Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tiếng Gầm Sư Tử 1 - Tiểu Kinh Sư Tử Hống, Trung Bộ 11

2026-03-18 06:54:29
NIKĀYA GIẢNG GIẢI

TIẾNG GẦM SƯ TỬ

TIỂU KINH SƯ TỬ HỐNG, TRUNG BỘ 11

–Thích Minh Thành–

Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí chiều hôm nay chúng ta nghe tiếng gầm sư tử, Tiểu Kinh Sư Tử Hống, bài kinh số 11 Trung Bộ Kinh.

"Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), trong vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo.' –'Bạch Thế Tôn,' những Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết như sau:

-- Này các Tỳ-kheo, chỉ ở đây là có Sa-môn thứ nhất; ở đây là có Sa-môn thứ hai; ở đây là có Sa-môn thứ ba; ở đây là có Sa-môn thứ tư; các ngoại đạo khác không có Sa-môn. Này các Tỳ-kheo, các Ông hãy chân chánh rống tiếng rống sư tử như vậy.

Này các Tỳ-kheo, sự tình này xảy ra khi ở đây những Du sĩ ngoại đạo có thể nói: 'Chư Tôn giả có tin tưởng gì, có sức lực gì mà chư Tôn giả tuyên bố: 'Chỉ ở đây là có Sa-môn thứ nhất; ở đây là có Sa-môn thứ hai; ở đây là có Sa-môn thứ ba; ở đây là có Sa-môn thứ tư; các ngoại đạo khác không có Sa-môn'." (Trung Bộ Kinh, 11. Tiểu kinh Sư tử hống)

Các vị có niềm tin như thế nào, có sức mạnh gì mà dám tuyên bố vậy, chỉ trong chánh pháp mới có bốn bậc Sa-môn, mới có bốn thánh quả, ngoài chánh pháp ra không có Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàn, A-na-hàm và A-la-hán. Vậy thì các vị tin tưởng vào cái gì, dựa vào sức mạnh gì mà các vị tuyên bố như vậy.

"Này các Tỳ-kheo, nếu được các Du sĩ ngoại đạo nói như vậy, cần phải trả lời họ như sau: 'Chư Hiền, vì chúng tôi tự chánh kiến bốn pháp, được Thế Tôn tuyên bố cho chúng tôi biết, bậc đã thấy, đã biết, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nên chúng tôi nói: 'Chỉ ở đây là có Sa-môn thứ nhất, ở đây là có Sa-môn thứ hai; Sa-môn thứ ba; Sa-môn thứ tư'." (Trung Bộ Kinh, 11. Tiểu kinh Sư tử hống)

Chúng tôi là tự mình thấy rõ được bốn cái điều, được Thế Tôn tuyên bố cho chúng tôi biết bậc đã thấy, bậc đã biết, bậc A-la-hán Chánh Đẳng giác cho nên chúng tôi mới nói vậy.

"Thế nào là bốn? Chư Hiền, chúng tôi có lòng tin bậc Ðạo Sư, có lòng tin Pháp, có sự thành tựu viên mãn các Giới luật, và những pháp hữu của chúng tôi, những người cư sĩ và những người xuất gia, được chúng tôi thương, chúng tôi mến. Chư Hiền, vì chúng tôi tự chánh kiến bốn pháp, được Thế Tôn tuyên bố cho chúng tôi biết, bậc đã thấy, đã biết, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nên chúng tôi nói: 'Chỉ ở đây là Sa-môn... Sa-môn thứ tư'." (Trung Bộ Kinh, 11. Tiểu kinh Sư tử hống)

Bốn Điều đó là gì? Chúng tôi có lòng tin bậc đạo sư, chúng tôi có một lòng tin xác quyết, kiên quyết, kiên định, bất động, không lay chuyển vào Đức Thế Tôn, chúng tôi có lòng tin xác quyết, có lòng tin bất động, có lòng tin không lay chuyển vào con đường mà Thế Tôn chứng ngộ tức là pháp, chúng tôi có lòng xác quyết, tin chắc không dao động không bất cứ cái gì trên cuộc đời này có thể làm chuyển đổi lòng tin đó của tôi hết là tin Đức Phật và tin sự chứng ngộ của Đức Phật. Cho nên tôi nói vậy đó và có sự thật thành tựu viên mãn các giới luật, chúng tôi có giữ gìn được đầy đủ các giới luật và những pháp hữu của chúng tôi, những người cư sĩ và những người tu sĩ được chúng tôi thương và chúng tôi mến.

Chúng ta thấy cái chỗ này nghe ấm lòng không? Ấm áp không? Ngọt ngào không? Vậy là tiếng gầm sư tử là cái gì? Là Thế Tôn dõng dạt tuyên bố trong tất cả chư thiên, ma, phạm, Sa-môn, Bà-la-môn tức là tuyên bố giữa các vị trời, các vị ma, các vị tu hành, trong loài người rằng chỉ có trong đạo lộ của ta mới có các thánh quả, ngoài đạo lộ của ta của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra không có sự thành tựu một cách chân chánh để đoạn tận khổ đau. Theo con đường, theo cái lộ trình của thánh trí, ngoài cái pháp này ra không có ai, không bất cứ một lời dạy nào, một phương pháp nào, một con đường nào, một hệ thống giáo lý ngoại đạo nào có thể hướng dẫn cho bất cứ một chúng sanh nào đi đến diệt tận khổ đau, thành tựu các thánh quả, thánh vị, thánh đạo.

Chúng ta thấy đây là tiếng gầm sư tử mà giữa thời đó là mấy chục cái tôn giáo, bao nhiêu những cái chấp thủ, cái kiến chấp, cái quan điểm, cái cách nhìn, Sáu mươi mấy cái kiến chấp, cái tà kiến, còn nhiều hơn thế nữa, cái đó là con số tượng trưng thôi mà Đức Phật dõng dạt tiên bố chỉ trong giáo pháp của ta mới có đạo và quả, mới có các bậc tu hành thực sự chân chánh và đi đến cứu cánh. Đây là tiếng gầm sư tử, vững lòng tin lên không?

Bây giờ con hỏi quý vị nè, mình tu, mình học tới ngày nay rồi đó không thấy ngũ uẩn làm sao thấy được tham, sân, si? Không nhận diện được tâm mê làm sao nhìn ra được bản ngã? Không thấy tham, sân, si, không thấy bản ngã thì làm sao nhiếp phục, chế ngự và diệt tận? Không nhiếp phục, chế ngự, không diệt tận tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã thì làm sao đi đến tâm thanh tịnh, kiến thanh tịnh? Tức mở được mắt mù đó gọi là kiến thanh tịnh, nếu con mắt màu chưa mở thì làm sao thấy đường, mà không thấy đường thì sao đi, mà không đi làm sao đến, rõ ràng không? Quá rõ, chúng ta học cái bài kinh này chúng ta lớn mạnh cái lòng tinh lên, tăng trưởng lòng tin lên và bất động trong cái lòng tin.

Không thấy được ngũ uẩn, không thấy dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã làm sao có sự nhàm chán? Vì không thấy ngũ uẩn thì không thể thấy được vô thường ở trong ngũ uẩn. Hồi xưa mình học vô thường theo kiểu phớt phớt ngoài da thôi, thấy ai bệnh, ai bị xe đụng, ai bị chết lúc đó mình mới thấy vô thường chứ còn chình hình một đống vầy thì đâu có thấy cô thường, càng không thể thấy vô thường ở trong cảm thọ, trong hình bóng của tưởng, trong suy nghĩ của hành và trong cái sự duyên sanh ở trong thức càng không thấy. Nếu một cái tâm không thấy vô thường, không thấy khổ, không thấy vô ngã ở trong ngũ uẩn thì làm sao đưa đến sự nhàm chán, không có nhàm chán thì sao đưa đến không còn tham muốn nữa, nếu không có đưa đến cái tâm không còn tham muốn nữa thì làm sao đi đến cái từ bỏ được. Cho nên kêu bỏ bỏ mà không chịu bỏ vì nó không thấy được cái khổ trong đó, cái nguy hiểm trong đó lấy gì bỏ, không thấy được những dòng nước mắt tận cùng thương đau thì cứ nhào vô, cứ sáp vô, cứ lao vô.

Như tằm kéo kén, càng buộc càng bền;

Như bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt.

Hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sanh;

Não loạn tâm thần, đều do ba độc.

(Sám Hối Sáu Căn)

Nó cứ lao vô, lao vô rồi nó chết mà nó cứ lao vô cũng giống như mình lúc trước vậy chưa nhìn thấy ngũ uẩn, chưa nhìn thấy bản ngã, chưa nhìn thấy dục ái, chưa nhìn thấy tham, sân, si thì mình cũng nhào vô, cũng lao vô rồi mình cũng chạy vô cái đống khổ, chạy vô cái đống lửa. Cho nên cái chỗ này là cái chỗ tuyệt vời, chính cái chỗ này mà con tịnh tín bất động đối với bậc đạo sư, chính cái này con mới dám buông hết tất cả mấy chục năm tu học, chính cái này con mới dám buông hết tất cả những cái gì mà mình đã được thừa hưởng, mình mới dám tự một mình đi ra khỏi tất cả để đi vào trong chánh pháp. Nếu mình không thấy ngũ uẩn, nếu mình không thấy dục ái, nếu mình không thấy tham, sân, si, nếu mình không thấy bản ngã làm sao mình thấy ê chề, gớm ghê, chán chê, ngao ngán, yểm ly, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn.

Những cái từ này là thánh trí, là thánh định lý mà tất cả người học Phật, người tu nếu không qua những cái đường này thì người này ở ngoài cổng chùa thôi. Đầu tiên là phải thấy được cái đống máu mủ, gan ruột này, phèo phổi này, cái đống bệnh tật này, cái đống khổ nạn này, cái đống lo âu, sợ hãi, bất an, tai họa này. Một cái gánh nặng, một cái ung nhọt, một cái buồn lo, một cái mối sầu thiên cổ nghìn năm vô thỉ kiếp là cái đống này, là cái mối sầu còn mang vác nó là còn sầu, còn mang vác nó là còn lo, còn mang vác nó là còn ưu tư, còn mang vác nó là còn phiền não, còn mang vác nó là còn bệnh tật, còn mang vác nó là còn sợ hãi, còn bất an, còn tai họa, còn khổ đau. Cho nên con thích thú, hoan hỉ vô cùng ngài Phú-lâu-na "lỡ họ giết con thì con được giải thoát. Bạch Thế Tôn con khỏe rồi, con buông xuống cái gánh nặng này xuống rồi". Tuyệt vời.

"-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?

-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy." (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

Cho nên các bậc Tỳ-kheo thời Đức Phật mà chẩn bị chết là các ngài nhập thánh quả, chứng thánh trí, đi vô thánh quả, đi lên bất hoàn, bất lai, lên A-la-hán. Bởi vì cái thấy, cái biết, cái cảm thọ đó, cái sự suy tư, nghiền ngẫm, quán sát, quán chiếu đó là nó đã thấm đẫm vô một năm, hai năm, ba năm, năm năm, bảy năm, chín năm, mười năm, mười hai năm, mười ba năm, mười lăm năm, mười sáu năm, mười tám năm, mười chín năm, hai mươi năm, hai mươi ba năm, hai mươi lăm năm, người ta quán ba mươi năm tới cái ngày đó rồi thì xong.

Buông cái gánh nặng này xuống, tự thân chứng kiến, tự tri, tự giác, tự chứng, tự ngộ, tự thể nhập cái đống đau hổ mà nằm trên đó ỉa chay đái dằm, nằm trong đống phân và nước tiểu của chính mình, nó đau, nó nhức, nó tê, nó giựt, nó làm đủ thứ trong cơ thể mà chứng kiến như vậy thì "trời ơi là trời, lẹ lẹ nó buông xả cho sớm đi". Nó kết thúc sớm chừng nào thì mình càng nhẹ chừng đó, mình càng khỏe chừng đó, mình càng à đi lên chừng đó chứ cái mê chi cái đống khổ này, ái chi cái đống cái đống bệnh này, dục chi với cái đống phiền não này.

Cho nên những cái trí tuệ này là mình cứ nhớ hoài, nhắc hoài, niệm hoài, quán hoài, suy tư hoài bất kể ngày đêm năm tháng. Phải thể nhập cho được, đa văn là thánh sản mà, là tài sản có bậc thánh, chẳng những nghe mà còn suy tư, chẳng những suy tư mà còn nhắc nhớ, chẳng những nhắc nhớ mà còn phải áp đặt để cho nó thể nhập, chứng nhập, ngộ nhập, thâm nhập, hoàn toàn chứng nhập ở trong cái trí tuệ. Mình vô được cái trí tuệ này rồi mình khỏe, không có ai cả, không ai chửi mình, không ai mắng mình, không ai hơn thua với mình, không có mình, không có ai hết.

Ngày đêm nó hoạt động ở trong này hết thúc giục, rồi tham muốn, rồi bực bội, rồi hơn thua, mình thấy "ôi cha ơi tao chán mày quá trời quá đất, tao ê chề mày quá rồi, gớm riết mày quá rồi. Làm ơn làm phước an tịnh, lắng dịu giùm tao cái, hở một chút ra là mày có chuyện, hở chút là mày kiếm chuyện, hở một chút ra là gây chuyện, hở một chút ra là mày gây sự". Như vậy thì cái trí tuệ này thâm nhập từ từ, nó nhàm chán, mỗi khi nó vênh váo, nó ta đây mà mình nhìn lên thấy mình xấu hổ lắm, mình thấy mình cúi đầu, mình thấy nhục nhã, có gì đáng để khoe để nói, có gì để ngã mạn, ta đây. Phải an trú cho được cái trí tuệ này, phải thể nhập cho được cái trí tuệ này, phải thâm nhập, phải chứng nhập cho được cái trí tuệ này.

Nhìn coi bao nhiêu cái lớp, mỗi ngày mình phải cho nó ăn, cho nó mặc, cho nó tắm, mấy nay bốn – năm ngày chưa tắm cũng ít có người lại gần, cái võng leo lên nằm với cái y này giờ nó hôi rình, trời mưa đâu giặt được mà phải chịu đựng thôi. Nó hôi không thể chịu nổi "mày nghe cái mùi của mày đó, cái mùi này là mùi của mày nè, cái mùi thối này nè, cái mùi hôi này nè, cái mùi bẩn này nè". Lên cái võng nằm mới hai tháng hay tháng mấy mà nó thúi, nhiều khi cũng quên đem đi giặt, "nghe đi, thưởng thức đi mùi của nhà ngươi đó, coi có thơm, có sạch, có đẹp gì không. Khỏi cần giặt chịu đựng thêm nhiều nhiều một chút cho mày tỉnh cái tâm mê của mày để mày đừng có ảo tưởng một cái tự ngã".

Phả sống chết với cái trí tuệ này, chỉ có trí tuệ này mới cứu mình thôi, không có cái trí tuệ nào khác, chỉ có sự nhìn thấu vào cái bản chất của cái đống thịt thúi này, cái đống phèo phổi, gan ruột này, cái đống phân, Đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước tiểu này. Chỉ có một cái cách đó thôi mới phá được sắc thù uẩn, mới đánh thức được cái tâm hôn mê ở trong một cái đống nhơ nhớp, bẩn thiểu và tanh hôi.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ có tim gan, máu, thịt, xương

Phủ ngoài một lớp da trơn láng

Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.

Hân trống rỗng không ai trong đó chỉ có tim gan

Nhắc đi nhắc lại, nhắc tới nhắc lui, nhắc qua nhắc lại, nhắc trên nhắc dưới, nhắc phải nhắc trái, đồ hoài, tô hoài, viết hoài ở trong tâm cho nó đậm lên, cho nó khắc sâu vào trong tủy, trong não, không bao giờ quên cái thấy biết đó. Đó là đạo lộ, đó là bất tử giới, Đức Phật nói hướng về giới bất tử là đó, là cái cảnh giới của bất tử. Bất tử là mình không muốn sanh nữa thì bất tử, mình không thích sanh, mình không muốn sanh nữa, mình không khoái sanh, mình không ham sanh, mình không yêu sanh, mình không ái sanh nữa thì đó là bất tử. Vô sanh là bất tử, không sanh nữa mà mình hướng tâm về cái chỗ đó, mình mong muốn chỗ đó, mình khao khát chỗ đó, mình khát ngưỡng chỗ đó, mình yêu thích chỗ đó, mình nhiệt tâm cháy bỏng trong cái chỗ đó. Như vậy gọi là hướng tâm tới bất tử giới, hướng tâm tới cảnh giới của bất tử.

Mười lăm, hai chục năm trước con đọc giới bất tử mà không biết cái giới bất tử là cái gì, mà mình chết đây sao kêu giới bất tử thì giới nào, chỗ nào cho bất tử. Bây giờ những lời trong kinh sáng rực như mặt trời, đọc tới đâu là thọ tới đó, đọc tới là thấm tới đó, đọc tới đâu là rung chấn, rung cảm, nó chấn động tới đó, tay chân bủn rủn, rã rời mà thấm đẫm từng tế bào, từng lỗ chân lông, huyết quản, từng mạch máu. Đọc tới đâu thấm tới đó, nghe tới đâu ngấm tới đó, quán tới đâu là nó dào dạt tới đó.

Thật sự là nó ngao ngán, nhìn nó tả tơi, tan tành, nó mới quạt có mấy ngọn gió thôi đó mà vậy đó, vậy mà bão thổi gió hơn hai trăm cây số trên giờ, ở các nước chết không biết bao nhiêu người, nhà sập, tan hoang, gió bay nát hết, người chết, nhà tan cửa nát. Mình mới mấy có lá trúc rớt thôi, còn ăn ngon ngủ kỹ mà, mỗi một lá trúc là mỗi một thân mạng của mình, mỗi cái cánh tay, mỗi cái bàn chân, mỗi cái đầu lâu của mình, là mỗi một kiếp người của mình. Mình cho cái này thấm thía thánh trí tuệ, hương vị của bất tử đó, cảnh giới của bất tử đó, con đường của bất tử, đạo lộ của bất tử đó, tuần tự của bất tử đó. Và khi mình thâm nhập rồi mình còn muốn hơn thua với ai nữa không? Còn muốn ganh đua với ai nữa không? Còn muốn thị phi với ai nữa không? Mình muốn cao thấp với ai không? Còn muốn dành phần hơn, dành phần thắng, dành phần đúng, dành phần phải về mình nữa không? Tất cả tự động lắng dịu xuống, an tịnh tất cả các thọ; tưởng; hành; thức.

Sắc; thọ; tưởng; hành; thức lắng dịu xuống, nó sẽ hiền hòa, nó sẽ từ ái, nó sẽ dạt dào và nó sẽ nhìn ra được cả cái địa cầu có một chữ khổ mà thôi, cả cái hành tinh này chỉ có một chữ thương mà thôi, cả cái trái đất này chỉ có một cái chữ ngu là chữ vô minh đó, muốn cho chữ nữa cũng được là dục. Mình nhìn cả một cuộc đời sống này, tự thân của chính mình, những người thân trong gia đình mình có phải chạy đôn chạy đáo, chạy đuổi, chạy kiếm tìm, săn đuổi để tìm những cái muốn, những cái dục, những cái ái, những cái tham đó. Cho nên tất cả đau khổ thời quá khứ đều lấy dục làm căn bản, tất cả đau khổ đời tương lai đều lấy dục làm căn bản, tất cả đau khổ trong hiện tại đều lấy dục làm căn bản.

"Nếu có khổ nào khởi lên trong quá khứ, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ. Phàm có khổ nào khởi lên trong tương lai, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Người tu là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham mà phải thấy cái dục này nó hoạt động khủng khiếp lắm, sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái mà lạnh lạnh nó cũng ái nữa, lạnh lạnh là nó trùm mền, nó không chịu đi tu, đi học. Phải thấy được cái này, học rồi phải nhận diện được, ăn cho cố vô rồi lên ngồi thiền ngủ gục không, phải nhìn thấy, bày cho nhiều chuyện rồi tu không được, học không được, thân tâm dao động, lăng xăng, đầu óc vô ngồi pháp không an trú được. Dục nó khủng khiếp lắm, tất cả cái đau khổ trước kia đều do cái ham muốn này mà nó sanh khởi, tất cả cái đau khổ sau này đều do cái ham muốn này mà nó có ra, tất cả cái đau khổ trong hiện nay đều từ cái ham muốn này mà nó bắt nguồn. Mình nhiếp phục, chế ngự, dập tắt cái ham muốn này là giải thoát cho nên đây cũng là tiếng gầm của sư tử mà Đức Thế Tôn tuyên thuyết cho ông trưởng thôn. Bây giờ ta không nói chuyện đời xưa, ta cũng không nói chuyện sau này, ta nói ngay tại chỗ ngồi của ông ta chỉ cho ông thấy khổ và con đường diệt khổ. Ông trưởng thôn nghe nổi gà hết trơn, lông tóc dựng đứng hết trơn, ngay tại chỗ ngồi Ông thấy pháp, ngộ pháp ông thể nhập vào pháp, dập đầu xuống lạy dưới chân Đức Phật và từ đó xin Thế Tôn cho con quy Phật, pháp, tăng, cho con từ đây cho đến mạng chung chọn đời quy ngưỡng.

"-- Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời quá khứ, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: 'Như vậy đã xảy ra trong thời quá khứ'; ở đây, Ông sẽ phân vân, sẽ có nghi ngờ. Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời vị lai, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: 'Như vậy sẽ xảy ra trong thời tương lai'; ở đây, Ông sẽ có phân vân, sẽ có nghi ngờ. Nhưng nay Ta ngồi chính ở đây, này Thôn trưởng, với Ông cũng ngồi ở đây, Ta sẽ thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Thôn trưởng Bhadraka vâng đáp Thế Tôn." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Cái chánh pháp nó hay như vậy, nó thần diệu, nó tối thượng như vậy mà tại sao bây giờ nó lại mai một, nó mờ nhạt hết trơn, không còn mấy người được nghe. Đi chùa mà cầu xin, cúng kiến, lạy lục mà đừng nói Phật tử, ngay cả người xuất gia suốt ngày cứ cầu, cứ lạy, cứ van, cứ xin, không chịu quay lại để nhìn thấy được khổ và nguyên nhân của khổ ở trong cái thân một thước bảy này, một thước sáu này.

"- Này Hiền giả, Ta tuyên bố rằng: 'Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới'. Nhưng này Hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, Ta tuyên bố về thế giới, về thế giới tập khởi, về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (V). Rohitassa (1))

Lời nói đó rung chuyển trời đất hết, địa cầu này chấn động hết, tìm đâu ra được một bậc thứ hai để nói cho mình những cái sự thật tối thượng này, đó là tiếng gầm sư tử, đó là kinh thiên động địa, đó là long trời lở đất, đó là trống bát nhã, đó là thánh chuông mà mình được nghe chuông đánh hằng ngày, trống đánh rầm rầm động đất liên tục vậy mà cái tâm cũng mê. Trời đất ơi! Đừng nói chi những người điếc, điếc không sợ súng là không nói rồi, nghe mỗi ngày, quán chiếu ầm ầm, la hét lên mà mê thì vẫn mê, thấy cái tâm này nó khủng khiếp không cho nên mình phải nỗ lực rất nhiều để dạy cái tâm, giáo dục, dạy dỗ, huấn luyện, quản giáo, đánh cho nó bầm dập, đánh cho nó tả tơi, đánh cho nó bành thây áo vũ hết, bằm nó nhừ như tương còn chưa thấy gì hết. Trong khi chúng ta thấy sự tu học hiện nay là phớt phớt, gieo duyên, tu chơi chơi, bậc đạo sư thêm câu phía sau
chờ ngày qua đời".

Phải thể nhập được những cái trí tuệ này thì mới có Sa-môn thứ nhất, Sa-môn thứ hai, Sa-môn thứ ba, Sa-môn thứ tư. Bốn cấp bậc tu hành từ nơi cái trí tuệ này mà có, từ cái sự ly tham đối với sắc, đối với thân sắc này, đối với cảm giác này, đối với hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, đối với nhận thức thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này. Cho nên là cái trí tuệ như vậy mình phải nhắc nhớ hoài, bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào, bất cứ hoàn cảnh nào mà nó đến với mình thì phải tác động tâm ý của mình lên, làm cho nó sanh khởi cái trí tuệ đó lên, bừng sáng lên, chói sáng, nó chiếu sáng, nó rực sáng, nó tỏa sáng ở trong trí não của mình, trong thân tâm của mình, bất cứ chuyện gì tới.

"Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: 'Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào liệt tuệ, đần độn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Do nguyên nhân nhiễm trước liệt tuệ, đần độn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có liệt tuệ, đần độn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta thành tựu trí tuệ. Ta là một trong những bậc Thánh thành tựu trí tuệ, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu'. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta thành tựu trí tuệ như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi." (Trung Bộ Kinh, 4. Kinh Sợ hãi khiếp đảm)

Cho nên Đức Thế Tôn nói bất cứ cái gì sợ hãi ở trong hiện tại, tương lai mà có ra là với người ngu không phải đến với người trí, bất cứ cái hiểm gì là đến với người ngu không phải đến với người trí. Tại vì người trí nhìn thấy rõ nó là khổ mà, nó là cái pháp bại hoại mà nên bây giờ nó bại hoại thì đương nhiên rồi. Hằng ngày mình nghe chết… chết… chết, tới chừng mình gần chết thì đúng rồi, thể nhập, đâu có sợ, còn giờ ngày nào mình cũng lại mình chúc sống trăm năm, ngày nào cũng khỏe, ngày nào cũng mạnh tốt hết rồi tới chừng bệnh chết lúc đó là mình quằn quại, mình suy sụp, hoảng loạn.

Cho nên cái lời tuyên bố này là lời tuyên bố long trời lở đất, kinh thiên động địa khi Đức Thế Tôn còn tại thế. Tất cả ngoại đạo nghe giống như tiếng gầm sư tử, những con chồn, con cáo, con thỏ rồi con hươu nó chạy vì sợ, nó kinh hoàng, nó khiếp sợ, nó hoảng sợ hết. Tiếng gầm sư tử mà vang lên thì trăm thú nghe đều là rợn óc, vỡ mật, kinh hồn hết cho nên năm trăm năm sau Bà-la-môn giáo diệt đạo Phật hết luôn. Vào trong đạo xuất gia, thọ giới rồi tu hành vậy nhưng mà trước tác ra những cái bản kinh sách, cái tư tưởng vô lần lần biến Đức Phật trở thành một vị thánh ở trong đạo của họ luôn và ở Ấn Độ là Phật giáo diệt tận luôn sau năm trăm năm.

Thế Tôn mới dạy các thầy Tỳ-kheo nếu như có những người khác hỏi các ngài có cái niềm tin gì, có cái sức lực mạnh gì mà các ngài tuyên bố vậy thì chỗ này đặc biệt lắm. Bốn cái pháp: Tôi thấy rõ ràng, tôi thật thấy, thật biết rõ ràng bốn cái điều, tôi có lòng tin bất động đối với bậc đạo sư, lòng tin của tôi là không có còn một chút nào lay chuyển đối với Đức Thế Tôn. Bây giờ chúng ta học kinh Nikāya tới đây rồi cái niềm tin của mình tới đâu? Bất động chưa? Niềm tin bất động này nhiều cái lắm, tin hoàn toàn không có một cái tôi, tin hoàn toàn ngũ uẩn này là khổ.

"Chỉ có khổ được sanh,

Khổ tồn tại, khổ diệt,

Ngoài khổ, không gì sanh,

Ngoài khổ không gì diệt." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỳ-kheo Ni, X. Vajirà)

Bài này là đất trời rung chuyển kinh thiên động địa, một vị thánh Tỳ-kheo ni chứng thánh quả A-la-hán nói bài kinh này, đó là tiếng gầm sư tử con đó. Thế Tôn là sư tử vua, là sư tử vương, sư tử chúa, còn các vị thánh A-la-hán là những bậc nhân sư tử, sư tử ở trong loài người có thể gầm lên một tiếng long trời lở đất, kinh thiên động địa của sự thật, của chân lý, của thánh đế, của thánh trí, của thánh đạo và của thánh quả. Ngày hôm nay ở đây cũng bắt đầu có những con sư tử con gầm lên, rống lên như bậc đạo sư là sư tử chánh tông, nằm ở trên giường bệnh gần chết mà nhìn coi đây nè, coi cái ngũ uẩn này nó khổ đau như vậy nè. Thuyết pháp, di giáo xong rồi ra đi, đó là tiếng gầm của sư tử, sư tử chúa của thời hiện tại cách Phật 25 thế kỷ, nằm trên giường bệnh như vậy, rên là rên mà thuyết pháp là thuyết pháp mà cái giọng hùng hồn, cái giọng sấm sét, cái giọng như là lôi âm, đại lôi âm.

Tất cả là công đức của bậc đạo sư hết, con không có gì hết, chừng nào con thành tựu thì lúc đó cho hay. Tất cả là quy hướng về bậc đạo sự, noi theo cái gương của ngài mà tu, thực ngộ, thực chứng, người thật, việc thật, sự thật, lẽ thật, nhãn tiền trước mắt, nhân chứng của lịch sử, thánh nữ của Thế Tôn, thánh ni của Phật giáo, thánh chúng ở trong chúng trung tôn.

Thật là hạnh phúc cho chúng ta!

Thật là may mắn cho chúng ta!

Thật là phúc lạc cho chúng ta!

Thật là phước báo cho chúng ta!

Thật là phước lợi!

Thật là lợi đắc cho chúng ta!

Phải xác quyết niềm tin, dù ai nói ngã nói nghiêng lòng ta vẫn giữ như kiềng ba chân, như đá bàn thạch. Ai nói gì nói, mình thấy ngũ uẩn rồi là ai cứ nói gì nói, mình thấy tham, sân, si rồi là ai nói gì nói, mình thấy dục ái nó hoạt động, nó làm mình khổ rồi là ai nói gì nói, mình thấy cái bản ngã ác độc này rồi thì ai nói cái gì nói. "Dạ con nhục nhã, con xấu hổ, con ngao ngán, con nhàm chán, con không muốn hơn thua với bất cứ ai trong cuộc đời này hết nữa. Con chỉ muốn hơn thua với cái tham, sân, si này nè, con hơn thua với cái thứ cấu uế trong con".

"Dầu tại bãi chiến trường

Thắng hàng ngàn quân địch,

Tự thắng mình tốt hơn,

Thật chiến thắng tối thượng"

(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 103)

Hãy quay trở lại thắng chính mình, vượt qua chính mình, làm chủ chính mình, đánh vỡ chính mình, diệt tận chính mình, diệt tận cái tâm chấp thủ, chấp ngã, cái tâm hôn mê, cái tâm mà nguyên cái trái đất có chữ ngu tức là vô minh. Nguyên trái đất có chữ khổ, thánh đế thứ nhất cũng là chung luôn cho bốn thánh đế, ai thấy khổ là người ta thấy nguyên nhân của khổ, mà ai thấy được nguyên nhân của khổ người đó sẽ thấy sự chấm dứt khổ và con đường diệt khổ, nó có liên hệ với nhau như vậy, có một chữ thương là đại bi vô lượng. Đây là những tiếng kinh thiên động địa, long trời lở đất, đại lôi âm, hải triều âm, trong kinh Đức Phật nói cái âm ba của ngày là tùy ý ngài muốn cái tiếng của ngài vang ba ngàn đại thiên thế giới, cái âm thanh của ngài nói đâu có cần micro như mình đâu, tùy ý theo ngài muốn, ngài muốn cái tiếng ngài ra tới Hà Nội là ra tới đó mà ngài muốn cái tiếng của ngài về tới dưới Cà Mau là chị thầy Huệ, mẹ thầy Huệ nghe được, mà ngài muốn cái tiếng ngài ra tới Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai của cô Liên ở đây là ở ngoài đó nghe hết, ngài muốn tiếng của mình qua tới Ấn Độ là Ấn Độ nghe, ngài muốn cái tiếng ra hết cả địa cầu thì lúc đó cả địa cầu nghe. Do ngài tác ý, tùy ý các bậc Chánh Đẳng Giác là âm thanh vô lượng.

"Này Ananda, cho đến 1000 lần một tiểu thiên thế giới, được gọi là, này Ananda, ba Ðại thiên thế giới. Này Ananda, Như Lai có thể làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn.

- Làm sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn?

- Ở đây, này Ananda, Như Lai chiếu ánh sáng cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới, cho đến khi các chúng sanh nhận thức được ánh sáng ấy. Rồi Thế Tôn phát âm và làm cho tiếng mình được nghe. Như vậy, này Ananda, Như Lai làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn." (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, Abhibhù)

Đó là tùy ý Như Lai muốn là cái tiếng nó sẽ vang tới mười ngàn thế giới, bởi vì có nhiều người hỏi giờ mình bỏ hết sắc ngũ uẩn rồi sao, nhìn thấy chưa? Thấy cái oai lực chưa? Cứ sợ, tu không chịu bỏ mà cứ sợ bỏ không còn gì hết, bỏ cái bông bóng rồi, bỏ cái bọt nước rồi thì đại dương vô tận, vô lượng, vô biên, cứ tiếc cái bông bóng này lắm, còn mê cái bông bóng này lắm, còn thích cái bông bóng này lắm. Cho nên tinh tấn ngày đêm tu tập các thiện pháp, hoan hỉ, hạnh phúc, sung sướng, tác ý vui hoài, sướng hoài, hạnh phúc, hoan hỉ hoài, từ tâm, tâm hiền, tâm từ dạt dào, tâm yêu thương, lòng trắc ẩn, lòng xót xa, lòng quan hỉ, lòng buông xả đối với tất cả, không còn buồn, không còn giận ai, hơn thua với bất cứ một ai trên đời này hết. Nhìn ai cũng thấy thương, thương, thương thật là thương, nhìn ai cũng thấy hiền, nhìn ai cũng thấy tội nghiệp cho những người không có biết tu, đầy rẫy sân si, sân hận. Tội nghiệp tức lòng bi, lòng xót xa.

Bốn cái pháp mà chúng tôi chân chánh thấy rõ biết được là lòng tin bậc đạo sư, lòng tin với pháp, có sự thực hành thành tựu viên mãn các giới luật, cái câu này là còn hổ thẹn lắm, phải cố gắng nhiều lắm với câu này, thành tự viên mãn các giới luật rồi cuối cùng những pháp hữu của chúng tôi, những cư sĩ và những người xuất gia được chúng tôi thương, được chúng tôi mến. Hai câu này nó ấm không? Có thương không? Có mến không?

Sáng này con xuống nhà bếp mà con thấy mọi người làm thương sao là thương, nó ấm áp, ngoài trời bão, giông tố mà ở trong bếp nhìn ấm áp mà ngọt, người nào người nấy ngồi làm việc mặt mài tươi tắn, hiền hòa, dễ thương. Phải giữ được cái tình thương này, những pháp hữu của chúng tôi, những người cư sĩ và những người xuất gia được chúng tôi thương, chúng tôi mến mà đây là một trong bốn cái pháp lớn rồi. Thương mến này là tăng thân, là tăng đoàn, là pháp thân, là trí thân, là huệ thân, là mạng thân, là thọ mạng của Phật pháp. Bây giờ chia sẻ cái tâm hiền này mười năm mà cũng không chán nữa, cho tới chết cũng không chán cái tâm hiền, chia sẻ tất cả các pháp ba mươi bảy chánh giác phần tới chết cũng không chán, cũng không ngán, cũng không thấy đủ. Đúng ra là mình còn cái bài tiếp hôm đó nhưng mà để dành để mai mốt mấy Phật tử lên rồi mình chia sẻ tiếp cái bài niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên.

Xác quyết trăm phần trăm đối với Đức Phật, xác quyết tuyệt đối đối với chánh pháp và chúng tôi nỗ lực thành tựu viên mãn tất cả các giới luật và những pháp hữu của chúng tôi, những người cư sĩ và những người xuất gia được chúng tôi thương, chúng tôi mến. Đây là lý do con giải thích chữ tăng ở trong Nikāya là có bốn chúng, trong đó có cư sĩ và xuất gia là từ trong kinh Nikāya này, tức là đoàn thể Phật giáo gồm có xuất gia và tại gia và tất cả các vị xuất gia, tại gia này đều là những vị từ hướng dự lưu cho đến A-la-hán đó là thánh đệ tử, cũng gọi là thánh chúng, cũng gọi là tăng. Cho nên cư sĩ vẫn có phần, nỗ lực tu hành vẫn có phần, chắc chắn là phải có phần, hôm trước mình có nhớ cái bài kinh mấy vị nói thời buổi này lạ quá ai cũng được quả dự lưu hết trơn trong dòng họ Thích-ca, rất là nhiều vị chứng quả. Mình nhớ bài kinh bậc chân nhân sanh ra trong gia đình nào thì cha mẹ, anh chị em, bà con, cô bác cho đến người làm công đều được lợi ích, đều được an lạc, đều được hạnh phúc, đều được tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định, tăng thượng trí tuệ, tăng thượng giải thoát, thánh giải thoát, thánh tri kiến là vậy.

"- Này các Tỳ-kheo, bậc chân nhân sinh ra trong gia đình nào, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho nhiều người; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho cha mẹ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vợ con; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho người phục vụ, người làm công; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho bạn bè thân hữu; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho các hương linh đã mất; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vua chúa; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho Sa-môn, Bà-la-môn." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (VIII). Người Chân Nhân (2))

Cho nên gia đình quý vị mà có được quý vị đi xuất gia mà được một cái người xuất gia học được chánh pháp, tu chánh pháp thì gia đình quý vị là lợi ích, là an lạc, là hạnh phúc. Nhớ dẫn cha mẹ lên thực tập thiền biết ơn, độ cha mẹ luôn, giúp cha mẹ luôn, khuyến khích, khích lệ, hướng dẫn, an trú, áp đặt cha mẹ, anh chị em, bà con, cô bác vào trong thánh pháp hết mức có thể, tạo điều kiện hết mức có thể.

"Này các Tỳ-kheo, sự tình này xảy ra, khi ở đây, những Du sĩ ngoại đạo có thể nói: 'Chư Hiền, chúng tôi cũng có lòng tin bậc Ðạo Sư, vị ấy là Ðạo Sư của chúng tôi. Chúng tôi có lòng tin Pháp, Pháp ấy là Pháp của chúng tôi, chúng tôi thành tựu viên mãn các Giới luật, những Giới luật ấy là Giới luật của chúng tôi. Và những pháp hữu của chúng tôi, những người cư sĩ và cả những người xuất gia, được chúng tôi thương, được chúng tôi mến. Chư Hiền, như vậy có sự sai biệt gì, có sự đặc thù gì, có sự khác biệt gì giữa quý vị và chúng tôi?'." (Trung Bộ Kinh, 11. Tiểu kinh Sư tử hống)

Mấy ông ngoại đạo nói chúng tôi cũng tin vào thầy của tôi vậy, tôi cũng tin vào con đường thực hành của tôi, tôi cũng giữ gìn các cái giới luật của tôi rồi chúng tôi là cũng thương yêu những người đồng tu của tôi. Như vậy thì có khác gì nhau? Chúng tôi cũng tin vô sư phụ của tôi vậy, người ta cũng tin vô đường lối của người ta rồi người ta cũng giữ theo cái quy giới của người ta, người ta cũng thương yêu những người đồng đạo, đồng tu của người ta thì như vậy có sự sai biệt gì, có sự đặc thù gì, có sự khác biệt gì giữa quý vị và chúng tôi. Bây giờ vô cái chỗ này đó thì mới thấy mình tu thiệt hay là tu chưa thiệt, đây là tiêu chuẩn.

"Chư Tỳ-kheo, nếu được các Du sĩ ngoại đạo nói như vậy, cần phải trả lời họ như sau: 'Chư Hiền, cứu cánh là một hay cứu cánh là đa diện?' Nếu trả lời đứng đắn, các Du sĩ ngoại đạo phải trả lời: 'Chư Hiền, cứu cánh là một, cứu cánh không phải đa diện'." (Trung Bộ Kinh, 11. Tiểu kinh Sư tử hống)

Cái chỗ rốt ráo của sự tu chỉ là một thôi chứ không phải là nhiều. Rốt ráo của sự tu là gì? Cứu cánh là gì?

Sư cô Ấn Hoa: con bạch sư phụ là diệt tham, sân, si, đi đến giải thoát hoàn toàn thế thôi.

Sư Phụ: Rồi còn ai nói cứu cánh là gì?

Sư cô 2: Dạ mô Phật kính bạch sư phụ cứu cánh là Niết-bàn.

Sư Phụ: Rồi ai nữa?

Sư thầy 1: Dạ tư sư phụ cứu cánh là đoạn tận dục và tham đối với ngũ uẩn.

Sư Phụ: Rồi ai nữa? Ai cũng nói đúng hết trơn, cái từ nó khác nhưng mà cái nghĩa là một.

"--"Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người có tham, hay cho người không tham?' Nếu trả lời đứng đắn, các Du sĩ ngoại đạo phải trả lời: 'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không tham, không phải cho người có tham'." (Trung Bộ Kinh, 11. Tiểu kinh Sư tử hống)

Không tham đối với cái gì đối với ngũ uẩn, ly tham ngũ uẩn là cứu cánh. Nếu những đặc tính này có trong người mình là tu đúng mà không có những cái này ngược lại là tu trật. Đây là những cái tiêu chuẩn để xác định chân tu hay là giả tu.

"—'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người có sân, hay cho người không sân?' Nếu trả lời đứng đắn, các Du sĩ ngoại đạo phải trả lời: 'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không sân, không phải cho người có sân'. (Trung Bộ Kinh, 11. Tiểu kinh Sư tử hống)

Chấm dứt hoàn toàn giận là cứu cánh vậy là tu đúng, vậy là tu trúng mà tu cứ vài bữa nói tôi giận người này rồi tôi giận cái cô rồi, giận ông thầy nọ rồi, cái tu này là tu trật, tu sai rồi.

"—'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người có si hay cho người không si? Nếu trả lời đứng đắn... phải trả lời: 'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không si, không phải cho người có si'." (Trung Bộ Kinh, 11. Tiểu kinh Sư tử hống)

Si là cái gì? Là vô minh không nhìn thấy ngũ uẩn, si có nhiều cái góc độ, phương diện, khía cảnh trí tuệ lắm, si nó có nhiều cái mối lắm chứ không phải nó có một đâu. Si là gì?

Thầy Thiện Huệ: Con thưa sư phụ si là không thấy dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã đang xâm chiếm vận hành tâm mình.

Sư Phụ: Khi mình thấy có một tự ngã, có một cái tôi, lúc đó mình đang sống trong vô minh, trong si. Khi mình muốn cái này, muốn cái kia là cũng tự cái si nó phát ra tại vì nếu mà mình có trí, mình không có si thì mình đâu có muốn cái đau khổ. Khi mình giận lên là có si không ạ? Có thấy cái bản ngã mới xúc phạm tới cái tự ái tôi, tôi mới giận, phải chưa? Tất cả những cái đó, vô minh là đầu mối, vô minh là tổng tư lệnh, vô minh là tổng đạo diễn tức là si và vô minh liên hệ với nhau. Cho nên thường thường nói tham, sân, si cái cội gốc ở bên trong là cái si mê, là cái vô minh cho nên mình tu hai cái quan trọng nhất là vô minh và tham ái, khát ái là vậy đó. Từ cái chỗ không thấy, không biết cho nên mới ham thích rồi mới đau khổ, nhiều khi đó hồi xưa mình chưa học Nikāya, mình chưa tu Nikāya nói si thôi chứ cũng không biết si là cái gì nữa, nói mường tượng, nói tri thức, nói định nghĩa trên chữ nghĩa vậy thôi.

Bây giờ mình thấy nhiều cái phương diện, khía cạnh, gốc độ của si, không thấy được bát chánh là si đó, là vô minh đó, không thấy đúng, không nghĩ đúng, không nói đúng. Khi mình nói mà nói sai là trong đó si rồi, nếu ó có trí lúc đó đâu có nói sai, phải chưa? Khi mình làm ra cái điều tội lỗi thì lúc phải có si dẫn đường chứ nếu có trí mình đâu có làm ra đều tội lỗi, thành ra cái gốc sâu ở bên trong nói đơn giản luôn như bậc đạo sư dùng cái từ là tâm mê. Cái tâm mê đó là si đó, là cái tâm hôn mê, cái tâm si mê, cái tâm ngu mê, cái tâm bị chụp thuốc mê, cái tâm bị đam mê, cái tâm bị ngủ mê, cái tâm bị mê muội, cái tâm bị mê ám đó là chữ si,

Chẳng hạn như mình nói "chẳng hiểu rõ khổ của nhau còn bày thêm đau khổ, thêm khổ buồn cho nhau" thì có phải si không? Cho nên những cái bài của bậc đạo sư là siêu khủng lắm, không phải bình thường mà hiểu đâu, tới chết mà chưa hiểu hết, mà hiểu hết là nhập thánh quả rồi. Cái bài của ngài đó không có đơn giản đâu, từ trong cái thực chứng, thực thấy, thực biết, thực ngộ, thực thành tựu mà viết ra. Trời ơi mình cứ tưởng mình thông minh không à, nó ngu muốn gần chết mà cứ tưởng thông minh không à, thấy là thấy theo si, nghe là nghe theo si, ngửi nếm theo si, tiếp xúc theo si, suy nghĩ theo si, nhận thức theo si, cảm giác theo si mê, tưởng theo si mê cho nên ngày đêm cái vô minh phong tỏa.

Nhìn thấy sờ sờ hai mắt mở vậy đó như mà đang ngủ mê chứ không phải mở mắt vậy là sáng đâu, khổ vậy đó, đừng nói chi ngủ gục thì thôi cái đó khỏi nói rồi. Mở mắt trao tráo, nói leo lẻo vậy đó nhưng mà đang ngu, đang si mê, đang vô minh, đang mù, đang bị hôn mê, đang bị chụp thuốc mê vì không thấy không biết ngũ uẩn, không thấy không biết dục ái, không thấy không biết sân si, không thấy không biết bản ngã đang ngấm ngầm hoạt động, vận hành, nó đang tung nọc độc, phun cái nọc độc nó ra làm cho mình khổ, cho người khổ mà nó không biết mà nó còn tự hào vỗ ngực xưng tên ta đây là giỏi nữa chứ. Đau đớn như vậy, nó đang làm khổ cho chính bản thân nó, nó đang làm khổ cho người thương nó thậm chí nó đang làm khổ cho cha mẹ, ông bà nó nhưng lại vỗ ngực xưng tên ta hay lắm, ta giỏi lắm, ta làm vậy cho các ngươi biết.

Cho nên thương lắm quý vị ơi, cái si này tầng tầng lớp lớp, hết cái lớp này tới cái lớp khác, hết cái lớp khác rồi tới cái lớp khác, rồi hết lớp khác rồi xuống cái lớp khác cũng như mình khoan xuống lòng đất hết lớp này tới lớp kia chứ không phải cái si đơn giản đâu. Mình tu nhiều lắm, mình tĩnh tâm nhiều, mình quán chiếu nhiều, mình nhận diện thật là nhiều, sâu sắc rồi mình thấy cái sự vận hành ở trong này những cái cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức của mình vận hành ở trong đó, nó chỉ đạo ở trong đó, nó điều khiển ở trong đó, nó xâm chiếm, nó áp đảo trong đó. Cho nên những cái mà mình nhìn thấy rõ, những cái lúc mình ăn, những lúc mình vui sướng hay là những lúc mình sân hận, những lúc mình hơn thua là biểu hiện ra ngoài thôi chứ thật ra bình thường là nó đang sống ở trong này, nó ngủ ngầm trong này, nó tùy miên trong này, nó chất chứa trong này, nó tồn kho, tồn động, nó tồn tại trong này mà mình không có chịu quay trở vô để mà mình như lý giác sát, như lý tác ý, không chịu dồn tất cả những cái phương pháp tác chiến, chiến thuật, chiến lược, quyết tử, quyết chiến với nó thì như vậy mình tu phất phơ ngoài da.

Con ví dụ giống như đem cây cuốc lại quẹt mấy cọng cỏ vậy là tôi tu xong rồi nên cây cổ thụ ngàn năm vẫn còn y nguyên. Phải quay vô theo dõi nó, phải giám sát nó từng cái ý nghĩ, từng cái hình bóng, từng cái nhận thức, từng cái cảm giác, chỗ này là phải để ý sát sao, khít khao, không có lơ là, cảnh giác 24/24 thì mới nhận diện ra được các lậu hoặc, mới nhiếp phục, chế ngự và đi đến chỗ đoạn tận các lậu hoặc. Còn mình phất phớt rồi mình ngồi vậy tu là trong đó nó hoạt động tùm lum hết, có khi ngồi thiền chứ nuôi vô minh, ngồi đó nhắm mắt rồi nhiều khi hả họng thở vô thở ra, đánh cái boong thì nghĩ "Trời ơi bữa nay ngồi thiền im re, sao nó im ru mà nó khỏe ghê vậy đó". Ngồi đó nuôi vô minh, cái giờ đó là cái giờ thực thấy, thực biết, cái giờ rõ nhất, sáng nhất, tỉnh nhất, mạnh nhất của người tu vậy mà vô ngủ, hôn trầm thì cái giờ khác sao tu, sao mà thấy, sao mà chiến đấu được?

Cho nên phải nỗ lực để nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận năm triền cái, cái này rất quan trọng. Hồi xưa con ngồi xe chung với bậc đạo sư đi mấy trăm cây số trong khi ngài bệnh như vậy đó, bao nhiêu công chuyện vậy mà con quay lại nhìn không bao giờ ngài nhắm mắt xuống ngài ngủ. Vậy mà bây giờ đi toàn trẻ trẻ không rồi ngủ gà ngủ gật, mình mới nói kêu trình pháp mà thấy ngủ rồi nên thôi im luôn, như thằng câm ăn ớt vậy đó, cay quá mà nói không được. Ngài không bao giờ nhắm mắt lại ngủ cho nên mình mới thấy những vị mà đoạn năm triền cái lúc nào cũng tinh minh, trong sáng lắm, mắt sáng, tai thính, tâm sắc bén, bén nhạy, còn nhiều lại đứng kế bên nói hai ba lần mà cứ "Hả? Hả". Đi họp ở trên tầng trời ba mươi ba mới về hay sao mà cứ hả hả?

Nhiều khi cuộc đời con cũng cay đắng lắm, con điện thoại là con dặn tới dặn lui, con nói gì là thường con dặn ba lần, con học theo Nikāya cuối cùng về làm trật lất hết thế là lại như thằng câm ăn ớt nữa mà còn thêm mấy mũi nữa chứ. Trời đất, chịu trận luôn cho nên mình mới nhận diện ra cái si này rất quan trọng, mình phải nhận diện như sáng này mấy người mới con không có nhắc, giờ người cũ cho nhìn ra nè. Con mới vừa quay vô mở cái cuốn kinh ra thôi, con không có nhìn mà quay vô là ào ào đi mà rõ ràng là con nói tới nói lui năm lần bảy lượt, con kêu đi thông thả, đi chầm chậm, đi nhẹ nhàng như đám mây, đi ung dung đừng có thúc giục. Dặn nói riết luôn như vậy đó mà đi gần hết cái vòng, có một chút xíu con quay vô nhìn cuốn kinh thôi, lơ là một chút nhìn ra là chạy ào ào.

Trời ơi! Lúc đó con nhìn thấy ngán ngẫm cái tâm này thiệt tình, cái ngũ uẩn này, quay vô dòm cái bài kinh thôi là nhìn trở ra là rồi đi khác rồi, đi thúc giục, đi gấp gáp, nhanh lẹ mà không phải cái người cũ đâu, người mới trong này. Vậy thì làm sao nhận diện ngũ uẩn? Đó là lúc đó đang si mê, đang buông lung phóng dật, đang thúc giục mà con có kêu là đi nhanh, đi lẹ đâu, con kêu hết lòng từ đầu cho tới giữa con kêu đi chậm chậm, đi từ từ, đi nhẹ nhàng, đi thiền hành, đi an tịnh, lắng dịu, con niệm, con tác ý hết trơn rồi, mới quay qua nhìn cho không biết là một phút hay là mấy giây quay trở lại là xong, mà đó là nội chúng ở trong nội tự.

Cho nên cái tâm mình không lơ là được một chút nào hết, không có lơ là, không có xem thường, khinh thường là chết ngay thôi, khinh địch là chết liền, chết tức chết tưởi, chết cay chết đắng, chết bờ chết bụi, chết bất đắc kỳ tử, chết không biết tại sao mình chết. Mình vừa lơ là chút thôi quay trở lại là xong, đi trong thúc giục, đi trong hối hả. Dễ sợ như vậy cho nên phải sợ cái tâm này, phải canh chừng cái tâm này thật kỹ, đừng có xem thường, có khi mình làm bậy, làm trật mà mình còn hãnh diện, còn khoe nữa chứ. Nhận diện cho sâu sắc ngũ uẩn, còn thấy tự hào những cái trật, cái bậy đó nữa, phải để ý thật là kỹ từng chút một.

Cái si nó ghê gớm lắm, nó phong tỏa mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, nó phong tỏa sắc; thọ; tưởng; hành; thức, nó phong tỏ trong cái suy nghĩ của mình, trong cái cảm thọ, trong cái tưởng của mình, trong nhận thức mình. Cái si nó vô minh phong tỏa hết ở trong đó, chỉ cần mình lơ là, chỉ cần lúc đó mình không có tinh minh, lúc đó mình không có sắc bén, lúc đó mình xem thường, mình phớt qua, mình buông lung là xong. Bởi vậy càng tu mình mới thấy mình càng dở, càng tu mình mới thấy càng tệ, càng tu mới càng thấy mình càng vô minh, càng tu mới thấy cái sự si mê của mình là khủng khiếp, nó kinh khiếp, nó kinh hãi, nó kinh hoàng. Càng tu mình mới thấy phải nỗ lực nhiều lắm, phải khít khao, phải sát sao, phải miên mật, phải chăm chăm chứ không có được đơn giản.

Chính vì thế mà thất giác chi là quan trọng lắm, niệm giác chi rồi từ đó mình mới trạch pháp, ngay cả chánh niệm không cũng còn chưa đủ nữa phải trạch pháp ở trong cái chánh niệm đó chứ không phải chánh niệm không là đủ đâu. Nhiều khi mình nấu cái món ăn, hay mình làm công chuyện gì đó nhưng mà mình thấy cái đó qua rồi, mình nghĩ để chút xíu mình làm rồi một hồi mình quên. Lâu lâu có vậy không? Đó là lúc đó cái tâm nó biết, nó vẫn chánh niệm nhưng trong đó nó không có tinh tấn lực, nó không có giải quyết liền công chuyện, nhiều khi cái chuyện rất quan trọng mình bỏ sót, cái chuyện không nên sót, không đáng sót không được sai sót mà nó quên, nó sót rồi hối hận "tại sao hồi nãy mình không làm cho rồi đi? Tại sao lúc đó mình không làm đi?".

Thành ra chánh niệm không còn chưa đủ. Chính vì vậy mới có tín - tấn - niệm - định - tuệ, chính vì vậy mới có là thất giấc chi, niệm rồi trạch pháp giác chi nữa, rồi tinh tấn nữa, hỷ rồi khinh an.

"—'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người có ái, hay cho người không ái?' Nếu trả lời đứng đắn... phải trả lời: 'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không ái, không phải cho người có ái'." (Trung Bộ Kinh, 11. Tiểu kinh Sư tử hống)

Mình thấy mình còn sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái, mình còn tự ái là mình còn ở ngoài cửa chùa. Tự ái là không học đạo được, chạm tới không được, đụng vô không được, nhắc nhở không được, rầy không được là rồi xong. Học cái gì? Ở trong tất cả cái ái thì cái tự ái là nặng, kiểm tra cái ái của mình và phải gia công dụng hạnh nhiếp phục và chế ngự nó dù cho nó là ái cái gì. Nếu ái ngồi thiền, ái nghe pháp, ái nỗ lực quán chiếu thì được, cái này tốt, nếu ái ngũ dục, ái bản ngã, ái hơn thua, khoái hơn thua thì mấy cái phải diệt tận cùng.

Cho nên chúng ta thấy người chân tu thật học không có rảnh, tối ngày cứ quay vô, cứ ngồi dòm đã đời rồi rầy, quở trách xong rồi đi tới đi lui nhìn vô coi có cái gì. Hay nằm ngủ cũng không có yên, nhìn vô coi nó làm cái gì trong này đây, cứ đi, đứng, ngồi, nằm, bất cứ lúc nào các ác và bất thiện pháp, những chướng ngại pháp sanh khởi là lập tức trừ diệt, diệt tận, trừ khử, làm cho nó chấm dứt hoàn toàn, không còn sanh khởi trở lại trong tương lai.

Đức Phật gọi đó là người tinh tấn, ngay khi đi, ngay khi đứng, ngồi, nằm, ngay khi làm việc như vậy mà nó khởi lên những dục tầm, những sân tầm, những hại tầm, những bất thiện tầm, những cái suy tầm, suy tư tham muốn, những suy nghĩ nóng giận, những cái suy nghĩ hơn thua, ta đây vì bị khinh khi, bị chê bai gì đó, những cái suy nghĩ sanh khởi lên là lập tức nhiếp phục, chế ngự, trừ khử, tống khứ, diệt tận, làm cho nó hoàn toàn không sanh khỏi trở lại trong tương lai thì như vậy Đức Thế Tôn khen là người tinh tấn, thù thắng. Còn nếu thấy nó sanh khởi rồi thôi "để từ từ mình tu, từ từ, làm gì gấp vậy", cái này hạ liệt, Đức Phật gọi là hèn kém, thấp kém, bại liệt ở trong Phật, giáo bán thân bất toại, đứng dậy không nổi nữa không muốn nhiếp phục tham, sân, si gì nữa hết, sống trôi qua ngày đoạn tháng, để tâm muốn làm gì làm, mấy thằng giặc đó, mấy thằng ăn cướp ở trong nội tâm muốn làm gì làm. Nó bưng đồ, nó cướp của, phá hết tài sản bậc thánh trong tâm của mình như vậy là hạ liệt, hèn kém.

Hồi sáng có bài "không nuôi dưỡng hận sân", cái từ này hồi đó giờ con học mà con chưa bao giờ con nghe, tới bậc đạo sư mà con nghe mấy cái chữ này cứ chấn động, nó rung chấn, sốc toàn tập. Nuôi dưỡng hận sân, hết chỗ nuôi rồi hay sao? Hết cái để nuôi rồi hay sao mà nuôi cái tâm giận đó, cho nó ăn, nó bực bội, khó chịu mà nuôi nó làm gì, cho nó ăn làm chi. Thức ăn của sân là chướng ngại tướng, là chướng tai gai mắt cho nên bây giờ mình thấy có nó khó chịu thì quỳ xuống lạy sám hối đi "không ai chướng ai hết á, con chướng đó. Không ai chướng ngươi hết á, chính ngươi chướng đó, ngươi nhổ cái gai chướng này đi. Bây giờ ta chỉ cho ngươi cách nhổ, ngươi quỳ lạy dưới chân cái người ngươi sân đó là nhổ gai". Quá tuyệt vời luôn, một cái pháp hành vi diệu, tối thượng.

Chúng ta thử nghĩ nếu không có được sự hướng dẫn của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác này thì chúng ta tu tới chừng nào? Tu càng ngày càng phát triển sắc; thọ; tưởng; hành; thức không à, chúng ta có để ý không ạ? Có thấy không? Càng ngày càng nuôi dưỡng sắc; thọ; tưởng; hành; thức, phát triển cho nó thôi à, vô tu dạy con phải ráng học để con làm cái này, làm cái kia, làm cái nọ phải không? Chứ không dạy con phải cố gắng là sao để con từ bỏ cái sắc hư ảo này, có ai dạy không? Chúng ta thấy chưa? Mình đang học hàng độc, hàng hiếm, hàng hy hữu, đó là thánh trí huệ, được kim cương mà đi bỏ để hốt xà bần. Đáng thương không? Tội nghiệp không? Chỉ có người không biết kim cương thì họ mới liệng kim cương nhặt xà bần, còn người biết kim cương quý không hết.

"—'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người có chấp thủ, hay cho người không chấp thủ?" Nếu trả lời đứng đắn... phải trả lời: 'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không chấp thủ, không phải cho người chấp thủ'." (Trung Bộ Kinh, 11. Tiểu kinh Sư tử hống)

Cứu cánh ấy cho người có chấp thủ hay cho người không chấp thủ? Mấy cái này là thước đo nè, lâu lâu quay lại "Ủa mình giờ còn si không ta? Mình còn tham nhiều không? Mình còn sân nhiều không? Mình còn ái nhiều không? Mình còn chấp thủ nhiều không?". Chấp thủ là cái tâm nắm giữ, dạ con thưa chư tôn, chư hiền hôm qua con cho dời nhà đó là con lấy cái bài tập này nè, chứ nói "giờ con đồ nhiều bây giờ khó lắm", vậy là chấp thủ rồi. Con thưa với các ngài ở đây, con không biết bao nhiêu chỗ, không có cái chỗ nào của con hết trơn, hồi xưa đầu tiên lên ở cái thất khai sơn, có mấy thầy về thì con dời xuống cái thất qua bên chánh điện, cái chái đằng sau chỗ thầy Huệ ở bây giờ là con ở đó rồi. Có khách lên xin ở đó nên con xuống cái thất dưới kia, không phải thất bây giờ đâu mà là thất dưới kia. Có ông thầy già lên xin ở tu con đưa cái thất đó cho ổng nên con làm cái khác.

Con đang ở thất vậy đó mà người ta lên xin thì con rồi đưa, mà lúc đó là chưa vô Nikāya. Cái tâm mình nó nhẹ cũng đỡ, vô tới cái pháp này là nó tuyệt vời lắm, nhờ buông xả mà mình được nhiều cái lợi lạc lắm, kỳ đó có trái châu bằng pha lê trong, nó bự vầy nè, con để trên bàn thờ. Hồi xưa mình tu theo thiền tông:

Ngã hữu minh châu nhất khỏa,

Cửu bị trần lao quan tỏa,

Kim triệu trần tận quang sanh,

Chiếu phá sơn hà vạn đóa.

(Thiền Sư Thủ Đoan)

Ta có một viên minh châu đã lâu bị vùi sâu, sáng nay bụi sạch, sáng, xanh, chiếu thấy nghìn trùng non nước. Chà, mấy cái bài hồi xưa học bên thiền tông cho nên để viên minh châu ngay bàn Phật để quán mình có viên minh châu thì có ông thầy cũng tu thiền lại xin "Minh Thành cho tôi viên minh châu đó đi" – "Dạ". Mình phải tập cho những thứ khó cho, Đức Phật dạy hay lắm, rồi có ông giám đốc tặng cho con tượng Phật Thích-ca đẹp, trang nghiêm, bằng gỗ tuyệt vời lắm, con mới để mấy bữa. Lúc đó con nghe bậc đạo sư cần tìm tượng Phật Thích-ca con đem cúng dường ngài mà cái tâm vui, hoan hỉ mà mình cho cái mình thích thì mình sướng. Độc đáo vậy đó, không ngờ con cho ngài, con cúng dường ngài cái tượng Phật giả, ngài cho con lại ông Phật thiệt.

Ngài cho con lại pháp thân, cũng nhờ vậy đó. Quý vị biết tại sao con gặp ngài không? Từ từ con kể cho, nhiều tập kể nghe không hết, ngài nhìn thấy cái hình mà con và mấy thầy quấn cái y Nam Tông ngồi ngoài gốc cây giác ngộ nên ngài đi về đây tìm. Cho nên con mới nói cái không chấp thủ hay lắm mà lâu lâu con cho làm bài tập, được không? Lớn gì lớn cũng cho làm bài tập hết chứ không phải nói nhỏ, lâu lâu kêu dời nhà, chạy giặc, đạn nổ rồi. Chỗ nào là chỗ của mình? Tập vậy đó, mình phải hạnh phúc và vui sướng khi mình được dời qua chỗ này, đổi qua chỗ kia vậy mình hạnh phúc lắm vì đây bài thi, đây là bài làm bài tập, đây là mình lên lớp.

Thí dụ bây giờ trong này đầy hết chỗ rồi cho ra mái hiên ở coi có hạnh phúc không? Đức Phật ở dưới gốc cây, mình có cái mái hiên là tuyệt vời rồi, thành ra chúng ta thấy cái tâm chấp thủ này hay lắm. Tập đi, không phải tập là đợi ai ra bài tập gì cho mình hết mà hằng ngày khi mình đối duyên, khi mình tiếp xúc, những cái việc đến với mình là mình cứ tập gỡ ra, bỏ ra, đừng chấp, đừng có nắm gì hết trơn, bất cứ đừng có nắm gì hết. Thí dụ bây giờ mình thích cái chậu này, mình chăm cái chậu này sáng trưa, ngày nào mình cũng tưới nước rồi mình uốn éo cái cây rồi bữa nay thằng nhỏ hay ai dọn bàn làm rớt bể, đương nhiên cũng tiếc chứ không phải không tiếc nhưng mà mình từ bỏ cái tâm tiếc đó đi. Nó là vô thường, nó là tan hoại, nó là hủy hoại, nó là hoại diệt nhưng mình vẫn nhặt lên sửa lại hoặc là nó chết rồi đi nữa lòng mình vẫn được cái sự chấp nhận cái pháp nó vô thường.

Đó là kham nhẫn đó tức là mình chấp nhận cái sự biến hoại của cái mình yêu thích, phải tập cái này, đó là lý do tại sao mà mẹ con chết trên tay của con mà lúc đó con không có khóc vì hằng ngày con tập chấp nhận quen rồi, giờ tới đó là mình phải chấp nhận. Đâu phải mình không thương, cho tới bốn mươi ngày con cho để cái mâm tr là con khóc như mưa, khóc lúc đó rồi thiền quán luôn. Trong cái khóc là có chủ ý khóc tức là mình muốn cho cái cảm xúc đó trào dâng, tùy theo cái ý mình muốn, mình muốn nhiếp lại là nhiếp, mình muốn mở ra là mở. Thành ra mình phải tập bỏ bớt cái sự chấp thủ trong ngũ uẩn này mà tập đó không đợi ai làm bài tập cho mình mà hằng ngày, hàng giờ, những chuyện nó đến với mình phải tập từ từ.

Từ đôi dép, từ cái bộ đồ, từ cái mắt kính, từ cái nón đội, cái khăn quấn, từ cái áo mặ,c từ cái chỗ ở rồi mới đến những cái thân phần trong cơ thể của mình, tới cả cái hình hài này luôn, cái sinh mạng này luôn. Mình tập buông cái sự chấp thủ lần lần, tác ý lần lần, các ngài thấy con tập đó, hôm qua con ở cái cốc ở bên kia. Có nhiều vị nói "thầy công chuyện nhiều dữ lắm, bận lắm" – "Dạ con đâu có công chuyện gì đâu", nếu có công chuyện thì chỉ có một công chuyện thôi, đó là phá thân kiến, diệt vô minh, trừ chấp thủ. Cái công chuyện đó mới là cái công chuyện thật sự của mình còn gọi là bổn phận sự, diệt vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn, đập tan thân kiến, đó mới công chuyện quan trọng, còn mấy cái khác có gì quan trọng.

Chỉ có công việc đó mới đưa mình hết khổ, còn tất cả công việc khác nó không đưa mình hết khổ. Ngay cái lúc mình ngồi đây là cũng làm cái công việc đó, mình cùng mọi người làm, mình cùng mọi người thực tập, chúng ta cùng nhau hành trì. Mình phải ý thức sâu sắc công việc quan trọng, chính yếu nhất của mình, cái hồng tâm của mình, nếu không mình đi lệch hồng tâm, mình đi sang lối tẻ, mình đi lạc đường mình không hay. Phá trừ cái chấp thủ ở trong ngũ uẩn này là công việc quan trọng nhất của chính mình, như vậy thì mất cái món đồ đâu có phải là cái mất gì lớn lao đâu, mất cái trí tuệ buông xả thì cái mất này mới lớn lao. Nếu lúc đó mất món đồ mà cái trí tuệ buông xả này nó lớn mạnh, nó rực sáng thì cái đó là được chứ không phải mất, mất cái bên ngoài để được cái thánh trí huệ bên trong, chịu không?

Tại sao lại lo sợ mất đồ? Tại sao không sợ mất trí tuệ? Cho nên Đức Thế Tôn nói sự mất mát tài sản chưa gọi là mất mát, sự mất mát tình cảm chưa gọi là mất mát, sự mất mát cả gia đình, cha mẹ chưa phải là mất mát, sự mất mát lớn nhất là sẽ mất mát giới hạnh và trí tuệ và tri kiến của mình. Cái đó là sự mất mát to lớn nhất, còn tất cả sự mất mát trên cuộc đời này chẳng là cái gì hết. Dù mất mạng này cũng không là gì hết vì mình mất vô lượng, vô số, vạn ức tỷ lần chứ không phải mới mất đâu.

"Ít có giá trị, này các Tỳ-kheo, là những mất mát này, như mất mát bà con. Cái này là khốn cùng giữa các mất mát, này các Tỳ-kheo, tức là mất mát trí tuệ.

Ít có giá trị, này các Tỳ-kheo, là những tăng trưởng này, như tăng trưởng bà con. Cái này là tối thượng giữa các tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, tức là tăng trưởng trí tuệ.

Ít có giá trị, này các Tỳ-kheo, là những mất mát này, như mất mát tài sản. Cái này là khốn cùng giữa các mất mát, này các Tỳ-kheo, tức là mất mát trí tuệ.

Ít có giá trị, này các Tỳ-kheo, là những tăng trưởng này, như tăng trưởng tài sản, Cái này là tối thượng giữa các tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, tức là tăng trưởng trí tuệ.

Ít có giá trị, này các Tỳ-kheo, là những mất mát này, như mất mát danh tiếng. Cái này là khốn cùng giữa các mất mát, này các Tỳ-kheo, tức là mất mát trí tuệ.

Ít có giá trị, này các Tỳ-kheo, là những mất mát này, như tăng trưởng danh tiếng. Cái này là tối thượng giữa các tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, tức là tăng trưởng trí tuệ." (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, VIII. Phẩm Làm Bạn Với Thiện, Làm Bạn Với Thiện)

Mất cái giới đức và mất cái tri kiến, thấy biết về sự thật thì mất cái này là mất mát lớn lao. Vì sao? Vì mất cái hai cái này là đưa xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mất giới, mất tri kiến thì đưa vào tam đồ ác đạo. Mất thân mạng nhiều khi mình còn đi lên các tầng cao nữa thì cái đó là tốt, chứ đâu có phải là mất đâu là được, mà khó một cái là cái chúng sanh nhìn ở trên cái tình tướng không à, họ nhìn trong cái bề ngoài, họ nhìn cái thiển cận, cạn cợt, không nhìn thấy cái chỗ thâm sâu ở bên trong đó, ở trong cái vô tướng, trong vô hình đó, không nhìn thấy được.

Chẳng hạn như trưa đó mình làm công quả hay mình học pháp, thành thiền gì đó mà mình mất ngủ. Mất ngủ nhưng mình được thánh trí, ngon không? Cứ ngồi đó tiếc giấc ngủ hoài à "giờ này đi ngủ, giờ này tới giờ ngủ, giờ này phải xuống ngủ" thế là mất thánh trí. Mất ngủ mà được thánh trí, mất bộ đồ mà thành tựu cái tâm buông xả, mất cái sĩ diện mà được cái trí vô ngã. Tuyệt vời như vậy mà cứ nhìn cái bên ngoài làm cái gì? Mình nhìn bên ngoài thấy mất cái này, mất cái kia, mất cái nọ, không có gì mất hết, cái được ở trong đây là được cái tri kiến của bậc thánh, thượng nhân pháp thì cái được của quý vị cả địa cầu này, mười ngàn cái trái đất này cộng lại cũng không bằng cái mà quý vị đang có được trong cái trí tuệ. Hạnh phúc không?

Phải tác ý như vậy để mình vui sướng, ngày đem tinh tấn tu tập trong các thiện pháp. Mình giàu nhất hành tinh này, không có ông đại gia thế giới nào bằng mình nổi, hỏi thử mấy ông đó có thánh trí ngũ uẩn không, đâu có biết đâu. Mọi người thấy chưa? Họ không có biết khổ và nguyên nhân của khổ, tới chừng khổ là kinh hoàng lắm, hốt hoảng, sỡ hãi lắm, bất an lắm, hoảng loạn lắm cho nên mình được một cái mà thế gian khó được, đó là thấy vô thượng, nghe vô thượng, học tập vô thượng, lợi đắc vô thượng, phục vụ vô thượng. Từ bên Mỹ về đi chùi cầu tiêu mà cười hoài, sung sướng và hạnh phúc, hân hoan và phấn khởi, từ Úc, Singapore, quận nhất, quận ba… về đây đều cho đi làm nùi giẻ hết, bất cứ ở đâu, công tử, cậu ấm cô chiêu gì vô đây là cho làm giấy chùi chân, cho đi ăn xin hết ráo, mà đó là đang đưa thế gian chí bảo, đang có cái tài sản tối thượng của bậc thánh là cái nùi giẻ rách của ngài Xá-lợi-phất.

Cho nên cái bài thiền quán con nói cái gia tài tối thượng, chí cao thánh sản mà ngài Xá-lợi-phất truyền trao 2500 năm vô giá, không có bất cứ châu ngọc, kim cương, vàng đen, vàng trắng gì trên thế giới này so sánh nổi là cái miếng nùi giẻ rách. Được cái miếng nùi giẻ rách đó là hạnh phúc lắm, người ta có mắng, có chửi, có khinh khi, có huỷ nhục cũng chỉ có tâm hiền hòa, ngọt ngào, yêu thương. Ai có được cái này nếu không nhận được miếng nùi giẻ rách, chỉ có người tiếp nhận được cái thánh sản, cái thế gian chí bảo, cái thánh bảo thì mới có một cái cách nhìn, cái cách suy tư, nhận thức và quán chiếu siêu phàm như vậy, phi thường như vậy, tối thượng, vi diệu như vậy.

Chúng ta phải trân trọng cái miếng giẻ rách, phải trân trọng cái danh hiệu của một kẻ ăn mài, một người khất sĩ. Con quỳ xuống trước mọi người "dạ kẻ ăn mài này xin quỳ xuống" mà hạnh phúc, ngọt ngào, sung sướng mà con thấy con quỳ dưới chân của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn là người bỏ ngôi vua để làm người ăn mài đó, đó là bậc Thiên Nhân Sư, bậc tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người, giữa những loài hai chân, bốn chân, những loài nhiều chân, tất cả hữu tình chúng sanh, giữa tất cả các loài có tưởng, không tưởng, có sắc không sắc, Thế Tôn được gọi là bậc tối thượng. Bậc tối thượng đó là cái gì? Là người ăn xin, là người không có một cái địa vị gì trong xã hội hết, là người hoàn toàn từ bỏ tất cả những chấp thủ trên cuộc đời này, tất cả những sở hữu trên cuộc đời này, cho đến cái tôi cũng không còn nữa huống hồ chi là cái của tôi. Hạnh phúc biết là bao nhiêu mà chúng ta đang thừa hưởng cái trí tuệ đó, đang sống trong cái trí tuệ đó, đang làm tăng trưởng, lớn mạnh, phát triển và an trú trong cái trí tuệ đó hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây.

Chúng ta phải thưởng thức được cái kim cương thánh trí đó, vi diệu pháp, tối thượng pháp, bất khả tư nghì pháp như vậy. Chúng ta có chết đi sống lại trăm đời ngàn kiếp, triệu kiếp, tỷ kiếp, ngàn tỷ kiếp mà nếu thời đó không có bậc Chánh Đẳng Giác ra đời làm sao chúng ta nghe được những lời dạy này, những trí tuệ này, những sự thật này. Giữa hơn tám tỷ người trên hành tinh này mấy người được cái trí tuệ này, được cái sự thấy biết, được sự hiểu biết này, được cái thượng nhân pháp tri kiến thù thắng xứng đác bậc thánh này mà chúng ta đang học, đang tu, đang đi trên con đường đó, đi trên đạo, đi trên quả ở trong tiếng gầm sư tử, tiếng rống của con sư tử chúa vang dội núi rừng trời đất. Đức Thế Tôn truyền trao lại cái tiếng sư tử hống này cho chúng ta trong cái bài kinh này, vi diệu không? Nhiệm màu không? Hân hoan không? Phấn khởi không? Hoan hỉ không? Hạnh phúc Không? Sung sướng không?

Mình vui vậy đó rồi mình không còn muốn hơn thua bất cứ cái gì, không còn muốn nắm cái gì, giữ cái gì nữa hết. Tất cả những cái đáng yêu của mình, người thân đáng yêu, tài sản đáng yêu, những sở hữu đáng yêu, thân thể, hình hài, đáng yêu tâm thức này tất cả mình tập từ bỏ nó, buông xả nó, hoặc có cơ hội để mình vùi dập nó càng tốt, cái cơ hội để người ta khinh khi, huỷ nhục, chửi rủa, la mắng, mạ lị là cơ hội rất tốt để cho mình thể nhập, thực ngộ, thực chứng cái trí tuệ đó. Quán như vậy, tư duy như vậy, an trú như vậy suy nghĩ như vậy, sống như vậy thì chúng ta sẽ thấy đó là tiếng rống của sư tử.

"—'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người có trí, hay cho người không có trí?' Nếu trả lời đứng đắn... phải trả lời: 'Cứu cánh ấy cho người có trí, không phải cho người không có trí'. –'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người thuận ứng, nghịch ứng hay cho người không thuận ứng, không nghịch ứng?" Nếu trả lời đứng đắn... phải trả lời: 'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không thuận ứng, không nghịch ứng, không phải cho người thuận ứng, nghịch ứng'." (Trung Bộ Kinh, 11. Tiểu kinh Sư tử hống)

Chúng ta hiểu câu này là gì? Sư cô Nguyên Tú hiểu câu này là gì không?

Sư cô Nguyên Tú: Con kính thưa sư phụ, cứu cánh này dành cho người thuận ứng không phải là nghịch ứng,

Sư Phụ: Không thuận ứng không nghịch ứng, không phải dành cho người thuận ứng, nghịch ứng mà dành cho người không thuận ứng không nghịch ứng. Suy nghĩ cho kỹ, lời kinh không phải dễ hiểu.

Sư cô Nguyên Tú: Con nghĩ không thuận ứng nghĩa là không thuận đối với cái đời này.

Sư Phụ: Rồi không nghịch?

Sư cô Nguyên Tú: Không nghịch ứng là không có chống đối, đối nghịch với cái chánh pháp.

Sư Phụ: Ai giải thích? Ai nói được cái ý nữa, mới một ý kiến. Bây giờ là câu đố chúng ta đó.

Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ theo suy nghĩ của con thuận ứng là thuận theo pháp mà ứng xử, nghịch ứng là nghịch theo pháp mà làm. Thuận không dành cho người thận theo các ác pháp hoặc là nghịch theo các thiện pháp mà làm, mà dành cho người không có tùy thận theo các pháp mà ứng xử.

Sư Phụ: Rồi ai có ý kiến nữa? Vẫn chưa.

Sư cô 1: Con kính trên sư phụ, kính trên quý thầy, quý ni sư cùng toàn thể đại chúng theo con suy nghĩ rằng khi một người mà cứu cánh thì có những cái chuyện hay các pháp thuận hay nghịch đến với họ, họ cũng không có chấp vào đó thì đó mới là cứu cánh của một vị đó.

Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay đi.

Sư Phụ: Thuận ứng, nghịch ứng là cái gì và không thuận ứng, không nghịch ứng là cái gì? Khi có người hợp ý với mình thì mình thích, mà nếu có người trái ý mình thì mình không thích, đó là thuận ứng, nghịch ứng đó. Khi cái chuyện nó đi theo như ý mình muốn thì lúc đó mình tham, mà cái chuyện đó nó xảy ra trái ý mình muốn thì lúc đó mình sân, đó là thận ứng, nghịch ứng đó. Ứng đây là phản ứng, phản ứng đối những cái nhân duyên thận nghịch đến với mình, khi thuận là mình sẽ tham, mình ái, còn khi nghịch thì mình sân, mình bực bội, mình hận thì người như vậy là người không có đạt đến một cái nội tâm bất động. Cho nên cứu cánh ấy cho người không thuận ứng, không nghịch ứng, không phải cho người thuận ứng, nghịch ứng.

Khi cái chuyện vừa lòng mình, cái người vừa lòng mình, cái cảnh mình thích thì lúc đó mình tham, mình ái, mình dục. Khi cái người không vừa lòng mình, cái cảnh mình không ưa hay là cái sự việc mình không thích thì lúc đó mình sân hận, mình khó chịu. Đó là sự phản ứng của mình trước cái thuận và cái nghịch, còn người đạt được một cái tâm phá thân kiến rồi đâu có ai, tôi không có thì có ai thuận với tôi, có ai nghịch với tôi thì người này sẽ không có cái sự phản ứng giữa thuận và nghịch, tâm bình đẳng giữa các người sống không bình đẳng, bậc đa văn thánh đệ tử sống tâm bình đẳng cũng đồng một nghĩa với câu này.

Cho nên người tu còn phe nhóm là không phải người tu, ai thân tôi thương, tôi thích thì tôi chơi, còn mấy người không ưa thì tôi không thích, tôi không chơi, tôi không nói chuyện, tôi không muốn gặp thì người này chưa phải là cái tâm của người tu. Tâm người tu là một cái tâm dung hòa, một cái tâm bình đẳng, có khi cái người ghét mình nhiều mình lại thương người đó nhiều hơn những người khác, giúp đỡ cho họ. Có khi người thương mình nhiều mình lại né bớt, mình nhớ bài bậc đạo sư dạy mình tâm thân ái dung hòa tất cả, không có đặt nặng cái thương ghét bên nào. Vì thế người này thích mình, mến mình, quý mình thì mình chơi thân như chị em vậy, như người trong nhà rồi bắt đầu trổ tập khí, phiền não. Cái người kia mình thấy không thích, không quen thì mình khó chịu, mình không ưa, mình không muốn nói chuyện, lại nói chuyện mình quay chỗ khác thì đâu có người tu gì.

Tâm phải bình đẳng, tâm thương rộng lớn, sống với một tâm thương rộng lớn, cái này cũng là cái pháp hành rất là quan trọng cần phải để ý vì dễ bị lắm. Học vậy đó mà không phải dễ tu, phải nhận diện nó rất là kỹ, nhiều khi ở trong chúng bất an là do cái này, tâm mình không có bình đẳng tâm, mình không có bằng phẳng, không có đồng điều, không có độ lượng, không có rộng lượng, không có bao dung cho nên ta gọi là lượng đại, phước đại. Cái tâm lượng mình bao nhiêu thì cái phước đức lớn bấy nhiêu, thí dụ cái tâm mình chỉ chứa được có năm người thì ở đây chỉ có năm người thôi chứ người thứ sáu là phải đi xuống núi à, phải không? Cái tâm mình nhỏ là trong phòng mình chỉ có một mình tôi thôi, hoặc là chỉ có cái người này thôi, người kia vô tôi không cho vô, không tiếp cái tâm lượng nó bao nhiêu đó thì nó chứa được bao nhiêu đó cho nên trong cái bài dạy con có đoạn:

Sống dung hoà, các con thương mến

Sống dung hòa thương ghét nha con.

Chẳng để tâm nghiêng nặng bên nào.

Tâm thân ái, dung hòa tất cả.

Sống không giận, các con thương mến

Sống bao dung vạn vật trên đời

Sống bao dung như đất và trời

Sống rộng lượng như trời và đất.

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Sống với một tâm thương rộng lớn, phải từ bỏ cái sự yêu và ghét, thuận và nghịch, ưa và không ưa, thương và không thương, hợp và không hợp. Từ bỏ cái ý niệm đó, diệt tận cái đó, đánh đuổi nó hoàn toàn, đương nhiên sẽ có người có duyên với mình, giờ nói theo pháp và thực tế luôn người có duyên với mình họ đến họ chịu nghe mình, họ có cái những cái cảm thọ từ ái với mình, là người đó có duyên pháp với mình thì mình cư xử pháp với họ bằng một cái tình nghĩa, đạo tình pháp lữ, đồng phạm hành thì mình giao tiếp nhiều chút. Còn người không có duyên với mình, không ưa mình, không thích mình thì cái này là thì tự nhiên, cái duyên thôi mà, mình không nên có thái độ tỏ vẻ lại và diệt tận cái suy nghĩ, cảm thọ bất thiện ở trong con người của mình, mình phải trải tâm hiền, tâm từ đến hiền giả. Nếu có một cái cơ hội, có dịp mình sẽ tháo gỡ và cởi mở cái cảm thọ khó chịu giữa mình với người đó để cho bình thường.

Như vậy là sống bình đẳng, sống đồng điều, sống hài hòa, sống chan hòa, sống yêu thương, sống rộng mở, sống độ lượng, sống dạt dào. Đẹp không? Ngọt không? Rộng không? Lớn không? Thì cái đó mới là tâm của người tu, cái này là cả một công trình tu tập, con xin thưa chư tôn và chư hiền từ cái ngày con xuất gia mấy mươi năm trời con để ý cái này rất là kỹ. Cho nên con không có phe nhóm gì, từ ngày đi tu tới bây giờ càng không có tông phái, những cái tư tưởng đó không vô được con. Rõ ràng Đức Thế Tôn nói nước bốn biển chỉ có một vị là vị mặn, giáo pháp của Như Lai chỉ có một vị là vị giải thoát, tại sao tùm lum tá lả như vậy? Con không có chịu nhưng nhờ như vậy cho nên con uống được nước tận nguồn, hương vị của giải thoát.

Cho nên phải chú ý thật kỹ cái tâm này khi sống ở trong chúng, cái này rất quan trọng, một cái người vì cái tâm nhỏ hẹp, cái tâm chấp nhặt, một cái tâm có góc cạnh, một cái tâm có tường vách, có rào chắn như vậy không phải là một người thánh đệ tử, không thể nhập được pháp này vì thân kiến quá nặng. Phải đánh phá cho được cái bờ tường đó, phải mở cho được cái hàng rào đó và phải làm cho tâm mình không có giới hạn đối với bất cứ một ai. Đây là những bậc đồng phạm hạnh cùng những cái chí nguyện cao thượng, thánh thiện, thanh cao như vậy mà mình còn không có hòa hợp được thì mình hòa hợp được với những cái người hung dữ ngoài đời không? Những người có ác nghiệp oan gia với mình tới thì mình nhắm trả nổi không? Cho nên ngày ngày phải để ý cái này thật kỹ.

Tâm phải dung hòa, chan hòa mà nhất là những người mà mình khó chịu là làm cách nào càng sớm càng tốt giải quyết cái cảm thọ đó, tháo gỡ cái cảm thọ đó, giải tỏa cái cảm thọ đó, giải phóng, giải phá cảm thọ đó, giải thoát cái cảm thọ đó để cho mình với người kia nếu không thương được nhau thì bình thường, nếu không thương được nhau thì hãy bình thường, đừng có bất thường. Dạ con nói Tiếng Việt con không có nói tiếng Anh, không nói tiếng Hoa, không có nói tiếng Pháp càng không nói tiếng Pali, con nói tiếng của người Việt Nam, của mẹ đẻ ra cái kinh Nikāya, con nói tiếng Việt của người Việt, cái tiếng mẹ đẻ.

Sống thân ái, dung hòa tất cả, nó ngọt mà nó thấm cái lời của bậc thánh, bậc đạo sư của chúng ta. Sống thân ái, dung hòa tất cả, phải làm cho được cái này, nhiều cái hay, cái phép màu, thực hành được cái này nó phép màu lắm, những cái người hại mình, những người ghét mình, những người không ưa mình nhưng mà cuối cùng người ta thương mình còn hơn cái người đã thương mình trước nay nếu mình mà làm được cái tâm này. Đây là người thật việc thật, con đã làm được những cái điều và có cái kết quả trong cuộc đời của con rất nhiều.

Con thưa quý vị người bệnh nặng đó là cần chăm sóc nhiều hay là đừng có chăm sóc? Bác sĩ đừng thèm dòm tới gì bệnh nặng cho nó chết đi hay là cái người bệnh nặng này được chăm sóc nhiều? Còn cái người bệnh nhẹ chăm sóc ít thôi vậy tại sao mình là bác sĩ mà cái người bệnh nặng mình không dòm tới, mình không thích người bệnh nặng, vậy mình còn lương y như từ mẫu không hay lương y như gì ghẻ? Nhớ kỹ cái này không bao giờ quên.

"—'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người ưa hý luận, thích hý luận hay cho người không ưa hý luận, không thích hý luận?' Nếu trả lời đứng đắn, các Du sĩ ngoại đạo cần phải trả lời: 'Chư Hiền, cứu cánh ấy cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, không phải cho người ưa hý luận, thích hý luận'." (Trung Bộ Kinh, 11. Tiểu kinh Sư tử hống)

Kinh hay lắm, học tới chết thôi, mỗi một cái nhỏ như vậy là mỗi một cái trí tuệ, đừng bao giờ tự mãn trong sự học pháp, đa văn là tài sản của bậc thánh. Hý luận là nói tầm phào, nói phù phiếm, nói chơi, nói lan man, nói miên man, nói không có cái gì hết, nói không có đi đến mục đích, không có liên hệ đến mục đích, nói mà không biết nói cái gì. Cái đó gọi là hý luận, cái nghĩa cạn hơn, cái thô hơn là nói chơi, nói đùa, hý là vui đùa đó, nói chơi, nói giỡn rồi chọc cho người ta giận cái này lâu lâu cũng có nè. Nhiều khi nói vui chơi nhưng vô tình chạm tự ái cái giận, cái tội hý luận nè, tội nói đùa, cái tội chọc ghẹo người ta mà chọc ghẹo này cũng là buông lung phóng dật. Có khi người dễ tánh thì chọc không sao mà cái người khó tánh chọc họ thì họ sân, họ khó chịu mà người chấp ngã nhiều, tự ái nhiều đó mà nó là họ giận, chạm tới là họ giận.

Cho nên người ưa hý luận, thích hý luận, ưa nói chơi, ưa nói đùa, ưa nói phù phiếm, ưa nói chuyện nhảm nhí, ưa nói chuyện này, chuyện nọ, chuyện kia thì người này không đạt đến cứu cánh. Cái miệng còn giao động như vậy thì làm sao cái tâm an tịnh được? Bậc an tịnh trầm lặng mà, làm sao chiêm nghiệm pháp, làm sao quán chiếu pháp, làm sao nhìn thấy lậu hoặc mà ở đó đùa giỡn, chọc ghẹo người ta, nói chuyện này, chuyện nọ, chuyện kia, Đông Chu liệt quốc, nam tàu bắt đẩu, tam quốc chí diễn nghĩa. Vì thế người an tịnh, lắng dịu soi rọi nội tâm mình, cái chỗ này là cái chỗ rất hay khi mình trình pháp đó, trí tuệ hay lắm, mình phải xoáy vào cái hồng tâm, cái trọng điểm của cái bài pháp đó, cái ý nghĩa trong lời dạy của Đức Phật trong cái bài pháp đó muốn truyền đạt cái gì.

Nhiều khi đang quán về khổ thì lên nói con hạnh phúc quá, con vui quá, con sướng quá, Cái đó cũng có nhưng cái đó phụ thôi, cái phần chính để mình thể nhập được cái sự thật tùy theo cái đề tài. Thí dụ bữa đó thiền quán về cái tâm hỷ đi thì lúc đó mình hạnh phúc là trúng, còn thiền quán tâm hỷ lại lên nói khổ thánh đế, bữa nào mà cho quán khổ thánh đế là lên trình bày hạnh phúc. Độc vậy đó chứ, nó lãng xẹt à tức là cái tâm không có sắc bén, không có một cái độ sắc bén, một cái độ tinh vi, một cái độ bắt kịp cái pháp đó đang vận hành và có những cái chỗ cần trình bày ngắn gọn thôi thì lại lưa thưa, lê thê, lếch thếch. Có chỗ cần phải khai triển tất cả những phương diện, khía cạnh thì lại lên nói một câu rồi dạ mô Phật là hết.

Thành ra cái chánh niệm tỉnh giác không phải đơn giản mà cái hai cái chữ này không giải thích hết được. Sáng trời thiệt là lạnh rung thì đem bún với lại mít lên, không thôi đưa rau má, chiều mặc hai ba cái áo lạnh run thì đưa rau má cho mát, nhiều khi giờ con ăn ớt rồi á khẩu luôn. Mình thương là mình phải có hiểu biết, không phải chỉ là mình thích cái gì là mình đưa cái nấy là không phải, cái này để đi ra cái vấn đề chút để mình thấy, là mình phải quán sát nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ chứ không phải ăn là chỉ có ăn mà phải thực dưỡng.

Cho nên thật sự con hay nhắc cái bếp mà biết là tu nhiều, học nhiều lắm, công đức phước báo nhiều lắm. Trong từng cái món ăn vậy là phải để tâm, phải vận dụng tứ như ý túc vào trong đó chứ không phải là muốn nấu cái gì nấu. Thí dụ nếu con làm bếp mà con dở lắm, con làm không được nha, con tùy hỷ với quý vị thôi, con gợi ý chút, thí dụ như cái buổi sáng mình tu xong xả thiền ra rồi, lúc trước con làm hoài còn bây giờ sau này con nhiều khi công việc này kia, mấy lúc trước còn ít người là khi xả thiền thì con cho nhà bếp bưng lên ai uống sữa được thì uống sữa, ai uống nước trà gừng nóng là con bưng lên từng người vậy đó.

Hồi xưa ít người là vậy, còn giờ nhiều quá bưng không nổi, tức là mình phải để tâm thực dưỡng, ăn cái gì cho nó sức khỏe, cho nó tốt vì nhà bếp cực khổ lắm, nhọc nhằn lắm. Con biết nhưng mình phải tăng thượng, hướng thượng, tất cả mọi cái mình phải để tâm, phải học hỏi hết, mình muốn cho nó viên mãn là mình phải học nhiều, để tâm nhiều, nghiên cứu nhiều. Bây giờ học rất dễ, lên mạng bấm ra cái gì thực dưỡng nhiều lắm, không cần phải thịnh soạn đâu, khi con đi qua Úc, con lại một cái chùa mà một Hòa Thượng này cái tâm rất là tốt, tất cả các thầy Việt Nam qua giảng pháp hòa thượng mời về chơi giảng pháp. Bữa đó con lại là con đàm đạo uống trà với hòa thượng, buổi sáng con vô là cúng quả đường buổi sáng con ăn tô cháo trắng mà con thấy đầy rẫy hương vị của thiền môn.

"- Này các Tỳ-kheo, có năm lợi ích này của cháo. Thế nào là năm?

Trị đói, trừ khát, điều hòa phong, làm sạch bọng đái (hay thuyết quản) và tiêu hóa các đồ ăn sống còn lại.

Này các Tỳ-kheo, có năm lợi ích này của cháo" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XXI. Phẩm Kimbila, (VII). Cháo)

Đức Phật ở trong kinh cũng nói lợi ích của cháu trắng nhưng mà nhiều khi con kêu nấu đó mà con chờ hoài, con thấy hiếm được gặp lắm. Ở trong Thiền môn là phải ăn cháo trắng với lại sáng mình dùng trễ nữa, trưa sát bên rồi, có hai ba tiếng là tới rồi nên ăn cháo trắng dễ tiêu, nó nhẹ thì những cái đó rất là quý, phải để ý rất nhiều rồ Thí dụ như ai có bụng đói thì ăn thêm bánh, chuyện đó dễ giờ đâu có thiếu đồ ăn đâu, bánh trái thiếu gì cho nên thật sự nếu mà nói vi tế thì cái gì cũng phải học hết, cái gì cũng phải để tâm, cái gì cũng phải suy tư, cái gì cũng phải quán sát từng chút, từng chút, từng chút một như vậy thì cái gì cũng có hiệu quả, cái gì cũng thành công, cái gì cũng đưa đến cái viên mãn hết mà mình phải để tâm học hỏi rất nhiều. Còn nếu mình tự mãn, mình hài lòng, mình bằng lòng, mình vừa lòng là mình đứng lại chỗ đó, không có cơ hội tiến bộ.

Thành ra là hôm nay chúng ta thấy phần đầu của bài kinh này là chúng ta nghe được tiếng gầm sư tử của Đức Thế Tôn. Mình nhớ những cái tiêu chuẩn của người thật tu, cứu cánh là một cho người không tham, không sân, không si, không ái, không chấp thủ cho người có trí, cho người vượt lên trên thuận nghịch chứ không có chạy theo cái thuận nghịch của thế gian, người không có ưa hý luận thì đó là những cái đặc điểm, cái đặc tính, cái đặc chất của một người chân tu thật học thánh đệ tử.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la