu giúp được người ta, tức là mình yên lặng, không nói gì hết, an trú cảm giác toàn thân.
Còn nếu mình giúp được người ta, thì bằng sự khéo, thiện xảo, đúng lúc, đúng thời, đúng người, đúng trường hợp. Mà người đó phải chịu nghe mình nói, thì mình mới nói. Mà ngay lúc đó là nói ít có tác dụng lắm, người ta đang nổi nóng, đang hiềm hận đang sân hận, thì nên đợi họ lắng dịu xuống rồi mới khéo léo nói. Không phải là không giúp được đâu, nhưng mà phải có điều kiện, là mình phải là một cái bình PCCC, mình phải là một chiếc xe, một đội cứu hỏa. Còn nếu như mình là chất cháy, thì tốt nhất mình nên lánh xa. Mình phải biết rõ vị trí của mình là đang ở chỗ nào.
“Dạ thưa thượng tọa, khi con hỏi câu hỏi này, thì bản thân con có một cách để mà con tự làm rồi. Nhưng mà con muốn hỏi là để được xác chứng, vì khi gặp vấn đề như vậy, thì thường là con cũng không nói năng gì. Nhiều khi người ta nói nhiều cái, thậm chí không phải là nói mình, mà nói xúc phạm, cợt nhã đến Tam Bảo, thì lúc đó cảm giác sân trong con rất là khó chịu. Nhưng mà con cũng im lặng, không nói năng gì. Vì lúc đó con nghĩ con nói ra thì sẽ cãi nhau, mà cãi nhau thì lần sau sẽ không ngồi với nhau được nữa. Cho nên con không nói năng gì, con tìm cách lãng lãng đi, hoặc là con tìm việc khác con làm.
Nhưng mà thú thật với thầy, với mọi người, là việc giúp người ta, mình là bình chữa cháy thì con nghĩ mình không đủ sức, thôi tránh tránh ra. Vì mình hiểu tính người ta rồi, bứt rứt thêm. Bởi vì cái này Đức Phật nói là: “Không thể nào mà có duyên được, không thể nào độ được người vô duyên”. Huống chi chúng con là người phàm mắt thịt, thôi thì trường hợp nào tránh được thì tránh, con xin mạng phép tránh được. Chứ con cũng không dám nói pháp, tại vì nhiều khi chánh pháp là những lời thường đi ngược với thế gian, cho nên nhiều khi con cũng hạn chế trong vấn đề mình nói.
Cho người những người anh em, bạn bè nào chịu nghe những lời khuyên đạo đức, thích lắng nghe những bậc hiền thì con gọi là có một chút chia sẻ cho họ biết thôi chứ không dám nói nhiều nữa. Con xin kính tri ân trên thượng tọa về bài giảng ngày hôm nay ạ.”
Nghệ Thuật Nói Chuyện Và Lắng Nghe
Thích Minh Thành
Ngày 11 tháng 04 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tu tập trong lời nói PAGEREF _Toc194762999 \h 1
II. Lời nói của người thường và bậc trí PAGEREF _Toc194763000 \h 5
III. Nghệ thuật lắng nghe PAGEREF _Toc194763001 \h 8
IV. Khéo nghe – khéo nói PAGEREF _Toc194763002 \h 9
V. Lời nói của bậc Thánh PAGEREF _Toc194763003 \h 10
VI. Trình pháp PAGEREF _Toc194763004 \h 13
I. Tu tập trong lời nói
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí. Hôm nay chúng ta tìm hiểu về lời nói, mà Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya. Ở trong đời sống của chúng ta, thì lời nói được sử dụng rất là nhiều, rất là thường. Và sử dụng lời nói như thế nào, để mình có được sự an lạc, an vui. Và đem lợi ích cho người thân mình, cũng như người nghe. Không nói những lời nói để rồi sau này mình phải hối hận, hối tiếc. Thì Đức Phật dạy mình 5 loại ngôn ngữ, đầu tiên Đức Phật dạy mình xem lời nói mình là đúng thời hay phi thời. Thứ 2 là lời nói chân thật, hay lời nói không chân thật. Thứ 3 là lời nói nhu nhuyến, mềm mại hay lời nói thô bạo. Thứ 4 là lời nói có lợi ích, hay không có lợi ích. Thứ 5 là với từ tâm hay với sân tâm.
Mà mình muốn nói được 5 điều đúng thời, chân thật, mềm mại, có lợi ích và với từ tâm. Thì mình phải hết sức là chánh niệm, tĩnh giác trong khi nói, không phải là muốn nói là mình nói. Mà chúng ta được học phương pháp cảm giác, cũng như Đức Phật dạy ở trong kinh Giáo Giới, là trước khi nói phải xét nét, quán xét. Tức là trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói. Thì như vậy là mình quán xét lúc này nói có đúng thời không, có hợp thời không. Rồi sau đó mình mới nói, chứ không phải muốn nói gì thì nói, mình muốn mà mình nói là mình nói trong cái dục, mà mình phải xét. Cho nên sự an tịnh, lắng dịu, sự tĩnh tâm, mình quay về cảm giác toàn thân mà mình coi, mình xét lại lúc này có hợp thời để nói hay không. Nếu mà nó hợp thời, đúng lúc thì mình mới nói.
Thí dụ như người kia đang khó chịu, đang bực bội, mà lúc đó mình cũng không có dễ chịu. Mà mình nói thì lời nói của mình có khi phản tác dụng, mình muốn cho nó hòa mà nó lại càng bất hòa. Cho nên mình phải coi lời nói đó với cái tâm từ hay tâm sân, khi mình nói ra lời nói đó có lợi ích hay là không, lời nói đó có mềm mại, nhu nhuyến hay có chân thật hay không. Thì đó là 5 yếu tố, điều kiện để chúng ta nói chuyện. Có rất nhiều chỗ Đức Phật dạy chúng ta về cách nói chuyện, bài kinh “Điều Được Nghe”, Tăng Chi Bộ tập 1.
“1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi. Sau khi nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi thân hữu, Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, tôi nói như sau, thấy như sau: “Khi người nào nói lên điều mình thấy: “Tôi thấy như vậy”. Do vậy, người ấy không có lỗi gì.
- Khi người nào nói lên điều mình nghe: “Tôi nghe như vậy”. Do vậy, người ấy không có lỗi gì.
- Khi người nào nói lên điều mình cảm giác: “Tôi cảm giác như vậy”. Do vậy, người ấy không có lỗi gì.
- Khi người nào nói lên điều mình tri thức: “Tôi tri thức như vậy”. Do vậy, người ấy không có lỗi gì.
2.
- Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được thấy cần phải nói ra”.
- Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được thấy không nên nói ra”.
- Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được nghe nên nói ra”.
- Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được nghe không nên nói ra”.
- Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng: “Tất cả điều được cảm giác nên nói ra”.
- Ta không nói rằng: “Tất cả điều được cảm giác không nên nói ra”.
- Ta không nói rằng: “Tất cả điều được tri thức nên nói ra”.
- Ta không nói rằng: “Tất cả điều được tri thức không nên nói ra”.
3.
- Này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thấy như vậy không nên nói ra.
- Và này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thấy như vậy nên nói ra.
- Này Bà-la-môn, phàm nói ra điều nghe gì …
- …phàm nói ra điều cảm giác gì …
- …phàm nói ra điều thức tri gì, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thức tri như vậy không nên nói ra.
- Và này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thức tri gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thức tri như vậy nên nói ra. Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần xứ Magadha, hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập 1 – kinh Điều Được Nghe)
Mình nói một điều gì mà mình thấy điều nói đó, làm cho thêm lớn lên những pháp ác, bất thiện, làm cho pháp thiện bị tột giảm. Thì Đức Phật nói rằng là không nên nói điều đó ra. Nếu mình nói điều đó mà cái pháp bất thiện tăng trưởng, cái pháp thiện tổn giảm, thì không nên nói, dầu mình có thấy. “Và này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thấy như vậy nên nói ra”. Chúng ta thấy chỗ này là chỗ đặc biệt. Nếu như nói điều gì mình thấy mà cái pháp bất thiện tổn giảm, cái pháp thiện tăng trưởng, thì Đức Phật nói rằng điều thấy như vậy nên nói ra.
Như vậy thì ở đây Đức Phật giải thích cho vị đại thần này, thì cũng là hướng dẫn cho chúng ta điều nào nên nói, và điều nào không nên nói. Không phải thấy cái gì cũng nói hết, và không phải là không được nói điều mình thấy. Mà mình nói ra điều đó tốt hay xấu, nó có lợi hay có hại, nó là thiện pháp hay bất thiện pháp. Rồi điều mình được nghe thì Đức Phật cũng nói y như vậy, không phải lúc nào cũng nói ra hết điều được nghe. Cũng phải rằng không được nói những điều mình được nghe đó, mà nói ra những điều là bất thiện hay là thiện. Chỗ này chúng ta phải để ý nha, 2 từ thiện và bất thiện là nó bao trùm tinh thân tu tập của chúng ta.
Nó ví dụ như bây giờ ba mẹ mình lớn tuổi đang bệnh, bây giờ có chuyện không được vui, anh em cự cãi gì đó, mà ta đem chuyện đó đem nói cho cha mẹ già đang bệnh. Thì có khi người lớn tuổi nghe rôi lên tăng xông, hoặc là đau tim, thì cái đó là điều không nên nói. Khi mình đi đến thăm ba mẹ thì mình nói những thời thiện pháp, thánh pháp, chánh pháp. Mình không có nói những lời chuyện người này, chuyện người kia dù là những chuyện đó có. Những mà những chuyện đó làm cho cha mẹ buồn, mình nói làm cho họ sân khởi lên lòng tham, lòng sân, hay là bản ngã tăng trưởng thì mình không có nói.
Như vậy thì Đức Phật cho chúng ta thấy được, là dầu cho mình thấy được, nghe được, cảm giác, hay mình có nhận thức được rồi thì mình phải có sự chánh niệm và sự chọn lựa. Như vậy nên tại sao chúng ta phải nghe pháp nhiều, tại sao chúng ta phải đọc kinh, tụng kinh nhiều. Tại vì chúng ta nghe những lời pháp đó, thì làm cho pháp thiện trong người mình tăng trưởng. Thí dụ như chúng ta tụng giới, điều đó có một sự công năng nhắc nhở mình. Nhắc nhở mình tu tập, nhắc nhở mình những điều đó là những điều không có tốt, những điều có tội. Chẳng hạn như mình tụng giới từ bỏ nói dối, từ đâm thộc, từ bỏ nói lời ác độc, từ bỏ nói lời phù phiếm.
Thì bây giờ mình từ bỏ lời dối trá, thì đương nhiên là mình thực hành lời nói chân thật. Mình từ bỏ nói lời đâm thộc, thì mình nói những lời nói hòa hợp, gắn kết. Mình từ bỏ lời nói ác độc, thì mình thực hành lời nói hiền hòa, từ ái, yêu thương. Mình thực hành từ bỏ lời nói phù phiếm, thì mình nói lời nói có ý nghĩa, giá trị, lợi ích. Như vậy sở dĩ mình tụng giới mỗi nửa tháng 1 lần, hay là mỗi ngày mình tụng kinh, nghe pháp, pháp đàm. Thì đều là làm mình tăng trưởng thiện pháp ở trong cái thấy, cái nghe, cái cảm giác và nhận thức của mình. Thành ra 2 chữ thiện và bất thiện, là nó bao trùm hết sự tu tập của mình.
Nên mình luôn luôn quán chiếu, soi xét và mình chiêm nghiệm. Cùng một việc làm, cùng là một lời nói, cùng là một hành động, nhưng mà mình xét sâu vào là thiện hay bất thiện không phải dễ mà biết. Mình nói thí dụ, như giờ có đứa trẻ nó đi ra ngoài quốc lộ. Thì như vậy người lớn thấy hay là ba mẹ rầy la, quở trách. Thì những lời rầy la, quở trách đó là tốt cho đứa con, bảo vệ đứa con. Hay là một vị thầy nhắc nhở, giáo huấn, dạy dỗ thậm chí là nghiêm khắc. Thì cũng vậy, điều đó xuất phát từ tâm thiện, tâm lành, cái tâm muốn tốt cho con của mình, muốn tốt cho học trò, đệ tử. Còn lời nói mà khó chịu đối với người khác, thì cái đó là khác nữa.
Cho nên mình phải có chánh niệm tĩnh giác, thì mình mới biết đó là thiện hay là bất thiện. Không có chánh niệm tĩnh giác, mình sẽ không có nhìn sâu vào bản chất vấn đề, bản chất sự việc. Mình chỉ nhìn ở trên lời nói, bề ngoài, thì mình sẽ không thấy được bản chất của sự việc bên trong. Ở trong bài kinh “Các Vấn Đề Được Nói Đến”, Đức Phật có nói đến thế nào là người có duyên hay không có duyên với mình. Làm sao mình biết được người đó có duyên, hay là không có duyên với mình? Thì Đức Phật có nói là: “Không có lóng tai là không có duyên, có lóng tai là có duyên”. Tức là người này chú ý lắng nghe đến lời mình nói, thì người chú ý lắng nghe, chịu nghe, muốn nghe, chấp nhận nghe, thì người này là người có duyên.
II. Lời nói của người thường và bậc trí
Thì người đó có thêt cảm nhận, cảm thấy được chánh giải thoát, cảm nhận được pháp. Như vậy làm sao mà biết được người đó có duyên với pháp, người đó muốn nghe pháp, thích nghe pháp và có cảm thọ với pháp? Làm sao biết người này có duyên với người hướng dẫn? Thì người này hoan hỉ được nói, hân hoan khi được thuyết pháp, rồi vui sướng, cảm thọ khi được nghe pháp. Như vậy xác định được là người này có duyên, hay không có duyên.
“Nói chuyện với hiềm thù.
Thiên chấp và kiêu mạn.
Nghịch lại đức bậc Thánh.
Bới móc lỗi lầm nhau.
Thích nghe nói xấu Người.
Người lầm, Người bối rối.
Người bị thua, bị hại.
Bậc Thánh không làm vậy.”
Nói chuyện mà với thái độ hận thù, hiềm hận. Nói chuyện mà nói với một tính cách nghiên một bên, chấp nhặt một điều gì đó. Mà không có chịu lắng nghe, không có chịu nghe góp ý, không có chịu nghe người ta chỉnh sửa, xây dựng. Nói với một thái độ kiêu mạn, ta đây, mà nghịch lại giới đức của bậc thánh. Những lời Đức Phật dạy, nghịch lại những sự thật trong giáo pháp, không có chấp nhận. Bới móc lỗi lầm nhau, khích nhau, nói xấu người, cái này là cái rất là quan trọng để chúng ta học. Có những người có những cái nghiệp, là khi nói chuyện là bới móc, nói xấu những lỗi của người khác. Lấy cái đó làm thú vị, hứng thú, thì những cái ngày trở thành những cái nghiệp.
Thì Đức Phật nói những người mà đi tìm lỗi của người ta, thì như tìm thóc ở trong gạo, còn cái lỗi của mình thì giấu như kẻ gian giấu bài. Cho nên cái nghiệp ở miệng là mình phải tu rất nhiều. Nếu mà người nào còn tật này thì phải sám hối rất nhiều, tác ý rất nhiều và phải luôn luôn chánh niệm, để ý thường xuyên. Bới móc lỗi lầm nhau, thích thú trong việc nghe người khác nói xấu về một ai đó.
“Nếu muốn cùng đàm luận
Bậc hiền biết thời gian
Câu chuyện của bậc Thánh
Liên hệ pháp, pháp nghĩa
Người có trí nói chuyện
Không hiềm thù kiêu mạn
Với tâm không chấp trước
Không hiềm hận độc đoán
Không để tâm lơ đãng
Nói lên với chánh trí
Hoan hỷ lời khéo nói
Không vui lời vụng về
Không học cách chỉ trích
Không chụp sơ hở người
Không nhiếc mắng đánh đập
Không nói lời vu vơ
Lời nói của bậc Thánh
Vừa dạy vừa hoan hỷ
Như vầy bậc Thánh nói
Là bậc Thánh luận đàm
Bậc trí biết rõ vậy
Nói lời thật khiêm tốn.”
Đoạn ở trên là nói cho chúng ta thấy những cái khuyết điểm, những cái không biết tu tập. Còn đoạn dưới này là nói cho chúng ta thấy người hiền trí, bậc hiền thánh nói chuyện như thế nào. “Nếu muốn cùng đàm luận, bậc hiền biết thời gian”, tức là biết lúc nào nói, nói như thế nào, nói với ai và nói ở trong hoàn cảnh, đối tượng nào, chỗ này là chỗ quan trọng. “Câu chuyện của bậc Thánh, liên hệ pháp, pháp nghĩa”, nói về câu chuyện của bậc Thánh, tức là những đề tài mà Đức Phật dạy như ít muốn, biết đủ, ly tham, tàm quý, nói về giới, về đạo đức, sự an tịnh. Nói về sự viễn ly, xuất ly, thoát ra, nói về trí tuệ của sự giải thoát, và sự thấy biết của sự giải thoát.
Như vậy là người có trí là người với một nội tâm rất là hiền lành, hiền thiện, rất là hiền hòa. Cho nên người này không có độc đoán, không có chấp chước, không có ta đây khi mình nói chuyện. Một vấn đề gì đó khi mình nghĩ đó là đúng, những người khác nói sai rồi, thì mình cũng không có vội vàng phản bác, sân hận, khó chịu hay bản ngã. Mình an trú ở trong sự an tịnh lắng dịu, cho cái cảm thọ của mình, và lan tỏa tình thương đến người. Không có chấp chước, không có ngã mạn trong lời nói, không có độc đoán, tự quyết đoán một mình mình. Mà phải luôn luôn lắng nghe ý kiến của mọi người, nhất là trong tập thể, trong gia đình, điều này hết sức quan trọng, “khẩu hòa vô tranh”.
Trong một gia đình mà mình độc đoán, quyết đoán một mình mình thì nó trở thành ra cái gì, người ta gọi là gia trưởng, độc đoán, làm quyền. Thì gia đình đó cứ lục đục, bất hòa, bất ổn, bất bình. Cho nên sự lắng nghe mọi người, là điều hết sức quan trọng. Người trí là người nghe nhiều hơn là nói, mà nếu có nói là nói những đề tài, câu chuyện mà Đức Phật nói, gọi là những câu chuyện của bậc Thánh. Có bàn là bàn về ít muốn, bàn về biết đủ, bàn về sự rời xa tham sân si của cuộc đời này. Bàn về sự thoát ra hơn thua, tranh đua, bốn pháp hành. Bàn về những đức tánh chân thật, chân thành, thành thực. Bàn về những đức tánh khiêm hạ, khiêm cung, vi diệu, hiền diệu. Những đức tánh mà luôn luôn thực hành pháp, tôn trọng pháp, quý kính pháp, thể nhập vào pháp.
III. Nghệ thuật lắng nghe
Thì đó là những câu chuyện liên hệ bậc Thánh, bậc đạo đức thiền định, trí tuệ giải thoát, thấy biết về đạo lộ giải thoát của Đức Phật. “Không để tâm lơ đãng, nói lên với chánh trí”, không có để tâm lơ đễnh. Nhiều khi tâm của mình không có tĩnh giác, không có chánh niệm, không có sáng suốt, không có minh mẫn. Mà mình quyết đoán, mình nghe, hoặc là mình có những lời nói của người khác không có chuẩn xác, không chính xác, không sáng tỏ. Cái tâm mình lúc đó lơ đễnh, lang thang, cái tâm đi chơi. Nhiều khi người ta nói như vậy, rồi hỏi lại là mình “hả hả”, hoặc nghe không rõ, nghe ba chớp ba nháng. Một là nghe không rõ, 2 là nghe không hết, 3 là có khi nghe nhầm. Thì những cái này là những cái mình hết sức để ý, cho nên khi mình nghe thì mình phải có một sự lắng nghe.
Lắng nghe bằng một cái tâm trong sáng, không có thành kiến. Mình nghe từ đầu đến đuôi câu chuyện, rồi mình cảm nhận, suy xét, rồi sau đó mình mới đưa ra góp ý, kết luận, hoặc một phương pháp. Để giúp cho người họ đang khổ, đang khó khăn, đang phiền não, đang sầu hận, hay là đang sầu, bi, khổ, ưu, não. Chúng ta thấy Đức Thế Tôn, hay là các bậc Thánh, bậc hiền trí mà người đau khổ đến thì được các ngài nói vài câu, hay là một buổi pháp thoại. Thì các vị này xóa tan được khổ đau, buông gánh nặng xuống, như là buông được cục đá xuống. Tâm nhẹ nhỏm, hoan hỉ, khinh an, vì các ngài có một chánh trí của sự lắng nghe. Cho nên 2 chữ “lắng nghe” này là cực kỳ quan trọng, cho nên trong bài kinh nào Đức Phật cũng nói: “Này các Tỳ-kheo, hãy lắng nghe và khéo tác ý”.
Cái lắng nghe này rất là tuyệt vời, là một pháp hành rất quan trọng. Con ngày xưa trước khi đi vào Nikāya, là con tu tập cái lắng nghe cả chục năm. Mình tập lắng nghe những nỗi khổ, niềm đau, nỗi buồn của người khác, nhất là những người thân thương ở bên cạnh. Tập nghe những tâm sự của mẹ cha, vợ chồng, huynh đệ, thầy cô, của đệ tử mình. Tập im lặng và tập lắng nghe, chẳng những mình nghe bằng lỗ tai, mà mình nghe bằng cả trái tim, bằng tâm, nghe bằng cả một tấm lòng. Chẳng những mình chỉ nghe cái tiếng, mà mình còn nghe được chỗ không có tiếng. Là như thế nào? Chẳng những mình nghe khi người ta nói, mà mình còn nghe lúc người ta không có nói, tức là mình nghe bằng cảm thọ.
Nghe bằng sự cảm nhận, cảm xúc của người đang nói đó. Nếu mà mình nghe được như vậy, với một trí tuệ, một sự thấy hiểu của mình ở trong chánh pháp rồi. Thì mình nghe như vậy mình có nhiều tình thương, mình có nhiều hiểu biết, mình có nhiều cảm thọ, mình có nhiều cảm thông, có nhiều cảm động. Và có được một cái sức, mà có thể cảm hóa được. Còn cái này mình nghe ba chớp ba nháng, nghe trong cái dục, cái sân, trong cái bản ngã, cái tôi, hay là nghe trong cái vì lợi, nghe là muốn tìm cái lời trong lời nói của người khác. Hay là nghe để tìm cái hơn thua, đúng sai, thị phi, thì như vậy sự nghe và lời nói đó chỉ làm cho mình thêm đau khổ, và người kia cũng thêm khổ đau.
IV. Khéo nghe – khéo nói
Cho nên phải tập cái nghe và cái nói này, khéo nghe và khéo nói. Nghe được không chỉ bằng lỗ tai, và phải nghe được bằng trái tim, mà phải nghe bằng cả một tấm lòng. Đó chính là nghe bằng cảm thọ, nghe bằng sự cảm động, trong khi nghe đó là có một chánh kiến, thấy có sự thấu đáo, tận tường, biến tri, tuệ tri, thấu tri, liễu tri, thắng tri. Một sự biết tận tường, thấu đáo, nhiều khía cạnh, góc độ của ngũ uẩn. Nhiều phương diện, khía cạnh sự thật của thân này, của tâm, của đời sống, của thế gian, của thế giới ngũ uẩn này. Khi mình nghe được như vậy thì nó tràn ngập tình thương, tràn ngập sự hiểu biết, tràn ngập sự cảm thông. Tràn ngập sự tha thứ, bao dung, độ lượng, từ tâm, bi tâm vô lượng.
Mình nghe được như vậy rồi thì mình sẽ hiểu, thấu hiểu, liễu tri, tuệ tri và thánh tri. Chứ không phải là thức tri hay tưởng tri, không phải là sự thấy biết ở trên ảo tưởng, vọng tưởng, tưởng tượng. Không phải thấy biết ở trên cái nhận thức, kinh nghiệm thông thường. Mà sự thấy biết ở trên cái trí tuệ của thánh trí, biết ở trên tình thương của từ tâm, biết ở trên lòng trắc ẩn, xót xa của bi tâm. Mà biết là biết ở trong cái tâm buông xả, buông xuống những cái nhỏ nhặt, thấp hèn, chấp thủ bằng một cái tâm xả vô lượng trong khi mình nghe. Mình nghe bằng một cái tâm hoan hỉ, hỉ xả trong cai lỗi lầm, cái tội, cái khổ, cái vô minh, si mê, vấp ngã của họ.
Nếu mình nghe được như vậy thì cha mẹ mình tuyệt vời lắm. Vợ chồng trong gia đình sẽ được bình an, hòa hợp. Thầy trò, huynh đệ, tỷ muội trong đạo tràng sẽ được an ổn, an hòa, yên vui. Với một cái nghe tuyệt vời như vậy, với một cái nói khéo như vậy, thì mình sẽ có nhiều bình an, lợi lạc, lợi ích, giá trị, an lạc, hạnh phúc cho nhau.
V. Lời nói của bậc Thánh
Mình muốn nghe được như vậy, thì đầu tiên mình phải có sự hạn chế lời nói của mình. Mình quán hình ảnh con chó, hở ra chút là nó sủa, cho nên vì ác nghiệp đó nó mới sanh ra loài chó. Mình quán chiếu như vậy, mình tập, mình nhiếp phục, chế ngực, hạn chế lời nói. Bước thứ 2 là mình cảm giác toàn thân, tập sự an tịnh, lắng dịu ở trong cảm thọ.
Bởi vì cái miệng nó nói là do cái ý ở bên trong, khẩu hành nói được là do ý hành. Nếu như ở trong khẩu hành mà nó im lặng, thì cái khẩu hành nó không có phát ra ngôn ngữ được. Mà mình muốn ý hành nó yên lặng, thì cái thọ phải an tịnh lắng dịu. Mà cái thọ an tịnh lắng dịu ở bên trong, thì cảm thọ, cảm xúc, cảm giác ở bên trong là một cảm giác an tịnh lắng dịu, tịch tịnh. Khi mình có được hạn chế lời nói bên ngoài, cảm giác toàn thân và an tịnh lắng dịu thì sẽ có một nội tâm định tĩnh. Mà nội tâm định tĩnh đó nó có một sức chánh niệm tĩnh giác, nó nhìn thấy cũng như một cái hồ nước mà mặt hồ nó yên lặng và nó trong. Khi nó trong thì nó sẽ phản chiếu được những hình bóng trên mặt trăng, hay mây, sao, người, cảnh gì đó chẳng hạn.
Thì cũng vậy, cái tâm mình nhờ an tịnh, lắng dịu, định tĩnh như vậy, thì nó có độ trong sáng. Khi có độ trong sáng, thì nó có một cái tuệ để soi rọi. Với cái tâm như vậy để mà lắng nghe, thì tuyệt vời lắm. Mình sẽ nghe được nỗi khổ, niềm đau của cha mẹ, mình sẽ nghe được nội kết, tâm sự của vợ chồng con cái. Mình sẽ nghe được những khó khăn của huynh đệ, thầy trò. Mình sẽ nghe được những tâm sự khó nói của những người đồng đạo, đồng nghiệp, đồng hành với mình. Nghe bằng trái tim, nghe bằng tất cả tấm lòng, nghe bằng sự cảm thông, cảm thọ, cảm động. Nếu có một cái nghe, cái hiểu, cái cảm nhận sâu sắc như vầy, thì mình sẽ có một sức cảm hóa khi mình nói ra.
Khi mình nói thì nói như lúc nãy Đức Phật dạy mình đó, nói đúng thời, nói với một tâm từ, nói lời có lợi ích, nói lời chạm đến trái tim. Đó là từ việc mình thực tập sự lắng nghe, và khéo nói là rất quan trọng. Hồi nãy Đức Phật dạy chúng ta là mấy lời nói? Nói đúng thời, nói lời chân thật, nói lời nhu nhuyến mềm mại, nói có lợi ích và nói với từ tâm. Không phải là nói lời phi thời, không phải là nói dối, không phải là nói lời thô bạo, không phải là nói lời không có lợi ích, không phải là nói lời bực bội, khó chịu và sân hận. Mà nói lời đúng thời, lời mềm mại, lời chân thật, lời có lợi ích và lời với từ tâm.
“Hoan hỷ lời khéo nói
Không vui lời vụng về
Không học cách chỉ trích
Không chụp sơ hở người”
Cái này hết sức là quý báu để chúng ta thực tập, nãy giờ là chúng ta đang “không để tâm lơ đãng, nói lên với chánh trí”. “Không vui lời vụng về”, tức là lời bỡn cợt, phù phiếm, không có chánh niệm, buông lung phóng dật, mình không có vui với những lời đó. “Không học cách chỉ trích”, không có bắt chước theo cách chỉ trích người khác. Nói ghim gút người ta, nói 1 câu, 2 câu là đâm bị thóc, thọc bị gạo. “Không chụp sơ hở người, không nhiếc mắng đánh đập, không nói lời vu vơ”, không có chụp sở hở của người khác, thấy người ta sơ hở 1 chút là mình chụp vào đó là mình nói. Thì cái đó là cái tâm tiểu nhân, cái tâm nhỏ nhoi, nhỏ hẹp, nhỏ nhặt, nhỏ mọn, nhỏ nhít. Không phải là cái tâm của bậc hiền trí, cái tâm rộng lượng, vô lượng, quảng đại của một người tu.
“Lời nói của bậc Thánh
Vừa dạy vừa hoan hỉ
Như vầy bậc Thánh nói
Là bậc Thánh luận đàm
Bậc trí biết rõ vậy
Nói lời thật khiêm tốn”
Những câu này mình phải để ý, nhiều khi mình góp ý ai, lúc đó mình xem người ta nghe người ta có hoan hỉ không, góp ý với một cái tâm thương hay là tâm giận. Xem cái tâm này là cái tâm có bản ngã, hay là một cái tâm hết sức là khiêm cung, khiêm hạ, khiêm tốn. Góp ý đó là sự thật hay chưa phải sự thật, là có lợi ích hay chưa có lợi ích. Mình nhớ kỹ khi mình góp ý người khác, hay xây dựng người khác. Như vậy lời nói của bậc Thánh, lời nói của bậc trí, là lời nói thật là khiêm tốn, khiêm cung, khiêm hạ. Như vậy các bài kinh hôm nay chúng ta nhắc lại ý nghĩa, điểm thứ nhất Đức Phật nói với chúng đó là mình nên để ý, khi mình thấy rằng cuộc sống mình cần giao tiếp, truyền thông với nhau bằng ngôn ngữ.
Hằng ngày chúng ta sử dụng, mà nếu chúng ta không khéo dùng, không khéo nói, nói lời vụng về, nói lời phù phiếm, hay là dối đâm độc nhãm (dối trá, đâm thọc, ác độc và nhãm nhí thêu dệt). Thì như vậy nó làm cho mình đau khổ, đau khổ người khác. Đức Phật dạy cho mình nói lời đúng thời, nói có lợi ích, nói lời chân thật, nói nhu nhuyến, mềm mại, và nói với từ tâm. Qua bản kinh mà chúng ta được học đó là gì? Đó là không phải thấy gì cũng nói, nghe gì cũng nói, không phải cảm nhận cái gì cũng nói, không phải biết cái gì cũng nói hết. Mà nói những điều đó ra là những điều mình thấy, mình nghe, mình cảm xúc. Và mình nhận biết nó là thiện, hay là bất thiện. Nếu mình nói ra mà nó tốt, nó là thiện pháp, nó làm cho tăng trưởng các pháp lành thì nên nói.
Còn nếu mà nói ra cái cảm xúc đó, cái nhận thức đó mà ra là bất thiện, là xấu thì đừng có nói. Cái này rất quan trọng, không phải cái gì nghe, cái gì thấy, cái gì cảm xúc, cảm nhận gì cũng nói. Mà cái nào thiện, làm tăng trưởng điều thiện thì mình mới. Còn cái nào là bất thiện, là ác pháp, làm tăng trưởng các ác pháp thì mình không nói. Khi mình nói những lời đó, làm lặp lại những cái đó, làm tăng trưởng thọ tưởng hành ở trong đó. Rồi người kia cũng sanh khởi thọ tưởng hành lên, thì cái đó là bất thiện pháp. Cuối cùng chúng ta thấy cách nghe bằng cả tấm lòng, và thật là khéo nói. Trong bài kệ mà chúng ta vừa nghe là các vấn đề được nói lên, Đức Phật dạy một người hiền trí, nghe không phải chỉ nghe bằng lỗ tai, mà nghe bằng cảm thọ, bằng cả tấm lòng, bằng cả trái tim, tình thương, trí tuệ như vậy.
Thì mới có thể cảm nhận được những nỗi khổ của mình, của người, của hữu tình, chúng sanh. Và có thể bằng lời nói đó, người hiền trí có thể làm thay đổi được một con người, một cuộc đời, một vận mệnh. Cái cuối cùng Đức Phật dạy mình lời nói thật là khiêm tốn, khiêm cung. Như vậy là hôm nay chúng ta chia sẻ lời khéo nói, trong kinh tạng Nikāya. Chúng ta cố gắng vận dụng, thực tập, hành trì, chắc chắn sẽ có lợi ích trong hiện tại, trong tương lai. Và giải thoát cho mình, những người thân thương nhất trong gia đình, trong đạo tràng, và cho những người mình tiếp xúc.
VI. Trình pháp
Dẫn bài: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Xin được thay lời trong ban tổ chức lớp học, chúng ta xin thành kính niệm ân đức thượng tọa giảng sư, đã có một buổi pháp thoại đã có một buổi chia sẻ đến với lớp học chúng con trong buổi tối hôm nay. Giúp cho quý Phật tử có thể ứng dụng được, và thực hành trong đời sống hằng ngày của mình được lợi ích an vui. Một bài pháp nói về lời nói của mình trong giao tiếp, người hiền trí nghe bằng cảm nhận, cảm thọ được những nỗi khổ, niềm đau của mọi người, đem được lợi ích lớn cho mọi người. Chúng ta vận dụng những lời bằng lời nói thiện lành, chúng ta lắng nghe bằng cả tấm lòng. Trong giao tiếp thì chúng ta phải sử dụng ngôn ngữ khéo léo, để lợi ích cho người.
Những lời nói thì phải sử dụng những lời nhu nhuyến và từ tâm. Một bài học mà thượng tọa giảng sư đã chia sẻ đối với lớp học chúng con hôm nay, đã giúp cho chúng con cùng quý Phật tử trong diễn đàn, phải cận thận trong lời nói của mình. Những người xung quanh chúng ta phải sử dụng những lời nói ái ngữ, lời nói hiền hòa, lời nói chạm đến trái tim của mỗi người, chúng ta phải nói bằng tất cả từ tâm và phải biết lắng nghe. Giống như thượng tọa giảng sư đã nói, không phải chúng ta nghe cái gì cũng nói, lời nói phải đúng thời đúng lúc. Một bài pháp rất là ý nghĩa, quý Phật tử trong diễn đàn tối hôm nay chúng ta cảm nhận được, qua lời giảng của thượng tọa giảng sư.
Chúng ta phải cận trọng trong lời nói của mình, từ lời Đức Phật, cho đến lời của giảng sư chuyển tả đến quý Phật tử. Đây là bài học rất là lợi ích, giúp cho quý Phật tử chúng ta sử dụng trong đời sống hằng ngày của mình, để đem được lợi ích, an vui cho mình và cho người. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, một lần nữa thay mặt cho diễn đàn lớp học chúng con tối hôm nay, kính chúc thượng toạ giảng sư luôn luôn được thân an tâm lạc, Phật sự được viên thành trên con đường hoằng pháp. Để cho chúng con có những bài pháp có thể ứng dụng vào con được tu học của mình, và có được sự an vui. Thời pháp hội hôm nay đến đây được thành tựu viên mãn, chúng ta thành kính cung thỉnh thượng tọa niệm hồi hướng. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch thượng tọa giảng sư, và kính bạch quý Phật tử trong diễn đàn. Cũng khá là lâu rồi, chúng ta không có thời giao lưu với thượng tọa giảng sư qua những thời pháp. Con cũng xin sám hối thượng tọa giảng sư, là trong thứ 6 tuần rồi đã được thông báo, nhưng mà các Mc ngày đó đi học, nên không có làm thị dạy cho giảng sư, nên mong thượng tọa giảng sư hoan hỉ cho chúng con. Và thời pháp hôm nay, thì quý Phật tử có gì cần thưa hỏi thượng tọa giảng sư, để thượng tọa giảng sư chia sẻ đến quý Phật tử hôm nay. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Phật tử 1:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Lời đầu tiên con xin kính tri ân trên thượng tọa, một bài giảng hôm nay vô cùng hữu ích cho mọi người, trong việc ứng xử và giao tiếp. Qua bài giảng hôm nay thì con có nhận xét của riêng mình, là lời nói nào đưa đến hại mình, hại người là tuyệt đối không nên nói. Những lời nói nào mà đưa đến lợi mình, lợi người thì nên nói. Bởi vì trong 1 số trường hợp là nếu như mình nói những lời nói, mà người ta biết mình biết, mình cảm thọ, mình hiểu được thì nó cũng có thể gây nguy hiểm cho chính bản thân mình. Cho nên con cũng hiểu rộng ra được một chút là như thế. Thứ 2 thì con cũng xin hỏi thượng tọa một câu như thế này: Thì đối với bản thân mọi người trong đạo tràng ngày hôm nay, được nghe thượng tọa giảng về cách thức nói, và cách thức để làm sao mình điều chỉnh được lời nói.
Còn vấn đề là khi mình gặp những người mà người ta nói lời không được ôn hòa, hoặc như lời thượng tọa dạy là nói với cái tâm hiềm hận. Thì chúng con nên ứng xử như thế nào, để mà đem lại được sự an lạc cho chúng con, và cho người có cái tâm hiềm hận đấy. Làm sao để đạt được lợi ích cho cả 2, xin thượng tọa hoan hỉ chỉ dạy cho chúng con về vấn đề này.”
Câu hỏi này rất là thực tế, chúng ta không có tránh khỏi khi mình tiếp xúc giao tiếp thì có những người rất là khó chịu, sân hận, bực bội. Thì trong đó, mình phải hết sức có 1 sự an trú cảm giác toàn thân của mình. Chúng ta phải luôn nhớ thực hành 3 pháp, luôn luôn lúc nào cũng phải thực hành rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tịnh giác. Mình phải quay về cảm giác toàn thân của mình, mình phải an trú trong cái cảm giác toàn thân đó, mình có một sự chánh niệm tĩnh thức. Thí dụ như mình đi ngang chỗ đó mà nó có lửa cháy, vậy mình có cẩn thận không? Mình phải rất cẩn thận, còn không thôi là nó cháy lan, nó táp vô người mình.
Thì cũng vậy, mình biết chỗ này là chỗ hết sức cẩn trọng và chánh niệm. Và điều quan trọng nhất của mình ngay lúc đó, là mình phải hạn chế lời nói tối đa. Là cắt bớt cái duyên xúc, tại vì xúc là nó sanh ra thọ, khi tiếp xúc là nó sanh ra cảm thọ, mà cảm thọ là lúc đó nó sân, nó hiềm hận, tức giận, cho nên mình hạn chế lời nói. Cái thứ 2, là mình phải quán chiếu được sư nguy hiểm và tác hại được cơn giận. Mình quán cho mình đó, không phải cho người ta đâu. Nếu mà mình nổi nóng lên, thì nó sẽ nguy hiểm và tác hại ở trên mình. Và nó cũng đang nguy hiểm và tác hại người đó. Người đó thì đã, mà mình thì có lẽ, sẽ, hoặc đang. Mình ví dụ bằng những cái từ chúng ta có thấy rõ không ạ? Người đó đang nóng giận, đã nóng giận.
Nếu mình không có cẩn thận và chánh niệm, thì nó sẽ cháy lan qua bên cảm thọ của mình, và mình cũng sẽ nóng giận. Cho nên một mặt là mình cắt duyên xúc của mình, là mình yên lặng. Cái thứ 2 là mình phải cận trọng, và cái thứ 3 là mình phải có 1 cái tâm thương. Một cái tâm thương người này đang bệnh, đang bị thiêu đốt, đang bị đốt cháy. Mà người đang bị đốt cháy thì mình mang đến cái gì cho người ta? Đương nhiên là phải mang nước tới, chứ mình đâu có thể lại đem củi, đem xăng, đem ga tới cho người ta nữa. Nếu mình không thể cứu giúp người ta, thì ít nhất mình cũng đừng có đổ xăng, đổ dầu vô. Mình không cứu giúp được người ta, tức là mình yên lặng, không nói gì hết, an trú cảm giác toàn thân.
Còn nếu mình giúp được người ta, thì bằng sự khéo, thiện xảo, đúng lúc, đúng thời, đúng người, đúng trường hợp. Mà người đó phải chịu nghe mình nói, thì mình mới nói. Mà ngay lúc đó là nói ít có tác dụng lắm, người ta đang nổi nóng, đang hiềm hận đang sân hận, thì nên đợi họ lắng dịu xuống rồi mới khéo léo nói. Không phải là không giúp được đâu, nhưng mà phải có điều kiện, là mình phải là một cái bình PCCC, mình phải là một chiếc xe, một đội cứu hỏa. Còn nếu như mình là chất cháy, thì tốt nhất mình nên lánh xa. Mình phải biết rõ vị trí của mình là đang ở chỗ nào.
“Dạ thưa thượng tọa, khi con hỏi câu hỏi này, thì bản thân con có một cách để mà con tự làm rồi. Nhưng mà con muốn hỏi là để được xác chứng, vì khi gặp vấn đề như vậy, thì thường là con cũng không nói năng gì. Nhiều khi người ta nói nhiều cái, thậm chí không phải là nói mình, mà nói xúc phạm, cợt nhã đến Tam Bảo, thì lúc đó cảm giác sân trong con rất là khó chịu. Nhưng mà con cũng im lặng, không nói năng gì. Vì lúc đó con nghĩ con nói ra thì sẽ cãi nhau, mà cãi nhau thì lần sau sẽ không ngồi với nhau được nữa. Cho nên con không nói năng gì, con tìm cách lãng lãng đi, hoặc là con tìm việc khác con làm.
Nhưng mà thú thật với thầy, với mọi người, là việc giúp người ta, mình là bình chữa cháy thì con nghĩ mình không đủ sức, thôi tránh tránh ra. Vì mình hiểu tính người ta rồi, bứt rứt thêm. Bởi vì cái này Đức Phật nói là: “Không thể nào mà có duyên được, không thể nào độ được người vô duyên”. Huống chi chúng con là người phàm mắt thịt, thôi thì trường hợp nào tránh được thì tránh, con xin mạng phép tránh được. Chứ con cũng không dám nói pháp, tại vì nhiều khi chánh pháp là những lời thường đi ngược với thế gian, cho nên nhiều khi con cũng hạn chế trong vấn đề mình nói.
Cho người những người anh em, bạn bè nào chịu nghe những lời khuyên đạo đức, thích lắng nghe những bậc hiền thì con gọi là có một chút chia sẻ cho họ biết thôi chứ không dám nói nhiều nữa. Con xin kính tri ân trên thượng tọa về bài giảng ngày hôm nay ạ.”