Truyền Thống Tu Tập Tốt Đẹp - Bát Chánh Đạo
TINH HOA NIKĀYA
TRUYỀN THỐNG TU TẬP TỐT ĐẸP
BÁT CHÁNH ĐẠO
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức chư vị hiền trí, chiều hôm nay chúng ta tiếp tục nghe về tinh hoa Nikāya tập I, truyền thống tu tập trong Nikāya, kinh Trung Bộ, tập II, bài 83.
"Nhưng này Ananda, truyền thống tốt đẹp ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn và này Ananda, nay thế nào là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này Ananda, đây là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Này Ananda, về vấn đề này, Ta nói như sau: "Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta". Này Ananda, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Vậy này Ananda, Ta nói với Ông: 'Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, các Ông hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta'.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy" (Trung Bộ Kinh, 83. Kinh Makhàdeva)
Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, hãy tiếp tục duy trì, các vị chớ có thành người tối hậu sau ta. Truyền thống tám đúng cao thượng của bậc thánh này do ta dùng mồ hôi, nước mắt và máu do ta trải qua vô lượng kiếp trong sanh tử, do ta bỏ cung vàng điện ngọc, bỏ vương vị quyền uy, do ta bỏ sinh mạng thân tâm để chứng ngộ. Đây là truyền thông tốt đẹp do ta thiết lập, các vị hãy tiếp tục giữ gìn tu tập, Hãy cố gắng nỗ lực duy trì, đừng có trở thành người cuối cùng tối hậu sau ta.
Khi hai người hiểu được chánh pháp và có sự đứt đoạn truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn người ấy là người tối hậu cuối cùng, chánh pháp sẽ bị đoạn diệt, chấm dứt trên cuộc đời này. Con thật sự là lo lắng, đọc những lời này không cầm được dòng lệ, như một lời di chúc, di giáo, đinh ninh, dặn dò, trao gọi từ đấng từ phụ, từ người cha thương yêu nhất, vĩ đại nhất, từ đấng đại giác Thế Tôn. Bài này chúng ta đã thiền quán một lần khi tới đây là không học tiếp theo được nữa, chúng ta đã dừng lại thiền quán đầy nước mắt ở tại Vân Thủy Đường và hôm nay một lần nữa đọc đến đây con thật sự cũng là không thể cầm được, không thể ngăn được hình ảnh của bậc đạo sư truyền pháp cho con. Nếu chúng ta không nỗ lực thì truyền thống tốt đẹp này do Như Lai thiết lập sẽ bị đứt đoạn, chúng ta đã nhìn thấy hàng ngàn năm qua đã bị đứt đoạn.
Hãy quán chiếu cho sâu sắc những lời di giáo, di huấn này, di chúc này, truyền thống tốt đẹp, cao thượng, thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng của bậc thánh này là truyền thống tốt đẹp do Như Lai thiết lập, chúng ta hãy tiếp tục giữ gìn, thực hành thấy biết chân chánh, suy nghĩ chân chánh, nói lời chân chánh, hành động chân chánh, nuôi mạng chân chánh, siêng năng chân chánh, quán niệm chân chánh và định tâm chân chánh. Đây là một đường lối tu tập, một phương pháp chân chánh, chân thiện hoàn hảo và thiện xảo mà Đức Phật tự mình thấy biết, tự mình giác ngộ, tự mình phát giác, phát hiện ra. Ngài đã tìm thấy một đường lối tu hành chân chánh, hoàn hảo để tự mình thành đạo và để giúp chúng sanh đi đến sự diệt tận khổ đau, chấm dứt sanh tử.
Trước đó trong cái thời điểm mà Thế Tôn chưa có thành đạo thì ở tại Ấn Độ không có một ai khai mở, hiển lộ, chỉ bày một con đường tu tập hoàn hảo, thiện lành đến như vậy. Chỉ cho đến khi Thế Tôn với trí tuệ tròn đầy, với đôi mắt tâm sáng tỏa nhìn thấy rõ bát chánh đạo này, một con đường, một cái đạo lộ, một cái sự tuần tự, hoàn hảo đưa đến sự chấm dứt sống chết, phiền não, khổ đau. Ngài đã tu tập, ngài đã thực hành và ngài đã chứng đắc, sau đó ngài mới trình bày, mới giới thiệu, sát lập cho chúng sanh một đường lối tu học tối thượng như vậy, tuyệt diệu như vậy. Vì vậy mà Đức Phật nói rằng tám thánh đạo này là truyền thống tốt đẹp mà ngài đã thiết lập cho cuộc đời này, tức là truyền thống tu tập của tám sự chân chánh, người tu chân chánh nào cũng phải có tám sự chân chánh này, người tu nào cũng phải có đầy đủ tám đúng này vì tám đúng này đưa đến một sự thành tựu một cái thân tâm cao thượng, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, tám đúng này đưa mình tới cái chỗ hoàn thiện viên mãn.
Tám điều chân chánh này một người tu cần phải biết, cần phải tu tập, thực hành thì mới được gọi là một người tu chân chánh. Người tu chân chánh nào cũng cần phải có sự thấy biết đúng, thấy biết rõ ràng, thấy biết chân xác chính xác về thân về tâm và về thế giới. Vị nào cũng cần phải biết rõ những sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang hoạt động thế nào trong thân tâm, chúng đang áp bức, khống chế thân tâm như thế nào, vị này cần phải thấy biết rõ những cặn bã, những rác bẩn, những cấu uế, lậu hoặc đang có trong ngũ uẩn trong tự thân. Như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có chánh tri kiến, cần phải thấy biết đúng về thân tâm của mình.
Chỗ này chúng ta mới nhìn lại tại sao mình tu mà mình không có kết quả? Tại sao mình tu mà mình không có thấy hiệu quả? Thậm chí mình tu cả cuộc đời mà không đi đến được thành quả hay là thánh quả? Vì từ cái cửa ban đầu mình không đi đúng rồi, cái thấy đúng này là thấy biết rõ ràng, chính xác về thân và tâm của chính mình mà bây giờ mình vô tu mình không nhìn thấy của mình, không nhớ oai nghi, hành động của mình, không niệm những cái yếu tố cấu thành cơ thể này và trong con người này, nó có cái gì mình không biết, sự tập khởi, sanh thành cái thân này, sự duy trì, sinh tồn, tồn tại của thân này cũng như sự chấm dứt thân này trải qua bao nhiêu giai đoạn mình không biết.
Mình đi dòm thân người khác, mình đi nhìn cái cử chỉ, hành động của người khác, mình đi phán xét, soi mói, bươi móc thì từ lúc đầu tiên đó là đã đặt tâm sai hướng tức là tà kiến, thậm chí mình lại còn đặt một cái hướng là mình xuất gia rồi mình sẽ làm cái này, làm ông này bà này mục đích của mình là làm giảng sư, làm trụ trì, làm thiền sư, làm gì đó thì nó hoàn toàn từ cái bước đầu đã sai. Hay là mình muốn được cái gì đó, những cái xa rời, viễn vong, tưởng mơ vu vơ mà mình không có đặt cái trọng tâm vào cái thấy biết đúng về thân và tâm của chính mình. Vì thế từ cái đầu tiên mình đi lệch trong khi ở đây chúng ta thấy cái rõ biết, thấy biết quan trọng nhất là rõ biết về thân tâm và thế giới này tức là sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang hoạt động như thế nào ở trong thân tâm, chúng ta đang bị nó áp bức, khống chế như thế nào.
Chính vì vậy lúc đầu bậc đạo sư nói với con là con không có chịu, không có chấp nhận, con phải đi kiểm tra một vòng tất cả các thiền viện lớn nhất ở trên thế giới. Người nói không có một cái đạo lộ chân chánh của Đức Phật, con không thể chịu nổi cái bom nguyên tử này, ngài nói nó không có ai hết đã làm cho con rất là sốc. Bây giờ con hỏi quý vị chúng ta đã tu học chúng ta thấy, ở đâu chỉ cho mình nhận diện ngũ uẩn, ngũ uẩn là thân tâm của mình mà mình không biết mà mình tụng ro ro hằng ngày, tụng thuộc lòng, thuộc rào rào từ con nít mười tuổi cho đến bà già tám mươi tuổi đều thuộc ro ro tâm kinh Bát Nhã nhưng khi hỏi tới ngũ uẩn thì tới tiến sĩ Phật học cũng trả lời ấp a ấp úng. Bao nhiêu những lý thuyết, bao nhiêu những kiến thức, bao nhiêu những cái suy luận, suy tưởng mà không thể nhìn trực diện, trực tiếp, trực chỉ vào thân tâm của mình.
Hỏi tâm là cái gì là ấp a ấp úng, ú a ú ớ, lờ mờ. Với một sự tu tập mà không thấy rõ được thân tâm của mình là từ cái bước đầu chánh kiến không được thành tựu thì làm sao có những bước thứ hai, thứ ba cho đến thứ tám, mà mới vô tu lại dạy thiền định. Đây là cái chỗ phước báo chúng ta ráng cố gắng nhận diện ngũ uẩn liên tục ngày đêm, bất cứ mọi lúc mọi nơi, đó là con mắt tuệ, con mắt pháp, là con mắt thánh, là con mắt Phật, là con mắt trí. Cho nên hồi sáng này một chú lớn tuổi chú mới học được mấy ngày chú trình pháp hồi xưa con cho cái ngũ uẩn đó là mình, là của mình, là tôi, là của tôi, bây giờ mình mới biết ngũ uẩn nó không phải mình, không phải của mình. Một cái câu nói đó thật sự nó đã là một sự động đất dữ dội, địa chấn, một sự rung chuyển, một sự thủ chuyển, tất cả chấp thủ bị rung chuyển, rúng động hết, một cái câu nói đó là một cái câu tuyên bố hùng hồn, dõng dạt, mạnh mẽ là con đã thấy đường, trước nay là con mù.
Chúng ta có hoan hỉ không? Nhưng mà quan trọng là mình thấy đường rồi mình có giữ cái đôi mắt hay không? Hay là tiếp tục nhắm trở lại, tiếp tục mù lòa trở lại, tiếp tục hôn mê, ngủ gục trở lại? Lúc nào mình không nhận diện ngũ uẩn tức là lúc đó mình sống trong mù lòa, sống trong vô minh, sống trong bản ngã cho nên lâu lâu các huynh đệ gặp nhau làm bài tập với nhau, không phải đợi tới con kêu mời làm bài tập với nhau, "ngũ uẩn đang khó chịu phải không?". Ngũ uẩn nó khó chịu chứ mình đâu có khó chịu, nhất trí không? "ngũ uẩn giờ đang thích ăn cái món ngon này phải không?", ngũ uẩn đang thích chứ mình không có thích, "ngũ uẩn đang si phải không?", phải tác ý liền "ngũ uẩn si chứ thánh trí đâu có si", "ngũ uẩn sân chứ thánh trí đâu có sân", "ngũ uẩn tham chứ thánh trí đâu có tham". Bây giờ chịu sống với thánh trí hay chịu sống với ngũ uẩn?
Nhìn thấy ngũ uẩn là thấy Phật, thấy ngũ uẩn là thấy pháp, thấy ngũ uẩn là thấy được cái vô ngã, thấy được ngũ uẩn là phá được cái thân kiến, thấy được ngũ uẩn là ly tham, ly sân, ly si. Nó xác định từ cái bức đầu tiên của mình, tất cả là những ngũ uẩn không có ai hết, xác định rõ như vậy và trong ngũ uẩn này đầy những dục, đầy những sân, đầy những cái tôi, ta, một câu nói đó thôi là nó đã tóm thâu cái cốt lõi của kinh tạng Nikāya rồi. Thấy được hai cái điều đó thôi đã là khổ và diệt khổ rồi đó, thấy được ngũ uẩn và thấy được dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã trong ngũ uẩn. Nó là cái tủy mà mấy cái câu đó là niệm hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây, bất cứ lúc nào cũng niệm còn hơn mà niệm chú vãng sanh chú đại bi.
Cái đống ngũ uẩn này là cái đóng khổ, cái đống vô thường, vô ngã, cái đống này là cái đống đầy rẫy những cái ứ trong cái dục, cái tham, cái sân, cái vô minh. Cứ niệm hoài, nhắc hoài, tác ý hoài vậy đó, đó là chúng ta qua chánh tư duy. Người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những suy nghĩ về dục, về ái, về tham, sân, si, bản ngã và cần nuôi dưỡng những suy nghĩ về ly dục, ly sân, ly ngu si, như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có chánh tư duy. Nó bực lên thì tác ý "mày sân vừa vừa phải phải thôi nha, cái sân này là cái ngu, cái giận này là cái ngu, cái tham này là cái si ám, cái bản ngã này là cái khổ đau", mình cứ la mình, nhắc mình, rầy hoài.
"Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỳ-kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 379)
Tự mình đi đến mình rồi tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình la mắng mình đó là chánh tư duy, đó là như lý tác ấy, đó là tuệ lực. Tự mình đi đến mình tức là cảm giác toàn thân, tức là nhận diện ngũ uẩn gọi là tự mình đi đến mình, mình không có đi đến người, mình không có đi đến trời nào. Cái này mới là tối thượng, tự mình đi đến mình không có đi đến ai hết, không có tới Cần Thơ, Cà Mau, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Hà Nội gì hết, không có Mỹ, Úc, Âu, Á gì hết, chẳng cần đi đâu hết, tự mình đi đến mình. Cái đó là cái sự đi tối thượng, sự đi vô thượng, sự đi cao thượng, sự đi thánh thiện là tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình. Đừng dò xét người ta, mình càng dò người ta, càng xét người ta thì mình càng phiền não, càng khó chịu, càng bậc bội mà nếu mình tự dò xét mình thì mình nhìn ra được cái khó chịu, cái bực bội, cái phiền não của mình.
Tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình khi mình dò xét mình thấy được những cái cấu uế, những cái dục nhiễm, những cái sân hận, những cái tâm hơn thua, ngu si, tật đố này thì tự mình chỉ trích mình "tại sao tâm vậy tâm? Tâm ơi là tâm, sao mà tâm cứ hôn mê hoài vậy tâm? Cứ ta đây hoài? Tâm cứ buông lung phóng dật hoài, tâm cứ cẩu thả như vậy, lười biếng, biếng nhát như vầy rồi tiếp tục làm heo, làm bò, làm chó, làm ngựa, tiếp tục làm ma trơi, làm cô hồn, làm ngạ quỷ vất vơ vất vưởng rồi tiếp tục xuống địa ngục hay sao? Tiếp tục cứ khổ đau hoài như vậy với những dòng nước mắt tận cùng thương đau hay sao mà tâm ngu, tâm mê? Cái tâm đáng thương, cái tâm tội nghiệp, cái tâm vật vờ, cái tâm lờ mờ, cái tâm mù mờ".
Cứ nhắc hoài, con thưa chư tôn đức là cứ nhắc, chư hiền trí là nhắc hoài, cứ rảnh nhắc là hoài từng giây, từng phút luôn, nhắc nhớ, nhắc nhớ, nhắc nhớ. Nhắc như vậy là tự mình chỉ trích mình, tự mình la mắng mình, đó là mình đánh phá, đó gọi là chánh niệm, chánh tinh tấn, nó có trong đó luôn. Từ cái thấy đúng đó rồi nó nghĩ đúng, nói đúng, làm tất cả những việc đúng, nó đưa mình đến một cái một cái sự nỗ lực, một cái sự quyết tâm, một sự cố gắng, một sự nghĩ nhớ, tập trung tâm ý là định đúng đó, quán đúng. Suốt ngày không có làm cái gì quan trọng bằng làm cái vấn đề tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình la mắng mình để hoàn thiện chính mình. Cái việc đó là việc làm quan trọng nhất trong tất cả các việc làm, đó gọi là bổn phận sự, gọi là phạm hạnh, đức hạnh thanh cao của một người tu để mình đi đến chỗ trong sạch, thanh tịnh.
Tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình la mắng mình, bốn câu này là bí kiếp đó, thực hành bốn câu này là bí kiếp, đó là cái cốt lõi bậc đạo sư truyền dạy cho con. Hãy thường xuyên nhắc nhở, la rầy tâm mình, nhiều khi nó có một cái cảm giác an toàn là lập tức mình la nó liền, rầy liền "làm gì có cảm giác an toàn ở đây hở cái tâm ngu? Tất cả đây là nguy hiểm, chỗ này có thể động đất vùi chôn mình ngay tại chỗ này, không có bình an ở trong sanh tử, trong đời sống này, không có một cái gì bình an hết, không có một cái gì an toàn ở trong cái sanh, già, bệnh, chết, không có một cái gì an toàn ở trong tham, sân, si, dục ái, không có một cái gì an toàn ở trong vô thường, khổ não và vô ngã này, không có sự an toàn". Mình dạy nó riết rồi cái tâm của mình sẽ nghe lời, nó sẽ thấm thía rồi từ từ nó sẽ thể nhập và nó chứng nhập vào trong những cái trí tuệ thâm sâu đó.
Khi nó thể nhập vô cái trí tuệ này nó sẽ xả bỏ tất cả những cái dục, tham, ái của cuộc đời, nó sẽ đi đến cái chỗ mà nãy Thế Tôn nói yểm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn. Dầu nó chưa đi đến tột cùng ít nhất cũng đi được nửa đường được sáu – bảy chục phần trăm mà phải từng bước như vậy rồi mới tăng thượng. Còn giờ mình cứ tu thì tu, học thì học nhưng trở ra mình cứ trơ trơ vì mình không có nhắc, không tác ý gì hết thì tu vậy không biết tới ngày nào mới thành công. Từng cái bước chân mình cũng phải tác ý, từng cái công việc mình phải tác ý, từng cái suy nghĩ mình phải có chánh kiến ở trong cái suy nghĩ, trong cái cảm giác, trong cái hình bóng, trong suy nghĩ, nhận thức, mình đều đưa cái trí tuệ đó vô và mình bắt cái tâm, mình áp đặt cái tâm mình phải đi theo cái thánh trí, không cho nó đi theo phàm tình, không cho nó đi theo thường tình.
Áp đặt nó, huấn luyện nó, giáo dục nó, dạy dỗ nó, quản giáo nó và làm cho điêu luyện, rèn luyện, tôi luyện, khổ luyện cái tâm. Đó là sự tinh cần, tinh tấn ở trong bát chánh đạo chứ không phải tu là để trơ trơ vậy cho tự sanh tự diệt, không phải. Khi mình thấy đúng, mình nghĩ đúng như vậy thì tự nhiên lời nói của mình sẽ phù hợp, người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những cách nói bất thiện, những lời nói bất chánh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời nhảm nhí, cần thực hành những lời nói hiền thiện, hiền lành, ái ngữ. Như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có chánh ngữ nói đúng, người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những hành động bất thiện, bất chánh, bất nhân, từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, dâm dục và cần phải thành tựu những hành động hiền thiện, cao đẹp, như vậy là chánh nghiệp, là những hành động chân chánh giữ gìn được năm giới của người Phật tử hoặc là những cái giới mình đã thọ của người xuất gia.
Người tu chân chánh nào cũng phải cần từ bỏ những hình thức nuôi mạng bất chánh, bất thiện, không đúng pháp và cần thành tựu sự nuôi mạng sống một cách chân chánh đúng pháp, đó gọi là chánh mạng. Người tu chân chánh nào cũng cần từ bỏ những siêng năng sai lầm, không đúng pháp, từ bỏ những sự nỗ lực tinh cần không có khả năng đưa đến đâm thủng vô minh, diệt tận vô minh, diệt tận khát ái, vị này cần phải có những nỗ lực tinh tấn đối với những việc chân chánh, cần phải làm công việc của một người tu là tinh cần chế ngự các căn, siêng năng đoạn tận những tà tâm ý, tinh cần tu tập bảy pháp đưa đến giác ngộ bảy giác chi và tinh cần hộ trì những thiện pháp đã thành tựu, đó gọi là chánh tinh tấn.
Chỗ này mình phải để ý kỹ, nhiều khi mình nghĩ mình siêng mà cái siêng đó là đúng hay là sai, cái siêng đó là chánh hay là tà, cái siêng đó có đưa đến ly tham không, nó có diệt sân, nó có phá ngã không hay là cái siêng để mình làm cho mình càng thêm những cái ái, những cái tham đối với những hiện hữu vật chất này, hay là mình siêng để chạy theo danh theo lợi, hình thức bề ngoài, hay là siêng để thể hiện cái tôi, cái ta, cái bản ngã, phát huy, khuếch trương, tăng trưởng cái sự chấp thủ ở trong năm uẩn. Cho nên ở đây nói cái siêng của người tu chế đoạn tu trì, siêng chế ngự sáu căn, đoạn trừ tham, sân, si, tu tập tứ niệm xứ hoặc là bảy giác chi và giữ gìn các thiện pháp thì cái đó mới là cái siêng đúng.
Người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những tà niệm, từ bỏ những tâm niệm, những quán niệm sai lầm, cần tu tập thành tựu những tâm niệm, những quán niệm chân chánh đúng pháp, có khả năng đưa đến đâm thủng vô minh, thành tụ trí tuệ về tự thân, thấy biết rõ những cấu uế trong thân tâm và nhiếp phục được những cấu uế này, đó gọi là chánh niệm. Chúng ta thấy cái chữ chánh niệm ở đây không có dừng lại, hồi xưa mình học chánh niệm là đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm, đi cho nhẹ nhàng, ngồi cho trang nghiêm, đứng cho ngay thẳng, cái đó là chánh niệm mà đó mới có phần nhỏ niệm oai nghi hành động thôi nhưng đâu phải dừng lại ở bề ngoài đó đâu, mà còn phải niệm như thế nào, mình nhớ như thế nào để có thể xuyên thủng được cái khối vô minh uẩn to lớn
Như vậy niệm sao để đâm thủng vô mình? Niệm như thế nào để đâm thủng vô minh? Bây giờ con mời tới các chư tôn, chư hiền chia sẻ niệm sao để đâm thủng vô minh, niệm sao để đoạn tận khát ái, niệm sao để thành tựu trí huệ về tự thân, niệm sao để tẩy sạch tất cả các cấu uế. Con mời chư tôn, chư hiền chánh niệm như thế nào để đâm thủng vô minh, nhớ nghĩ như thế nào để phá vỡ được cái bản ngã, suy nghĩ như thế nào phải diệt tận được những khát ái, bây giờ mình trình bày về chánh niệm đi, nói vắn tắt vào trọng tâm, mỗi người trình bày sự tu học của mình.
Sư cô Ấn Đức: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ sư phụ tôn kính, con chân thành đảnh lễ quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí tôn kính. Con kính bạch sư phụ cùng toàn thể đạo tràng, ngay những cái phút đầu tiên ngồi vào đây còn được nghe những lời dẫn thiền của sự phụ thì con rất hạnh phúc. Hạnh phúc nhất là giây phút con nghe đến cái sự vượt lên, đạp đổ tất cả những cái tham lam đối với cuộc sống thế tục và dứt bỏ ra để tập sống đời sống phạm hạnh và con nghĩ đến Đức Thế Tôn, đến thái tử Tất-đạt-đa.
Sư Phụ: Câu hỏi là cái gì trả lời ngay cái câu hỏi.
Sư cô Ấn Đức: Mô Phật, con kính bạch sư phụ cùng quý thầy, các quý sư cô cùng đại chúng, đã được sự chỉ dạy của sư phụ trong cái quá trình tu học cùng với đạo tràng thì bản thân con cũng đã tập được cái việc chánh niệm tức là tập niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm pháp theo những lời dạy của Đức Phật trong kinh tứ niệm xứ. Trong cái phần niệm thân có sáu nội dung con đã để tâm đến thực hiện cái việc chánh niệm này và con cũng nhìn nhận thấy cái việc chánh niệm của mình trong quá trình tu tập mặc dù còn rất nhiều những cái thiếu xót, những lỗi lầm, còn nhiều lúc buông lung phóng dật và cũng còn bị ngũ uẩn dẫn dắt.
Tuy vậy thì con cũng nhận rõ được cái việc chánh niệm của con trong đời sống hằng ngày cũng như tu tập có những cái sự tiến bộ, con cũng đã nhìn nhận vào thân tâm của mình và cũng có dò xét cái tâm của mình, cũng có những cái sự chỉ trích tâm của mình những cái sai trái, cũng có cái sự la mắng. Con nghĩ đến cái phần này thì con có một cái sự hoan hỉ, hoan hỉ là con đã nhận ra cái thân bất tịnh này là cái tâm của con rất xấu xa và tồi tệ. Có một lần con đã trình pháp trước sư phụ và đại chúng đó là cái tâm này là một con quỷ cái, là ác ma và sau một thời gian tu tập thì con lại được nghe lời trong trưởng lão Tăng kệ cũng gọi một nữ nhân với một cái tâm dơ bẩn định mua chuộc ngài và ngài cũng đã dùng cái từ một con quỷ cái. Con thấy rất là hạnh phúc, con tự khích lệ mình dù chưa nhiều nhưng mà mình cũng đã nhìn được cái thân tâm của mình, con đã nhìn ra cái rác rưởi, dơ bẩn ở cái thân này. Trong việc tu tập con đã nhận thấy rất rõ cái trí ngũ uẩn trong con đã có một cái sự khẳng định ban đầu là ngũ uẩn này không phải là con, những cái xấu xa, đê tiện, bỉ ổi của cái tâm này, cái thân này nó đã làm trong quá khứ vì một cái sự vô minh, nhận ngũ uẩn này là mình và con đã phơi bày ra trước sư phụ cũng như là đại chúng.
Con thấy con rất hoan hỉ về cái điều này và cái việc mà con thọ trì các pháp thì con thấy trong con mà nó nổi bật đó là con có một cái định tướng về bộ xương. Tức là bây giờ con rất là hoan hỉ, mỗi khi làm một cái việc gì thì thường con cũng đã nhớ đến trong cái thân này là một cái bộ xương, nó đang ngồi, nó đang hoạt động, nó đang làm việc. Lúc nào mà nhãn đi con đã thấy lúc đó như vậy con lại sống trong vô minh và con sẽ rất tiếc và con lại quay trở lại, điều đó làm con rất hạnh phúc và sư phụ cho con cũng trình bày cái thiện pháp về cái bộ xương mà con đã tu tập đến cái thời điểm này.
Sư Phụ: Thôi được rồi.
Sư cô Ấn Đức: Mô Phật. Con xin biết ơn sư phụ và đại chúng đã chú ý lắng nghe, có những gì sai sót con thành tâm sám hối mong sư phụ và đại chúng chỉ dạy cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Sư Phụ: Mời đại chúng đứng lên đảnh lễ bốn thánh trí ngũ uẩn.
Thầy Thiện Huệ: Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau. Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái. Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái. Bát chánh đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.
Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng của bậc thánh.
Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ làm đúng, sống đúng, siêng đúng của bậc thánh.
Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ quán đúng và định đúng của bậc thánh.
Sư Phụ: Con nhắc lại mình trả lời câu hỏi thôi, là mình suy nghĩ như thế nào để đâm thủng vô minh, đoạn tận khát ái. Mời cho chúng ta tiếp tục trả lời, câu hỏi của con là vậy đó, đừng có nói lòng vòng, suy nghĩ thế nào để đâm thủng vô minh, đoạn tận khát ái, trả lời thẳng vô cái câu hỏi đó thôi.
Chú Hậu: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, nùi giẻ rách con kính bạch sư phụ, kính bạch sư thầy, Sư Ni, sư cô và các bậc hiền trí. Dạ trong thời gian qua tu học con niệm để thoát đi khát ái, tham ái, tham dục đó là tất cả thứ con nhìn đều là đất, nước, gió, lửa. Ăn đều là đất, uống đều là đất.
Sư Phụ: Uống là nước.
Chú Hậu: Dạ uống là nước, suy nghĩ này không phải là tôi, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi và hằng ngày con đều niệm hộ trì con mắt, hộ trì tai; mũi; lưỡi; thân và ý. Khi có một xúc nào con đều nhìn vào thân tâm, khởi lên thì con lại biết và khi khởi lên những cái việc ác bất thiện pháp thì con đều im lặng, im lặng như bậc thánh khi có một sự nóng lên.
Sư Phụ: Im lặng sao? Nổi nóng lên thì lúc đó làm sao?
Chú Hậu: Dạ con nổi nóng lên thì con chỉ cười và quán sát thân tâm, không cho cái khẩu này phát ra.
Sư Phụ: Rồi có đuổi cái cảm thọ nóng đó không?
Chú Hậu: Dạ con có tốt.
Sư Phụ: Tốt lành thay! Tốt.
Chú Hậu: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô, các bậc hiền trí. Con xin được mạo muội trả lời câu hỏi của sư phụ là làm thế nào để đâm thủng vô minh và khát ái, theo con nghĩ phải vận dụng bát chánh đạo là thấy đúng, nghĩ đúng.
Sư Phụ: Nghĩ đúng như thế nào?
Phật tử 1: Dạ nghĩ đúng là khi mà con được về tu tập trong đạo tràng Nikāya thì con nghĩ đây là con đường đúng. Nói đúng, làm đúng, siêng đúng và định đúng, dạ con xin lỗi vì con không nhớ rõ hết.
Sư Phụ: Cô biết vô minh là gì không?
Phật tử 1: Dạ vô minh là sự ngu si vì chấp thủ thân ngũ uẩn này là mình ạ.
Sư Phụ: Bây giờ muốn phá vô minh thì làm sao?
Phật tử 1: Dạ là cần phải nhìn rõ, nhận diện ngũ uẩn và thấy rõ vô minh không là mình và nhận rõ tham, sân, si.
Sư Phụ: Rất là tốt, rất tốt, tốt.
Phật tử 1: Dạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con xin bạch trên sư phụ, trên quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Câu hỏi của sư phụ làm sao đâm thủng vô minh cũng tức là thực hành tám đúng thì mới đâm thủng được vô minh, thứ nhất là thấy đúng, suy tư đúng, nói đúng, sống đúng, làm đúng, tinh tấn quán đúng và định đúng.
Sư Phụ: Rồi tốt, mạnh mẽ lên đừng có sợ.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính trên sư phụ, con kính trên quý Ni Sư, quý thầy, Quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Dạ con xin trả lời câu niệm thế nào để xuyên thủng vô minh và dứt sạch khát ái, dạ con học và con hiểu thì nghe lời sư phụ dạy phải thấy rõ được sự khổ, chấm dứt khổ, phải thấy rõ khổ tập khởi, sự chấm dứt khổ và đi trên con đường giải thoát. Có nghĩa là trước tiên phải thấy được thân tâm mình, thấy được ngũ uẩn, thấy được bốn thánh đế là hành trì cho pháp, hành trì tứ niệm xứ, hành trì pháp ở được trong thân thì mình phá được vô minh, là xuyên thủng được vô minh và tám chánh đạo sẽ là phương pháp diệt tận hoàn toàn được vô minh thì sẽ dứt được khát ái. Dạ theo con hiểu là như vậy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính bạch trên sư phụ, quý sư thầy, quý Ni Sư, quý sư cô cùng chư hiền trí. Con xin trả lời câu hỏi của sư phụ suy nghĩ như thế nào để phá được vô minh thì con nghĩ là mình suy nghĩ những gì mà khi an trú những suy nghĩ đó thì vô minh được đoạn giảm từ từ. Nói rõ hơn thì trước tiên là mình phải phá được năm triền cái để cắt đứt nguồn thức ăn của vô minh, không để cho nó lớn hơn nữa. Tiếp theo là mình phải nghe kinh sách, giao thiệp với các bậc chân nhân để mình tích tụ các thiện pháp, tích tụ các diệu pháp dần dần có lòng tin. Khi có lòng tin thì mình bắt đầu thành tựu những pháp khác như là như lý tác ý, chánh niệm tỉnh giác, hộ trì các căn, phá đi ba ác hành. Khi không có ba ác hành thì không có năm triền cái thì từ từ vô minh nó sẽ nó sẽ muội lượt dần dần. Dạ con xin hết ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Rất là tốt. Lành thay! Lành thay! Rất tốt.
Phật tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin được trả lời câu hỏi của sư phụ, dạ theo con là thực hành tứ niệm xứ nhưng để thực hành tứ niệm xứ cách đúng thì phải biết nhận diện ngũ uẩn và cái đích đến là bát chánh đạo. Mục đích của niệm tứ niệm xứ thì để biết được cái thành phần, cái cấu trúc, cái thể của cái thân này nó là tứ đại, cái chất mà để tác thành lên cái thể của nó là ô trược và cái tính tình của nó là những cái cấu nhiễm, những cái tham, sân, si và những cái tập thức, tập khí và cái bản chất là vô thường, khổ, vô ngã. Dạ con xin trả lời như vậy ạ.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Sư cô 2: Dạ con kính bạch trên sư phụ cùng quý thầy cô và các chư vị hiền trí có mặt ở nơi đây. Con xin phép được trả lời câu hỏi của sư phụ là làm sao phá được vô minh và tham ái, đó là theo sự học hiểu cạn cợt của con thì con thấy đó là sự chấp thủ của ngũ uẩn đó là phiền não và khổ đau, ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và tham ái. Mình chặt đứt chấp thủ sẽ phá vỡ được vô minh và tham ái. Dạ con xin trả lời theo ý đó.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Sư cô 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ con xin phép được trả lời câu hỏi, theo con nghĩ thì niệm cái gì để đâm thủng vô minh và khát ái thì theo con niệm thân, niệm khẩu, niệm ý. Niệm thân thì hằng ngày mình an trú vào trong ba pháp, chánh niệm tỉnh giác và cảm giác toàn thân để mình nhận diện cái thân tâm mình. Còn khẩu thì hạn chế lời nói và nói những đều điều có liên hệ đến pháp, hạn chế những lời nói không có liên hệ đến pháp. Còn ý thì nhận diện ý, nhận diện những cái ác, bất thiện pháp trong cái ý nó khởi lên và mình như lý tác ý đánh đuổi nó. Từ ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh thì dần dần minh sẽ sanh minh sẽ sanh thì mình sẽ diệt trừ được dục, tham, ái. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Sư cô 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, theo con thì để phá sạch cái khối vô minh thì đó là cái việc niệm về bốn thánh trí về ngũ uẩn và luôn luôn nhớ rằng ngoài việc thực hành pháp ra tất cả đều là vô nghĩa, ngoài thực hành pháp ra tất cả đều là trống rỗng, trống không, ngoài thành tựu pháp ra tất cả chỉ là nước mắt. Dạ mô Phậ.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Phật tử 5: 4/32/9/9/bộ xương/ bộ con xin kính lễ sư phụ cùng đại chúng, con nhớ sư phụ có nói vô minh là không thấy ba pháp ấn, không thấy vô thường, khổ, vô ngã và mục đích của người tu là diệt tham, sân, si, bản ngã. Trong bài giảng về niệm chết thì đạo sư có nói niệm chết là một cái phép tu quyết định, muốn nhổ tham, sân, si, bản ngã thì phải niệm chết, nếu không những cái pháp quán khác thì nó chỉ là sơ sơ bên ngoài. Con thấy là cái sự giảng dạy của Đức Phật rất là logic thí dụ như là niệm tứ đại sẽ giúp cho mình thấy cái vô ngã, cái tính kết hợp, duyên sanh của các pháp rồi niệm ba mươi hai thể trược cũng vậy là thấy những cái thân phần nó lắp ghép lại và cái sự dơ bẩn thì giúp cho mình hạ cái bản ngã xuống và bớt thủ, bớt yêu thích nó.
Niệm chết như đạo sư nói là cái pháp quyết định rồi cuối cùng thì nát thối ra thành bột, xương cũng nát thối ra thành bột thì không có gì để chấp thủ hết và gần đây khi đọc về Tương Ưng Bộ có một đoạn Đức Phật có nói "này ác ma sắc là của ông, mắt là của ông" khi đọc câu đó thì con thật sự là chấn động, thật là run sợ. Từ xưa đến giờ từ nhỏ đến lớn mình cứ nghĩ rất là bình thường là mắt của tôi, tóc của tôi, tai của tôi, cái gì cũng của tôi nhưng mà Phật nói là của ác ma cho nên nếu mình nói cái gì là của mình thì là không những là ma, mà là ác ma và cái đó thì chỉ mới hiểu sơ sơ trên cái chữ nghĩa, để thực sự thấm được lời dạy của Đức Phật thì phải là một cái sự luyện tập ngày đêm, liên tục, không có dừng nghỉ. Dạ con xin hết.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Thầy Pháp Tâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ, kính bạch trên chư tôn đức cùng chư vị hiền trí, kính thưa sư phụ trong lúc con thực hành pháp để nhìn thấy vô minh và khát ái thì ba pháp con thường hay nhớ nghĩ là khi mà con thức dậy thì con sẽ tác ý quán chiếu về dục hay là những hình ảnh bất tịnh từ tự thân nó chảy ra sự nhơ nhớt của thân, sự bẩn thỉu, hôi dơ cái thân ung nhọt để con ngao ngán cái sự ham thích vui thích, cái sự sống, sự hiện khởi. Con cũng tác ý về tình thương bản thân mình, thân tứ đại, thân ung nhọt này nó rỉ chảy ra thì trong tâm nó cũng sẽ sanh khởi nhiều cái sự ham muốn, yêu thích, thì con nhìn thấy với sự ham thích vì sự sống, cũng như sự trẻ khỏe, cũng như là thân không có bệnh thì con tác ý, quán sát thân này rồi cũng phải già, thân này là đồ gốm, thân này cũng sẽ tăn hoại, sẽ thay đổi, hôm nay còn được ngồi dậy không biết chiều nay, trưa nay còn có thể đi, còn có thể ngồi được không.
Trong khi đi thì con quán chiếu về thân này là một bộ xương di động, đôi lúc thì con cũng tác ý nhớ nghĩ về cái thân bất tịnh, một cái bao da chứa bên trong những cái thứ hôi dở. Khi con nằm để nghỉ trưa hoặc là trong chiều tối khi lên giường thì con nhớ nghĩ đến một thi hài được nằm sẵn trên giàn hỏa thiêu, hoặc là hình ảnh về tự thân ở trong bốn cái miếng ván để xả bỏ đi trong một ngày những cái tham lam, tham muốn, những cái tâm không được hiền thiện, ác bất thiện pháp, để nó xả bỏ đi cái thân và cái tâm hôi dơ này, cái ta, tôi ngu si này. Con cũng hay tác ý về sự vô thường khi thấy những người bệnh, nhất là khi hình ảnh của các cụ, các vị đồng phạm hạnh lớn tuổi cũng như gặp trên ông Năm con cũng hay tác ý cho mình, bản thân rồi cũng sẽ đi đến như vậy, có thể hôm nay mất được sáng nhưng giây phút sau có thể sẽ là mù lòa, có sẽ thể sẽ là đen tối, sẽ là bóng đêm. Nếu không tinh cần, không cố gắng tu tập cái thiện pháp, tu tập cái thánh pháp thì đó sẽ là một cái trở ngại, một sự khó khăn, một sự khổ đau cho ta.
Trong khi nhìn thấy các loại rắn, loại súc sanh con cũng tác ý cũng nhớ nghĩ cái tâm ham ăn, cũng còn ham ngủ, cũng ham thích hưởng thụ thì con cũng nhớ nghĩ nếu vẫn còn cho nó sanh khởi, cho nó xâm chiếm, chế ngự thì sẽ đi tìm những cái thân súc vật, súc sanh như vậy, cái tâm độc ác, cái tâm ác hại, ác gian thì sẽ thành những loài rắn rết như vậy, độc hại như vậy. Những lúc khi con trải tình thương khi cúng súc sanh thì con nghĩ nhớ đến những loài ngạ quỷ, những loài đói khác về hình ảnh trong Tương Ưng Lakkana, những hình ảnh ngạ quỷ khốn khổ, đau khổ, những hình ảnh kinh hoàng để cho tâm được định tĩnh, không là những cái tâm ma trơi vất vơ vất vưởng, sống lang thang không có sự định tĩnh, không có sự trú tâm, không có tác ý về khổ đau, về đời sống về thân tâm năm uẩn của chính mình, tai họa, bệnh hoạn, những cái thống khổ, những cái bệnh hoạn, chiến tranh, đấu tranh, sự chia ly, chết chóc đã xảy ra từng giờ, từng ngày, từng phút, từng giây.
Con cũng thường hay tác ý và suy niệm về sự trống không, vô ngã khi nhớ nghĩ tới cái thân này, đó là một cái sự trống rỗng, ở trên đó chỉ là bộ xương, thịt, da, gân, một cái lớp da che phủ lên nhưng trong đó đầy dục ái, tham, sân, si, đầy vô minh, đầy sự chấp thủ ta, tôi, cảm giác nào sanh khởi lên không chánh niệm thì gọi mình, của mình, những ham muốn, những sự thúc giục sanh khởi cũng có ta, cũng có tôi. Nhiều lúc không thấy sự sanh khởi của các lậu hoặc bị nó xâm chiếm, chế ngự, cũng như những lúc buổi thiền cũng có năm triền cái thì con nhớ nghĩ bản thân là kẻ bệnh hoạn, bản thân kẻ đang bị dính bụi, đang bị nhiễm bụi, đang bị che đậy bởi những thứ nhiễm ô, bởi những cái tác động ở bên ngoài như là một kẻ tù nhân, như là một cái người bệnh tật, bệnh hoạn. Con cũng có nhớ nghĩ tới cái sự hạnh phúc trong cái sự tu học khi được thấy được thân tâm, thấy được những cái dục ái của bản thân và nhiếp phục được một phần. Đó là những cái tác ý, suy tư, chiêm nghiệm, nhớ nghĩ con trong sự tu học, kính trình sư phụ, chư tôn đức cùng chư hiền. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Thiện Huệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, kính bạch chư tôn đức cùng toàn thể các vị hiền trí. Khi sư phụ hỏi mình suy nghĩ như thế nào để phá đi cái vô minh và khát ái, con kính bạch trên sư phụ con xin trình qua chia sẻ những cái thực hành pháp hành của con mỗi ngày để con dần dần đi đến cái chỗ nhiếp phục cũng như đi đến phá những cái vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. Con nghĩ với câu hỏi sư phụ là một chủ đề rất là lớn tại vì đây là cái pháp bất tử, chấm dứt sanh tử, nhiếp phục và diệt tận vô minh và khát ái. Theo cái sự hành trì thông thường mỗi ngày của con ví dụ như con khi con đi suy nghĩ tác ý làm sao để tháo gỡ ra để đừng cho mình dính mắt vào sự chấp thủ ngũ uẩn, mình đừng có cho cái ngũ uẩn này là tôi, là của tôi.
Ví dụ khi đi con hay nhắc nhở "cái này gió đi không phải mình đi, tứ đại nó đi, cái ung nhọt nó đi", khi uống cũng vậy, ăn cũng vậy, con đều tập tác ý nhắc nhở lại mình "đây là một sự vay mượn, nếu mình có sự ái luyến mình tham đắm đối với ăn uống này thì mình sẽ còn quay trở lại để tiếp tục để mình tái tạo cái thân ngũ uẩn tiếp theo đau khổ nữa". Khi tắm giặt cũng vậy, trước khi con giặt là con phải ngửi trước để mình ngửi được chính cái mùi hôi của mình ở bộ độ để con thấy được cái mùi hôi, cái sự bất tịnh từ cái thân của mình tiết ra để mình thấy được cái sự hôi, dơ bẩn từ mồ hôi, từ những cái tiết ra từ thân của mình để phá đi cái sự tham đắm về thân thể này cho mình là sạch, là đẹp, là thơm.
Khi đánh răng sút miệng cũng vậy, tất cả những cái công đoạn đó phải ngửi chính cái mùi của mình để con tập đánh phá dần dần. Khi mình soi gương nhìn gương mặt mình, ý hành bên trong nói "gương mặt nó đẹp, mắt đẹp, miệng đẹp" thì ngay lúc đó con phải suy nghĩ tháo gỡ liền, phải thiền quán về ba mươi hai thể trược, quán cái sự bất tịnh, quán bộ xương, cái sọ đầu để đánh đi cái sự tham ái và chấp thủ đối với gương mặt mình. Qua những cái đó con tập tháo gỡ dần dần, khi đi đại tiện tiểu tiện cũng vậy, mình thấy đào thải những chất bẩn dơ hôi thì lúc đó con phải tác ý nhắc nhở, thậm chí là chửi ngược lại chính mình "mày thấy không? Một sự bất tịnh, hôi dơ", nhắc nhở thường xuyên thì ngay lúc đó trong con phát sinh ra một cảm giác nhàm chán thật sự đối với cái thân của mình.
Thỉnh thoảng mình ăn uống cái gì mà đổ rớt cũng thấy ngao ngán cái thân này, sao nó phiền phức, nó thấy khổ. Con hay tác ý nhắc nhở qua cái câu trong duyên sanh pháp thôi cũng là một cái lời pháp tác ý của mình để cho mình phá được cái vô minh và khát ái để mình thấy được cái thân ngũ uẩn nó là duyên sanh, nó là vô thường, nó là phiền não, nó không phải mình, là của mình. Cho nên những cái bài như vậy con hay lấy ra tác ý để đánh phá, lâu lâu con cũng có nhắc mình phải thường xuyên quán cái thân ngũ uẩn này là cái ung nhọt, là kẻ giết người, là bệnh tật, là bệnh hoạn, là vô thường, là khổ, là bất tịnh, là vô ngã, là trống rỗng để phá đi cái lòng tham ái, chấp thủ. Tại vì do cái tâm mình si mê, vô minh không thấy được cái bản chất của ngũ uẩn này khổ, là vô thường, là vô ngã, là bất tịnh, là duyên sanh cho nên nó mới có sự tham ái, tham muốn, yêu thích, khao khát đối với thân ngũ uẩn rồi nó sanh ra sự chấp thủ vào trong đó. Chính vì vậy mà nó luân hồi sanh tử mãi mãi.
Cho nên câu hỏi sư phụ con nghĩ rằng giờ mình muốn phá cái vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn thì bằng con đường bát chánh đạo, bằng việc quán thân hành niệm. Chỉ có con đường đó để phá đi cái lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng chấp thủ đối với ngũ uẩn thì lúc đó mình sẽ thoát ra được, mình thành tựu được cái tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tức là mình diệt tận đi những cái ái và cái vô minh đối với ngũ uẩn. Con xin trình lên sư phụ cùng đại chúng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Con mời tất cả chúng ta đứng lên đi thiền hành.
Thầy Thiện Huệ:
Thân là duyên sanh, thọ; tưởng; hành; thức cũng là duyên sanh.
Thân là vô thường, thọ; tưởng; hành; thức cũng là vô thường.
Thân là phiền não, thọ; tưởng; hành; thức cũng là phiền não.
Buông xả… buông xả… dễ chịu… dễ chịu
Thân này là vô thường đi đến hoại diệt, thân này là vô hộ, vô chủ, thân này là vô sở hữu, ra đi bỏ lại tất cả.
Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái.
Sư Phụ: Thân xả, tâm xả, dễ chịu. Con nhắc mà có khi vẫn đi lẹ hơn lúc mới đi thì khi một mình làm sao mình tu được, vậy là đa số người học được một chút xíu rồi là tự con tu à, khỏi cần thầy, khỏi cần đại chúng gì hết, ở một mình, sống trong vô minh, sống trong dục, sống trong bản ngã, sống buông lung phóng dật. Đó là cái pháp sống con chỉ chúng ta đó, bao nhiêu đó mình nhìn ra được đã là trí tuệ nó nằm trong đó và vô minh nó cũng ở trong đó luôn, vô minh là không thấy lúc đó có dục, trí tuệ là nhìn thấy biết lúc đó có sự thúc giục. Nhiều khi có câu hỏi mà để mình nói tam tàu bắt đẩu, đông chu liệt quốc, nói trong dục, nói trong vô minh, tuy rằng nó là thiện pháp nhưng mà nó là vi tế mình không thấy, mà chỉ hoài cũng không thấy. Người ta hỏi cái gì thì đáp ngay cái đó, còn cái phần pháp đàm thì mình có quyền mình nói, chúng ta thấy trong khi nói có dục, trong khi đi có dục, trong khi làm việc có dục mà không thấy thì tức là vô minh.
Có thực tế không? Có cụ thể, rõ ràng không? Không thấy lúc đó có dục, có thúc giục, không thấy lúc đó có giận, hỏi có khó chịu không thì nói "đâu có đâu, con không có, con dễ chịu lắm", nói dối nữa. Hỏi lúc đó có bạn ngã không thì bảo "con không có bản ngã, con đâu có bản ngã đâu", nói dối nữa, như vậy là hoặc nó qua mặt hết, bản ngã nó qua mặt hết cho nên là tu không được kết quả giống như Đức Phật đã dạy. Con chỉ, con nhắc lại cái đi của chúng ta ở đoạn cuối là tự nhiên tại sao mình đi lẹ lên, có ai kêu mình gì đâu, hồi nãy lúc ra đây có giới tử chạy hớt ha hớt hải, ngày hôm qua con cũng nhắc chú Nhật. Mình được học, được nhắc liên tục như vậy mà tới khi hành xử rồi mình cũng hành xử ở trong thúc giục, vừa đắp y vừa chạy vậy đó, chạy mà vấp một cái là nó đập đầu xuống đá. Chỗ đó có đá lót ngay cửa mà lỡ đập đầu xuống thì có phải khổ cho mình, khổ cho hết đại chúng không?
Thành ra con vẫn còn lo lắng rất là nhiều, tuy đại chúng chúng ta phần lớn là hiền thiện nhưng trong đó cũng còn một ít số ít cũng còn dữ, cũng còn bản ngã nhiều lắm vì thế các quý vị phải để ý. Tự thấy mình tức là minh đó, mình thấy được mình còn bản ngã, còn sân hận, còn dục nhiều thì đó là minh, mình không thấy nó là vô minh. Nó đâu có xa đâu, pháp đâu có xa đâu, pháp ngay ở trong người mình, ngay trong ý nghĩ, ngay trong lời nói, ngay trong hành động, ngay trong bước chân, ngay trong việc làm, ngay trong sinh hoạt. Tại mình không chịu cố gắng mình nhìn, mình nói một hồi không biết nói cái gì nữa, trong lúc đó là vô minh xâm chiếm, dục dẫn dắt, có khi mình nói lạc đề cũng không biết nữa.
Có trường hợp là mình nói mà mình không có chắc ăn rồi mình làm giống như chạy xe mà không biết quẹo chỗ nào, tới cái ngã tư, ngã bảy không biết quẹo ngã nào, cứ lựng khựng, tức là không có xác quyết được vấn đề. Lúc đó nghe là biết được cái tâm đang trong năm triền cái, không có xác quyết được vấn đề, nó do dự, nó phân vân cho nên vô minh là không thấy không biết, còn minh là thấy là biết. Vì không thấy không biết cho nên nó mới tưởng là thiệt rồi nó mới ưa thích, nó ham thích thì cái đó từ vô minh đi chung với khát ái một cặp bài trùng, từ không thấy không biết nó ham thích.
Cái đầu tiên là không thấy không biết về tự thân của mình, cái thứ hai là không thấy không biết về ngoại cảnh, cái thứ ba là không thấy không biết là nội tâm và cái thứ tư là không thấy không biết về các phiền não, lậu hoặc. Cái thấy biết của mình rất tốt, con chỉ nói cái chỗ sát sao thôi chứ còn mỗi người trình bày như vậy là rất tốt, hiểu như vậy rất là tốt, ai cũng hiểu đúng hết không có ai hiểu sai. Tức là thứ nhất không thấy không biết về tứ đại, một đống đất đang ngồi đây, một vũng nước, một làn gió thổi vào thổi ra và một đốm lửa, không có ai ở đây hết, không có một con người nào hết, không có Trần Văn A, Nguyễn Thị B gì hết, chỉ là một cục đất, một vũng nước, một làn gió và một đốm lửa. Thấy được như vậy, nhớ được như vậy, nghĩ được như vậy là lúc đó mình bớt vô minh về tứ đại, còn nếu mình nghĩ có một cái tôi đang ngồi đây, tôi đang làm cái gì đó, tôi đang có cái dáng đẹp như vậy đây thì cái đó là vô minh và tham ái cùng một lúc luôn.
Tại vì tôi là vô minh, đẹp tức là tham ái, hai chữ thôi là có vô minh, tham ái luôn. "Tôi đẹp" thì hai chữ đó bao gồm luôn vô minh và tham ái, trong khi không có cái tôi thành ra chúng ta thấy cái trí tuệ này là phàm phu vô văn dễ hiểu hay là khó hiểu? Khó lắm cho nên Thế Tôn thành đạo không muốn thuyết pháp vì một cái sự thật mà nó sâu kín, nó siêu lý luận, siêu thế như vậy thì thật là mệt nhọc cho ta, thật là mệt mỏi cho ta, thật là phiền bực cho ta khi mà ta nói mà không hiểu. Phạm Thiên Sahampati bạch Thế Tôn có những chúng sanh ít bụi đời, ngài thỉnh Thế Tôn thết pháp ba lần. Thật là mệt mỏi cho ta, thật là nhọc nhằn cho ta khi ta nói cái pháp thâm sâu như vậy, chúng sanh thích dục mà ta nói ly dục, chúng sanh chúng ưa thích cái bản ngã, muốn phô trương cái bản ngã, muốn đề cao cái bản ngã mà giờ ta đập tan cho vô ngã thì ta nói như vậy rồi làm sao mà hiểu đây. Chính vì vậy mà mình lên trên tên núi này, mình cũng không cần phải nói cho nhiều ai hết, không cần đông ai hết, chỉ cần những người tha thiết tu hành, chân thành, chân chánh học đạo, thật sự cầu giải thoát.
"Một thời Thế Tôn ở Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo.
Rồi Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên:
'Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới cảm nhận! Còn quần chúng này ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó thấy định lý này, tức là y duyên tánh duyên khởi pháp. Thật khó thấy định lý này, tức là tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được từ bỏ, ái tận, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, như vậy thật mệt mỏi cho Ta, như vậy thật bực phiền cho Ta.'
Thế Tôn với suy tư như vậy, tâm hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp.
Rồi Phạm thiên Sahampati biết được tâm tư Thế Tôn nhờ tâm tư của mình, liền suy nghĩ: "Thật sự thế giới bị tiêu diệt, thật sự thế giới bị diệt vong, nếu tâm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp'.
Rồi Phạm thiên Sahampati, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi thẳng; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y trên một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại, nếu không được nghe Chánh pháp. Nếu được nghe những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Thỉnh Cầu)
Thành ra chúng ta thấy mình không thấy biết về cái thân này là thứ nhất là mình vô minh đối với tứ đại, đây bài kinh số 1 ở trong Trung Bộ, bài kinh đó con có giảng ở trong trường Phật học, trong bài kinh đó là Đức Phật phá vô minh trong tứ đại. Bài kinh Pháp Môn Căn Bản, dục hỷ trong địa đại, nghĩ địa đại này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Dục hỷ ở trong thủy đại, vui thích ở trong đất ở trong nước, ở trong gió, trong lửa, cho đó là tự ngã, đó là vô minh đối với tứ đại. Cho nên hằng ngày chúng ta sử dụng sử dụng đất, nước, gió, lửa là chúng ta đều phải nhìn cho sâu sắc để tách cái bản ngã ra, phá cái vô minh, cái chấp thủ. Vì thế tại sao mà mình cũng ngồi thở ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm mà mình không phát sanh tuệ giác là tại vì "tôi đang ngồi tôi thở, tôi thở cho khỏe, tôi thở thấy nhẹ quá, tôi thở tôi thấy sướng quá".
Như vậy rõ ràng là nó nuôi vô minh với tham ái, nó chỉ tìm cái cảm giác được thư giãn thôi, thiền buông thư, thiền thư giản chứ nó không có xuyên thủng và phá vỡ cái khối vô minh uẩn to lớn. Vì vậy nếu ngồi thiền phá vô minh thì trong mỗi hơi thở nhìn thấy đó là làn gió vô ra, không có tôi, không có tự ngã của tôi. Trong bài kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm mà một cái hơi thở đó Đức Thế Tôn dạy các vị chứng thánh A-la-hán là tại vì hơi thở đó cộng với chánh tri kiến, còn cái hơi thở không có chánh tri kiến thì cái hơi thở đó làm sao xuyên thủng vô minh, đoạn tận khát ái. Chúng ta thấy nó vi diệu không? Nó Tuyệt diệu, tối thượng không? Làm sao để chúng ta có được cái thấy đúng mà cái thấy đúng thật sự của bậc thánh thì đi qua cái cửa chánh kiến này, phá vô minh ở trong tứ đại.
Mỗi khi chúng ta bưng ly nước lên uống, mỗi một hơi thở vô ra, mỗi khi đắp cái mền lên, mặc cái áo, cái quần vô, mỗi khi đốt cái lửa dưới nhà bếp lên, mỗi khi mình xả thiền hay là mình ngồi thấy cái chỗ này nóng lên thì thấy "cái đó là lửa, đó không có ai ngồi ở đây hết, đó là lửa thôi, là nội hỏa đại thôi", cái bếp lửa bên ngoài là ngoại hỏa đại. Mỗi một cái nhìn như vậy, cái thấy như vậy mà được tác ý là mình được thêm phần trí tuệ, còn nếu mình nhìn mà không tác ý gì hết thì nó chình ình một đống siêu to khổng lồ là cái bản ngã này. Chúng ta thấy ứng dụng cái này có thực tế không? Có dễ ứng dụng không? Cái này là hằng ngày mình đều thấy, bưng ly nước uống, bưng chén cơm lên ăn, mỗi một hơi thở đều quán được hết, đều phá vô minh được hết, mỗi một hơi thở là phá vỡ vô minh, trong đây không có ai hết chỉ có làn gió khì khịt mượn trả này, vô ra này. "Con xin từ bỏ cái tôi trong cái hơi thở này, con xin từ bỏ cái ta trong hơi thở này, con không tìm thấy một cái bản ngã, trong hơi thở này con chỉ thấy là một sự yếu ớt, mong manh, tạm bợ, vô thường, rỗng không, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt, con chỉ thấy có một làn gió".
Nếu trong một cái hơi thở mà mình cứ tác ý như vậy thì mỗi một hơi thở là một trí, mỗi một hơi thở là một minh phần, mỗi một hơi thở là một cái sự tỉnh giác, mỗi hơi thở là một chánh niệm mà phải có tác ý chứ không phải không tác ý. Ta nói phiền não phá là có tác ý, có thấy có biết, ta nói cho người thấy cho người biết, ta nói cho người tác ý, ta nói cho người để tâm nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, ta nói cho người khao khát cái sự chặt đứt cái hữu ái này, phá vỡ cái vô minh này, đoạn tận cái tham ái này, chứ ta không nói cho cái kẻ trơ trơ không muốn giải thoát, ta không nói cho những hạng người đó.
Phải phá cái vô minh ở trong tứ đại, mình ngồi xuống đất cũng tác ý "đây nè, cái thân cũ của nhà ngươi đây nè, bao nhiêu bộ xương của ngươi nằm dưới đây". Mình vô bếp thấy đống tro thì tác ý "nắm tro tàn từ vô thỉ kiếp, cái bếp đó là lò hỏa táng", cứ thấy đâu tác ý đó, thấy đâu nhắc đó, thấy đâu niệm đó, thấy đâu quán đó thấy đâu là mình triển khai tới đó thì như vậy làm sao trí hệ không sanh, làm sao mà trí tuệ của mình không tăng trưởng, mình tu như vậy mà làm sao mà không đắc đạo, không ngộ đạo, còn này do cái mình thấy là mình nhìn theo cái phàm tình bếp là bếp, cơm là cơm, nước là nước, mình không tác ý, mình không quán chiếu, mình không sử dụng cái trí tuệ được Đức Phật truyền trao cho mình thì như vậy tu hoài tuệ không sanh, giác nó không phát, minh nó không khởi, trí nó không tỏ, vô minh nó vẫn còn phong tỏa, bao phủ mình vì mình không có chịu để tâm và thực hành.
Mình phải phá vô minh đối với những cái trần cảnh, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, nhìn cái tòa cao ốc, mình nhìn lâu đài, mình nhìn những cái đồ đẹp, nhà đẹp, xe đẹp, người đẹp, bao nhiêu những cái thứ cảnh đẹp, mình nhìn một cái là mình xuyên thủng, mình phá vỡ cái này chỉ là đất, nước, gió, lửa thôi, không có của ai đây hết, cái này tan hoại, tan nát, huỷ hoại, hoại diệt, thứ này là thứ vô thường, lũ lụt. Mấy hôm nay các tỉnh ngoài biên giới của mình là ngập tới nóc xe luôn, không biết bao nhiêu người, không biết bao nhiêu nhà, tất cả những con đường thành sông và người ta chết, nhà cửa thì bị cuốn trôi. Mình phá cái vô minh đối với cái cảnh sắc ở bên ngoài, phải nhìn cho rõ để thấy, nhìn cho thấu thị tới đó, tập nhìn tới đâu là nó tan tới đó, nhìn tới đâu là nó vỡ tới đó, nhìn tới đâu là hiện ra cái sanh diệt trí tới đó, ánh nhìn của mình xuyên thủng và phá vỡ mọi sự hiện hữu trên cuộc đời.
Mình tập nhìn bằng cái con mắt vô thường, khổ, vô ngã, không có gì đáng ưa, không có gì đáng thích, không có cái gì để cầu mong hết, vô cầu, ly tham, không có cầu mong bất cứ cái gì trên cuộc đời, chỉ cầu mong cái sự chấm dứt hết tất cả mọi sự mong cầu. Không có cầu mong gì hết chỉ cầu mong chấm dứt sự mong cầu tức là ly tham, không có tham bất cứ cái gì cuộc đời này, chỉ cầu mong được lìa cái tham này, dứt cái tham này, hết cái tham này. Đây là sự cầu mong tối thượng rồi mình phá cái vô minh đối với tâm này nè, thọ; tưởng; hành; thức này, khi mình không nhìn ra được thọ là thọ, những cảm giác, những hình bóng, những suy nghĩ, những nhận thức mình không nhìn ra, mình không gọi đúng tên nó, mình không biết được tên tuổi, mặt mũi, tánh tình, bản chất của thọ; tưởng; hành; thức này, mình cho nó là tâm tôi, là của tôi thì cái lúc đó nó đồng hóa trở thành một tự ngã tôi nghĩ vậy đó, tôi thấy như vậy đó, tôi biết như vậy đó, tôi cảm nhận như vậy đó, tôi tưởng như vậy đó.
Bữa nay tôi vui quá là vừa có vô minh vừa có tham ái luôn. Tôi là vô minh, vui là tham ái, nếu nói "cái ngũ uẩn này bữa nay nó hoan hỉ" thì cũng đỡ cho nên mình phá được vô minh đối với thọ; tưởng; hành; thức này. Phải gọi đúng tên nó "Thọ, bây giờ mày đang như thế nào? Có khó chịu, bực bội không để ta điều trị cho mi, có tham đắm luyến ái không để ta tháo gỡ giùm cho ngươi", tưởng; hành; thức nó ra làm sao. Phải nhìn kỹ nó, đừng có nhận nó là mình, đừng có cho nó là của mình, đừng có xem nó là tự ngã của mình thì mình phá vô minh đối với thọ; tưởng; hành; thức đối với tâm. Bây giờ coi trong cái thọ; tưởng; hành; thức này có tham, có dục, có ái, có sân, có triền cái không, có tôi ra không, nếu mình mình thấy nó có thì lúc đó mình được minh, mà nếu lúc nó có mà mình không thấy, mình nhận diện ngũ uẩn mà mình không thấy, mình vẫn biết thọ; tưởng; hành; thức mà mình không biết lúc đó đang có bản ngã thì cái đó vẫn là vô minh, dầu cho nhận diện ngũ uẩn vẫn vô minh.
Chúng ta thấy chỗ này nó sâu sắc, lâu lâu mình có bị không ạ? Mình nhận phớt phớt nên nó có bản ngã mình vẫn không biết thì như vậy tuy nhận diện ngũ uẩn mà vẫn vô minh trong đó, không thấy được. Hoặc là nó nhẹ thôi, nó vi tế nên mình không thấy, thô mình mới thấy thì như vậy cái vô minh có nhiều cấp độ lắm, cái tham ái nó cũng nhiều cái thứ bậc thô tế. Mình nhìn ra được những cái thứ phiền não đó là dục, tham, ái, sân si, tâm vô mình biết đang có vô minh thì như vậy là minh, mà tâm vô minh không biết lúc đó vô minh thì như vậy tức là vô minh, tâm tham ái biết lúc đó có tâm tham ái. Mình quán pháp trên pháp trong tứ niệm xứ đó, tâm sân là biết có sân, tâm tham biết có tham tâm, chấp ngã biết lúc đó đang chấp ngã, tâm vô tàm vô quý biết lúc đó là không biết xấu hổ, mà không biết sợ hãi, buông lung phóng dật là biết lúc đó buông lung phóng dật, tâm nhỏ hẹp là biết tâm nhỏ hẹp, tâm rộng lớn là biết tâm rộng lớn, tâm thấp hèn là biết lúc đó tâm thấp hèn, tâm cao thượng là biết tâm cao thượng, tâm có định hay là không có định hay là loạn mình biết.
Chúng ta nghĩ nếu mà một cái người như vậy thì người này nhìn cái tâm mình sát sao không? khít khao không? Theo dõi liên tục không? Như vậy mới biết được chứ nếu nhìn người ta rồi làm sao biết. Tâm giải thoát là biết tâm đang giải thoát, tâm định là biết tâm đang định mà tâm không định là biết lúc đó tâm không định. Nếu mình biết như vậy thì liên hệ tới thân cũng vậy thôi, cái tâm như nãy mình bước nhanh như vậy trong cái dục, mình biết nó có dục là mình nhiếp phục lại liền, an tịnh, lắng dịu liền. Lúc đó mình không biết mà mình dễ bị số đông ảnh hưởng lắm, thấy người ta đi nhanh là mình phải đi nhanh theo, tại sao mình phải đi nhanh theo người ta, đâu phải ai làm gì mình cũng làm theo cho nên mới chạy rần rần ở dưới, từ trên núi cũng chạy xuống luôn, không có chánh kiến, không có thấy đúng được cái vấn đề thì gặp cái gì ùa theo cái đó.
Khi mình có chánh kiến, mình thấy đúng rồi thì không phải dễ dàng qua mặt được mắt pháp của mình, mình nhìn sâu vào bên tro mình đánh phá diệt dục, diệt ngã, diệt tâm hướng ngoại. Cái nặng nhất là cái dục, sanh ra trong cái cõi dục nên phải thường xuyên đánh phá cái dục, ngày đêm thường xuyên hướng vào cái chỗ đó tác ý, đánh bầm dập cho nó tan nát, tan tành nó ra luôn, dùng đủ những cái lời mạnh bạo nhất để xử lý nó. Đối với bản ngã cũng vậy, đối với tâm hướng ngoại cũng vậy, không phải đợi tới lúc nó sanh khởi mà là phải tác ý từ xa, đâu phải đợi ra trận lúc đó mới luyện công, luyện binh ba năm, mười năm mà dụng có một giờ thôi thì bình thường mình phải có sự tác ý, có sự quán chiếu, có sự nhắc nhở, có sự tu tập, có sự hành trì như vậy tới hữu sự đụng chuyện rồi mình kêu một cái là nó nghe lệnh răm rắp, nhất nhất y như luật lệnh.
Mình thấy trong quân đội là quân lệnh như sơn, cái tâm mình cũng vậy, khi mình có cái sự tu tập nghiêm túc, quản giáo nó rồi thì lần lần sau này mình nói cái gì nó sẽ nghe lại cái nấy. Đó là tâm nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, khi mình thấy được cái bản chất vô thường, khổ, vô ngã, ung nhọt, bất hạnh, tai họa, hố than hừng, mũi tên độc, rắn độc, kẻ giết người ở trong ngũ uẩn này rồi thì mình đâu có còn ham, còn ưa, còn thích, còn khoái nó nữa. Phá vô minh thì sẽ diệt tham ái, sẽ trừ chấp thủ, sẽ bẻ gãy kiêu mạn, sẽ đập tan được cái bản ngã, mình muốn làm như vậy thì phải tăng thêm các cái thiện pháp từ, bi, hỷ, xả, bốn tâm vô lượng này để mình nuôi cái tâm mình độ lượng, rộng lượng, vô lượng, vô Minh diệt minh sanh, ái diệt, ly tham thì cái tâm yểm ly, cái tâm nhàm chán, cái tâm xả ly, cái tâm xuất ly đó sẽ sanh khởi các cái chi phần đó.
Nó sanh khởi lên cái tâm mình nhàm chán của mình càng ngày càng nhiều, càng mạnh lên, càng lớn lên, mình nhìn thấy cái gì mình cũng không có ham, không thích, không muốn nữa, tâm mình hướng đến sự từ bỏ, hướng đến sự thoát ra và khi mà tâm đó hướng hoàn toàn đến sự từ bỏ, thoát ra rồi nó nhập lưu thôi, đi thẳng tới chánh giác không có còn lui sụt nữa. Muốn một cái một thôi là muốn từ bỏ hết, muốn nhàm chán hết, muốn thoát ra hết một cách hoàn toàn cho nên nói ngắn gọn là mình thấy nó thiệt rồi mình khoái nó là vô minh với tham ái đó, nói tiếng Việt cho nghe là hễ thấy nó thiệt và khoái là vô minh và tham ái, mà biết nó rồi, thấy nó giả, không thích nữa là đi ra khỏi ngũ uẩn. Đơn giản vậy mà tu suốt đời không xong, thấy nó thiệt, khoái, thích là khổ đau, mà thấy nó giả, từ bỏ thì an lành, an lạc, giải thoát. Mình tìm chỗ ngồi thiền để chiêm nghiệm những gì mình học nãy giờ, tác ý với cái tâm mình "tâm ơi là tâm mày làm ơn mày minh lên giùm tao chút, mày vô minh hoài tao khổ lắm tâm ơi là tâm. Tao lạy mày, tao gần chết rồi mà sao mày cứ vô minh hoài, mày cứ tham ái hoài".
./.
TRUYỀN THỐNG TU TẬP TỐT ĐẸP
BÁT CHÁNH ĐẠO
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn thiền đức chư vị hiền trí, chiều hôm nay chúng ta tiếp tục nghe về tinh hoa Nikāya tập I, truyền thống tu tập trong Nikāya, kinh Trung Bộ, tập II, bài 83.
"Nhưng này Ananda, truyền thống tốt đẹp ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn và này Ananda, nay thế nào là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này Ananda, đây là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Này Ananda, về vấn đề này, Ta nói như sau: "Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta". Này Ananda, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Vậy này Ananda, Ta nói với Ông: 'Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, các Ông hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta'.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy" (Trung Bộ Kinh, 83. Kinh Makhàdeva)
Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, hãy tiếp tục duy trì, các vị chớ có thành người tối hậu sau ta. Truyền thống tám đúng cao thượng của bậc thánh này do ta dùng mồ hôi, nước mắt và máu do ta trải qua vô lượng kiếp trong sanh tử, do ta bỏ cung vàng điện ngọc, bỏ vương vị quyền uy, do ta bỏ sinh mạng thân tâm để chứng ngộ. Đây là truyền thông tốt đẹp do ta thiết lập, các vị hãy tiếp tục giữ gìn tu tập, Hãy cố gắng nỗ lực duy trì, đừng có trở thành người cuối cùng tối hậu sau ta.
Khi hai người hiểu được chánh pháp và có sự đứt đoạn truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn người ấy là người tối hậu cuối cùng, chánh pháp sẽ bị đoạn diệt, chấm dứt trên cuộc đời này. Con thật sự là lo lắng, đọc những lời này không cầm được dòng lệ, như một lời di chúc, di giáo, đinh ninh, dặn dò, trao gọi từ đấng từ phụ, từ người cha thương yêu nhất, vĩ đại nhất, từ đấng đại giác Thế Tôn. Bài này chúng ta đã thiền quán một lần khi tới đây là không học tiếp theo được nữa, chúng ta đã dừng lại thiền quán đầy nước mắt ở tại Vân Thủy Đường và hôm nay một lần nữa đọc đến đây con thật sự cũng là không thể cầm được, không thể ngăn được hình ảnh của bậc đạo sư truyền pháp cho con. Nếu chúng ta không nỗ lực thì truyền thống tốt đẹp này do Như Lai thiết lập sẽ bị đứt đoạn, chúng ta đã nhìn thấy hàng ngàn năm qua đã bị đứt đoạn.
Hãy quán chiếu cho sâu sắc những lời di giáo, di huấn này, di chúc này, truyền thống tốt đẹp, cao thượng, thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng của bậc thánh này là truyền thống tốt đẹp do Như Lai thiết lập, chúng ta hãy tiếp tục giữ gìn, thực hành thấy biết chân chánh, suy nghĩ chân chánh, nói lời chân chánh, hành động chân chánh, nuôi mạng chân chánh, siêng năng chân chánh, quán niệm chân chánh và định tâm chân chánh. Đây là một đường lối tu tập, một phương pháp chân chánh, chân thiện hoàn hảo và thiện xảo mà Đức Phật tự mình thấy biết, tự mình giác ngộ, tự mình phát giác, phát hiện ra. Ngài đã tìm thấy một đường lối tu hành chân chánh, hoàn hảo để tự mình thành đạo và để giúp chúng sanh đi đến sự diệt tận khổ đau, chấm dứt sanh tử.
Trước đó trong cái thời điểm mà Thế Tôn chưa có thành đạo thì ở tại Ấn Độ không có một ai khai mở, hiển lộ, chỉ bày một con đường tu tập hoàn hảo, thiện lành đến như vậy. Chỉ cho đến khi Thế Tôn với trí tuệ tròn đầy, với đôi mắt tâm sáng tỏa nhìn thấy rõ bát chánh đạo này, một con đường, một cái đạo lộ, một cái sự tuần tự, hoàn hảo đưa đến sự chấm dứt sống chết, phiền não, khổ đau. Ngài đã tu tập, ngài đã thực hành và ngài đã chứng đắc, sau đó ngài mới trình bày, mới giới thiệu, sát lập cho chúng sanh một đường lối tu học tối thượng như vậy, tuyệt diệu như vậy. Vì vậy mà Đức Phật nói rằng tám thánh đạo này là truyền thống tốt đẹp mà ngài đã thiết lập cho cuộc đời này, tức là truyền thống tu tập của tám sự chân chánh, người tu chân chánh nào cũng phải có tám sự chân chánh này, người tu nào cũng phải có đầy đủ tám đúng này vì tám đúng này đưa đến một sự thành tựu một cái thân tâm cao thượng, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, tám đúng này đưa mình tới cái chỗ hoàn thiện viên mãn.
Tám điều chân chánh này một người tu cần phải biết, cần phải tu tập, thực hành thì mới được gọi là một người tu chân chánh. Người tu chân chánh nào cũng cần phải có sự thấy biết đúng, thấy biết rõ ràng, thấy biết chân xác chính xác về thân về tâm và về thế giới. Vị nào cũng cần phải biết rõ những sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang hoạt động thế nào trong thân tâm, chúng đang áp bức, khống chế thân tâm như thế nào, vị này cần phải thấy biết rõ những cặn bã, những rác bẩn, những cấu uế, lậu hoặc đang có trong ngũ uẩn trong tự thân. Như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có chánh tri kiến, cần phải thấy biết đúng về thân tâm của mình.
Chỗ này chúng ta mới nhìn lại tại sao mình tu mà mình không có kết quả? Tại sao mình tu mà mình không có thấy hiệu quả? Thậm chí mình tu cả cuộc đời mà không đi đến được thành quả hay là thánh quả? Vì từ cái cửa ban đầu mình không đi đúng rồi, cái thấy đúng này là thấy biết rõ ràng, chính xác về thân và tâm của chính mình mà bây giờ mình vô tu mình không nhìn thấy của mình, không nhớ oai nghi, hành động của mình, không niệm những cái yếu tố cấu thành cơ thể này và trong con người này, nó có cái gì mình không biết, sự tập khởi, sanh thành cái thân này, sự duy trì, sinh tồn, tồn tại của thân này cũng như sự chấm dứt thân này trải qua bao nhiêu giai đoạn mình không biết.
Mình đi dòm thân người khác, mình đi nhìn cái cử chỉ, hành động của người khác, mình đi phán xét, soi mói, bươi móc thì từ lúc đầu tiên đó là đã đặt tâm sai hướng tức là tà kiến, thậm chí mình lại còn đặt một cái hướng là mình xuất gia rồi mình sẽ làm cái này, làm ông này bà này mục đích của mình là làm giảng sư, làm trụ trì, làm thiền sư, làm gì đó thì nó hoàn toàn từ cái bước đầu đã sai. Hay là mình muốn được cái gì đó, những cái xa rời, viễn vong, tưởng mơ vu vơ mà mình không có đặt cái trọng tâm vào cái thấy biết đúng về thân và tâm của chính mình. Vì thế từ cái đầu tiên mình đi lệch trong khi ở đây chúng ta thấy cái rõ biết, thấy biết quan trọng nhất là rõ biết về thân tâm và thế giới này tức là sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang hoạt động như thế nào ở trong thân tâm, chúng ta đang bị nó áp bức, khống chế như thế nào.
Chính vì vậy lúc đầu bậc đạo sư nói với con là con không có chịu, không có chấp nhận, con phải đi kiểm tra một vòng tất cả các thiền viện lớn nhất ở trên thế giới. Người nói không có một cái đạo lộ chân chánh của Đức Phật, con không thể chịu nổi cái bom nguyên tử này, ngài nói nó không có ai hết đã làm cho con rất là sốc. Bây giờ con hỏi quý vị chúng ta đã tu học chúng ta thấy, ở đâu chỉ cho mình nhận diện ngũ uẩn, ngũ uẩn là thân tâm của mình mà mình không biết mà mình tụng ro ro hằng ngày, tụng thuộc lòng, thuộc rào rào từ con nít mười tuổi cho đến bà già tám mươi tuổi đều thuộc ro ro tâm kinh Bát Nhã nhưng khi hỏi tới ngũ uẩn thì tới tiến sĩ Phật học cũng trả lời ấp a ấp úng. Bao nhiêu những lý thuyết, bao nhiêu những kiến thức, bao nhiêu những cái suy luận, suy tưởng mà không thể nhìn trực diện, trực tiếp, trực chỉ vào thân tâm của mình.
Hỏi tâm là cái gì là ấp a ấp úng, ú a ú ớ, lờ mờ. Với một sự tu tập mà không thấy rõ được thân tâm của mình là từ cái bước đầu chánh kiến không được thành tựu thì làm sao có những bước thứ hai, thứ ba cho đến thứ tám, mà mới vô tu lại dạy thiền định. Đây là cái chỗ phước báo chúng ta ráng cố gắng nhận diện ngũ uẩn liên tục ngày đêm, bất cứ mọi lúc mọi nơi, đó là con mắt tuệ, con mắt pháp, là con mắt thánh, là con mắt Phật, là con mắt trí. Cho nên hồi sáng này một chú lớn tuổi chú mới học được mấy ngày chú trình pháp hồi xưa con cho cái ngũ uẩn đó là mình, là của mình, là tôi, là của tôi, bây giờ mình mới biết ngũ uẩn nó không phải mình, không phải của mình. Một cái câu nói đó thật sự nó đã là một sự động đất dữ dội, địa chấn, một sự rung chuyển, một sự thủ chuyển, tất cả chấp thủ bị rung chuyển, rúng động hết, một cái câu nói đó là một cái câu tuyên bố hùng hồn, dõng dạt, mạnh mẽ là con đã thấy đường, trước nay là con mù.
Chúng ta có hoan hỉ không? Nhưng mà quan trọng là mình thấy đường rồi mình có giữ cái đôi mắt hay không? Hay là tiếp tục nhắm trở lại, tiếp tục mù lòa trở lại, tiếp tục hôn mê, ngủ gục trở lại? Lúc nào mình không nhận diện ngũ uẩn tức là lúc đó mình sống trong mù lòa, sống trong vô minh, sống trong bản ngã cho nên lâu lâu các huynh đệ gặp nhau làm bài tập với nhau, không phải đợi tới con kêu mời làm bài tập với nhau, "ngũ uẩn đang khó chịu phải không?". Ngũ uẩn nó khó chịu chứ mình đâu có khó chịu, nhất trí không? "ngũ uẩn giờ đang thích ăn cái món ngon này phải không?", ngũ uẩn đang thích chứ mình không có thích, "ngũ uẩn đang si phải không?", phải tác ý liền "ngũ uẩn si chứ thánh trí đâu có si", "ngũ uẩn sân chứ thánh trí đâu có sân", "ngũ uẩn tham chứ thánh trí đâu có tham". Bây giờ chịu sống với thánh trí hay chịu sống với ngũ uẩn?
Nhìn thấy ngũ uẩn là thấy Phật, thấy ngũ uẩn là thấy pháp, thấy ngũ uẩn là thấy được cái vô ngã, thấy được ngũ uẩn là phá được cái thân kiến, thấy được ngũ uẩn là ly tham, ly sân, ly si. Nó xác định từ cái bức đầu tiên của mình, tất cả là những ngũ uẩn không có ai hết, xác định rõ như vậy và trong ngũ uẩn này đầy những dục, đầy những sân, đầy những cái tôi, ta, một câu nói đó thôi là nó đã tóm thâu cái cốt lõi của kinh tạng Nikāya rồi. Thấy được hai cái điều đó thôi đã là khổ và diệt khổ rồi đó, thấy được ngũ uẩn và thấy được dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã trong ngũ uẩn. Nó là cái tủy mà mấy cái câu đó là niệm hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây, bất cứ lúc nào cũng niệm còn hơn mà niệm chú vãng sanh chú đại bi.
Cái đống ngũ uẩn này là cái đóng khổ, cái đống vô thường, vô ngã, cái đống này là cái đống đầy rẫy những cái ứ trong cái dục, cái tham, cái sân, cái vô minh. Cứ niệm hoài, nhắc hoài, tác ý hoài vậy đó, đó là chúng ta qua chánh tư duy. Người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những suy nghĩ về dục, về ái, về tham, sân, si, bản ngã và cần nuôi dưỡng những suy nghĩ về ly dục, ly sân, ly ngu si, như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có chánh tư duy. Nó bực lên thì tác ý "mày sân vừa vừa phải phải thôi nha, cái sân này là cái ngu, cái giận này là cái ngu, cái tham này là cái si ám, cái bản ngã này là cái khổ đau", mình cứ la mình, nhắc mình, rầy hoài.
"Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỳ-kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 379)
Tự mình đi đến mình rồi tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình la mắng mình đó là chánh tư duy, đó là như lý tác ấy, đó là tuệ lực. Tự mình đi đến mình tức là cảm giác toàn thân, tức là nhận diện ngũ uẩn gọi là tự mình đi đến mình, mình không có đi đến người, mình không có đi đến trời nào. Cái này mới là tối thượng, tự mình đi đến mình không có đi đến ai hết, không có tới Cần Thơ, Cà Mau, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Hà Nội gì hết, không có Mỹ, Úc, Âu, Á gì hết, chẳng cần đi đâu hết, tự mình đi đến mình. Cái đó là cái sự đi tối thượng, sự đi vô thượng, sự đi cao thượng, sự đi thánh thiện là tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình. Đừng dò xét người ta, mình càng dò người ta, càng xét người ta thì mình càng phiền não, càng khó chịu, càng bậc bội mà nếu mình tự dò xét mình thì mình nhìn ra được cái khó chịu, cái bực bội, cái phiền não của mình.
Tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình khi mình dò xét mình thấy được những cái cấu uế, những cái dục nhiễm, những cái sân hận, những cái tâm hơn thua, ngu si, tật đố này thì tự mình chỉ trích mình "tại sao tâm vậy tâm? Tâm ơi là tâm, sao mà tâm cứ hôn mê hoài vậy tâm? Cứ ta đây hoài? Tâm cứ buông lung phóng dật hoài, tâm cứ cẩu thả như vậy, lười biếng, biếng nhát như vầy rồi tiếp tục làm heo, làm bò, làm chó, làm ngựa, tiếp tục làm ma trơi, làm cô hồn, làm ngạ quỷ vất vơ vất vưởng rồi tiếp tục xuống địa ngục hay sao? Tiếp tục cứ khổ đau hoài như vậy với những dòng nước mắt tận cùng thương đau hay sao mà tâm ngu, tâm mê? Cái tâm đáng thương, cái tâm tội nghiệp, cái tâm vật vờ, cái tâm lờ mờ, cái tâm mù mờ".
Cứ nhắc hoài, con thưa chư tôn đức là cứ nhắc, chư hiền trí là nhắc hoài, cứ rảnh nhắc là hoài từng giây, từng phút luôn, nhắc nhớ, nhắc nhớ, nhắc nhớ. Nhắc như vậy là tự mình chỉ trích mình, tự mình la mắng mình, đó là mình đánh phá, đó gọi là chánh niệm, chánh tinh tấn, nó có trong đó luôn. Từ cái thấy đúng đó rồi nó nghĩ đúng, nói đúng, làm tất cả những việc đúng, nó đưa mình đến một cái một cái sự nỗ lực, một cái sự quyết tâm, một sự cố gắng, một sự nghĩ nhớ, tập trung tâm ý là định đúng đó, quán đúng. Suốt ngày không có làm cái gì quan trọng bằng làm cái vấn đề tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình la mắng mình để hoàn thiện chính mình. Cái việc đó là việc làm quan trọng nhất trong tất cả các việc làm, đó gọi là bổn phận sự, gọi là phạm hạnh, đức hạnh thanh cao của một người tu để mình đi đến chỗ trong sạch, thanh tịnh.
Tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình la mắng mình, bốn câu này là bí kiếp đó, thực hành bốn câu này là bí kiếp, đó là cái cốt lõi bậc đạo sư truyền dạy cho con. Hãy thường xuyên nhắc nhở, la rầy tâm mình, nhiều khi nó có một cái cảm giác an toàn là lập tức mình la nó liền, rầy liền "làm gì có cảm giác an toàn ở đây hở cái tâm ngu? Tất cả đây là nguy hiểm, chỗ này có thể động đất vùi chôn mình ngay tại chỗ này, không có bình an ở trong sanh tử, trong đời sống này, không có một cái gì bình an hết, không có một cái gì an toàn ở trong cái sanh, già, bệnh, chết, không có một cái gì an toàn ở trong tham, sân, si, dục ái, không có một cái gì an toàn ở trong vô thường, khổ não và vô ngã này, không có sự an toàn". Mình dạy nó riết rồi cái tâm của mình sẽ nghe lời, nó sẽ thấm thía rồi từ từ nó sẽ thể nhập và nó chứng nhập vào trong những cái trí tuệ thâm sâu đó.
Khi nó thể nhập vô cái trí tuệ này nó sẽ xả bỏ tất cả những cái dục, tham, ái của cuộc đời, nó sẽ đi đến cái chỗ mà nãy Thế Tôn nói yểm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn. Dầu nó chưa đi đến tột cùng ít nhất cũng đi được nửa đường được sáu – bảy chục phần trăm mà phải từng bước như vậy rồi mới tăng thượng. Còn giờ mình cứ tu thì tu, học thì học nhưng trở ra mình cứ trơ trơ vì mình không có nhắc, không tác ý gì hết thì tu vậy không biết tới ngày nào mới thành công. Từng cái bước chân mình cũng phải tác ý, từng cái công việc mình phải tác ý, từng cái suy nghĩ mình phải có chánh kiến ở trong cái suy nghĩ, trong cái cảm giác, trong cái hình bóng, trong suy nghĩ, nhận thức, mình đều đưa cái trí tuệ đó vô và mình bắt cái tâm, mình áp đặt cái tâm mình phải đi theo cái thánh trí, không cho nó đi theo phàm tình, không cho nó đi theo thường tình.
Áp đặt nó, huấn luyện nó, giáo dục nó, dạy dỗ nó, quản giáo nó và làm cho điêu luyện, rèn luyện, tôi luyện, khổ luyện cái tâm. Đó là sự tinh cần, tinh tấn ở trong bát chánh đạo chứ không phải tu là để trơ trơ vậy cho tự sanh tự diệt, không phải. Khi mình thấy đúng, mình nghĩ đúng như vậy thì tự nhiên lời nói của mình sẽ phù hợp, người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những cách nói bất thiện, những lời nói bất chánh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời nhảm nhí, cần thực hành những lời nói hiền thiện, hiền lành, ái ngữ. Như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có chánh ngữ nói đúng, người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những hành động bất thiện, bất chánh, bất nhân, từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, dâm dục và cần phải thành tựu những hành động hiền thiện, cao đẹp, như vậy là chánh nghiệp, là những hành động chân chánh giữ gìn được năm giới của người Phật tử hoặc là những cái giới mình đã thọ của người xuất gia.
Người tu chân chánh nào cũng phải cần từ bỏ những hình thức nuôi mạng bất chánh, bất thiện, không đúng pháp và cần thành tựu sự nuôi mạng sống một cách chân chánh đúng pháp, đó gọi là chánh mạng. Người tu chân chánh nào cũng cần từ bỏ những siêng năng sai lầm, không đúng pháp, từ bỏ những sự nỗ lực tinh cần không có khả năng đưa đến đâm thủng vô minh, diệt tận vô minh, diệt tận khát ái, vị này cần phải có những nỗ lực tinh tấn đối với những việc chân chánh, cần phải làm công việc của một người tu là tinh cần chế ngự các căn, siêng năng đoạn tận những tà tâm ý, tinh cần tu tập bảy pháp đưa đến giác ngộ bảy giác chi và tinh cần hộ trì những thiện pháp đã thành tựu, đó gọi là chánh tinh tấn.
Chỗ này mình phải để ý kỹ, nhiều khi mình nghĩ mình siêng mà cái siêng đó là đúng hay là sai, cái siêng đó là chánh hay là tà, cái siêng đó có đưa đến ly tham không, nó có diệt sân, nó có phá ngã không hay là cái siêng để mình làm cho mình càng thêm những cái ái, những cái tham đối với những hiện hữu vật chất này, hay là mình siêng để chạy theo danh theo lợi, hình thức bề ngoài, hay là siêng để thể hiện cái tôi, cái ta, cái bản ngã, phát huy, khuếch trương, tăng trưởng cái sự chấp thủ ở trong năm uẩn. Cho nên ở đây nói cái siêng của người tu chế đoạn tu trì, siêng chế ngự sáu căn, đoạn trừ tham, sân, si, tu tập tứ niệm xứ hoặc là bảy giác chi và giữ gìn các thiện pháp thì cái đó mới là cái siêng đúng.
Người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những tà niệm, từ bỏ những tâm niệm, những quán niệm sai lầm, cần tu tập thành tựu những tâm niệm, những quán niệm chân chánh đúng pháp, có khả năng đưa đến đâm thủng vô minh, thành tụ trí tuệ về tự thân, thấy biết rõ những cấu uế trong thân tâm và nhiếp phục được những cấu uế này, đó gọi là chánh niệm. Chúng ta thấy cái chữ chánh niệm ở đây không có dừng lại, hồi xưa mình học chánh niệm là đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm, đi cho nhẹ nhàng, ngồi cho trang nghiêm, đứng cho ngay thẳng, cái đó là chánh niệm mà đó mới có phần nhỏ niệm oai nghi hành động thôi nhưng đâu phải dừng lại ở bề ngoài đó đâu, mà còn phải niệm như thế nào, mình nhớ như thế nào để có thể xuyên thủng được cái khối vô minh uẩn to lớn
Như vậy niệm sao để đâm thủng vô mình? Niệm như thế nào để đâm thủng vô minh? Bây giờ con mời tới các chư tôn, chư hiền chia sẻ niệm sao để đâm thủng vô minh, niệm sao để đoạn tận khát ái, niệm sao để thành tựu trí huệ về tự thân, niệm sao để tẩy sạch tất cả các cấu uế. Con mời chư tôn, chư hiền chánh niệm như thế nào để đâm thủng vô minh, nhớ nghĩ như thế nào để phá vỡ được cái bản ngã, suy nghĩ như thế nào phải diệt tận được những khát ái, bây giờ mình trình bày về chánh niệm đi, nói vắn tắt vào trọng tâm, mỗi người trình bày sự tu học của mình.
Sư cô Ấn Đức: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ sư phụ tôn kính, con chân thành đảnh lễ quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí tôn kính. Con kính bạch sư phụ cùng toàn thể đạo tràng, ngay những cái phút đầu tiên ngồi vào đây còn được nghe những lời dẫn thiền của sự phụ thì con rất hạnh phúc. Hạnh phúc nhất là giây phút con nghe đến cái sự vượt lên, đạp đổ tất cả những cái tham lam đối với cuộc sống thế tục và dứt bỏ ra để tập sống đời sống phạm hạnh và con nghĩ đến Đức Thế Tôn, đến thái tử Tất-đạt-đa.
Sư Phụ: Câu hỏi là cái gì trả lời ngay cái câu hỏi.
Sư cô Ấn Đức: Mô Phật, con kính bạch sư phụ cùng quý thầy, các quý sư cô cùng đại chúng, đã được sự chỉ dạy của sư phụ trong cái quá trình tu học cùng với đạo tràng thì bản thân con cũng đã tập được cái việc chánh niệm tức là tập niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm pháp theo những lời dạy của Đức Phật trong kinh tứ niệm xứ. Trong cái phần niệm thân có sáu nội dung con đã để tâm đến thực hiện cái việc chánh niệm này và con cũng nhìn nhận thấy cái việc chánh niệm của mình trong quá trình tu tập mặc dù còn rất nhiều những cái thiếu xót, những lỗi lầm, còn nhiều lúc buông lung phóng dật và cũng còn bị ngũ uẩn dẫn dắt.
Tuy vậy thì con cũng nhận rõ được cái việc chánh niệm của con trong đời sống hằng ngày cũng như tu tập có những cái sự tiến bộ, con cũng đã nhìn nhận vào thân tâm của mình và cũng có dò xét cái tâm của mình, cũng có những cái sự chỉ trích tâm của mình những cái sai trái, cũng có cái sự la mắng. Con nghĩ đến cái phần này thì con có một cái sự hoan hỉ, hoan hỉ là con đã nhận ra cái thân bất tịnh này là cái tâm của con rất xấu xa và tồi tệ. Có một lần con đã trình pháp trước sư phụ và đại chúng đó là cái tâm này là một con quỷ cái, là ác ma và sau một thời gian tu tập thì con lại được nghe lời trong trưởng lão Tăng kệ cũng gọi một nữ nhân với một cái tâm dơ bẩn định mua chuộc ngài và ngài cũng đã dùng cái từ một con quỷ cái. Con thấy rất là hạnh phúc, con tự khích lệ mình dù chưa nhiều nhưng mà mình cũng đã nhìn được cái thân tâm của mình, con đã nhìn ra cái rác rưởi, dơ bẩn ở cái thân này. Trong việc tu tập con đã nhận thấy rất rõ cái trí ngũ uẩn trong con đã có một cái sự khẳng định ban đầu là ngũ uẩn này không phải là con, những cái xấu xa, đê tiện, bỉ ổi của cái tâm này, cái thân này nó đã làm trong quá khứ vì một cái sự vô minh, nhận ngũ uẩn này là mình và con đã phơi bày ra trước sư phụ cũng như là đại chúng.
Con thấy con rất hoan hỉ về cái điều này và cái việc mà con thọ trì các pháp thì con thấy trong con mà nó nổi bật đó là con có một cái định tướng về bộ xương. Tức là bây giờ con rất là hoan hỉ, mỗi khi làm một cái việc gì thì thường con cũng đã nhớ đến trong cái thân này là một cái bộ xương, nó đang ngồi, nó đang hoạt động, nó đang làm việc. Lúc nào mà nhãn đi con đã thấy lúc đó như vậy con lại sống trong vô minh và con sẽ rất tiếc và con lại quay trở lại, điều đó làm con rất hạnh phúc và sư phụ cho con cũng trình bày cái thiện pháp về cái bộ xương mà con đã tu tập đến cái thời điểm này.
Sư Phụ: Thôi được rồi.
Sư cô Ấn Đức: Mô Phật. Con xin biết ơn sư phụ và đại chúng đã chú ý lắng nghe, có những gì sai sót con thành tâm sám hối mong sư phụ và đại chúng chỉ dạy cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Sư Phụ: Mời đại chúng đứng lên đảnh lễ bốn thánh trí ngũ uẩn.
Thầy Thiện Huệ: Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau. Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái. Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái. Bát chánh đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.
Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng của bậc thánh.
Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ làm đúng, sống đúng, siêng đúng của bậc thánh.
Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ quán đúng và định đúng của bậc thánh.
Sư Phụ: Con nhắc lại mình trả lời câu hỏi thôi, là mình suy nghĩ như thế nào để đâm thủng vô minh, đoạn tận khát ái. Mời cho chúng ta tiếp tục trả lời, câu hỏi của con là vậy đó, đừng có nói lòng vòng, suy nghĩ thế nào để đâm thủng vô minh, đoạn tận khát ái, trả lời thẳng vô cái câu hỏi đó thôi.
Chú Hậu: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, nùi giẻ rách con kính bạch sư phụ, kính bạch sư thầy, Sư Ni, sư cô và các bậc hiền trí. Dạ trong thời gian qua tu học con niệm để thoát đi khát ái, tham ái, tham dục đó là tất cả thứ con nhìn đều là đất, nước, gió, lửa. Ăn đều là đất, uống đều là đất.
Sư Phụ: Uống là nước.
Chú Hậu: Dạ uống là nước, suy nghĩ này không phải là tôi, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi và hằng ngày con đều niệm hộ trì con mắt, hộ trì tai; mũi; lưỡi; thân và ý. Khi có một xúc nào con đều nhìn vào thân tâm, khởi lên thì con lại biết và khi khởi lên những cái việc ác bất thiện pháp thì con đều im lặng, im lặng như bậc thánh khi có một sự nóng lên.
Sư Phụ: Im lặng sao? Nổi nóng lên thì lúc đó làm sao?
Chú Hậu: Dạ con nổi nóng lên thì con chỉ cười và quán sát thân tâm, không cho cái khẩu này phát ra.
Sư Phụ: Rồi có đuổi cái cảm thọ nóng đó không?
Chú Hậu: Dạ con có tốt.
Sư Phụ: Tốt lành thay! Tốt.
Chú Hậu: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô, các bậc hiền trí. Con xin được mạo muội trả lời câu hỏi của sư phụ là làm thế nào để đâm thủng vô minh và khát ái, theo con nghĩ phải vận dụng bát chánh đạo là thấy đúng, nghĩ đúng.
Sư Phụ: Nghĩ đúng như thế nào?
Phật tử 1: Dạ nghĩ đúng là khi mà con được về tu tập trong đạo tràng Nikāya thì con nghĩ đây là con đường đúng. Nói đúng, làm đúng, siêng đúng và định đúng, dạ con xin lỗi vì con không nhớ rõ hết.
Sư Phụ: Cô biết vô minh là gì không?
Phật tử 1: Dạ vô minh là sự ngu si vì chấp thủ thân ngũ uẩn này là mình ạ.
Sư Phụ: Bây giờ muốn phá vô minh thì làm sao?
Phật tử 1: Dạ là cần phải nhìn rõ, nhận diện ngũ uẩn và thấy rõ vô minh không là mình và nhận rõ tham, sân, si.
Sư Phụ: Rất là tốt, rất tốt, tốt.
Phật tử 1: Dạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con xin bạch trên sư phụ, trên quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Câu hỏi của sư phụ làm sao đâm thủng vô minh cũng tức là thực hành tám đúng thì mới đâm thủng được vô minh, thứ nhất là thấy đúng, suy tư đúng, nói đúng, sống đúng, làm đúng, tinh tấn quán đúng và định đúng.
Sư Phụ: Rồi tốt, mạnh mẽ lên đừng có sợ.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính trên sư phụ, con kính trên quý Ni Sư, quý thầy, Quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Dạ con xin trả lời câu niệm thế nào để xuyên thủng vô minh và dứt sạch khát ái, dạ con học và con hiểu thì nghe lời sư phụ dạy phải thấy rõ được sự khổ, chấm dứt khổ, phải thấy rõ khổ tập khởi, sự chấm dứt khổ và đi trên con đường giải thoát. Có nghĩa là trước tiên phải thấy được thân tâm mình, thấy được ngũ uẩn, thấy được bốn thánh đế là hành trì cho pháp, hành trì tứ niệm xứ, hành trì pháp ở được trong thân thì mình phá được vô minh, là xuyên thủng được vô minh và tám chánh đạo sẽ là phương pháp diệt tận hoàn toàn được vô minh thì sẽ dứt được khát ái. Dạ theo con hiểu là như vậy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính bạch trên sư phụ, quý sư thầy, quý Ni Sư, quý sư cô cùng chư hiền trí. Con xin trả lời câu hỏi của sư phụ suy nghĩ như thế nào để phá được vô minh thì con nghĩ là mình suy nghĩ những gì mà khi an trú những suy nghĩ đó thì vô minh được đoạn giảm từ từ. Nói rõ hơn thì trước tiên là mình phải phá được năm triền cái để cắt đứt nguồn thức ăn của vô minh, không để cho nó lớn hơn nữa. Tiếp theo là mình phải nghe kinh sách, giao thiệp với các bậc chân nhân để mình tích tụ các thiện pháp, tích tụ các diệu pháp dần dần có lòng tin. Khi có lòng tin thì mình bắt đầu thành tựu những pháp khác như là như lý tác ý, chánh niệm tỉnh giác, hộ trì các căn, phá đi ba ác hành. Khi không có ba ác hành thì không có năm triền cái thì từ từ vô minh nó sẽ nó sẽ muội lượt dần dần. Dạ con xin hết ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Rất là tốt. Lành thay! Lành thay! Rất tốt.
Phật tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin được trả lời câu hỏi của sư phụ, dạ theo con là thực hành tứ niệm xứ nhưng để thực hành tứ niệm xứ cách đúng thì phải biết nhận diện ngũ uẩn và cái đích đến là bát chánh đạo. Mục đích của niệm tứ niệm xứ thì để biết được cái thành phần, cái cấu trúc, cái thể của cái thân này nó là tứ đại, cái chất mà để tác thành lên cái thể của nó là ô trược và cái tính tình của nó là những cái cấu nhiễm, những cái tham, sân, si và những cái tập thức, tập khí và cái bản chất là vô thường, khổ, vô ngã. Dạ con xin trả lời như vậy ạ.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Sư cô 2: Dạ con kính bạch trên sư phụ cùng quý thầy cô và các chư vị hiền trí có mặt ở nơi đây. Con xin phép được trả lời câu hỏi của sư phụ là làm sao phá được vô minh và tham ái, đó là theo sự học hiểu cạn cợt của con thì con thấy đó là sự chấp thủ của ngũ uẩn đó là phiền não và khổ đau, ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và tham ái. Mình chặt đứt chấp thủ sẽ phá vỡ được vô minh và tham ái. Dạ con xin trả lời theo ý đó.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Sư cô 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ con xin phép được trả lời câu hỏi, theo con nghĩ thì niệm cái gì để đâm thủng vô minh và khát ái thì theo con niệm thân, niệm khẩu, niệm ý. Niệm thân thì hằng ngày mình an trú vào trong ba pháp, chánh niệm tỉnh giác và cảm giác toàn thân để mình nhận diện cái thân tâm mình. Còn khẩu thì hạn chế lời nói và nói những đều điều có liên hệ đến pháp, hạn chế những lời nói không có liên hệ đến pháp. Còn ý thì nhận diện ý, nhận diện những cái ác, bất thiện pháp trong cái ý nó khởi lên và mình như lý tác ý đánh đuổi nó. Từ ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh thì dần dần minh sẽ sanh minh sẽ sanh thì mình sẽ diệt trừ được dục, tham, ái. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Sư cô 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, theo con thì để phá sạch cái khối vô minh thì đó là cái việc niệm về bốn thánh trí về ngũ uẩn và luôn luôn nhớ rằng ngoài việc thực hành pháp ra tất cả đều là vô nghĩa, ngoài thực hành pháp ra tất cả đều là trống rỗng, trống không, ngoài thành tựu pháp ra tất cả chỉ là nước mắt. Dạ mô Phậ.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Phật tử 5: 4/32/9/9/bộ xương/ bộ con xin kính lễ sư phụ cùng đại chúng, con nhớ sư phụ có nói vô minh là không thấy ba pháp ấn, không thấy vô thường, khổ, vô ngã và mục đích của người tu là diệt tham, sân, si, bản ngã. Trong bài giảng về niệm chết thì đạo sư có nói niệm chết là một cái phép tu quyết định, muốn nhổ tham, sân, si, bản ngã thì phải niệm chết, nếu không những cái pháp quán khác thì nó chỉ là sơ sơ bên ngoài. Con thấy là cái sự giảng dạy của Đức Phật rất là logic thí dụ như là niệm tứ đại sẽ giúp cho mình thấy cái vô ngã, cái tính kết hợp, duyên sanh của các pháp rồi niệm ba mươi hai thể trược cũng vậy là thấy những cái thân phần nó lắp ghép lại và cái sự dơ bẩn thì giúp cho mình hạ cái bản ngã xuống và bớt thủ, bớt yêu thích nó.
Niệm chết như đạo sư nói là cái pháp quyết định rồi cuối cùng thì nát thối ra thành bột, xương cũng nát thối ra thành bột thì không có gì để chấp thủ hết và gần đây khi đọc về Tương Ưng Bộ có một đoạn Đức Phật có nói "này ác ma sắc là của ông, mắt là của ông" khi đọc câu đó thì con thật sự là chấn động, thật là run sợ. Từ xưa đến giờ từ nhỏ đến lớn mình cứ nghĩ rất là bình thường là mắt của tôi, tóc của tôi, tai của tôi, cái gì cũng của tôi nhưng mà Phật nói là của ác ma cho nên nếu mình nói cái gì là của mình thì là không những là ma, mà là ác ma và cái đó thì chỉ mới hiểu sơ sơ trên cái chữ nghĩa, để thực sự thấm được lời dạy của Đức Phật thì phải là một cái sự luyện tập ngày đêm, liên tục, không có dừng nghỉ. Dạ con xin hết.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!
Thầy Pháp Tâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ, kính bạch trên chư tôn đức cùng chư vị hiền trí, kính thưa sư phụ trong lúc con thực hành pháp để nhìn thấy vô minh và khát ái thì ba pháp con thường hay nhớ nghĩ là khi mà con thức dậy thì con sẽ tác ý quán chiếu về dục hay là những hình ảnh bất tịnh từ tự thân nó chảy ra sự nhơ nhớt của thân, sự bẩn thỉu, hôi dơ cái thân ung nhọt để con ngao ngán cái sự ham thích vui thích, cái sự sống, sự hiện khởi. Con cũng tác ý về tình thương bản thân mình, thân tứ đại, thân ung nhọt này nó rỉ chảy ra thì trong tâm nó cũng sẽ sanh khởi nhiều cái sự ham muốn, yêu thích, thì con nhìn thấy với sự ham thích vì sự sống, cũng như sự trẻ khỏe, cũng như là thân không có bệnh thì con tác ý, quán sát thân này rồi cũng phải già, thân này là đồ gốm, thân này cũng sẽ tăn hoại, sẽ thay đổi, hôm nay còn được ngồi dậy không biết chiều nay, trưa nay còn có thể đi, còn có thể ngồi được không.
Trong khi đi thì con quán chiếu về thân này là một bộ xương di động, đôi lúc thì con cũng tác ý nhớ nghĩ về cái thân bất tịnh, một cái bao da chứa bên trong những cái thứ hôi dở. Khi con nằm để nghỉ trưa hoặc là trong chiều tối khi lên giường thì con nhớ nghĩ đến một thi hài được nằm sẵn trên giàn hỏa thiêu, hoặc là hình ảnh về tự thân ở trong bốn cái miếng ván để xả bỏ đi trong một ngày những cái tham lam, tham muốn, những cái tâm không được hiền thiện, ác bất thiện pháp, để nó xả bỏ đi cái thân và cái tâm hôi dơ này, cái ta, tôi ngu si này. Con cũng hay tác ý về sự vô thường khi thấy những người bệnh, nhất là khi hình ảnh của các cụ, các vị đồng phạm hạnh lớn tuổi cũng như gặp trên ông Năm con cũng hay tác ý cho mình, bản thân rồi cũng sẽ đi đến như vậy, có thể hôm nay mất được sáng nhưng giây phút sau có thể sẽ là mù lòa, có sẽ thể sẽ là đen tối, sẽ là bóng đêm. Nếu không tinh cần, không cố gắng tu tập cái thiện pháp, tu tập cái thánh pháp thì đó sẽ là một cái trở ngại, một sự khó khăn, một sự khổ đau cho ta.
Trong khi nhìn thấy các loại rắn, loại súc sanh con cũng tác ý cũng nhớ nghĩ cái tâm ham ăn, cũng còn ham ngủ, cũng ham thích hưởng thụ thì con cũng nhớ nghĩ nếu vẫn còn cho nó sanh khởi, cho nó xâm chiếm, chế ngự thì sẽ đi tìm những cái thân súc vật, súc sanh như vậy, cái tâm độc ác, cái tâm ác hại, ác gian thì sẽ thành những loài rắn rết như vậy, độc hại như vậy. Những lúc khi con trải tình thương khi cúng súc sanh thì con nghĩ nhớ đến những loài ngạ quỷ, những loài đói khác về hình ảnh trong Tương Ưng Lakkana, những hình ảnh ngạ quỷ khốn khổ, đau khổ, những hình ảnh kinh hoàng để cho tâm được định tĩnh, không là những cái tâm ma trơi vất vơ vất vưởng, sống lang thang không có sự định tĩnh, không có sự trú tâm, không có tác ý về khổ đau, về đời sống về thân tâm năm uẩn của chính mình, tai họa, bệnh hoạn, những cái thống khổ, những cái bệnh hoạn, chiến tranh, đấu tranh, sự chia ly, chết chóc đã xảy ra từng giờ, từng ngày, từng phút, từng giây.
Con cũng thường hay tác ý và suy niệm về sự trống không, vô ngã khi nhớ nghĩ tới cái thân này, đó là một cái sự trống rỗng, ở trên đó chỉ là bộ xương, thịt, da, gân, một cái lớp da che phủ lên nhưng trong đó đầy dục ái, tham, sân, si, đầy vô minh, đầy sự chấp thủ ta, tôi, cảm giác nào sanh khởi lên không chánh niệm thì gọi mình, của mình, những ham muốn, những sự thúc giục sanh khởi cũng có ta, cũng có tôi. Nhiều lúc không thấy sự sanh khởi của các lậu hoặc bị nó xâm chiếm, chế ngự, cũng như những lúc buổi thiền cũng có năm triền cái thì con nhớ nghĩ bản thân là kẻ bệnh hoạn, bản thân kẻ đang bị dính bụi, đang bị nhiễm bụi, đang bị che đậy bởi những thứ nhiễm ô, bởi những cái tác động ở bên ngoài như là một kẻ tù nhân, như là một cái người bệnh tật, bệnh hoạn. Con cũng có nhớ nghĩ tới cái sự hạnh phúc trong cái sự tu học khi được thấy được thân tâm, thấy được những cái dục ái của bản thân và nhiếp phục được một phần. Đó là những cái tác ý, suy tư, chiêm nghiệm, nhớ nghĩ con trong sự tu học, kính trình sư phụ, chư tôn đức cùng chư hiền. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Thiện Huệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, kính bạch chư tôn đức cùng toàn thể các vị hiền trí. Khi sư phụ hỏi mình suy nghĩ như thế nào để phá đi cái vô minh và khát ái, con kính bạch trên sư phụ con xin trình qua chia sẻ những cái thực hành pháp hành của con mỗi ngày để con dần dần đi đến cái chỗ nhiếp phục cũng như đi đến phá những cái vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. Con nghĩ với câu hỏi sư phụ là một chủ đề rất là lớn tại vì đây là cái pháp bất tử, chấm dứt sanh tử, nhiếp phục và diệt tận vô minh và khát ái. Theo cái sự hành trì thông thường mỗi ngày của con ví dụ như con khi con đi suy nghĩ tác ý làm sao để tháo gỡ ra để đừng cho mình dính mắt vào sự chấp thủ ngũ uẩn, mình đừng có cho cái ngũ uẩn này là tôi, là của tôi.
Ví dụ khi đi con hay nhắc nhở "cái này gió đi không phải mình đi, tứ đại nó đi, cái ung nhọt nó đi", khi uống cũng vậy, ăn cũng vậy, con đều tập tác ý nhắc nhở lại mình "đây là một sự vay mượn, nếu mình có sự ái luyến mình tham đắm đối với ăn uống này thì mình sẽ còn quay trở lại để tiếp tục để mình tái tạo cái thân ngũ uẩn tiếp theo đau khổ nữa". Khi tắm giặt cũng vậy, trước khi con giặt là con phải ngửi trước để mình ngửi được chính cái mùi hôi của mình ở bộ độ để con thấy được cái mùi hôi, cái sự bất tịnh từ cái thân của mình tiết ra để mình thấy được cái sự hôi, dơ bẩn từ mồ hôi, từ những cái tiết ra từ thân của mình để phá đi cái sự tham đắm về thân thể này cho mình là sạch, là đẹp, là thơm.
Khi đánh răng sút miệng cũng vậy, tất cả những cái công đoạn đó phải ngửi chính cái mùi của mình để con tập đánh phá dần dần. Khi mình soi gương nhìn gương mặt mình, ý hành bên trong nói "gương mặt nó đẹp, mắt đẹp, miệng đẹp" thì ngay lúc đó con phải suy nghĩ tháo gỡ liền, phải thiền quán về ba mươi hai thể trược, quán cái sự bất tịnh, quán bộ xương, cái sọ đầu để đánh đi cái sự tham ái và chấp thủ đối với gương mặt mình. Qua những cái đó con tập tháo gỡ dần dần, khi đi đại tiện tiểu tiện cũng vậy, mình thấy đào thải những chất bẩn dơ hôi thì lúc đó con phải tác ý nhắc nhở, thậm chí là chửi ngược lại chính mình "mày thấy không? Một sự bất tịnh, hôi dơ", nhắc nhở thường xuyên thì ngay lúc đó trong con phát sinh ra một cảm giác nhàm chán thật sự đối với cái thân của mình.
Thỉnh thoảng mình ăn uống cái gì mà đổ rớt cũng thấy ngao ngán cái thân này, sao nó phiền phức, nó thấy khổ. Con hay tác ý nhắc nhở qua cái câu trong duyên sanh pháp thôi cũng là một cái lời pháp tác ý của mình để cho mình phá được cái vô minh và khát ái để mình thấy được cái thân ngũ uẩn nó là duyên sanh, nó là vô thường, nó là phiền não, nó không phải mình, là của mình. Cho nên những cái bài như vậy con hay lấy ra tác ý để đánh phá, lâu lâu con cũng có nhắc mình phải thường xuyên quán cái thân ngũ uẩn này là cái ung nhọt, là kẻ giết người, là bệnh tật, là bệnh hoạn, là vô thường, là khổ, là bất tịnh, là vô ngã, là trống rỗng để phá đi cái lòng tham ái, chấp thủ. Tại vì do cái tâm mình si mê, vô minh không thấy được cái bản chất của ngũ uẩn này khổ, là vô thường, là vô ngã, là bất tịnh, là duyên sanh cho nên nó mới có sự tham ái, tham muốn, yêu thích, khao khát đối với thân ngũ uẩn rồi nó sanh ra sự chấp thủ vào trong đó. Chính vì vậy mà nó luân hồi sanh tử mãi mãi.
Cho nên câu hỏi sư phụ con nghĩ rằng giờ mình muốn phá cái vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn thì bằng con đường bát chánh đạo, bằng việc quán thân hành niệm. Chỉ có con đường đó để phá đi cái lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng chấp thủ đối với ngũ uẩn thì lúc đó mình sẽ thoát ra được, mình thành tựu được cái tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tức là mình diệt tận đi những cái ái và cái vô minh đối với ngũ uẩn. Con xin trình lên sư phụ cùng đại chúng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Con mời tất cả chúng ta đứng lên đi thiền hành.
Thầy Thiện Huệ:
Thân là duyên sanh, thọ; tưởng; hành; thức cũng là duyên sanh.
Thân là vô thường, thọ; tưởng; hành; thức cũng là vô thường.
Thân là phiền não, thọ; tưởng; hành; thức cũng là phiền não.
Buông xả… buông xả… dễ chịu… dễ chịu
Thân này là vô thường đi đến hoại diệt, thân này là vô hộ, vô chủ, thân này là vô sở hữu, ra đi bỏ lại tất cả.
Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái.
Sư Phụ: Thân xả, tâm xả, dễ chịu. Con nhắc mà có khi vẫn đi lẹ hơn lúc mới đi thì khi một mình làm sao mình tu được, vậy là đa số người học được một chút xíu rồi là tự con tu à, khỏi cần thầy, khỏi cần đại chúng gì hết, ở một mình, sống trong vô minh, sống trong dục, sống trong bản ngã, sống buông lung phóng dật. Đó là cái pháp sống con chỉ chúng ta đó, bao nhiêu đó mình nhìn ra được đã là trí tuệ nó nằm trong đó và vô minh nó cũng ở trong đó luôn, vô minh là không thấy lúc đó có dục, trí tuệ là nhìn thấy biết lúc đó có sự thúc giục. Nhiều khi có câu hỏi mà để mình nói tam tàu bắt đẩu, đông chu liệt quốc, nói trong dục, nói trong vô minh, tuy rằng nó là thiện pháp nhưng mà nó là vi tế mình không thấy, mà chỉ hoài cũng không thấy. Người ta hỏi cái gì thì đáp ngay cái đó, còn cái phần pháp đàm thì mình có quyền mình nói, chúng ta thấy trong khi nói có dục, trong khi đi có dục, trong khi làm việc có dục mà không thấy thì tức là vô minh.
Có thực tế không? Có cụ thể, rõ ràng không? Không thấy lúc đó có dục, có thúc giục, không thấy lúc đó có giận, hỏi có khó chịu không thì nói "đâu có đâu, con không có, con dễ chịu lắm", nói dối nữa. Hỏi lúc đó có bạn ngã không thì bảo "con không có bản ngã, con đâu có bản ngã đâu", nói dối nữa, như vậy là hoặc nó qua mặt hết, bản ngã nó qua mặt hết cho nên là tu không được kết quả giống như Đức Phật đã dạy. Con chỉ, con nhắc lại cái đi của chúng ta ở đoạn cuối là tự nhiên tại sao mình đi lẹ lên, có ai kêu mình gì đâu, hồi nãy lúc ra đây có giới tử chạy hớt ha hớt hải, ngày hôm qua con cũng nhắc chú Nhật. Mình được học, được nhắc liên tục như vậy mà tới khi hành xử rồi mình cũng hành xử ở trong thúc giục, vừa đắp y vừa chạy vậy đó, chạy mà vấp một cái là nó đập đầu xuống đá. Chỗ đó có đá lót ngay cửa mà lỡ đập đầu xuống thì có phải khổ cho mình, khổ cho hết đại chúng không?
Thành ra con vẫn còn lo lắng rất là nhiều, tuy đại chúng chúng ta phần lớn là hiền thiện nhưng trong đó cũng còn một ít số ít cũng còn dữ, cũng còn bản ngã nhiều lắm vì thế các quý vị phải để ý. Tự thấy mình tức là minh đó, mình thấy được mình còn bản ngã, còn sân hận, còn dục nhiều thì đó là minh, mình không thấy nó là vô minh. Nó đâu có xa đâu, pháp đâu có xa đâu, pháp ngay ở trong người mình, ngay trong ý nghĩ, ngay trong lời nói, ngay trong hành động, ngay trong bước chân, ngay trong việc làm, ngay trong sinh hoạt. Tại mình không chịu cố gắng mình nhìn, mình nói một hồi không biết nói cái gì nữa, trong lúc đó là vô minh xâm chiếm, dục dẫn dắt, có khi mình nói lạc đề cũng không biết nữa.
Có trường hợp là mình nói mà mình không có chắc ăn rồi mình làm giống như chạy xe mà không biết quẹo chỗ nào, tới cái ngã tư, ngã bảy không biết quẹo ngã nào, cứ lựng khựng, tức là không có xác quyết được vấn đề. Lúc đó nghe là biết được cái tâm đang trong năm triền cái, không có xác quyết được vấn đề, nó do dự, nó phân vân cho nên vô minh là không thấy không biết, còn minh là thấy là biết. Vì không thấy không biết cho nên nó mới tưởng là thiệt rồi nó mới ưa thích, nó ham thích thì cái đó từ vô minh đi chung với khát ái một cặp bài trùng, từ không thấy không biết nó ham thích.
Cái đầu tiên là không thấy không biết về tự thân của mình, cái thứ hai là không thấy không biết về ngoại cảnh, cái thứ ba là không thấy không biết là nội tâm và cái thứ tư là không thấy không biết về các phiền não, lậu hoặc. Cái thấy biết của mình rất tốt, con chỉ nói cái chỗ sát sao thôi chứ còn mỗi người trình bày như vậy là rất tốt, hiểu như vậy rất là tốt, ai cũng hiểu đúng hết không có ai hiểu sai. Tức là thứ nhất không thấy không biết về tứ đại, một đống đất đang ngồi đây, một vũng nước, một làn gió thổi vào thổi ra và một đốm lửa, không có ai ở đây hết, không có một con người nào hết, không có Trần Văn A, Nguyễn Thị B gì hết, chỉ là một cục đất, một vũng nước, một làn gió và một đốm lửa. Thấy được như vậy, nhớ được như vậy, nghĩ được như vậy là lúc đó mình bớt vô minh về tứ đại, còn nếu mình nghĩ có một cái tôi đang ngồi đây, tôi đang làm cái gì đó, tôi đang có cái dáng đẹp như vậy đây thì cái đó là vô minh và tham ái cùng một lúc luôn.
Tại vì tôi là vô minh, đẹp tức là tham ái, hai chữ thôi là có vô minh, tham ái luôn. "Tôi đẹp" thì hai chữ đó bao gồm luôn vô minh và tham ái, trong khi không có cái tôi thành ra chúng ta thấy cái trí tuệ này là phàm phu vô văn dễ hiểu hay là khó hiểu? Khó lắm cho nên Thế Tôn thành đạo không muốn thuyết pháp vì một cái sự thật mà nó sâu kín, nó siêu lý luận, siêu thế như vậy thì thật là mệt nhọc cho ta, thật là mệt mỏi cho ta, thật là phiền bực cho ta khi mà ta nói mà không hiểu. Phạm Thiên Sahampati bạch Thế Tôn có những chúng sanh ít bụi đời, ngài thỉnh Thế Tôn thết pháp ba lần. Thật là mệt mỏi cho ta, thật là nhọc nhằn cho ta khi ta nói cái pháp thâm sâu như vậy, chúng sanh thích dục mà ta nói ly dục, chúng sanh chúng ưa thích cái bản ngã, muốn phô trương cái bản ngã, muốn đề cao cái bản ngã mà giờ ta đập tan cho vô ngã thì ta nói như vậy rồi làm sao mà hiểu đây. Chính vì vậy mà mình lên trên tên núi này, mình cũng không cần phải nói cho nhiều ai hết, không cần đông ai hết, chỉ cần những người tha thiết tu hành, chân thành, chân chánh học đạo, thật sự cầu giải thoát.
"Một thời Thế Tôn ở Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo.
Rồi Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên:
'Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới cảm nhận! Còn quần chúng này ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó thấy định lý này, tức là y duyên tánh duyên khởi pháp. Thật khó thấy định lý này, tức là tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được từ bỏ, ái tận, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, như vậy thật mệt mỏi cho Ta, như vậy thật bực phiền cho Ta.'
Thế Tôn với suy tư như vậy, tâm hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp.
Rồi Phạm thiên Sahampati biết được tâm tư Thế Tôn nhờ tâm tư của mình, liền suy nghĩ: "Thật sự thế giới bị tiêu diệt, thật sự thế giới bị diệt vong, nếu tâm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp'.
Rồi Phạm thiên Sahampati, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi thẳng; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y trên một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại, nếu không được nghe Chánh pháp. Nếu được nghe những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Thỉnh Cầu)
Thành ra chúng ta thấy mình không thấy biết về cái thân này là thứ nhất là mình vô minh đối với tứ đại, đây bài kinh số 1 ở trong Trung Bộ, bài kinh đó con có giảng ở trong trường Phật học, trong bài kinh đó là Đức Phật phá vô minh trong tứ đại. Bài kinh Pháp Môn Căn Bản, dục hỷ trong địa đại, nghĩ địa đại này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Dục hỷ ở trong thủy đại, vui thích ở trong đất ở trong nước, ở trong gió, trong lửa, cho đó là tự ngã, đó là vô minh đối với tứ đại. Cho nên hằng ngày chúng ta sử dụng sử dụng đất, nước, gió, lửa là chúng ta đều phải nhìn cho sâu sắc để tách cái bản ngã ra, phá cái vô minh, cái chấp thủ. Vì thế tại sao mà mình cũng ngồi thở ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm mà mình không phát sanh tuệ giác là tại vì "tôi đang ngồi tôi thở, tôi thở cho khỏe, tôi thở thấy nhẹ quá, tôi thở tôi thấy sướng quá".
Như vậy rõ ràng là nó nuôi vô minh với tham ái, nó chỉ tìm cái cảm giác được thư giãn thôi, thiền buông thư, thiền thư giản chứ nó không có xuyên thủng và phá vỡ cái khối vô minh uẩn to lớn. Vì vậy nếu ngồi thiền phá vô minh thì trong mỗi hơi thở nhìn thấy đó là làn gió vô ra, không có tôi, không có tự ngã của tôi. Trong bài kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm mà một cái hơi thở đó Đức Thế Tôn dạy các vị chứng thánh A-la-hán là tại vì hơi thở đó cộng với chánh tri kiến, còn cái hơi thở không có chánh tri kiến thì cái hơi thở đó làm sao xuyên thủng vô minh, đoạn tận khát ái. Chúng ta thấy nó vi diệu không? Nó Tuyệt diệu, tối thượng không? Làm sao để chúng ta có được cái thấy đúng mà cái thấy đúng thật sự của bậc thánh thì đi qua cái cửa chánh kiến này, phá vô minh ở trong tứ đại.
Mỗi khi chúng ta bưng ly nước lên uống, mỗi một hơi thở vô ra, mỗi khi đắp cái mền lên, mặc cái áo, cái quần vô, mỗi khi đốt cái lửa dưới nhà bếp lên, mỗi khi mình xả thiền hay là mình ngồi thấy cái chỗ này nóng lên thì thấy "cái đó là lửa, đó không có ai ngồi ở đây hết, đó là lửa thôi, là nội hỏa đại thôi", cái bếp lửa bên ngoài là ngoại hỏa đại. Mỗi một cái nhìn như vậy, cái thấy như vậy mà được tác ý là mình được thêm phần trí tuệ, còn nếu mình nhìn mà không tác ý gì hết thì nó chình ình một đống siêu to khổng lồ là cái bản ngã này. Chúng ta thấy ứng dụng cái này có thực tế không? Có dễ ứng dụng không? Cái này là hằng ngày mình đều thấy, bưng ly nước uống, bưng chén cơm lên ăn, mỗi một hơi thở đều quán được hết, đều phá vô minh được hết, mỗi một hơi thở là phá vỡ vô minh, trong đây không có ai hết chỉ có làn gió khì khịt mượn trả này, vô ra này. "Con xin từ bỏ cái tôi trong cái hơi thở này, con xin từ bỏ cái ta trong hơi thở này, con không tìm thấy một cái bản ngã, trong hơi thở này con chỉ thấy là một sự yếu ớt, mong manh, tạm bợ, vô thường, rỗng không, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt, con chỉ thấy có một làn gió".
Nếu trong một cái hơi thở mà mình cứ tác ý như vậy thì mỗi một hơi thở là một trí, mỗi một hơi thở là một minh phần, mỗi một hơi thở là một cái sự tỉnh giác, mỗi hơi thở là một chánh niệm mà phải có tác ý chứ không phải không tác ý. Ta nói phiền não phá là có tác ý, có thấy có biết, ta nói cho người thấy cho người biết, ta nói cho người tác ý, ta nói cho người để tâm nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, ta nói cho người khao khát cái sự chặt đứt cái hữu ái này, phá vỡ cái vô minh này, đoạn tận cái tham ái này, chứ ta không nói cho cái kẻ trơ trơ không muốn giải thoát, ta không nói cho những hạng người đó.
Phải phá cái vô minh ở trong tứ đại, mình ngồi xuống đất cũng tác ý "đây nè, cái thân cũ của nhà ngươi đây nè, bao nhiêu bộ xương của ngươi nằm dưới đây". Mình vô bếp thấy đống tro thì tác ý "nắm tro tàn từ vô thỉ kiếp, cái bếp đó là lò hỏa táng", cứ thấy đâu tác ý đó, thấy đâu nhắc đó, thấy đâu niệm đó, thấy đâu quán đó thấy đâu là mình triển khai tới đó thì như vậy làm sao trí hệ không sanh, làm sao mà trí tuệ của mình không tăng trưởng, mình tu như vậy mà làm sao mà không đắc đạo, không ngộ đạo, còn này do cái mình thấy là mình nhìn theo cái phàm tình bếp là bếp, cơm là cơm, nước là nước, mình không tác ý, mình không quán chiếu, mình không sử dụng cái trí tuệ được Đức Phật truyền trao cho mình thì như vậy tu hoài tuệ không sanh, giác nó không phát, minh nó không khởi, trí nó không tỏ, vô minh nó vẫn còn phong tỏa, bao phủ mình vì mình không có chịu để tâm và thực hành.
Mình phải phá vô minh đối với những cái trần cảnh, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, nhìn cái tòa cao ốc, mình nhìn lâu đài, mình nhìn những cái đồ đẹp, nhà đẹp, xe đẹp, người đẹp, bao nhiêu những cái thứ cảnh đẹp, mình nhìn một cái là mình xuyên thủng, mình phá vỡ cái này chỉ là đất, nước, gió, lửa thôi, không có của ai đây hết, cái này tan hoại, tan nát, huỷ hoại, hoại diệt, thứ này là thứ vô thường, lũ lụt. Mấy hôm nay các tỉnh ngoài biên giới của mình là ngập tới nóc xe luôn, không biết bao nhiêu người, không biết bao nhiêu nhà, tất cả những con đường thành sông và người ta chết, nhà cửa thì bị cuốn trôi. Mình phá cái vô minh đối với cái cảnh sắc ở bên ngoài, phải nhìn cho rõ để thấy, nhìn cho thấu thị tới đó, tập nhìn tới đâu là nó tan tới đó, nhìn tới đâu là nó vỡ tới đó, nhìn tới đâu là hiện ra cái sanh diệt trí tới đó, ánh nhìn của mình xuyên thủng và phá vỡ mọi sự hiện hữu trên cuộc đời.
Mình tập nhìn bằng cái con mắt vô thường, khổ, vô ngã, không có gì đáng ưa, không có gì đáng thích, không có cái gì để cầu mong hết, vô cầu, ly tham, không có cầu mong bất cứ cái gì trên cuộc đời, chỉ cầu mong cái sự chấm dứt hết tất cả mọi sự mong cầu. Không có cầu mong gì hết chỉ cầu mong chấm dứt sự mong cầu tức là ly tham, không có tham bất cứ cái gì cuộc đời này, chỉ cầu mong được lìa cái tham này, dứt cái tham này, hết cái tham này. Đây là sự cầu mong tối thượng rồi mình phá cái vô minh đối với tâm này nè, thọ; tưởng; hành; thức này, khi mình không nhìn ra được thọ là thọ, những cảm giác, những hình bóng, những suy nghĩ, những nhận thức mình không nhìn ra, mình không gọi đúng tên nó, mình không biết được tên tuổi, mặt mũi, tánh tình, bản chất của thọ; tưởng; hành; thức này, mình cho nó là tâm tôi, là của tôi thì cái lúc đó nó đồng hóa trở thành một tự ngã tôi nghĩ vậy đó, tôi thấy như vậy đó, tôi biết như vậy đó, tôi cảm nhận như vậy đó, tôi tưởng như vậy đó.
Bữa nay tôi vui quá là vừa có vô minh vừa có tham ái luôn. Tôi là vô minh, vui là tham ái, nếu nói "cái ngũ uẩn này bữa nay nó hoan hỉ" thì cũng đỡ cho nên mình phá được vô minh đối với thọ; tưởng; hành; thức này. Phải gọi đúng tên nó "Thọ, bây giờ mày đang như thế nào? Có khó chịu, bực bội không để ta điều trị cho mi, có tham đắm luyến ái không để ta tháo gỡ giùm cho ngươi", tưởng; hành; thức nó ra làm sao. Phải nhìn kỹ nó, đừng có nhận nó là mình, đừng có cho nó là của mình, đừng có xem nó là tự ngã của mình thì mình phá vô minh đối với thọ; tưởng; hành; thức đối với tâm. Bây giờ coi trong cái thọ; tưởng; hành; thức này có tham, có dục, có ái, có sân, có triền cái không, có tôi ra không, nếu mình mình thấy nó có thì lúc đó mình được minh, mà nếu lúc nó có mà mình không thấy, mình nhận diện ngũ uẩn mà mình không thấy, mình vẫn biết thọ; tưởng; hành; thức mà mình không biết lúc đó đang có bản ngã thì cái đó vẫn là vô minh, dầu cho nhận diện ngũ uẩn vẫn vô minh.
Chúng ta thấy chỗ này nó sâu sắc, lâu lâu mình có bị không ạ? Mình nhận phớt phớt nên nó có bản ngã mình vẫn không biết thì như vậy tuy nhận diện ngũ uẩn mà vẫn vô minh trong đó, không thấy được. Hoặc là nó nhẹ thôi, nó vi tế nên mình không thấy, thô mình mới thấy thì như vậy cái vô minh có nhiều cấp độ lắm, cái tham ái nó cũng nhiều cái thứ bậc thô tế. Mình nhìn ra được những cái thứ phiền não đó là dục, tham, ái, sân si, tâm vô mình biết đang có vô minh thì như vậy là minh, mà tâm vô minh không biết lúc đó vô minh thì như vậy tức là vô minh, tâm tham ái biết lúc đó có tâm tham ái. Mình quán pháp trên pháp trong tứ niệm xứ đó, tâm sân là biết có sân, tâm tham biết có tham tâm, chấp ngã biết lúc đó đang chấp ngã, tâm vô tàm vô quý biết lúc đó là không biết xấu hổ, mà không biết sợ hãi, buông lung phóng dật là biết lúc đó buông lung phóng dật, tâm nhỏ hẹp là biết tâm nhỏ hẹp, tâm rộng lớn là biết tâm rộng lớn, tâm thấp hèn là biết lúc đó tâm thấp hèn, tâm cao thượng là biết tâm cao thượng, tâm có định hay là không có định hay là loạn mình biết.
Chúng ta nghĩ nếu mà một cái người như vậy thì người này nhìn cái tâm mình sát sao không? khít khao không? Theo dõi liên tục không? Như vậy mới biết được chứ nếu nhìn người ta rồi làm sao biết. Tâm giải thoát là biết tâm đang giải thoát, tâm định là biết tâm đang định mà tâm không định là biết lúc đó tâm không định. Nếu mình biết như vậy thì liên hệ tới thân cũng vậy thôi, cái tâm như nãy mình bước nhanh như vậy trong cái dục, mình biết nó có dục là mình nhiếp phục lại liền, an tịnh, lắng dịu liền. Lúc đó mình không biết mà mình dễ bị số đông ảnh hưởng lắm, thấy người ta đi nhanh là mình phải đi nhanh theo, tại sao mình phải đi nhanh theo người ta, đâu phải ai làm gì mình cũng làm theo cho nên mới chạy rần rần ở dưới, từ trên núi cũng chạy xuống luôn, không có chánh kiến, không có thấy đúng được cái vấn đề thì gặp cái gì ùa theo cái đó.
Khi mình có chánh kiến, mình thấy đúng rồi thì không phải dễ dàng qua mặt được mắt pháp của mình, mình nhìn sâu vào bên tro mình đánh phá diệt dục, diệt ngã, diệt tâm hướng ngoại. Cái nặng nhất là cái dục, sanh ra trong cái cõi dục nên phải thường xuyên đánh phá cái dục, ngày đêm thường xuyên hướng vào cái chỗ đó tác ý, đánh bầm dập cho nó tan nát, tan tành nó ra luôn, dùng đủ những cái lời mạnh bạo nhất để xử lý nó. Đối với bản ngã cũng vậy, đối với tâm hướng ngoại cũng vậy, không phải đợi tới lúc nó sanh khởi mà là phải tác ý từ xa, đâu phải đợi ra trận lúc đó mới luyện công, luyện binh ba năm, mười năm mà dụng có một giờ thôi thì bình thường mình phải có sự tác ý, có sự quán chiếu, có sự nhắc nhở, có sự tu tập, có sự hành trì như vậy tới hữu sự đụng chuyện rồi mình kêu một cái là nó nghe lệnh răm rắp, nhất nhất y như luật lệnh.
Mình thấy trong quân đội là quân lệnh như sơn, cái tâm mình cũng vậy, khi mình có cái sự tu tập nghiêm túc, quản giáo nó rồi thì lần lần sau này mình nói cái gì nó sẽ nghe lại cái nấy. Đó là tâm nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, khi mình thấy được cái bản chất vô thường, khổ, vô ngã, ung nhọt, bất hạnh, tai họa, hố than hừng, mũi tên độc, rắn độc, kẻ giết người ở trong ngũ uẩn này rồi thì mình đâu có còn ham, còn ưa, còn thích, còn khoái nó nữa. Phá vô minh thì sẽ diệt tham ái, sẽ trừ chấp thủ, sẽ bẻ gãy kiêu mạn, sẽ đập tan được cái bản ngã, mình muốn làm như vậy thì phải tăng thêm các cái thiện pháp từ, bi, hỷ, xả, bốn tâm vô lượng này để mình nuôi cái tâm mình độ lượng, rộng lượng, vô lượng, vô Minh diệt minh sanh, ái diệt, ly tham thì cái tâm yểm ly, cái tâm nhàm chán, cái tâm xả ly, cái tâm xuất ly đó sẽ sanh khởi các cái chi phần đó.
Nó sanh khởi lên cái tâm mình nhàm chán của mình càng ngày càng nhiều, càng mạnh lên, càng lớn lên, mình nhìn thấy cái gì mình cũng không có ham, không thích, không muốn nữa, tâm mình hướng đến sự từ bỏ, hướng đến sự thoát ra và khi mà tâm đó hướng hoàn toàn đến sự từ bỏ, thoát ra rồi nó nhập lưu thôi, đi thẳng tới chánh giác không có còn lui sụt nữa. Muốn một cái một thôi là muốn từ bỏ hết, muốn nhàm chán hết, muốn thoát ra hết một cách hoàn toàn cho nên nói ngắn gọn là mình thấy nó thiệt rồi mình khoái nó là vô minh với tham ái đó, nói tiếng Việt cho nghe là hễ thấy nó thiệt và khoái là vô minh và tham ái, mà biết nó rồi, thấy nó giả, không thích nữa là đi ra khỏi ngũ uẩn. Đơn giản vậy mà tu suốt đời không xong, thấy nó thiệt, khoái, thích là khổ đau, mà thấy nó giả, từ bỏ thì an lành, an lạc, giải thoát. Mình tìm chỗ ngồi thiền để chiêm nghiệm những gì mình học nãy giờ, tác ý với cái tâm mình "tâm ơi là tâm mày làm ơn mày minh lên giùm tao chút, mày vô minh hoài tao khổ lắm tâm ơi là tâm. Tao lạy mày, tao gần chết rồi mà sao mày cứ vô minh hoài, mày cứ tham ái hoài".
./.